PUCL QUYỂN 44 - CHƯƠNG QUÂN THẦN
21/11/2015
QUYỂN 44 Quyển này gồm một chương Quân thần. 41. CHƯƠNG QUÂN THẦN 41.1. LỜI DẪN Khi đức Như Lai còn ở đời, Ngài phó chúc thời mạt pháp cho Đế Thích và các quốc vương. Bởi năng lực của trời có thể phá dẹp vạn ma, uy thế c...

QUYỂN 44
Quyển này gồm một chương Quân thần.
41. CHƯƠNG QUÂN THẦN
Khi đức Như Lai còn ở đời, Ngài phó chúc thời mạt pháp cho Đế Thích và các quốc vương. Bởi năng lực của trời có thể phá dẹp vạn ma, uy thế của vua có thể thống lãnh dân chúng. Phó chúc di pháp ở đây chính là phó chúc việc giúp đỡ và bảo vệ lưu thông Phật pháp. Vì vào thời bấy giờ, bốn chúng yếu hèn, e Tam bảo bị hủy hoại, nên nhờ uy lực của vua nhiếp phục, mượn thế của vua áp chế; khiến cho kẻ kém hèn dẹp bỏ vết nhơ, kẻ hủy báng trừ hết lỗi lầm, lại trợ giúp đạo trị quốc ngày càng đổi mới, thổi gió giáo hóa của vua đến khắp gần xa. Một lần biến là báo đổi thay, hai lần biến thì nhuần khắp thiên hạ. Do đó quần sinh mang ân thánh chúa, Phật pháp được chốn tựa nương; đó chính là mục đích phó chúc vậy.
. Sách thế tục có ghi: “Ngày xưa các vua hiền minh lập qui chế, cốt muốn xác định âm dương có vị trí, quân thần có phép tắc, nam nữ có phân biệt, chính lịnh có thứ lớp. Cho nên vua ngồi hướng mặt về phương nam mà trị thiên hạ, hoàng hậu ở bắc cung, thái tử ở đông cung, thiên tử lập miếu, vương hậu lập chợ; có nhật thực thì vua phải tu đức, hiện nguyệt thực thì hoàng hậu cần tu thân. Đây chính là phân biệt vị trí âm dương vậy. Vì thế Càn khởi từ Tí, cho nên Tí là Thiên chính; Khôn khởi từ Mùi, mà hành tại Sửu. Nhưng âm không tự đứng riêng mà đến nương nơi dương, nên Sửu là Địa chính; Thánh chúa kính vâng trời, tùy thuận đất để thành tựu công lao, cho nên Dần là Nhân chính. Ba chính tác dụng lẫn nhau thì biến hóa mà không dứt tuyệt, vì thế đế vương nhất định tồn tại sau ba đời. Đây là phân biệt ba chính.
Kinh Dịch ghi: “Tây nam được bạn, đồng hành cùng bạn; đông bắc mất bạn, rốt cuộc có việc vui”. Cho nên thần tùy thuận vua, nữ nương tựa nam. Càn khởi từ Tí, vận hành theo chiều trái, kết thúc tại Tuất; Khôn khởi từ Mùi, vận hành theo chiều phải, kết thúc tại Dậu; cho nên qui định nam bên trái, nữ bên phải.
41.2. ĐỨC TÍNH CẦN THIẾT CỦA QUỐC VƯƠNG
Luận Du-già sư địa ghi: “Đại vương nên biết! Nếu một vị vua có mười đức tính như sau thì dù không có cung điện nguy nga, kho tàng rộng lớn, không có đại thần phụ tướng, không có quân đội hùng mạnh, nhưng mọi người vẫn qui ngưỡng: một, giòng tộc tôn quí; hai, hoàn toàn tự do; ba, không bạo ác; bốn, hóa giải làm nhẹ cơn giận; năm, ban ân huệ lớn; sáu, nghe nhận những lời ngay thẳng; bảy, suy xét kĩ hành vi, thuận theo phép tắc; tám, quan tâm và ưa thích pháp thiện; chín, khéo phân biệt rõ đối tượng ban ân; mười, không mặc tình buông lung.
Lại nữa, một vị vua phải có năm phương pháp: một, quan sát thu phục quần thần; hai, ban ân đúng lúc; ba, không buông lung, chuyên tâm nơi triều chính; bốn, không lơ là, giữ kĩ kho tàng cung điện; năm, không buông lung, chuyên tu pháp hành.
Lại có năm pháp mà một vị vua nên ưa thích: một, được thế gian kính mến; hai, tăng trưởng tự do; ba, phá dẹp thù địch; bốn, khéo tu dưỡng thân; năm, có thể đưa đến cõi lành.
Có năm pháp dẫn sinh ra pháp đáng ưa thích này: một, dưỡng dục chúng sinh; hai, dũng mãnh; ba, hành phương tiện khéo léo; bốn, thụ dụng đúng pháp; năm, siêng năng tu tập pháp hành.
Một vị quốc vương có ba pháp viên mãn: một, quả báo viên mãn; hai, sĩ dụng viên mãn; ba, công đức viên mãn. Nếu quốc vương sinh vào gia đình giàu sang, sống lâu, không bệnh tật, có cơ nghiệp lớn, có trí tuệ thông minh bẩm sinh, thì gọi quả báo viên mãn. Nếu quốc vương dùng phương tiện khéo léo để trị quốc, luôn luôn thành tựu uy lực dũng mãnh, thì gọi là sĩ dụng viên mãn. Nếu quốc vương giữ gìn chính pháp thì gọi là Pháp vương, Pháp vương an trụ nơi chính pháp, luôn cùng với phu nhân, thái tử, quần thần, những anh hùng hào kiệt, các trưởng giả giàu sang thực hành huệ thí, tu phúc, trì trai, giữ nghiêm giới cấm thì gọi là công đức viên mãn. Lại nữa, quả báo viên mãn là quả báo thụ nhận từ nghiệp nhân thanh tịnh đời trước; sĩ dụng viên mãn tức quả vừa ý thụ dụng ở hiện tại; công đức viên mãn tức quả báo của nghiệp thanh tịnh viên mãn thụ dụng ở vị lai. Nếu quốc vương không đủ ba món viên mãn này thì gọi làI bậc hạ, nếu có quả báo, hoặc sĩ dụng hoặc cả hai thì Igọi là bậc trung, nếu đủ ba thì gọi là bậc thượng”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Nếu các vị vua dòng Sát-lợi đã rưới nước đỉnh đầu, được làm đấng nhân I chủ, cai trị cả đại địa, có năm vật dụng: kiếm, lọng, mũ trời, phất trần có gắn bảo châu trên cán, đôi giày có trang trí, đều dẹp bỏ tất cả. Lại có ba hạng đại thần: 1 một, có trung tín mà không có trí tuệ và tài năng, là bậc hạ; hai, có trung tín và tài năng mà không có trí tuệ, là bậc trung; ba, đủ ba điều kiện, là bậc thượng; còn không có cả ba thì thuộc hạ trong hạ.
41.3. NHỮNG LỖI LẦM CỦA QƯỐC VƯƠNG
Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Bất cứ người dân nào, dù sang hay hèn cũng không được đánh đập nô tì, súc sinh của Tam bảo, cũng không được nhận sự lễ bái của những nô tì này; nếu ai làm trái điều này thì phạm lỗi”.
Kinh Tát-già ni-kiền tử ghi: “Nêu phá hoại chùa tháp, hoặc tự tay lấy vật của Tam bảo, hoặc bảo người lấy, hoặc thấy làm mà vui theo, hoặc bắt trói đánh đập, ép hoàn tục, giết chết sa-môn đắp y hoại sắc trì giới hay phá giới thì đều phạm tội nặng căn bản, nhất định rơi vào địa ngục, chịu khổ không dừng nghỉ. Vì vị quốc vương này thi hành các pháp bất thiện trong nước, khiến cho các bậc tiên thánh bỏ đi, các vị thiện thần có sức mạnh không bảo vệ, các đại thần tranh đấu nhau khắp nơi, thời tiết bất hòa, mưa gió trái mùa nhân dân đói khát, giặc cướp hoành hành, dịch bệnh tràn lan người chết vô số. Khi các việc xảy ra trong nước như thế, không biết là do mình gây tạo mà lại oán thán chư thiên”.
Kinh Nhân vương ghi: “Quốc vương, đại thần tự cậy mình cao quí mà phá diệt pháp của Ta, đặt ra những điều lệ ngăn cấm, không cho đệ tử Ta xuất gia, không cho tạo tượng Phật, đặt chức quan kiểm soát tăng chúng, lập sổ bộ tăng ni, cho tì-kheo đứng trên đất, kẻ tục ngồi tòa cao. Quốc vương, thái tử ngang ngược lập ra các biện pháp ngăn cấm, không theo lời Phật, phá hoại tăng đoàn, lập các quan kiêm soát tăng, quản lý tăng tịch, dùng các biện pháp khó khăn như thế để khống chế, thì Phật pháp không tồn tại được lâu”.
Luận Du-già sư địa ghi: “Đại vương nên biết, một vị quốc vương có mười lỗi: giòng tộc không cao quí, không được tự do, bản tính bạo ác, giận dữ bộc phát mạnh, ân huệ bạc mỏng, tin lời nịnh hót, không chịu suy xét hành vi, không thuận phép tắc, không quan tâm đến pháp thiện, không biết phân biệt, quên thi ân, mặc tình buông lung”.
Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một người nói:
- Vua rất bạo ngược, cai trị dân không có đạo lý
Nghe lời này, vua liền nổi giận, nhưng không tìm ra được người nói lời này. Sau đó, vua nghe lời một kẻ nịnh, bắt lầm một hiền thần, ra lịnh quân lính lóc một trăm lạng thịt sau lưng, hình phạt vừa thi hành xong, thì có người đến làm chứng là vị quan này không nói. Vua hối hận, bù lại cho người ấy một nghìn lạng thịt để đắp lại lưng. Nửa đêm nghe tiếng rên rỉ rất khổ não của ông ta, vua hỏi:
- Vì sao khanh còn đau đớn thế? Ta lấy đi một trăm lạng thịt, nhưng trả lại cho khanh gấp mười lần, ngươi cho là chưa đủ ư?
Người hầu đáp:
- Tâu đại vương! Giả sử cắt đầu một người, rồi bù lại nghìn cái đầu thì người ấy cũng đâu khỏi chết. Tuy đại vương trả thịt cho gã gấp mười lần, nhưng gã cũng không khỏi đau đớn!
Cũng vậy, người ngu không sợ quả báo đời sau, tham đắm dục lạc hiện tại, bức não chúng sinh, đọa đày trăm họ, kiếm nhiều tiền của, mong diệt tội được phúc; giống như vị vua kia, cắt thịt sau lưng của hiền thần rồi lấy thịt người khác đắp vào, mong vết thương không còn đau nhức, thật là vô lí”,
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, ở nước kia có vị vua thích ăn thịt người, liền bảo đầu bếp:
- Lúc trời tối, các ngươi đi rình tìm bắt người đem về giao cho nhà bếp!
Vua thường xuyên làm việc ấy, các quan trong triều biết được, đồng lòng trục xuất vua ra khỏi nước, tìm bậc hiền tài tôn làm vua. Mười ba năm sau, trên thân của vị vua ăn thịt người bỗng xuất hiện hai cánh, bay khắp nơi ăn thịt vô số người, đồng thời lên núi cầu thỉnh thụ thần ban phúc, giúp ông đoạt lại ngai vàng. Ông hứa sẽ bắt năm trăm vị vua để tế thần. Sau khi tìm được bốn trăm chín mươi chín vị vua, ông ta nhốt họ trong hang núi. Bấy giờ, có một vị vua đang vui chơi với các cung tần, mỹ nữ và đến ao tắm. Họ vừa ra khỏi cung, thì gặp một đạo nhân nói kệ khất thực. Vua vui lòng chấp thuận, hẹn khi trở về hoàng cung sẽ ban tặng vàng bạc cho đạo nhân. Khi đến ao, sắp tắm thì bất chợt kẻ ăn thịt người từ hư không bay đến bắt vua đem vào núi. Ông ta thấy vị vua này sẳc mặt vẫn điềm nhiên, không hề lo sợ, liền hỏi:
- Ta muốn bắt năm trăm quốc vương đem tế thần, đã được bốn trăm chín mươi chín người, nay bắt thêm ông là đủ. Ta sẽ giết tất cả để tế thần. Vì sao ông biết việc ấy mà vẫn bình thản?
Vua đáp:
- Làm người có sinh ắt có tử, vạn vật có thành tất nhiên có hoại, hội ngộ ắt có ngày chia li. Oán thù đến thì nhận lấy chứ buồn làm gì! Nhưng tiếc một điều là sáng nay, khi vừa ra khỏi cung, gặp đạo nhân nói kệ, ta hứa sẽ cúng dường tài vật, mà chưa thực hiện được. Xin ông từ bi, mờ lòng khoan dung, đợi thêm vài ngày, sau khi bố thí xong, ta sẽ trờ lại nạp mạng, không dám trái hẹn.
Vua ăn thịt người đồng ý và bảo:
- Ta cho ông kỳ hạn bảy ngày, nếu không trở lại, ta sẽ đến bắt ông!
Lập tức, vua trở về cung, quần thần và nhân dân trong ngoài thành đều vui mừng, vua liền cho mở cửa kho bố thí khắp nơi, lập thái tử lên làm vua, an ủi quần thần, nhân dân, rồi từ biệt ra đi.
Vua ăn thịt người từ xa thấy vua kia đến, liền nghĩ: ‘Đây là người đặc biệt, được tha rồi mà vân cố tìm đến cái chết’. Nghĩ xong, ông ta hỏi:
- Người đời quý trọng sinh mạng, vì sao ngươi lại xả bỏ? Người giữ chữ tín như thế ở đời khó được! Không biết ngươi có chí nguyện gì, hãy nói cho ta nghe!
Vua nói:
- Hôm nay ta bố thí thân này, nguyện được chứng đắc A-duy-tam-phật1 độ khắp chúng sinh mười phương.
Vua ăn thịt người hỏi:
- Ý nghĩa cầu làm Phật như thế nào?
Vua liền nói về năm giới, mười thiện, bốn đẳng tâm và sáu độ... Nghe xong, vua ăn thịt người liền tỏ ngộ, trong lòng cảm thấy tự tại, an lạc, liền xin theo vua thụ năm giới làm cư sĩ. Sau đó, ông ta tha cho bốn trăm chín mươi chín vị quốc vương kia về nước. Các quốc vương ấy lại cùng nhau theo vị vua từ bi kia về nước của ngài. Cảm động trước lòng tín nguyện và ân cứu mạng, tất cả đều quyết định ở lại nước này, không chịu trở về. Bấy giờ, vua xây cho mỗi người một ngôi nhà lớn, chạm khắc trang hoàng rực rỡ, đúng theo pháp vua. Việc ăn uống, y phục, xe cộ đều giống như vua. Người ở các phương khác đến hỏi:
- Tại sao khắp trong nước có những ngôi nhà giống như cung điện của vua?
Nhiều người đáp:
- Đây đều là nhà của các vị quốc vương!
Việc này lan truyền khắp nơi. Từ đó về sau, mọi người gọi nơi ấy là thành Vương Xá. Sau khi thành đạo, Đức Phật đã kể rõ việc này.
Vua lập thệ khi xưa chính là Ta, vua ăn thịt người là Ương-quật-ma. Sau đó, Phật trở lại thành Vương Xá thuyết pháp, độ vô số chúng sinh. Họ đều là những người đời trước đã kết nhân duyên với vua”.
41.4. VƯƠNG NGHIỆP
Kinh Gián vương ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm vua Bất-li-tiên-ni tuần du đất nước. Trên đường đi, vua đến chỗ Phật, cúi đầu đỉnh lễ rồi đến tòa ngồi.
Bấy giờ Đức Phật bảo: “Đại vương nên dùng chính pháp trị quốc, không để mất phép tắc; nên luôn khởi tâm từ dưỡng dục nhân dân. Sở dĩ được làm quốc vương thống trị đất nước, là do kiếp xưa hành thiện dẫn đến; vì thế, ngài trị dân không được gây sai lầm oan uổng, để hàng công khanh, các quan và nhân dân phải có lời oán thán. Nếu phép vua không bình đẳng thì trong nước phẫn hận, sau khi chết thần thức rơi vào địa ngục, lúc ấy dù hối hận cũng không kịp. Phép vua công bình chính trực, luôn có qui tắc, nhân dân sẽ ca ngợi công đức, bốn biển đều qui hướng. Bấy giờ chư thiên, rồng, thần đều nghe công đức của vua, cho nên sau khi mạng chung được sinh lên cõi trời, cũng không có gì phải hối hận. Làm vua không nên dam mê sắc dục để tự hại mình; không nên phẫn hận tàn hại mọi người, nên nghe lời can gián của những trung thần cương trực; đối với người nên nói bằng những lời khoan hòa, không dùng những lời như thiêu đốt; dưỡng nuôi, hiếu thuận với cha mẹ, cúng dường phụng sự các sa-môn thanh tịnh, đạo đức cao dày; thấy người già phải tôn kính, nếu có tài bảo thì cùng vui với dân, ban phát cho nhân dân với tâm từ thiện, không vì những lời sàm tấu mà tàn hại người. Đạo làm vua là phải tuyên dương đạo thánh hiền, dạy dân làm điều thiện, một lòng kính tin Tam bảo. Làm vua như thế, thánh hiền ca ngợi, trời rồng, quỉ thần luôn theo bảo vệ quốc gia; còn vua, sống thì được vang danh, chết lại được sinh cõi trời. nát đầm đìa. Người sắp chết lại than: ‘Ô hô, đau xót thay! Thần thức ra đi một mình, bỏ ta ở lại ư? Ai nghe mà chẳng thương tâm, ai thấy mà không đau buồn! Kế đó chở xác ra ngoài thành, bỏ nơi hoang dã, chim thú tranh nhau cắn xé ăn thịt, rồi trùng trong thân lại ăn thịt thân, nắng gió làm xương khô rồi tan hoại.
Ôi! Cái giàu sang vinh hiển ngày xưa rầm rầm rộ rộ cũng như đại vương đây, nay còn đâu nữa. Đó là minh chứng cho lẽ vô thường; xưa còn như thế huống gì hôm nay. Đại vương nên quán xét kĩ để không còn tâm dâm dục; không nghe lời nịnh hót, có chứng cứ mới khép người vào tội, nên nghe lời can gián của trung thần; cai trị có phép tắc, sợ nỗi thống khổ khảo tra ở địa ngục. Tất cả hàm linh, loài nào mà không tham sống sợ chết, do đó không nên sát hại chúng.
Nghe Đức Phật nói pháp xong, tâm ý vua tỏ ngộ, cầu thụ năm giới, làm đệ tử Phật, quì sát đất đỉnh lễ Thế Tôn’
Kinh Ma-đạt quốc vương ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, có một vị vua tên là Ma-đạt đang xuất quân chinh phạt. Ngày kia, một vị tì-kheo A-la-hán đến nước này khất thực thì bị bắt dẫn đến hoàng cung. Nhà vua sai vị tì-kheo làm quan giữ ngựa. Vị tì-kheo siêng năng làm việc được bảy ngày. Hôm ấy vua đích thân ra trận, vị tì-kheo đến trước vua, vọt người bay lên trụ giữa hư không, hiển hiện uy thần. Vua thấy vậy, lòng vô cùng sợ hãi, đỉnh lễ sám hối: ‘Trẫm thật ngu si, không phân biệt được chân ngụy. Thử hỏi người trong cả nước, ai sai thánh nhân giữ ngựa thế này? Nay đáng bị tội chém đầu’. Vị tì-kheo bảo: ‘Chẳng phải lỗi của đại vương và mọi người đâu! Bởi vào thời quá khứ, ta tu đạo thường làm thức ăn cúng dường thầy. Một hôm ta dọn cơm, thầy bảo:
- Hãy rửa tay rồi hãy dọn cơm cho ta!
- Chẳng phải thầy cũng là người nuôi ngựa quan hay sao, mà không chịu rửa tay trước! Lúc ấy ta thật ngu si, trong lòng nghĩ như vậy.
- Nay ngươi xem thường ý ta, mai sau chịu quả báo nặng vô cùng! Thấy ta nói thế.
Nghe lời nay, ta vô cùng buồn khổ. Thầy ta biết, nên nghĩ:
- Ta sẽ vào niết-bàn, vì sao còn khiến người sầu khổ!
Ngay đêm đó thầy ta vào niết-bàn. Từ đó trải qua vô số kiếp sinh tử, đến hôm nay vì nghiệp nhân ấy, nên phải chịu quả báo bảy ngày nuôi ngựa. Tạo thiện ác liền có họa phúc, như bóng theo hình’.
Vua nghe tì-kheo nói tội phúc, liền đến Phật xin qui y Tam bảo, thụ năm giới, làm vị ưu-bà-tắc. Đức Phật lại thuyết pháp cho vua và nhân dân. Nghe xong, vua chứng quả Tu-đà-hoàn.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Thuở xưa có một vị quốc vương dùng chính pháp cai trị đất nước, nhân dân rất yêu kính. Nhưng vua rất buồn vì chưa có thái tử nối dõi. Khi Đức Phật đến nước này, vua xin thụ năm giới, cung kính cúng dường và siêng năng tu tập không hề biếng trễ. Bấy giờ có một bé trai mới mười một tuổi thường hầu cận nhà vua, rất trung tín, kính phụng Tam bảo, siêng năng, không quản mệt nhọc. Bỗng một hôm, bé trai này lâm trọng bệnh rồi qua đời, thần thức liền trở lại đầu thai làm con nhà vua. Đến năm mười lăm tuổi, đứa bé này được lập làm thái tử. Sau đó nhà vua thăng hà, thái tử thừa kế ngai vàng. Sau khi lên ngôi, vua này trở nên kiêu mạn, buông lung, không lo quốc sự, quần thần phế bỏ triều chính, nhân dân vào cảnh lầm than. Đức Phật biết rõ hành động của vị vua này không hợp duyên xưa, Ngài bèn dẫn các đệ tử đến nước ấy. Nghe tin Đức Phật đến, nhà vua làm lễ nghinh đón như tiên vương đã làm. Đức Phật hỏi nhà vua:
- Nay người có biết mình vốn từ đâu đến không?
Nhà vua thưa:
- Quả thật trẫm rất ngu muội, không biết việc đời trước.
Đức Phật dạy:
- Vốn có năm nguyên nhân được làm quốc vương: một, do bố thí, nên khi làm quốc vương được vạn dân hiến dâng đền đài cung điện, cùa cải vô số; hai, do xây dựng chùa tháp, cúng dường Tam bảo màn lọng, giường chiếu, nên khi làm vua được ngồi trên ngai vàng xử lý quốc sự; ba, đích thân kính lễ Tam bảo và những bậc trưởng thượng có đức độ, nên khi làm vua tất cả muôn dân đều kính lễ; bốn, do tu hạnh nhẫn nhục, thân miệng và ý không làm điều ác, nên khi làm vua, ai thấy cũng đều rất hoan hỉ; năm, do siêng năng học hỏi thường cầu trí tuệ, nên khi làm vua, quyết định quốc sự mọi người đều tin theo thực hành. Nếu ai thực hiện năm việc này thì đời đời được làm vua.
Đức Phật dạy tiếp:
- Đời trước vua là người hầu cận của tiên vương. Do tín tâm thờ Phật, ưa thích học pháp, cung kính chúng tăng, hiếu thảo với cha mẹ, trung với vua, luôn một lòng siêng năng bố thí, chịu bao cực nhọc không hề biếng trễ, nên được phúc báo đời này làm thái tử kế thừa vương vị. Hôm nay ngài đã đạt đến chỗ giàu sang tột bậc, trở lại lười biếng. Phàm làm vua nên thực hành năm việc:
- Lãnh đạo nhân dân không được phạm sai lầm oan uổng.
- Nuôi dưỡng binh sĩ, cung cấp đúng lúc.
- Nhớ tu thiện nghiệp để phúc đức còn mãi không dứt.
- Nên nghe theo lời chính trực của trung thần, không nghe theo lời sàm tấu làm hại người ngay thẳng.
- Tiết chế dục lạc, tâm không buông lung.
Nếu một vị vua thực hiện được năm việc này thì danh tiếng vang khắp bốn biển, phúc báo tự đến, bằng không thì giềng mối đất nước không còn. Bấy giờ nhân dân khốn khổ sẽ nghĩ đến việc nổi loạn, binh lính nhọc nhằn thì thế nước không mạnh, không phúc đức thì quỷ thần không giúp đỡ, tự chuyên quyền thì sẽ mất đạo lý; trung thần không dám can ngăn thì tâm buông lung, vua bỏ bê việc nước thì nhân dân oán hận. Như vậy thì hiện tại thân bại danh liệt, đời sau sẽ không có phúc tốt.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Phàm lãnh đạo thế gian
Theo chính, không theo tà
Điều tâm thắng mọi ác
Đó là bậc Pháp vương
Thấy đúng, hay bố thí
Nhân ái thích lợi người
Được lợi nên cùng hưởng
Được vậy, mọi người nương.
Nghe Đức Phật nói kệ xong, nhà vua vô cùng hoan hỷ, đỉnh lễ sám hối Ngài và xin thụ năm giới. Đức Phật lại thuyết pháp, ông chứng quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Tân-đầu-lô vị Ưu-đà-diên vương thuyết pháp ghi: “Ngày xưa a-la-hán Tân-đầu-lô con của một vị phụ tướng, đã nói bài kệ cho vua Ưu-đà-diên nghe nhữ sau:
Khổ sinh già bệnh chết
Chưa có ngày thoát li,
Tên độc vô minh, ái
Cũng chưa từng nhổ được.
Vì sao quốc vương ngài
Lại sinh tâm đắm trước
Như voi ngựa trong rừng
Bốn bề nổi lửa lớn
Ở nơi hiểm nạn này
Làm sao mà vui được
Đại vương cần phải biết
Hiển vinh trong chớp mắt
Người trí quán xét kĩ
Đối với những việc này
Không cho là quí trọng.
Tại sao ngài hiểu lầm
Chưa thoát ngục tử sinh
Vọng cho là không sợ,
Giặc dục cướp các căn
Vọng cho là không sợ
Vô thường, không bền chắc
Như cây chuối, bọt nước
Cũng như đám mây nổi.
Thiên vương thật tôn quí
Hiểm nguy lại càng nhiều.
Đại vương nên biết rõ
Tham lợi thật nhanh chóng
Như nước rót hang sâu
Đắm dục vô cùng mau
Chuyển động như thoi dệt
Ngu si nhiễm dục này
Bất giác rơi địa ngục.
Tôn giả lại dạy:
- Đại vương! Bây giờ ta sẽ nói một thí dụ, ngài nên lắng nghe! Ngày xưa, một người đang đi trên con đường hoang vắng, bỗng một con voi dữ xuất hiện và đuổi theo. Người ấy vô cùng hoảng sợ, chạy như cuồng loạn, lại không biết cầu cứu nơi đâu. Bỗng gặp một cái giếng khô, người ấy liền vin theo rễ cây cạnh đó, xuống giếng ẩn nấp. Lúc ấy phía trên có hai con chuột, một đen, một trắng đang gặm rễ cây, bốn phía có bốn con rắn độc chờ dịp cắn người, bên dưới có ba con rồng lớn sắp phun khí độc. Như vậy người ấy, bốn phía thì sợ rắn độc, bên dưới thì sợ rồng độc, còn rễ cây thì sắp đứt. Bấy giờ có năm giọt mật từ trên cây rơi vào miệng người ấy. Bỗng nhiên cây rung mạnh, kinh động tổ ong, khiến đàn ong bay tán loạn, chích đốt người ấy, lại có lửa rừng bùng cháy, sắp lan đến thiêu đốt cây kia.
Đại vương nên biết, người kia được chút vị mật ngọt, nhưng khổ đau thì quá lớn. Chút vị kia ít như nước trong dấu chân trâu, còn khổ đau thì nhiều như nước biển lớn; vị ngọt ấy bé như hạt cải, khổ đau lớn như núi Tu-di; vị ngọt như lửa đom đóm, khổ đau như ánh sáng trời trăng; vị ngọt kia ít như lỗ cọng sen, đau khổ lớn như bầu trời; lại cũng như con muỗi sánh với chim cánh vàng. Đại vương! Con đường hoang vắng dụ cho sinh tử, người bộ hành ấy dụ cho hàng phàm phu, con voi dụ cho vô thường, giếng khô dụ cho thân người, rễ cây dụ cho thọ mạng, hai chuột đen và trắng dụ cho ngày và đêm, chuột gặm rễ cây dụ cho niệm niệm diệt, bốn rắn độc dụ cho bốn đại, mật dụ cho năm dục, đàn ong dụ cho ác giác quán, lửa rừng đốt cháy dụ cho sự già nua, bên dưới có ba con rồng độc là dụ cho việc sau khi chết rơi vào ba cõi xấu ác.
Vì thế nên biết, hưởng vị ngọt của dục rất ít mà chuốc lấy khổ đau thì vô cùng; sinh lão bệnh tử tự do đến với tất cả mọi người. Thân tâm chúng sinh thật lao khổ mà chẳng có chỗ nương, các khổ bức bách nhanh như ánh chớp. Như thế chỉ nên lo buồn, không nên tham đắm.
41.5. PHÚC CỦA VUA
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Thưở xưa, có một vị quốc vương đi săn bắn. Lúc trở về vua ghé qua nhiễu tháp và đỉnh lễ sa-môn. Quần thần trông thấy đều cười. Vua hỏi quần thần:
- Có vàng để trong vạc, vạc đang sôi có thể dùng tay lấy ra được không?
Quần thần đáp:
- Tâu bệ hạ, không thể được!
Vua nói:
- Các khanh đổ nước lạnh vào, có thể lấy được không?
Quần thần đáp:
- Dạ được!
Vua nói:
- Ta thực hiện những phần việc của vua như săn bắn... cũng như nước sôi; thắp hương, đốt đèn, nhiễu tháp cũng như đổ nước lạnh vào vạc nước sôi.
Phàm làm vua, hẳn có tạo ác làm thiện, chứ đâu chỉ có tạo ác mà không biết làm thiện?
Kinh Ca-diếp ghi: “Đức Phật dạy Ca-diếp: ‘Cách đây vô lượng kiếp ở quá khứ có Phật hiệu là Diệu Hoa. Bấy giờ có Luân vương Ni-di như pháp cai trị bốn thiên hạ. Luân vương có hai đồng tử hóa sinh. Sau đó hai đồng tử xuất gia, Luân vương bèn lập thái tử kế thừa ngôi vị, rồi cùng với chín trăm chín mươi chín người con, tám vạn bốn nghìn phu nhân, năm nghìn đại thần và nhân dân xả tục xuất gia với lòng tin thanh tịnh. Thái tử vừa lên ngôi được bảy ngày thì suy nghĩ: ‘Ta không bao giờ bỏ tâm tát-bà-nhã thì cần gì vương vị!’. Thế là thái tử phát tâm xuất gia, trong mười lăm ngày đi khắp thiên hạ. Lúc ấy thái tử nói kệ:
Phụ vương cùng thân thuộc
Nay đều đã xuất gia
Vô lượng ức chúng sinh
Vì pháp cũng xuất gia
Ta cũng muốn xuất gia
Không thích ở năm dục
Nhất tâm cầu Phật đạo
Muốn đến chỗ Đạo sư.
Ai phát tâm xuất gia
Xa lìa đống lửa dục
Nên mau chóng theo ta.
Lìa khó, vô cùng khó
Không phát tâm xuất gia
Không thể lìa lửa dục.
Tâm an nơi cư gia
Đâu thể trụ thật pháp
Này Ca-diếp! Khi thái tử nói bài kệ này, tất cả chúng sinh trong bốn thiên hạ không thích đời sống tại gia, họ đều phát tâm nguyện cầu xuất gia. Bấy giờ, không cần gieo trồng mà mặt đất tự nhiên sinh lúa gạo, cây cối tự nhiên hiện y phục, tất cả chư thiên cung cấp phục dịch, tất cả chúng sinh đều đắc đạo quả”.
41.6. ĐÔ THÀNH CỦA VUA
Kinh Thập nhị du ghi: “Ba-tư-nặc, Trung Hoa dịch là Hòa Duyệt; Ca-duy-la-việt, Trung Hoa dịch là Diệu Đức; Xá-vệ, Trung Hoa dịch là Vô Vật Bất Hữu; Duy-da-li, Trung Hoa dịch là Quảng Đại, Độ Sinh tử; La-duyệt-kì, Trung Hoa dịch là Vương Xá; Cưu-lưu Trung Hoa dịch là Trí Sĩ; Ba-la-nại, Trung Quốc dịch là Lộc Dã, Chư Phật Quốc. Cõi Diêm-phù-đề có mười sáu nước lớn, tám vạn bốn nghìn tòa thành; tám vị quốc vương, bốn vị thiên tử. Phương đông là thiên tử nước Tấn có nhân dân đông đúc; phương nam là thiên tử Thiên Trúc, với vùng đất có rất nhiều voi; phương tây có thiên tử Đại Tần, một đất nước có rất nhiều vàng ngọc; phương bắc là thiên tử Nhục-chi, một quốc gia có rất nhiều ngựa quí. Còn trong tám mươi bốn thành này có sáu nghìn bốn trăm tộc người, vạn vật và ngôn ngữ đều khác nhau; lại có năm mươi sáu vạn ức làng mạc, sáu nghìn bốn trăm loài cá, bốn nghìn năm trăm loài chim, hai nghìn bốn trăm loài thú, tám nghìn loại cỏ, bảy trăm bốn mươi loại cỏ thuốc, bốn mươi ba loại tạp hương, một trăm hai mươi mốt loại châu báu, bảy loại báu chính và vô số loài cây cối.
Ngoài biển có hai nghìn năm trăm quốc gia, trong đó có một trăm tám mươi nước nhân dân dùng ngũ cốc, ba trăm ba mươi nước nhân dân dùng cá và ba ba, có năm đại quốc vương, mỗi quốc vương cai quản năm trăm thành. Quốc vương thứ nhất tên là Tư-lê, nhân dân nước này tin kính Phật giáo, không theo ngoại đạo. Quác vương thứ hai tên là Ca-la, cai quản vùng đất xuất sinh bảy báu. Quốc vương thứ ba tên là Bất-la cai quản vùng đất sản xuất bốn mươi loại hương liệu và bạch lưu li. Quốc vương thứ tư tên là Già-da, cai quản vùng đất sản xuất hồ tiêu và tất-bát. Quốc vương thứ năm tên là Na-át, cai quản vùng đất có nhiều bạch châu và lưu li bảy màu. Năm nước lớn này, mỗi nước cách nhau sáu mươi lăm vạn dặm, người dân thấp bé, da đen. Từ đây trở đi chỉ có biển, không có con người sinh sống, cách núi Thiết Vi một trăm bốn mươi vạn dặm”.
Luận Đại trí độ ghi:
Hỏi: Các thành lớn như Xá-bà-đề, Ca-tỳ-la, Ba-la-nại đều có nhà của các vị vua, vì sao chỉ gọi thành này là Vương Xá?
Đáp: Có người cho rằng, vua nước Ma-già-đà có người con một đầu, hai mặt, bốn cánh tay. Người thời bấy giờ cho là bất tường. Vua liền xé thân và đầu người con ném ra đồng vắng. Nữ quỷ la-sát tên là Xà-la, ráp thân nó lại đem về nuôi, sau lớn thành người, chinh phục các nước, làm vua thiên hạ, bắt tám vạn bốn ngàn quốc vương, giam ở trong năm núi này. Do thế lực mạnh trị cỗi Diêm-phù-đề, nên gọi núi này là thành Vương Xá.
Lại có người cho ràng, thành của vua Ma-già-đà ở trước đây bị lửa cháy, mỗi lần cháy mỗi lần làm lại, đến bảy lần như thế. Nhân dân mệt mỏi, vua rất lo sợ, tập họp các người trí để hỏi ý, có người nói nên dời đô. Vua liền tìm nơi ở mới, thấy nơi này có năm núi bao quanh như thành, liên xây dựng cung điện. Do đó có tên là thành Vương Xá.
Lại vào thời cổ đại, nước này có vị vua tên là Bà-tẩu nhàm chán thế gian, xuất gia làm tiên nhân. Lúc ấy, các bà-la-môn tại gia cùng với các tiên nhân xuất gia luận nghị. Bà-la-môn tại gia nói: ‘Trong kinh sách có nói: Khi tế trời phải giết vật và ăn thịt’. Các vị tiên nhân xuất gia lại nói: Khi tế trời, không nên giết vật, ăn thịt’.
Họ tranh cãi mãi, bấy giờ các bà-la-môn xuất gia nói: ‘Ở đây có vị Đại vương xuất gia làm tiên nhân, các ngươi tin tưởng chăng?’. Các bà-la-môn tại gia nói: ‘Tin’. Các vị tiên nhân xuất gia nói: ‘Chúng ta sẽ nhờ người này quyết định, hôm sau sẽ hỏi’. Các bà-la-môn tại gia ngay đêm ấy, đến chỗ tiên nhân Bà-tẩu; sau khi hỏi han mọi việc, họ nói với tiên nhân: ‘Ngày mai luận nghị, ngài hãy giúp chúng tôi’.
Hôm sau, các tiên nhân xuất gia hỏi tiên nhân Bà-tẩu: ‘Trong khi tế trời, có nên giết vật ăn thịt chăng?’. Tiên nhân Bà-tẩu đáp: ‘Theo pháp của bà-la-môn, trong khi tế trời nên giết vật ăn thịt’. Các tiên nhân xuất gia hỏi tiếp: ‘Còn thật tâm ông thì sao, có nên giết vật ăn thịt chăng?’. Tiên nhân Bà-tẩu nói: ‘Vì tế trời, nên giết vật ăn thịt. Con vật chết trong khi tế trời đó, sẽ được sinh lên trời’. Các tiên nhân xuất gia nói: ‘Ông nói thật không phải, ông đại vọng ngữ!’. Rồi họ liên thóa mạ: ‘Ngươi là tội nhân, hãy chết đi!’.
Lúc ấy, hai chân của tiên nhân Bà-tẩu bỗng nhiên lún vào đất, sâu đến mắt cá. Đó là mới chỉ là hé mở cánh cửa tội lớn. Các tiên nhân xuất gia nói: ‘Ngươi nên nói thật, nếu cố vọng ngữ thì thân ngươi sẽ bị chôn vào trong đất’. Tiên nhân Bà-tẩu nói: ‘Tôi biết vì tế trời mà giết vật ăn thịt, không tội’. Tức thì lại bị chôn vào trong đất đến đầu gối. Như vậy, chôn dần đến lưng, đến cổ. Các tiên nhân xuất gia nói: ‘Ngươi nay vọng ngữ, thì phải chịu quả báo hiện tại như thế. Nếu ngươi nói thật, tuy bị chôn xuống đất, nhưng chúng tôi vẫn có thể cứu ngươi ra và thoát tội!’.
Bấy giờ tiên nhân Bà-tẩu suy nghĩ: ‘Ta là người cao quí, không nên nói hai lời. Hơn nữa, trong bốn pháp Vệ-đà của bà-la-môn, có nhiều nhân duyên khen ngợi pháp tế trời; chỉ một mình ta chết có đáng gì!’. Nghĩ thế nên tiên nhân vẫn một lòng nói: ‘Trong pháp tế trời, giết vật ăn thịt không tội’. Các tiên nhân xuất gia nói: ‘Ngươi là kẻ trọng tội, hãy chết đi, không cần thấy ngươi nữa!’. Khi ấy toàn thân Bà-tẩu bị chôn trong lòng đất.
Từ đó đến nay, thường theo pháp của tiên nhân Bà-tẩu, mỗi khi tế trời đều giết vật. Đương lúc hạ đao giết thì nói: ‘Tiên nhân Bà-tẩu giết ngươi!’,
Con của Bà-tẩu tên là Quảng Xa, kế vị làm vua, sau cũng nhàm chán thế gian, nhưng lại không thể xuất gia. Quảng Xa suy nghĩ: ‘Tiên vương xuất gia mà bị chôn sống, nếu trị vì thiên hạ thì còn gây tội lớn. Ta nay nên làm thế nào?’. Lúc đang suy nghĩ như thế, vua bỗng nghe trong hư không có tiếng nói: ‘Nếu ngươi đến một nơi được cho là hiếm có, khó gặp được, thì nên làm nhà nơi ấy mà ở’.
Sau đó thì không còn nghe gì nữa. ít lâu sau, vua đi săn, thấy một con nai chạy nhanh như gió, vua đuổi theo mà không kịp, bèn đuổi mãi, bá quan tùy tùng không ai theo kịp cả. Đuổi dần về phía trước, vua thấy có năm tòa núi bao quanh vững chắc, đất đai bàng phẳng, cỏ non mềm mịn, hoa đẹp khắp nơi, đầy dẫy các loại cây rừng, hoa quả, suối mát, ao tắm đều trong sạch, nơi nơi đều có hoa trời, hương trời, nhạc trời. Lúc bấy giờ, các nhạc công Càn-thát-bà vừa thấy vua đến thì chuyển đi nơi khác, vua nghĩ: ‘Đây là nơi hiếm có, chưa từng thấy. Ta nên làm nhà ở đây!’.
Sau đó, quần thần bá quan theo dấu chân tìm đến. Vua bảo: ‘Trước kia, ta nghe trong hư không có tiếng nói: Nếu ngươi đến một nơi được cho là hiếm có, khó gặp được, thì nên làm nhà nơi ấy mà ở. Nay ta thấy nơi này thật hiếm có, hãy làm nhà nơi đây!’. Thế là vua liền bỏ thành cũ, đến ở nơi núi này, từ đó về sau, các vua đời đời tiếp nối. Do vua là người đầu tiên xây dựng cung xá, nên gọi là Vương Xá.
Hỏi: Vì sao núi Kì-xà-quật gọi là Thứu Đầu sơn?
Đáp: Vì người ở thành Vương Xá thấy đỉnh núi này giống đầu chim Thứu.
Lại nữa, trong rừng Thi-đà ở phía nam thành Vương Xá, có nhiều xác người, các chim Thứu thường đến ăn rồi trở về đậu trên đỉnh, nên người bấy giờ gọi núi này là Thứu Đầu sơn. Đây là ngọn núi cao lớn nhất trong năm núi, có nhiều rừng đẹp, suối trong, các bậc Thánh thường trụ ở đó”.
Kinh Đại y ghi “Đức Phật trú tại núi Linh Thứu, thành Vương Xá, đây cũng là nơi nhàn cư của các Đức Phật quá khứ. Nơi này do uy thần của Như Lai tạo nên. Tại đạo tràng nơi ấy, các bồ-tát cùng nhau ca ngợi; nơi pháp tòa vô cực, trời rồng quỉ thần đều qui y đỉnh lễ”.
Luận Đại trí độ ghi:
Hỏi: Lòng từ của Đức Phật trải khắp muôn nơi, vì sao chỉ trụ tại thành Vương Xá mà không trụ những nơi khác?
Đáp: Phật cũng có trụ những nơi khác, nhưng rất ít; phần nhiều Ngài trụ tại thành Vương Xá và thành Xá-bà-đề. Vì các thành khác ở các biên quốc. Hơn nữa thành Di-xa-li có nhiều người xấu ác, căn lành chưa thuần thục, cho nên Đức Phật không trụ. Lại vì tri ân, cho nên Ngài trụ ở hai thành này.
Hỏi: Tri ân như thế nào?
Đáp: Nước Kiều-tất-la là nơi Phật đản sinh, thành Xá-bà-đề là nơi Đức Phật làm pháp chủ.
Hỏi: Nếu nói vì tri ân nên Phật trụ nhiều ở thành Xá-bà-đề, vậy Ca-tì-la-vệ gần nơi Phật đản sinh, tại sao không trú?
Đáp: Đức Phật đã dứt trừ tập khí phiền não, dù ở gần thân thuộc cũng khồng phiền lụy, nhưng các đệ tử chưa hoàn toàn li dục, nếu ở gần thân thuộc thì dễ sinh tâm nhiễm trước. Vì báo ân nơi đã sinh ra sinh thân, nên Thế Tôn phần nhiều trú tại thành Xá-bà-đề. Tất cả chúng sinh đều nên nhớ nơi sinh ra Sinh thân của mình, như bài kệ sau:
Tất cả các luận sư
Quí trọng điều mình biết
Như người nhớ nơi sinh
Xuất gia còn tranh cãi.
Ví báo ân nơi thành tựu pháp thân, nên Đức Phật trú nhiều tại thành Vương Xá. Chư Phật đều yêu kính pháp thân, như bài kệ sau:
Các Đức Phật quá khứ
Hiện tại và vị lai
Đều cung kính tôn trọng
Và cúng dường pháp thân.
Pháp thân nhiệm mầu hơn sinh thân, nên phần nhiều trú ở Vương Xá”.
Có bài tụng:
Quân thần đều cảm đức
Kinh quí cùng gương vàng
sách báu sáng muôn ngàn
Lệnh vua che ánh sáng.
Ô kí khen điềm tốt
Long thư tỏ niềm vui
Vạn quốc đều đến chầu
Trăm quan đều ca ngợi.
Khởi từ Cao, Vũ đế
Kế truyền đến các đời
Vùng Hung di hiểm trở
Dùng uy đức hàng phục.
Lòng từ che chúng sinh
Nghiệp thịnh, thọ mạng dài
Vua hiền lập triều chính
Cao cả thay, thắng nghiệp!
41.7. CẢM ỨNG
41.7.1. Trang Tử Nghi quan nước Yến: Oan hồn chí ghi: “Trang Tử Nghi vô tội mà bị Giản Công giết. Trước khi chết, Tử Nghi nói: ‘Người chết không biết thì thôi, nếu biết thì trong ba năm nhất định sẽ làm cho vua rõ’. Năm sau Giản Công cúng tế tại Tổ Trạch (Yến có Tổ Trạch còn Tống thì có Tang Lâm, là nơi tế tự lởn cùa mỗi nước). Bấy giờ mọi người thấy Tử Nghi đứng bên đường, vác gậy đỏ đánh Giản Công chết ngay trên xe”.
41.7.2. Hán vương Như Ý: Oan hồn chỉ ghi: “Như Ý là con thứ tư của Hán Cao tổ. Bấy giờ con trưởng của Lã hậu đã được phong làm thái tử. Mẹ của Như Ý là Thích phu nhân rất được Cao tổ sủng ái, nhiều lần đế muốn phế thái tử con Lã hậu để lập Như Ý. Quần thần can ngăn, nên phong Như Ý ở đất Triệu. Do việc này mà Lã hậu ganh ghét. Sau khi Cao tổ băng, Lã hậu triệu Như Ý về Trường An, lập mưu giết chết; lại chặt hết tay chân của Thích phu nhân rồi gọi là nhân trệ (heo người), về sau, một hôm Lã hậu đến Bá Thượng cúng tể, trên đường trở về, bà thấy một vật như thiên cẩu chụp vào nách của bà rồi biến mất. Cho người bốc quẻ, trong quẻ nói: ‘Triệu vương Như Ý hiện hồn về quấy phá’. Từ đó nách của Lã hậu bị đau nặng, không bao lâu thì băng”.
41.7.3. Hán Linh đế: Một hôm Hán Linh đế đến Tây viên dạo chơi, bảo các thể nữ giả làm chủ khách xá, còn mình làm thương nhân vào khách xá, các thể nữ dâng rượu, rồi cùng nhau ăn uống. Chủ tớ lấy đó làm vui. Đây là điềm thiên tử sắp mất ngôi, cho nên mới khiến vua giả làm hạng thấp hèn như vậy. Các thiên tử sau truyền lời xưa ràng: ‘Xích ách tam thất’. Tam thất tức ba nhân bảy, thành hai trăm mười năm. Nghĩa là trải qua thời gian này sẽ có người thuộc họ ngoại soán ngôi. Lại thêm giặc Xích Mi soán ngôi, vận nước chỉ còn mười tám năm. Rồi có Tú thánh quân phục hưng vận nước. Lại nữa, trải qua hai trăm mười năm, có giặc Hoàng Đâu làm loạn thiên hạ. Tức là từ đời Cao tổ đến cuối đời Bình đế là hai trăm mười năm, gặp Vương Mãng soán vị. Vương Mãng là thân thuộc của mẫu hậu. Nói mười tám năm, tức phản tặc ở Sơn Đông là Phiền Tử Đô... khởi binh, người này mày đỏ, cho nên mọi người gọi là Xích Mi. Bấy giơ có Quang Vũ phục hưng, Quang Vũ tên là Tú.
Lại nữa, đến niên hiệu Trung Bình thứ nhất (184) đời Linh đế, Trương Giác qui tụ ba mươi sáu vạn binh làm loạn, vài mươi vạn người đầu chít khăn vàng, mọi người gọi là giặc Khăn Vàng, về sau đạo phục của đạo sĩ có màu vàng là bắt đầu từ đây. Giặc Khăn Vàng khởi đầu ở đất Nghiệp, tụ hội ở Chân Định, mê hoặc nhân dân rằng: “Trời xanh đã diệt, trời vàng lập niên, năm Giáp Tí, thiên hạ đại cát”. Khởi ở đất Nghiệp thì thiên hạ mới sáng nghiệp lớn, tụ hội tại Chân Định thì nhân dân mới hướng về lễ lạy tin kính. Triều đình xuất quân đánh vùng Kinh Dương, quân Khăn Vàng thất trận, bỏ tài sản đầy đường, mấy trăm người chết. Trương Giác khởi binh vào tháng hai, đến mùa đông tháng mười hai thì đại bại. Như vậy từ khi Hán Quang Vũ trung hưng đến loạn Khăn Vàng, chưa được hai trăm mười năm mà thiên hạ đã đại loạn, nhà Hán diệt vong, thật ứng hợp với vận hạn “Tam thất” vậy.
41.7.4. Đời Hán Tuyên đế: Nước Yên có ba người nam cùng cưới một người nữ, sinh được bốn người con. Đến khi chia vợ con thì không biết sao cho công bằng, cho nên dẫn đến việc tranh tụng. Đình úy Phạm Diên Thọ xử rằng: “Những kẻ này không phải là người, nên theo lẽ của cầm thú mà định. Vậy con theo mẹ chứ không theo cha, xin giết ba người nam, trả bốn đứa con về với mẹ”. Tuyên đế nghe vậy than:
“Việc này đâu hẳn phải khổ như vậy, có thể nói chỉ đúng lí mà trái tình người. Diên Thọ thấy việc đời mà biết dụng hình, nhưng chưa biết luận đến báo ứng từ tai họa do người gây ra ở mai sau!
41.7.5. Đời Hán Linh đế, vợ ăn thịt chồng: niên hiệu Kiến Ninh thứ ba (170), ở Hà Nội, tức Kí châu, Trung Hoa, có người vợ ăn thịt chồng, còn ở Hà Nam lại có người chồng ăn thịt vợ. Vợ chồng là cái thể âm dương lưỡng nghi, tình nghĩa thật sâu, mà nay lại ăn nuốt lẫn nhau, tức âm dương xâm đoạt; vậy đâu chỉ có mặt trời mặt trăng mới ăn nuốt nhau! Sau khi Hán Linh đế băng, đất nước đại loạn, vua thì bạo ác lạm sát, bề tôi thì có tâm cướp ngôi thí vua, chiến tranh tương tàn, cốt nhục thành thù hận, thật là họa lớn cho nhân dân. Cho nên yêu quái từ đó gây tai họa trước. Tôi hận rằng không gặp việc ấy, may có lời của Đồ Thừa mà dò xét được lòng người.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
29/11/2015
PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...
