Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN

27/11/2015

QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...

PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
Phần 1

QUYỂN 53
Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn.
58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ

58.1. LỜI DẪN
Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe khổ-tập, lòng đau buồn hối tiếc; nếu nghe diệt-đạo thì tâm hỉ xả phát sinh. Cho nên thanh âm trong lắng thì người nghe dễ nhận lãnh, vận điệu bổng trầm thì tai mắt được khai thông. Cho nên Mã Minh khai đạo huyền tông, Long Thọ nối lại dòng pháp, Đề-bà phân tích danh số, La-hán tổng gom pháp qui, đều để hỗ trợ cho khế kinh, phá dẹp hàng ngoại đạo. Như lạc đường mà gặp lối, đêm tối được ánh đèn, nối tiêp được phép tắc sâu mầu của kinh Phật, hiển bày rõ thuật giáo huấn giữa thầy trò, đều là nhờ bậc cơ trí vậy. Có thể nói hưng thạnh thay! Kì Viên như còn đó, Lộc uyển vẫn đâu đãy! Nếu chưa chứng quả thì cách bậc thánh rất xa vậy!
58.2. BỒ-TÁT
58.2.1. Bồ-tát Mã Minh: Truyện Bồ-tát Mã Minh ghi: “Bồ-tát thuộc dòng Bà-la-môn, người nước Tang-kì-đa thuộc Đông Thiên Trúc, ra đời sau Phật nhập niết-bàn ba trăm năm. Thuở nhỏ Ngài có tướng mạo rất kì dị, nhưng rất giỏi văn chương và luận biện. Theo thông tục của Thiên Trúc, những luận sư, văn sĩ đều căn cứ vào thắng thua để biểu đạt tài đức. Ngài cũng theo cách ấy, cho nên buộc đao bén vào gậy và khắc lên đó câu: Trong thiên hạ này, bậc trí nào có thể luận đàm hơn ta một câu, thắng ta một lí thì ta sẽ dùng đao này cắt đầu tạ tội, rồi vác gậy này đi khắp các nước, nhưng không một luận sư, văn sĩ nào thắng được.
Một hôm nghe tại núi Vận-đà có một vị a-la-hán tên là Phú-lâu-na, thông đạt tất cả danh lí của ngoại đạo, ngài bèn đến dò xét. Vừa đến, ngài thấy vị a-la-hán đang tọa thiền nơi cội cây, chí khí cao vời, hầu như không thể lường; thần sắc khiêm cung tựa như có thể khuất phục được. Bồ-tát liền nói:
- Ngài dám luận bàn chăng? Nhất định tôi sẽ thắng ngài, nếu không thắng, tôi sẽ cắt đầu tạ tội!
A-la-hán vẫn im lặng, nét mặt cũng không lộ vẻ thua hay thắng. Khiêu khích mấy lần như thế mà A-la-hán vẫn không lên tiếng. Ngài liền nhượng bộ và suy nghĩ: ‘Ta thua rồi! Người ấy thắng rồi! Người ấy dùng vô ngôn, cho nên ta không thể dùng ngôn từ khuất phục được, còn ta dùng ngôn từ, ngôn từ thì có thể bị khuất phục. Ta chưa lìa được ngôn từ, thật đáng hổ thẹn’. Thế là ngài nhận thua, mụốn cắt đầu tạ lỗi, nhưng vị a-la-hán ngăn:
- Nếu ngươi cắt đầu tạ tội, thì nên theo ý ta mà cắt búi tóc để làm đệ tử ta!
A-la-hán bèn giảng thuyết nghĩa lí khuất phục, khiến ngài khâm phục cắt tóc, sau đó thụ giới Cụ túc.
Từ đó về sau, hễ trụ thì ngài soạn văn nêu cao Phật pháp, hễ vân du thì giảng thuyết đạo mầu. Ngài soạn luận Đại Trang nghiêm, hơn trăm vạn lời, lưu hành rộng rãi ở Thiên Trúc, cả nước rất quí trọng, lấy đó làm phép tắc soạn thuật. Tuy có các bậc trí tuệ siêu việt như Tây Hà làm loạn Khổng Tử, Thân Tử khởi nghi Thánh sư, nhưng đều không hơn được sư. về sau bồ-tát Long Thọ mỗi khi viết luận đều đỉnh lễ ngài mà soạn bài kệ Tự qui, tỏ ý tự khiêm nhờ là ngài âm thầm soi sáng để tỏ ngộ. Vua quan, các người có quyền thế ở Thiên Trúc đều lập miếu thờ và tôn ngài như Phật”.
§8.2.2. Bồ-tát Long Thọ: Truyện Bồ-tảt Long Thọ và truyện Phó pháp ghi: “Có một vị đại sĩ tên là Long Thọ, bẩm tính rât thông minh, bất cứ điều gì chỉ cần xem qua một lần thì hiểu, không cần hỏi lại. Bồ-tát dựng pháp tràng, phá dẹp ngoại đạo. Bồ-tát sinh trong gia đình Phạm chí rất giàu có, tại Nam Thiên Trúc. Sinh ra nơi gốc cây (Thọ), và do rồng (Long) mà thành đạo, nên có hiệu là Long Thọ. Bồ-tát rất thông tuệ, tài năng siêu thế, khi còn đang tuổi ẵm bồng, nghe các Phạm chí tụng bốn bộ luận Vi-đà với nghĩa lí sâu rộng, gồm bốn vạn bài kệ, mỗi bài ba mươi hai chữ, bồ-tát liền thông hiểu, thấu đạt được nghĩa lí.
Đến năm hai mươi tuổi, ngài đã nổi tiếng khắp các nước, làu thông các môn thiên văn, địa lí, tinh vĩ, đồ sấm và các đạo thuật khác. Ngài kết bạn với ba người khác cũng là những bậc có thiên tư xuất chúng. Một hôm ba người bàn:
- Trong thiên hạ này, những nghĩa lí khai mở tâm ý, phát khởi huyền chỉ, tăng trưởng trí tuệ, chúng ta đều thông đạt, bây giờ nên tìm cách gì khác để vui chơi?
Lại có người nói:
- Chỉ có tìm cầu sắc đẹp, phóng tâm theo dục tình mới là đệ nhất khoái lạc trên thế gian! Chúng ta nên tìm một loại thuốc ẩn thân. Nếu được thì ước nguyện kia mới thành.
Tất cả đều nói: “Hay thay! Nghe lời này thật là khoái chí!”.
Thế là họ đến nơi dạy đạo thuật để cầu pháp ẩn thân. Thày dạy đạo thuật suy nghĩ: ‘Bốn Phạm chí này tài trí đều cao xa, lại vô cùng kiêu ngạo, xem thường hết thảy mọi người. Nay vì muốn học đạo thuật, nên mới hạ mình đến cầu ta. Nhưng ba người này đã nghiên cứu tận cùng, thông đạt các môn, chỉ có thuật cỏn con này là chưa biết. Nếu chỉ dạy hết thì vĩnh viễn họ sẽ bỏ ta. Vậy ta chỉ trao thuốc thì chúng sẽ không biết, dùng hết thuốc lại đến cầu ta, thầy trò mới được bền lâu’. Thế là thầy trao cho mỗi người một viên thuốc màu xanh và dặn:
- Nên mài thuốc này vào nước rồi thoa lên mắt, ắt sẽ có linh nghiệm. Hình sẽ tự ẩn mất!
Nghe lời thầy đạo thuật, bốn người mài thuốc vào nước. Bồ-tát nghe mùi thuốc liền biết rõ thành phần và phân lượng bào chế, liền nói lại cho thầy nghe bảy mươi thành phần của thuốc, với đầy đủ tên gọi, phân lượng của mỗi chủng loại. Thầy nghe xong, vô cùng kinh ngạc, hỏi nguyên do. Bồ-tát đáp:
- Thầy nên biết! Mỗi một loại thuốc đều có tính chất riêng, cho nên biết được cũng đâu có gì lạ!
Vị thầy nghe vậy vô cùng thán phục, cho là chưa từng có, ông nghĩ: ‘Nghe nói đến tên người này đã khó, huống gì nay ta đích thân gặp mà lại tiếc đạo thuật cỏn con này sao?’. Thế là vị thầy liền chỉ dạy cho bốn người phương pháp bào chế loại thuốc ẩn hình; bốn người liền y theo đó bào chế, rồi bôi thuốc lên mắt ẩn thân tự do đi đến khắp nơi.
Một hôm bốn người cùng vào hậu cung, cưỡng đoạt những cung nữ xinh đẹp. Hơn trăm ngày sau, rất nhiều người bị phát giác mang thai, họ liền tâu vua xin miễn tội. Sau khi nghe, vua rất buồn phiền, trong lòng suy nghĩ hẳn có gì bất tường cho nên mới có việc kì lạ như thế. Vua triệu tập quần thần thương nghị, có một vị tâu:
- Việc này có, hai trường họp: một là do quỉ mị gây ra, hai là do có người dùng phương thuật gây ra. Chúng ta có thể rải đất mịn ở cửa ra vào trong cung, sai thị vệ không cho mọi người qua lại. Nếu có người dùng phương thuật đến thì dấu chân sẽ hiện trên đất mịn, nếu là quỉ mị thì không có. Nếu là người thì dùng binh trừ, nếu là quỉ mị thì dùng thần chú diệt.
Nhà vua liền theo kế ấy, thấy dấu chân của bốn người từ cửa bước vào, thị vệ lập tức tâu trình. Vua liền dẫn mấy trăm dũng sĩ chém loạn trong hư không, giết chết ba người. Vì trong bảy thước chung quanh vua, dao không dám chém đến, nên ngài ẩn thân, đứng nép bên cạnh vua. Bấy giờ ngài mới biết dục là gốc khổ, hay phá hoại đạo đức làm nguy thân mạng, dơ uế Phạm hạnh, nên lập tức phát nguyện: ‘Nếu thoát được nạn này, sẽ đến các sa-môn cầu xuất gia’.
Ngài thoát nạn, lánh vào núi sâu, đến bên tháp Phật, đoạn trừ ái dục, xuất gia học đạo. Chỉ trong chín mươi ngày tụng đọc, ngài đã thông đạt tất cả kinh luận Phật đang có ở cõi Điêm-phù-đề. Bồ-tát muốn tìm những bộ kinh khác, nhưng không nơi đâu có được. Ngài bèn lên Tuyết sơn, nơi đây ngài được một vị tì-kheo trao cho các bộ Ma-ha-diễn. Ngài xem qua, vô cùng vui thích, dốc lòng cung kính cúng dường. Tuy đã đạt thật nghĩa, nhưng chưa chứng đạo; dù vậy ngài cũng đã có biện tài vô tận, ngôn luận siêu xuất, tất cả ngoại đạo và hàng dị học đều bị phá dẹp, thỉnh sư làm thầy. Cũng do đó mà ngài tự cho mình là bậc Nhất thiết trí, khởi tâm cống cao, ngã mạn. Một hôm ngài muốn vào cửa Cù-đàm, thần giữ cửa này nói:
- Ta thấy trí tuệ của ngài như con muỗi, nếu so với Như Lai, thật không thể dùng lời để diễn đạt; thật không khác gì ánh lửa đom đóm mà sánh với ánh sáng mặt trời mặt trăng, hạt đình lịch sánh với núi Tu-di. Ta xem nhân giả chẳng phải là bậc Nhất thiết trí mà muốn vào cửa này ư?
Nghe lời này, ngài đã cảm thấy hổ thẹn rồi, lại có một đệ tử đến nói:
- Thầy thường tự cho là Nhất thiết trí, mà nay đến đây hạ mình làm đệ tử Phật. Theo phép làm đệ tử thì phải thụ học nơi thầy, nếu thầy không đủ tài để đệ tử thụ học thì chẳng phải là bậc Nhất thiết trí.
Bấy giờ thì lời đã cùng, lí cũng đã đuối, ngài tự nghĩ: ‘Pháp thế gian có vô lượng môn, kinh Phật tuỵ vi diệu nhưng câu nghĩa chưa đủ. Nay ta nên làm thế nào tuyên giảng, khai ngộ cho người sau, làm lợi ích chúng sinh’. Suy nghĩ xong, ngài liền vào tĩnh thất bằng thủy tinh, một mình an trú trong đó. Bồ-tát Đại Long thương xót, liền dùng thần lực đưa ra biển lớn, vào long cung, mở hòm bảy báu, lấy trao
Phần 2

cho ngài những bộ kinh Đại thừa phương đẳng sâu xa màu nhiệm và vô lượng diệu pháp. Ngài ở lại long cung chín mươi ngày, trì tụng nghiên cứu, thông đạt rất nhiều, tâm đã thâm nhập pháp môn, đạt được lợi ích chân thật. Bồ-tát Đại Long biết được tâm niệm ngài, liền hỏi:
- Ông đã xem hết chưa?
Ngài đáp:
- Kinh điển của ngài nhiều vô lượng, không thể đọc hết được. Nhưng nay tôi đã đọc được một lượng nhiều gấp mười lần ở Diêm-phù-đề.
Long vương nói:
- Kinh điển của Đế Thích trên cõi trời Đao-lợi nhiều hơn đây gấp trăm nghìn vạn lần. Nhưng kinh điển những nơi khác không nhiều bằng nơi đây.
Sau khi đọc được kinh, ngài hoát nhiên thông đạt, thấu hiểu nhất tướng, thể nhập vô sinh, đầy đủ Sinh nhẫn và Pháp nhẫn. Long vương biết ngài đã ngộ đạo, bèn đưa về Diêm-phù-đề.
Bấy giờ vua nước Nam Thiên Trúc có tà kiến sâu nặng, tin thờ ngoại đạo, hủy báng chính pháp, thấy ngài là bậc Nhất thiết trí, nhiếp phục tất cả các Đại luận sư, bèn cúi đầu lễ kính, cạo tóc xuất gia. Ngài độ vô lượng người tà kiến như thế. Nhà vua thường cho chuyển đến mười xe y bát cúng dường, trong một ngày đều sử dụng hết. Lần lượt như thế, cho đến vô số pháp hội giảng thuyết rộng nghĩa Ma-ha-diễn. Ngài lại tạo luận ưu-ba-đề-xả mười vạn bài kệ, luận Trang nghiêm Phật đạo, luận Đại từ phương tiện mỗi bộ năm nghìn bài kệ, làm cho Ma-ha-diễn thịnh hành ở thế gian. Lại tạo luận Vô úy, mười vạn bài kệ; bộ Trung luận được trích ra từ luận này, gồm năm trăm bài kệ. Nghĩa lí trong Trung luận vồ cùng sâu xa, có năng lực phá dẹp tất cả ngoại đạo.
Bấy giờ có một pháp sư Tiểu thừa, thấy ngài cao minh nên ganh ghét, nói:
- Bồ-tát Long Thọ, việc làm đã xong, nên rời cõi này.
Ngài hỏi pháp sư kia:
- Ngài muốn tôi trụ lâu ở thế gian không?
- Thưa nhân giả! Thật tôi không muốn!
Thế là ngài vào tĩnh thất nhiều ngày không xuất hiện. Các đệ tử lấy làm lạ, phá cửa xem thì thấy ngài đã thoát xác đi rồi. Các nước vùng Thiên Trúc đều lập tháp, cung kính cúng dường, phụng thờ như Phật.
57.3. A-LA-HÁN
57.3.1. Xá-lợi-phất:
Luận Đại trí độ ghi: “Xá-lợi-phất trí tuệ bậc nhất trong tất cả đệ tử, như Phật có bài kệ nói:
Chỉ trừ Phật Thế Tôn,
Trí hết thảy chúng sinh,
Muốn sánh Xá-lợi-phất
Về trí tuệ, đa văn,
Cũng không bằng một phần,
Mười sáu phần trí ấy.
Xá-lợi-phất có trí tuệ và đa văn. Năm mới tám tuổi đã tụng thuộc và thông hiểu nghĩa lý của mười tám bộ kinh. Khi ấy ở nước Ma-kiệt-đà có anh em long vuơng, một tên là Cật-lợi, một tên là A-già-hòa-la. Cả hai tuôn mưa đúng thời, giúp cho đất nước không bị mất mùa. Nhân dân cảm ân đức này, nên thường chọn tháng hai, nhóm họp tại nơi ở của Rồng, mở hội lớn, trỗi nhạc, luận bàn nghĩa lí trọn một ngày, từ xưa đến nay, chưa từng phế bỏ. Theo lệ thường, trong ngày này phải đặt bốn tòa cao, một cho quốc vương, một cho thái tử, một cho đại thần và một cho luận sư. Bấy giờ Xá-lợi-phất mới tám tuổi, đến pháp hội thấy vậy, liền hỏi:
- Bốn tòa cao ấy đặt cho ai?
- Cho Quốc vương, thái tử, đại thần, luận sư._Mọi người đáp.
Xá-lợi-phất quán sát mọi người, thấy không ai hơn mình, bèn bước lên ngồi kiết già trên tòa dành cho luận sư. Mọi người thấy vậy, rất lấy làm lạ, cho là còn nhỏ không biết phép tắc, hoặc cho là có trí tuệ hơn người. Tuy khen ngợi, nhưng họ vẫn kiêu căng, cho Xá-lợi-phất tuổi nhỏ, nên không tự mình đến mà sai đệ tử niên thiếu chuyển lời gạn hỏi. Xá-lợi-phất đáp lại với chi thú, lời lẽ siêu tuyệt. Khi ấy các luận sư mới ca ngợi là chưa từng có. Ngu trí, lớn nhỏ đều khâm phục. Vua rất hoan hỷ, liền lệnh quan Hữu ty cấp cho một ấp để thường xuyên chi dụng. Vua cỡi xe voi, rung linh tuyên cáo cho tất cả đều rõ. Bấy giờ vua quan, nhân dân mười sáu đại quốc đều vui mừng.
Khi ấy Xá-lợi-phất kết bạn với con của thầy toán số tên là Câu-luật-đà, họ Đại Mục-kiền-liên. Hai người này tài trí ngang nhau, đức hạnh tương đồng, đi thì cùng đi, ở thì cùng ở, nhỏ lớn khế hợp, giao ước chung thủy, về sau cả hai nhàm chán thế gian, xuất gia học đạo, làm đệ từ cửa Phạm chí. Do siêng năng tu đạo đã lâu mà không chứng đắc gì, nên hai người hỏi thầy. Thầy tên là sằn-xà-gia (Sànjaya) trả lời:
- Từ khi ta cầu đạo đến nay trải bao nhiêu năm, chẳng biết có đạo quả hay không, ta chẳng phải là người ấy hay sao mà cũng không đắc đạo?”.
Một ngày kia thầy bị bệnh, Xá-lợi-phất đứng ở phía đầu, Mục-kiền-Liên đứng ở phía chân, thấy thầy thở hồn hển, mạng sắp chết, đau buồn mà cười. Hai người cùng hỏi cười vì ý gì? Thầy trả lời:
- Người đời không có mắt, bị ân ái bức bách, Ta thấy vua nước Kim Địa chết, đại phu nhân của ông nhảy vào đống lửa, mong cùng ở một chỗ. Nhưng hai người ấy hành nghiệp và quả báo khác nhau, nơi sinh đến cũng khác nhau.
Hai người ghi lại lời thầy để nghiệm xem hư thật.
Sau có một thương nhân nước Kim Địa đến nước Ma-kiệt-đà, hai người gạn hỏi, quả đúng như lời thầy. Họ bùi ngùi than: ‘Từ trước đến nay chúng ta chẳng phải là người ấy sao? Hay là thầy còn giấu chúng ta?’.
Hai người cùng nhau thề rằng: ‘Nếu ai gặp được vị cam lồ trước, phải báo cho người khác biết’.
Cho nên kinh Phật bản hạnh ghi: “Lúc bấy giờ Xá-lợi-phất thấy tì-kheo Mã Túc vào thành khất thực, Người trong thành đều bàn tán và thuyêt kệ:
Khéo nhiếp căn và thức
Đi đứng thường vắng lặng
Mỉm cười, nói lời hay
Chắc là con dòng Thích.
Thấy vậy, Xá-lợi-phất hỏi: ‘Đạo đức và học thuật của thầy tôn giả chắc siêu việt hơn ngài chứ?
Tì-kheo Mã Túc nói kệ đáp:
Hạt cải sánh Tu-di
Dấu chân so biến lớn
Ruồi muỗi và kim sí
Ta và thầy cũng thế!
Giả sử Thanh văn đến bờ kìa Thành tựu các địa vẫn đệ tử Ở bên Đức Phật, chẳng thể bì Oai đức Thế Tôn thật khác biệt.
Xá-lợi-phất lại nghe Mã Túc thuyết kệ:
Các pháp từ duyên sinh
Cũng từ nhân duyên diệt
Thầy ta Đại sa-môn
Thường dạy pháp như thế!
Xá-lợi-phất nghe kệ xong liền được Kiến đế, chứng Pháp nhãn tịnh, đạt Sơ quả. Sau đó trở về thuật với Mục-kiền-liên. Mục-liên nghe xong cũng chứng Sơ quả.
Hai vị cùng hai trăm năm mươi đệ tử, đều đến chỗ Phật. Sau đó đều chứng quả A-la-hán.
Hỏi: Vì sao gọi là Xá-lợi-phất?
Đáp; Đó là tên do cha mẹ đặt. Ở trong thành lớn Vương Xá, nước Già-đà có vua tên là Tần-bà-sa-la, và luận sư Ma-đà-la dòng Bà-la-môn. Vì người ấy giỏi luận nghị nên vua cấp cho một ấp, cách thành lớn không xa. Ma-đà-la có vợ và một con

Phần 3

gái có cặp mắt giống chim Xá-lợi, nên đặt tên là Xá-lợi. Lần thứ hai sinh một người con trai có xương đầu gối thô to, nên đặt tên là Câu-hy-la.
Bà-la-môn Ma-đà-la đã có gia đình, phải nuôi nấng con cái, nên không thể trau dồi sở học đã cũ xưa. Lúc ấy ở Nam Thiên Trúc có một đại luận nghị bà-la-môn tên Da-xá thông thạo mười tám thứ đại kinh. Người này đi vào thành Vương Xá, trên đàu đội lửa, lấy lá sắt quấn quanh bụng. Mọi người hỏi thì nói: ‘Kinh sách tôi học quá nhiều, sợ bụng bị vỡ, cho nên nịt lại’. Lại hỏi: ‘Trên đầu vì sao đội lửa?’. Đáp:‘Vì tối quá’. Mọi người nói: ‘Mặt trời chiếu sáng, tại sao nói tối?’. Đáp: ‘Tối có hai: Một là ánh sáng mặt trời không chiếu đến, hai là ngu si che tối. Nay tuy có mặt trời chiếu sáng mà còn ngu si tăm tối’. Mọi người nói: ‘Chỉ vì ông chưa gặp bà-la-môn Ma-đà-la, nếu ông gặp thì bụng sẽ tóp, sáng sẽ tối’.
Vị bà-la-môn ấy đến gióng trống luận nghị. Quốc vương hỏi:
- Ai gióng trống?
Các quan đáp:
- Ở Nam Thiên Trúc có một bà-la-môn Đề-xá, là một đại luận nghị sư, muốn tìm nơi luận nghị, nên đến đây đánh trống.
Đại vương hoan hỷ, liền họp mọi người báo:
- Ai có thể vấn nạn, hãy cùng người ấy luận nghị?
Ma-đà-la nghe vậy tự nghĩ: ‘Sở học của ta đã cũ xưa, không trau dồi đổi mới, không biết nay có thể cùng người ấy luận chăng?’. Nhưng cũng miễn cưỡng đến. Trên đường đi, ông thấy hai con trâu đực đang húc nhau, trong tâm khởi niệm:
- Con trâu này là ta, con trâu kia là người. Lấy đó đoán xem biết ai thắng. Nhưng con trâu giả định cho mình không thắng, nên ông sầu lo và cho rằng như tình huống này, nhất định mình sẽ thua.
Khi sắp vào chúng hội, Ông lại thấy có người mẹ, ôm một bình nước đứng ngay ở trước, bị trật chân té ngã trên đất làm chiếc bình bị vỡ. Ông lại nghĩ: ‘Đây cũng là điềm không tốt nữa’. Vì thế Ma-đà-la không vui.
Khi đi vào giữa chúng, thấy luận sư kia ý chí và sắc tướng đều đầy đủ, ông biết mình không bằng. Nhưng bất đắc dĩ, phải cùng luận nghị và ông đã bị thua.
Đại vương vui mừng, vì có người đại trí vào nước mình, định phong cho một ấp. Quần thần nghị bàn:
- Một người thông minh vào nước, thì đại vương phong cho một ấp, còn công thần thì chẳng tưởng thưởng. Đại vương chỉ ưa thích ngôn luận, e rằng đó không phải là cái đạo giúp định quốc an gia. Nay Ma-đà-la bị thua thì phải trả lại phong ấp cho người thắng. Nếu lại có người khác thắng thì lại thâu lấy để phong cho người ấy.
Vua chấp thuận, liền thâu lại và ban cho người thắng. Khi ây Ma-đà-la nói với Đề-xá:
- Ông là người thông minh, ta gả con gái cho, con trai chỉ làm lụy mình. Nay ta muốn đi xa, đến nước khác để cầu được bản nguyện.
Đề-xá cưới người con gái kia làm vợ. Thời gian sau người vợ mang thai, đêm nọ mộng thấy một người mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, tay cầm chày kim cang đập phá các núi rồi đứng một bên núi lớn. Thức dậy, bà thuật lại với chồng điềm mộng. Đề-xá nói:
- Bà sẽ sinh con trai, phá dẹp hết thảy các luận nghị sư, chỉ không hơn được một người, lại sẽ làm đệ tử người đó.
Xá-lợi mang thai. Vì đứa con trong thai mà mẹ cũng thông minh, có khả năng luận nghị. Em trai là Câu-hy-la luận nghị với chị, lần nào cũng bị thua. Biết đứa con trong thai chắc chắn là bậc đại trí tuệ. Vì chưa sinh mà đã như vậy, huống gì sinh ra?
Do đó người cậu bỏ nhà đến Nam Thiên Trúc học tập. Chuyên tâm dốc trí, không rảnh để cắt móng tay, thông suốt mười tám thứ kinh thư, cho nên người thời bấy giờ gọi ông là Phạm chí Trường Trảo (móng tay dài). Con của người chị đã ra đời, bảy ngày sau, bọc trong lụa trắng, đem trình cho cha. Người cha suy nghĩ: ‘Ta tên Đề-xá, vậy theo tên ta mà đặt tên con là Ưu-ba-đề-xá’. Mọi người đều cho rằng do bà Xá-lợi sinh ra, nên đều gọi là Xá-lợi-phất (Phất nghĩa là tử). Lại, vì có bản nguyện đời đời làm đệ tử bậc nhất của Phật Thích-ca Mâu-ni lấy tên là Xá-lợi-phất.
Hỏi: Nếu vậy, sao không gọi là Ưu-ba-đề-xá mà chỉ nói Xá-lợi-phất?
Đáp: Vì người thời bấy giờ quý trọng người mẹ thông minh bậc nhất trong chúng nữ nhân, cho nên thường gọi là Xá-lợi-phất”
57.3.2. A-nan
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Trong thành Xá-bà có cội đại thụ Thi-xa-ba. Nhiều bà-la-môn đang ngồi nghỉ dưới bóng râm cây này, từ xa nhìn thấy A-nan đi đến, họ bảo nhau:
- Các ông nên biết, đây là đệ tử thông minh, đa văn bậc nhất của sa-môn Cù-đàm.
Khi A-nan đến, họ liền hỏi:
- Ngài thử đoán xem cây Thi-xa-ba này có bao nhiêu lá?
A-nan quan sát cây rồi bảo họ:
- Cành phía đông có chừng ấy trăm lá, chừng ấy nghìn lá. Như thế cành phía nam, phía tây, phía bắc, A-nan đều nói có chừng ấy trăm lá, chừng ấy nghìn lá.
Nói xong, A-nan bỏ đi. Sau khi A-nan bỏ đi, những bà-la-môn ấy lén giấu trăm lá cây. Khi A-nan trở lại, họ lại hỏi:
- Ngài đã trở lại, xin đoán xem cây Thi-xa-ba này có bao nhiêu lá?
Khi ấy, A-nan ngước nhìn cây thì biết những bà-la-môn lén giấu trăm lá liền đáp:
- Cành phía đông có chừng ấy trăm lá, chừng ấy nghìn lá ngần ấy. Như thế cành phía nam, phía tây, phía băc, A-nan đều nói có chừng ây trăm lá, chừng ấy nghìn lá.
Nói xong, A-nan bỏ đi. Khi ấy, những bà-la-môn đều cho là chưa từng có. Họ nói với nhau:
- Vị sa-môn này rất thông minh, có đại trí tuệ.
Do sự việc này, những bà-la-môn khởi tâm chính tín; sau đó không bao lâu họ xuất gia chứng quả A-la-hán”.
Có bài tụng:
Giỏi ngôn từ luận biện
Khéo dạy khiến qui hàng
Nước tám tính nhuận mầm
Ba minh làm mắt sáng
Người đến hỏi khác nhau
Giải đáp đều thỏa mãn
Mong bỏ bốn rồng dữ
Cũng trừ hai chuột kia.
Cây ý trổ hoa không
Sen tâm tỏa hương ngát
Giống biển xanh thay đổi
Như am-la chín này
Trí diệu sánh gấm thêu
Từ sâu đồng mây khói
Khéo học, trái Trường Trảo
Lời chân, khác nịt đồng
57.4. CẢM ỨNG
57.4.1. Đời Diêu Tần, Triệu Chính: Ông làm thái thú Vũ Uy, là người trung nghĩa, chính trực, hết lòng cho sự nghiệp hoàng dương Phật pháp. Lúc triều Phù Kiên sắp sụp đổ, giặc giã nổi lên, hung tàn bạo ngược, khắp nơi loạn lạc, nhân dân li tán, mà vẫn dịch được rất nhiều kinh điển, đó là nhờ công của ông vậy. Ông tự là Văn Nghiệp, người Trường Thủy, Lạc Dương, có thuyết nói ông người Tế Âm. Năm mười tám tuôi ông đã làm Trước tác lang của triều Phù Tần, sau đó thăng Hoàng môn lang, làm thái thú Vũ Uy. Người ông gầy, không có râu, có thê thiếp mà không con. Cho nên người thời bấy giờ nói ông là Thái giám. Nhưng ông rất thông minh, mẫn tiệp, học thông nội ngoại điển, thích can gián vua, không kiêng kị điều gì. Những năm cuối cùng chấp chính, Phù Kiên say đắm một hậu phi người Tiên Ti, bỏ bê chính sự, ông làm một bài ca:

Phần 4

Xưa nghe nói Mạnh Tân Nghìn dặm chảy về xuôi Nước trong xanh, êm ả Nay ai khuấy đục dòng?
Phù Kiên nghe ca, mắt biến sắc nói: “Là trẫm!”.
Ông lại ca:
Cây táo trong vườn bắc
Trải lá cành che mát
Bên ngoài tuy gai góc
Bên trong thật sắt son.
Phù Kiên cười nói: “Lẽ nào là Triệu Văn Nghiệp chăng!”._Tài trào phúng nhạy bén của ông đại loại như thế. về sau nghe nói Phật pháp hưng thịnh ở Quan Trung, ông xin vua cho xuất gia, nhưng Phù Kiên mến tiếc không chấp nhận. Sau khi Phù Kiên chết, ông mới đạt chí nguyện. Ông xuất gia có pháp hiệu là Đạo Chỉnh, nhân việc này ông cũng làm một bài tụng:
Sao Phật xuất thế muộn?
Sao Niết-bàn quá sớm?
Con qui mạng Thích-ca
Từ nay vào đạo lớn.
về sau ông ẩn cư ở núi Thương Lạc, chuyên tâm nghiên cứu kinh luật. Thứ sử Ưng châu nhà Tấn là Si Khôi khâm phục phong cách và chí tiết của ông, nên ép cùng mình kết giao. Sau ông tịch tại Tương Dương, thọ ngoài sáu mươi tuổi.
57.4.2. Đời Tấn, Thích Tăng Duệ ở Trường An: Sư quê ở Trường Lạc, quận Ngụy, là một vị tăng làu thông kinh điển, luận biện không ai bằng, rất được Dao Hưng, Dao Tung kính lễ và đãi ngộ trong hậu. Có lần Dao Hưng hỏi Dao Tung:
- Duệ công là người thế nào?
- Là tùng bá của Nghiệp đô!
Dao Hưng muốn xem tài năng, khí độ của sư, nên triệu kiến. Thấy sư có phong thái uy nghiêm, khí độ siêu việt, luận biện thông suốt, Dao Hưng vô cùng vui mừng, ban cấp bổng lặc, xe cộ, người giúp việc. Sau đó Hưng nói vơi Tung: “Đây là thủ lĩnh của cả thiên hạ, chứ đâu chỉ là tùng bá của Nghiệp đồ!”. Từ đó tiếng thơm vang xa, mọi người khắp nơi đều hướng về. Sư còn tham dự công việc dịch kinh của ngài La-thập. Ngày trước ngài Trúc Pháp Hộ dịch kinh Chính Pháp hoa, đến phẩm Thụ quyết có đoạn ghi: “Trời thấy người, người thấy trời.”, ngài La-thập khi dịch đến đây có nói:
- Lời này tuy đúng nghĩa với Phạn văn, nhưng quá chân chất!
Sư liền nói:
- Đoạn này chẳng phải nói: ‘Trời người giao tiếp, hai bên gặp nhau’ sao?
Ngài La-thập liền khen: “Đúng thế!
Sự lãnh hội của sư xuất sắc đại loại như thế. Có lần ngài La-thập khen:
- Ta truyền dịch kinh điển mà được gặp ông, thì không có gì phải ân hận cả.
Sư chuyên viết lời tựa cho các dịch phẩm, trong đó có: luận Đại trí độ, luận Thập nhị môn, kinh Đại phẩm Bát-nhã, kinh Pháp hoa, kinh Duy-ma, kinh Tư ích, kinh Tự Tại Vương, Thiền kinh...đến nay vẫn còn lưu truyền ở đời.
Sư hồi hướng tất cả công đức hoằng dương kinh pháp về hạnh nghiệp Tây phương, nguyện sinh sang cõi An Dưỡng. Ngày lâm chung, sư tắm gội sạch sẽ, đốt hương, lễ lạy Phật bồ-tát, rồi ngồi vào giường chắp tay, mặt hướng về tây mà thị tịch. Lúc ấy đại chúng trong chùa đều thấy nghe từ phòng sư xuất hiện mây lành năm màu và hương thơm lan tỏa. Lúc ấy sư sáu mươi bảy tuổi.
57.4.3. Đời Tấn, Chi Hiếu Long ở Hoài Dương: Lúc nhỏ sư đã có phong cách và tư thái đáng kính, lại thêm thần khí siêu việt, luận biện không ai bằng. Nguyễn Thiệm ở quận Trần Lưu, Dữu Khải ở Dĩnh châu đều kết bạn tri âm với sư, mọi người gọi sư là Bát Đạt. Bấy giờ có người giễu:
- Đại Tấn lập quốc, cả thiên hạ là nhà, vì sao sa-môn không để tóc, cởi ca-sa, buông Phạm phục mà mặc gấm lụa đi!
Sư đáp:
- Giữ đạo để tiêu dao, rỗng lặng để đạt đến chí thành. Cạo tóc hủy dung, đổi phục biến hình, người cho là ta nhục, thật ra đó là ta ném bỏ cái hư vinh của người. Cho nên vô tâm nơi quí thì càng quí, vô tâm nơi đủ thì càng đủ._ Tài luận biện bén nhạy, thông minh của sư đại loại như thế. Cho nên Tôn Xước ca ngợi:
Tiểu phương thì dễ định
Đại khí thật khó lường
Lí Long, chí siêu việt
Sâu rộng lại cao xa
Người người đồng qui hướng
Thảy đều muốn học theo
Suối mây dâng tràn khắp
Gió thơm thổi bay xa.
57.4.4. Đời Tấn, Khương Tăng Uyên: Sư vốn người Tây Vực, nhưng đến trụ tại Trường An, cho nên thân hình như người Hồ mà nói tiếng Hán. Sư có dung nghi, cử chỉ đều an tường, hiểu biết sâu rộng. Sư cùng với Khương Pháp Sướng, Chi Mần Độ cùng sang Đông Tấn vào đời Thành Đế (326-343). Sướng cũng là bậc tài trí, giỏi luận biện, có soạn bộ Nhân vật thủy nghĩa luận. Pháp Sướng thường cầm phất trần, đến đâu nếu gặp khách quí thường mời luận đàm suốt ngày. Bấy giờ Dữu Nguyên Qui nói với Pháp Sướng:
Pháp Sướng đáp:
- Người chính trực thì họ không xin, gặp kẻ tham lam thì tôi không cho, vì thế còn mãi!”
Tài luận biện của sư còn vượt cả Pháp Sướng. Bấy giờ Lang Da vương Mậu Hoằng thấy mũi sư cao, mắt sâu, nên thường giễu cợt, sư nói:
- Mũi là núi của mặt, mắt là vực của mặt; núi mà không cao thì không linh, vực mà không sâu thì chẳng trong!
Người thời bấy giờ đều cho đây là câu trả lời nổi tiếng.
- Vì sao sư giữ được mãi phất trần này?
59. CHƯƠNG NGU ĐỘN
59.1. LỜI DẪN
Ngu độn là gốc của các bệnh, là nguồn chướng đạo, nó dẫn đến mê lầm trong ba cõi, chìm đắm trong bốn loài. Cũng do đó mà cửa sáu căn luôn đóng, cửa ba độc thường khai. Có người hỏi đến thì miệng lưỡi lắp bắp, nói năng không thật. Quá ngu si thì không giương được đôi cánh, đắm ái tình thì khồng nhấc nổi bước chân. Cho nên, khởi tâm lành từ việc nhỏ, dẹp hung ngu nơi miệng hùm. Đã không phân biệt được
ngư lỗ lại chẳng biết rõ lúa-đậu, thì thật quá ngu si, mà tội cũng cực lớn!
59.2. BÀN-ĐÀ
Luật Thiện kiến ghi: “Bàn-đà, Trung Quốc dịch là Sinh bên đường. Mẹ của Bàn-đà vốn là con gái độc nhất của đại trưởng giả, nên trưởng giả vô cùng thương yêu. Ông xây lầu bảy tầng cho con gái, sắp xếp một nô bộc nhỏ đến phục dịch. Nô bộc này lớn lên, tư thông cùng cô chủ. Cô muốn cùng chàng trai trốn sang nước khác. Cô hỏi ba lần như vậy, chàng trai không đồng ý.
Cô gái bảo:
- Nếu không đi, cha mẹ biết sẽ giết chàng.
- Nếu đến xứ khác, tôi nghèo, không có tài sản, làm sao sinh sống?
- Đi theo thiếp, thiếp sẽ trộm lấy vật báu và cùng nhau trốn đi.
- Như vậy thì tôi sẽ đi.
Từ đó, hằng ngày, cô gái trộm lấy vật báu, cùng chàng trai mang ra ngoài cất giấu. Sau khi tính đủ cho hai người chi dụng, cô gái bảo chàng trai ra ngoài và hẹn giờ gặp nhau. Cô gái mặc y phục tỳ nữ, phá khóa cửa, lén ra ngoài dẫn chàng trai đi thật xa, đến nước khác.

Phần 5

Sau khi tìm nơi cư trú, trong một hai năm sau, cô ta có thai. Khi sắp sinh nở, cô nghĩ:
- Nếu ở đây, khi sinh không ai giúp đỡ.
Nghĩ đến mẹ, nên muốn trở về nhà, cô ta bàn với chồng, người chồng không chịu về và nói: ‘Chúng ta trốn đi làm sao về được, cha mẹ sẽ giết chúng ta’. Một hôm, khi người chồng vào núi lấy củi, người vợ đóng cừa bỏ đi. về nhà, không thấy vợ, người chồng hỏi hàng xóm: Có thấy vợ tôi không?’.
- Vợ ông đã đi rồi., Người hàng xóm đáp.
Nghe nói, người chồng vội đuổi theo, trên đường gặp vợ đã sinh một bé trai. Người chồng bảo: ‘Vì sinh con, nên nàng về nhà, nay đã sinh xong thì cần gì phải về nữa!’.
Nghe nói vậy, người vợ cùng chồng trở về nhà. Sau đó không bao lâu, người vợ lại mang thai, khi sắp sinh, lại về nhà và trên đường lại sinh thêm một bé trai. Đuổi theo vợ, trên đường người chồng lại gặp nhau, cả hai cùng trở về.
Vì được sinh bên đường, nên hai đứa bé có tên là Bàn-đà anh và Bàn-đà em. Khi cùng bạn bè chơi đùa, cả hai anh em có sức mạnh, đánh các bạn, nên bị chúng mắng: “Các ngươi không có bà con thân thích, cô đơn ở xứ này, tại sao lại đánh ta?”.
Nghe lời trách mắng này, đứa bé khóc lóc về hỏi mẹ. Mẹ im lặng không đáp, đứa con khóc lóc không chịu ăn uống. Thấy vậy, người mẹ thương xót, thuật lại mọi việc.
Nghe mẹ nói xong, anh em thưa: ‘Hãy cho chúng con trở về nhà ngoại, không thể sống ở đây nữa’. Không được mẹ đồng ý, hai con cứ khóc lóc mãi, người mẹ bàn với chồng, rồi cùng nhau trở về. Khi đến trước cửa nhà ngoại, họ nhờ người thông báo. Nghe nói, cha mẹ bảo: ‘Hãy cho hai đứa trẻ vào, còn các ngươi không cần gặp chúng ta!*.
Sau khi đưa hai cháu vào nhà, tắm rửa sạch bằng nước thơm, mặc y phục trang sức đẹp đẽ, trưởng giả bồng hai bé trai đặt trên hai đùi và hỏi: ‘Mẹ cháu ở nơi ấy sinh sống như thế nào, không bị nghèo thiếu chứ?’. Hai trẻ đáp: ‘Cha mẹ con ở nơi ấy rất nghèo nàn, bán củi để sinh sống’.
Nghe như vậy, bà ngoại thương xót, liền mở kho lấy đầy túi vàng, sai người đưa cho con gái và bảo: ‘Con hãy để hai cháu lại cho ta nuôi dưỡng. Con hãy đem số vàng này trở về chỗ cũ, khéo tự sinh sống, không cần phải gặp ta nữa’.
Khi đứa bé khôn lớn, được ông bà cưới vợ cho. Lúc lâm chung, ông bà đem hết tài sản giao cho hai cháu rồi qua đời. Sau đó người anh giao hết gia nghiệp cho em rồi xuất gia. Sau khi xuất gia không bao lâu, người anh chứng quả A-la-hán. Một thời gian sau, do nhàm chán cuộc đời, người em đến gặp anh xin xuất gia. Được người anh độ và dạy một bài kệ, nhưng bốn tháng mà người em không thuộc.
Ma-ha Bàn-đà cho rằng người em này không có duyên với Phật pháp, nên đuổi về nhà.
Thế là người anh kéo ca-sa, đuổi em ra khỏi cửa. Đứng ở cửa khóc lóc, người em không muốn về nhà.
Bấy giờ Đức Phật đang dùng thiên nhãn xem xét chúng sinh, Ngài thấy Châu-la Bàn-Đà có nhân duyên hóa độ được, nên đến gặp và hỏi:
- Tại sao đứng khóc ở đây?
- Bạch Thế Tôn! Anh con đuổi ra khỏi chùa.
Đức Phật biết hàng thanh văn không đủ khả năng độ, nên người anh đuổi về. Sau khi an ủi, Thế Tôn đưa một mảnh vải trắng cho Châu-la Bàn-đà và bảo căng tấm vải này về hướng mặt trời và thầm nghĩ: ‘Lấy chất bẩn! Lấy chất bẩn!’.
Sau khi dạy, Đức Phật vào làng thụ thực do mẹ Tỳ-xá-khư thỉnh. Khi vừa đến nơi, Thế Tôn quán sát biết Châu-la Bàn-Đà sắp ngộ đạo, Ngài liền nói kệ: Bậc tịch tịnh hoan hỷ Thấy pháp được an lạc Sống không giận, rất vui Không làm hại chúng sinh Thế gian không gì vui Thoát ly khỏi ái dục Ịg Ai dẹp được ngã mạn
Là an lạc bậc nhất.
Châu-la Bàn-đà từ xa nghe được bài kệ này, liền chứng quả A-la-hán.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật dạy Chu-lợi Bàn-đặc hai chữ: 'chổi quét!’. Nhưng thuộc chữ chổi thì quên chữ quét, thuộc chữ quét thì quên chữ chổi. Mấy ngày sau mới thuộc trọn hai chữ ấy. Đức Phật lại dạy tụng: ‘Trừ cấu’, Bàn-đặc suy nghĩ: ‘Nếu quét sạch đất đá, ngói gạch thì nơi ấy thanh tịnh. Kết phược là cấu, trí tuệ có năng lực quét trừ. Nay ta dùng trí tuệ quét trừ các kết phược”’.
Luận Tân Bà-sa ghi: “Được anh trao cho một bài kệ, trải qua bốn tháng, Tiểu Lộ không thuộc, bị anh trách mắng đuổi khỏi tinh xá. Thấy Tiểu Lộ khóc lóc, Thế Tôn xót thương dùng thần lực chuyển bài kệ đã học trao cho một bài khác. Tức thời Tiểu Lộ tụng đọc thông thuộc. Sau bốn tháng dụng công, Thế Tôn lại trao cho câu: ‘Trừ trần cấu’ và dặn:
- Từ hôm nay, nếu có bí-sô nào từ ngoài đi vào tinh xá, ông phải phủi sạch bụi bám trên giày các vị ấy.
Tiểu Lộ vâng lời dạy của Thế Tôn mà làm theo. Đến chiều có một vị bí-sô vào tinh xá, đôi giày vị ấy bị bụi bám rât nhiều, Tiểu Lộ liền đến phủi, nhưng một chiêc thì phủi rât sạch, còn một chiêc thì dù làm thế nào cũng không thể sạch được. Bây giờ Tiểu Lộ suy nghĩ: ‘Bụi bên ngoài tạm bám vào mà còn không thể phủi sạch, huống gì các cấu uế tham sân si lâu ngày huân nhiễm tâm, thì làm sao sạch được’. Trong lúc đang suy nghĩ, bỗng nhiên thành tựu bất tịnh quán và sổ tức quán, rồi theo thứ tự mà chứng quả A-la-hán.
Hỏi: Do nhân duyên gì mà Tiểu Lộ ám độn như thế? .
Đáp: Tôn giả Tiểu Lộ vào thời Phật Ca-diếp-ba đã thụ trì đầy đủ ba tạng. Do cấu uế bỏn xẻn pháp che tâm, không giảng thuyết cho người khác biết, khiến quên hết văn nghĩa và lí; do đó ngày nay phải chịu quả báo ngu tối cùng tột như thế.
Có thuyết cho rằng: Tôn giả từng là một người buôn bán heo tại thành Bà-la-ni-tư. Một hôm người này cột miệng năm trăm con heo, rồi chuyển lên thuyền, khi sang bờ kia chuyển heo rời thuyền, vì ngạt thở nên năm trăm con heo đều chết. Do nghiệp ác này, cho nên nay bị ngu tối.
Có thuyết lại nói: Vào một đời ở quá khứ, tôn giả đã lấp cửa hang của con Cù-đà, làm cho nó không ra được, phải chịu chết trong đó. Do nghiệp này, nên phải chịu quả báo ngu tối”.
Kinh Xứ xứ ghi: “Đức Phật dạy:
- Ngày xưa tì-kheo Châu-lợi Bàn-đặc học tập hai mươi bốn năm mà chỉ thuộc được năm chữ, nhưng đã trừ cấu uế, không còn phiền não. Vì sao? Do vào thời quá khứ tì-kheo này đã gặp năm trăm vị Phật, thông hiểu các kinh, nhưng do đóng chặt kinh pháp, khồng chịu truyền trao cho người, về sau bị bệnh, trải qua hai mươi bốn ngày, lúc sắp chết mới hối hận gọi người đến truyền dạy. Do chút phúc này mà thuộc được năm chữ, huống gì truyền trao đày đủ cho người, hẳn phúc sẽ chẳng thể tính lường”.
Kinh Pháp cú ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, có một vị tì-kheo mới xuất gia tên Bàn-đặc, bẩm tính ngu tối. Đức Phật sai năm trăm vị a-la-hán hàng ngày dạy dỗ ông, vậy mà suốt ba năm ông không học thuộc một bài kệ. Bốn chúng đều biết ông là người tối dạ.
Đức Phật thương xót, gọi ông đến và dạy cho một bài kệ:
Giữ miệng, thu nhiếp ý
Thân không phạm lỗi lầm
Ai làm được như thế
Sẽ thoát li sinh tử
Đức Phật lại dạy:
- Ông đã lớn tuổi, nhưng chỉ mới thuộc được một bài kệ mà mọi người bình thường đều biết, chẳng có gì kỳ đặc cả. Ta sẽ giảng cho ông nghe ý nghĩa của bài kệ này, hãy nhất tâm lắng nghe.
Bàn-đặc vâng lời chí thành nghe giảng, tâm ý bỗng nhiên khai ngộ, liền chứng quả A-la-hán. Một hôm vua Ba-tư-nặc thỉnh Đức Phật và chúng tăng vào cung cúng dường. Muốn cho mọi người biết uy thần của Bàn-đặc, Đức Phật trao bát cho ông ta mang đi theo sau. Người giữ cửa biết được giữ lại không cho vào và nói:
- Ông làm sa-môn mà một bài kệ học không xong, nhận lời thỉnh làm gì? Tôi là người thế tục còn biết bài kệ đó, huống gì ông là sa-môn lại không có trí tuệ, cúng dường cho ông cũng không có lợi ích gì. Thôi, ông không nên vào cửa!
Thế là Bàn-đặc ôm bát đứng bên ngoài, Đức Phật ngồi trên đại điện, rửa tay xong, tôn giả liền duỗi tay đưa bát vào cho Đức Phật. Vua, quần thần, phu nhân, thái tử

Phần 6

và tứ chúng thấy cánh tay đưa vào mà không thấy người, nên kinh ngạc hỏi Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Đây là tay của ai?
Đức Phật đáp:
- Đó là cánh tay của hiền giả Bàn-đặc.
Nghe Đức Phật nói, nhà vua cho thỉnh Bàn-đặc vào. Bàn-đặc đi vào với uy nghi rạng rỡ khác thường.
Nhà vua thưa Đức Phật:
- Con nghe đồn tì-kheo Bàn-đặc tâm tính ngu muội, mới biết được một bài kệ, do đâu mà đác đạo?
Đức Phật dạy:
- Đâu cần phải học nhiều, quan trọng ở chỗ thực hành. Bàn-đặc đã hiểu nghĩa một bài kệ, tâm đạt yếu lí; thân, miệng và ý thanh tịnh, như vàng ròng cõi trời. Tì-kheo học nhiều, mà không hiểu nghĩa lý, không thực hành, chỉ uổng tâm, nhọc trí đâu có ích lợi gì!
Khi ấy, đức Thế Tôn liền nói bài kệ:
Dẫu tụng ngàn chương điển
Không thấu đạt cú nghĩa
Không bằng một yếu chỉ
Nghe rồi ý vắng lặng.
Dầu tụng muôn ngàn lời
Không hiểu nghĩa, ích gì
Không bằng chỉ một lí
Nghe, hành liền giải thoát.
Dẫu tụng nhiều kinh điển
Không hiểu, ích lợi gì
Chỉ rõ một câu pháp
Thực hành sẽ đắc đạo.
Đức Phật nói kệ xong, có hai trăm vị tì-kheo đắc quả A-la-hán. Vua, quần thần, phu nhân và thái tử đều rất hoan hỷ”.
Kinh Pháp cú lại ghi: “Thuở xưa có năm trăm sa-môn thường tụng kinh, tu tập trong một ngôi tinh xá cách thủ phủ nước Đa-ma-la khoảng bảy dặm. Bấy giờ, trưởng lão tì-kheo Ma-ha-lư tâm tính ngu muội, năm trăm tì-kheo thay nhau dạy dỗ suốt mấy năm mà ông không thuộc nổi một bài kệ. Mọi người đều xem thường và xa lánh, bắt ông canh giữ tinh xá và lo việc quét dọn.
Một hôm, quốc vương thỉnh các sa-môn vào cung cúng dường. Tì-kheo Ma-ha-lư nghĩ: ‘Sinh ra trong cuộc đời, ta ngu muội đến nỗi một bài kệ cũng không biết, bị mọi người khinh chê, vậy sống có ích gì!’. Nghĩ vậy, ông mang dây đến một cây to sau vườn định thắt cổ tự vẫn.
Với đạo nhãn, Đức Phật nhìn thấy sự việc này, Ngài liền hóa ra vị thần cây, hiện nửa thân người, trách ông ta:
- Ôi! Ôi! Sao ông lại làm thế!
Ma-ha-lư trình bày nỗi thống khổ của mình
Hóa thần quở trách:
- Ông không được làm như thế, hãy nghe ta nói. Thời Đức Phật Ca-diếp còn tại thế, ông từng là một tam tạng sa-môn có năm trăm đệ tử. Nhưng ông tự cho mình là người tài cao học rộng, khinh thường mọi người, lại ích kỉ không dạy nghĩa kinh cho đệ tử. Do đó, trải qua nhiều đời sinh ra thường ngu si. Vì vậy, ông nên tự trách mình, cớ sao lại tự sát?
Thế rồi, Đức Thế Tôn hiện lại thân tướng, phát hào quang uy nghiêm rực rỡ, nói bài kệ:
Phải yêu quý thân mình
Phải giữ gìn cẩn thận
Mong cầu thoát ái dục
Học đạo chớ ngủ mê.
Thân này là quý nhất
Luôn cố gắng tu học
Mình lợi mới dạy người
Chuyên cần trí mới sáng.
Học, trước tự sửa mình
Sau mới giáo hóa người
Điều thân nhập trí tuệ
Mới trở thành bậc thượng.
Bản thân không lợi ích
Sao làm lợi lạc người
Tâm điểu, thân chân chính
Nguyện nào không thành tựu.
Những điều mình đã tạo
Sau phải tự lãnh thụ
Làm ác mà hối cải
Như ngọc được dũa mài
Thấy Đức Phật hiện thân với hào quang rực rỡ, tì-kheo Ma-ha-lư buồn vui lẫn hốt hoảng, cúi đầu đỉnh lễ dưới chân Ngài, đồng thời tư duy ý nghĩa bài kệ rồi nhập định, liền chứng quả A-la-hán ngay trước Đức Phật, tự biết túc mạng của mình và những việc trong vô số đời, thông suốt ba tạng kinh điển.
Đức Phật lại bảo Ma-ha-lư rằng:
- Ông hãy đắp y, mang bát vào cung thụ trai và ngồi trên năm trăm vị sa-môn. Các sa-môn này chính là năm trăm đệ tử đời trước của ông. ông nên thuyết pháp giúp họ được đắc đạo, đồng thời để nhà vua tin hiểu tội phúc.
Vâng lời Đức Phật dạy, Ma-ha-lư vào cung, ngồi trên tòa cao nhất. Tất cả mọi người ngạc nhiên không hiểu lý do, nhưng vì thuận ý vua, nên không dám trách mắng mà nghĩ: ‘ông ta ngu si không biết chú nguyện khi thụ trai’. Vì thế họ rất buồn phiền. Sau đó nhà vua cho bày biện thức ăn, đích thân dâng cúng, Ma-ha-lư thụ nhận phẩm vật cúng dường và chú nguyện, âm thanh hùng hồn như sấm, ngôn từ tuôn chảy như mưa. Các vị sa-môn đang có mặt vô cùng khiếp sợ, tự ăn năn và tất cả đều chứng quả A-la-hán.
Trưởng lão sa-môn Ma-ha-lư lại thuyết pháp cho vua và quần thần, tất cả nghe xong đều đắc quả Tu-đà-hoàn”
59.3. NHỮNG KẺ THẬT NGU
59.3.1. Đập muỗi: Luật Thập tụng ghi: “Đức Phật thuyết kinh Bản sinh cho các tì-kheo nghe:
- Vào thời quá khứ có một người trọc đầu làm nghề nhuộm y. Một hôm ông cùng con trai mang y ra sông giặt giũ. Sau khi giặt và phơi khô, hai cha con mang về nhà. Gặp hôm trời quá nắng nóng, hai cha con đến gốc cây bên đường, nằm gối đầu lên bao y phục nghỉ ngơi. Bỗng đâu một con muỗi bay đến hút máu trên đầu người cha. Người con thấy cha quá mỏi mệt, ngủ thật ngon giấc, liền khởi tâm ác, mắng con muỗi: “Con muỗi xấu xa độc ác này! Vì sao đến hút máu cha ta?”. Mắng xong, anh ta cầm một cây gậy lớn đánh con muỗi, con muỗi giật mình bay mất; cặy gậy giáng nhằm đầu khiến người cha chết ngay. Thụ thần thấy vậy liền nói kệ:
Thà kết oán người trí
Chứ không gần người ngu
Ngu, đập muỗi cho cha
Muỗi bay, cha vỡ đầu.
59.3.2. Đập ruồi: Kinh Hiền ghi:

Phần 7

- Tại nước Xá-vệ có một ông lãọ xuất gia, và người con trai cũng theo cha làm sa-di. Một hôm hai con vào thành khất thực, bởi thôn cách xa mà trời sắp tối, người cha lại đi chậm, người con sợ thú dữ, nên dìu cha đi nhanh. Vô ý đẩy người cha té chết. Người con đến chỗ Phật, Đức Phật bảo: “Ta biết ngươi không cố ý, nên không phạm tội sát. Bởi vào thời quá khứ, trong một gia đình nọ, người cha bị bệnh nằm ngủ, có bầy ruồi nhiều lần đến quấy rối người cha đuổi đi, bầy ruồi lại bay đậu trên trán con mình, người cha dùng gậy đập muỗi làm chết người con. Tuy không có ác tâm, nhưng người ấy cũng phải trả nghiệp này”.
59.3.3. Cứu mặt trăng: Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật dạy:
- Vào thời quá khứ, tại thành Ba-la-nại, nuớc Già-thi có đàn khỉ năm trăm con đang sinh sống trong rừng vắng. Một hôm đàn khỉ đến bên cái giếng cạnh cây Ni-câu-luật, khỉ chúa nhìn xuống giếng thấy có bóng trăng hiện duới đáy, liền nói với đàn: ‘Hôm nay mặt trăng rơi xuống giếng mất! Chúng ta nên vớt lên, chớ để cho thế gian mãi mãi chịu tăm tối!’. Cả đàn bàn bạc tìm cách vớt mặt trăng, khỉ chúa nói: ‘Ta có cách rồi! Bây giờ ta nắm chặt cành cây Ni-câu-luật này, rồi bắt đầu từ ta, các nguơi nối tiếp nắm đuôi chuyền xuống tận đáy, thì nhất định sẽ vớt đuợc mặt trăng!
Thế là cả đàn làm theo lời khỉ chúa, còn một khoảng ngắn là chạm mặt nuớc, nhung do quá nặng mà cành cây lại yếu, nên cành gãy, cả đàn rơi hết xuống giếng sâu. Thấy vậy thụ thần nói bài kệ:
Loài thú si ngốc này
Cả đàn đồng ngu theo
Tự gây ra khổ não
Làm sao cứu mặt trăng!
Đức Phật dạy: ‘Khỉ chúa bấy giờ, nay là Đề-bà-đat-đa, đàn khỉ là Lục quần tì-kheo. Lúc ấy cả bọn đã cùng theo nhau chịu khổ, ngày hôm nay cũng vậy”’.
59.3.4. Ghen với bóng: Kinh Tạp thí dụ ghi: “Có hai vợ chồng cùng đến múc ruợu, khi mở vò ruợu bồ đào, vợ chồng đều thấy bóng mình hiện trong đó, vì không biết nên đều nổi cơn ghen cho là giấu người tình trong vò rượu. Thế là họ đánh nhau đến chết vẫn không thôi. Bấy giờ một đạo nhân đến đập thủng vò rượu, rượu chảy hết thì không có người. Vợ chồng bây giờ mới biết đó là bóng của chính mình, nên trong lòng hổ thẹn, đạo nhân liền thuyết pháp yếu, vợ chồng đều được A-duy-việt-trí. Đức Phật dùng câu chuyện này làm dụ, trong đó người thấy bóng đánh nhau dụ cho chúng sinh ba cõi không biết năm ấm, bốn đại là khổ, không, thân có ba độc, khiến sinh tử không dứt.
59.3.5. Phân chia y vật: Luật Thập tụng ghi: “Một năm nọ Đức Phật cùng các đại tì-kheo hạ an cư tại nước Kiều-tát-la. Mãn hạ, có hai vị tì-kheo lớn tuổi được rất nhiều phẩm vật, họ suy nghĩ ta chỉ có hai người mà y và vật thì nhiều, nên không dám phân chia, sợ bị tội. Tì-kheo Bạt-nan-đà biết được, liền đến hỏi:
- Các vị được y, đã phân chưa?
- Chưa chia.
- Ngài có thể phân chia giúp, được chăng?_ Hai vị tì-kheo lại hỏi.
- Được! Nhưng cần phải yết-ma.
Hai tì-kheo liền mang y vật đến, tì-kheo Bạt-nan-đà phân ra làm ba phần, đặt giữa hai vị tì-kheo một phần, còn mình đứng giữa hai phần rồi nói:
- Các vị hãy nghe tôi tác pháp yết-ma:
Hai vị nhận một phần
Như vậy đã được ba
Hai phần này và ta
Như vậy ta có ba.
Yêt-ma như vậy, thành không? Hai tì-kheo đáp: ‘Thành!’. Thế là Bạt-na-đà mang hai phần định đi, hai vị tì-kheo lại nói:
- Thưa Thượng tọa đại đức! Y vật của chứng tôi chưa phân!
- Tôi sẽ phân chia giúp các ông. Nên tặng một y tốt cho người chia _Bạt-na-đà nói.
- Nên cho. Hai vị tì-kheo nói.
Thế là Bạt-nan-đà chọn lấy một chiếc y tốt nhất trong phần của hai vị, số còn lại Bạt-na-đà chia làm hai, rồi mang phần của mình đi. Các tì-kheo biết việc này, bạch Phật, Đức Phật quở trách nặng Bạt-nan-đà, rồi nói với đại chúng:
- Không chỉ ngày nay Bạt-nan-đà mới đoạt y vật của người mà ngày xưa cũng từng làm như vậy. Đó là vào thời quá khứ, có hai con rái cá sống chung trong một đoạn sông kia. Một hôm chúng bắt được một con cá chép rất lớn, nhưng không biết phân chia. Bấy giờ có một con chồn đến bờ sông uông nước, thây hai con rái, bèn hỏi:
- Hai cháu làm gì trong đó?
- Thưa cậu! Chúng con vừa bắt được con cá chép ở đây, nhưng không biết làm sao chia. Cậu có thể chia giúp chúng con chăng?
- Được!
- Trong hai con, đứa nào thích ở trong cạn?
- Là con!. Đứa nào thích ở ngoài sâu?
- Là con!
Chồn liền nói kệ:
Đứa thích cạn cho đuôi
Thích ở sâu cho đầu
Phần khoảng giữa, thân thịt
Nên cho người chia phân.
Chồn ngậm phần thân cá đi, chồn cái đến nói kệ:
Từ đâu ngươi ngậm được?
Chắc là lấy từ sông
Không đầu đuôi như thế
Thịt cá chép rất ngon.
Chồn đực nói kệ:
Người thường hay tranh cãi
Không biết cách phân chia
Nếu có thể biết rõ
Như được kho của quan
Cá chép không đầu đuôi
Cho nên ta được ăn.
Đức Phật dạy: ‘Hai con rái cá ngày xưa chính là hai tì-kheo lớn tuổi này, con chồn là tì-kheo Bạt-nan-đà. Ngày xưa Bạt-nan-đà đã đoạt cá, ngày nay lại đoạt y vật của người khác”’.
59.3.6. Xây lầu đài: Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một người giàu sang, nhưng rất ngu si. Một hôm, anh ta thấy nhà của một người giàu khác cao ba tâng, rộng rãi, thoáng mát, trang hoàng lộng lẫy, anh ta nghĩ rằng:
- Của cải của ta không thua kém người này, sao ta không xây căn nhà lầu giống như vậy!
Anh ta liền kêu thợ mộc đến hỏi:
- Anh biết xây căn nhà như thế chăng?
Người thợ mộc đáp:
- Căn nhà đó chính tôi xây.
Anh ta liền nói:
- Nay tôi muốn xây một căn nhà như thế!
Người thợ mộc đào móng, đắp nền để xây lầu.
Thấy vậy, anh chàng ngu nghi ngờ, không biết người thợ làm gì, mới hỏi:
- Anh làm gì thế?
Người thợ mộc đáp:

Phần 8

- Làm nhà ba tầng.
- Tôi không muốn làm hai tầng dưới, chi muốn làm tầng cao nhất.
- Không thể có việc đó, không xây tầng một, làm sao xây được tầng thứ hai? Không tạo tầng thứ hai, thì làm sao xây được tầng thứ ba?
- Tôi nay không cần hai tầng dưới. Anh phải làm tầng cao nhất cho tôi.
Mọi người nghe thế, chê cười anh ta.
Cũng vậy, chúng đệ tử của Thế Tôn không tinh tiến tu tập, tôn kính Tam bảo, biếng nhác mà muốn cầu đạo quả, lại còn nói: ‘Nay tôi, không cần ba quả thấp kia, chỉ cầu quả A-la-hán’, thì cũng làm cho mọi người chê cười”.
59.3.7. Mài dao: Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một người nghèo khổ làm việc cho vua. Trải qua thời gian rất lâu, thân thể trở nên gầy yếu. Thấy vậy, vua thương xót ban tặng cho anh ta một con lạc đà chết. Anh ta bèn lột da, nhưng dao lụt quá, muốn tìm cục đá để mài. Thế là anh lên lầu tìm được cục đá và mài dao thật bén rồi xuống lột da con lạc đà. Cứ như vậy, khi dao lụt thì anh lại lên lầu để mài dao. Lên xuống nhiều lần, anh quá mõi mệt, không thể lên lầu được nữa, bèn treo con lạc đà gần cục đá mài trên lầu. Mọi người thấy vậy chê cười anh ta.
Cũng vậy, người ngu phá hủy giới cấm, rồi dùng nhiều tiền của để tu phúc, mong cầu được sinh lên trời, trái lại phải gặp họa. Giống như người nghèo kia treo con lạc đà bên cục đá mài trên lầu, tốn công rất nhiều mà kết quả thì rất ít”.
59.3.8. Bán hương: Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một trưởng giả ra biển lấy hương trầm thủy, trải qua nhiều năm gom được một xe, ông bèn chở về nhà rồi mang ra chợ bán. Vì trầm hương quá đắt nên không ai mua nổi. Đã nhiều ngày mà bán không được, ông ta buồn chán. Khi ấy, thấy người bán than đắt hàng, ông ta suy nghĩ: ‘Nếu như đốt trầm hương thành than, chắc bán rất mau’. Nghĩ thế, ông ta bèn đốt trầm hương thành than. Quả nhiên, ông ta bán rất chạy. Nhưng một xe than trầm hương giá trị không bằng nửa xe than thường.
Người ngu thế gian cũng như vậy, có vô số phương tiện, giúp chúng sinh siêng năng câu Phật quả; nhưng Phật quả khó được, nên họ thoái tâm, tự nghĩ: ‘Chi bằng ta phát tâm cầu quả Thanh văn, mau đoạn sinh tử, thành A-la-hán
59.3.9. Giao ước để ăn bánh: Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, hai vợ chồng nhà kia có ba cái bánh, bèn chia nhau mỗi người một cái, cái bánh còn lại, họ giao ước:
- Nếu ai lên tiếng trước thì không được ăn bánh!
Giao ước xong, cả hai người đều không dám lên tiếng, chỉ vì muốn được án cái bánh kia. Ngay lúc ấy, kẻ trộm lẻn vào nhà, lấy hết của cải. Vì trước đã giao ước, nên hai vợ chồng chỉ đưa mắt nhìn mà không ai dám lên tiếng. Tên trộm thấy họ không mở miệng, liền xâm phạm đến người vợ ngay trước mặt người chồng. Anh chồng nhìn thấy cũng không dám lên tiếng. Người vợ liền quát tên trộm và trách chồng:
- Sao chàng ngu si đến thế? Chỉ vì một cái bánh mà thấy kẻ trộm không dám lên tiếng?
- Người chồng vỗ tay cười nói:
- Ha ha! Nàng thua rồi! Ta được cái bánh này, nhất định không cho nàng ăn đâu!
Mọi người nghe việc này, đều chế nhạo anh ta. Phàm phu cũng như thế, vì một chút danh lợi mà giả hiện thanh tịnh, bị giặc ác phiền não hư dối làm hại, mất hết pháp lành, rơi vào ba đường ác. Thế mà, chẳng những họ không hề lo sợ để mong cầu giải thoát, trái lại đắm nhiễm năm dục, gặp cảnh khổ não cũng không biết là tai họa. Chẳng khác gì cặp vợ chồng ngu kia!
59.3.10. Sợ vợ: Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một người cưới hai vợ, nhưng khi gần gũi cô này thì cô kia hờn giận. Anh ta không biết xử sự thế nào, liền nằm ngửa ngay thẳng giữa hai cô. Một đêm, gặp lúc trời mưa lớn, mái nhà bị dột, nên nước bụi rơi vào mắt anh ta. Vì trước đã có giao ước, nên anh ta không dám ngồi dậy tránh mưa, khiến cho cả hai mắt đều bị mù.
Phàm phu ở đời cũng như thế, gần gũi bạn ác* làm các việc phi pháp, tạo các kết nghiệp, nên phải rơi vào ba đường ác, chịu sinh tử dài lâu, khiến cho mắt tuệ mù lòa. Giống như người chồng ngu si kia bị mù hai mắt bởi hai cô vợ”.
59.3.11. Ngậm gạo: Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một người đến nhà vợ, thấy nhà đang giã gạo, anh ta liền lén lấy gạo bỏ vào miệng. Lát sau người vợ đến, muốn nói chuyện với chồng, nhưng trong miệng anh đang ngậm đầy gạo, nên không thể trả lời. Vì hổ thẹn với vợ, nên anh ta không dám nhả ra. Chị vợ thấy chồng không nói được, lấy làm lạ đưa tay sờ thử, cho răng miệng anh bị sưng, liền thưa với cha mình:
- Chồng con mới đến, đột nhiên miệng bị sưng không nói được!
Cha của cô liền gọi thầy thuốc đến chữa trị. Lúc ấy, thầy thuốc nói:
- Bệnh này rất nặng, giống như bướu đá, phải mổ miệng mới được!
Sau đó, ông bèn lấy dao rạch miệng anh ta, gạo từ trong miệng rơi xuống. Lúc đó sự việc mới rõ ràng.
Người đời cũng như thế, gây tạo các việc ác, phạm giới, lại còn che giấu lỗi lầm, không chịu sám hối. Khi chết đọa vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Giống như người ngu kia vì chút hổ thẹn, không chịu nhả gạo, đến khi rạch miệng thì mới phơi bày lỗi của mình”.
59.3.12. Bắt chước vua nháy mắt: Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một người muốn được lòng vua, bèn hỏi người khác:
- Làm sao để được vua vừa lòng?
Người ấy nóỉ:
- Nếu muốn được vừa lòng vua, thì anh phải bắt chước điệu bộ, dáng vẻ của vua.
Nghe vậy, người nầy thấy vua nháy mắt, anh ta liền bắt chước nháy mắt theo. Thấy vậy, vua hỏi:
- Khanh bị bệnh hay trúng gió. Vì sao mắt lại giật như vậy?
Anh ta đáp:
- Thần không đau mắt, cũng không bị trúng gió, chỉ muốn làm vừa lòng đại vương thôi. Thần thấy đại vương nháy mắt nên bắt chước.
Nghe xong, vua nổi giận, sai người trị tội, rồi đuổi ra khỏi nước.
Cũng vậy, người đời muốn được thân cận bậc Pháp Vương, cầu học thiện pháp để tăng trưởng công đức. Khi đã được thân cận rồi, họ lại không hiểu Pháp Vương vì chúng sinh, lập nhiều phương tiện thị hiện những khiếm khuyết, nghe pháp Phật có câu cú không đúng, sinh lòng chê bai, bắt chước theo. Do đó, dù họ ở trong pháp Phật mà vĩnh viễn mất hết lợi ích, rơi vào ba đường ác, giống như người ngu bắt chước điệu bộ của vua”.
59.3.13. Sợ cây: Kinh Bách dụ ghi: “Thí như một con dã can ở nơi gốc cổ thụ. Một hôm, gió thổi làm gãy nhánh cây rơi trên lưng nó. Nó sợ quá, liền nhắm mắt lại không muốn nhìn cây, và bỏ chạy đến nơi đất trống. Chiều hôm ấy vẫn không dám ừở về. Từ xa, nó nhìn thấy gió thổi khiến các cành cây lay động lên xuống. Nó liền hỏi: ‘Gọi tôi à!’, rồi liền chạy đến bên cây.
Đệ tử ngu si cũng như thế, đã được xuất gia, gẳn gũi sư trưởng vừa bị quở trách một chút- liền bỏ đi. Sau đó gặp người ác quấy nhiễu, mới trở về bèn thầy mình. Đến đi như thề là ngu si.
Có bài tụng:
Lưới ái buộc tâm ngu
Tham si nghịch trí sáng
Dù được đuốc tuệ chiếu
Kẻ ngu mắt vẫn mù
Ngu si thường bất giác
Giống tuệ chưa nẩy mầm
Nếu chẳng gặp bạn lành
Đâu thể ngộ được tâm

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục