PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
27/11/2015
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...

QUYỂN 52
Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém.
56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC
Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên thiện ác khác nhau mà có xuống lên đôi đường. Thiện thì như Nan-đà ném vinh hoa, dục lạc mà vào chính đạo; La-vân bỏ vương vị quyền cao để đoạn kết triền; như trong rừng chiên-đàn, thì cây chiên-đàn mọc cùng khắp, tùy căn cơ mà độ thoát, đó chính là chỗ kì diệu của đấng Điều Ngự. Còn về ác thì như Điều-đạt phá hòa họp tăng, như A-xà-thế giết phụ hoàng, trong tâm luôn nghĩ đến điều ác, luôn kết oán thù. Như vậy đã đồng rừng gai gốc, cũng giống như độc xà. Đường thiện ác đã phân lối họa phúc hẳn cũng đã rõ.
56.2. THƯƠNG YÊU, LUYẾN MỘ
Kinh Tu-ma-đề trưởng giả ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, tại nước Xá-vệ có một vị trưởng giả tên là Tu-ma-đề. Một ngày kia, chẳng may ông ta qua đời, cha mẹ, thân tộc và những người quen biết đều thương tiếc khóc lóc, kêu gào đau đớn, đến nỗi ngất xỉu, té ngã trên đất. Có người kêu gào cha mẹ anh em; có người réo gọi chồng con v.v..., trong nhà toàn những âm thanh gào khóc như thế. Lại có người bôi bùn đất lên thân, có người dùng dao tự cắt tóc ..., đau đớn, thống khổ như bị tên độc bắn trúng tim mình. Có người trùm vạt áo lên đầu khóc lóc, giống như rừng cây bị xác xơ sau một cơn bão dữ. Lại có người giẫy giụa trên đất như cá mắc cạn, như cây bị chặt đổ nằm ngổn ngang; tất cả dồn những việc đau đớn như thế vào thân. Đức Thế Tôn biết rõ mọi việc, nhưng vẫn cứ hỏi tôn giả A-nan:
- Những người kia vì sao mà gào khóc bi ai như thế?
Tôn giả A-nan trình bày rõ sự việc, rồi bạch:
- Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng thương xót đến nơi ấy hóa độ mọi người! Các đức Thế Tôn không bao giờ giảng nói khi không có lời cầu thỉnh, nay con vì họ mà cầu thỉnh Ngài. Vì lòng đại bi, cúi xin Thế Tôn đến độ gia đình ấy!
Như Lai nhận lời cầu thỉnh của tôn giả A-nan, đến gia đình nọ. Lúc đó, mọi người từ xa trông thấy đức Thế Tôn, tất cả đều gạt lệ, lau mặt, ra trước nhà cung đón. Khi đến gần, họ liền đỉnh lễ chân Ngài, đau xót, nghẹn ngào nói không nên lời, lòng muốn than lớn, nhưng vì kính nể Như Lai nên họ đứng im, không dám thở. Bấy giờ Đức Phật bảo cha mẹ của trưởng giả:
- Sao các người cứ chấp vào thân giả tạm này -mà khóc lóc sầu não mãi như thế?
Mọi người đều đồng thanh bạch với Đức Phật:
- Bạch Thế Tôn! Khắp thành Xá-vệ chỉ có người này thông minh, xinh đẹp tài giỏi, tuổi vừa tráng niên, người trong thành không ai sánh bàng. Anh ta lại có nhiều tiền của, kho tàng, xe ngựa, y phục, nô tì v.v... tất cả đều không thiếu một thứ gì. Vậy mà bỗng nhiên lìa đời, khiến chúng con vô cùng thương tiếc, không thể tự kiềm chế được! Kính lạy đức Thế Tôn! Xin Ngài thương xót, dùng phương tiện thuyết pháp, khiến cho chúng con vượt qua nỗi đau này, để từ nay về sau chúng con không còn chịu những nỗi thống khổ như thế này nữa!
Đức Phật bảo cha mẹ, quyến thuộc của trưởng giả và mọi người:
- Các vị đã từng thấy người nào có sinh mà không có già, bệnh và chết không?
- Chưa từng thấy! Bạch Thế Tôn! Mọi người thưa.
Đức Phật lại dạy tiếp:
- Các vị muốn lìa bỏ những nỗi sầu bi khổ não của sinh, già, bệnh, chết, thì các vị chẳng nên nghĩ đến ân ái trói buộc. Tâm luôn chính kiến mà quy y Tam bảo. Vì sao? Bởi vì trong thế gian không ai hơn Phật, chỉ có Phật mới khéo dẫn dắt kẻ ngu si mê muội. Giáo pháp Phật dạy chính là thuốc hay! Đức Thế Tôn lại nói kệ:
Chúng sinh trong mười phương
Hễ sinh thì phải chết
Đường sinh tử đến đi
Giáo pháp mới diệt được.
Tất cả trong mười phương
Không ai cứu sự chết
Chỉ Phật mới đoạn trừ
Cho nên qui y Ngài.
Nếu người tâm bất thiện
Thích tạo mười nghiệp ác
Trong tâm luôn kiêu mạn
Lòng bất kính Tam bảo
Lại không giữ tịnh giới
Buông lung, không tinh tấn
Người phạm những lỗi ấy
Đều được cho là chết.
Vô thường chấp là thường
Bất tịnh chấp là tịnh
Thật khổ cho là vui
Vô ngã chấp là ngã,
Chúng sinh đắm sinh tử
Chấp nặng các tà kiến
Trải nghìn vạn ức kiếp
Chẳng biết gốc tử sinh.
Nếu những ai hiểu được
Đại pháp chân thật này
Biết rõ ái vô thường
Là cội gốc khổ lớn
Nếu thấy ái cầu trược
Đoạn trừ gốc ba độc
Mới có thế thành tựu
Đại pháp vô thượng này.
Nghe Đức Phật thuyết pháp, thân thuộc của trưởng giả kia, không những hết buồn khổ mà còn chứng được đạo quả.
Kinh Pháp cú dụ ghi: “Thuở xưa, có một vị Bà-la-môn xuất gia từ thuở nhỏ, nhưng mãi đến năm sáu mươi tuổi vẫn chưa đắc đạo. Theo pháp Bà-la-môn, đến tuổi này mà chưa đắc đạo thì phải lấy vợ, tạo dựng sự nghiệp. Sau khi hoàn tục, ông lập gia đình và có một đứa con trai xinh đẹp, rất đáng yêu. Đứa bé này mới bảy tuổi mà rất thông minh, học giỏi, biện luận lưu loát hơn người. Một hôm, cậu con trai này bỗng nhiên bị bạo bệnh mà qua đời. Bà-la-môn đau buồn khôn xiết, cứ ôm xác con than khóc đến chết đi sống lại. Thân tộc thấy thế tìm đủ lời khuyên bảo an ủi, giành lấy xác đứa bé tẩm liệm rồi chôn ngoài thành.
Bà-la-môn tự nghĩ: ‘Ta than khóc mãi đâu có ích lợi gì, chi bằng hãy đến chỗ vua Diêm-la đòi mạng con mình lại’. Nghĩ xong, bà-la-môn tắm gội sạch sẽ, trai giới rồi chuẩn bị hành lý và hoa hương, rời nhà ra đi. Đi đến đâu, ông cũng hỏi: ‘Vua Diêm-la hiện đang ở chỗ nào?’. Cứ như thế, dần dà ông đi suốt mấy nghìn dặm. Một hôm, ông vào trong núi sâu, gặp và hỏi các bà-la-môn đác đạo câu ấy. Họ nói:
- Ông hỏi chỗ ở vua Diêm-la để làm gì?
- Tôi có một đứa con trai thông minh, tài giỏi hơn người, nó đã qua đời cách đây mấy ngày. Tôi đau đớn, khổ sở không nguôi, nên định tìm đến chỗ vua Diêm-la xin lại mạng sống của nó để cậy nhờ lúc tuổi già sức yếu.
Các vị bà-la-môn thương ông lão ngu si, liền bảo:
- Chỗ ở của vua Diêm-la, con người đâu thể đến được. Nhưng chúng tôi sẽ chỉ cho ông. Từ đây đi về hướng tây hơn bốn trăm dặm có một vùng đồng bằng rộng lớn, nơi đó có một tòa thành, là chỗ dừng chân của các vị thần khi đi tuần sát trong thế gian. Vào ngày mùng tám mỗi tháng, vua Diêm-la đi tuần sát, chắc chắn sẽ đi qua thành này. Đúng vào ngày ấy, ông trì trai giới đến đó sẽ gặp. Bà-la-môn rất vui
mừng vâng theo lời chỉ bảo, đến con sông ấy, ông ta gặp một toà thành rất lớn, cung điện, nhà cửa nguy nga trang lệ như cõi trời Đao-lợi, bèn đến trước cổng đốt hương, quỳ xuống khấn nguyện được gặp vua Diêm-la. Vua Diêm-la ra lệnh người giữ cổng đưa ông lão vào gặp mặt và hỏi nguyên do. Bà-la-môn thưa:
- Tôi tuổi đã già mới sinh được đứa con trai, ước mong sau này được cậy nhờ, không ngờ mới lên bảy tuồi lại lâm bệnh, qua đời mới mấy ngày. Xin đại vương ban ân trả lại đứa con cho tôi.
Vua Diêm-la nói:
- Tôt lắm! Con của ông hiện đang chơi ở khu vườn phía đông. Ông hãy đến đó dẫn nó về.
Vị bà-la-môn liền đến nơi đó, trông thấy con mình đang chơi đùa cùng các đứa trẻ khác. Ông vội chạy đến ôm con, khóc lóc nói:
- Suốt ngày đêm cha thương nhớ con, ăn ngủ không yên. Con không nhớ nghĩ đến cha mẹ đang đau khổ sao?
Đứa trẻ giật mình la lớn, lại trách ông già:
- Ông già si mê này không hiểu đạo lý, tôi chỉ ở nhờ nhà ông trong chốc lát mà gọi là con. Chớ nói nhiều lời, ông hãy đi mau cho, tôi ở chỗ này cũng có cha mẹ. Chúng ta chỉ tình cờ gặp nhau, luyến lưu làm gì?
Nghe vậy, bà-la-môn càng thêm đau khổ, khóc lóc rồi ra đi.
Ông ta nghĩ: ‘Ta nghe nói sa-môn Cù-đàm hiểu rõ lẽ biên hóa của người và quỷ thần. Vậy, ta đến đó hỏi ông xem sao!’. Thế là, ông ta liền tìm đến Đức Phật. Bấy giờ, Đức Phật trú tại tinh xá Kỳ-hoàn trong nước Xá-vệ, đang thuyết pháp cho đại chúng. Bà-la-môn liền cúi đầu đỉnh lễ, rồi thưa toàn bộ sự việc lên Đức Phật:
- Thưa Ngài! Con tôi không chịu nhận tôi, còn bảo tôi là ông già si mê, ở nhờ trong chốc lát mà lại nhận làm con. Nó đối xử chẳng có chút tình phụ tử, không biết vì sao?
Đức Phật bảo:
- Ông thật ngu si! Khi người chết rồi, thần thức ra đi, lại thụ thân khác. Cha mẹ, vợ con do nhân duyên gặp gỡ, như khách trọ qua đêm, sáng thức dậy thì phải chia tay. Thế nhưng, chúng sinh ngu muội chấp là của mình, rồi sinh lo buồn sợ hãi. Tất cả đều do không hiểu được cội nguồn, chìm đắm mãi trong sinh tử, không biết khi nào ra khỏi. Chỉ có bậc trí tuệ, không tham ân ái, thấy rõ khổ đau, đoạn tận nguồn nhân, siêng năng tu tập kinh giới, diệt trừ vọng tưởng, chấm dứt sinh tử.
Bà-la-môn nghe xong, tâm ý bỗng nhiên khai ngộ, ngay chỗ ngồi chứng quả A-la-hán”.
Kinh Đại pháp cự ghi: “Đức Phật dạy:
- Tất cả chúng sinh đều tùy theo loại thân hình mà đặt tên, như chim sẻ, v.v... Nhưng chúng sinh trong loài ngạ quý không có tên gọi nhất định. Chớ cho rằng trời nhất định là trời, người nhất định là người, ngạ quỷ nhất định là ngạ quỷ. Phải biết, chỉ một việc mà có nhiều tên gọi, chỉ một người mà có nhiều tên gọi, chỉ một trời mà có nhiều tên gọi, cho đến ngạ quỷ, súc sinh cũng có nhiều tên gọi. Nhưng cũng có nhiều ngạ quỷ hoàn toàn không có tên, vì trong khoảng khảy móng tay, hình hài nó đã thay đổi thành muôn thân hình khác, thì làm sao có thể gọi tên được? Trong đó, nếu nhân duyên nghiệp ác chưa hết, thì trong một niệm phải bị biến đổi rất nhiều loại thân hình”.
56.3. BIẾN CẢI
Kinh Pháp cú dụ ghi; “Thuở xưa, Đức Phật trú tại nước Xá-vệ thuyết pháp cho hàng trời người. Bấy giờ trong thành có một vị trưởng giả bà-la-môn rất giàu có, nhưng rất tham lam bỏn xẻn, không thích bố thí. Mỗi khi ăn, ông ta luôn sai người đóng kín cửa, không tiếp khách, không muốn người khác vào nhà cầu xin. Một hôm, trường giả thích ăn ngon, bèn bảo vợ làm cơm rồi giết một con gà béo, ướp gừng, tiêu và gia vị rồi nấu chín. Khi các món ăn được dọn ra đầy bàn, ông ta cho người đóng cửa lại, hai vợ chồng và đứa con nhỏ ngồi ăn uống bên nhau. Hai vợ chồng thay nhau xé thịt gà đút cho con ăn.
Biết vị trưởng giả này có phúc đời trước, hóa độ được, nên thừa dịp ông dùng cơm, Đức Phật bèn hóa làm một vị sa-môn hiện đến trước bàn ăn của họ và nói:
- Xin bố thí cho tồi chút ít, ông sẽ được phúc báo lớn!
Trưởng giả ngẩng đầu lên thấy sa-môn liền mắng:
- Ông là đạo sĩ mà không biết hổ thẹn, nhà người ta đang ăn uống, tại sao đường đột xông vào?
Hoá sa-môn đáp:
- Ông mới thật ngu si, không biết hổ thẹn. Tôi là người ăn xin, có gì phải hổ thẹn kia chứ?
Trưởng giả hỏi:
- Tôi và vợ con cùng nhau ăn uống vui vẻ, có gì là hổ thẹn?
Sa-môn đáp:
- Ông lấy mẹ làm vợ, lại giết cha để cung cấp cho oan gia mà không biết hổ thẹn, trái lại cho rằng tôi ăn xin là hổ thẹn sao?
Bấy giờ, hóa sa-môn liền nói bài kệ:
Đã không đoạn cành nhánh
Lại bón thêm tham dục
Dưỡng thù oán chất chồng
Kẻ ngu thường bất an.
Tuy ngục có móc sắt
Trí không cho là ngục
Người ngu thấy vợ con
Đắm trước ngục ái này
Trí nói ai là ngục
Kiên cố khó thoát li
Nên tránh xa tham dục
Đoạn ái, được an ổn.
Nghe xong bài kệ, trưởng giả ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao đạo nhân nói lời ấy?
Sa-môn đáp:
- Con gà trên bàn ăn kia là cha của ngươi đời trước. Vì cha ngươi tham lam bỏn xẻn, nên thường làm thân gà, nay bị ngươi ăn thịt. Còn đứa bé này thuở xưa là la-sát; lúc đó ông là một thương nhân đi thuyền ra biển, gặp dòng nước cuốn trôi dạt vào nước la-sát, bị chúng ăn thịt. Trải qua năm trăm đời đều như vậy, sau khi hết thụ thân la-sát lại sinh làm con của ông. Vì tội của ông chưa hết, nên nó đến hại ông. Vợ ông hôm nay chính là mẹ ông đời trước, do ân ái sâu nặng nên nay trở lại làm vợ. Ông ngu si không biết những việc quá khứ, giết cha mình để nuôi dưỡng oan gia, lấy mẹ làm vợ, luân chuyển mãi trong năm đường sinh tử, mấy ai biết được. Chỉ có bậc chân nhân đắc đạo mới biết được người chết ở chốn này, lại sinh ở nơi kia. Còn kẻ ngu không biết, há chẳng thẹn sao!
Nghe vậy, trưởng giả giật mình hoảng hốt, vô cùng sợ hãi. Đức Phật vận thần thông, khiến ông biết được túc mệnh. Trưởng giả liền sám hối lỗi lầm, cầu Phật thụ năm giới. Sau đó, ông nghe Đức Phật thuyết pháp và chứng quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Trên đường du hành đến nước Cư-hà-la, Đức Phật ngồi nghỉ tại gốc cây bên đường, lúc đó có một bà lão nô bộc tên là Ca-đán-giá-la đến giếng lấy nước. Phật bảo A-nan:
- Hãy đến chỗ bà lão xin nước!
A-nan vâng lời Phật, đến xin nước. Lúc ấy bà lão nghe Phật xin nước, liền gánh nước đến gần chỗ Phật, bà lão đặt thùng nước xuống đất, vội chạy thẳng đến ôm chầm Đức Phật. A-nan muốn ngăn bà lại, nhưng Đức Phật nói:
- Đừng ngăn cản bà ấy! Bà lão này, trong năm trăm đời từng là mẹ của Ta, nên tâm luyến ái chưa hết. Vì thế, ngày nay bà muốn ôm Ta. Nếu ngăn cản, bà sẽ giận, máu nóng trào ra miệng mà chết đấy!
Bà ôm được Phật, hôn lên tay chân Ngài rồi đứng qua một bên. Đức Phật bảo A-nan:
- Hãy đến mời người chủ của bà đến!
Người chủ đến, cúi đầu đỉnh lễ chân Phật, rồi đứng sang một bên, Đức Phật nói với người chủ:
- Hãy trả tự do cho bà lão này để bà được xuất gia! Nếu được xuất gia, bà sẽ chứng A-la-hán!
Người chủ liền trả tự do cho bà. Đức Phật bảo A-nan giao cho tì-kheo-ni Ba-xà-ba-đề độ bà lão xuất gia. Chẳng bao lâu, bà chứng được quả A-la-hán. Đức Phật lại dạy:
- Vào thời Phật Ca-diếp, bà xuất gia học đạo, nhờ nhân duyên đó, nay bà chứng được A-la-hán. Bấy giờ, bà lãnh đạo đồ chúng, chửi mắng các bậc Hiền thánh ni là nô tì, do duyên đó, ngày nay bà phải làm nô tì cho người. Trong năm trăm đời bà làm mẹ của Ta, do ngăn cản Ta bố thí, nên bà sinh ra nơi nào cũng nghèo cùng hèn hạ”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Trong thành Xá-vệ có vị trưởng giả rất giàu, của cải nhiều vô lượng, nhưng không có con trai nối dõi, nên luôn khẩn cầu thần thánh ban cho. Do lòng chí thành, nên vợ ông mang thai, đủ ngày tháng, bà sinh ra một bé trai khôi ngô, tuấn tú, không ai sánh bằng. Do đó gia đình tổ chức lễ hội chúc mừng, tất cả mọi người đều đến bờ sông, uống rượu, ca hát, vui chơi. Khi đến bờ sông, người mẹ sơ ý làm đứa bé rơỉ xuống sông. Mọi người cùng nhau lặn tìm, nhưng không có. Vợ chồng trưởng giả vì thương con nên đau đớn, chết đi sống lại.
Vì đứa bé có phúc đức nên không chết; sau khi rớt xuống sông, đứa bé trôi theo dòng nước, rồi bị một con cá lớn nuốt vào bụng. Mặc dù ở trong bụng cá, nhưng chú vẫn không chết.
Vùng hạ lưu sông này có một thôn nhỏ, trong đó cũng có một gia đình giàu sang nhưng không có con trai, cầu khấn khắp mọi nơi, vẫn chưa có con. Nhà này thường sai các nô bộc bắt cá đem bán.
Hôm đó, một người trong số nô bộc đó bắt đúng con cá đã nuốt chú bé. Họ mang cá về nhà rồi mổ bụng, thấy chú bé khôi ngô; họ mừng rỡ trao bé cho chủ nhà. Trưởng già vô cùng mừng rỡ, nói:
- Nhờ nhà ta chí thành cầu khấn thần linh, nay được trời đáp ứng, ban cho.
Thế là vợ chồng ông săn sóc, nuôi dưỡng đứa bé. Bấy giờ vợ chồng trưởng giả thôn trên nghe trưởng giả thôn dưới được bé trai từ trong bụng cá, truy xét biết là con mình, nên đến nơi xin con lại, ông nói:
- Bé trai này là con tôi, hôm đó ở bờ sông vì sơ ý để nó rơi xuống nước, xin ông hãy cho lại.
- Đây là nhờ nhà tôi khấn cầu, nay được trời đáp ứng, ban cho tôi bé trai. Đứa con đã mất của ông, chắc ở đâu đó, chứ chẳng phải đứa bé này!
Hai bên tranh cãi không phân thắng bại. Cuối cùng đành đến nhờ vua phân xử. Cà hai gia đình đều đưa ra lý lẽ nhận làm cha mẹ của chú bé.
Nhà vua nghe họ nói, không biết phải làm sao, đành phải phán định hai trưởng giả cùng nuôi dưỡng đứa bé. Đến khi bé trưởng thành; mỗi nhà cưới một cô vợ, đều giao cho tài sản, chú ở hai nhà khác nhau. Vợ nhà nào sinh con thì thuộc nhà đó.
Hai nhà trưởng giả đều làm theo lời vua dạy. Đên lúc chú bé trưởng thành cả hai nhà đều cưới vợ cho chú, cung cấp đầy đủ mọi thứ cần dùng. Một hôm, chú xin cha mẹ hai nhà cho phép xuất gia. Cả hai bên cha mẹ rất thương con, nên đều đồng ý. Thế là chú từ giã mọi người đến chỗ Đức Phật đỉnh lễ cầu xuất gia học đạo. Phật chấp nhận và nói: “Thiện lai tì-kheo!”.
Râu tóc chú tự rụng, trở thành sa-môn, pháp hiệu Trùng Tính. Phật thuyết pháp cho Trùng Tính nghe, thầy đoạn tận các khổ, liền chứng quả A-la-hán.
A-nan liền thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con không biết tì-kheo Trùng Tính xưa kia tu hạnh gì, trồng căn lành gì mà đời nay sinh ra bị rơi xuống sông, cả nuốt mà không chết?
- Này A-nan! Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ kể cho ông biết. Vào đời quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu Tì-bà-thi. Ngài thường tập hợp đại chúng để giảng thuyết diệu pháp. Lúc đó, có một trưởng giả đến pháp hội nghe Phật giảng pháp, ông rất vui mừng, tín tâm càng tăng trưởng, liền theo Phật xin thụ tam tự quy, giữ giới không sát sinh; ông cúng dường Phật một đồng tiền. Nhờ vậy, mà đời đời ông được hưởng phúc báo giàu sang.
Này A-nan! Trưởng giả xưa kia, nay là tì-kheo Trùng Tính, nhờ lúc xưa cúng dường Đức Phật một đồng tiền mà trải qua chín mươi mốt kiếp, thường đầy đủ tiền của; đến hôm nay gặp cha mẹ hai nhà cung cấp không thiêu một thứ gì. Nhờ ông giữ giới không sát sinh, nên rơi xuống nước bị cá nuốt vẫn không chết; nhờ thụ tam quy, nay gặp Ta ra đời giáo hóa đoạn trừ phiền não, chứng quả A-la-hán.
Kinh Phật thuyết trưởng giả tử áo não tam xứ ghi “Bấy giờ, tại thành Xá-vệ có vị trưởng giả rất giàu, tài sản vô số, nhưng không có con, ông ta sợ sau khi chết, tài sản của ông ta sẽ bị rơi vào tay triều đình.Vợ chồng lo đi cầu khẩn thần linh, quy y Tam bảo, siêng năng không biếng trễ, nên đã mang thai. Vợ ông là người thông minh, biết rõ được năm điều: một, biết rõ ý chồng; hai, biết chồng suy nghĩ hay không suy nghĩ; ba, biết rõ nhân duyên mang thai; bốn, phân biệt rõ nam hay nữ; năm, phân biệt rõ điều thiện, điều ác. Do đó, bà báo tin cho chồng là bà đã thụ thai! Trưởng giả nghe tin vô cùng mừng rỡ. Đủ tháng đủ ngày, bà sinh được một bé trai, ông ta liền cấp cho năm nhũ mẫu, ẵm bồng nuôi nấng. Đến khi cậu bé lớn khôn, ông ta liền tìm cưới cho con một người vợ đẹp. Một hôm, vợ chồng cậu đi dạo trong vườn, thấy cây Vô Ưu, hoa màu trắng, các tua màu lụa đỏ mềm mịn. Thấy vậy, cô vợ nói:
- Thiếp muốn có được đóa hoa này!
Người chồng liền leo lên cây, vì muốn hái được hoa, mà cành cây quá nhỏ yếu, nên bị gãy, cậu ta rơi xuống đất và chết. Cha mẹ nghe tin, vội vã chạy đến ôm đầu, xoa bóp, lay gọi nhưng cậu không tỉnh lại. Cha mẹ đau xót, thân thể tiều tụy, nội tâm tổn thương. Bạn bè thân thuộc thấy vậy cũng buồn thay. Đức Phật và A-nan đi vào thành, thấy cảnh ấy, cũng cảm thương xót cho ông bà chỉ có một người con mà bị té chết.
Phật bảo trưởng giả:
- Con người có sinh phải có tử, sự vật có thành ắt có hoại. Do đó, người khi thọ mạng hết thì không thể lẩn trốn, ông không nên quá đau buồn.
Đức Phật dạy tiếp:
- Cậu bé này vốn từ cõi trời Đao-lợi, vì tuổi thọ hết, nên nó sinh vào làm con ông. Sau khi tuổi thọ làm con trong nhà ông hết, nó liền sinh vào loài rồng và bị kim sí điểu bắt ăn thịt. Cha mẹ ba nơi đồng thời cùng khóc lóc, như vậy nó là con ai? Đức Phật liền nói kệ:
Là con các vị trời
Là con quí của ông
Hay là con của rồng,
Sinh trong chốn long cung?
Hãy nghe Ta giảng giải,
Chẳng phải là con trời,
Cũng không phải con ông,
Càng không phải từ rồng,
Là nhân duyên sinh tử
Vô thường, giống như huyễn,
Mọi vật không bền lâu,
Giống như khách qua đường!
Đức Phật bảo trưởng giả:
- Không ai có thể tránh cái chết, đi rồi không thể trở lại!
Trưởng giả bạch:
- Vậy, tội phúc đời trước của đứa trẻ này như thế nào?
Đức Phật dạy:
- Cậu bé này đời trước rất thích bố thí, tôn kính mọi người, nhờ phúc đức này mà nó được sinh vào nhà giàu có; nhưng cũng vì ưa săn bắn, làm tổn hại sinh vật, nên đời nay tuồi thọ nó ngắn ngủi. Tội và phúc theo người như bóng theo hình.
Nghe Phật giảng giải, vị trưởng giả vui mừng, lòng thanh thản, liền chứng được Pháp nhẫn”.
56.4. LÌA CHẤP
Luận Thập trụ Tì-bà-sa ghi: “Trong gia đình, từ quyến thuộc như cha mẹ, anh em, vợ con... cho đến các vật như xe ngựa... đều làm cho con người tăng thêm lòng tham cầu không biết đủ. Gia đình là nơi khó đầy, như biển chứa nước của các dòng sông. Gia đình là nơi không bao giờ đủ, như bếp thiêu đốt củi. Gia đình là nơi không bao giờ dừng nghỉ, suy tính nối tiếp không dừng. Gia đình Vốn là khổ, như kẻ oán giả làm người thân. Gia đình vật chướng ngại, ngăn cản mọi người đến Thánh đạo. Gia đình là nơi rối loạn, luôn chống trái đấu tranh nhau. Gia đình là nơi gây nhiều sân hận, khen chê xấu tốt. Gia đình tuy khá dài lâu, nhưng cũng biến đổi vô thường. Gia đình là nơi chứa nhóm các khổ bởi mong cầu và bảo vệ. Gia đình là chỗ đáng nghi ngờ, như không tin kẻ giặc. Gia đình là nơi điên đảo, tham đắm giả danh. Gia đình như người kỹ nữ mượn trang điểm để làm đẹp. Gia đình là nơi đổi thay, vì có tụ họp ắt có ly tan. Gia đình là vay mượn, không phải thật có. Gia đình như giấc mộng, vì giàu sang rồi sẽ nghèo khổ. Gia đình như sương buổi sáng tan biến trong chốc lát. Gia đình như giọt mật, vì vị ngọt rất ít. Gia đình như rừng gai, muốn đâm hại người. Gia đình như con trùng sắt, vì giác quán thường luôn rúc rỉa. Gia đình có các tai họa như thế không thể kể hết. Thế nên bồ-tát tại gia nên quán sát, biết vợ con, quyến thuộc, tiền của... không thể cứu mình, không thể nương tựa, cũng chẳng phải là bạn tốt. Do đó nên mau buông bỏ.
Lại từ vô thỉ đến nay, hết thảy chúng sinh trong sáu đường từng qua lại làm cha con... lẫn nhau, thân sơ đâu xác định? Cho nên có bài kệ:
Vô minh che trí tuệ,
Nhiều kiếp trong tử sinh,
Qua lại biết bao lần,
Làm cha con lẫn nhau,
Tham đắm vui trần thế,
Không biết điều vui hơn,
Kẻ oán thành người thân,
Người thân lại thành oán,
Nên ta phương tiện nói,
Chớ sinh tâm thương ghét,
Nếu sinh tâm thương ghét,
Không thể thấu rõ pháp
Kinh Đại bồ-tát tạng ghi: “Này Xá-lợi-phất! Nếu có chúng sinh tham đắm sắc dục nam nữ, nên biết người đó tham đắm bão cát, tham đắm dao nhọn, tham đắm hòn sắt nóng, tham đắm ngồi giường sắt nóng, tham đắm ghế sắt nóng. Này Xá-lợi-phất! Nếu có người thích đeo vòng hoa, xoa ướp hương thơm, tức là thích đeo vòng hoa sắt nóng, cũng là thích bôi phân tiểu vào thân.
Này Xá-lợi-phất! Nếu có người bảo vệ nhà cửa, nên biết người đó đang ôm vò sắt nóng lớn. Nếu có người nhận lãnh tôi tớ, nên biết người đó đang nhận lãnh những ngục tốt ác độc ở địa ngục. Nếu có người nhận lãnh voi, ngựa, lừa, lạc đà, trâu, dê, heo, gà, nên biết người đó đang nhận lãnh những con chó đen mạnh dữ ở địa ngục và cũng là đang nhận lãnh một trăm du-thiện-na lính cấm vệ.
Tóm lại, nếu thụ nhận sắc dục vợ con, nam nữ, tức thụ nhận hết thảy các nỗi khổ lớn lo buồn, sầu não, bi ai.
Này Xá-lợi! Thà phải nằm giường sắt nóng lớn cả nghìn do-tuần đốt cháy thân thể, chứ không nhận Sắc dục thê thiếp mà cha mẹ đã ban, cho đến không dùng tâm ái nhiễm từ xa nhìn tướng ấy, huống gì là gần gũi ôm ấp. Vì sao? Vì vợ là gốc của các khổ; là gốc của mọi sự chướng ngại; là gốc của giết hại; là gốc của mọi sự ràng buộc; là gốc của sầu lo; là gốc của oán thù; là gốc của mù lòa. Nên biết, vợ là nhân làm mù mắt tuệ; người vợ như hoa sắt nóng rải khắp mặt đất bắt người phải dẫm lên; người vợ là nguyên nhân làm tăng thêm thói quen tà vạy.
Này Xá-lợi! Vĩ nhân duyên gì gọi là vợ? Vợ là tăng thêm gánh nặng. Vì sao? Vì vợ thường khiến cho chúng sinh phải nhận gánh nặng, khiến chúng sinh mang gánh nặng đó mà làm việc, khiến chúng sinh mang gánh nặng đó mà rong ruổi cùng khăp; chúng sinh vì gánh nặng đó mà tâm lao nhọc, bị gánh nặng đó nung nấu bức bách, bị gánh nặng đó làm hại.
Này Xá-lợi-phất! Lại vì nhân duyên gì gọi là người vợ? Vì đó là nơi chúng sinh phải cống hiến tài vật, là chỗ đắm chìm những kẻ nô lệ cho tham ái. Như người chìu theo vợ thì vợ là nơi thu thuế; nếu vợ đẹp thì vợ là chốn mê hoặc; nếu vợ giỏi hơn thì vợ là nơi qui thuận; nếu vợ kém thì bị nương nhờ, như vợ dễ dãi thì vợ là chỗ để buông lung; nếu làm tôi tớ cho vợ thì vợ là chỗ khiến lao nhọc, như thuận theo vợ thì vợ là chỗ để ngưỡng mộ. Này Xá-lợi! Vì các nghĩa như thế nên gọi là vợ”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Có ba hạng con cái:
1. Con cái thuận theo cha mẹ: đó là cha mẹ giữ năm giới, thì con cũng noi theo cha mẹ giữ năm giới.
2. Con cái tốt hơn cha: đó là cha mẹ không giữ gìn năm giới, nhưng người con thường giữ gìn năm giới.
3. Con cái xấu hơn cha mẹ: cha mẹ không giữ gìn năm giới, con cũng không giữ được năm giới”.
Kinh Ngũ vô phản phúc ghi: “Đúng thật như thế, chính tôi được nghe: Một thời Đức Phật cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị tì-kheo đồng cư trú tại nước Xá-vệ. Lúc ấy có một Phạm chí từ nước La-duyệt-kì đến Xá-vệ học đạo. Trên đường, ông gặp hai cha con đang cày ruộng, bỗng nhiên người con bị rắn độc cắn chết. Thế nhưng người cha vẫm điềm nhiên cày ruộng, không nhìn đến cũng không khóc than. Phạm chí liền đến hỏi:
- Người ấy là con của ai?
- Con của tôi!_ Người cha đáp.
- Đã là con của ông, vì sao ông không than khóc, tiếc thương?
- Phàm là con người, hễ có sinh thì có chết, có thịnh thì có suy, làm thiện thì báo thiện, gây ác thì gặp oán thù; buồn khổ khóc than, đâu có ích gì cho người chết! Nhà tôi tại nơi ấy, ngài vào thành, thuận tiện ghé qua nhà tôi nhắn: ‘Con trai đã chết, chỉ mang thức ăn cho một người mà thôi!’.
Phạm chí suy nghĩ: ‘Người gì mà không có tình nghĩa vậy? Con trai vừa chết, còn đang nằm trên đất, đã không thương xót mà lại còn muốn ăn cơm. Người này bất nhân, thật không ai sánh bằng’. Thế là ông vào thành, tìm đến nhà người cày ruộng. Vừa gặp mẹ của người đã chết, ông liền nói:
- Con trai bà đã chết, chồng bà nhắn bảo chỉ mang cơm cho một người thôi. Vì sao chồng bà không thương nhớ con mình?
Người mẹ liền nêu một ví dụ để trả lời Phạm chí:
- Lúc đứa con này gá sinh, tôi cũng chẳng gọi đến; khi đứa con này bỏ đi, tôi cũng không thể giữ lại được. Thí như kẻ lữ hành qua đêm nơi quán trọ, sáng ngày ra đi, chủ quán trọ đâu thể giữ lại. Mẹ con tôi cũng như vậy, việc đến đi, sức tôi nào can thiệp được, chỉ tùy theo nghiệp xưa, chứ không ai cứu giúp.
Phạm chí lại đến hỏi chị của người đã mất:
- Em của cô đã chết, vì sao cô không thương khóc? Người chị cũng nêu một ví dụ để trả lời Phạm chí:
- Như một người thợ rừng vào núi đốn cây, sau đó kết bè thả trôi theo dòng sông, bỗng gặp phải gió lớn phá bè vỡ nát, cây gỗ trôi khắp nơi, không thể cứu vãn được. Chị em tôi cũng vậy, do nhân duyên tụ hội, nên sinh vào cùng một nhà, tùy thọ mạng ngắn dài mà tụ hội lâu mau. Sinh tử vô thường, có hợp ắt có tan, thọ mạng em tôi đã hết, tự đến nơi của mình, không ai cứu giúp được.
Phạm chí lại đến hỏi vợ của người đã chết: ‘Chồng cô đã chết, vì sao cô không khóc than?’. Người vợ cũng nêu một ví dụ để trả lời Phạm chí:
- Giống như đàn chim, tối về cùng trú trên cây cao, đến sáng hôm sau mỗi mỗi tự bay đi khắp nơi kiếm ăn. Có duyên thì tụ hội, không duyên thì li tan. Vợ chồng chúng tôi cũng như vậy, oán đối vô thường đến sớm muộn là tùy theo nghiệp xưa, chứ không ai có thể cứu giúp.
Phạm chí lại hỏi nô bộc của người đã chết:
- Chủ ngươi đã chết, sao ngươi không khóc than?
Nô bộc cũng nêu một ví dụ để trả lời Phạm chí:
- Tôi và chủ của mình do nhân duyên mà gặp, tôi như con bê luôn theo mẹ, nếu có người giết bò mẹ, thì dù bê có ở một bên cũng không thể cứu giúp được. Khóc lóc, ưu sầu đâu có ích lợi gì cho người chết.
Phạm chí nghe mọi người trong nhà nói thế, trong lòng hối hận, tự trách rằng mình thật vô trí, nghe nói nhân dân đất nước này hiếu thuận cha mẹ, cung kính phụng sự Tam bảo, cho nên mới từ xa đến đây để cầu học, bây giờ tính lại thì đã uổng công rồi!
Tuy suy nghĩ như thế, nhưng ông cũng hỏi một người đi đường:
- Đức Phật đang an trú nơi nào?
- Đức Phật đang an trú tại tinh xá Kì-hoàn.
Phạm chí liền đến chỗ Phật, đỉnh lễ nơi chân Ngài rồi ngồi sang một bên chắp tay, cúi đầu im lặng, không nói lời nào. Đức Phật biết ý ông, nhưng vân hỏi:
- Vì sao ông cúi đầu im lặng, buồn bã như thế?
- Bạch Thế Tôn! Ước nguyện không thành, sự việc xảy ra trái với bản tâm của con, vì thế không vui. Phạm chí đáp.
- Có điều gì không vừa ý mà ông ưu sầu?_ Đức Phật lại hỏi.
- Con từ nước La-duyệt-kì đến đây là muốn học đạo, nhưng vừa đến đã thấy năm người không có tình nghĩa.
- Thế nào là năm người không cố tình nghĩa?_ Đức Phật hỏi.
- Con thấy cha con người kia đang cày ruộng, gieo giống, bỗng người con bị rắn cắn chết nằm trên đất, người cha và tất cả mọi người trong gia đình ấy đều không mảy may than khóc, sầu bi. Đó là tội lớn.
- Không phải vậy! Ông nói không đúng, năm người này rất có tình nghĩa đấy! Họ biết thân Vô thường, chẳng phải của mình. Từ xưa đến nay, bậc thánh cũng không tránh khỏi họa này, huống gì phàm phu. Khóc nhiều, khóc ít cũng đều vô ích đối với người chết. Người đời không biết sinh tử lưu chuyển chẳng bao giờ dừng.
Phạm chí nghe Đức Phật dạy, tâm ý khai ngộ, như người bệnh được chữa lành, như người mù được sáng mắt, như đêm tối gặp ánh sáng, tức thời chứng đạo tích.
Đức Phật lại dạy :
- Đối với tất cả người chết, thân thuộc không nên khóc than. Chấm dứt sự chết, ngăn chặn sự sinh mới là pháp không ưu sầu. Chết thì thân trở về với đất, sống thì lo tạo dựng và giữ gìn sản nghiệp. Muốn giúp người chết, thân thuộc nên thỉnh Phật và tăng đốt hương chú nguyện, đọc tụng kinh điển, hằng ngày chí thành đĩnh lễ và cúng dường Tam bảo, đó mới là việc làm cần thiết.
Nghe Đức Phật dạy xong, Phạm chí cúi đầu đỉnh lễ nơi chân Ngài và vui vẻ cung kính thực hành”.
Có bài tụng:
Quyến thuộc hay quấy nhiễu
Nhiễm ải loạn tâm thần
Thân sơ chưa xác định
Sao lại khởi ghét thương
Càn thành không thật có
Dương diễm, nai khát tranh
Bặt tâm lên không cảnh
Lìa niệm về nguồn chân.
56.5. CẢM ỨNG
56.5.1. Đời Tấn, cư sĩ Đỗ Nguyện: Ông người ở Bồi thành, Tử Đồng, tự là Vĩnh Bình, gia đình rất giàu có, nhưng chỉ sinh được một bé trai, đặt tên là Thiên Bảo, nên ông rất thương yêu. Niên hiệu Thái Nguyên thứ ba (378), lúc mười tuổi, Thiên Bảo bị một cơn bạo bệnh mà qua đời. Trải qua mấy tháng, một hôm heo nuôi trong nhà sinh được năm heo con, trong đó có một con rất mập khỏe. Ngày kia, nhân vị quan mới đến trấn nhậm, ông muốn dâng lễ, nên bắt heo con mập béo ấy giết. Bỗng nhiên một vị tì-kheo xuất hiện, nói với ông:
- Heo này là con của ông, mới hơn trăm ngày mà ồng đã quên nó rồi sao?
Vừa nói xong, liền biến mất. Ông nhìn khắp thì thấy vị tì-kheo vọt lên hư không bay về phương tây mất dạng, hương thơm tỏa khắp, mấy ngày sau mới hết.
56.5.2. Đời Tấn, Đổng Thanh Kiến: Không biết quê quán nơi đâu, chỉ biết cha ông tên là Hiền Minh, trong khoảng niên hiệu Kiến Nguyên (343-345) làm Việt kị hiệu úy. Mẹ của ông họ Tống, lúc mang thai, mộng thấy một người đến nói:
- Bà nhất định sinh con trai, trên thân đứa bé có một cái bớt xanh, nên đặt tên là Thanh Kiến.
Đến lúc sinh ra, thật đúng như mộng, nên đặt tên như vậy. Ông có dung mạo đẹp, cừ chỉ đúng phép, nói cười khả ái, tính tình hòa nhã, khoan dung với tât cả, người trong nhà chưa bao giờ thấy ông giận dữ, ai thấy cũng đều kính phục. Mới mười bốn tuổi mà ông đã được quan châu đã mời làm Chủ bạ.
Niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (343), Hoàng thái từ đến cai quản vùng Phiền-Hán, đã thăng ông làm chức Thủy tào tham quân. Ngày mười sáu tháng bảy, niên hiệu Kiến Nguyên thứ hai, ông bị bệnh, nhưng nhất định không chữa trị. Đến ngày mười tám, lúc sắp mất, ông ngồi dậy nói với mẹ:
- Tội hết thì phúc sinh, duyên trần vĩnh viễn dứt. Xin mẹ cắt đứt, không cần sầu buồn, nhớ thương.
Sau đó khóc lớn bảy tiếng rồi qua đời. Gia đình dự định an táng ông trước nhà. Đêm hôm đó, linh vê báo:
- Sống chết khác đường, chớ chôn trước nhà, tự sẽ có một vị đạo nhân tạo tượng đến đưa đi an táng!
Sáng hôm sau quả nhiên có một vị đạo nhân tên là Đàm Thuận đến nhà. Mọi người bèn thuật lại lời của linh đã nói. Sư Đàm Thuận bảo:
- Bần đạo trụ tại chùa Nam Lâm, tạo tượng Phật cao một trượng tám, sắp hoàn thành. Con ông đã có cảm ứng này, vậy phía tây của chùa còn một khoảnh đất trống, có thể an táng con ông nơi ấy.
Thế là mọi người an táng ông bên chùa. Ba ngày sau, mẹ ông cùng với khoảng mười người trong thân tộc đến mộ tế lễ, thấy ông hiện ở phía đông mộ, giống như lúc còn sống. Ông nói:
- Xin mẹ chớ buồn thương nữa, hãy trở về! Hiện con đang trú trong chùa!
Người mẹ liền thôi khóc và trở về. Từ đó mọi người trong gia đình đều trường trai. Sang ngày mười một tháng bảy nhuận, cha ông là Hiền Minh mộng thấy ông về báo:
- Xin cha tạm ra nhà đông trú vài hôm.
Hiền Minh dùng nước thơm tắm gội, trai giới thanh tịnh rồi đến nhà đông. Đêm mười bốn, lúc đang ngủ, Hiền Minh nghe có tiềng gọi, giật mình tỉnh giấc và ngồi dậy thì thấy ông hiện ở trước nhà đông, giống như lúc còn sống. Cha ông hỏi:
- Từ đó đến nay con ở đâu?
- Từ lúc qua đời đến nay con ở tại cung Luyện Thần, trọn một trăm ngày con sẽ sinh lên cõi trời Đao-lợi. Không nỡ nhìn cha mẹ, anh chị em khóc thương, sầu thảm, nên trong hai mươi mốt ngày, con lễ chư Phật, Bồ-tát, cầu xin Tứ Thiên vương, nên con được tạm về trong chốc lát. Xin cha mẹ từ nay về sau chớ khóc lóc cúng tế nữa. Mẹ đã nguyện mong được gặp con, thì không bao lâu mẹ cũng sẽ qua đời, được sinh vào một nơi với con. Còn cha có thể sống đến bảy mươi ba tuồi, sau khi qua đời, phải chịu tội báo ba năm, nhưng nếu siêng năng tu đạo thì có thể tránh khỏi.
- Con đến đây vào ban đêm, đâu thể có ánh sáng thế này?
- Hôm nay con xuống đây cùng với các vị bồ-tát và chư thiên, đó là ánh sáng từ thân các ngài.
- Con lên cõi trời gặp được những ai?
- Con thấy Xa kị Vương, ông họ Trương ở Ngô Hưng và ông ngoại Tống Tây Hà. Không chỉ con sinh vào một gia đình này, trong vòng bốn mươi bảy năm nay con đã bảy lần sinh vào bảy nhà. Con đã chứng tứ đạo quả, vì trước kia phát bảy nguyện sinh vào nhân gian, cho nên phải trải qua sinh tử như thế. Từ nay đã xong, xa lìa bảy nơi khổ, lúc lâm chung con thấy sự sinh tử trong bảy nơi, nên khóc bảy tiếng để phân biệt bảy nhà.
- Vậy con đã sinh vào những gia đình nào? Người cha lại hỏi.
- Đã sinh vào các gia đình: Lại bộ Dương Bố ở huyện Giang, Trương Vĩnh ở Quảng châu, Xa kị Vương Huyền, Tống Mô, Tiêu Tuệ Minh, cấp sự Lương Lí Phụ
và nay là Việt kị Đỗng Hiền Minh. Chỉ nơi đây được thọ mạng mười bảy năm, còn những chỗ khác chỉ sống năm, ba tuổi mà thôi. Từ nay về sau, rất nhiều năm có xảy ra dịch bệnh, mọi người nên tu tạo công đức. Con thấy người đời chết đi, phần nhiều rơi vào ba đường, rất ít người được sinh lên cõi trời, phải siêng năng tu tập mới thoát khổ. Nếu phát nguyện sinh về cõi trời thì cũng có thể cùng tương kiến. Nếu hạnh nghiệp sai khác thì không có ngày gặp nhau!
- Mẹ của con đau buồn, nhớ thương không nguôi, có thể cho bà ấy gặp được không?- Không cần gặp đâu! Gặp chỉ càng tăng thêm sầu khổ, chỉ cần cha thuật lại những lời con vừa nói là được. Thôi! Chư thiên đã đi, con cũng không thể ở lại lâu!
Nét mặt Thanh Kiến chợt phảng phất nét buồn, rồi bỗng nhiên biến mất. Sau khi Thanh Kiến đi, khắp rừng trúc còn thoang thoảng mùi hương, người trong nhà cũng nhận biết được, về sau Hiền Minh cũng xuất gia pháp hiệu là Pháp Tạng.
56.5.3. Đời Tống, Viên Quách: Viên Quách tự là Tư Độ, người quận Trần, trong khoảng niên hiệu Nguyên Huy (473-477) làm quận thừa ở quận Ngô. Một hôm ông bị bệnh, trải qua vài ngày thì mê man như người chết, chỉ còn hơi thở thoi thóp. Người nhà chuẩn bị đầy đủ quan quách, đợi tắt hơi là tẩm liệm. Nhưng ba ngày sau, ông cử động, nháy mắt và kể lại:
- Có một sứ giả tự xưng là Giáo dẫn tôi đến một tòa thành lớn, trong đó lầu đài, cung điện nguy nga tráng lệ. Sứ giả bảo tôi vào, lúc ấy thấy chủ nhân ngồi hướng mặt về nam, đài bệ cao rộng, áo mão uy nghiêm. Một người cầm đao chỉ chỗ cho tôi ngồi. Sau khi ngồi yên, nghỉ ngơi mát mẽ xong, chủ nhân cho bày rượu thịt, bánh trái, món ngon vật lạ, tôi liền nếm qua, cảm thấy chủng loại và mùi vị không khác các món ăn thế gian. Qua vài tuần rượu, vị chủ nhân kia nói với tôi:
- Chủ bạ thật không may, nội cung đây đang khuyết nhiệm, vì chủ bạ tài cao, nên muốn mời thỉnh, không biết ngài có chiếu cố không?
Biết đây là cõi u minh, nên tôi cố từ chối:
- Phàm phu phúc mỏng, không kham nhận nổi. Lại thêm gia đình nghèo khốn, cô độc, anh em li tán. Việc công, việc tư đều bận rộn, xin chủ nhân ban ân cho về.
- Ông cho hai đường âm dương khác biệt cho nên mới cố từ chối. Nhưng ở đây công danh lợi dưỡng chu cấp cho thân miệng còn hơn cả thế gian. Vị chủ nhân chí thành tha thiết mời thỉnh, rất muốn được cộng sự. Tưởng tôi đổi ý chấp thuận, mới định ngày nhậm chức, nhưng tôi vẫn cố xin:
- Con tôi còn rất nhỏ, một khi tôi trấn nhiệm ở đây, thì chúng biết nương nhờ vào đâu. Cha con luyến nhớ, thật đáng xót thương! _Tôi khóc lóc, dập đàu cầu xin. Vị chủ nhân ấy nói:
- Ông cố từ chối như thế, tôi đâu thể ép buộc được. Chỉ ước nguyện của tôi không thỏa, thật đáng buồn. Nói xong, vị chủ nhân bèn mở một quyển sách trên bàn, rồi gạch xóa trong đó. Sau đó tôi tạ ân, xin được từ biệt mà trở về. Vị chủ nhân nói:
- Ông không muốn thăm viếng những người thân đã mất sao?_Thế là chủ nhân cho người đưa tôi đi qua rất nhiều dinh thự phòng ốc. Cuối cùng đến một dãy nhà ngục có tường thành và cổng đều màu đen. Ngục tốt dẫn tôi vào, đưa đến một góc ngục thành, nơi đây phòng ốc san sát, liên tiếp nhau, nhưng rất tồi tàn. Lại được đưa vào một phòng nọ, tồi thấy mẹ là Dương thị hình dung tiều tụy, áo quần thô xấu, không giống lúc còn sống. Thấy tôi, bà vừa vui vừa sợ; phòng bên cạnh cũng có một người, thân thể đầy ung nhọt, hình dáng kì dị, người ấy kêu tên Quách. Tôi vô cùng kinh hãi, hỏi mẹ tôi người ấy là ai. Mẹ tôi nói: “Đó là Vương phu nhân, con không biết sao?”.
Vương phu nhân nói:
- Lúc còn tại thế, tôi không tin có báo ứng, tuy không gây tội gì nặng, nhưng vì đánh đập, hành hạ nô bộc quá khổ đau, cho nên phải chịu tội này. Từ khi tôi chết đến nay luôn chịu nỗi khổ này, chưa có phút giây dừng nghỉ. Chỉ hôm nay mới có chút thời gian an ổn. Khi trước, ta có gọi chị con đến, hi vọng thay ta chịu khổ chút ít, nhưng không được, chỉ tăng thêm sầu khổ!
Nói xong bà lại khóc than. Vương phu nhân là đích mẫu của tôi, bấy giờ chị của tôi cũng đang ở bên cạnh. Một lát sau sứ giả dẫn tôi đi, trải qua nhiều làng mạc, xóm thôn sắp xếp ngay ngắn, trật tự, giống như nhân gian, cuối cùng đến một ngôi nhà tranh vách nứa, thì thấy cha tôi đầu vấn khăn, đang ngồi tựa vào bàn. Thấy tôi vào, ông khoát tay bảo:
- Con đã được tha, sao không mau trở về? Không cần đến đây!
Thế là tôi quì lạy từ biệt cha rồi trở về. Sứ giả liền đưa tôi đến nhà.
Khi viết bài này, Viên Quách đang làm chức Thái tử tẩy mã.
56.5.4. Đời Đường, sa-môn Tuệ Như ở chùa Chân Tịch: Sư thờ ngài Tín Hành làm thầy, siêng năng tu hành khổ hạnh, sau khi ngài Tín Hành thị tịch, sự kế thừa dòng pháp cùa thầy. Vào khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-617) đời Tùy, một hôm sư nhập định, bảy ngày bất động, mọi người đều kinh ngạc. Sau đó sư mở mắt khóc như mưa, mọi người thấy lạ mới hỏi nguyên do. Sư đáp:
- Lửa đốt chân, đau quá không thể chịu nổi! Đợi ta xem vết thương rồi sẽ nói.
Mọi người vội hỏi. Sư kể: “Hôm ấy vua Diêm-ma thỉnh ta giảng đạo, ta giảng bảy ngày thì xong. Lúc ấy vua hỏi:
- Thầy muốn gặp những người quen biết trước kia đã mất không?
- Muốn gặp hai người!
Vua liền sai sứ giả cho gọi một người. Lúc ấy ta chỉ thấy con rùa bò đến liếm bàn chân ta, rơi lệ rồi bỏ đi. Sau đó, sứ giả nói: “Còn người kia, vì tội nặng không thể gọi đến được, chỉ có thể đến đó thăm mà thôi”. Sứ giả dẫn ta đến ngục thất, thấy cửa đóng kín, sứ giả gọi, có người lên tiếng. Sứ giả nói:
- Ngài mau tránh sang một bên, chớ đứng ngay cửa!
Ta vừa tránh qua thì cửa mở, một luồng lửa dữ dội như lửa luyện thép từ bên trong vọt ra bắn trúng chân, ta ngước mắt nhìn lên thì cửa đã đóng, không thấy gì nữa. Diêm vương cúng dường ba mươi xấp lụa, ta cố từ chối nhưng không được. Diêm vương nói đã đưa đến phòng rồi. Nghe thế tăng chúng vội đến xem, thì thấy số lụa ấy đã ở trên đơn. vết bỏng trên chân sư bằng đồng tiền, hơn trăm ngày sau mới lành.
Sư thị tịch vào niên hiệu Vũ Đức thứ nhất (618). Chùa Chân Tịch nay là chùa Hóa Độ.
56.5.5. Đời Đường, Vương Hội Sư: Ông có người mẹ qua đời đã mãn tang. Khoảng niên hiệu Hiển Khánh thứ hai (657), chó nuôi trong nhà sinh một con chó cái màu lông xanh vàng. Một hôm vợ của Hội Sư nghi chó trộm thức ăn, nên đánh mấy gậy. Chó bỗng nhiên nói tiếng người:
- Ta là mẹ chồng cô, con dâu đánh ta, thật lầm lớn! Do ngày trước ta đối xử với gia nhân quá khắt khe, nên phải chịu quả báo này. Hôm nay ta bị đánh, thật hổ thẹn với với các ngươi quá!
Nói xong chó vụt chạy ra ngoài, Hội Sư nghe được, khóc lóc chạy ra ôm vào nhà. Nhưng chó lại bỏ đi, người nhà lại dẫn về. Qua bốn năm lần như thế, Hội Sư dò xét thì biết chó muốn xin đến ở khu phố phía bắc chợ, chính là nơi có đoạn tường lớn, phía bắc nhà mình ngày trước. Ông bèn xây một ngôi nhà nhỏ nơi ấy để đưa chó đến trú, mỗi ngày đều mang thức ăn đến. Người trong chợ và khách bộ hành đến xem rất đông, vô số bánh được ném vào. Chó ở mãi trong nhà, quá ngọ thì không chịu ăn. Một hai năm sau không biết nó bỏ đi đâu.
56.5.6. Đời Đường, cư sĩ Lí Tín: Ông người ở làng Thái Bình, huyện Văn Thủy, Tinh châu, làm vệ sĩ trong phủ Long Chính. Mùa đông niên hiệu Hiển Khánh thứ nhất (656), theo lệ ông đến Sóc châu để đổi phiên. Ông cưỡi con ngựa cái màu đỏ và dắt theo một ngựa non. Bấy giờ đang lúc cuối năm, bầu trời u ám, gió rét lạnh, tuyết rơi rất dày, được vài chục dặm thì ngựa không chịu đi. Tín cho rằng thời gian đổi phiên rất cấp bách, nên đánh ngựa mấy chục roi, bỗng nhiên ngựa nói tiếng người:
- Ta là mẹ ngươi, vì lúc còn sống đã lén cha ngươi lấy hơn một thạch gạo cho con gái, nên nay bị quả báo này. Ngựa non này là em gái ngươi, dốc sức trả nợ cho ngươi, sao ngươi lại bức ép, khốn khổ như thế!
Tín nghe xong, vô cùng kinh hãi, khóc lóc bi thương, liền lễ lạy tạ tội. Sau đó ông tháo yên cương trên mình ngựa và tự mình mang vác. Ông nói:
- Nếu là mẹ của Tín thì tự dẫn đường về nhà.
Thế là ngựa đi trước, Tín mang yên cương theo về đến nhà. Anh em của Tín thấy vậy, nhìn nhau bi cảm xót xa, rồi làm riêng một ngôi nhà, ngày đêm dưỡng nuôi giống như mẹ lúc còn sống. Lại thỉnh tăng đến cúng dường, cả nhà siêng năng tu tập. Đạo tục, thân thuộc, mọi người trong làng đều cho là hi hữu. Bấy giờ gia đình Công bộ thị lang Ôn Vô An, Ti pháp Kì châu Trương Kim Đình đều có tang cha mẹ, nghe nói việc này đều cho là kì lạ, đích thân đến nhà Tín, thấy ngựa vẫn còn, bèn hỏi nguyên do thì đúng như lời truyền.
57. CHƯƠNG SO SÁNH HƠN KÉM
57.1. LỜI DẪN
Từng nghe: Hiểu thấu một lẽ thì tính toán trọn muôn đường, thiện ác đã làm thì chịu quả báo lên xuống. Giọng lớn nhỏ tùy phương âm, thanh ngắn dài tùy theo khu vực; đức đã có ẩn hiển, nên hạnh cũng có cạn sâu. Cho nên chư thánh hóa độ, đều do cảm mà ứng, hoặc bày điều lạ mà hiện tướng, hoặc ẩn hình không lưu dấu. Qui tắc tuy khác nhau, nhưng chỉ một mục đích là hoàng đạo, nếu không so sánh đâu biết được hơn kém!
57.2. ĐỐI TƯỢNG NHÂN THÍ
Kinh Phật bản hạnh ghi: "Đức Phật bảo Tu-đạt: - Ngày xưa có một vị bà-la-môn tên là Tì-lam, dung mạo đoan nghiêm không ai bằng, thông minh trí tuệ, của cải vô lượng không thể tính kể. Tì-lam nghĩ rằng của cải mà ta đang có đều vô thường, ta không cần dùng đến, nên bố thí cho những người nghèo khổ, thiếu thốn.
Thế là Tì-lam liền thiết lập đàn tràng bố thí, nhân dân trong nước đều tụ tập đến. Tì-lam rửa tay, bỗng nhiên nước trong bình không chảy ra. Tì-lam vô cùng buồn bã, suy nghĩ: ‘Hôm nay ta mở hội bố thí hẳn có lỗi lầm gì, nên nước không chảy?’. Ngay lúc đó, chư thiên đứng giữa hư không nói với Tì-lam:
- Việc bố thí của ngài quí báu không gì sánh bằng. Nhưng người nhận của thí đều là kẻ tà kiến, điên đảo, không phải là bậc thanh cao, không nhận nổi tâm cung kính bố thí của ngài. Do đó, nước không chảy ra.
Nghe chư thiên nói, Tì-lam khai mở tâm ý, bèn lập thệ: “Hôm nay, ta bố thí của cải để cầu đạo Vô thượng chính chân. Nếu chắc chắn đúng như nguyện, thì nước sẽ tự chảy xuống tay ta”.
Tì-lam vừa dứt lời, bỗng nhiên nước trong bình chảy xuống tay ông. Chư thiên đứng giữa hư không tán thán:
- Hay thay! Hay thay! Chẳng bao lâu nữa ngài sẽ thành Phật đúng như sở nguyện!
Kể từ đó, suốt mười hai năm, Tì-lam luôn bố thí y phục, chăn màn, thức uống ăn, tất cả những thứ cần thiết cho người thiếu thốn. Voi, ngựa, trân bảo, mỹ nữ.., ông đều bố thí không giữ lại vật gì.
Đức Phật bảo:
- Này Tu-đạt! Bà-la-môn Tì-lam thuở xưa, nay chính là Ta. Lúc đó, Ta bố thí với tâm thuần thiện, vật bố thí cũng tốt, nhưng do người nhận bất thiện nên vật thí tuy nhiều mà công đức chẳng được bao nhiêu. Còn nay, giáo pháp của Ta chân thật, vi diệu, thanh tịnh, đệ tử của ta chân chính, nên bố thí cho giáo đoàn của Ta tuy ít mà công đức rất nhiều. Thế thì công đức mà Tì-lam bố thí trong mười hai năm cho tất cả nhân dân trong Diêm-phù-đề không bàng công đức bố thí cho một vị tu-đà-hoàn.
Công đức cúng dường cho một trăm vị tu-đà-hoàn cộng với công đức bố thí như Tì-lam cũng chẳng bằng công đức cúng dường cho một vị tư-đà-hàm.
Công đức cúng dường cho một trăm vị tư-đà-hàm, cộng với tất cả công đức bố thí ở trên cũng chẳng bằng công đức cúng dường cho một vị a-na-hàm.
Công đức cúng dường cho một trăm vị a-na-hàm, cộng với tất cả công đức bố thí ở trên cũng chẳng bằng công đức cúng dường cho một vị a-la-hán.
Công đức cúng dường cho một trăm vị a-la-hán, cộng với tất cả công đức bố thí ở trên cũng chẳng bằng công đức cúng dường cho một vị bích-chi phật.
Cộng tất cả công đức cúng dường cho nhân dân cõi Diêm-phù trong mười hai năm, cho một trăm vị tu-đà-hoàn, một trăm vị tư-đà-hàm, một trăm vị a-na-hàm, một trăm vị a-la-hán và một trăm vị bích-chi phật cũng chẳng bằng công đức xây tháp, lập tăng phòng, dựng tinh xá, cúng dường y phục, mùng mền, giường chiếu, thức ăn, thức uống cùng tất cả những vật dụng cần thiết cho chúng tăng, sa-môn, đạo sĩ khắp nơi trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
Nhưng gom hết công đức vừa nêu trên cũng không bằng công đức cúng dường một vị Phật. Công đức cúng dường cho Phật, cộng với tất cả công đức trên cũng chẳng bằng công đức của người thụ tam qui, giữ năm giới, hoặc thụ bát quan trai giới trong một ngày, vì công đức ấy lớn gấp trăm nghìn vạn lần, không thể tính kể.
Lại nữa, công đức trì giới kia cộng với tất cả công đức đã nêu trên cũng chẳng bằng công đức của người ngồi thiền khởi tâm niệm thương yêu chúng sinh trong khoảng một bữa ăn, vì công đức ấy lớn gấp trăm nghìn vạn lần. Lại gom tất cả công đức: bố thí cho nhân dân trong Diêm-phù-đề của Tì-lam, cúng dường sa-môn chứng bốn quả thánh, bích-chi phật, xây tháp, lập tăng-già-lam cho đến cúng dường Phật, giữ giới, ngồi thiền, khởi tâm niệm thương yêu chúng sinh... cũng chẳng bằng công đức nghe pháp, ghi nhớ kĩ, tư duy tứ đế cùng các pháp vô thường, khổ, không, phi thân, nê-hoàn tịch diệt. So với tất cả công đức đã làm ở trước, công đức này lớn hơn cả, không có gì sánh được.
Nghe Đức Phật dạy, Tu-đạt vô cùng hoan hỉ, thân tâm thanh tịnh, liền chứng quả A-na-hàm”.
57.3. THẬP ĐỊA
Kinh Kim cang tam-muội bất hoại bất diệt ghi: “Đức Phật bảo bồ-tát Di-lặc:
- Hôm nay ta sẽ chỉ dạy cho các ông về công đức của các địa, là pháp tu tập của bồ-tát. Bồ-tát Sơ địa giống như trăng mồng một, ánh sáng chưa tỏ, nhưng đã đầy đủ tướng sáng, bồ-tát Nhị địa như trăng mồng năm, bồ-tát Tam địa như trăng mồng tám, bồ-tát Tứ địa như trăng mồng chín, bồ-tát Ngũ địa như trăng mồng mười, bồ-tát Lục địa như trăng mười một, bồ-tát Thất địa như trăng mười hai, bồ-tát Bát địa như trăng mười ba, bồ-tát Cửu địa như trăng mười bốn, bồ-tát Thập địa như trăng rằm, mặt trăng tròn đầy, ánh trăng sáng tỏ, mọi người đều thích nhìn. Tâm bồ-tát Thập địa rỗng rang, an trụ không lay động, không đắm trước vị thiên định, không lui sụt, trụ trong định Thủ-lăng-nghiêm”.
Cũng như Nhiếp luận thích của Vô Tính ghi: “Khi bồ-tát Sơ địa chứng Pháp giới thì thông đạt tất cả các địa, nghĩa là đang lúc bồ-tát Sơ địa thông đạt, thì lập tức thông đạt tất cả các địa sau”.
Có bài tụng:
Chẻ tre, phá đốt đầu
Tất cả đốt đều phá
Được chân trí Sơ địa
Chóng được các địa khác.
57.4. NGHIỆP NHÂN PHÚC
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Phúc đức của tất cả người trong cõi Diêm-phù-đề bằng phúc đức của một vị Chuyển luân thánh vương; phúc đức của tất cả Chuyển luân thánh vương bằng phúc đức của một người dân cõi Đông Phất-vu-đãi; phúc đức của tất cả nhân dân cõi Đông Phất-vu-đãi bằng phúc đức của một người ở châu Câu-na-di; phúc đức của tất cả người ở châu Câu-na-di bằng phúc đức của một người ở châu Ưất-đơn-việt; phúc đức của tất cả người ở châu uất-đơn-việt bằng phúc đức của một vị Tứ thiên vương; phúc đức của Tứ thiên vương bằng phúc đức của một vị trong ba mươi hai vị trời; phúc đức của ba mươi hai vị trời bằng phúc đức của Đế Thích; phúc đức của tất cả Đế Thích bằng phúc của một Diêm-ma thiên... Cứ so sánh như vậy cho đến phúc trời Phi Tưởng thật không thể tính lường”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Dục lạc mà Kim luân vương hưởng thụ không bằng một phần mười sáu của năm món dục mà trời Ba Mươi Ba thụ hưởng. Bởi thân trời này không có xương thịt, không hôi dơ, không ganh ghét, mắt không nháy, y phục không bao giờ nhiễm bụi dơ, không có khói mù, không có đại tiểu tiện, ánh sáng từ thân chiếu rất xa; Chuyển luân thánh vương không có các đặc tính này. Chư thiên không chiếm giữ riêng vợ con của mình, không khởi tâm ganh ghét, tùy ý ăn uống, không các nỗi khổ ngủ nghỉ, nhọc mệt; Luân vương không có các đặc tính này. Một vị trời khi mới sinh ra đã biết ca múa, đánh đàn... mà không cần học từ người khác, vì nghiệp thiện chiêu cảm như thế; khi mất thân trời, nghiệp thiện hết, thì cũng sẽ quên những việc này. Cõi trời Đao-lợi mà còn có niềm vui lớn như thế, huống gì các cõi trời trên, hẳn niềm vui thật không thể sánh; cho đến thứ tự so sánh từ dưới lên trên, đến cõi Phi tưởng, thì biết niềm vui thật vô cùng”.
57.5. NGHIỆP NHÂN TỘI
Kinh Thập luân ghi: “Đức Phật dạy:
- Nếu có Chiên-đà-la vương dòng Sát-lợi khởi tâm ác đối với Tam bảo, thì tất cả chư Phật cũng không thể cứu được. Như ép dầu, người ta dùng bánh xe ép mè để lấy được dầu. Trong mỗi hạt mè đều có côn trùng, như vậy người ép dầu trong một ngày đêm giết biết bao nhiêu sinh mạng! Nếu có người dùng mười bánh xe để ép dầu, mỗi một bánh xe trong một ngày một đêm ép một nghìn hộc mè, ép mãi trọn một nghìn năm, vậy người này phạm bao nhiêu tội sát sinh?
Bồ-tát Địa Tạng nói: ‘Bạch Thế Tôn! Rất nhiều, không thể tính biết tội của người này. Chỉ có chư Phât mới biết mà thôi!
Đức Phật dạy: ‘Tội Thập luân này bằng tội của một nhà dâm chứa một nghìn dâm nữ, tội của mười nhà dâm này bằng tội của một quán rượu, tội của mười quán rượu bằng tội của một nhà đồ tể, tội của mười nhà đồ tể bằng tội cùa một cư sĩ Chiên-đà-la dòng Sát-lợi. Thế Tôn lại nói kệ:
Tội Thập luân bằng một nhà dâm Mười nhà dâm bằng một quán rượu Mười quán rượu bằng một lò mổ Mười lò bằng một Chiên-đà-la
57.6. TẠP NGHIỆP
Kinh Thụ-đề-già ghi:
Vật gì cao hơn trời?
Ngã mạn cao hơn trời,
Vật gì nặng hơn đất?
Giới đức nặng hơn đất,
Gì nhiều hơn cỏ cây?
Loạn tưởng thật nhiều hơn
Vật gì nhanh hơn gió?
Ý niệm nhanh hơn gió,
Tu gì sinh cõi trời?
Thập thiện sinh cõi trời
Pháp gì đắp thân người?
Năm giới đắp thân người,
Làm gì rơi địa ngục?
Thập ác rơi địa ngục,
Tạo gì đọa súc sinh?
Đấu nhau đọa súc sinh,
Gì cứng như kim cương?
Không chấp như kim cương
Gì mềm như lông hạc?
Đó là tâm nhu hòa,
Gì thơm như chiên-đàn?
Trì giới thơm như thế,
Gì sáng như trời trăng?
Đó là ánh sáng Phật,
Pháp gì vững như núi?
Tọa thiền vững như núi,
Vật gì động như đất?'
Ba cõi động như thế,
Thanh tịnh nhất là gì?
Nê-hoàn thanh tịnh nhất,
Pháp gì uế trược nhất?
Sinh tử uế trược nhất,
Cao nhất là những gì?
Nhà hòa hợp cao nhất,
Núi nào là sáng nhất?
Tu-di là sáng nhất,
Nước nào an lạc nhất?
Xá-vệ an lạc nhất,
Nước nào đông dân nhất?
Là Ca-thấp-di-la,
Thú nào đùa trong núi?
Hươu nai đùa trong núi,
Loài nào thích núi rừng?
Chồn cáo thích núi rừng,
Vật gì trong gió bụi?
Cát đá trong gió bụi,
Loài nào đùa vực sâu?
Cá chép đùa vực sâu
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Có một thiên tử thuyết kệ hỏi Phật:
Giới, oai nghi thế nào?
Được gì, tạo nghiệp gì?
Người trí trụ thế nào?
Làm sao được sinh thiên?
Đức Thế Tôn cũng dùng kệ đáp:
Xa lìa nghiệp sát sinh
Giữ giới tự phòng hộ
Không khởi tâm giết hại
Thì được sinh cõi trời.
Không lấy vật không cho
Vui nhận vật được cho
Dứt trừ tâm trộm cắp
Thì được sinh cõi trời.
Chẳng gần gũi vợ người
Xa lìa nghiệp tà dâm
An phận với vợ mình
Thì được sinh cõi trời.
Nên mình và vì người
Vì của và cười đùa
Cả vọng ngữ đều dừng
Thì được sinh cõi trời.
Đoạn dứt nghiệp lưỡng thiệt
Không li gián bạn người
Thường muốn luôn hòa hợp
Thì được sinh cõi trời.
Không nói lời thô ác
Lời êm, không hại người;
Thường nói lời thuần thiện,
Là con đường sinh thiên.
Không nói lời luống suông,
Vô nghĩa, không lợi ích
Thường nói lời đúng pháp,
Là con đường sinh thiên.
Trong xóm làng, đồng vắng,
Thấy lợi, nói của ta
Không khởi tưởng tham này,
Là con đường sinh thiên.
Tâm từ, không ý hại
Không hại các chúng sinh
Trong tâm không oán kết,
Là con đường sinh thiên.
Nghiệp khổ và quả báo,
Cả hai đều nên tin
Luôn giữ vững chính kiến
Là con đường sinh thiên.
Những pháp lành như thế
Là thập thiện nghiệp đạo;
Nên giữ cho thật chắc,
Là con đường sinh thiên.
Thích-đề-hoàn-nhân nói kệ:
Pháp gì mạng không biết?
Pháp gì mạng không hay?
Pháp gì xiềng xích mạng?
Pháp gì trói buộc mạng?
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Sắc pháp, mạng không biết
Các hành, mạng không hay
Thân luôn xiềng xích mạng,
Ái mãi trói buộc mạng.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Thế Tôn đưa tay nắm một hòn đất bằng quả lê, rồi hỏi các tì-kheo:
- Thế nào? Nắm đất trong tay ta nhiều hay đất trên núi Đại Tuyết nhiều?
- Bạch Thế Tôn! Nắm đất trong tay Ngài rất ít, đất ở núi Đại Tuyết thì nhiều không thể tính được!
- Này các thầy tì-kheo! Chúng sinh biết bốn đế khổ tập diệt đạo ít như đất nắm trong tay ta, chúng sinh không biết đúng như thật thì nhiều như đất ở núi Đại Tuyết. Thế Tôn lại dùng móng tay khều một ít đất rồi hỏi:
- Các ông nghĩ sao! Đất trong móng tay ta nhiều hay đất trong cả đại địa này nhiều?
- Bạch Thế Tôn! Đất trong móng tay Ngài quá ít, còn đất trong đại địa thì nhiều vô kể, không thể tính được!
- Này các thầy tì-kheo! Những chúng sinh có thân hình mà nhìn thấy được, thì ít như đất trong móng tay, còn những chúng sinh có thân hình quá nhỏ, không thể nhìn thấy thì nhiều như đất trên đại địa. Chúng sinh sống trong nước, nhiều ít cũng như vậy. Chúng sinh được sinh vào cõi người thì ít như đất trong móng tay, còn sinh vào loài phi nhân thì nhiều như đất trên đại địa. Người sinh vào vùng thành thị thì ít như đất trong móng tay, người sinh nơi biên địa thì nhiều như đất trên đại địa. Người thành tựu được tuệ nhãn bậc thánh thì ít như đất trong móng tay, còn người không thành tựu thì nhiều như đất trên đại địa. Người biết pháp biết luật thì ít như đất trong móng tay, còn người không biết thì nhiều như đất trên đại địa. Người biết có cha mẹ thì ít như đất trong móng tay, còn người không biết thì nhiều như đất trên đại địa. Người biết thụ trì trai giới thì ít như đất trong móng tay, còn người không biết thì nhiều như đất trên đại địa. Chúng sinh từ địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh mạng chung được sinh vào cõi người thì ít như đất trong móng tay, còn chúng sinh từ địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh mạng chung sinh trở vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh thì nhiều như đất trên đại địa. Chúng sinh từ địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh mạng chung được sinh vào cõi trời thì ít như đất trong móng tay, còn chúng sinh từ địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh mạng chung sinh trở vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh thì nhiều như đất trên đại địa. Chúng sinh ở cõi trời mệnh chung được sinh lại cõi trời thì ít như đất trong móng tay, còn chúng sinh ở cõi trời mệnh chung sinh vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh thì nhiều như đất trên đại địa”.
57.7. CÕI NƯỚC HƠN KÉM
Kinh Khởi thế ghi: “Châu Diêm-phù-đề có năm điều quí giá hơn các châu Cu-đà-di, Phất-ba-đề, Ưất-đơn-việt, Diêm-ma-thế và tất cả loài rồng, chim cánh vàng, a-tu-la. Năm điều là: mạnh mẽ, chính niệm, nơi Phật xuất hiện, nơi tu tập đạo nghiệp, nơi tu tập Phạm hạnh.
Châu Cù-đà-di có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: nhiều bò, nhiều dê, nhiều châu ma-ni. Châu Phất-ba-đề có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: diện tích rộng lớn, dung chứa các cồn bãi, rất đẹp. Châu uất-đơn-việt có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: người nơi đây không chấp ngã và ngã sở, thọ mạng dài lâu, có hạnh thắng thượng. Diêm-ma-thế có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: thọ mạng dài lâu, thân chúng sinh cao lớn, y phục và thức ăn tự nhiên hiện ra. Tất cả loài rồng, chim cánh vàng có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: thọ mạng dài lâu, thân hình cao lớn, cung điện rộng lớn. A-tu-la có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: thọ mạng dài lâu, hình sắc rất đẹp, nhiều niềm vui. Trời Tứ Thiên Vương có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: cung điện cao rộng, cung điện rất đẹp, cung điện có ánh sáng rực rỡ. Trời Ba Mươi Ba có ba việc tốt hơn Diêm-phù-đề: trường thọ, hình sắc đẹp, nhiều niềm vui. Bốn cõi trời trên và trời Ma-thân đồng cõi Đao-lợi, cũng có ba việc tốt đẹp”.
Có bài tụng:
Ác nhiều chẳng thể tính
Thiện ít, có thể bày
Sinh trời người thật hiếm
Đọa đường ác rất nhiều
Sang hèn dễ chuyển đổi
Giàu nghèo do khác nhân
So sánh hơn và kém
Vui khổ và xuống lên.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
29/11/2015
PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...
22/11/2015
PUCL QUYỂN 47 - CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM, HÒA THUẬN
QUYỂN 47 Quyển này gồm hai chương: Trừng phạt lỗi lầm, Hòa thuận. 46. CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM 46.1. LỜI DẪN Hình hài gây nhiều họa, đúng lí phải răn dè; căn thức hôn trầm, theo lẽ luôn cảnh tỉnh. Cho nên kinh Di giáo g...
