Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 45 - CHƯƠNG KHUYÊN CAN

21/11/2015

QUYỂN 45 Quyển này gồm hai chương: Nghe lời khuyên can, Suy xẻt kĩ. 42. CHƯƠNG NGHE LỜI KHUYÊN CAN 42.1. LỜI DẪN Hễ chấp thuận nghĩa lí thì không có gì phải nói, nhưng đã trái ý thú thì tranh luận nổi lên. Nhưng lời ngay...

PUCL QUYỂN 45 - CHƯƠNG KHUYÊN CAN
Phần 1

QUYỂN 45
Quyển này gồm hai chương: Nghe lời khuyên can, Suy xẻt kĩ.
42. CHƯƠNG NGHE LỜI KHUYÊN CAN

42.1. LỜI DẪN
Hễ chấp thuận nghĩa lí thì không có gì phải nói, nhưng đã trái ý thú thì tranh luận nổi lên. Nhưng lời ngay thẳng là gốc cùa đức, tâm thụ nhận là nguồn của muôn hạnh. Vì thế nhờ lời mà đức được tỏ, do thụ nhận mà hạnh vẹn toàn. Như mắt không tự thấy được mặt mình, nhất định phải nhờ gương soi; tóc chẳng thể nào tự suông, át phải mượn lược chải. Cho nên thấy được mặt là nhờ khả năng của gương, tóc được thảng suông ắt do công năng của lược; hạnh được tỏa thơm là do sự trợ giúp của lời vậy. Vì thế thân sắp bại, nhất định do không nghe lời can gián; mạng sắp tàn, hẳn do không được lương y chữa trị.
42.2. DẪN CHỨNG
Kinh Tạp bảo tạng ghi:
- Ngày xưa, vua nước Ca-thi tên là Ác Thụ thường làm điều phi pháp, bạo ngược vô đạo, gây khổ đau cho muôn dân. Nếu có khách buôn từ các nơi đến, tất cả vật quý báu tốt đẹp của họ đều bị vua đánh thuế đoạt lấy, không trả tiền. Do vậy, vật báu trong nước rất đắt. Mọi người truyền tai nhau, tiếng ác của vua vang khắp.
Bấy giờ, chim anh vũ chúa ở trong rừng, nghe người đi đường đều oán trách vua ác độc, liền suy nghĩ: ‘Ta tuy là loài chim mà còn biết đó là điều sai trái, nay ta phải đến chỉ con đường lành cho vua. Nếu vua nghe theo lời ta, ắt sẽ cho rằng: ‘Con chim chúa kia còn biết nói lời hiền thiện, sao ta là vua mà lại để nó chê trách?’, có thể ông ấy sẽ sửa đổi.
Nghĩ xong, anh vũ chúa bay đến vườn của vua, liệng quanh rồi đậu trên một cành cây. Gặp lúc phu nhân nhà vua vào vườn dạo chơi, anh vũ chúa liền vỗ cánh kêu vang, rồi nói: ‘Nay vua thật là bạo ngược vô đạo, tàn sát muôn dân, giết hại cả loài chim thú. Người và vật đều căm phẫn, tiếng ai oán đầy khắp thiên hạ, phu nhân cũng độc ác giống như vua vậy. Là bậc cha mẹ của dân, há lại như thế sao?’.
Nghe vậy, phu nhân vô cùng tức giận, suy nghĩ: ‘Sao con chim bé nhỏ này lại trách mắng ta thậm tệ như thế?’.
Thế là, phu nhân sai người đuổi bắt chim anh vũ.
Không chút sợ hãi, anh vũ bèn đậu trên tay người định bắt mình. Phu nhân bắt được chim, liền mang đến cho vua. Vua hỏi anh vũ:
- Vì sao ngươi trách mắng ta?
Anh vũ trả lời:
- Tôi nói những việc làm sai quấy của vua là muốn giúp ích cho vua, chứ tôi đâu dám mắng vua!
Khi ấy, vua hỏi:
- Ta đã làm điều gì sai quấy?
Anh vũ trả lời:
- Có bảy điều sai quấy, làm nguy hại đến tính mạng của vua.
Vua hỏi:
- Bảy điều ấy là gì?
Anh vũ kể:
l. Say đắm nữ sắc, không trọng người chính trực.
2. Đam mê rượu chè, không chăm lo việc nước.
3. Ham cờ bạc, không giữ gìn phép tắc.
4. Không có tâm từ, chuyên săn bắn giết hại.
5. Hay nói lời ác, không nói lời hiền thiện.
6. Sưu cao, thuế nặng, hình phạt khắt khe, gấp bội lệ thường.
7. Bất chấp đạo nghĩa, cướp tài sản của dân.
Đó là bảy điều làm nguy hại cho vua. Lại có ba điều làm cho đất nước suy đồi.
Vua lại hỏi:
- Ba điều đó là gì?
Anh Vũ nói:
1- Gần gũi với những hạng dua nịnh, độc ác.
2- Không thân cận những bậc hiền tài, không học hỏi điều hay, lẽ phải.
3- Thích xâm chiếm nước khác, không chăm lo đời sống của dân.
Nếu đại vương không bỏ ba điều này, chẳng bao lâu đất nước sẽ bị diệt vong. Làm quân vương, cả nước đều hướng về trông cậy, thì vua phải như cây cầu, cứu giúp muôn dân; phải như cái cân, thân sơ đều đối xử bình đẳng; phải như con đường, không lệch dấu chân của bậc thánh; như mặt trời, chiếu sáng khắp thế gian; như mặt trăng, làm muôn vật mát dịu; như cha mẹ, thương yêu nuôi dưỡng muôn dân; như trời cao, che phủ mọi loài; như đất rộng, dưỡng nuôi vạn vật; như ngọn lửa, thiêu rụi tai họa cho trăm họ; như dòng nước, thấm nhuần khắp nơi; phải như các bậc Chuyển luân thánh vương thời quá khứ, dùng pháp thập thiện giáo hóa chúng sinh.
Vua nghe lời này, lòng rất hổ thẹn, cho rằng lời chim anh vũ thật chí thành tha thiết, ta là vua một nước mà làm điều vô đạo. Giờ đây, ta phải nghe theo lời khuyên của anh vũ, tu tập chính hạnh và tôn chim làm thầy”.
Từ đó trong nước, đạo đức đã lưu truyền, tiếng xấu không còn, Phu nhân và bá quan văn võ đều hết lòng trung thành, kính trọng. Nhân dân cả nước đều vui mừng.
Chim anh vũ thuở ấy chính là Ta; vua Ác Thụ nước Ca-thi nay là phụ tướng; phu nhân thuở ấy nay là phu nhân của phụ tướng.
Kinh Tát-già ni-kiền tử ghi: “Vua hỏi:
- Thế gian có chúng sinh nào thông minh, trí tuệ, căn tính lanh lợi mà phạm tội không?
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
- Có chúng sinh như thế phạm tội.
Vua hỏi:
- Những chúng sinh đó là ai?
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
- Chúng sinh đó chính là đại vương! Ngài cũng rất thông minh, có trí tuệ, căn tính lanh lợi, uy đức lớn, không khiếp sợ, thích bố thí mà vẫn có tội.
Vua hỏi:
- Vì sao tôi bị tội?
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
- Tội của đại vương là quá bạo ác, quá nghiêm khắc, quá khinh suất, quá ngang tàng. Đại vương nên biết! Người trí không nên bạo ác. Vì sao? Vì vua và vương tử tính tình bạo ác, mọi người không dám nương tựa, không thương mến, không ưa thích; cho đến cha mẹ cũng không thích gặp, huống là đại thần, vương tử, trưởng giả, cư sĩ khác. Thế nên, người trí không nên bạo ác, muốn làm việc gì cũng phải thong thả, không nên vội vàng.
Đại Tát-già ni-kiền-tử nói kệ:
Nếu vua làm việc ác,
Sân hận không biết việc,
Thường làm người sợ hãi,
Đến cha mẹ cũng thế,
Huống là người không thân,
Cần phải có lòng thương,
Đại vương cũng nên biết,
Người trí không sân hận.
Vua Nghiêm Xí nghe Đại Tát-già ni-kiền-tử quở trách mình thì không nén được cơn giận, khởi ý niệm độc ác. Vua nói:
Phần 2

- Tát-già ni-kiền-tử! Vì sao hôm nay ở trước mọi người, ngươi nói xấu và mắng chửi ta như thế? Từ xưa đến nay, không ai dám nhìn thẳng vào mặt ta, nữa là mắng chửi, tội ngươi thật đáng chết!
Nói xong, vua quát bảo quần thần:
- Các ngươi hãy bắt sa-môn ngu si, không có ái ngữ này giết cho ta!
Đại Tát-già ni-kiền-tử sợ hãi, rúng động tâm thần, liền nói:
- Đại vương! Ngài chớ vội vàng làm việc ác, gây hại cho tôi như thế. Tôi có lời hay, xin ngài tạm tha chết, lắng nghe tôi nói!
Vua bảo:
- Được, ta tạm tha, ngài muốn nói gì hãy nói mau!
Đại Tát-già ni-kiền-tử nói:
Đại vương! Tồi cũng có tội.
Vua hỏi:
- Sa-môn! Ông có tội gì?
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
Tội của tôi là do nói lời quá chân thật, không hề giả dối, nói đúng sự thật. Trước người có ác tâm, người đáng sợ, người tính tình nóng nảy, người không có lòng từ bi, người làm việc vội vàng mà nói lời chân thật. Đại vương nên biết! Người trí không nên nói lời chân thật trong mọi lúc, mọi nơi. Vì sao? Vì không có lợi ích. Người trí cũng nên xét rõ người nào đáng nói, người nào không đáng nói; cũng phải biết rõ lúc nào nên nói, lúc nào không nên nói, nơi nào được nói, nơi nào không được nói. Vì sao? Vì người nói lại thật, mọi người không thích, không vui, người trí không khen ngợi, người ngu tức giận.
Đại Tát-già ni-kiền-tử liền nói kệ:
Người trí không biết thời,
Vội vàng nói lờỉ thật,
Người trí còn quở trách,
Huống là người vô trí.
Người trí ở mọi nơi,
Cũng không nên nói thật,
Chính là Kiều-thi-ca1,
Nói thật rơi đường ác.
Bấy giờ, vua Nghiêm Xí nghe Đại Tát-già ni-kiền-tử tự nói lỗi của mình, tâm liền khai mở, chí thành sám hối.
Đại Trang nghiêm luận ghi: “Thuở xưa, có một bà lão vào rừng hái lá cây ba-la bán để kiếm sống, trên đường bị lính tuần bắt nộp thuế, bà lão nói:
- Ông hãy dẫn tôi đến gặp nhà vua, nếu không tôi chẳng nộp thuế cho ông.
Quan tuần tra phân vân, nhưng rồi cũng dẫn bà lão đến gặp vua.
Vua hỏi bà lão:
- Vì sao bà không chịu nộp thuế?
Bà lão thưa:
- Tâu bệ hạ! Ngài có biết vị tì-kheo tên ấy, họ ấy không?
- Trẫm biết, vị ấy là Đại a-la-hán.
- Tì-kheo thứ hai, bệ hạ có biết không? Bà lão hỏi.
- Trẫm biết, vị ấy cũng là một vị a-la-hán.
- Tì-kheo thứ ba, bệ hạ có biết không?
- Trầm biết, vị ấy cũng là a-la-hán.
Bà lão lớn tiếng tâu:
- Ba vị la-hán này đều là con lão. Những người con này đều nhận của vua cúng dường, khiến cho vua được vô lượng phúc đức. Như thế chẳng phải đã nộp thuế cho vua rồi ư? Vậy vì sao nay lại muốn thu thuế của lão?
Vua nghe xong khen việc chưa từng có: “Hay thay! Bà lão sinh được thánh tử. Trẫm thật không biết, nếu đã biết những vị A-la-hán kia là con của bà lão, thì phải cung kính cấp dưỡng cho lão mới đúng.
Bà lão liền nói kệ:
Tôi sinh ba người con
Dũng mãnh vượt ba cõi
Đều chứng đắc đạo quả
Làm ruộng phúc cho đời
Vua cúng dường được phúc
Tức đã thu thuế rồi
Vì sao còn tìm cách
Thu thuế đoạt của tôi?
Nghe kệ xong, nhà vua vô cùng xúc động, rơi nước mắt, khởi tâm tin kính Tam bảo, vua nói:
- Như bà lão này, chúng ta nên cúng dường thật nhiều, sao lại còn thu thuế của bà!
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có một vị sa-môn đi đến nước khác, gặp lúc trời tối, ngài không được vào thành, nên ngồi trong đám cỏ ở bên ngoài Nửa đêm, quỉ dạ-xoa đến bắt sa-môn này định ăn thịt Sa-môn liền nói:
- Ngươi cách xa ta rồi.
Quỉ hỏi:
- Sao cho là cách xa?
Sa-môn nói:
- Ngươi hại ta, ta sẽ sinh lên trời Đao-lợi, còn ngươi thì đọa vào địa ngục. Như vậy, không phải là cách xa sao?
Nghe xong, quỉ tỏ ngộ, cảm tạ sa-môn, đỉnh lễ rồi bỏ đi”;
Kinh Ma-đăng nữ ghi: “A-nan ôm bát khất thực xong, đang đi men theo bờ sông thì gặp cô gái đang gánh nước bên bờ. A-nan đến xin, cô gái liền cho A-nan bát nước, rồi theo A-nan để dò biết nơi ở. Khi đã biết được nơi ở của A-nan, cô gái trở về nhà nằm lăn ra, vật vã khóc than. Mẹ cô gái tên là Ma-đăng hỏi:
- Vì sao con buồn khóc như thế?
- Mẹ không được gả con cho người khác! Vừa rồi con gặp một sa-môn bên bờ sông, con đã hỏi và biết tên là A-nan. Nay con muốn sống với người ấy, nếu không được thì con không lấy chồng.
Người mẹ đến hỏi A-nan, biết ngài là thị giả của Phật, bà trở về nói với con gái:
- A-nan là một sa-môn phụng sự Đức Phật, không chịu làm chồng của con.
Cô gái nghe mẹ nói thế, khóc lóc bỏ ăn. Ma-đăng vốn biết chú thuật, bà thỉnh ngài A-nan đến nhà cúng dường, cô gái vô cùng mừng rỡ. Bà nói với A-nan:
- Con gái tôi muốn làm vợ của ngài!
A-nan đáp:
- Tôi giữ giới, không thể lấy vợ.
Bà ấy nói:
- Nếu không được làm vợ ngài, nó sẽ tự sát!
A-nan nói:
- Thầy tôi là Phật, Ngài không cho phép gần gũi người nữ!
Người mẹ vào phòng thuật lại cho con gái biết. Cô gái khóc lóc, nói với mẹ:
- Chúng ta hãy đóng cửa, không cho chàng ra khỏi nhà. Đợi đến tối chàng sẽ tự nguyện làm chồng.

Phần 3

Người mẹ liền làm theo và dùng chú thuật trói A-nan. Đến chiều, bà chuẩn bị giường phòng, cô gái rất vui mừng, cũng tự trang điểm. Nhưng A-nan không chịu đến, bà bèn sai người đốt lửa giữa sân, rồi kéo áo A-nan đến nói:
- Nếu ngươi không chịu làm chồng con gái ta, ta sẽ ném ngươi vào đống lửa!
Bấy giờ A-nan vô cùng hổ thẹn suy nghĩ: ‘Ta theo Phật làm sa-môn mà nay không thể thoát nơi này!’. Lúc ấy Đức Phật nhập định, tâm biết A-nan đang bị nạn, nên lập phương tiện cứu thoát.
A-nan về đến trụ xứ liền thuật lại đầy đủ việc ấy. Còn về cô gái, khi thấy A-nan đi thì sầu buồn khóc lóc, lúc nào cũng nhớ thương. Sáng hôm sau, cô đến tìm, thấy A-nan đang đi khất thực, liền đi theo và luôn nhìn vào chân vào mặt A-nan. A-nan hổ thẹn đi tránh, nhưng cô gái vẫn theo sát, không rời. về đến trụ xứ, A-nan bạch Đức Phật:
- Bạch Thế Tôn! Con gái của Ma-đăng hôm nay lại đi theo con!
Đức Phật bảo gọi cô gái đến và hỏi:
- Cô theo A-nan để mong cầu điều gì?
- Con nghe nói A-nan chưa vợ, mà con lại chưa có chồng, nên muốn làm vợ A-nan.
- A-nan không có tóc, cô có tóc; nếu cô cạo tóc, Ta sẽ bảo A-nan làm chồng cô. Đức Phật bảo.
- Con làm được! Cô gái đáp.
- Hãy về thưa lại với mẹ cô, sau đó cạo tóc rồi đến đây! Phật bảo.
Cô gái vâng lời, về thưa lại. Mẹ cô nói:
- Ta sinh dưỡng, giữ gìn bảo vệ mái tóc cho con, sao cứ quyết muốn làm vợ sa-môn? trong nước này có rất nhiều gia đình giàu sang, ta sẽ cưới cho con!
- Dù chết, con cũng phải làm vợ A-nan! Cô gái nói.
- Con làm nhục dòng họ của ta quá!
Người mẹ nói xong, liền cạo tóc cho con gái. Cô gái đến chỗ Đức Phật thưa:
Con đã cạo tóc rồi.
- Cô thích A-nan ở điểm nào?
- Con thích đôi mắt, mũi, miệng, tai, giọng nói và dáng đi của A-nan.
- Trong mắt có ghèn, trong mũi có nước mũi, trong miệng có nước miếng, trong tai có ráy, trong thân có phân tiểu hôi dơ, vợ chồng gần gũi thì có ác lộ, từ ác lộ mà sinh con, đã có sinh thì có chết, có chết thì có khóc than. Như vậy thân có ích gì? Cô gái nghe nói liền quán xét ác lộ trong thân, liền chứng quả A-la-hán. Đức Phật biết cô gái đã chứng đạo, liền hỏi:
- Cô hãy đứng dậy và đến chỗ của A-nan đi!
Cô gái hổ thẹn cúi đầu, quì trước Đức Phật thưa:
- Con thật ngu si mới đi theo A-nan, hôm nay tâm trí con đã khai ngộ, như đêm tối được đèn sáng, như chìm thuyền mà bám được phao, như người mù được giúp đỡ, như người già có cây gậy. Hôm nay được Đức Phật chỉ dạy, tâm con đã tỏ ngộ.
Các tì-kheo thưa hỏi Đức Phật:
- Do nhân duyên nào mà cô gái này đắc đạo?
- Cô gái con bà Ma-đăng này đã năm trăm đời làm vợ A-nan, luôn yêu kính nhau, cho nên hôm nay đắc đạo trong giáo pháp của Ta. Ngày hôm nay Vợ chồng gặp nhau mà tình như anh em. Phật đạo như vậy, tại sao không tu tập?
Nghe Đức Phật thuyết kinh xong, các vị tì-kheo vô cùng hoan hỉ.
Kinh Bách duyên ghi: “Một thời, Đức Phật ở Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành có một bà-la-môn tên là Phạm-ma, học rộng hiểu nhiều, thông suốt các kinh luận, kể cả bốn bộ kinh Vệ-đà. Ông cưới một cô gái con nhà quyền quí làm vợ. Sau đó, vợ ông mang thai, đủ mười tháng thì sinh được một bé gái vô cùng xinh đẹp, thông minh trí tuệ, có tài luận biện, không ai sánh kịp, nghe cha mình đàm luận với các bà-la-môn khác, cô đều tiếp thu và nhớ kĩ. Như thế, cô lần lượt chứa nhóm tri thức ngày càng sâu rộng. Các bậc trưởng lão học thức sâu rộng đều đến han hỏi, cô luận giải thông suốt tất cả.
Một hôm nghe ở đời có Đức Phật giáo hóa chúng sinh, cô muốn được nhận pháp vị, nên trang nghiêm thân rồi đến chỗ Đức Phật. Gặp Phật, cô cầu xin xuất gia.
Đức Phật liền bảo:
- Thiện lai tì-kheo-ni!
Tức thời tóc cô gái tự rụng, thân mặc pháp phục, thành tì-kheo-ni. Do tinh tấn tu tập, nên không bao lâu tì-kheo-ni này chứng quả A-la-hán. Ngài A-nan thấy thế liền bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Tì-kheo-ni Tu-mạn này, đời trước trồng phúc gì, tuy thụ thân người nữ mà đa văn bậc nhất, lại được gặp đức Thế Tôn, xuất gia chứng đạo quả?
Đức Phật bảo ngài A-nan:
- Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ nói rõ!
Vào kiếp Hiền, ở nước Ba-la-nại có Đức Phật Ca-diếp ra đời, nhân duyên giáo hóa đã xong, Ngài liền nhập diệt. Đến thời tượng pháp, có một tì-kheo-ni luôn ưa thích thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, tinh tấn không lui sụt, nhân đó phát nguyện:
- Nguyện cho con đời sau, ở trong pháp của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, thông suốt các kinh luận!
Phát nguyện xong, tì-kheo-ni ấy qua đời, liền sinh lên cõi trời Đao-lợi, thông minh sáng suốt, không ai sánh bàng.
Đức Phật bảo ngài A-nan:
- Tì-kheo-ni thuyết pháp giáo hóa chúng sinh thuở ấy, nay được gặp Ta, xuất gia chứng đạo quả và đa văn bậc nhất.
Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy xong, đều vui vẻ vâng theo.
Kinh Trung A -hàm ghi: “Âm thanh là gai nhọn đối với thiền. Đức Thế Tôn cũng nói âm thanh là gai nhọn đối với thiền. Vì sao? Vì quả thật Ta có nói như âm thanh là gai nhọn đối với thiền. Đối người trì giới thì phạm giới là gai nhọn. Đối với người thủ hộ các căn, thì trang sức thân thể là gai nhọn. Đối với người tu tập bất tịnh thì tịnh là gai nhọn. Đối với người tu tập từ tâm thì sân nhuế là gai nhọn. Đối với người lìa rượu thì uống rượu là gai nhọn. Đối với người tu phạm hạnh thì nhìn nữ sắc là gai nhọn. Đối với người vào Sơ thiền thì âm thanh là gai nhọn. Đối với người nhập Nhị thiền thì tầm tứ là gai nhọn. Đối với người nhập Tam thiền thì niềm hỉ lạc là gai nhọn. Đối với người nhập Tứ thiền thì hơi thở ra, hơi thở vào là gai nhọn. Đối với người nhập Không xứ thì sắc tưởng là gai nhọn. Đối với người nhập Thức xứ thì không tưởng là gai nhọn. Đối với người nhập Vô sở hữu xứ thì thức tưởng là gai nhọn. Đối với người nhập Tưởng thụ diệt định thì tưởng và thụ là gai nhọn.
Lại có ba loại gai nhọn khác: Gai nhọn dục, gai nhọn sân khuể và gai nhọn ngu si. Bậc a-la-hán lậu tận đã đoạn trừ, đã biết rõ, đã nhổ sạch tận gốc, hoàn toàn không còn sinh ba loại gai này, ấy là bậc a-la-hán không bị gai chích”.
Kinh Đại ngư sự ghi: “Bấy giờ Thế Tôn bảo các tì-kheo: ‘Ngày xưa, trong một dòng sông có rất nhiều cá lớn sinh sống. Một hôm, cá lớn bảo cá nhỏ:
- Các con đừng bỏ nơi đây đi đến chỗ khác kẻo bị người xấu bắt nhé!
Đàn cá nhỏ chẳng nghe lời, rủ nhau bơi qua chỗ khác. Ngay lúc ấy, người đánh cá liền giăng lưới để bắt chúng. Đàn cá vội bơi về chỗ cá lớn. Thấy cá nhỏ trở về, cá lớn bảo:
- Các con đừng bỏ nơi đây mà đến chỗ khác nữa nhé!
Đàn cá nhỏ đáp:
- Chúng con vừa đến nơi ấy trở về đây!
Cá lớn hỏi:
- Các con qua đó không bị lưới bắt sao?
Cá nhỏ đáp:
- Chúng con đến đó không bị người bắt, nhưng thấy lưới kia bủa theo sau!
Cá lớn bảo:
- Các con sẽ bị hại. Sở dĩ ta nói như thế vì cái lưới các con trông thấy sẽ bủa đến đây! Ngày xưa, tổ tiên ông bà của chúng ta đã bị cái lưới này hại, hôm nay, các con chắc chắn sẽ bị hại! Các con không xứng đáng là con ta!’.

Phần 4

Thế là đàn cá nhỏ bị ngư ông buông lưới kéo lên bờ. Cả đàn đều bị giết hại”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, tại thành Ba-la-nại, nước Ca-thi, có vị bà-la-môn đào một cái giếng ở nơi đồng trống để cho người đi đường và kẻ chăn trâu sử dụng.
Một hôm, lúc trời về chiều, có bầy dã can đến uống nước còn đọng lại trên đất, nhưng dã can chúa không chịu uống nước bẩn ấy. Nó bèn chui đầu vào cái chum để uống, uống xong, nó hất cái đầu có cả chum lên cao, rồi giáng xuống đất làm vợ toang, nhưng miệng chum vẫn mắc nơi cổ của nó.
Thấy vậy, bọn dã can nói với dã can chúa:
- Lá cây dính nước còn có thể dùng được thì cũng phải giữ gìn, huống là cái chum này có lợi cho người đi đường, sao lại đập vỡ nó đi?
Dã can chúa nói:
- Ta làm như vậy để vui, đâu cần nghĩ đến những việc khác!
Bấy giờ, người đi đường mách với vị bà-la-môn:
- Cái chum của ngài đã bị vỡ rồi.
Vị bà-la-môn lại làm cái khác giống như cái trước, rồi cũng bị dã can chúa phá vỡ, cho đến mười bốn lần. Bọn dã can nhiều lần khuyên can, nhưng dã can chúa vẫn không nghe theo.
Khi ấy, bà-la-môn suy nghĩ; ‘Kẻ nào làm vỡ cái chum này, ta sẽ rình xem’, thì biết đó chính là dã can. Bà-la-môn lại nghĩ: ‘Ta đào giếng phúc thiện này mà còn gặp nạn’. Thế rồi, ông ta làm một cái chum gỗ chắc chắn, khó vỡ, đặt bên cạnh giếng, để dã can chui đầu vào dễ mà khó lấy ra. Sau đó, ông ta cầm gậy núp ở chỗ khuất rình bắt.
Khi người đi đường uống nước xong, dã can chúa cũng đến uống nước như trước, uống xong, nó cũng đập cái chum xuống đất, nhưng chum không vỡ. Ngay đó, vị bà-la-môn cầm gậy, đánh chết dã can. Bấy giờ, trên không trung có vị trời nói kệ:
Bạn tốt nói lời lành,
Cứng đầu, không chịu nghe,
Ngoan cố nên chuốc họa,
Đó là tự hại mình,
Vì vậy, dã can ngu,
Gặp phải chiếc lu gỗ.
Phật bảo các tì-kheo:
- Dã can chúa thuở ấy là Đề-bà-đạt-đa ngày nay, bầy dã can thuở ấy nay là các tì-kheo can gián Đê-bà-đạt-đa. Nên biết, vào thời quá khứ, Đề-bà-đạt-đa đã nhiều lần không chịu nghe lời can gián của đồng loại để đến nỗi tán thân mất mạng. Ngày nay, ông ấy lại không chịu nghe theo lời khuyên can của các tì-kheo, nên bị rơi vào đường ác, mãi chịu khổ đau.
Có bài tụng rằng:
Người trí nhận lời khuyên Kẻ ngu lại chối bỏ Thí như cùng soi gương Các vết nhơ hiện rõ Thấy lỗi liền sửa đổi Cốt biết được mầm họa Kẻ ngu si cố chấp Họa đến biết nhờ đâu!
43. CHƯƠNG SUY XÉT KỸ
43.1. LỜI DẪN
Thánh giáo làm lợi ích chúng sinh, dạy xét cảnh quán tầm. dẫn dắt chúng sinh đến bảo sở, vận dụng thật giả tại hóa thành. Vì thế, nếu suy xét mà không có tuệ thì không đạt đền cùng tận lí chân thật, nếu tuệ mà không nhờ quán sát thì cũng không biết lấy gì để xét biết chỗ chiếu soi. Thế thì chiếu là gốc để xét biết, quán sát là căn bản để thẩm định. Nếu có thể đạt đến chỗ duyên tất cả pháp, biết tất cả cảnh, thì mới duyên pháp xét cảnh được. Bấy giờ mới biết đồng hướng đến công cao, cùng được dưỡng dục từ muôn pháp.
43.2. SUY XÉT TÂM GIẬN DỮ
Luật Tăng-kì ghi: "Phật dạy: ‘Trong đời quá khứ, có một bà-la-môn nghèo, hàng ngày xin ăn để nuôi sống. Vợ bà-la-môn này không có con, nhưng trong nhà có con cọp Na-câu-la sinh được một con. Vì không có con, nên bà-la-môn này xem cọp này như con của mình, và cọp Na-câu-la con cũng xem ông bà-la-môn như cha mình.
Sau đó vợ ông bỗng nhiên mang thai, khi đủ tháng liền sinh một con trai, bèn suy nghĩ: ‘Có lẽ nhờ Na-câu-la sinh ra đứa con tốt lành, nên ta mới có con'. Một hôm bà-la-môn đi khất thực, ông dặn vợ: ‘Nếu bà đi đâu, phải đem con theo, chớ đế nó ở nhà". Người vợ bà-la-môn cho con ăn xong bèn đến nhà láng giềng mượn cối giã gạo. Lúc ấy đứa con bà ăn tô lạc, nên một con rắn độc đánh hơi bò đến, há miệng nhả độc, muốn giết đứa bé. Na-câu-la liền suy nghĩ: ‘Cha ta đã ra đi, mẹ ta cũng không có ở nhà, thế mà con rắn độc này lại muốn giết em ta’.
Khi ấy Na-câu-la liền giết rắn độc, chặt làm bảy khúc, rồi suy nghĩ: ‘Nay ta giết rắn để em được sống, cha mẹ biết được ắt khen thưởng ta, rồi lấy máu bôi lên miệng, đứng chờ ngoài cửa, mong rằng cha mẹ thấy sẽ rất vui mừng’. Ông bà-la-môn vừa về đến nhà, trông thấy bà vợ ở ở bên ngoài, liền nổi giận mắng: ‘Ta đã bảo bà có đi đâu thì đem con theo, vì sao lại đi một mình?’.
Vừa định vào nhà, ông thấy miệng Na-câu-la có máu, liền nghĩ: ‘Vợ chồng ta đi vắng, Na-câu-la ở nhà đã bắt giết con ta ăn thịt rồi chăng?’, ông nổi giận nói: ‘Uổng công ta nuôi đồ súc vật này, để phải bị nó làm hại’, liền bước đến dùng gậy đập chết Na-câu-la con. Xong, ông bước vào trong nhà, thì thấy đứa con trai đang mút tay vui đùa, lại thấy bên cạnh nó bảy khúc thân con rắn độc. Thấy thế, ông rất ưu sầu, hối hận, tự trách: ‘Na-câu-la này nhân từ, đã cứu mạng con ta, mà ta không xem xét cẩn thận, lại đập chết nó, thật đáng xót thương. Thế rồi, ông té ngã trên đất bất tỉnh. Lúc ấy có vị trời ở trên không trung đọc kệ:
Nên quan sát cẩn thận,
Chớ vội vàng nổi giận
Hại oan người lương thiện
Xa bạn tốt, người thân,
Ví như Bà-la-môn
Giết Na-câu-la nọ
Kinh Thải tử Mộ-phách ghi: “Đức Phật dạy: Thuở xưa, có vua tên Bà-la-nại, nhà vua có thái tử tên Mộ-phách. Khi thái tử sinh ra ánh sáng chiếu khắp nơi, tướng mạo khôi ngô, tuấn tú, oai thần xuất chúng. Phụ vương và phu nhân vô cùng thương yêu chăm sóc, chờ đợi thái tử trưởng thành sẽ nối ngôi vua cha, nhưng đến năm mười ba tuổi thái tử vẫn chưa nói được. Tính tình của thái tử chất phác, không màng danh lợi, tâm như tro tàn, thân như cây khô, mắt không nhìn sắc đẹp, tai không nghe âm thanh hay, giống như người đui điếc; do đó phụ vương và phu nhân rất buồn khổ.
Một hôm, vua bảo với phu nhân:
- Chúng ta phải làm thế nào đây? Có đứa con này, thật bị nước khác chê cười.
Phu nhân tâu vua:
- Chúng ta nên mời thầy đến xem tướng cho thái tử.
Nhà vua cho mời bà-la-môn đến xem. Bà-la-môn thưa:
- Thái tử chẳng phải là người thế gian, là yêu mị mê hoặc người, bên ngoài đoan chính nhưng bên trong xấu ác. Chẳng bao lâu, thái tử sẽ gây hại cho đất nước, hãy giết chết bằng cách chôn sống. Không trừ thái tử thì đất nước sẽ không có người nối dõi.
Vua nói với phu nhân:
- Phải xử trí thế nào đây? Nay nếu không trừ thái tử thì sau này không có người lên ngôi.
Phu nhân đành thuận theo ý vua, nhà vua cho mời các đại thần trong nước cùng bàn bạc. Một đại thần đưa ra ý kiến:
- Phải đưa thái tử vào núi sâu nơi không có người.
Một đại thần bảo:
- Nên nhận chìm xuống nước sâu.
Một đại thần nói:
- Hãy làm theo thầy tướng nói, đào hầm sâu chôn sống thái tử.

Phần 5

Nhà vua làm theo vị đại thần này, triệu tập binh lính bên ngoài hơn ba nghìn người, ra lệnh đào hầm, cho của cải, lương thực cùng năm người theo hầu, tất cả y phục, anh lạc, châu báu của thái tử đều đưa hết. Phu nhân vô cùng đau đớn nghĩ: “Thân ta bạc mệnh, không có tướng sinh con mới gặp họa này, thật là việc bất đắc dĩ’.
Khi mọi người đưa thái tử vào cung điện; năm trăm phu nhân nhìn thấy thái tử khôi ngô, tuấn tú đều nói:
- Lẽ nào thái tử không nói để phải chịu chôn sống?
Năm trăm cung nữ thấy thái tử đoan nghiêm xinh đẹp, đều cùng làm lễ nói:
- Tại sao thái tử không nói để phải chịu chôn sống?
Các cung nữ đều ca múa cho thái tử xem, nhưng thái tử im lặng không nhìn, không nghe.
Lại tiễn thái tử ra ngoài cung điện, năm trăm đại thần nhìn thấy thái tử khôi ngô, tuấn tú, oai thần xuất chúng, cùng nhau đến trước vua thưa:
- Thái tử chẳng phải là người không nói được, không bao lâu ngài sẽ nói.
Bà-la-môn nói:
- Không thể tin được.
Vua bảo các đại thần:
- Đây là việc nước, chẳng phải điều các khanh biết, đào hầm xong sẽ đên đón thái tử.
Vua bảo người hầu:
- Đem xe voi tứ vọng chở thái tử. Ra lệnh cho nhân dân trong nước đến xem, nếu thái tử nói thì trở về cung.
Thái tử ngồi trên xe chuẩn bị lên đường, các đại thần trong nước đứng xếp hàng trước xe thưa:
- Thái tử hãy nói một lời, nếu ngài không nói thì hãy cho xe cán qua thân chúng tôi.
Khi ấy, có mấy nghìn người vây quanh khiến thái tử không đi về phía trước được; chim, thú đến nhiễu quanh ba vòng, rồi chắn miệng hầm. Lúc này, thái tử đưa tay phải lên nói:
- Ta muốn im lặng thì sợ bị chôn sống, muốn nói thì sợ đọa địa ngục; ta muốn bảo toàn thân mạng, cứu tâm, lìa khổ nên không nói. Thế nhưng, phụ vương nghe những lời cuồng trá, cho ta bị câm điếc thật.
Khi nhân dân nghe thái tử nói âm thanh tuyệt diệu, thế gian hiếm có; người đang đi thì dừng lại, người đang ngồi thì đứng lên, tất cả đều đến trước thái tử cúi đầu đỉnh lễ xin tha tội.
Người hầu vô cùng vui mừng chạy về tấu vua:
- Thái tử đã nói, âm thanh vang thấu trời xanh, xuống đến địa ngục, chim thú đều đến phủ phục trước thái tử lắng nghe.
Nhà vua nghe thái tử nói được, lòng rất vui mừng, liền cùng phu nhân ngồi xe voi Tứ vọng đến đón thái tử. Thái tử quay nhìn thấy phụ vương, liền xuống xe đứng bên đường, hành bốn lạy rồi đứng dậy thưa;
- Phụ vương hạ cố từ xa đến đón. Hôm nay cha con còn sống mà phải cách xa, thương yêu mà rời bỏ, cốt nhục lại chia lìa; việc này thật ngang trái, chưa từng nghe thấy.
Vua bảo:
- Không được! Không được! Con là người trí không ai sánh bàng. Chúng ta cùng nhau trở về, ta sẽ truyền ngôi cho con.
Thái tử thưa:
- Đời quá khứ con đã từng làm vua, chỉ vì một lỗi nhỏ còn sót lại nên chết đọa vào địa ngục hơn sáu vạn năm, chịu hình phạt thiêu nấu, mổ xẻ đau đớn không chịu nổi. Phụ vương và mẫu hậu há có biết được nỗi đau đớn khốc liệt trong địa ngục con chịu lúc đó không? Con sợ hãi nỗi khổ ở địa ngục nên suốt mười ba năm im lặng không nói, mong tránh được lỗi lầm, trừ bỏ tội lỗi vượt thoát khỏi trần ai, không còn tạo tội, để khỏi xa đạo, xuất gia cứu giúp đời. Thế gian vô thường, huyễn hóa như mộng, vui sống gia đình chỉ là tạm bợ, vui trong chốc lát, lo khổ lâu dài.
Vua biết chí thái tử kiên cố, bèn cho phép học đạo. Thế là, thái tử bỏ nước lìa phụ vương, vào núi cầu đạo, tư duy thiền định. Khi mạng chung được sinh lên cõi trời Đâu-suất, thọ mạng hết sinh xuống nhân gian làm thái tử nước Ca-duy-la-vệ, từ đó cho đến khi thành Phật.
Đức Phật dạy:
- Này A-nan! Thái tử Mộ-phách lúc ấy chính là Ta; phụ vương bấy giờ nay là Duyệt-đầu-đàn; mẫu hậu nay là Ma-da, năm người hầu chính là A-nhã-câu-lân; bà-la-môn muốn chôn sống Ta nay là Điều-đat Ta và Điều- đạt đời đời có oán thù nhau.
Đức Phật thuyết kinh này xong, các đệ tử, chư thiên, trời, rồng, quỷ, thần, vua và nhân dân đều rất vui mừng đỉnh lễ Đức Phật.
43.3. XÉT LỖI
Kinh Phó pháp tạng nhân duyên ghi: “Bấy giờ vị thương gia trong thành La-túc lập đại hội Ban-già-vu-sắt cúng dường chư tăng. Một vị tì-kheo ni đã đắc quả A-la-hán quan sát toàn hội, xem ai là phúc điền, ai là bậc đứng đầu trong chúng. Bà thấy tất cả các A-la-hán và các vị Hữu học đều đã đoạn phiền não từ lâu, xứng đáng nhận cúng dường. Bà lại thấy tì-kheo A-sa-la chưa được giải thoát, đứng đầu trong chúng. Thế là bà đến nói:
- Thưa Đại đức! Xin ngài hãy tự trang nghiêm!
Vị này không hiểu ý; ' liền thay y sạch, cạo tóc và tắm rửa. Sau đó gặp lại, vị tì-kheo ni cũng nói giống như trước. Tì-kheo A-sa-la tức giận nói:
- Tôi đã nghe theo lời ni sư, làm sạch sẽ thân hình rồi, có chỗ nào hôi dơ mà sư vẫn nói như thế?
- Đại đức nên biết! Đây là cách trang nghiêm thân của thế gian, chẳng phải của Phật pháp! Cách trang nghiêm trong Phật pháp là phải đạt bốn quả Sa-môn. Lạ thay, Đại đức! Ngài thật là thấp kém. Vị thương gia này lập hội, rất nhiều hiền thánh đến dự, ngài là người đứng đầu trong chúng mà chưa thoát sinh tử, với tâm hữu lậu nhận cúng dường đầu tiên, do đó hôm nay tôi đến đây cảnh tỉnh ngài.
Nghe vậy, A-sa-la buồn rầu rơi lệ, nghĩ rằng mình đã già rồi, làm sao đạt được lậu tận. Tì-kheo ni lại bảo:
- Trong Phật pháp không có thời gian, há có già trẻ sao?
Nghe lời này, A-sa-la đến lễ ngài Ưu-ba-cúc-đa, nghe pháp, liền chứng đắc A-la-hán.
Lại có một tì-kheo rất thích ăn uống, do đó không thể đắc đạo. Ngài ưu-ba-cúc-đa mời đến phòng mình đãi cháo sữa thơm ngon. Khi dọn cháo lên, ngài ưu-ba-cúc-đa bảo vị tì-kheo đợi nguội. Tì-kheo dùng miệng thổi một lát rồi nói: ‘Cháo đã nguội!’. Tôn giả nói: ‘Cháo này tuy đã nguội, nhưng lửa dục tham trong tâm ông vẫn cháy, nên dùng pháp quán nước để dập tắt lửa tâm!’. Tôn giả trao cho vị tì-kheo một cái bát không và bảo nôn hết thức ăn ra; khi tì-kheo đã nôn ra, thì Tôn giả lại bảo ăn vào. Tì-kheo liền nói: ‘Đã lẫn đàm giải, đâu thể ăn vào được!’. Tôn giả liền nói: ‘Tất cả các thức ăn đều như vậy cả, do ông không quán xét mới vội tham đắm. Hôm nay ông nên quán tưởng thức ăn là bất tịnh!’. Tôn giả lại thuyết pháp, vị tì-kheo nghe xong đắc quả A-la-hán.
Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có hai con quỉ tì-xá-xà, tranh một cái rương, một cây gậy và một đôi guốc. Chúng tranh cãi suốt ngày mà không có cách nào chia đều. Khi ấy, có một người đến xem rồi hỏi:
- Những món này có gì quí giá, mà các ngươi tranh giành, nổi giận như vậy?
Hai con quỉ cùng đáp:
- Từ cái rương này hiện ra y phục, thức ăn uống, giường chiếu, mùng mền, ngọa cụ, của cải; khi cầm cây gậy này, thì những kẻ oán thù đều qui thuận không dám chống cự; khi mang đôi guốc này, người ta bay đi tự tại, không có gì ngăn trở.
Nghe xong, người này nói:
Các ngươi đi xa một chút, ta sẽ có cách phân chia đồng đều cho các ngươi.

Phần 6

Nghe lời, hai con quỉ liền tránh đi xa. Người này lập tức ôm cái rương, cầm cây gậy, mang đôi guốc mà bay đi. Hai con quỉ sợ hãi cuống cuồng, rốt cuộc không được vật gì cả. Sau đó, người này nói với bọn quỉ:
- Ta đã đem những vật các ngươi tranh giành đi rồi, từ nay các ngươi không còn tranh cãi nữa.
Quỉ Tì-xá-xà dụ cho chúng ma và ngoại đạo. Bố thí giống như cái rương, tất cả vật dụng của trời người đều từ trong rương đó hiện ra. Thiền định ví như cây gậy, dẹp được giặc phiền não, ma oán. Trì giới ví như đôi guốc, chắc chắn sẽ được sinh cõi trời, người
Chúng ma và ngoại đạo tranh giành cái rương, ví như trong pháp hữu lậu mà cưỡng câu quả báo thì không được gì cả. Nếu tu tập hạnh lành và bố thí, trì giới thiền định thì sẽ xa lìa khổ não, chứng được đạo quả.
43.4. XÉT VIỆC TƯ HỌC
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có hai người theo thầy học đạo. Một hôm, hai bạn đồng học này cùng đi đến một nước khác. Trên đường đi họ nhìn thấy dấu chân voi. Một người nói:
- Con voi mẹ này mù một mắt và đang mang thai, sau sẽ sinh voi cái; người đàn bà cưỡi trên lưng voi cũng mang thai, sau sẽ sinh một bé gái.
Người kia hỏi:
- Sao anh biết được?
Đáp:
- Tôi suy nghĩ, phân tích mà biết. Anh không tin thì đi tới trước, sẽ thấy.
Hai người đi đuổi kịp voi, thấy đúng như lời người bạn nói. Người kia thầm nghĩ: “Ta với anh bạn cùng học một thầy, sao ta không thấy!”.
Sau khi trở về, anh ta đến thưa với thầy, thầy liền gọi anh kia vào hỏi:
- Sao con biết được những điều đó?
Học trò thưa:
- Đó là điều thầy thường dạy. Con thấy chỗ đất voi tiểu tiện thì biết đó là voi cái; thấy chân phải đạp đất lún sâu thì biết voi mang thai voi cái; thấy cỏ cây phía bên phải đường đi không cố dấu vết lay động thì biết mắt phải của nó bị mù; thấy chỗ voi dừng nghỉ có người tiểu tiện thì biết đó là người nữ; thấy chân phải đạp đất lún sâu thì biết đang mang thai con gái. Con dùng ý suy nghĩ, phân tích kĩ càng mà thôi.
Thầy dạy:
- Hễ học thì phải dùng ý tư duy, suy ngẫm, thì mới đạt được hiệu quả.
Luận Đại trí độ ghi: “Có một người, hễ nhìn thấy bất cứ việc gì kì lạ thì đều hỏi kĩ. Một hôm anh ta đang đi trên con đường hoang vắng thì bị la-sát bắt. Bị la-sát bắt thì nhất định phải chết, nhưng khi thấy la-sát này ngực màu đen, lưng thì trắng, anh ta lấy làm lạ và hỏi nguyên do. La-sát đáp: ‘Từ lúc sinh ra cho đến nay, ta không thích nhìn mặt trời, luôn đi quay lưng về mặt trời, do đó lưng đen, ngực trắng'. Anh ta nghe nói, chợt tỉnh ngộ, vội thoát tay chạy nhanh về hướng mặt trời. La-sát quay mặt lại, nhưng không thấy anh ta; thế là anh ta thoát chết. Nhân đó có bài kệ:
Siêng tu đạo bậc nhắt
Siêng hỏi cách tốt nhất
Trên đường gặp la-sát
Nên hướng về mặt trời
Có bài tụng:
Suy xét kĩ đúng sai
Đục trong thật khó lường
Quán sát rõ tà chính Pháp
luật khéo thực thi
Sân hận dễ lạm sát
Làm sao dứt chiến tranh
Nguyện lắng trong tâm thức
Sức trí tuệ xét soi.
43.5. CẢM ỨNG
Các loài tinh linh
Bác vật chí ghi: “Trên ngọn núi nhỏ có con quỉ, hình dáng như cái trống, một chân, biết phép tắc. Trong đầm lại có một loài rắn, dáng như trục xe, dài như càng xe thời xưa, người gặp được nó sẽ xưng bá. Ngày xưa, Hạ Vũ đi tuần sát Hoàng hà, thấy một người thân cá xuất hiện và nói: ‘Ta là Hà tinh chứ đâu phái Hà bá!”.
Bạch trạch đồ ghi: “Tinh của nhà xí gọi là Ỷ, mặc áo xanh, cầm gậy trắng. Gặp nó, nếu biết tên mà gọi thì thoát nạn, nếu không biết tên thì chết. Làm nhà tre mà ba năm không ở thì trong đó có tinh tên là Mãn Tài, cao hai thước, khi thấy người thì che mặt, ai gặp được nó thì được phúc. Lại làm nhà mà ba năm không ở, sẽ có tinh tên là Hốt, cao bảy thước, ai thấy thì được phúc. Làm nhà mà ba năm không ở, sẽ có đứa bé cao ba thước, không tóc, thấy người thì che mặt, ai gặp thì được phúc. Tinh của lửa gọi là Tất Phương, hình dáng như con quạ, có một chân, gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của cây gỗ là Bành Hầu, hình dáng như chó đen, không có đuôi, có thể nấu làm thức ăn. Lại trong cây gỗ nghìn năm có trùng tên là cổ Truật, hình dáng như heo hai đầu, nấu ăn thì vị như thịt chó. Lại từ đất đai ở núi rừng, sông suối đều có sinh ra tinh tên là Tất Phương, giống như chim, đuôi dài; tất cả đều do âm dương biến hóa mà sinh ra.
Lại nữa, tinh của ngọc tên là Đại Ủy, hình dáng giống như mĩ nữ, mặc áo xanh. Nếu gặp, liền nói: ‘Dùng gai đào chích”, rồi gọi tên nó thì bắt được. Tinh cùa vàng tên là Thương Đường, giống như heo con, sống trong nhà người, khiến người không có vợ, gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của nước tên là Võng Lượng, giống như đứa bé, da đen, mắt đỏ, tai lớn, móng dài, dùng dây trói thì bắt được, nấu nó làm thức ăn thì gặp điều lành. Tinh của cửa cũ tên là Dã, giống như người lùn, thấy người thì lễ bái, gọi tên nó thì được thức ăn, thức uống. Tinh cùa khu đầm xưa tên là Nậu, giống như con rắn hai đầu, có các đường vân năm màu, gọi tên nó thì có thể sai khiến người đi lấy vàng bạc. Tinh của khu mộ hoang là Vô, giống như người làm công già, mặc áo xanh, tay cầm chày giã vào cối, nêu ai gọi tên nó thì được lúa thóc. Tinh của con đường xưa cũ là Kị, hình-dáng giống như dã nhân vừa đi vừa hát, nếu gọi tên nó, thì sẽ không lạc đường. Tinh của xe cũ tên là Ninh Dã, giống như chiếc xe có chỗ nằm, người nhìn nó thì đau mắt, gọi tên thì không bị nó làm tổn thương mắt.
Lại nữa, tinh trên đường tên là Tác Khí, như người nam, giỏi mê hoặc người, gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của cái cối xưa tên là Ý, giống như heo con, gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của giếng cổ và vực xưa gọi là Quán, giống như mĩ nữ, giỏi thổi tiêu, gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của vàng do ngăn sông mà được, có tên là Hầu Bá, giống như người, cao năm thước, mặc áo năm màu, gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của đài gác cổ tên là Lưỡng Quí, giống như chó màu đỏ, ai gọi tên nó thì mắt sáng. Hai bên có núi, giữa có suối nước chảy mãi không cạn, tinh của suối này gọi là Hỉ, giống như đứa bé da đen, gọi tên nó thì được thức ăn thức uống. Tinh của ba quân chiến đấu tên là Tân Mãn, như đầu người, không có thân, mắt đỏ, thấy người thì di chuyển, gọi tên thì bỏ đi. Tinh của đá suối xưa tên là Khánh Kị, giống như chiếc xe có người ngồi, mỗi ngày đi nghìn dặm, gọi tên thì có thể sai khiến người xuống sông bắt cá. Tinh của gò mộ là Lang Quỉ, luôn đấu tranh với người, nếu dùng cung gỗ đào, tên bằng gai có gắn lông chim cú mèo để bắn, thì nó hóa thành luồng gió nhẹ, nếu bấy giờ cởi giày ném thì nó không biến hóa được.
Lại nữa, tinh của chợ cổ gọi là Môn, hình dáng như hạt gạo, không có tay chân, nếu gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của ngôi nhà cổ tên là Tôn Long, giống như đứa bé, cao một thước bốn tấc, mặc áo đen, vấn khăn đỏ, đội mũ lớn, mang kiếm cầm kích, nếu gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của núi gọi là Quì, hình giống chiếc trống, một chân, nếu gọi tên, có thể sai đi bắt cọp, beo, sói. Tinh của ao trâu nằm gọi là Khôn Độn, hình dáng như trâu không đầu, thấy người thì đuổi theo, nếu gọi tên thì nó bỏ đi. Tinh của vật dơ xấu tên là Cấu, giống như đứa bé xỏa tóc, thường hiện dưới thềm vào ban đêm, nêu gọi tên thì không bi lỗi. Con chó sói trăm tuổi hóa làm người nữ đẹp, goi là Tri Nhân, nó thường ngồi bên đường nói với người nam: ‘Tôi không có cha mẹ, anh em. Nếu lấy tôi làm vợ thì quanh năm phải ăn thịt người’. Nếu gọi tên thì nó bỏ chạy. Tinh của chuồng nuôi gia súc đã cũ gọi là Ti, hình dáng như mĩ nữ, nếu cầm gương gọi thì nó biết hổ thẹn mà bỏ đi”.
Bảo Phác Tử ghi: “Trong núi có một cội cổ thụ biết nói, đây không phải là cây nói mà là tinh của cây. Tinh này tên là Vân Dương, nếu ai gọi nó thì gặp điều lành. Ban đêm ở trong núi, nếu thấy người Hồ, đó là tinh của đồng và sắt, nếu thấy người Trung Quốc thì đó là tinh của cổ thụ trăm năm. Nếu thấy vị quan hiện hình trên sông, thì đó là Tư Khích, nếu gọi tên thi được điều lành.

Phần 7

Trong núi, nếu vào ngày Dần, gặp người tự xưng là quan nước Ngô, thì đó là cọp; nếu nói là sống giữa đường thì đó là sói; nếu tự xưng là trưởng lão Lịnh thi đó là chồn. Vào ngày Mão, có người tự xưng là trượng phu, thì đó là thỏ; tự xưng là Đông phụ thì đó là nai; nếu tự xưng là Tây vương mẫu thì đó là hươu. Ngày Thìn, nếu có người tự xưng là vũ sư thì đó là rồng; tự xưng Hà bá thì đó là cá; tự xưng là Trường công tử thì đó là cua. Vào ngày Tị, nếu có người tự xưng là quả nhân thì đó là rắn trong đền thờ; tự xưng là vua đương thời thì đó là rùa. Ngày Ngọ, nếu có người tự xưng Tam công thì đó là ngựa; tự xưng tam nhân thì đó là cổ thụ. Ngày Mùi, nếu có người tự xưng chủ nhân thì đó là dê; tự xưng quan lại thì đó là mang. Ngày Thân nếu có người tự xưng vua cối người thì đó là khỉ; tự xưng là cửu khanh thì đó là vượn. Ngày Dậu, nếu có người tự xưng tướng quân thì đó là gà; nếu có người tự nói giặc bắt thì đó là trĩ. Ngày Tuất nếu có người tự nói tên họ thì đó là chó; nêu tự xưng Thành Dương Công Trọng thì đó là chôn. Ngày Hợi, nếu có người tự xưng là quân thần thì đó là heo; nếu xưng là phụ nhân thì đó là vàng ngọc. Ngày Tí, nếu có người xưng là Đỗ quân thì đó là chuột; xưng là thần nhân thì đó là dơi. Ngày Sửu, nếu có người xưng là thư sinh thì đó là trâu. Nếu biết các vật ấy thì không bị hại.
Sao Huỳnh Hoặc là tinh của Hỏa, sinh ra Chu Ô. Sao Thần là tinh của Thủy sinh ra Huyền Vũ. Sao Tuế là tinh của Mộc sinh Thanh Long. Sao Thái bạch là tinh của Kim sinh Bạch Hổ. Sao Trấn là tinh của Thổ sinh Thừa Hoàng”.
Bảo Phác Tử ghi: “Núi, sông, đá, giếng, táo bếp, ao hồ... đều có tinh khí. Trong thân người cũng có hồn phách, huống gì các vật trong trời đất! Vật lớn nhất, đúng lí hẳn có thần tinh, có thần tinh thì có thưởng thiện phạt ác, nhưng trời rộng mà lưới thưa, chưa hẳn nhanh chóng có báo ứng”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục