Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 43 - CHƯƠNG LUÂN VƯƠNG

21/11/2015

QUYỂN 43 Quyển này có một chương Luân vương. 40. CHƯƠNG LUÂN VƯƠNG 40.1. LỜI DẪN Từng nghe: Phi Hành hoàng đế thống lãnh bốn châu, nếu biên cương trái mệnh thì dùng bảy báu định yên, chư hầu cảm phục do dùng thập thiện g...

PUCL QUYỂN 43 - CHƯƠNG LUÂN VƯƠNG
Phần 1

QUYỂN 43
Quyển này có một chương Luân vương.
40. CHƯƠNG LUÂN VƯƠNG

40.1. LỜI DẪN
Từng nghe: Phi Hành hoàng đế thống lãnh bốn châu, nếu biên cương trái mệnh thì dùng bảy báu định yên, chư hầu cảm phục do dùng thập thiện giáo hóa. Hoàng đế ngự tại trung nguyên, ban bố ân dưỡng dục của cha lành, cảm hóa được trung thần như con đỏ. Nhưng ở cõi thế lâu thì tham dục càng nhiều, uy lực cực cao còn ước mong được thiên phúc. Thế là hoàng đế dùng sức mạnh của luân vương, vọt lên chiếm cung trời Đao-lợi. Nhưng ngặt nỗi Đao-lợi đã chẳng thuộc phần mình, lại còn mất luôn cả Luân vương vị. Bi ai thống khổ như rơi vào hiểm nạn. Xót cho nỗi đau này! Thật đáng thương thay!
40.2. CÁC LUÂN VƯƠNG
Pháp sư Tam tạng Chân Đế nói: “Vào kiếp thành, khi con người thọ vô lượng tuổi, vào kiếp Trụ, khi con người thọ tám vạn tuổi, sẽ có luân vương ra đời, nhưng không phải vào kiếp giảm”. Có ba bậc luân vương: Quân luân vương, Tài luân vương và Pháp luân vương. Nếu thọ mạng con người giảm còn tám vạn năm thì Tài luân vương không ra đời. Vị luân vương này phúc đức lớn và thọ mạng dài lâu, nếu ra đời vào kiếp giảm thì phúc đức trái với thọ mạng. Vào kiếp giảm thì Pháp luân vương ra đời. Vì sao? Vì Như Lai khởi tâm đại bi, muốn khiến chúng sinh nhận rõ vô thường, khổ, mới dễ giáo hóa. Cho nên luận ghi: ‘Vào kiếp giảm Phật ra đời, kiếp sơ Chuyển luân vương ra đời. Chỉ có khi Phật Di-lặc xuất thế, nhân dân đầy đủ phúc đức, bấy giờ cũng có hai Luân vương đồng thời ra đời’.
Có bốn Tài luân vương: một, Kim luân vương cai trị bốn thiên hạ; hai, Ngân luân vương cai trị ba châu thiên hạ, trừ Bắc uất-đan-việt; ba, Đồng Luân vương cai trị hai châu thiên hạ, trừ Bắc Ưất-đan-việt và Tây Cù-da-ni; bốn, Thiết Luân vương chỉ cai trị một châu Diêm-phù-đề Khi thọ mạng chúng sinh giảm còn tám vạn tuổi, thì Quân luân vương ra đời, dùng quân đội thâu phục, cai trị một châu thiên hạ, như vua A-dục... còn Như Lai là Pháp luân vương. Nói kiếp tăng có Luân vương ra đời, thì đó là Tài luân vương; còn Quân luân vương thì chung cho cả tăng và giảm. Thiêt luân (bánh xe săt) có hai trăm năm mươi căm, đồng luân có năm trăm căm, ngân luân có bảy trăm năm mươi căm, kim luân có một nghìn căm. Kinh Nhân vương ghi: “Đạo chủng kiên đức vương nương bánh xe vàng cai trị bốn châu thiên hạ, Tính chủng tính vương nương bánh xe bạc cai trị ba châu thiên hạ, Tập chủng tính vương nương bánh xe đồng cai trị hai châu thiên hạ, Thượng thập thiện vương nương bánh xe sắt cai trị một châu thiên hạ”.
40.3. BẢY BÁU CỦA LUÂN VƯƠNG
Kinh Trường A-hàm ghi: " Chuyển luân thánh vương có bảy báu và bốn thần đức. Bảy báu: bánh xe bằng vàng, voi trắng, ngựa tía, thần châu, ngọc nữ, cư sĩ và quan thống lãnh quân đội. Làm thế nào Chuyển luân thánh vương có được bánh xe vàng? Nếu Chuyển luân thánh vương thật sự xuất hiện trong cõi Diêm-phù-đề, thì vào ngày rằm trăng tròn, vị vua dòng Sát-lợi Thủy nhiễu đầu tắm gội bằng nước thơm, rồi lên điện cao, cùng với thể nữ hưởng thụ niềm vui. Bấy giờ bánh xe trời bằng vàng bỗng nhiên hiện đến. Bánh xe có ngàn căm, đường kính bốn trượng, phát ánh sáng rực rỡ, được làm bằng vàng cõi trời, do thợ trời chế tạo, người đời không thể làm được. Khi nhìn thấy bánh xe, Chuyển luân thánh vương thầm nghĩ: Ta từng nghe các bậc tiên đức nói ràng: nếu vào ngày rằm, vị vua dòng Sát-lợi Thủy nhiễu đầu tắm gội bằng nước thơm, rồi lên điện cao, cùng với thể nữ hưởng thụ niềm vui. Bỗng nhiên bánh xe trời bằng vàng hiện đến, bánh xe có ngàn căm, đường kính bốn trượng, phát ánh sáng rực rỡ, được làm bằng vàng cõi trời, do thợ trời chế tạo, người đời không thể làm được thì vị vua ấy, bấy giờ được gọi là Chuyển luân thánh vương. Nay bánh xe này xuất hiện, há không phải là điều ấy chăng? Ta hãy thử nghiệm bánh xe này!
Thế là Chuyển luân vương triệu tập bốn binh chủng, trịch áo bày vai phải, gối phải quỳ xuống, tay phải sờ bánh xe vàng mà nói: ‘Ngươi hãy nhắm hướng đông, di chuyển đúng như pháp, chớ trái phép tắc đã định’. Bánh xe liền chuyển về phương đông, Chuyển luân vương liền dẫn bốn binh chủng theo sau. Bánh xe dừng nơi nào, vua dừng trụ nơi đó. Bấy giờ các tiểu quốc vương thấy đại vương đến, liền dùng bát vàng đựng đầy thóc bạc; bát bạc đựng đầy thóc vàng đến chỗ đại vương, cúi đầu bạch rằng:
- Quí thay, đại vương! Ở phương đông này đất đai màu mỡ, có nhiều châu báu, nhân dân đông đúc, lòng đầy nhân ái, từ hòa, hiếu thuận. Cúi xin thánh vương hãy ở đây mà trị chính. Chúng tôi sẽ gần gũi hầu hạ, cung cấp những thứ cần dùng!
Chuyển luân vương nói với các Tiểu vương:
- Thôi, thôi! Này các hiền giả! Như vậy là các người đã cúng dường ta rồi. Chỉ cần các vị dùng chính pháp cai trị, không sai lầm oan uổng; không để trong nước có những kẻ làm điều phi pháp. Chính mình không sát sinh; khuyên bảo người khác không sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói lời đâm thọc, ác khẩu, nói dối, thêu dệt, tham lam, tật đố, tà kiến. Như thế là được ta cai trị vậy.
Các tiểu vương nghe dạy, liền theo đại vương, đến khắp các nước cho đến tận cùng bờ biển phía đông, rồi dần dần đi về phương nam, phương tây, phương bắc. Bất cứ chỗ nào mà bánh xe chuyển đến, các vua ở đó đều dâng hiến quốc thổ, cũng như các tiểu vương ở phương đông vậy.
Trong cõi Diêm-phù-đề này, có một nơi bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có nhiều trân bảo, vườn rừng mát mẻ, suối nước trong xanh. Bánh xe lăn khắp nơi ấy, ấn định ranh giới, qui hoạch chiều đông tây mười hai do-tuần, nam bắc mười do-tuần. Vào ban đêm, các thần ở trong đó xây dựng thành quách. Thành có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, các vật bằng bảy báu trang hoàng khắp nơi; lại có vố số các loài chim cùng nhau hót vang. Thành được xây xong, bánh xe vàng lại xuất hiện, vạch địa giới đông tây bốn do-tuần, nam bắc hai do-tuần. Vào ban đêm, các thần ở trong đó xây dựng cung điện. Cung điện có bảy lớp tường bằng bảy báu, cho đến cũng có vô số các loài chim cùng nhau hót vang, như đã kể trên. Cung điện được dựng xong, Chuyển luân vương vui mừng nói: “Bánh xe vàng này đúng là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương!”.
Đó là sự thành tựu bánh xe vàng.
Voi trắng được thành tựu như thế nào? Đó là vào buổi sáng sớm Chuyển luân vương ngồi trên chính điện, bỗng nhiên voi trắng xuất hiện trước mặt. Lông của nó thuần trắng, bảy chỗ bằng phẳng, có khả năng bay trên hư không. Đầu nó nhiều màu, sáu ngà thon dài được cẩn bằng vàng ròng. Thấy thế vua liền nghĩ thầm: Con voi này thuần tính, hãy thử huấn luyện, dạy dỗ tất cả kĩ năng. Thế là vào sáng sớm, vương cưỡi voi xuất thành đi khắp nơi. Đến giờ ăn trưa thì trở về. Vương phấn khởi nói: ‘Bảo vật voi trắng này thật sự là một điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương”.
Đó là sự thành tựu voi báu.
Thế nào là sự thành tựu ngựa tía xanh của Chuyển luân vương? Đó là vào buổi sáng sớm Chuyển luân vương ngồi tại chính điện, bỗng nhiên ngựa tía xuất hiện. Thân nó tía xanh, bờm và đuôi đỏ, đầu và cổ như voi, có khả năng bay trên hư không. Thấy thế, vua liền nghĩ thầm: ‘Con ngựa này thuần tính, hãy thừ huấn luyện, dạy dỗ tất cả kĩ năng.’ Thế là vào sáng sớm, Luân vương cưỡi voi xuất thành đi khắp nơi, đến giờ ăn trưa thì trở về. Chuyển luân vương phấn khởi nói: ‘Bảo vật ngựa tía này thật sự là một điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương’.
Đó là sự thành tựu ngựa tía xanh báu.
Báu thần châu thành tựu như thế nào? Đó là vào buổi sáng sớm Chuyển luân thánh vương ngồi trên đại điện. Bỗng nhiên thần châu xuất hiện, trong suốt, không có tì vết. Sau khi thấy, vua tự nghĩ: ‘Châu này thật tuyệt vời. Nếu có ánh sáng, có thể chiếu soi cả cung điện". Chuyển luân thánh vương muốn thử năng lực hạt châu, bèn triệu tập bốn binh chủng. Đặt bảo châu trên cột phướn cao. Trong đêm tối, cầm cây phướn xuất thành. Ánh sáng của hạt châu này chiếu xa một do-tuần. Những người ở trong thành đều thức dậy làm việc, cho rằng đã sáng. Chuyển luân vương vui mừng nói: ‘Nay thần châu này đúng là điềm lành của ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương’.
Đó là sự thành tựu thần châu.
Báu ngọc nữ thành tựu như thế nào? Khi ấy, ngọc nữ báu bỗng nhiên xuất hiện, nhan sắc, dung nghi, diện mạo đều tuyệt vời, đoan chính; không cao, không thấp, không mập, không ốm, không trắng, không đen, không mạnh mẽ, không mềm yếu; mùa đông thì thân ấm, mùa hè thì thân mát. Từ các lỗ chân lông khắp thân phát ra mùi hương chiên-đàn; miệng phát ra mùi hương của hoa ưu-bát-la; nói năng dịu dàng; cử chỉ khoan thai; đứng dậy trước (vua) nhưng ngồi xuống sau (vua), không mất oai nghi phép tắc. Chuyển luân thánh vương dù thấy nhưng lòng không chút mơ tưởng, huống gì gần gũi. Sau khi thấy, Chuyển luân vương vui mừng nói: ‘Báu ngọc nữ này đúng là điềm lành của ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương.’
Đó là sự thành tựu ngọc nữ báu.
Cư sĩ báu được thành tựu như thế nào? Khi ấy, một nam cư sĩ bỗng nhiên xuất hiện. Cư sĩ này có nhiều kho báu và vô lượng tài sản. Do phúc đời trước, nên cặp
Phần 2

mắt cự sĩ này có thể nhìn thấu các kho tàng dưới lòng đất, lại biết rõ có chủ hay vô chủ. Kho nào có chủ, ông giữ gìn giúp, kho nào vô chủ, ông lấy lên trao cho vua. Sau đó cư sĩ tâu: ‘Đại vương cần những gì, tôi có thể giải quyết, xin đừng lo lắng!’.
Chuyển luân thánh vương muốn thử cư sĩ bèn ra lệnh sửa soạn thuyền để du sơn ngoạn thủy, rồi bảo cư sĩ rằng:
- Ta cần vàng, ngươi hãy đưa nhanh đến cho.
- Đại vương đợi một lát, tôi cần phải lên bờ! Báu cư sĩ tâu.
- Ta đang cần gấp. Ngươi hãy lập tức mang đến cho ta. Vua hối thúc.
Thấy vua ra nghiêm lệnh, cư sĩ vội quỳ dài trên thuyền, tay mặt thọc xuông nước, khi rút tay lên thì một cái bình báu từ trong nước cũng lên theo, giống như con sâu leo cây. Cứ như thế, báu vật để đầy cả thuyền. Rồi ông tâu vua:
- Vừa rồi vua cần bảo vật để dùng, mà cần bao nhiêu?
Chuyển luân thánh vương nói với cư sĩ:
- Thôi! Ta không cần gì, chỉ muốn thử ngươi mà thôi!
Chuyển luân thánh vương vui mừng nói rằng:
- Cư sĩ báu này chính là điềm lành của ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương!
Đó là sự thành tựu cư sĩ báu.
Có được báu quan thống lãnh quân đội như thế nào? Khi ấy, vị quan thống lãnh quân đội bỗng nhiên xuất hiện. Vị này đủ trí mưu, dũng mãnh, có tài thao lược, quyết đoán. Ông đến chỗ vua, tâu rằng:
- Đại vương cần chinh phạt nơi nào, xin đừng lo, tôi có thể đảm nhận. Chuyển luân thánh vương muốn thử tài trí, bèn tập hợp bốn binh chủng rồi bảo:
- Hôm nay ngươi hãy điều binh. Đội quân nào chưa tập họp thì tập họp lại. đã tập họp thì giải tán; đội nào chưa nghiêm hãy chỉnh cho nghiêm, đã nghiêm hãy cho thoải mái; đội nào chưa đi hãy cho đi, đã đi hãy khiến dừng. Báu chủ binh nghe vua nói xong, bèn điều động bốn binh chủng. Đội quân nào chưa tập họp thì tập họp lại, đã tập họp thì giải tán; đội nào chưa nghiêm liền chỉnh cho nghiêm, đã nghiêm liền cho thoải mái; đội nào chưa đi thì cho đi, đã đi thì cho dừng. Chuyển luân thánh vương thấy vậy vụi mừng nói rằng:
- Báu này đúng là điềm lành của ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương.
Đó là sự thành tựu báu quan thống lãnh quân đội.
Bốn thần đức: Một, không chết yểu, tuổi thọ không ai bằng. Hai, không bệnh hoạn, thân thể cường tráng không ai bằng. Ba, dung mạo đoan chính không ai bằng. Bốn, kho tàng châu báu đầy dẫy, giàu có không ai bằng.
Chuyển luân thánh vương thương yêu chăm sóc nhân dân như cha thương con. Nhân dân mến mộ vua cũng như con kính ngưỡng cha. Có những gi quý giá đều dâng vua. Họ đồng tâu:
- Xin Đại vương rủ lòng thương thụ nhận, tùy ý sử dụng.
- Thôi! Ta có đủ tài bảo, các người hãy sử dụng tài sản của mình.
Cõi Diêm-phù-đề do Chuyển luân thánh vương cai trị, mặt đất bằng phẳng như lòng bàn tay, không có gai góc, hầm hố, gò nổng; nhân dân an lạc, đời sống sung túc.
Luật Thập tụng ghi: “Hồ A-nậu-đạt rộng năm mươi do-tuần, chung quanh có các loại cây hoa trái mọc tốt tươi; nơi đây là cung điện của voi chúa Thiện Trụ với tám nghìn voi quyến thuộc. Khi Chuyển luân thánh vương ra đời, voi nhỏ nhất trong đàn được chọn làm voi báu cho vua cưỡi. Lại ở lục địa giữa biển lớn quanh núi Tu-di có núi Minh Nguyệt, là cung điện của ngựa Bà-la-hê với tám nghìn ngựa quyến thuộc. Khi Chuyển luân thánh vương ra đời, thì ngựa nhỏ nhất trong đàn được chọn làm ngựa báu cho vua cưỡi”.
Kinh Khởi thế ghi: “Những báu voi và báu ngựa này có thể huấn luyện thuần thục trong một ngày và đảm nhiệm các công việc. Vì muốn thử khả năng của loài này, nên vào sáng sớm khi mặt trời vừa mọc, Chuyển luân vương cưỡi nó đi khắp một vòng qua các châu và biển lớn rồi mới trở về cung dùng điểm tâm”.
Kinh Đại lâu thán ghi: “Chuyển luân vương có bốn phúc báo: Một, giàu có vô lượng, châu báu, nhà cửa, nô tì... nhiều không ai sánh bằng; hai, dung mạo đoan chính, xinh đẹp không ai sánh bằng; ba, luôn an ổn khỏe mạnh, không bao giờ bệnh tật, không sợ lạnh nóng, tiêu hóa tất cả các thức ăn uống đã dùng; bốn, sống lâu không ai bằng. Chuyển luân thánh vương có đủ bốn đức và bảy báu”.
Kinh Tát-già ni-kiền tử ghi: “Đại vương nên biết! Chuyển luân thánh vương lại có bảy loại báu khác gọi là Nhuyến bảo. Năng lực của bảy báu này kém hơn bảy báu trước. Đó là kiếm, da, giường nằm, vườn, nhà cửa, y phục, túc sở dụng. Vua hỏi:
- Kiếm báu công dụng gì?
- Đại vương nên biết! Chuyển luân thánh vương cai trị nhân đân, nếu ai có ý niệm trái lệnh, lập tức kiếm bay đến thâu phục, các vua nước nhỏ nhìn thấy liền quy thuận lễ bái. Kiếm cũng không có ý giết hại chúng sinh.
- Da báu này như thế nào? Vua hỏi.
- Đại vương nên biết! Da của Chuyển luân thánh vương chính là da Hải long vương. Tấm da ấy rộng năm do-tuần, dài mười do-tuần, tinh sạch, sáng rỡ, đốt không cháy, ngâm không thấm, gió thổi mạnh cũng không lay động, chất liệu da ấm áp, mát mẻ, trừ được lạnh nóng. Vua đi đâu, tấm da cũng theo che mát, cũng che mát cho cả binh sĩ khoảng mười do-tuần; lại có thể làm nhà chung cho tất cả mọi người.
- Giường báu này như thế nào? Vua lại hỏi.
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
- Đại vương nên biết! Giường của Chuyển luân thánh vương bằng phẳng, êm ái vừa ý. Nếu vua ngồi thiền trên giường này thi liền nhập tam-muội Giải thoát; diệt trừ tham sân si. Người nữ thấy vua ngồi trên giường này, cũng được xa lìa tham sân si.
- Vườn báu này như thế nào? Vua hỏi tiếp.
Đại Tát-già n--kiền-tử đáp:
- Đại vương nên biết! Khi Chuyển luân thánh vương muốn hưởng ngũ dục mà vào vườn này, thì tùy công đức nghiệp lành của vua đã tạo, tất cả cảnh vui như hoa quả, chim chóc, sông suối, rạch ao, âm nhạc, ca múa, vui chơi ở những nơi khác tự nhiên biến mất mà hiện ra nơi vườn này.
Vua lại hỏi:
- Nhà báu của Chuyển luân thánh vương như thế nào?
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
- Khi Chuyển luân thánh vương vào nhà này mà muốn thấy mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao thì liền thấy; nghe được tất cả âm nhạc cõi trời, khiến tâm không còn lo buồn mệt mỏi, giấc ngủ an ổn, mộng thấy điềm lành.
- Y phục báu của Chuyển luân thánh vương như thế nào?
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
- Y phục của Chuyển luân thánh vương không giống lụa là gấm vóc thế gian, nó có hoa văn ngang dọc, mềm mại, không dính bụi bặm. Người mặc y này đều được mát mẻ, không còn lạnh nóng, đói khát bệnh tật, gầy ốm, lo buồn, khổ não, mệt mỏi. Đại vương nên biết! Y báu của Chuyển luân thánh vương đốt không cháy, cắt khồng đứt, nước không làm mục rã.
- Túc sở dụng báu là gì? Vua hỏi.
Đại Tát-già ni-kiền-tử đáp:
- Đại vương nên biết! Báu túc sở dụng của Chuyển luân thánh vương chính là đôi giày. Khi vua mang giày ấy lội qua nước thì khồng bị chìm, vào lửa không cháy, dù đi xa trăm nghìn do-tuần cũng không mệt mỏi.
Nên biết, bảy thứ báu này là do gom nhóm một phần nhỏ công đức của mười điều lành mà có được”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Khi Chuyển luân thánh vương ra đời thì bảy báu xuất hiện. Còn Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác ra đời lại có bảy chi báu xuất hiện ở thế gian. Bảy chi: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tiến giác chi, hỉ giác chi, tức giác chi, định giác chi, xả giác chi.
40.4. ĐỈNH SINH
Kinh Hiền ngu ghi:

Phần 3

- Vào đời quá khứ vô lượng vô biên a-tăng-kì kiếp không thể nghĩ bàn, ở cõi Diêm-phù-đề có vua Cù-tát-li cai trị tám vạn bốn nghìn nước nhỏ; vua có hai vạn phu nhân và cung nữ, một vạn đại thần. Một hôm, chợt trên đỉnh đầu vua hình thành một bào thai, hình dáng như tổ kén, sạch sẽ trong suốt, cũng không gây đau đớn. Theo thời gian, nó lớn dần như trái bầu, mổ ra thì được một bé trai khồi ngô tuấn tú. Sau đó vua băng, Đỉnh Sinh kế thừa ngôi vị, có đầy đủ bảy báu, y phục, thức ăn, thức uống tự nhiên hiện đến, âm nhạc không trỗi mà tự kêu.
Vua Đỉnh Sinh hưởng thụ năm dục ở cõi Diêm-phù-đề suốt tám vạn bốn nghìn năm. Một hôm, có dạ-xoa hiện lên trước cung điện, nói lớn:
- Ở phương đông có nước Phất-bà-đề rất giàu có, an vui sung sướng không đâu sánh bàng. Đại vương nên đến đó thụ hưởng năm dục.
Vua liền đồng ý, khi sắp đi, bánh xe vàng liền vọt lên hư không dẫn đường, vua quần thần và bảy báu theo sau. Vua đến nước đó, các vua nước nhỏ đều lễ bái chúc mừng. Vua ở nước này, tha hồ hưởng thụ năm dục, trải qua tám ức năm.
Dạ-xoa lại hiện lên nói:
- Ở phương tây có nước Cù-da-ni cũng rất vui sướng. Đại vương hãy đến nước đó.
Nhà vua đồng ý, đến nước đó thụ hưởng dục lạc trải qua mười bốn ức năm.
Dạ-xoa lại hiện lên bảo:
- Ở phương bắc có nước tên uất-đan-việt nhân dân rất đông đúc, sống an vui hạnh phúc. Đại vương hãy đến nước đó.
Vua lại đến nước này thụ hưởng năm dục, trải qua mười tám ức năm.
Dạ-xoa lại hiện lên bảo:
- Cõi trời Tứ Thiên Vương có nhiều niềm vui không kể xiết. Đại vương hãy đến cõi đó.
Vua, quần thần cùng bốn binh chủng nương hư không mà lên. Trời Tứ Thiên Vương từ xa nhìn thấy, trong lòng rất lo sợ, vội tập hợp quân đội, ra ngoài chống cự, cuối cùng đánh không lại đành lui binh. Vua Đỉnh Sinh tha hồ hưởng thụ trải qua mười ức năm. Một hôm, vua nghĩ: “Ta muốn lên cõi trời Đao-lợi”. Thế là vua cùng với quần thần bay vọt lên hư không. Khi ấy, có năm trăm vị tiên ở lưng chừng núi Tu-di bị voi, ngựa của vua tiểu tiện xuống làm nhơ uế thân họ. Các vị tiên hỏi:
- Tại sao có chuyện này?
Trong đó có một vị trí tuệ bảo với mọi người:
- Tôi nghe vua Đỉnh Sinh muốn lên cõi trời Đao-lợi, nhất định là voi, ngựa của vua thải ra chất nhơ uế này!
Các vị tiên tức giận cùng nhau hợp lại đọc thần chú, làm cho vua Đỉnh Sinh và binh chúng không di chuyển được. Vua biết rõ nguyên nhân, liền nguyện: “Nếu tôi có phúc thì các vị tiên này đều theo hầu tôi”. Tức thời năm trăm vị tiên đều đến bên vua, kẻ đỡ bánh xe, người cầm cương ngựa cùng lên đến cõi trời. Từ xa vua thấy thành Khoái Kiến màu trắng, cao lớn, nguy nga lộng lẫy. Thành Khoái Kiến này có một nghìn hai trăm cửa; chư thiên sợ hãi đóng chặt, kéo ba lớp sắt. Binh chủng của vua xông thẳng đến, vua thổi ốc bán cung, tức thời một nghìn hai trăm cửa cùng mở. Đế Thích ra đón và thỉnh vua vào cung, chia tòa cùng ngồi. Đế Thích và vua Đỉnh Sinh tướng mạo giống nhau, không thể phân biệt được, đến khi thấy chớp mắt nhanh chậm mới biết khác nhau. Vua ở cõi trời này, hưởng thụ năm dục đủ ba mươi sáu đời. Một hôm Đỉnh Sinh nghĩ: “Sức của ta vô địch không ai sánh bằng, chi bằng ta giết Đế Thích, một mình làm bá chủ”. Vua vừa khởi tâm ác, liền bị đọa lạc, đang ngồi trên cung điện, bỗng nhiên thân thể suy kiệt, sắp chết. Mọi người đến hỏí:
- Nếu người đời sau hỏi vua Đỉnh Sinh vì sao băng thì trả lời thế nào?
- Nếu có người hỏi thì hãy trả lời: ‘Vua Đính Sinh cai trị bốn châu thiên hạ, hưởng thụ năm dục ba mươi ức năm, mưa báu bảy ngày và ở hai cõi trời. Như vậy mà vẫn không biết đủ, cho nên bị đọa lạc’._Vua đáp.
A-nan thưa:
- Bạch Thế Tôn! Vua Đỉnh Sinh đời trước trồng nhân lành gì mà được phúc báo lớn vô cùng như vậy?
- Này A-nan! Vào đời quá khứ không thể tính kể, có Đức Phật Phất-sa ra đời. Ngài cùng chúng đệ tử đi giáo hóa khắp nhân gian. Khi ấy, có con trai của bà-la-môn sắp cưới vợ, chuẩn bị một ít hạt đậu dùng để rải trên vợ theo phong tục đời xưa. Trên đường đi, anh ta gặp Đức Phật, lòng cảm thây vô cùng hoan hỉ, liền tung các hạt đậu lên trên Đực Phật; bốn hạt rơi vào bát, một hạt rơi vào đỉnh đầu. Nhờ nhân duyên này mà được phúc vô lượng; bốn hạt rơi trong bát là làm vua cai trị bốn châu thiên hạ, một hạt trên đỉnh đầu là hưởng thụ dục lạc ở hai cõi trời.
Kinh Đỉnh Sinh cố sự ghi: “Vua Đỉnh Sinh vừa có ý niệm ấy, liền từ tòa ngồi của Thích-đề-hoàn-nhân cùng với bốn binh rơi xuống cõi Diêm-phù, mất hết thân túc, toàn thân đau đớn như người sắp chết, bảy báu cũng đều không còn.
Đỉnh Sinh vương ngày trước, nay chính là Ta. Ngày ấy, nơi năm dục ta không biết nhàm chán, còn đắm nhiễm dục lạc, gom góp cất chứa không biết đủ. Nếu nói đủ thì đạt đến đạo hiền thánh mới gọi là đủ. Bấy giờ Thế Tôn nói kệ:
Chẳng vì nghiệp tiền tài
Biết năm dục đáng chán
Vui ít, khổ đau nhiều
Người trí không tham đắm
Dẫu sống trong năm dục
Không bao giờ dính mắc
Hết ái sẽ được vui
Đó là đệ tử Phật.
Tham dục, đắm lợi dưỡng
Mạng chung rơi địa ngục
Vốn muốn giúp sống an
Chết bị khổ bức ép
Các pháp đều vồ thường
Có sinh ắt hủy hoại
Sinh rồi cũng phải chết
Tịch diệt, rốt ráo vui.
Tôn giả A-nan nghe Đức Phật dạy, lòng vô cùng vui vẻ, cung kính hành trì.
Kinh Khởi thế ghi: “Chuyển luân thánh vương mạng chung, nhất định sinh cõi trời, cùng chỗ với trời Ba Mươi Ba, bảy ngày sau, bảy báu cũng ẩn hết”.
40.5. VUA A-DỤC
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, ôm bát cùng các tì-kheo vào thành Xá-vệ khất thực. Ánh sáng từ thân Thế Tôn rực rỡ như nghìn mặt trời, soi chiếu khắp nơi. Ngài và thánh chúng theo thứ tự vào thành. Bấy giờ có hai bé trai, một tên là Xà-na thuộc dòng họ cao quí, hai là Tì-xà-na thuộc dòng tộc thấp kém đang đùa giỡn trên cát. Từ xa thấy Thế Tôn đầy đủ ba hai quí, Xà-na nghĩ: ‘Ta nên cúng dường gạo rang cho Thế Tôn!’. Nghĩ xong, Xà-na lấy một nắm cát đặt vào bát của Phật.Tì-xa-na thấy vậy cũng chắp tay tùy hỉ đồng thời phát nguyện: ‘Nhờ công đức lành cúng dường này, khiến đời sau con được làm Tán Cái vương cai quản một thiên hạ và cũng được tiếp tục cúng dường Phật cho đến lúc thành Vô thượng chính giác’.
Lúc ấy Thế Tôn mỉm cười. A-nan thấy vậy liền chắp tay bạch Đức Phật: ‘Không phải vô cớ mà Thế Tôn mỉm cười!’. Thế Tôn liền bảo A-nan: ‘Thật có nhân duyên ta mới mỉm cười. Ông nên biết, một trăm năm sau khi Ta diệt độ, đứa bé này sẽ ra đời ở Ba-liên-phất, họ Khổng Tước, tên là A-dục, làm Chuyển luân vương thống lãnh một phương. Vua này dùng chính pháp cai trị nhân dân, lại xây tám vạn bốn nghìn ngôi tháp Pháp vương khắp nơi để tôn trí xá-lợi của Ta, giúp cho vô lượng chúng sinh được an lạc’. Thế Tôn thuyết kệ:
Sau khi Ta diệt độ
Bé này họ Khổng Tước
Tên A-dục làm vua
Thí như Đỉnh Sinh vương
Làm vua cõi Diêm-phù

Phần 4

Được thế gian tôn kính.
Đức Phật bảo A-nan:
- Ông hãy lấy cát trong bát này rải lên nơi Như Lai kinh hành, sẽ giúp cho đứa bé được sinh vào nơi ấy. A-nan liền làm theo lời Thế Tôn dạy.
Đức Phật lại bảo:
- Này A-nan! Vua Nhật Nguyệt Hộ cai trị thành Ba-liên-phất sinh thái tử Tần-đầu-bà-la. Thái tử sẽ kế vị và có con tên là Tu-sư-ma. Bấy giờ ở nước Chiêm-bà có một người con gái Bà-la-môn dung mạo xinh đẹp, đoan chính, ai cũng thích nhìn, cả nước đều quí trọng. Các thầy tướng đều đoán cô gái này sẽ làm vương phi, sinh được hai ngườỉ con, một sẽ làm vua cai trị một thiên hạ, một sẽ xuất gia học đạo và đạt Thánh quả.
Bà-la-môn nghe vậy vô cùng vui mừng, liền trang điểm cho con rồi gả cho vua kia. Vua thấy cô gái xinh đẹp, đoan chính, có đức hạnh, thì liền cưới làm phu nhân. Vị phu nhân lớn và các thể nữ thấy vậy liền suy nghĩ: ‘Người này xinh đẹp lại đoan chính, được mọi người quí trọng. Vì thế mà đại vương bỏ ta, không thèm nhìn đến’. Thế là các thể nữ ấy bảo phu nhân mới học cắt tóc. Sau khi thuần thục bà đến cắt tóc cạo râu cho vua, khiến vua vui vẻ và vô cùng khoan khoái. Vua cho phép bà một ước muốn. Bà trả lời là muốn vua sủng ái mình. Ba lần cầu xin như thế, nhà vua bèn đáp:
- Ta là vua Quán Đỉnh dòng Sát-lợi, ngươi là người cắt tóc, làm sao yêu thương các ngươi được!
- Thần thiếp không thuộc giòng tộc thấp hèn mà là con gái của một bà-la-môn cao quí. Thầy tướng nói với cha thiếp là nên gả người con gái này cho quốc vương, cho nên thần thiếp đến đây! Phu nhân này đáp.
- Nếu vậy ai bảo nàng học nghề thấp hèn này?
- Các thể nữ của phu nhân trước đã bảo thần thiếp học.
Sau đó vua ban sắc từ nay không được làm nghề thấp hèn này và phong bà làm đệ nhất phu nhân. Nhà vua hằng ngày vui chơi bên phu nhân, nhân đó bà có thai. Tháng ngày đã đủ, hạ sinh hạ một bé trai. Vì sinh ra rất an ổn, người mẹ không lo buồn, nên bảy ngày sau đặt tên là Vô Ưu. Sau đó bà lại sinh một bé trai, đặt tên là Li ưu. Thân Vô ưu rất thô nhám, nên không được phụ vương bồng ẵm, thương yêu.
Muốn thử tài các vị hoàng tử, nên một hôm vua hỏi bà-la-môn Tân-già-la-a:
- Hòa thượng xem trong các con của ta, sau khi ta băng, ai sẽ làm vua?
- Đại vương hãy đưa các hoàng tử đến cung điện ở vườn Kim Điện, hạ thần sẽ xem tướng tại đó.
Thế là tất cả đều đi. Bấy giờ người mẹ hỏi Vô Ưu:
- Mọi người đều theo vua xuất thành đến vườn Kim Điện xem các vương tử, sau khi đại vương băng, ai sẽ làm vua. Tại sao con không đi?
- Phụ hoàng đã không nghĩ đến, lại còn không muốn gặp mặt con mà đến làm gì! Vô Ưu đáp.
- Con cứ việc đến đó! Người mẹ bảo.
- Con sẽ đến, xin mẹ mang thức ăn cho con.
- Cứ làm như thế! Người mẹ đáp.
Vừa ra đến cừa thành, Vô Ưu gặp một vị đại thần tên là A-nậu-la-đà, vị này hỏi:
- Vương tử đi đâu vậy?
- Nghe nói Đại vương đến vườn Kim Điện xem tướng các vương tử, sau khi ngài băng vị nào sẽ làm vua, nên bây giờ ta đên nơi ây!
Vị quan này trước đó đã được nhà vua ra lệnh rằng: “Nếu vương tử Vô Ưu đến thì nên trao cho con voi già yếu chậm chạp, đồng thời chọn người già làm tùy tùng”. Thế là Vô Ưu cưỡi voi già đến vườn, vào ngồi trên đất. Bấy giờ các vương tử chuẩn bị dùng cơm. Người mẹ đặt cơm trộn sữa đặc vào bát bằng đất nung đưa đến cho Vô Ưu. Trong lúc các vương tử dùng cơm, vua bảo thầy tướng:
- Khanh xem ai trong số các vương tử đây có tướng làm vua, kế thừa ngôi vị của ta!
- Thần xin dự kí chung.
- Cứ làm theo lời của khanh!
Thầy tướng nói:
- Trong các vị vương tử đây, ai dùng phương tiện đi lại tốt nhất sẽ làm vua.
Các vương tử nghe vậy, đều nói mình có phương tiện tốt nhất. Riêng Vô Ưu nói: ‘Ta cưỡi ngựa già, ta được làm vua!’. Thầy tướng lại nói:
- Ai ngồi tòa cao đẹp bậc nhất, người ấy sẽ làm vua!
Các vương tử đều nói với nhau là tòa của mình bậc nhất; riêng Vô Ưu nói: ‘Ta ngồi trên đất, ta sẽ làm vua’. Thầy tướng lại nói:
- Ai có bát và thức ăn thượng hạng sẽ được làm vua! Vô Ưu lại nói tiếp: ‘Ta có phương tiện tốt, tòa bậc nhât, thức ăn thượng hạng’.
Vua xem xét các vương tử xong, liền trở về cung. Bấy giờ mẹ Vô Ưu hỏi: ‘Ai sẽ làm vua, thầy tướng dự kí cho ai?’. Vô Ưu đáp: ‘ Ai có phương tiện tốt nhất, tòa cao đẹp nhất, bát và thức ăn thượng hạng sẽ làm vua. Con tự thấy mình sẽ làm vua, vì có voi già làm phương tiện, lấy đất làm tòa, bát thô đựng thức ăn, tấm cám trộn sữa làm cơm’ .
Bà-la-môn xem tướng biết Vô Ưu sẽ làm vua, nên rất kính trọng người mẹ, người mẹ cũng thưởng cho bà-la-môn rất trọng hậu và nói: ‘Nếu con ta làm vua, thầy sẽ được rất nhiều lợi lạc, sẽ được cúng dường trọn đời’.
Bấy giờ nước Đức-xoa-thỉ-la, một quốc gia vùng biên của vua Tần-đầu-bà-la tạo phản, vua sai Vô Ưu mang bốn binh chinh phạt nước ấy. Vô Ưu vâng mệnh, nhưng khi xuất quân, nhà vua không trao cho khí giới, giáp trụ. Những người đi theo vội nói: ‘Nay chúng ta chinh phạt nước kia, nhưng không có vũ khí và quân dụng thì làm sao chiến thắng?’. Vô Ưu nói: ‘Nếu thật ta sẽ làm vua thì nhờ phúc báo căn lành, vũ khí giáp trụ tự nhiên hiện đến!’. Nói vừa dứt lời, mặt đất nứt ra, tất cả vũ khí giáp trụ từ lòng đất vọt lên.
Nhân dân nước Đức-xoa-thỉ-la nghe Vô Ưu đến liền dọn dẹp, san phẳng đường sá, trang hoàng thành quách, mọi người cầm bình cát tường và các phẩm vật khác tiếp đón vương tử Vô Ưu. Họ đồng thưa rằng: ‘Chúng tôi không phản đại vương và vương tử, nhưng các quan không làm lợi ích cho chúng tôi, nên mới trái nghịch vương pháp!’. Nói xong, họ mời vương tử vào thành. Sau khi bình định nước này, vua lại sai Vô Ưu đánh nước Khứ-sa. Bấy giờ hai đại lực sĩ nước kia theo lệnh vua san phảng, dọn dẹp đường sá, bỗng chư thiên tuyên lịnh: ‘A-dục (Vô ưu) sẽ làm vua thiên hạ, các ngươi chớ chống cự!’. Thế là vua nước ấy vội qui hàng. Cứ như vậy, A-dục bình định cả thiên hạ, tận đến bờ biển.
Ngay lúc này vua cha bệnh nặng, ông bảo các quan rằng: ‘Nay ta muốn lập Tu-sư-ma kế vị, còn đưa A-dục đến một nước khác!’ Nhưng các quan muốn lập A-dục, nên dùng bột màu vàng xoa lên toàn thân A-dục, họ lại đến gặp vua và tâu: ‘Vương tử A-dục bệnh rât nặng!’. Nói xong họ trang bị cho vương tử rồi đưa đến gặp vua. Các quan đồng tâu: ‘Hôm nay chúng ta lập vị vương tử này làm vua, sau này từ từ sẽ lập Tu-sư-ma!’. Nhà vua nghe thế thì im lặng, trong lòng không vui. Lúc ấy, A-dục suy nghĩ: ‘Nếu ta nhất định được vương vị, thì chư thiên tự nhiên hiện đến, dùng nước rưới trên đỉnh ta và dùng dây lụa trắng buộc đầu ta’. Nhà vua thấy có điềm ấy, lòng vô cùng sầu muộn, tức thời mạng chung. Thế là A-dục kế vị. Theo phép tắc an táng vua cha xong, Vua A-dục phong A-nậu-lâu-đà làm đại thần.
Vương tử Tu-sư-ma nghe vua cha băng và đã lâp A-dục làm vua, trong lòng không phục, liền tập họp quân đội tiến đánh vua A-dục. Bây giờ trên bốn cửa thành, vua A-dục bố trí hai lực sĩ ở hai cửa, một cửa giao cho vị đại thần, còn đích thân giữ cửa đông. Đại thần A-nậu-lâu-đà chế tạo một con voi lớn bằng gỗ có cơ quan điều khiển, lại tạo hình tượng vua A-dục cưỡi voi, đặt bên ngoài cửa đông. Kế đó ông cho đào hầm sâu, đổ đầy than lửa, ngụy trang miệng hầm. Khi Tu-sư-ma đến, đại thần A-nậu-lâu-đà bảo: ‘Vương tử muốn làm vua, bây giờ A-dục đang trấn giữ cửa Đông, ngài đến đó giao chiến, nếu thắng thì tự nhiên được làm vua’. Vừa nghe nói, Tu-sư-ma liền chạy đến cửa Đông thì bị rơi vào hầm lửa tử trận. Đại lực sĩ Bạt-đà-thân-đà nghe tin Tu-sư-ma tử trận, đã dẫn vô số thân thuộc theo Phật pháp xuất gia học đạo và đều chứng A-la-hán.
Các quan cậy mình có công, nên xem thường A-dục, không chịu theo lễ quân thần. Vua cũng biết họ xem thường mình, nên một hôm vua nói: ‘Các ngươi hãy nhổ bỏ cây hoa để trồng cây gai!’. Các quan đáp: ‘Chưa nghe nói ai nhổ cây hoa để trồng cây gai, mà cần phải nhổ cây gai để trồng cây hoa. Cho dù Đại vương nhiều lần ban lệnh, chúng thần cũng không tuân theo’. Nhà vua vô cùng tức giận, rút kiếm chém chết năm trăm người. Một hôm vua cùng với các thể nữ và thân thuộc đến

Phần 5

khu vườn ở ngoại thành ngoạn cảnh, thấy cây Vô Ưu trổ hoa rất nhiều. Biết cây hoa này cùng tên với mình nên vua rất vui.
Dung mạo vua rất xấu, da thô nhám, các thể nữ nhàm ghét, không yêu thương, nên bẻ gãy cây Vô Ưu. Sau khi tỉnh giấc, thấy cành Vô Ưu bị bẻ gãy vung vãi đầy trên mặt đất, vua vô cùng tức giận bắt trói và thiêu chết các thể nữ. Vua rất bạo ngược, nên gọi là A-dục vương bạo ác. Lúc ấy A-nậu-lâu-đà tâu: ‘Đại vương không nên làm theo cách này, sao lại tự tay mình giết các quan và các thể nữ? Ngài nên tìm một đao phủ, nếu có kẻ nào đáng giết, thì hãy giao cho đao phủ!’. Vua nghe theo, tuyên lệnh tìm người làm đao phủ.
Bấy giờ trong núi Kì-lê có một người làm nghề dệt vải sinh sống. Người ấy có con trai tên là Kì-lê, bản tính hung ác, luôn đánh đập, cột trói các bé trai bé gái, giết hại các loài chim thú, cá tôm, lại còn bất hiếu với cha mẹ, vì thế mọi người gọi hắn là Kì-lê tử hung ác. Vua cho người đến hỏi:
- Ngươi có thể giúp vua chém đầu kẻ hung ác không?
- Tôi có thể trừ sạch tất cả kẻ có tội trên cõi Diêm-phù-đề, huống gì một nước này! Kì-lê đáp.
Sứ giả trở về tâu lại với vua là kẻ ấy đã chấp nhận. Vua bèn ra lệnh triệu kẻ ấy đến. Sứ giả lại đến báo. Kì-lê nói: ‘Ngài hãy đợi giây lát, tôi phải từ biệt cha mẹ và và trình bày việc này!’, Nghe con mình nói như thế, cha mẹ Kì-lê bảo:
- Con không nên làm việc này!
Nghe cha mẹ nói ba lần như thế, gã khởi tâm độc ác bất nhân, giết hại luôn cha mẹ rồi mới đi. Các sứ giả hỏi gã: ‘Lâu quá vậy, sao không nhanh lên?’. Gã hung ác bèn thuật lại sự việc. Sứ giả dẫn về trình tâu lên vua. Vua bảo gã: ‘Ngươi cần phải biết những tội nhân đáng chết trong nước của ta!’. Gã xin vua xây cho một tòa nhà. Vua liền xây cho gã một tòa nhà cao lớn, nhưng chỉ có một cửa ra vào, cửa này cực kì tráng lệ. Trong ngôi nhà này lập ra những phương cách trị phạt người tội giống như địa ngục. Kẻ hung ác kia lại xin vua một điều là nếu người nào đã vào đây thì không được ra nữa, nhà vua chấp thuận. Một hôm kẻ chủ sát này đến chùa nghe các tì-kheo nói các việc ở địa ngục, gặp lúc chư tăng tụng kinh Địa ngục đến đoạn: ‘Lay kềm sắt cháy đỏ cạy miệng, rồi nhét vào các hoàn sắt nóng, đổ nước đồng sôi, dùng búa sắt chém chặt thân thể, gông cùm xiềng xích, xe lửa lò than, vạc dầu, sông tro nóng, núi đao rừng kiếm... đầy đủ như kinh Ngũ thiên sứ đã nói. Nghe xong, gã về lại trụ xứ làm đúng như đã nghe và cũng theo cách thức trong kinh mà trị phạt tội nhân.
Bấy giờ có một người ra biển đã mười năm, sau khi tìm được nhiều châu báu, ông trở về cố hương. Trên đường trở về ông bị bọn cướp năm trăm tên giết hại. Con của người này thấy cha bị giết, châu báu lại bị mất hết, nên nhàm chán cõi đời, xuất gia học đạo, vân du khắp nơi, dần dần đến ngoại thành Ba-liên-phất. Tá túc ngoài thành một đêm, sáng sớm hôm sau, vị tì-kheo này đắp y ôm bát vào thành khất thực và lầm vào nơi trị phạt 'tội nhân của vua. Từ ngoài sân, ông nhìn thấy trong nhà, nào là xe lửa, lò than... đang hành khổ tội nhân giống như địa ngục, trong lòng vô cùng hoảng sợ, định quay trở ra. Nhưng kẻ hung ác chủ nơi ấy đã đến bắt vị tì-kheo và nói: ‘Ai đã vào đây thì không thể ra được, ngươi nhất định phải chết!’. Nghe nói, vị tì-kheo vô cùng sầu muộn, nước mắt tuôn tràn. Kẻ ác lại hỏỉ: ‘Sao khóc lóc như trẻ con thế?’. Vị tì-kheo liền nói kệ đáp:
Ta không hề sợ chết
Bởi chí nguyện giải thoát
Hôm nay chưa thành tựu
Cho nên ta mới khóc
Thân người thật khó được
Xuất gia cũng như thế
Gặp vua Thích Sư Tử
Từ nay chẳng còn mong.
Kẻ hung ác hỏi: ‘Nay ngươi nhất định phải chết, còn điều gì lo buồn?’. Tì-kheo cất giọng buồn bã nói: ‘Hãy cho ta sống thêm một tháng!’. Kẻ ác không chịu. Tì-kheo năn nỉ, dần dần giảm còn bảy ngày thì kẻ ác chấp thuận. Biết mạng sống không còn bao lâu, tì-kheo tinh tấn tọa thiền điều tâm, nhưng vẫn chưa đắc đạo. Đến ngày thứ bảy, có người nữ trong cung phạm tội chết bị đưa đến đây. Kẻ hung ác bỏ người nữ này vào cối giã nát thân thể. Tì-kheo thấy vậy vô cùng nhàm chán thân này, cất tiếng; ‘Than ôi, khổ thay! Không bao lâu nữa ta cũng như vậy’. Rồi nói kệ:
Than ôi, đấng Đại Bi!
Diễn nói pháp vi diệu
Thân như đong bọt nước
Theo lí, chằng thật có
Người nữ đẹp vừa rồi
Bây giờ ở nơi nào
Sống chết thật đáng lìa
Kẻ ngu lại đắm tham
Nếu tâm duyên nơi ấy
Nay sẽ thoát gông cùm
Cứu độ ba đường khổ
Hoàn toàn chằng tái sinh.
Siêng năng hành phương tiện
Một lòng tu Phật pháp
Đoạn trừ tất cả khổ
Thành tựu a-la-hán.
Khi ấy kẻ hung ác báo kì hạn đã hết, tì-kheo liền hỏi: ‘Ta không biết ông nói gì?’. Kẻ ác nói: ‘Hôm trước ta cho kì hạn bảy ngày, hôm nay đã hết!’. Tì-kheo nói kệ đáp:
Tâm ta đã thoát khỏi
Chốn tăm tối vô minh
Đoạn các hữu ngăn che
Giết sạch giặc phiền não
Mặt trời tuệ đã hiện
Chiếu soi tâm, ý, thức
Thấu suốt lẽ tử sinh
Ngày nay thương chúng sinh
Tùy thuận pháp của Phật
Nên thân này của ta
Tùy ý ngươi xử trí
Không mảy may tiếc nuối!'
Thế là kẻ hung ác kia ném tì-kheo vào vạc dầu, cho củi vào và đốt lửa, nhưng lửa không cháy, nếu cháy thì cũng không nóng. Kẻ hung ác kia thấy vậy, đánh đập thuộc hạ rồi tự tay đốt, lửa liền cháy mạnh. Một lúc lâu, kẻ ấy mở nắp xem thấy tì-kheo đang ngồi trên hoa sen trong vạc. Hắn cho là điều kì lạ, tấu trình lên nhà vua. Thế là nhà vua cùng với rất nhiều người xa giá đến xem. Bấy giờ tì-kheo biết thời cơ giáo hóa vua đã đến, liền vọt thân lên hư không như nhạn chúa, hiện các món thần biến, như kệ ghi:
Vua thấy tì-kheo này
Thân vọt lên không trung
Tâm vô cùng mừng vui
Chắp tay nhìn bậc thánh
Trẫm nay có lời thưa:
Không hiểu tại vì sao
Thân ngài chẳng khác tục
Mà thần thông hi hữu,
Xin ngài chỉ dạy rõ
Tu tập những pháp gì

Phần 6

Mà nay được thanh tịnh,
Xin vì trẫm giảng nói
Để biết pháp thắng diệu
Sau khi hiểu pháp tướng
Sẽ làm đệ tử ngài
Mới không tâm hối hận!
Nghe vua nói như thế, Tì-kheo suy nghĩ: ‘Nay ta thu phục vị vua này, dùng nhiều cách giáo hóa để ông ấỵ hộ trì Phật pháp, phân bổ xá-lợi Như Lai khắp nơi, hầu làm cho vô lượng chúng sinh được lợi ích an lạc, lại khiến cho hết thảy chúng sinh cõi Diêm-phù-đề kính tin Tam bảo. Vì nhân duyên đó, ta phải làm rõ thần đức của Phật’. Tì-kheo liền nói kệ:
Ta là đệ tử Phật
Đã đạt được lậu tận
Đã là đệ tử Phật
Không dính mắc các hữu
Nay ta đã điều phục.
Đấng Lưỡng Túc vô thượng
Bặt tâm, được vắng lặng.
Sinh tử, nỗi sợ lớn
Ta nay đã thoát rồi
Vĩnh viễn lìa ba cõi
Trong thánh pháp Như Lai
Được lợi ích như vậy.
Vua nghe tì-kheo nói kệ, tâm vô cùng kính tin Phật. Ông hỏi:
Trước khi Phật diệt độ, Ngài có thụ kí gì?
Tì-kheo đáp:
Phật thụ kí cho đại vương: ‘Sau khi Ta diệt độ hơn trăm năm, nước Ba-liên-phất với ba ức hộ dân, vua A-dục nước ấy sẽ làm Chuyển luân thánh vương, thống lãnh cõi Diêm-phù-đề, dùng chính pháp cai trị nhân dân, xây tám vạn bốn nghìn ngôi tháp khắp cõi Diêm-phù để tôn trí xá-lợi của Ta. Đức Phật thụ kí như vậy, nhưng ngày nay Đại vương tạo địa ngục này, giết hại vô số nhân dân. Đại vương nên khởi tâm từ đối với tất cả chúng sinh, tha tội khoan dung, để họ luôn được an ổn’.
Thế là vua A-dục khởi tâm kính tin Phật, chắp tay lễ tì-kheo và nói:
- Tội trẫm rất nặng, nay đối trước ngài sám hối. Hành vi của trẫm thật quá sai lầm, xin thầy nhận sự sám hối của trẫm, chớ chê trách trẫm ngu si, nay trẫm xin qui y!
Vị tì-kheo độ vua A-dục xong, vọt lên hư không bay đi mất. Vua định ra khỏi ngôi nhà ấy, thì kẻ hung ác đó tâu:
- Đại vương không được đi khỏi đây!
Vua nói:
- Ngươi muốn giết ta sao?
Kẻ ấy nói: ‘Đúng vậy!’.
Vua hỏi: ‘Ai vào đây trước?’. Đáp: ‘Chính là tôi!’. Vua nói: ‘Nếu thế thì ngươi phải chết trước!’.
Thế là vua sai người đưa kẻ hung ác vào nhà tạo keo dính rồi châm lửa đốt. Sau đó vua cho phá bò ngôi nhà này và khoan thứ cho hết thảy mọi người.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Vua A-dục bảo:
- Ngày nay ta nên cúng dường cây bồ-đề, sau đó thiêt trai thượng hạng dâng chư tăng.
Thế rồi vua sai các quan thông báo khắp nước: ‘Vua sẽ trích mười vạn lượng vàng cúng dường chư tăng. Mười vò nước thơm tưới ướt cây bồ-đề và tập họp năm chúng’. Bấy giờ vương tử Câu-na-la đang ở bên vua, đưa ra hai ngón tay chứ không nói lời nào, ý muốn cúng gấp đôi. Mọi người nhìn thấy đều cười, vua cũng cười và nói: ‘Ha ha! Vương tử có ý tăng công đức cúng dường!’. Vua nói tiếp: ‘Ta dùng ba mươi vạn lượng vàng cúng dường chư tăng, thêm một nghìn vò nước thơm tưới cây bồ-đề’. Vương tử lại đưa bốn ngón tay, ý nói gấp bốn. Bấy giờ vua nổi giận nói với các quan: ‘Ai dạy vương tử tranh với ta như vậy?’. Các quan đồng tâu: ‘Ai dám tranh với Đại vương, bởi vương tử thông minh, các căn bén nhạy, muốn tăng trưởng công đức, cho nên mới làm như thế!’.
Nhà vua quay sang phải nhìn vương tử, rồi thưa thượng tọa Da-xá:
- Trừ những vật trong kho của ta, còn tất cả những gì ở cõi Diêm-phù-đề này, cho đến phu nhân, thể nữ, các quan, quyến thuộc và cả con ta thái tử Câu-na-la đều dâng cúng hết cho hiền thánh tăng. Hãy thông báo khắp nước, tập họp các tì-kheo tăng’_ Vua nói kệ:
Trừ kho tàng vua ra
Còn phu nhân, thể nữ
Các quan và nhân dân
Cả ta và thái tử
Đều dâng cúng tất cả
Lên các Thánh hiền tăng.
Sau đó, vua, thượng tọa Da-xá cùng các vị tì-kheo tự tay dội nước thơm tắm gội cây bồ-đề. Bấy giờ cây bồ-đề trở nên xanh tốt, cành lá sum sê. Mọi người đồng nói kệ:
Vua tắm cây bồ-đề
Nơi giác ngộ vô thượng
Cây càng thêm sum sê
Cành lá thật xanh tốt.
Vua và các quan vô cùng vui vẻ. Sau đó vua cúng dường chư tăng. Bấy giờ thượng tọa Da-xá nói:
- Đại vương! Hôm nay có đại tì-kheo tăng nhóm họp, đại vương nên khởi tâm thuần tín cúng dường!
Thế là nhà vua tự tay dâng cúng từ trên xuống dưới, kế đó dâng ba y và bốn ức vạn lượng trân bảo cúng dường năm chúng. Chư tăng chú nguyện xong, nhà vua dùng bốn mươi ức vạn lượng trân bảo chuộc lại tất cả phu nhân, thể nữ, thái tử và quần thần từ Hiền thánh tăng. Vua A-dục tạo vô lượng công đức như thế”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Vua A-dục hỏi các tì kheo:
- Trong pháp của Như Lai, ai thực hành bố thí rộng lớn nhất?
- Trưởng giả cấp Cô Độc là người bố thí rộng lớn nhất. Các vị tì-kheo đáp.
- Vị trưởng giả ấy bố thí bao nhiêu bảo vật?
- Cả ức nghìn lượng vàng. Các vị tì-kheo đáp.
Vua nghe thế, liền nói:
- Ông ấy là trưởng giả mà còn cúng dường ức nghìn lượng vàng, ta là vua đâu thể cúng ức nghìn lượng vàng. Ta nên cúng ức trăm nghìn lượng vàng mới phải.
Tức thời vua liền cho xây dựng tám vạn bốn nghìn ngôi tháp, mỗi ngôi tháp cúng trăm nghìn lượng vàng. Lại tổ chức đại pháp hội trong năm năm, trong hội có ba trăm nghìn tì-kheo, dùng ba trăm ức lượng vàng cúng dường. Trong hội ấy lại phân làm ba phần: thứ nhất là các vị a-la-hán, thứ hai là các bậc hữu học, thứ ba là phàm phu chân thật. Trừ kho tàng riêng, còn tất cả những gì ở cõi Diêm-phù-đề này cho đến phu nhân thể nữ, thái tử, đại thần đều dâng cúng Thánh tăng, rồi dùng bốn mươi ức lượng vàng chuộc lại. Như Vậy tổng cộng là chín mươi sáu ức ngàn lượng vàng. Vua muốn cúng dường đủ số ức trăm nghìn lượng vàng để tạo công đức, nhưng vì bệnh nặng, sợ chưa tròn ước nguyện mà đã qua đời sau. Bấy giờ vua tính chỉ còn thiếu bốn ức là đủ, nên liền chuẩn bị đủ số trân bảo đưa đến chùa Kê Tước.
Bấy giờ con của Pháp ích là Tam-ba-đề đang ở ngôi thái tử, các quan tâu thái tử:

Phần 7

- Không bao lâu đại vương sẽ băng, nếu đưa số bảo vật này đến chùa thì quốc khố trống rỗng, mà theo phép nước thì tài bảo là quan trọng nhất, thái tử nên ngăn, không để đại vương sử dụng.
Nhà vua tự biết, bây giờ không thể lấy được số tài bảo này, bèn gửi chiếc bát vàng mà vua vừa dùng đến chùa. Hôm sau thái tử lại sai đổi bát bạc, vua dùng xong cũng gửi đến chùa. Thái tử lại đổi bát đồng, vua dùng xong cũng gửi đến chùa. Thái tử lại đổi bát đất nung. Bấy giờ vua đang cầm nửa quả a-ma-lặc, buồn rầu rơi lệ nói với các quan: ‘Hiện nay ai là quốc chủ?’. Các quan đều trả lời: ‘Tâu đại vương! Ngài là quốc chủ’. Nghe thế vua liền nói kệ:
Các ngươi lấy lòng ta
Đâu cần phải nói dối
Nay ta là quốc vương
Mà không được tùy ý.
Nửa quà a-ma-lặc
Đang nằm trong tay ta
Đây là vật của ta
Mới gọi là tùy ý.
Ô hô! Sự giàu sang
Đáng chán, đáng xa lìa
Xưa cai trị Diêm-phù
Hôm nay nghèo bỗng đến.
Như nước sông Khắc-già
Mãi trôi không trở lại
Giàu sang cũng như thế
Đã đi, vĩnh viễn đi.
Nói kệ xong vua A-dục bảo người hầu rằng: ‘Nay nếu nhớ ân dưỡng dục của ta, thì ngươi mang nửa trái a-ma-lặc này đến chùa Kê Tước, làm theo lời ta, trước tiên ngươi đỉnh lễ nơi chân các tì-kheo rồi bạch: ‘Vua A-dục vấn an đại chúng. Con là vua A-dục thống lãnh cõi Diêm-phù-đề này. Cõi Diêm-phù-đề là của con, nhưng hôm nay con đã nghèo cùng, không còn tài vật cúng dường chúng tăng, không được tự do chi dụng tất cả tài sản nữa. Hôm nay con chỉ còn nửa quả a-ma-lặc là được tùy ý sử dụng. Đây là lần bố thí ba-la-mật cuối cùng, xin các vị từ bi xót thương thụ nhận phẩm vật này, để con được phúc cúng dường tăng’.
Người hầu nhận lời ủy thác của vua, mang nửa quả a-ma-lặc đến chùa Kê Tước, đỉnh lê vị Thượng tọa, rồi quì gối chắp tay lặp lại y lời vua A-dục đã dạy. Vị thượng tọa nghe xong nói với đại chúng: ‘Ai nghe những lời này mà không nhàm chán thế gian!’.
Sau đó vị thượng tọa bảo giã nát nửa quả a-ma-lặc thành bột, hòa vào nồi canh thạch lựu, cúng dường tất cả chúng tăng. Bây giờ tại vương cung, nhà vua hỏi vị quan đang ở bên cạnh: ‘Ai là vua cõi Diêm-phu-đề?’. Đáp: ‘Chính là đại vương!’. Vua liền ngồi dậy hướng về phương tây, chắp tay hành lễ, nghĩ đến công đức của Phật, đồng thời nói: ‘Hôm nay con xin dâng cõi Diêm-phù-đề nầy cúng dường Tam bảo, kính mong Tam bảo tùy ý thụ dụng’. Vua bảo ghi lại những lời này, niêm phong kĩ, rồi dùng xỉ ấn3 ấn vào. Làm xong việc này, vua thăng hà.
Thái tử, các quan cùng nhân dân cả nước an táng vua xong, các quan định lập thái tử kế vị. Bây giờ đại thần A-nậu-lâu-đà nói: ‘Không được lập thái tử làm vua! Bởi lúc đại vương còn tại thế, ngài có phát nguyện cúng dường đủ ức trăm nghìn lượng vàng để tạo công đức, nhưng còn thiếu bốn ức. Trước khi băng, vua đã cúng dường cõi Diêm-phù-đề lên Tam bảo để bù vào chỗ thiếu kia. Vậy cả đại địa này, hôm nay là của Tam bảo, đâu thể lập thái tử làm vua!’. Các quan nghe thế, liền chở bốn ức trăm nghìn lượng vàng đến chùa Kê Tước, rồi mới lập con của Pháp ích làm vua”.
Có bài tụng:
Đế nghiệp thật rực rỡ
Nhờ nhân lành ngày xưa
Bảy báu tự nhiên đến
Nghìn người con uy nghiêm
Dùng thập thiện cai trị
Bốn châu đồng về nương
Không nghĩ thì chẳng hợp
Hữu ý thì tự thành.
Nắm phép tắc thế gian
Dưỡng mạng loài trùng kiến
Tuổi thọ dài tám vạn
Ba hai tướng uy nghiêm
Quỉ thần luôn bảo vệ
Chằng nói mà người tuân
Vui thay! Thật vĩ đại.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục