Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU

24/11/2015

QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...

PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
Phần 1

QUYỂN 49
Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu.
49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU

49.1. LỜI DẪN
Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớn hơn cả sự phản loạn của Vưomg Kì. Vì thế, chẳng phải mẹ ruột mà cung phụng đủ đầy thì tiếng thơm còn mãi nghìn năm, chẳng phải thánh tăng mà vẫn một lòng cung kính thì đức sáng chiếu đến vạn đời. Lẽ đương nhiên, dốc lòng kính lễ thì phúc lợi vô cùng. Như thế đâu được khởi tâm cống cao ngã mạn mà xem thường chúng tăng! Vì vậy lập thân tu đạo thì danh vang hậu thế, suốt đời tận hiếu là tính tốt để kiến quốc.
Nhớ xưa, khi gặp Khổng Tử, thầy Tử Lộ tỏ bày: “Lúc phụng sự mẹ cha, con thường ăn rau lê rau hoắc, lặn lội ngoài trăm dặm mang gạo về nhà. Sau khi song thân qua đời, con bước về nam đến nước Sở. Bấy giờ, đi thì có trăm cỗ xe, lương thực thì chứa cả vạn chung, nằm ngồi thì lót chăn nệm nhiều lớp, ăn thì mâm cao cỗ đầy; lúc ấy muốn ăn lại một bát canh lê hoắc, được vác gạo đường xa mà không được!”. Những ai nghe lời này mà không cảm động thì sống cũng như chết. Đâu thể báo đáp nổi ân cha mẹ; bởi lòng từ của cha mẹ sâu như biển, mà lòng hiếu của con như mảy trần-chỉ biết vĩnh viễn nhớ thương, ngàn đời than khóc, đau buốt tâm can mà thôi. Người đời gọi đó là công lao dưỡng dục.
Cha mẹ sinh thân ta, ân trong một đời mà còn khó mong báo đáp, huống gì Như Lai đại bi thương tất cả chúng sinh như con một, nhổ sạch gốc khổ ba đường, cứu giúp xa lìa bốn loại; vĩnh viễn thoát tám khổ, mãi mãi cưỡi ba thừa. Bình tĩnh xét suy, ân này sâu nặng, đâu đồng phàm tục. Chỉ hay trong tâm tan nát như đốt như thiêu; lòng thật xót xa, đau như dao cắt; dù trải nhiều kiếp cung kính phụng sự, vạn đời cúng dường phẩm vật cũng không thể báo đáp được mảy ân này. Cho nên kinh Niết-bàn ghi: “Chư Phật có một pháp vị đại từ bi, thương nhớ chúng sinh như con một, nhưng chúng sinh không biết Phật có năng lực cứu độ, nên hủy báng Như Lai, pháp và tăng”.
49.2. DẪN CHỨNG
Kinh Mạt-la vương ghi: “Có người hỏi Đức Phật:
- Thế nào là lực của cha mẹ?
- Đó là ân nhận hình hài và dưỡng dục của cha mẹ. Nếu bố thí cho người đống báu vật chất cao từ mặt đất lên đến tầng trời hai mươi tám, chẳng bằng phụng dưỡng cha mẹ. Đó là lực của cha mẹ._Đức Phậy dạy”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “ Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Có hai cách giúp cho hàng phàm phu có công đức lớn và được quả báo lớn, đó là cúng dường cha mẹ, cúng dường bồ-tát Nhất sinh bổ xứ. Nếu cúng dường cho hai bậc này, sẽ được công đức lớn và quả báo lớn. Nếu để cha ngồi vai trái, mẹ ngồi vai phải suốt nghìn vạn năm, chu cấp đầy đủ y phục, thức uống ăn, ngọa cụ, thuốc thang, cho đến để cha mẹ đại tiểu tiện trên vai, cũng không báo đáp được công ơn ấy. Nên biết ân cha mẹ rất sâu nặng, bồng bế, dưỡng nuôi ta. Cho nên cần phải hiếu thuận, cúng dường đúng lúc, không để trái thời”.
Kinh Địa ngục ghi: “Đệ tử mà nói lỗi của sư tăng, dù có thật, thì sau khi chết rơi vào địa ngục tự ăn cuống lưỡi của mình. Nếu được thức ngon, trái ngọt mà thụ dụng trước sư tăng, cha mẹ, sau khi chết rơi vào loài ngạ quỉ, sau đó sinh vào gia đình nghèo khốn. Nếu độc ác với cha mẹ, sư tăng, sau khi chết rơi vào địa ngục búa sất, sau đó sinh vào loài rắn độc. Nếu mang ác tâm học lời của cha mẹ, sư tăng, sau khi chết rơi vào địa ngục nước đồng sôi, sau đó sinh làm người nói lắp”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Thà phá tháp, hủy tượng chớ không nói lỗi của người khác. Nếu nói thì hoại Pháp thân. Không cần biết tì-kheo đối diện có lỗi hay không, nhất định không được nói gì”.
Kinh Kính sư ghi: “Một ngày nên ba lần đến vấn an sức khỏe của thầy, nếu không gặp được thì nên dùng một hòn đất nhỏ hoặc cọng cỏ làm kí hiệu để thầy chứng biết. Gặp lúc khí trời oi bức, đệ tử cũng nên đến thêm ba lần nữa để hầu quạt cho thầy. Nếu đệ từ không cung kính thầy hoặc Hòa thượng, rồi nói những điều thị phi về thầy, thì sau khi mạng chung sẽ sinh vào địa ngục Cự Phát, có bốn đầu, toàn thân cháy đỏ, bị loài côn trùng Câu chủy ăn cuống lưỡi. Nếu được Hòa thượng, a-xà-lê dạy cho một bài kệ bốn câu, thì dù trải qua nghìn kiếp vai vác, hoặc lưng mang, hoặc đầu đội các vị ấy, cũng không thể nào báo đáp trọn”.
Luận A-tì-đàm ghi: “Nếu cung cấp cho người bệnh, cúng dường cho giảng sư, bồ-tát thân cận Phật thì sẽ được quả báo lớn”.
Lục độ tập kinh ghi: “ Thuở xưa, khi bồ-tát là thiên nga, sinh được ba đứa con. Bấy giờ, trong nước hạn hán, không có gì để ăn, thiên nga liền rỉa thịt trong nách mình để cứu mạng các con. Ba thiên nga con nghi ngờ nói với nhau:
- Thịt này mùi vị không khác gì mùi nơi thân thể mẹ mình, lẽ nào mẹ rỉa thịt mình cho chúng ta ăn?
Chúng buồn bã xót xa, rồi nói tiếp:
- Chúng ta thà chết, chứ không làm tổn hại thân mẹ!
Thế là, chúng ngậm miệng không chịu ăn. Thiên nga mẹ thấy vậy, lại đi tìm thức ăn khác. Thiên thần khen ngợi:
- Chim mẹ nhân từ khó ai hơn, chim con hiếu thảo thật hiếm có!
Chư thiên liền giúp đỡ, mẹ con thiên nga được thành tựu như ý nguyện. Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Chim mẹ chính là ta, ba đứa con là: Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và A-nan.
Bồ-tát nhân từ thực hành bố thí độ ba-la-mật là như thế”.
Kinh Tứ thập nhị chương ghi: “Đức Phật dạy:
- Bố thí thức ăn cho một trăm phàm phu không bằng bố thí thức ăn cho một người thiện. Bố thí thức ăn cho một ngàn người thiện không bằng bố thí thức ăn cho một người thụ ngũ giới. Bố thí thức ăn cho một vạn người thụ ngũ giới ăn không bằng cúng dường thức ăn cho một vị Tu-đà-hoàn. Cúng dường thức ăn cho một trăm vạn vị Tu-đà-hoàn không bằng cúng dường thức ăn cho một vị Tư-đà-hàm. Cúng dường thức ăn cho một ngàn vạn vị Tư-đà-hàm không bằng cúng dường thức ăn cho một vị A-na-hàm. Cúng dường thức ăn cho một ức vị A-na-hàm không bằng cúng dường thức ăn cho một vị A-la-hán. Cúng dường thức ăn cho mười ức vị A-la-hán không bằng cúng dường thức ăn cho một vị Bích-chi-phật. Cúng dường thức ăn cho một trăm ức vị Bích-chi-phật không bằng dùng giáo pháp của ba đời chư Phật cứu độ cha mẹ một đời. Dùng giáo pháp của chư Phật ba đời độ nghìn ức người thân không bằng cúng dường thức ăn lên một vị Phật rồi phát nguyện cầu thành Phật; vì phát nguyện cầu thành Phật là cứu độ chúng sinh. Bố thí thức ăn cho người thiện, được phúc báo vô cùng lớn. Cho nên cúng tế trời đât, quỉ thần không bằng hiếu kính cha mẹ”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật kể: “Thuở quá khứ lâu xa, trong núi Tuyết, có một con chim anh vũ sống với cha mẹ mù lòa, nó thường hái những hoa ngon trái ngọt đem về dâng cho cha mẹ. Lúc ấy, có một vị chủ ruộng, khi gieo lúa có phát nguyện: ‘Lúa ta gieo trồng đây, sẽ cho mọi loài cùng hưởng!’. Nghe vị chủ ruộng kia có lòng bố thí, nên chim anh vũ thường bay đến ruộng nhặt gié lúa mang về phụng dưỡng cha mẹ. Khi ấy, vị chủ ruộng đi thăm lúa mạ, thấy nhiều chỗ bị các loài sâu, chim cắn. Ông ta nổi giận, giăng lưới bắt được chim anh vũ. Chim anh vũ nói:
- Trước kia ông có phát tâm bố thí tài vật không tiếc, do đó, tôi mới dám đến đây nhặt gié lúa. Nay vì sao ông lại giăng lưới bắt tôi?
Chủ hỏi:
- Ngươi lấy lúa này cho ai?
Anh vũ đáp:
- Cha mẹ tôi đều bị mù, tôi xin lúa này đem về để phụng dưỡng cha mẹ.
Vị chủ ruộng nói:
- Từ nay về sau, ngươi hãy đến lấy lúa này để phụng dưỡng họ, đừng e ngại gì!
Loài súc sinh mà còn biết hiếu dưỡng cha mẹ như thế, huống gì là con người.
Đức Phật dạy:
- Chim anh vũ bấy giờ, chính là Ta; chủ ruộng thuở ây, nay chính là Xá-lợi-phất; cha mẹ mù thuở xưa, nay chính là vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-gia. Do khi xưa Ta hiếu dưỡng cha mẹ nên hôm nay thành Phật”.
49.3. THÁI TỬ TU-XÀ-ĐỀ
Kinh Bảo ân ghi: “Trong vô lượng vô biên a-tăng kì kiếp về trước, có Phật Tì-bà-thi xuất hiện thế gian. Sau khi Đức Phật diệt độ, đến thời tượng pháp có vua nước
Phần 2

Ba-la-nại thống lĩnh sáu mươi nước nhỏ, vua có ba thái tử, đều phong cho làm vua các nước nhỏ.
Bấy giờ trong triều có đại thần La-hầu-la phản nghịch, giết chết nhà vua và hai thái tử lớn. Thái tử út lúc ấy đang làm vua nước nhỏ vùng biên địa. Là người có lòng nhân đức hiền thiện, thiên thần đều yêu kính. Tiểu vương sinh được một thái tử, đặt tên là Tu-xà-đề. Thái tử mới bảy tuổi mà rất thông minh nhân từ, hiếu thuận, rất được vua và phu nhân yêu thương.
Một hôm, vị thần giữ cung điện báo với vua:
- Đại vương biết chăng! Đại thần La-hầu soán ngôi, đã giết chết vua cha và hai hoàng huynh của ngài rồi. Không bao lâu nữa, quân mã của ông ta sẽ đến đây. Sao ngài không chạy trốn?
Vua nghe nói thế trong lòng sợ hãi, toàn thân rúng động, nhìn lên hư không hỏi:
- Khanh là ai? Vì sao ta chỉ nghe tiếng mà không thấy hình? Những lời khanh nói là thật chứ?
Vị thần đáp:
- Tôi là thần giữ cung điện. Vì thấy ngài thông minh, phúc đức, dùng chính pháp trị nước, nên tôi báo cho ngài biết trước. Ngài nên lập tức rời khỏi đây. Chẳng bao lâu nữa, họa sẽ đến.
Vua liền vào cung, thầm nghĩ: “Nay ta nên đến nước láng giềng lánh nạn. Nhưng đến nước đó có hai lộ trình: một lộ trình bảy ngày, một lộ trình mười bốn ngày. Ta nên đi theo lộ trình ngắn nhất”. Thế là, vua chuẩn bị lương thực đủ bảy ngày, bồng thái tử Tu-xà-đề ra đi, phu nhân theo sau. Vì trong lòng hoang mang hốt hoảng, nên nhà vua đi nhầm vào lộ trình mười bốn ngày. Con đường này rất hiểm nguy, lại không có cỏ nước. Nhà vua vốn chỉ chuẩn bị lương thực cho một người trong bảy ngày, nay đến ba người cùng ăn trong mười bốn ngày. Nên đi được mấy ngày thì lương thực đã cạn mà đường phía trước còn xa. Trong tình cảnh này, hai người chỉ biết khóc và cất tiếng than:
- Thật lạ thay! Thật khổ thaỵ! Từ lúc sinh ra đến giờ, ta chưa từng nghe có nỗi khổ này, sao hôm nay, chính ta lạỉ gặp phải!
Rồi họ lại nằm lăn ra đất, than trách:
- Đời trước chúng ta đã gây tạo ác nghiệp gì, đến nỗi hôm nay phải chịu tai họa này? Nghĩ đến đây, họ lại khóc lớn. Vì quá đau lòng, vua ngã ngất xuống đất, giây lâu tỉnh lại, suy nghĩ: “Không thể để ba người phải bò mạng tại đây. Chắc phải giết phu nhân, lấy thịt duy trì mạng sống cùa ta và thái tử”. Nghĩ thế, vua liền vung đao định giết phu nhân. Thái tử Tu-xà-đề thấy vua muốn giết mẹ mình, liền bước đến nắm tay vua và hỏi nguyên nhân.
Vua nước mắt ràn rụa, khẽ bảo thái tử;
- Ta định giết mẹ con, lấy máu thịt của bà ấy để nuôi mạng sống ta và con. Nếu không, mẹ con cũng sẽ chết, ta cũng vậy. Nhưng thân ta sống chết sá gì, chỉ vì mạng sống của con, nên ta buộc phải làm thế!
Khi ấy, thái tử Tu-xà-đề liền thưa:
- Nếu phụ hoàng giết mẫu hậu, con cũng chẳng ăn. Có đời nào con lại ăn thịt mẹ mình. Nếu đã không ăn thì con cũng sẽ chết. Vậy tại sao người lại không giết con để cứu mạng phụ hoàng và mẫu hậu?
Vua nghe thế, vô cùng xót xa, ngã lăn ra đất ngất đi. Khi tỉnh lại, vua bảo thải tử:
- Con giống như đôi mắt của ta. Có ai lại tự móc mắt cùa mình để ăn. Ta thà chết, quyết không giết con để lấy thịt ăn.
Thái tử khuyên vua:
- Thưa phụ hoàng! Nếu nay người giết chết con, vài ngày sau, máu thịt sẽ hôi thối. Do đó, mỗi ngày nên lóc ba cân thịt trên người con, hai phần dâng cha mẹ, còn một phần con dùng để duy trì mạng sống.
Vua phải làm theo, lóc ba cân thịt chia làm ba phần, hai phần vua và phu nhân ăn, phần còn lại dành cho thái tử. Mọi người tiêp tục đi, nhưng chưa đến hai ngày, thịt trên người đã hết, chỉ còn bộ xương, nhưng thái từ vẫn chưa chết mà chỉ ngã gục xuống đất. Thấy thế, nhà vua liền chạy đến, bồng thái tử lên, gào khóc và nỏi:
- Cha mẹ không còn cách nào khác, buộc phải ăn thịt con, làm cho con phải đau khổ. Đường trước còn xa, chưa đên được nơi lánh nạn, mà thịt con đã hết. Chắc chúng ta phải chết chung ở đây.
Tu-xà-đề khuyên cha:
- Nhờ ăn thịt con, phụ hoàng và mẫu hậu đã đi được đến đây, tính ra chỉ còn một ngày đường nữa. Con ắt phải chết, cha mẹ chớ giống kẻ tầm thường, để phải cùng bỏ mạng nơi đâỵ. Xin hãy nghe con! Cha mẹ hãy nạo sạch những phần thịt còn sót lại giữa các đốt xương của con để ăn, thì cha mẹ có thể bảo toàn mạng sống đến được nước kia.
Vua và phu nhân đành phải làm theo lời thái tử, lấy được một ít thịt, chia làm ba phần, một phần cho thái tử, hai phần dành cho mình.
Ăn xong, hai người từ biệt thái tử lên đường. Tu-xà-đề gượng nhìn theo. Lúc ấy, vua và phu nhân vừa khỏe vừa đi. Hai người đã khuất bóng mà thái tử Tu-xà-đề vẫn lưu luyến nhìn theo, lát sau mê ngất nằm trên đất. Bấy giờ, do mùi máu thịt tươi trên người thải tử tỏa ra, nên ruồi nhặng khắp nơi bay đến, bu kín người rúc rỉa, khiến đau đớn không thể diễn tả hết,
Khi ấy, còn chút hơi thở, thái từ liền phát nguyện: "Nguyện những tai ương ác nghiệp đời trước đến đây trừ sạch. Từ nay về sau không dám tái phạm. Thân này đã dùng cứu sống cha mẹ. Nguyện cho cha mẹ ta thường được cảc phúc: ngủ nghỉ an lành, lúc thức an vui, không gặp ác mộng, trời bảo vệ, người kính mến, không phạm việc quan, không bị trộm cướp, không gặp giặc dữ, không bị mưu hại, không bị tàn diệt, gặp toàn việc lành. Những máu thịt còn sót lại trên thân, ta nguyện thí cho các loài ruồi nhặng kia, giúp chúng đều no đủ. Nhà công đức này, nguyện đời sau ta được thành Phật. Khi đã thành Phật, ta nguyện dùng pháp thực trừ bệnh nặng sinh từ đói khát của chúng sinh”.
Nguyện vừa phát, lập tức trời đát chấn động sáu cách, mặt trời ẩn mất Thích-đề-hoàn-nhân thấy vậy, liền cùng chư thiên xuống Diêm-phù-đề, hóa thành sư tử, cọp sói dọa nạt thử lòng thái tử.
Tu-xà-đề thấy các loài dã thú diệu võ dương uy, liền nhỏ nhẹ bảo:
- Các ngươi muốn ăn thịt ta thì tùy ý, cần gì phải dọa nạt.
Đế Thích bảo:
- Ta chẳng phải là sư tử, cọp, sói mà chính là Đế Thích, xuống đây để thử lòng ngươi.
Biết là trời Đế Thích, thái tử vô cùng vui mừng. Đế Thích hỏi:
- Ngươi bỏ được những thứ khó bỏ, đem máu thịt thân thể này dâng cho cha mẹ. Làm như vậy, là ngươi muốn sinh lên trời làm Ma vương, Phạm vương, thiên vương hay nhân vương?
Thái tử đáp:
- Tôi không nguyện làm gì cả, chỉ muốn cầu đạo Vô thượng chính chơn, độ thoát tất cả chúng sinh.
Nghe thế, Đế Thích liền bảo:
- Phải siêng năng khổ nhọc lâu ngày mới có thể thành tựu Phật đạo. Ngươi đâu có thể chịu đựng được nỗi khổ ấy?
Thái từ đáp:
- Dầu cho vòng sắt nóng quay tròn trên đỉnh đầu, tôi quyết không vì nỗi khổ ấy mà lui sụt đạo Vô thượng.
Đế Thích lại hỏi:
- Ngươi chỉ nói suông, căn cứ vào đâu để ta tin lời ngươi?
Thái tử liền lập nguyện:
- Nếu tôi lừa dối trời Đế Thích, xin cho vết thương trên thân mãi mãi không lành được; bằng ngược lại, xin cho thân thể tôi bình phục như cũ. Máu sẽ trở thành sữa trắng.
Vừa dứt lời, thân thể thái tử không những trở lại bình phục như xưa, máu biến thành sữa trắng mà dung mạo còn xinh đẹp gấp bội.
Thấy thế, Đế Thích liền ca ngợi:
- Hay thay! Nếu đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, xin hãy độ ta trước!

Phần 3

Nói xong, Đế Thích cùng chư thiên liền biến mất.
Khi ấy, vua và phu nhân đã đến nơi, thuật lại đầy đủ mọi việc với vua nước láng giềng. Khi nghe đến chuyện thái tử lấy thịt mình để hiếu dưỡng cha mẹ, vua ấy rất xúc động, lập tức điều động bốn binh, hộ tống vua và phu nhân trở về nước đánh dẹp loạn thần. Thế là, nhà vua thống lĩnh bốn binh, cùng phu nhân trở về, thuận đường ghé lại nơi đã từ biệt thái tử lúc trước, họ nghĩ: “Con ta chắc đã chết rồi. Ta nên tìm kiếm, thu nhặt hài cốt đem về nước”. Nghĩ đến đó, họ cất tiếng khóc bi thương. Bỗng từ xa, họ trông thấy thái tử không những toàn thân đã lành lặn mà còn xinh đẹp hơn xưa, liền bước đến ôm chầm lấy con, buồn vui lẫn lộn, cùng hội:
- Con vẫn còn sống ư?
Thái tử bèn thuật lại mọi việc. Vua và phu nhân vô cùng vui mừng, cùng nhau cỡi voi lớn trở về nước cũ. Nhờ phúc đức của thái tử Tu-xà-đề, nhà vụa thắng trận, lấy lại đất nước và lập thái tử lên làm vua.
Phật bảo A-nan:
- Phụ vương khi ấy, nay chính là Duyệt-đầu-đàn cha ta. Mẫu hậu bấy giờ, nay chính là Ma-gia phu nhân. Còn thái tử Tu-xà-đề khi ấy, nay chính là Ta, Thích-ca Như Lai. Trời Đế Thích, nay chính là A-nhã Kiều-trần-như”.
49.4. THIỂM TỬ
Kinh Thiểm Tử ghi: “Vào thời quá khứ, trong nước Ca-di có vợ chồng một trưởng giả tuổi già cô quạnh, không con nối dõi, cả hai đều mù mà muốn vào núi tu hạnh thanh tịnh, cầu trí tuệ vô thượng, ưa thích sự rỗng lặng.
Bồ-tát Nhất Thiết Diệu Kiến nghĩ: ‘Người này phát tâm học đạo vi diệu mà hai mắt đều mù, nếu vào núi tu tập thì sẽ gặp nguy hiểm’.
Nghĩ xong, bồ-tát liền mạng chung, gá sinh làm con trong nhà hai vợ chồng mù và đặt tên là Thiểm. Thiểm rất hiếu thảo, nhân từ, vâng giữ mười điều lành, ngày đêm siêng năng phụng dưỡng cha mẹ như thờ trời.
Năm hơn mười tuổi, Thiểm quỳ thưa cha mẹ:
- Cha mẹ trước đây đã phát nguyện lớn muốn vào núi tu tập, quyết cầu đạo thanh tịnh vô thượng chính chân, sao lại vì con mà bỏ chí nguyện?
Cha mẹ nghe theo lời Thiểm, vào núi tu tập. Thiểm đem hết của cải trong nhà bố thí cho người nghèo .rồi cùng cha mẹ vào núi. Đến nơi, Thiểrn lấy cây lá làm nhà, bện cỏ làm giường nệm không lạnh không nóng, thích hợp thời tiết cho cha mẹ nằm.
Họ vừa vào núi được một năm mà cây cối trĩu nặng, hoa thơm quả ngọt, suối chảy trong mát, trong ao cổ hoa sen năm màu rực rỡ tinh khiết, Nhiều loài chim cất tiếng hót vang giống như âm nhạc làm vui lòng cha mẹ mù. Các loài thú dữ như: sư tử, cọp, gấu, sói đều có lòng từ không sát hại lẫn nhau. Thiểm là người con hiếu thảo, nhân từ, ngay cả bước đi mà cũng sợ đau đất. Các vị thần tiên và thần núi đều hóa ra hình người, ngày đêm an ủi ba vị đạo nhân. Ba vị đạo nhân nhất tâm nhất ý tu tập, không còn buồn rầu. Thiểm thường khoác áo da nai ôm bình ra suối lấy nước, các loài hươu, nai, chim chóc cũng theo ra suối uống mà không sợ hãi.
Một hôm, vua nước Ca-di vào rừng săn bắn, từ xa trông thấy bên bờ suối có một đàn hươu, bèn giương cung bắn, mũi tên trúng nhầm vào ngực Thiểm.
Thiểm bị tên độc toàn thân đau buốt liền kêu lớn:
- Ai đã bắn mũi tên độc giết chết ba đạo nhân rồi!
Vua nghe tiếng người liền xuống ngựa đến trước Thiểm.
Thiểm bảo vua:
- Voi chết vì cặp ngà, tê giác chết vì sừng, chim trả chết vì bộ lông, hươu nai chết vì da thịt của nó. Nay tôi không có ngà, không có sừng cũng không có bộ lông, mà da thịt cũng không thể ăn được, lại mắc tội gì mà bị giết chết thế này?
Vua hỏi Thiểm:
- Ngài là ai mà mặc áo da nai giống như loài thú?
Thiểm đáp:
- Tôi là người trong nước của đại vương, vào núi học đạo với cha mẹ mù đã hơn hai mươi năm, chưa từng bị hổ lang hay trùng độc làm hại, nay lại bị đại vương bắn chết.
Bấy giờ, trong núi bỗng nổi lên trận gió lớn làm gãy đổ cây cối, trăm chim kêu la thảm thiết, sư tử, gấu, beo gào rống vang động núi rừng, mặt trời không còn ánh sáng, suối nước khô cạn, các hoa đều héo úa, sấm chớp nổi lên chấn động cả quả đất.
Lúc ấy, cha mẹ mù kinh hãi bảo nhau:
- Thiểm đi lấy nước đã lâu mà vẫn chưa về, lẽ nào bị thú dữ, trùng độc làm hại! Lại thêm bên ngoài tiếng cầm thú kêu la khác thường, rồi gió rít, bốn phía cây cối gãy đổ, ắt có tai họa.
Khi ấy, vua vô cùng sợ hãi hối hận tự trách:
- Ta không cố ý, chỉ muốn bắn nai mà nhầm trúng ngài. Giết chết đạo nhân, tội này rất nặng, vì tham một chút thịt mà phải lãnh lấy tai họa lớn. Nay ta đem tất cả kho báu, cung điện, thể nữ và cả thành ấp trong nước để cứu mạng ngài!
Nói xong, vua liền đến trước dùng tay rút mũi tên trên ngực Thiểm, nhưng mũi tên cắm quá sâu, không thể rút ra được.
Bấy giờ, chim thú khắp nơi ùn ùn kéo đến, kêu gào vang động cả núi rừng. Vua càng sợ hãi, toàn thân rúng động.
Thiểm bảo vua:
- Việc này chẳng phải là lỗi của đại vương, mà là do tội của tôi từ kiếp trước đưa đến như thế. Tôi không tiếc thân mạng, chỉ thương cha mẹ tuổi đã xế chiều, lại thêm mù lòa, một khi không có tôi chăm sóc, không có ai cậy nhờ thì cũng sẽ chết, nên tôi rất khổ đau buồn bã.
Vua nói:
- Ta thà vào Nê-lê chịu tội trăm kiếp, xin cho Thiểm được sống lại! Đừng lo nghĩ! Nếu ngài qua đời thì ta sẽ không về nước mà ở lại trong núi phụng dưỡng cha mẹ ngài như lúc ngài còn sống. Các vị Trời rồng, thần đều sẽ chứng biết, ta sẽ không trái lời thệ này!
Thiểm nghe vua thệ xong, liền nói:
- Tôi tuy bị trúng tên độc, nhưng lòng rất vui dù có chết cũng không ân hận, xin phiền đại vương thay tôi chăm sóc cha mẹ mù lòa đang làm đạo nhân hiện đời tội diệt, được phúc vô lượng!
Vua nói:
- Nhân lúc còn sống, xin hãy chỉ cho ta biết nơi ở của cha mẹ ngài!
Thiểm liền nói:
- Cách đây không xa, có một ngôi nhà tranh, cha mẹ tôi đang sống trong đó. Đại vương từ từ đến chớ để cha mẹ tôi sợ hãi. Đến nơi đại vương hãy tìm cách khéo léo trình bày ý của mình và thay tôi dâng lên lời tạ tội: “Nay vô thường đã đến, nên con qua đời. Con không tiếc thân mạng chỉ thương cha mẹ tuổi già, hai mắt lại mù, một mai không còn chỗ cậy nhờ, nên con rất buồn rầu đau khổ. Chết là số phận của con, do tội đời trước đưa đến, không ai thoát được. Nay xin sám hối cha mẹ, từ vô số kiếp đến nay những việc ác đã làm, từ đây tội diệt phúc sinh, nguyện cho con và cha mẹ đời đời được gặp nhau, mãi mãi không xa lìa. Nguyện cho cha mẹ được sống lâu, không lo buồn, trời rồng, quỉ thần thường theo giúp đỡ, tất cả tai nạn thảy đều tiêu diệt”.
Thế là vua liền dẫn theo một số người đi đến chỗ ở của cha mẹ Thiểm.
Sau khi vua đi, Thiểm an nhiên qua đời. Chim thú đều cất tiếng gào khóc, nhiễu quanh thi thể, dùng lưỡi liếm máu trên thân Thiểm. Cha mẹ Thiểm nghe được âm thanh này thì càng thêm sợ hãi, lo lắng không yên.
Lúc ấy vua đi nhanh chạm vào cây cỏ, vang lên tiếng sột soạt.
Cha mẹ Thiểm giật mình nói:
- Ai đó? Dường như chẳng phải con ta!
Vua nói:
- Ta là vua nước Ca-di, nghe đạo nhân học đạo trong núi, nên đến cúng dường.
Cha mẹ Thiểm nói:

Phần 4

- Đại vưomg đến đây, thật quí thay! Ngài khổ nhọc hạ mình từ xa lặn lội đến chốn hoang dã này. Đại vương có được an ổn không? Phu nhân, thái tử, các quan và nhân dân trong cung đều an lành chứ? Mưa thuận gió hòa, lúa thóc được mùa không? Các nước lân cận có đến xâm chiếm không?
Vua trả lời:
- Nhờ ơn của đạo nhân mà tất cả đều được bình an.
Sau đó, vua hỏi thăm cha mẹ mù:
- Đạo nhân vào núi nhọc tâm siêng năng, tu hành khổ hạnh, giữa chốn rừng sâu, chim thú không làm tổn hại chứ? Ở trong núi nóng lạnh đổi thay, thân thể được an ổn không?
Cha mẹ Thiểm đáp:
- Nhờ ơn dày của đại vương, nên thường được an ổn. Chúng tôi có một đứa con rất hiếu thảo tên là Thiểm, thường hái các loại trái cây và lấy nước suối cho chúng tôi dùng đầy đủ. Trong núi mưa thuận gió hòa, có chiếu cỏ để ngồi, trái cây để ăn. Thiểm đi lấy nước sắp về rồi!
Vua nghe cha mẹ mù nói như thế càng thêm đau lòng rơi nước mắt nói:
- Tội ta rất nặng, vừa rồi vào rừng săn bắn, thấy bên dòng suối có bầy hươu liền giương cung bắn, nào ngờ mũi tên nhầm trúng vào con của đạo nhân, Thiểm bị trúng tên độc vết thương rất nặng. Trước khi qua đời, Thiểm bảo ta đến báo cho hai đạo nhân biết.
Cha mẹ Thiểm nghe xong, liền té ngã như Thái sơn sụp đổ, cõi đất chấn động. Vua vội vã đỡ dậy.
Cha mẹ Thiểm ngước lên trời gào khóc nói:
- Con của chúng tôi rất hiếu thảo, nhân từ không có lỗi lầm, bước đi còn sợ đau đất, nay có tội gì mà bị đại vương bắn chết. Vừa rồi gió lớn nổi lên làm ngã đổ cây cối, trăm chim kêu gào thảm thiết động cả núi rừng, nghi ngờ con tôi đã chết.
Người mẹ gào khóc không thể nín được.
Cha Thiểm bảo:
- Hãy nín đi, đừng khóc nữa! Người sống trên đời ai cũng phải chết.
Ông lại hỏi vua:
- Thiểm bị bắn nơi nào, bây giờ còn sống hay chết?
Vua đem lời Thiểm nói hết cho vợ chồng người mù nghe. Nghe xong, họ càng thương cảm và nói:
- Một khi không có con thì chúng tôi cũng phải chết, xin đại vương dẫn chúng tôi đến chỗ thi thể của Thiểm!”.
Đoạn này, trong kinh Tạp bảo tạng ghi: “Vua đau xót khóc lóc, nói kệ:
Ta là vua nước này,
Vào núi rừng săn bắn
Chỉ muốn bắn cầm thú
Không may bắn trúng người.
Nay ta bỏ ngôi vua
Đến nuôi cha mẹ mù
Như con của hai người
Xin chớ sinh lo buồn!
Cha mẹ mù nói kệ trả lời vua:
Con ta lòng hiếu thuận
Trời người không ai bằng
Dẫu vua có thương xót
Sao giống con ta được?
Nếu vua thật thương xót
Hãy cho ta gặp con
Được ở bên cạnh nó,
Thì ta mãn nguyện rồi!
Vua dẫn cha mẹ mù đến bên cạnh Thiểm-ma-ca. Được đến bên con, ông bà đập ngực than khóc kêu gào:
- Con ta nhân từ, hiếu thuận không ai sánh bằng! Hỡi thần trời, thần đất, thần núi, thần cây, thần sông, thần ao! Hỡi các vị thần hãy cứu con tôi! Rồi bà nói kệ:
Hỡi vua khắp các cõi,
Vì sao không phò hộ
Con hiếu thuận của ta
Khiến bị nỗi khổ này?
Cảm kích lòng hiếu thuận
Hãy mau cứu mạng con! ”,
Cũng đoạn này, trong kinh Thiểm Tử ghi: “Người mẹ lại thưa:
- Xin đại vương dẫn chúng tôi đến chỗ thi thể của Thiểm!
Vua liền dắt hai vợ chồng người mù đến bên xác Thiểm. Người cha ôm lấy hai chân, người mẹ thì ôm đầu, ngước lên trời kêu lớn, người mẹ lại liếm vết thương trên ngực Thiểm và nguyện: “Xin chất độc vào miệng ta, ta đã già rồi, mắt không còn nhìn thấy gì nữa, nguyện đem thân này đổi lấy mạng con, Thiểm được sống, ta chết cũng không ân hận”
Nguyện xong, bà nói:
- Thiểm là người thật thà, hiếu thảo, trời đất đều biết, xin cho mũi tên được rút ra và thoa thuốc trị hết độc cho Thiểm được sống lại!
Bấy giờ, tòa ngồi của Đế Thích lay động mạnh, Đế Thích liền dùng thiên nhãn quán sát thấy hai đạo nhân đang ôm con gào khóc. Lại nghe trên cung trời Đâu-suất bỗng nhiên chấn động. Đế Thích, Phạm vương và các vị thiên vương theo vị Thiên vương thứ tư trong chớp mắt hiện đến, dùng thuốc thần rót vào miệng Thiểm, thuốc vừa vào miệng thì mũi tên liền tự vọt ra, Thiểm được sống lại như trước. Cha mẹ vừa kinh ngạc vừa vui mừng, biết Thiểm đã chết mà sống lại thì hai mắt bỗng nhiên đều sáng. Chim thú đều cất tiếng kêu vang, âm thanh rất vui hòa, gió lặng mây dừng, mặt trời tỏa sáng, dòng suối tuôn trào, các đóa hoa đều khoe sắc, cây cối lại sum suê hơn trước.
Thấy thế, vua hết sức vui mừng không thể kiềm chế, liền cúi lạy Đế Thích rồi lạy cha mẹ và Thiểm, xin đem của cải trong nước dâng lên đạo nhân.
Thiểm nói:
- Nếu đại vương muốn trả ơn thì hãy về nước, chăm lo nhân dân, dạy họ vâng giữ năm giới. Đại vương cũng đừng đi săn bắn giết hại loài thú để phải chịu quả báo hiện đời thân không an ổn, khi chết rơi vào địa ngục. Người ở thế gian ân ái giả tạm, biệt ly lâu dài. Đại vương đời trước có công đức nay đuợc làm vua, chớ cho mình được tự do mà buông lung.
Khi ấy, vua hối hận tự trách và hứa từ nay về sau sẽ nghe lời Thiểm dạy, không dám trái bỏ.
Hàng trăm người theo vua săn bắn thấy Thiểm đã chết mà được thuốc thần cứu sống, hai mắt mù của cha mẹ Thiểm được sáng lại thì hăng hái phát tâm vâng giữ năm giới, trọn đời không phạm.
Vua trở về cung truyền khắp trong nước, ai có cha mẹ nghèo khổ mù lòa như Thiểm, đều phải chăm sóc không được trái bỏ, nếu trái phạm sẽ phạt tội nặng.
Bấy giờ, nhân dân trong nước theo lời vua dạy, vâng giữ năm giới, tu mười điều lành, khi chết được sinh lên cõi trời không rơi vào ba đường ác.
Đức Phật bảo A-nan và những người trong hội:
- Thiểm chính là Ta, cha mẹ mù nay là vua Duyệt-đầu-đàn và mẫu hậu Ma-da, vua nước Ca-di là A-nan, Đế Thích là Di-lặc. Sở dĩ Ta mau thành đạo Vô thượng chính chân, đều là do công đức hiếu dưỡng cha mẹ”.
49.5. NGHIỆP NHÂN
Kinh Tạp bảo tạng ghi:

Phần 5

- Đối với cha mẹ, người nào phụng dưỡng cung kính, dù ít, cũng được vô lượng phúc đức; người nào bất hiếu, dù nhỏ, cũng sẽ bị vô lượng tội báo.
Đức Phật kể: “Vào thời quá khứ lâu xa, tại nước Ba-la-nại có một vị trưởng giả tên là Từ Đồng Nữ, cha mất sớm, tài sản không còn. Anh ta làm thuê buôn củi, mỗi ngày kiếm được hai đồng tiền, đem về phụng dưỡng mẹ. Nhờ tính toán giỏi, nên mỗi ngày kiếm được bốn đồng tiền, cũng đem về dâng cho mẹ. Dần dần kiếm được tám quan tiền, ông cũng mang về dâng lên mẹ. về sau càng có nhiều người đến giao dịch, nên mỗi ngày kiếm được mười sáu quan tiền, anh ta cũng đem về dâng lên cho mẹ. Mọi người thấy anh ta thông minh, có phúc đức, nên khuyên anh thường ra biển tìm của báu. Anh về nhà thưa mẹ, xin đi.
Người mẹ nghĩ con mình nhân từ hiếu thuận, nó sẽ không nỡ bỏ mẹ đi xa, nên nói đùa:
- Mẹ cho phép con đi!
Nghe nói như vậy, nghĩ rằng mẹ đã đồng ý, anh ta liền bàn tính với bạn bè, cùng nhau đi biển. Chuẩn bị hành lí xong, anh ta đến từ biệt mẹ để đi, người mẹ ôm chân con khóc lóc, nói:
- Mẹ chưa chết thì con không thể đi được!
Anh ta đã hứa với các bạn, sợ bất tín, nên gỡ tay mẹ khỏi chân mình, vô ý làm đứt mấy chục sợi tóc. Mẹ sợ con bị tội, nên buông tay cho con ra đi cùng những người khách buôn. Sau khi ra khơi, đến bãi châu báu, anh ta lấy rất nhiều châu báu, rồi cùng với bạn bè quay về. Trên đường về, mọi người đi trước, một mình Từ Đồng Nữ đi sau, nên lạc đường. Anh ta đi mãi, trông thấy một hòn núi, trên đó có một tòa thành bằng lưu ly. Vì đói khát mệt mỏi, nên anh ta đi nhanh đến thành. Lúc ấy, trong thành có bốn vị ngọc nữ, tay cầm bốn viên ngọc như ý, hát múa trỗi nhạc nghinh đón. Anh ta ở đó bốn vạn năm, hưởng nhiều khoái lạc. Sau đó, tự nhiên sinh tâm nhàm chán, anh liền muốn bỏ đi.
Anh ta đi về phía trước, gặp một tòa thành pha lê, trong thành có tám ngọc nữ, tay cầm tám hạt ngọc như ý, cũng trỗi nhạc ca múa, đến nghinh đón. Anh ta ở thành này tám vạn năm, vô cùng sung sướng. Nhưng anh ta cũng cảm thấy nhàm chán, lại muốn bỏ đi. Anh ta lại đến một thành bằng bạch ngân, thành này có mười sáu ngọc nữ, tay cầm mười sáu hạt ngọc như ý, cũng đến nghinh đón anh ta như hai lần trước. Anh ta ở thành này mười sáu vạn năm, hưởng nhiều khoái lạc, nhưng cũng nhàm chán muốn bỏ đi. Anh ta đi đến một thành bằng vàng ròng, thành này có ba mươi hai ngọc nữ, tay cầm ba mươi hai viên ngọc như ý, cũng đến nghinh đón anh ta như trước. Anh ta hưởng thụ khoái lạc ở thành này ba mươi hai vạn năm, rồi cũng nhàm chán muốn bỏ đi.
Đi mãi thấy một tòa thành bằng sắt, anh ta bước vào, liền bị một người cởi vòng lửa đang đội dầu chuyển qua đầu Từ Đồng Nữ rồi bỏ đi. Từ Đồng Nữ hỏi lính ngục:
- Ta đội vòng lửa này đến khi nào mới thôi?
Lính ngục đáp:
- Ở đời có người gây tội làm phúc như ngươi đã làm, đi vào biển tìm châu báu, rồi cũng trải qua các thành trong thời gian như ngươi đã ở, sau đó người ấy sẽ đến chịu tội thay ngươi. Vòng lửa sắt này không bao giờ rơi xuống đất.
Từ Đồng Nữ hỏi:
- Ta đã làm được phúc đức gì, đã gây tội gì?
Lính ngục đáp:
- Thuở xưa, khi ở cõi Diêm-phù-đề, mỗi ngày ngươi đem về hai quan tiền phụng dưỡng mẹ, nhờ phúc đức ấy, nên được ở thành bằng lưu li, có bốn ngọc nữ cầm bốn ngọc như ý, hưởng thụ khoái lạc ở thành này trong vòng bốn vạn năm. Mỗi ngày ngươi đem về bốn quan tiền để phụng dưỡng mẹ, nhờ đó mà được ở thành bằng pha lê, có tám ngọc nữ cầm tám viên ngọc như ý, hưởng khoái lạc ở đó trong vòng tám vạn năm. Mỗi ngày ngươi mang về tám quan tiền phụng dưỡng mẹ, nên nhờ phúc đó mà ngươi được hưởng khoái lạc trong thành bằng bạc mười sáu vạn năm, có mười sáu ngọc nữ cầm mười sáu viên ngọc như ý. Mỗi ngày ngươi mang về mười sáu quan tiền phụng dưỡng mẹ, nên được hưởng khoái lạc trong thành bằng vàng ròng suốt ba mươi hai vạn năm, có ba mươi hai ngọc nữ cầm ba mươi hai viên ngọc như ý. Do làm đứt tóc của mẹ, nên khiến ngươi phải đội vòng lửa sắt. Vòng này không bao giờ rơi xuống đất, đợi lúc nào có người đến đội thay, thì ngươi mới được giải thoát.
Từ Đồng Nữ lại hỏi:
- Nay, trong ngục này có ai chịu tội như ta không?
Lính ngục đáp:
- Có trăm ngàn vô lượng người chịu tội, không thể tính kể!
Nghe nói như vậy, Từ Đồng Nữ liền nghĩ: ‘Ta sẽ không bao giờ thoát được, xin tất cả những nỗi khổ của mọi người dồn hết vào thân ta!’. Vừa nghĩ như vậy, vòng lửa sắt liền rơi xuống đất, Từ Đồng Nữ ngạc nhiên hỏi lính ngục:
- Ông nói vòng lửa này không bao giờ rơi xuống đất, nay vì sao lại rơi xuống?
Lính ngục tức giận, dùng chĩa ba bằng sắt đánh vào đầu Từ Đồng Nữ, khiến anh ta chết ngay tại chỗ. Sau khi chết, Đồng Nữ liền được sinh về cung trời Đâu-thuật-đà.
Đức Phật dạy: Từ Đồng Nữ thuở ấy, nay chính là Ta. Các thầy nên biết, đối với cha mẹ, người nào phụng dưỡng cung kính, dù ít cũng được vô lượng phúc đức; người nào bất hiếu, dù nhỏ sẽ bị vô lượng tội báo. Cho nên phải hết lòng phụng dưỡng cha mẹ!”.
Luận Thành thật ghi: “Nếu khởi nghiệp thiện ác đối với Như Lai, thánh nhân và cha mẹ, thì hiện đời phải chịu quả báo xấu”.
Kinh Vân-thù vấn ghi: “Đức Phật nói kệ:
Trời trăng chiếu lá hoa Không tâm mong báo đáp Như Lai không chấp trước Không cầu báo, cũng vậy.
Có bài tụng:
Vào triều giúp quân vương
Thì lập chí trung tín
Ở nhà phụng song thân
Trọn đời nên hiếu kính
Huống ân Phật sâu nặng
Cứu độ khắp quần sinh
Há không cung kính sao?
49.6. CẢM ỨNG
49.6.1. Quách Cự: ông người đất ôn, Hà Nội, Trung Quốc. Nhà ông rất giàu. Sau khi cha mất, gia tài còn hai nghìn lượng vàng, ông giao trọn cho người em, còn mình chỉ rước mẹ về nuôi dưỡng. Làng bên có một ngôi nhà hoang, rất hung hiểm, không ai dám ở. Ông đưa mẹ và gia đình ông đến đó trú, không sợ hãi. Vợ ông sinh một bé trai, ông sợ nếu nuôi con thì sẽ giảm bớt phần phụng dưỡng mẹ, nên bảo vợ chôn đứa con. Lúc đào đất bỗng nhặt được một hũ vàng ròng, trên đó chứng nhận: “Ban cho hiếu tử Quách Cự”.
49.6.2. Đinh Lan: Ông người ở Dã Vương, Hà Nội, Trung Quốc. Năm mười lăm tuổi, mẹ qua đời, Ông tạc tượng mẹ bằng gỗ, ngày đêm cung phụng như lúc còn sống. Đêm nọ vợ ông đốt cháy mặt tượng mẹ, hai hôm sau tóc vợ ông tự nhiên rụng như bị dao cắt, vợ ông sợ hãi tạ tội. ông bèn dời tượng mẹ ra đường lớn, bảo vợ để tang, ba năm lễ lạy. Một đêm, bỗng một trận gió thổi đến, người mẹ hiện về. Những người trong làng mượn cớ đó qui định: Nếu dung mạo của người mẹ hòa ái thì tha cho, nếu không hòa ái thì không tha.
49.6.3. Đồng Vĩnh: ông mất mẹ từ thuở nhỏ, sống với cha, siêng năng cày cấy, dùng xe nai chở cha, còn mình đi bộ theo sau. Đến lúc cha mất, ông bán mình cho một phú ông lấy tiền lo chi phí mai táng. Một hôm, trên đường đi, một người nữ đến gặp ông và nói: “Tôi xin được làm vợ anh!” Thế rồi cả hai đến nhà phú ông kia. Phú ông hỏi: “Cô gái kia là ai?”. Đáp: “Là vợ của tôi! Cô ấy muốn trợ giúp cho việc trả nợ!”. Phú ông nói: “Hạn định cho cô trong mười ngày phải dệt xong ba trăm tấm lụa”. Lúc ra khỏi nhà, người vợ nói: “Thiếp là thiên nữ, Thiên đế bảo thiếp đến đây giúp chàng trả nợ”. Nói xong bỗng nhiên biến mất.
49.6.4. Trần Di: ông người đất Ngô, Trung Quốc, lúc trẻ làm một chức quan nhỏ ở quận. Mẹ ông rất thích ăn cơm cháy, nên hằng ngày ông luôn mang theo một cái bao đến quan sở, đợi khi nấu cơm xong, ông lấy mang về dâng mẹ. Sau ông theo Tôn Tư làm loạn, gom được mấy thăng cơm cháy, thường mang theo bên mình. Cuộc nổi loạn thất bại, có nhiều người chết, nhưng Di vẫn còn sống. Người mẹ ngày đêm khóc nhớ ông, đến nỗi hai mắt bị mù, hai tai chẳng còn nghe. Lúc trở về, ông lễ lạy khóc than, mắt mẹ ông tự nhiên sáng tỏ.

Phần 6

49.6.5. Khương Thi: Ông tự lả Sĩ Du, người đất Lạc, Quảng Hán. Mẹ ông thích uống nước sông, nên ông sai con ra sông lấy về dâng mẹ, chẳng may đứa bé sẩy chân té xuống sông chết. Vợ ông vô cùng đau xót. Sợ mẹ biết, ông nói dối là đứa bé đi học. Hằng năm ông cho may áo ném xuống sông. Một hôm bỗng nhiên hiện suối nước gần nhà, trong và ngọt như nước sông, trong đó có một con cá chép.
49.6.6. Ngô Đạt: Ông người ở Ngô Hưng. Sau loạn Tôn Tư, gia đình ông có mười ba người mất mạng. Nhà ông rất nghèo, mùa đông không có chăn. Ban ngày làm thuê, ban đêm vê nhà làm gạch. Vợ chồng siêng năng làm lụng, không có thời gian để ăn uống nghỉ ngơi. Một năm làm được bảy ngôi mộ, mười ba quan tài. Lại xin nhận trước tiền công để lo chi phí mai táng. Người trong làng đều trích số tiền đó làm tiền phúng điếu, không tính vào tiền công. Nhưng về sau ông cày cấy để hoàn trả cho họ. Niên hiệu Nghĩa Hi thứ ba (407), thái thú Trương Sùng dùng lễ đãi ngộ ông.
49.6.7. Tiêu cố: Ông tự là Lí Dị, người ở Lan Lăng, Đông Hải, cháu mười bốn đời của thừa tướng Tiêu Hà thời Tiền Hán. Tổ tiên ông sông ở đất Bái, đến đời Tiêu Hà thì bỏ Trường Lăng, dời vào Quan Trung. Lúc nhỏ ông đã rất cung kính hiếu thuận cha mẹ, Sau khi cha mẹ mất được sáu năm, một hôm có con chim khách bay vào sân, hươu nai vào cửa nhà. Được triều đình mời ra làm quan, nhưng ông không đến. Con của ông tên là Chi, tự Anh Mao, cũng rất hiếu thuận, được phong làm Thượng thư lang. Mỗi khi ông lên triều, thường có một bầy chim trĩ bay bên xe hót vang, tiễn ra đường.
49.6.8. Đời Ngô, Trung thư lang Hàm Xung: Ông là người con chí hiếu. Một lần tạm đi ra ngoài, ông bảo tì nữ làm cơm dâng mẹ. Tì nữ này lén bắt tề tào nấu chín làm thức ăn, mẹ ông khen ngon mà chẳng biết món gì. Khi ông trở về, bà nói: “Sau khi con đi, tì nữ dâng ta một món chẳng phải cá thịt nhưng rất ngon, con thử hỏi nó xem!”. Ổng bèn hỏi, tì nữ nói thật, ông liền ôm mẹ khóc than, bỗng nhiên mắt bà sáng tỏ.
49.6.9. Vương Hư Chi: Ông người ở Tây Xương, Lư Lăng. Năm mười ba tuổi mất mẹ, ba mươi tuổi mất cha. Trong hai mươi năm lo phụng dưỡng cha mẹ, ông chưa từng được nếm món ngon ngọt. Khi bệnh nằm trên giường, bỗng có một người đến thăm và nói: “Bệnh của ông sẽ lành!”. Nói xong, người ấy biến mất. Lại nữa, vào đêm ấy nhà ông tỏa sáng, cây quýt trong sân, đang trời đông rét mà trổ ba quả. Không lâu ông hết bệnh. Mọi người đều cho do ông chí hiếu nên cảm thần minh đến chữa trị.
49.6.10. Hàn Bá Du: Một hôm ông phạm lỗi, người mẹ dùng roi đánh, ông khóc lớn. Mẹ ông hỏi: “Những lần trước cũng bị đánh, sao con không khóc?”. Ông đáp: “Nhưng lần trước, mẹ đánh con đau, lần này mẹ đánh mà con không cảm thấy đau biết mẹ đã già sức đã yếu, cho nên con khóc!”.
49.6.11. Thạch Xa: Ông người nước Sở, rất hiếu thuận với cha mẹ, làm quan đến chức Lệnh doãn thời Chiêu vương. Một hôm đang đi trên đường, từ xa thấy có kẻ giết người, đến hỏi thì chính là cha mình. Ông chịu tội thay cha, tự đưa mình vào ngục rồi sai người về tâu với Chiêu vương: “Phàm để cha tham dự việc quan là bất hiếu; phế bỏ luật pháp, dung túng kẻ có tội là bất trung. Thần xin được chết!”. Thế là ông tự vẫn.
49.6.12. Một hiếu phụ ở Hải Đông: Hán thư ghi: “Tại Hải Đông có một hiếu phụ phụng dưỡng mẹ chồng rất chu đáo. Người mẹ nói:
- Nó siêng năng gian khổ phụng dưỡng ta, ta đã già rồi, tiếc gì những năm tháng còn lại để mãi làm khổ cháu trẻ!
Thế là bà tự vẫn. Con gái của bà cho hiếu phụ giết, nên cáo quan. Quan bắt hiếu phụ kia giam vào ngục, tra tấn đánh đập vô cùng tàn nhẫn. Hiếu phụ không chịu nổi cực hình, nên nhận tội. Bấy giờ Vu Công làm quan giữ ngục thưa Thái thú:
- Hiếu phụ này phụng dưỡng cô mình hơn mười năm, nổỉ tiếng hiếu thuận, nhất định không giết người!
Thái thú không nghe theo. Vu công luận biện không thắng được, bèn ôm tờ giấy định tội khóc lóc nơi công phủ rồi bỏ đi. Thế là hiếu phụ bị chém chết. Từ đó liên tiếp ba năm toàn quận bị hạn hán. Một vị thái thú khác vừa chuyển đến, muốn tìm hiểu nguyên nhân, Vu công thưa:
- Hiếu phụ kia không đáng chết, quan thái thú tiền nhiệm đã giết oan cô ta, điềm lạ chính là đây!
Thái thú lập tức đích thân đến tế nơi mộ của hiếu phụ, chưa kịp trở về thì trời đã tuôn mưa lớn”.
Trưởng lão truyện ghi: “Hiếu phụ tên là Dụng Thanh, trước khi chết, cô cho xe chở đến một cây tre dài mười trượng, treo trên đó năm lá phan, rồi lập thệ: “Nếu Thanh có tội, thì xin được chết, khi chém máu sẽ chảy xuống; nếu Thanh bị oan thì máu sẽ chảy ngược lên cây!”. Khi chém, máu của Dụng Thanh tuôn ra có màu xanh vàng, theo cây tre chạy ngược lên đến ngọn rồi theo các lá phan mà rơi xuống đất”.
49.6.13. Đời Đông Tấn, Hùng Hòa: Cô là con gái của Phù Tiên Nê Hòa ở Kiến Vi. Vào niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (343), Nê Hòa làm Công tào ở huyện này. Huyện lệnh Triệu Chỉ sai ông đến bái yết thái thú Ba quận. Khoảng tháng mười ông đi thuyền trên hào thành, chẳng may rơi xuống nước chết, tìm không được xác. Hùng Hòa đau đớn khóc than thống thiết, không muốn sống nữa. Cô bảo người em tên là Hiền và chồng phải gấp tìm thi thể của cha, nếu không tìm được, cô sẽ tự trầm mình kiếm cha.
Bấy giờ Hùng Hòa hai mươi bảy tuổi, có hai con trai, một tên là Cống năm tuổi, một tên là Thế ba tuồi. Cô làm một túi gấm thơm chứa vàng ngọc để lại cho hai con. Cô luôn miệng kêu gào than khóc, thân tộc đều lo buồn. Đến ngày mười lăm tháng mười hai mà chưa tìm được xác cha, Hùng Hòa chèo một chiếc thuyền nhỏ đến nơi cha rơi, cất tiếng kêu khóc, rồi nhày xuống nước, chìm sâu đến đáy. Cô báo mộng cho em trai: “Ngày hai mươi mốt chị sẽ lên cùng với cha. Đúng ngày ấy, quả thật xác hai cha con nắm tay nhau nồi lên mặt nước. Bấy giờ huyện thừa trình lên thải thú, thái thủ Tiêu Đăng Thừa dâng tấu lên thượng thư. Thượng thư sai quan hộ tào chuyên lập bia, họa tượng Hùng Hòa để mọi người biết được tâm chí hiếu của cô.
49.6.14. Đời Đường, Vương Thiên Thạch ở Thái Nguyên: Ông làm Thứ sử Từ châu, bản tính nhân từ, hiếu thuận, nổi tiếng thâm trầm, cẩn trọng. Ông cũng làu thông kinh điển, tin sâu Tam bảo và chuyên tâm tu tập. Năm Trinh Quán thứ sáu (632), cha mất, ông để tang vượt quá phép tắc thường tình. Ngày chỉ ăn một bữa cơm chay, tự ép mình, thân thể chỉ còn da bọc xương. Ông lại dựng một mái lá bên cạnh, hằng ngày gánh đất đắp mộ, ban đêm ông tụng kinh Phật đến khuya mới ngủ. Mọi người rất kinh ngạc, vì thường nghe tiếng khánh vang khắp và mùi hương lạ lan tỏa đến mấy dặm.
50. CHƯƠNG BẤT HIẾU
50.1. LỜI DẪN
Hễ lập trung lập hiếu thì danh vang hậu thế, bất trung bất hiếu thì chịu khổ báo mai sau. Hiếu thì thăng cao, nghịch thì chìm đắm, thiện ác phúc tội cách xa như trời đất. Cho nên đấng Đại Bi thương A-xà-thế bạo ác, khen La-hầu-la hiếu thiện. Nhưng sợ rằng, lửa dữ bất hiếu không biết làm sao dập tắt, mây đen ác nghịch chẳng có ngày xua tan. Thí như kẻ phạm trọng tội giam trong tù ngục, chịu đủ các khổ hình, nào mang cùm dài, nào đeo gông lớn, rồi kềm vàng, khóa sắt, rồi bị đánh đập, xương tan thịt nát, máu mủ chảy tràn, khiến cho toàn thân hôi dơ. Muốn mang hình hài như thế mà mong diện kiến Từ Phụ thì thật khỏ gặp!
50.2. NĂM TỘI NGHỊCH
Luận Trí độ ghi: “Đê-bà-đạt-đa là em họ của Phật, xuất gia học đạo, tụng sáu vạn pháp tụ, tu hành tinh tấn đủ mười hai năm. Sau đó, vì lợi dưỡng cúng dường, Đề-bà-đạt-đa đến chỗ Phật xin học thần thông. Phật dạy Kiều-đàm hãy quán năm uẩn vô thường mới được đạo, đồng thời cũng được thần thông, nhưng không nói rõ phương pháp được thần thông. Đề-bà-đạt-đa bèn đến cầu Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cho đến năm trăm vị A-la-hán mà không ai dạy cho cả, tất cả chỉ nói: ‘Ông hãy quán năm uẩn vô thường thì đạt được đạo, cũng được thần thông’, cầu không được, ông buồn khóc, đến chỗ A-nan xin học phép thần thông. Lúc ấy A-nan chưa được tha tâm trí, nghĩ ông là anh chú bác, nên dạy cho ông như Phật đã dạy.
Đề-bà-đạt-đa thụ học phép thần thông, vào núi tu tập không bao lâu liền được ngũ thông. Kế đó, ông tự nghĩ: ‘Ai sẽ làm đàn việt cho ta? Vương tử A-xà-thế có tướng đại vương, ta nên kết thân!’. Thế là ông lên cõi trời lấy thức ăn cùa trời, trở về cõi Ưất-đơn-việt lấy lúa gạo mọc tự nhiên, đến rừng Diêm-phù lấy quà Diêm-phù, tất cà đều tặng cho vương tử A-xà-thế. Có khi biến thân làm voi báu, ngựa báu để mê hoặc vương tử; có khi biến làm bé trai, hoặc làm đủ các trạng thái để làm vương tử động tâm. Vương tử bị mê hoặc, nên lập đại tinh xá ở trong vườn xoài, cúng dường cho Đề-bà-đạt-đa tứ sự và các món khác, không thiếu vật gì. Hằng ngày thái tử dẫn các đại thần đưa đến năm trăm chõ cơm canh và bánh. Đe-bà-đạt-đa được cúng dường nhiều mà đồ chúng thì được rất ít Đề-bà-đạt-đa tự nghĩ: ‘Ta có ba mươi hai tướng, chỉ kém Phật chút ít, chỉ vì đệ tử chưa tập hợp mà thôi. Nếu có đại chúng vây quanh thì khác gì Phật!’. Thế là, ông sinh tâm phá Tăng, rủ được năm trăm đệ

Phần 7

tử, nhưng Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên thuyết pháp giáo hóa, giúp Tăng trờ lại hòa hợp.
Đề-bà-đạt-đa lại sinh ác tâm, xô đá đè Phật, nhưng lực sĩ Kim Cang dùng chày kim cang từ xa ném đến, khiến tảng đá vụn, chỉ một mảnh nhỏ trúng, làm ngón chân Phật bị thương. Tì-kheo-ni Hoa sắc mắng, Đề-bà đấm cô lồi mắt mà chết. Đề-bà đã gây ba tội nghịch, lại kết thân với tà sư ngoại đạo Phú-lan-na v.v..., đoạn dứt hết thiện căn mà tâm không biết hổ thẹn.
Sau đó, Đề-bà-đạt-đa tẩm thuốc độc trong móng tay, muốn thừa dịp lễ Phật mà gây thương tích cho Ngài. Nhưng khi chưa vào thành Vương Xá, thì đất tự nhiên nứt ra, xe có lửa chạy đến đón, Đe-bà đang sống mà rơi thẳng vào địa ngục.
Đề-bà-đạt-đa thân có ba mươi hai tướng mà không điều phục tâm mình, chỉ vì ham được lợi dưỡng cúng dường mà gây tội lớn, nên phải sa vào địa ngục trong khi đang sống”.
Kinh Đại Niết-bàn ghi: “Tì-kheo Thiện Tinh tuy đọc tụng hai thể loại kinh, chứng Tứ thiền, nhưng không hiểu nghĩa của một chữ, một câu, một bài kệ, lại gần gũi bạn xấu, cho nên mất Tứ thiền, khởi ác kiến cho rằng: ‘Không có Phật, không có Pháp, không có niết-bàn. Sa-môn Cù-đàm giỏi thuật tướng số, cho nên biết được tâm người khác.
Lúc ấy Như Lai cùng với Ca-diếp đến nơi ở của Thiện Tinh. Từ xa, ông thấy Như Lai đến, liền khởi tâm tà ác, do tâm ác nên lập tức rơi vào địa ngục A-tì ngay khi còn sống”.
Luận Đại trí độ lại ghi: “Như tiên nhân Ưất-đà-la-ca được ngũ thông, ngày ngày bay vào cung vua thụ thực, được đại phu nhân của vua theo đúng quốc pháp, lạy chạm chân tiên nhân. Nhưng khi tay phu nhân chạm đến, tiên nhân liền mất thần thông, xin vua cho xe đưa trở về. Đi vào giữa rừng, lại cầu ngũ thông, nhất tâm chuyên chú, nhưng chim kêu hót làm loạn ý; ông rời gốc cây đi đến bờ sông nhập định, lai nghe tiếng quậy nước của bầy cá đánh nhau, làm ông không thể nhập thiền định, ông nổi giận nói: ‘Ta sẽ giết hết cá chim’, về sau nhờ tư duy được định, sinh lên cõi Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng. Tuổi thọ hết lại sinh xuống làm con cáo bay, giết hết cá chim, gây vô lượng tội, đọa vào ba ác đạo.
Lại có một tì-kheo chứng Tứ thiền, sinh tâm tăng thượng mạn cho mình đã được quả A-la-hán, nên không cầu tiến tu. Khi sắp mệnh chung, thấy tướng trung ấm của Tứ thiền hiện đến, ông liền sinh tà kiến cho là không có niết-bàn, Phật đã dối mình. Do ác tà kiến này, nên mất trung ấm Tứ thiền, thấy tướng trung ấm địa ngục A-tỳ, mạng chung liền sinh vào địa ngục A-tỳ”. Lúc ấy Phật nói kệ:
Đa văn, trì giới, thiền.
Chưa được pháp vô lậu,
Tuy có được công đức Nhưng cũng không đáng tin
Kinh Vị Sinh Oán ghi: “Điều-đạt ganh ghét Phật và chúng tăng, nên nói với thái tử Vị Sinh Oán:
- Phụ vương của ngài dùng các báu vật quốc gia cúng cho Phật và tăng, khiến cho quốc khố trống rỗng. Ngài phải sớm mưu đồ kế vị, ta sẽ khởi binh đánh Phật. Ngài làm vua, tôi sẽ làm Phật. Cả hai đều đạt được vị trí của mình, há không tốt sao?
Vị Sinh Oán nghe theo, sai vị đại thần có thế lực đoạt lấy ấn tín, giam phụ vương vào ngục. Tâm vua rất an nhiên, biết rõ đây là oan nghiệp đời trước nên không lo sợ, càng tin lời Phật dạy. Vua nói:
- Ta có lỗi gì mà định tội ta?
Bấy giờ hoàng hậu, quí phi và nhân dân cả nước đều đau buồn khóc than. Vua nói:
- Đức Phật dạy: ‘Trời đất, mặt trời, mặt trăng, núi Tu-di, biển lớn, tất cả hễ có thành thì có hoại, có thạnh thì có suy, có hợp thì có tan, có sống ắt phải chết, lưu chuyển vô cùng. Thân mình còn không giữ được, huống gì quốc gia!’.
Vua lại nói với thái tử:
- Mỗi khi con bệnh, ta rất nóng lòng, muốn dùng thân này chịu nguy ách thay con. Nói về lòng nhân và ân đức của cha mẹ thì chỉ có trời mới hơn mà thôi! Nay con có lòng nào mà nhẫn tâm ác nghịch như thế? Hễ giết hại cha mẹ, thì sẽ rơi vào địa ngục. Ta là cha, nay trao đất nước cho con để đến Phật cầu xin xuất gia!
Thái tử nói:
- Ông chớ có nhiều lời, ta đã đạt được ước nguyện xưa, há lại buông tha ông sao?
Thái tử ra lệnh cấm người mang thức ăn đến cho vua, vì muốn để ông ấy chết đói.
Bấy giờ vua Bình-sa hướng về phía Phật chí thành đỉnh lễ thưa:
- Thái tử có tâm ác ngút trời, mà con không có
mảy may phẫn hận! Vua ngửa mặt lên trời than:
- Đau xót thay! Trời há có lẽ này sao?
Hoàng hậu nói với thái tử :
- Đại vương bị gông cùm trong ngục, đi đứng cần có người giúp đỡ, mẹ muốn thăm đại vương, được chăng?
- Được! Thái tử đáp.
Thế là bà tắm rửa sạch sẽ, dùng mật trộn với gạo rang mang vào thăm vua. Thấy vua tiều tụy, thân thể ốm gầy, không còn dáng vẻ ngày trước, bà nói:
- Đức Phật dạy vinh và lạc vô thường, mà tội khổ thì thường hằng!
- Lính giữ ngục không cho ăn, ta nhịn đói đã nhiều ngày. Trong thân có tám mươi ổ, mỗi ổ có mấy trăm loại vi trùng khuấy động trong bụng ta, khiến cho máu thịt tiêu hết, mạng sống sắp hết._Lời vua nghẹn ngào, hơi thở đứt quãng. Hoàng hậu vội nói:
- Thiếp cũng đã biết rõ nỗi khổ này, nên đã dùng mật trộn bột gạo rang thoa trên thân, Đại vương có thể lấy dùng, tư duy lời Phật dạy, không nên nên quá lo buồn.
Vua dùng thức ăn xong, hướng về trụ xứ của Phật, nghẹn ngào đỉnh lễ và thầm nghĩ: ‘Thật đúng như lời Phật dạy vinh phúc khó giữ gìn, như huyễn như mộng. Nay ta không sợ chết, chỉ tiếc là không đích thân được Phật chỉ dạy, cùng với Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp luận đàm chỗ sâu mầu của đạo’. Vua nói với hoàng hậu:
- Như Mục-kiền-liên... đã trừ hết phiền não, chứng sáu thông, còn bị Phạm chí ganh ghét đánh vào đầu, huống gì là ta, vốn bị ác nghiệp truy đuổi, giống như bóng theo hình, vang theo tiếng. Bây giờ thật khó gặp được Phật, khó được nghe pháp, cũng rất khó được Ngài đích thân chỉ dạy. Ta nay chết, thần thức đến nơi xa xôi. Phàm lập chí không gì hơn là vâng theo lời Phật dạy, nàng hãy cẩn thận giữ gìn, đề phòng họa mai sau.
Hoàng hậu nghe vua nói, lòng càng đau đớn, xót xa. Lúc ấy thái tử hỏi người canh ngục :
- Không cung cấp thức ăn đã lâu rồi, vì sao vua không chết?
- Hoàng hậu thoa bột gạo rang trộn mật trên người, rồi vào ngục dâng cho vua. Người canh ngục đáp.
- Từ nay về sau không cho hoàng hậu gặp vua!
Từ đó mỗi khi đói, vua hướng về trụ xứ Phật đỉnh lễ thì hết đói. Ban đêm lại thấy hào quang Phật. Thái tử nghe thuật lại, liền sai người đóng chặt các cửa, xích chặt chân vua xuống nền, khiến vua không thể đứng lên nhìn hào quang Phật. Vua đau đớn vô cùng, niệm Phật không dừng nghỉ. Từ xa, Đức Phật thuyết kinh:
- Hễ tạo thiện thì được phúc, gây ác thì chuốc họa vào thân, phải thật cẩn thận!
Vua Bình-sa bạch Phật:
- Dù chém chặt thân này thành từng mảnh, đệ tử cũng không khởi một niệm ác.
Thế Tôn lại dạy :
- Ngày nay Ta đã là Phật, tất cả trời, rồng quỉ thần đều qui phục, mà dư nghiệp vẫn không buông, huống gì phàm phu tạo đủ những ác nghiệp đời trước!
Vua liền chắp tay hướng về Đức Phật, cúi đầu đỉnh lễ và thưa:
- Hôm nay mạng chung, vĩnh viễn không còn gặp Thế Tôn!
Thế là vua lắp bắp vài tiếng, nấc nghẹn vài lần rồi mạng chung. Quan dân cả nước đều đấm ngực, dậm chân, kêu trời mà chẳng biết làm sao. Thật vô cùng bi thưong. Vua Bình-sa đã đắc quả Tu-đà-hoàn, được sinh lên cõi trời, đóng bít ba đường ác, diệt trừ các chướng ngại”.
* Lời bàn

Phần 8

Về sau vua A-xà-thế hối hận, chí thành sám hối trọng tội, như kinh Niết-bàn đã ghi, ở đây không nêu hết. Căn cứ theo Tích thì tựa như Thật, còn luân theo Quyền thì đủ cả hai, Cho nên kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Đức Phật bảo vua A-xà-thế: ‘Tội nghịch ác giết cha, nên sám hối trước Như Lai, chịu tội trong địa ngục khoảng thời gian bằng năm trăm ngày thế gian mới thoát. Cho nên phải tự trách, bỏ điều ác đã làm, từ nay tu tập điều thiện, chớ lo buồn’. Vua nghe Phật dạy, vô cùng vui mừng không thể kềm chế”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Ngày xưa trong thôn Cưu-đà-phiến, nước Ca-mặc có một mẹ già sống với người con trai duy nhất. Nhưng đứa con này bội nghịch, không nhân từ, hiếu thuận. Một hôm vì giận mẹ, nên đánh bà một tát. Hôm sau ra đường bị giặc cướp chặt mất một tay. Quả báo của tội bất hiếu tức thời ứng nghiệm, hiện đời thống khổ như thế, mai sau rơi vào địa ngục thì chẳng biết khổ đến chừng nào!”.
Kinh Bách duyên ghi: “Một thời, Đức Phật ở Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, vợ của một bà-la-môn trong thành sinh được một bé trai rất xấu, thân thể hôi dơ. Nếu bú sữa mẹ thì sữa bị hư thối, nếu bú người khác thì cũng như vậy, chỉ lấy mật thoa vào ngón tay để nỏ liếm, mong cứu được mạng. Nhân đó cha mẹ đặt tên là Đắc Bảo.
Thời gian sau, Đắc Bảo lớn lên, đến xin Đức Phật xuất gia làm sa-môn. Đức Phật bảo:
- Thiện lai tì-kheo!
Tức thời râu tóc Đắc Bảo tự rụng, thân mặc pháp phục, liền thành sa-môn. Sau đó vị sa-môn này tinh tấn tu tập, chứng quả A-la-hán, nhưng hàng ngày đi khất thực vẫn không được thức ăn. Đắc Bảo tự trách mình và vào tháp, thấy tháp có chứt bụi dơ, liền quét dọn sạch sẽ rồi lại đi khất thực thì được đầy đủ thức ăn, nên rất vui mừng, liền trở về bạch chúng tăng:
- Từ nay về sau, cho phép tôi quét dọn chùa tháp của chúng tăng, để khi khất thực tôi nhận được thức ăn!
Chúng tăng đồng ý và thường sai ông quét dọn. Một hôm, Đắc Bảo ngủ quên, nên chưa kịp quét dọn. Xá-lợi-phất thấy tháp có chút bụi bẩn, liền vào quét dọn. Lúc thức dậy, Đắc Bảo thấy ngài Xá-lợi-phất quét dọn tháp xong thì rất buồn, liền nói:
- Ngài quét dọn tháp, làm cho tôi bị đói một ngày!
Ngài Xá-lợi-phất nghe xong, liền nói:
- Ông chớ lo, hôm nay hãy theo tôi vào thành nhận sự cúng dường, sẽ được no đủ!
Nghe xong, Đắc Bảo rất vui mừng, liền cùng ngài Xá-lợi-phất vào thành thụ thỉnh. Lúc ấy, hai vợ chồng đàn việt cãi nhau, nên họ không nhận được thức ăn, đành bụng đói trở về. Hôm sau, ngài Xá-lợi-phất bảo:
- Sáng nay tôi sẽ dẫn ông đến nhà trưởng giả thụ thỉnh, ắt sẽ no lòng!
Khi đến nơi, mọi người đều có thức ăn, chỉ riêng Đắc Bảo là không có. Ông liền kêu:
- Tôi chưa có thửc ăn!
Chủ nhà vẫn không nghe. Thế là, Đắc Bảo đành bụng đói trở về.
A-nan nghe việc ấy, lòng rất thương xót, nên ngày thứ ba bảo:
- Hôm nay tôi theo Đức Phật thụ thỉnh, sẽ đem thức ăn về cho ông, chắc chắn sẽ được no đủ!
Ngài A-nan là bậc thụ trì tám vạn bốn nghìn pháp môn của Đức Phật, chưa từng quên sót, mà nay bỗng nhiên quên lấy thức ăn cho tì-kheo Đắc Bảo, ôm bát không trở về. Đến ngày thứ tư, ngài A-nan lại đi lấy thửc ăn, trên đường về, bị chó dữ đuổi theo, nên thức ăn bị đổ ra đất, cũng lại mang bát không trở về. Ngày thứ năm, ngài Mục-kiền-liên đi lấy thức ăn cho Đắc Bảo, trên đường về lại gặp chim kim sí đầu đàn, xớt lấy bát bay ra biển, nên cũng không được thức ăn. Ngày thứ sáu, ngài Xá-lợi-phất lại đi lấy thức ăn, về đến phòng Đắc Bảo, tự nhiên cửa đóng lại, ngài dùng sức thần đi vào và hiện ra trước Đắc Bảo, nhưng bất chợt làm rơi bát xuống đất, sâu đến mé kim cang, ngài liền dùng sức thần duỗi tay đón lấy bát, nhưng miệng Đắc Bảo tự nhiên đóng kín, cuối cùng vẫn không được thức ăn. Quá Ngọ, miệng mới mở ra được. Ngày thứ bảy, cũng không xin được thức ăn, tì-kheo Đắc Bảo vô cùng hổ thẹn, đến trước bốn chúng, ăn cát uống nước rồi nhập niết-bàn.
Các tì-kheo thấy việc ấy thì lấy làm kì lạ, thưa hỏi Phật.
Đức Phật bảo:
- Các ông hãy lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ!
Thuở quá khứ, vô lượng kiếp về trước, ở nước Ba-la-nại có Đức phật Đế Tràng ra đời. Một hôm Ngài dẫn các tì-kheo đi giáo hóa khắp nơi. Bấy giờ, trưởng giả Cù-di thấy Đức Phật và chúng tăng thì sinh lòng kính tin, nên hằng ngày thỉnh về nhà cúng dường. Thời gian sau, trưởng giả qua đời, vợ ông rất thích bố thí, nhưng người con lại tham tiếc, không cho mẹ bố thí, đến nỗi hàng ngày lường thức ăn cho mẹ. Người mẹ đành phải giảm phần ăn của mình để cúng dường Phật và tăng. Người con biết được thì rất tức giận, liền nhốt mẹ vào căn nhà không, khóa chặt cửa lại rồi bỏ đi. Đến ngày thứ bảy, người mẹ quá đói khát mới xin con thức ăn. Người con nói:
- Sao bà không ăn cát, uống nước để sống, xin thức ăn làm gì?
Nói xong, người con liền bỏ đi. Cuối cùng người mẹ không có thức ăn đành phải nhịn đói và qua đời. Sau đó, người con cũng qua đời và bị đọa vào địa ngục A-tì, chịu hết khổ địa ngục, lại sinh trong loài người, thường bị đói khổ như thế. Nhờ thuở xưa tì-kheo này cúng dường Phật, nên nay được gặp Ta, xuất gia chứng đạo quả
Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy xong, đều vui vẻ vâng theo”.
Luận Tân Bà-sa ghi: “Có một người con ác độc sai mẹ cầm bát để mình vắt sữa bò, do vắt quá lượng, nên người mẹ ngán: ‘Phần còn lại, nên để cho bê con bú!’. Người con nghe mẹ nói, tức giận dùng tay vốc sữa tạt vào mặt mẹ, dính lên cả thân của bà. Do sức của ác nghiệp này, mà thân người ấy thường bị bệnh hủi”.
50.3. NÀNG DÂU BỘI NGHỊCH
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, có một người đàn bà tính tình rất ngang ngược, không hiếu thuận, chẳng biết phép tắc. Mỗi khi mở miệng, thường nói ngược lại mẹ chồng, mẹ chồng nổi giận, quở trách, nên cô ta ôm hận trong lòng, rắp tâm muốn hại mẹ. Một hôm, cô ta lập mưu kế xúi giục chồng giết mẹ. Anh chồng ngu si, nghe lời vợ, anh ta trói chân tay mẹ lại, đem đến giữa vùng đồng hoang vắng, định giết hại mẹ. Vì tội nghịch quá nặng, nên chấn động thấu trời. Lúc đó, bốn phương mây mù bao phủ, sấm sét nổi lên, đánh chết anh chồng ngu ấy. Sau đó, người mẹ trở về nhà gõ cửa, người vợ nghĩ là chồng mình về, liền ra mở cửa và hỏi:
- Đã giết chưa?
Người mẹ trả lời:
- Đã giết rồi!
Sáng hôm sau, cô ta mới hay chồng mình đã chết. Tội lỗi bất hiếu, thì hiện tại bị quả báo như thế. Sau khi chết bị đọa vào địa ngục chịu khổ vô cùng”.
50.4. BỎ CHA MẸ
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật dạy:
- Cung kính người già thì có lợi ích rất lớn. Không chỉ ngày nay Như Lai mới khen ngợi, cung kính cha mẹ và các bậc lớn tuổi, mà trong thời quá khứ vô lượng kiếp, Ta cũng đã từng cung kính cha mẹ và các bậc cao tuổi.
Đức Phật kể:
- Vào thời quá khứ lâu xa, có nước Khí Lão chủ trương đuổi tất cả người già ra khỏi nước. Thuở ấy, có một vị đại thần, cha của ông ta tuổi đã già, theo phép nước, lẽ ra phải đuổi ra khỏi nước, nhưng vị đại thần có lòng hiếu thuận, nên không nỡ thực hành theo. Ông ta bèn đào một hang sâu, tạo thành mật thất, rồi an trí cha ở trong đó, tùy thời phụng dưỡng.
Bấy giờ, thiên thần bắt hai con rắn đặt trong cung điện của vua, rồi nói:
- Nếu vua phân biệt được con nào đực, con nào cái thì đất nước của ngài mới được an ổn. Nếu không phân biệt được thì sau bảy ngày, bản thân vua, cho đến đất nước của ngài đều sẽ bị diệt vong!
Nghe thiên thần nói, trong lòng lo lắng sầu não, vua liền mời quần thần đến bàn tính. Nhưng rốt cuộc không ai có thể phân biệt được, bèn chiêu mộ cả nước ai có khả năng phân biệt, sẽ được ban thưởng trọng hậu. Vị đại thần bèn về nhà hỏi cha, người cha đáp:
- Việc này quá dễ phân biệt! Cho rắn nằm trên một tấm lụa mềm mịn, con nào cựa quậy là rắn đực; con nào nằm yên, là con rắn cái!

Phần 9

Vị đại thần làm theo lời cha chỉ bào, quả nhiên phân biệt được chính xác rắn đực, rắn cái. Thiên thần lại hỏi:
- Ai đối với người mê ngủ thì gọi là tỉnh giác? Ai đối với người tỉnh giác thì gọi là mê ngủ?
Vua và các quan cũng không thể nào giải thích được. Vị đại thần lại về nhà hỏi cha điều này nói gì? Người cha nói:
- Đây là chỉ cho học nhân, đối với phàm phu thì gọi là tỉnh giác; nhưng đối với bậc A-la-hán thỉ gọi là mê ngủ!
Vị đại thần theo lời giảng của cha mà giải đáp. Thiên thần lại hỏi:
- Con voi trắng này nặng bao nhiêu kí?
Tất cả quần thần đều nghị bàn, mà chẳng ai biết được. Vị đại thần lại về hỏi cha một lần nữa. Người cha nói:
- Hãy đưa con voi lên chiếc thuyền trong ao nước lớn, rồi đo mực nước ngập mạn thuyền sâu bao nhiêu, rồi vạch dấu nơi ấy. Sau đó, đưa voi lên bờ, lường đá bỏ vào thuyền, chừng nào mực nước ngập đến dấu vạch trên thuyền, thì trọng lượng đá đó chính là trọng lượng của voi.
Vị đại thần liền dùng mưu trí này để trả lờỉ thiên thần. Thiên thần lại hỏi:
- Chỉ một vốc nước mà nhiều hơn biển lớn, ai biết được việc này?
Quần thần lại luận bàn, nhưng cũng chẳng có ai giải thích được. Vị đại thần lại vê hỏi cha điều này ý nói gì? Người cha nói:
- Điều này cũng dễ giải thích! Nếu người có lòng tin thanh tịnh, dùng một vốc nước cúng dường Đức Phật và chúng tăng, hay dâng cho cha mẹ, cho đến người bị bệnh nặng nguy khốn, nhờ công đức này mà được hưởng phúc vô lượng trong mấy ngàn vạn kiếp. Nước biển tuy nhiều nhưng không quá một kiếp. Lấy đây so sánh thì rõ ràng một vốc nước nhiều gấp trăm ngàn vạn lần nước trong biển lớn.
Vị đại thần liền y theo lời này để giải đáp. Thiên thần lại biến thành người đói, thân thể ốm gầy, da bọc xượng, đến hỏi:
- Ở đời, có người nào bần cùng, đói khổ nguy kịch hơn ta không?
Các quan lại luận bàn, suy nghĩ mà chẳng ai giải đáp được. Vị đại thần lại đem tình huống này về hỏi cha. Người cha đáp:
- Ở đời có người tham lam, keo kiệt, ganh ghét, đố kị, không tin Tam bảo, không phụng dưỡng cha mẹ, thầy tổ thì người ấy đời sau sẽ bị đọa vào địa ngục trăm ngàn vạn năm không nghe đến tiếng cơm nước, thân như núi, bụng như hang sâu, cổ nhỏ như cây kim, tóc nhọn như đao bén quấn quanh thân cho đến gót chân, mỗi khi thân cử động thì các đốt xương đều bốc lửa. Người như thế, thật nguy kịch, đói khổ hơn người kia gấp trăm ngàn vạn lần.
Vị đại thần liền dùng lời giải thích này giải đáp. Thiên thần lại biến thành một người, tay chân bị xiềng xích, cổ bị mang gông, lửa trong thân phát ra toàn thân bốc cháy, đi đến hỏi:
- Ở đời, có người nào khốn khổ hơn ta không?
Các quan lúc ấy chẳng ai trả lời được. Vị đại thần lại về hỏi cha. Cha đáp:
- Ở đời có người bất hiếu với cha mẹ, ngỗ nghịch với thầy tổ, phản bội chồng, hủy báng Tam bảo, thì đời sau sẽ bị đọa vào các địa ngục Núi đao, Rừng kiếm, Xe lửa, Lò than, bị dìm xuống sông phẩn sôi, đường đao, đường lửa, chịu rất nhiều thống khổ, thật vô lượng vô biên không thể tính kể. So với người ở địa ngục này, thì nỗi khốn khổ của họ hơn gấp trăm ngàn vạn lần người kia.
Vị đại thần liền dùng lời giải thích này giải đáp. Thiên thần lại biến thành một người xinh đẹp tuyệt vời, ở đời không ai bằng. Đi đến hỏi:
- Ở thế gian có ai xinh đẹp hơn ta không?
Các quan đều im lặng, không ai đáp được. Vị đại thần lại về hỏi cha. Người cha đáp:
- Ở đời, có người kính tin Tam bảo, hiếu thuận mẹ cha, tu tập bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới thì được sinh về cõi trời, thân hình xinh đẹp hơn người này gấp trăm ngàn vạn lần. Lấy người này mà so sánh thì người kia giống như con khỉ cái già mù.
Vị đại thần liền theo lời này để trả lời. Thiên thần lại đưa ra một cây gỗ chiên-đàn vuông thẳng, hai đầu bằng nhau, hỏi:
- Đầu nào là gốc?
Các quan dồn hết trí lực mà cũng không trả lời được. Vị đại thần lại về nhà hỏi cha. Người cha nói:
- Quá dễ! Ném cây đó vào trong nước, đầu nào chìm là gốc, đầu nào nổi là ngọn.
Vị đại thần liền làm theo cha, để giải đáp. Thiên thần lại dẫn hai con ngựa màu trắng giống như nhau đến hỏi:
- Ngựa nào là mẹ, ngựa nào là con?
Các quan cũng không đáp được, vị đại thần lại về nhà hỏi cha. Người cha nói:
- Hãy đem cỏ cho nó ăn! Nếu là ngựa mẹ, thì nó sẽ nhường cỏ cho ngựa con ăn.
Như vậy, tất cả những điều thiên thần đưa ra hỏi, người cha đều giải đáp xong. Thiên thần vui vẻ, ban tặng cho vua rất nhiều vàng bạc, châu báu và nói:
- Nay ta sẽ ủng hộ cho đất nước của Ngài, không cho các nước địch xâm hại!
Nghe vậy, nhà vua rất vui mừng, bèn hỏi vị đại thần:
- Những lời giải đáp đó là tự khanh biết, hay có người nào chỉ dạy? Nhờ vào tài trí đó, mà đất nước không những an ổn, được của báu, lại được thiên thần hứa ủng hộ, chính là nhờ công sức của khanh!
Vị đại thần tâu:
- Không phải trí của thần, xin bệ hạ hãy tha tội cho, thần mới dám trình tấu!
Vua nói:
- Giả sử, nay khanh có mắc tội đáng chết vạn lần, trẫm cũng không xét hỏi, huống chi tội nhỏ!
Vị đại thần tâu:
- Tâu Bệ hạ! Phép nước đã có lịnh ‘Không ai được nuôi dưỡng người già’. Nay thần có cha già, nhưng không nỡ đuổi cha đi, thần đã mạo phạm phép nước, giấu cha trong hang để phụng dưỡng. Tất cả những lời giải đáp vừa rồi đều là nhờ vào tài trí của cha già, chẳng phải là công sức của thần. Cúi xin bệ hạ cho nhân dân cả nước được phép phụng dưỡng người già!
Nhà vua rất vui mừng, xin phụng dưỡng cha của vị đại thần và tôn ông ấy làm thầy. Nhà vua lại nói: ‘Ông ấy đã cứu nguy cho cả nước, lợi ích lớn như thế mà trẫm không hay biết!’.
Sau đó, vua liền ban lịnh cho mọi người dân trong nước biết: ‘Từ nay không được phép đuổi người già nữa, mà phải kính trọng, hiếu dưỡng. Nếu có người nào bất hiếu cha mẹ, bất kính thầy tổ sẽ bị xử tội nặng!’.
Người cha lúc ấy, chính là Ta; vị đại thần thuở ấy, nay chính là Xá-lợi-phất; nhà vua lúc đó, nay chính là A-xà-thế ; thiên thần thuở ấy, nay chính là A-nan!”.
Thế gian cũng có câu: ‘Dưỡng lão khất ngôn’, nghĩa là phụng dưỡng những bậc cao niên, thông tuệ, đầy đủ trí đức để cầu học hỏi”.
Kinh Tạp bảo tạng cũng ghi: “Thuở xưa, đức Thế Tôn bảo các thầy tì-kheo:
- Này các thầy tì-kheo! Các thầy nên biết xưa kia ở nước Ba-la-nại có một pháp bất thiện lưu hành ở thế gian, đó là khi cha già sáu mươi tuổi thì trao cho một tấm nệm lông thú để trải ngoài cửa, ngồi giữ nhà.
Bấy giờ, trong nước ấy có hai anh em, người anh bảo người em:
- Em cho cha tấm nệm lông thú này để cha trải nơi cửa ngồi giữ nhà!
Trong nhà chỉ có một tấm nệm lông thú, người em liền cắt đôi tấm nệm trao cho cha một nửa và nói:
- Anh cả cho cha chứ chẳng phải con cho, anh cả bảo cha ra giữ cửa!
Người anh nói:
- Sao không đưa nguyên tấm nệm, mà em đưa cha một nửa?
Người em đáp:
- Trong nhà chỉ có một tấm nệm, nếu không cắt đôi, sau này lấy gì mà dùng nữa?
Người anh hỏi:

Phần 10

- Em lại muốn để cho ai dùng nữa?
Người em trả lời:
- Lẽ nào không giữ lại cho anh sao?
Người anh hỏi:
- Sao lại giữ cho anh?
Người em nói:
- Rồi anh sẽ phải già, con anh cũng cho anh ra ngồi gác cửa vậy!
Người anh nghe em nói như thế, kinh ngạc nói:
- Ta cũng phải như vậy sao?
Người em hỏi:
- Ai sẽ thay thế anh? Người em nói tiếp: Anh ạ! Phép nước xấu ác như thế, chúng ta phải cùng nhau dẹp bỏ!
Nói xong hai anh em dắt nhau đến gặp tể tướng, trình bày những điều đã bàn. Tể tướng đáp:
- Đúng thế! Chúng ta rồi cũng sẽ già!
Sau đó, quan tể tướng tâu lên vua, vua chuẩn tấu lời này, liền ban lịnh cho mọi người trong nước phải hiếu dưỡng cha mẹ, đồng thời dẹp bỏ phép xấu ác trước kia, không ai được phép làm như vậy nữa!”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Trong năm tội nghịch, tội giết cha nhẹ, tội giết mẹ nặng, tội giết A-la-hán nặng hơn tội giết mẹ, tội làm thân Phật chảy máu nặng hơn tội giết A-la-hán, tội phá hòa hợp Tăng nặng hơn tội làm thân Phật chảy máu”.
Có bài tụng:
Vua quí mến trung thần
Cha thương yêu con hiếu
Huống gì Phật đại từ
Trừ kho giúp người vui
Sao chẳng mang ơn nặng
Hại mẹ cha, để sống
Chết rơi vào địa ngục
Muôn kiếp chẳng thể ra.
50.5. CẢM ỨNG
50.5.1. Đời Chu, Vương Ngạn Vĩ: Lí qui tâm lục ghi: “Vĩ người Hà Nam, bản tính hung ác, thích săn bắn. Vì là con một trong gia đình, nên anh ta được cha mẹ rất mực thương yêu, người mẹ khuyên can không cho giao du với bạn xấu, cũng không cho phép săn bắn, sợ tổn mạng mà không có người nối dõi. Nhưng Vĩ không nghe lời cha mẹ, vẫn cứ săn bắn, lại thường theo kẻ xấu gây tội lỗi. Cha mẹ thấy Vĩ vẫn không chừa những hành vỉ xấu, cho nên đánh năm mươi trượng, khiến thân thể tổn thương, không thể ra ngoài giao du”.
Vĩ hận cha mẹ, chờ khi đêm đến, cha mẹ ngủ say, hắn lén dùng bao chứa đầy đất chặn lên miệng cha mẹ, rồi ngồi luôn trên đó, mong cha mẹ bị ngạt thở chết mà không có một tổn thương nào. Làm vậy để mọi người không nghi ngờ hắn. Đang lúc ấy, bỗng có nhiều quỉ kéo vào, chấn động cả nhà, mọi người đều thức giấc, vội chạy đến đẩy Vĩ xuống giường, hắn vội lật ngửa lên thì tất cả các bao đất đè lên bụng hắn.
Bấy giờ cha mẹ đã tỉnh, đến kéo những bao đất ấy ra, nhưng chúng đã dính chặt vào bụng hắn. Hắn thấy chúng quỉ đang đè trên các bao ấy, khiến toàn thân bị chèn ép nặng, cơ hồ sắp chết. Hắn kêu la, cầu xin cứu mạng. Thế là tất cả người nhà, cùng hàng xóm láng giềng ráng sức kéo ra mà vẫn không được. Tiếng kêu của hắn dần dần tắt lịm, rồi chắp tay như cúi lạy mà chết.
50.5.2. Đời Tề, Hà Quân Bình: Lí qui tâm lục ghi: “Bình người Tương châu, mẹ họ Bùi. Mẹ Bình còn trẻ, nhưng sau khi sinh Bình thì bà không có khả năng sinh nở nữa, do đó Bình được cha mẹ vô cùng thương quí, xem như đôi mắt của mình. Cha mẹ quá nuông chiu, nên dù anh ta đã lớn mà không khuyên bào học hành, để tự do lêu lổng làm điều xấu ác. Đến năm Bình hai mươi tuổi, cũng vì quá thương, nên cha mẹ không cho Bình ở phòng riêng.
Sau đó, người cha đi sứ, phải rời nhà trong một thời gian lâu. Sau khi người cha đi, người mẹ vì quá thương, nên đã làm điều vô luân với Bình. Người cha vừa về đến nhà, cả hai lập mưu giết ông rồi chôn ở hậu viên, nói dối với mọi người là ông chưa về. Sau đó không lâu, sét đánh làm lộ xác người cha, rồi đánh chết Bình, trên thân có chữ, ghi rõ nguyên nhân. Người thân trình báo quan, quan tâu lên vua. Vua ban lệnh giết mẹ Bình, phơi thây ngoài đồng, không cho chôn cất”.
50.5.3. Đời Tùy, nàng dâu bất hiếu với mẹ chồng: Minh báo ki ghi: “Vào khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-617) đời Tùy, tại Hà Nam có một nàng dâu bất hiếu với mẹ chồng. Một hôm cô ta bắt giun nấu canh cho mẹ chồng dùng. Người mẹ cảm thấy mùi vị hơi lạ, bèn lén để lại một ít. Khi con trai về nhà, người mẹ liền đem thịt ấy chỉ cho biết. Người con liền đưa vợ đến cửa quan, trên đường đi, gặp mưa lớn, sấm sét đánh bay người vợ. Bỗng chốc, người vợ từ trên không trung rơi xuống đất, thân thể y phục như cũ, nói năng vẫn bình thường, nhưng biến thành đầu chó. Mọi người hỏi, cô ta đáp: “Vì bất hiếu với mẹ chồng, cho nên bị thiên thần phạt và chồng đưa tôi đến cửa quan”. Từ đó cô ta đến chợ xin ăn, về sau không biết đi đâu”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục