PUCL QUYỂN 42 - CHƯƠNG THỤ THỈNH (tt)
17/11/2015
QUYỂN 42 Nội dung quyển này tiếp theo chương Thụ thỉnh. 39. CHƯƠNG THỤ THỈNH (tt) 39.3. THÁNH TĂNG Từ khi bậc Đại Giác nhập niết-bàn, giáo pháp thuộc về thánh chúng. Các vị bồ-tát, a-la-hán tiếp nối tuyên dương, biến hiệ...

QUYỂN 42
Nội dung quyển này tiếp theo chương Thụ thỉnh.
39. CHƯƠNG THỤ THỈNH (tt)
Từ khi bậc Đại Giác nhập niết-bàn, giáo pháp thuộc về thánh chúng. Các vị bồ-tát, a-la-hán tiếp nối tuyên dương, biến hiện đến khắp cõi nước, tùy duyên hóa độ. Nếu cơ cảm khác nhau thì trú cùng nhà mà cách xa như trời với đất, còn ứng duyên hợp thì tuy ở khác cảnh mà gần nhau như đối mặt.
Vào niên hiệu Thái Thỉ cuối cùng (472) đời nhà Tống, sa-môn Thích Pháp Nguyện ở chùa Chính Thắng, Thích Pháp Cảnh ở chùa Chính Hỉ... bắt đầu vẽ tượng thánh tăng theo các tư thế ngồi. Đầu nhà Đường, các thánh tăng thường hiển linh, hoặc hiện nửa bàn chân nơi tòa, hoặc chống tích trượng lưu lại dấu vết sâu trên mặt đất. Lương Võ đế nghe được, vui mừng ca ngợi, thành tâm kính ngưỡng cho là nước nhà cảm được điềm lành, nên thiết trai cúng dường. Đến đời nhà Tề, niên hiệu Vĩnh Minh thứ tám (490), vua lâm trọng bệnh, mặc dù có Hòa Thước chữa tri, nhưng bệnh chẳng hề thuyên giảm, vua chí thành phát nguyện quy y thánh tăng, ra lệnh thiết lập trai đàn tại điện Diên Xương, cầu thỉnh bảy ngày, dâng cơm cúng dường chư Phật và thánh chúng. Trai đàn trang nghiêm thanh tịnh, chẳng động mảy trần. Bảy ngày sắp mãn, cảm được điềm lành hương trời tỏa khắp, xông vào mũi, thấu đến tâm, khiến cho hương trong lư không thể lan tỏa. Lại có dấu chân, vết giầy đầy khắp trong đại điện, tiếng dộng tích trượng vang ra ngoài cửa. Mọi người nhìn thấy dấu chân, ngửi mùi hương, nghe tiếng dộng tích trượng, vừa kính cẩn vừa kinh sợ. Lúc ấy có khoảng hơn mười người như: Từ Quang Hiên... đêu thấy nghe, tâu lên vua. Trai đàn đã mãn, vua hoàn toàn bình phục, vì vậy cả triều đình đều phát tâm qui y, vì đã chứng nghiệm được sự thần ứng. Sau đó, vài người gồm cả đạo và đời như Từ Quang Hiên... thiêt đàn phụng thỉnh, cũng đều hiện điềm lành. Sự cảm ứng của thánh nhân chẳng thể nào ghi chép hết.
Xưa kia, trưởng giả Thụ-đề-già làm bát bằng gỗ chiên-đàn, đặt trong túi lưới, treo trên trụ ngà voi, nói:
- Nếu sa-môn hay bà-la-môn nào không dùng thang, sào mà lấy được thì tặng cho người đó.
Các ngoại đạo biết được, biến hiện thần thông để lấy, nhưng đều đành bất lực, lắc đầu bỏ đi. Tân-đầu-lô nghe vỉệc này, hỏi tôn giả Mục-kiền-liên:
- Thật có việc đó không?
Đáp:
-Đúng thế!
Tân-đầu-lô nói:
- Ngài là bậc nhất Sư tử hống, đến lấy đi!
Mục-kiền-liên sợ Phật quở trách nên không dám lấy. Tân-đầu-lô liền đến nhà trưởng giả, rồi nhập thiền định, từ chỗ ngồi duỗi tay ra lấy bát.
Theo luật Tứ phần: “Lúc ấy, tôn giả ngồi trên tảng đá vuông lớn, bay trên hư không lấy bát rồi trở về. Đức Phật biết, quở trách:
- Tì-kheo vì bát của ngoại đạo mà hiện thần thông trước người chưa thụ giới. Từ nay cho đến trọn đời, ông không được ở trong cõi Diêm-phù-đề!
Như thế, Tân-đầu-lô theo lời Phật dạy, đến Tây Cù-da-ni giáo hóa bốn chúng, truyền bá Phật pháp.
Bốn chúng đệ tử ở Diêm-phù-đề muốn gặp tôn giả đến bạch Phật. Phật cho phép trở về. Vì việc hiện thần thông này, nên Phật không cho ngài nhập niết-bàn, dạy phải làm phúc điền cho bốn chúng đời sau. Tôn giả Tân-đầu-lô cũng tự phát nguyện, nếu như khắp thiên hạ có ai thỉnh cầu thì ngài sẽ nhận lời đến ngay”.
Trong kinh A-dục vương ghi: “Tì-kheo Hải Ý từ trong chảo sắt dùng thần lực bay lên hư không hiện mười tám thần biến. Vua vui mừng nói kệ:
Thân ngài giống thân người,
Mà sức vượt hơn người,
Ta chẳng biết là ai Vì thế hãy nói rõ Cho trẫm biết việc này,
Nếu đã biết rõ ràng Sẽ xin làm đệ tử.
Vua phát tâm thỉnh chúng tăng khắp bốn phương bằng lời kệ:
Hỡi các a-la-hán!
Xin đến cứu độ cọn.
Con thỉnh a-la-hánl Xin các ngài đến đây
Kinh Thỉnh Tân-đầu-lô ghi: “Lúc thỉnh tôn giả Tân-đầu-lô phải ở nơi thanh tịnh, đốt hương lễ lạy, hướng về núi Ma-lê5, Ấn Độ, thành tâm đọc: ‘Đại đức Tân-đầu-lô-phả-la-đọa-thệ theo lời Phật dạy làm phúc điền ở đời mạt pháp, xin ngài hãy nhận lời thỉnh cầu của con đến nơi này thụ trai!’.
Hoặc xây cất nhà mới cũng nên thỉnh: ‘Xin ngài nhận lời thỉnh cầu của con đến nghỉ trên giường nhà này!’.
Hoặc khi thỉnh chúng tăng đến tắm rửa, trước tiên cũng thỉnh ngài: ‘Thỉnh ngài hãy đến đây tắm rửa!’. Lúc trời sắp sáng thì chuẩn bị nước nóng hòa với hương thơm, tro, xà phòng, cây chà răng, dầu thơm; pha nước lạnh nóng thích hợp, giống như cách thức tắm của người, mở cửa mời vào rồi đóng lại, đợi bằng khoảng thời gian của một người tắm xong, sau đó mới thỉnh chúng tăng vào.
Khi tổ chức trai hội, tắm rửa, muốn thỉnh tăng, thí chủ phải hết lòng cầu giải thoát, tâm không nghi ngờ, mê mờ, lòng tin tuyệt đối thanh tịnh, rồi sau đó mới thỉnh.
Gần đây, có một trưởng giả nghe đại a-la-hán Tân-đầu-lô vâng theo lời giáo huấn của Phật làm phúc điền cho chúng sinh, ông thiết lập trai đàn như pháp, chí tâm cầu thỉnh ngài Tân-đàu-lô. Muốn nghiệm biết có a-la-hán đến dự trai hội hay không, trưởng giả rải hoa tươi đẹp ở thảm lông.
Khi chúng tăng thụ thực vừa xong thì các loại hoa cũng vừa vàng úa. Trưởng giả buồn rầu tự trách không biết lỗi này do đâu. Ông dốc hết lòng thành kính hỏi chư tăng, rồi lại thiết lập trai hội, cũng rải hoa y như trước, hoa cũng bị héo. Ông lại đem hết của cải trong nhà lập trai đàn lần nữa, mọi việc cũng y như trước vậy. Ông rất buồn bã tự trách mình, rồi cầu thỉnh hơn một trăm pháp sư xin chỉ bày những lỗi lầm để sám hôi. Trước tiên, ông đối trước vị thượng tọa lớn tuổi trình bày hết mọi việc và sám hối lỗi lầm của mình. Thượng tọa nói: ‘Ông ba lần mở trai đàn cung thỉnh, ta đều nhận lời. Lần thứ nhất ông lại sai nô bộc canh cửa, ngăn chặn không cho ta vào, chê là già nua, áo quần rách dơ, rồi đuổi đi. Sa-môn Lại-đề không chịu vào, còn ta vì nhận lời thỉnh của ông nên miễn cưỡng vào hội, nhưng bị nô bộc dùng cây đánh khiến bên phải trán bị tổn thương. Lân thứ hai ta cũng cố vào, nhưng bị đánh khiến giữa trán bị tổn thương; lần thứ ba cũng vậy và bị đánh khiến bên trái trán tổn thương. Ông tự làm thì tự chịu, sao lại buồn oán! Nói xong vị thượng tọa ấy biến mất.
Bấy giờ, trưởng giả mới biết đó là Tân-đầu-lô. Từ đó về sau, mọi người mở trai hội đều không dám canh cửa. Nếu được Tân-đầu-lô đến dự trai hội thì các loại hoa ở chỗ ngồi không héo. Hoặc lúc đóng giường, cất nhà mới, muốn thỉnh Tân-đầu-lô thì phải dùng nước thơm rưới lên đất, đốt đèn dầu thơm, trên giường lót nệm mới, trải một lớp vải bông mềm và dùng tấm lụa trẳng phủ lên. Trời bắt đầu tối thì theo phép mà thỉnh Ngài. Thỉnh rồi ra ngoài đóng cửa lại chớ xem thường mà lén nhìn. Mỗi cử chỉ hành động đều hết lòng kính tin thì ngài sẽ đến. Vì lòng thành kính cảm ứng, nên nhất định ngài sẽ đến. Nếu đến thì trên tấm lụa có dấu nằm, trong phòng tắm cũng có dấu sử dụng nước.
Ngài nhận lời thỉnh đến trai hội, tùy mỗi nơi mà hiện tướng tăng, hoặc thượng tọa, trung tọa hay hạ tọa. Nếu mong thấy những điều khác lạ thì hoàn toàn không được. Trai đàn hoàn mãn, tăng đã về mà các loại hoa ở tòa ngồi không héo thì biết có Tân-đầu-lô đến”.
* Lời bàn
Thời nay, thấy việc thiết lập trai hội phần nhiều không đúng với phép tắc, chỉ theo ý người mà sắp bày cho phàm tăng, hoàn toàn không lo lắng gì đến Phật và tòa thánh tăng. Như phần trước kinh đã ghi, thí chủ trước phải quét dọn sạch sẽ điện Phật và an trí chỗ ngồi cho thánh tăng, rồi tắm gội sạch sẽ, đốt hương thơm, treo cờ phướn, lọng tàn, rải các loại hoa, cầm lư hương hết lòng thành kính phụng thỉnh Tam bảo, thánh tăng, tất cả thánh phàm mười phương pháp giới nhận lời thỉnh cầu, hạ cố đến nhà. Mọi người trong nhà phải đều chí thành, phát tâm tôn kính trước bảy ngày. Nếu nhà nghèo, không có hương hoa tươi tốt, cũng không có nơi thích hợp, nhưng gặp lúc này cũng phải cố gắng sắp đặt. Khi lập tòa ngồi, phải chọn nơi cao đẹp nhất để an trí Phật, quét dọn sạch sẽ, đúng pháp, lần lượt đến tòa của thánh tăng. Tòa này được trải nệm trắng sạch, rồi phủ vải. Nếu thí chủ hết lòng kính trọng thì sẽ có cảm ứng. Lễ hội hoàn mãn, nhìn lại tòa thấy dấu như có người ngồi thì biết đó là báo thân đến, nếu không có tướng hiện thì chỉ có hóa thân đến, nếu khinh mạn thì báo thân, hóa thân đều không đến. Tòa này không được dùng tơ lụa
nhiều màu, gấm vóc sặc sỡ, trang trí vàng bạc và rải hoa. Mặc dầu là a-la-hán, nhưng cũng thụ hai trăm năm mươi giới như phàm tăng, cho nên không nhận gấm lụa, vàng bạc v.v... Còn Phật, các vị bồ-tát Đại thừa thì không bị hạn chế bởi tướng xuất gia, vì thế được dâng cúng các vật này.
Tòa ngồi cho thánh tăng và bàn để dâng thực phẩm, không được cao quá sáu tấc, có thể cao bằng tòa tăng đúng pháp, cũng không được đặt tượng thánh tăng trên tòa ngồi. Vì nếu báo thân đến thì đâu thể đẩy tượng mà ngồi, cũng không được lấy bát của tăng thường trụ cho thánh tăng dùng, vì sợ báo thân đến, không thể sử dụng bát của tăng. Nếu dùng bát, chén, tô, đĩa của người tục, dâng cúng cả hóa thân và báo thân thì đúng pháp.
Tiền cúng cho thánh tăng thì nên mua sắm bát, chén, đũa, muỗng, tô đồng, khăn tay, mâm, bồn, chậu... loại tốt nhất dành cho thánh tăng sử dụng, làm dấu lên mặt sau các vật đó để người khác khỏi nhầm lẫn. Hằng ngày theo giờ ăn gia đình, mỗi sáng và giờ ngọ, đặt thức ăn vào bát dâng cúng Phật và tăng, chẳng phải là việc tốt ư! Hoặc có tiền thì mua một hồ sàng và giỏ đựng cơm, mỗi bữa ăn xong dùng xà phòng rửa sạch giỏ và đặt trên hồ sàng, lấy tấm vải dầu phủ lên, ngày nào cũng thế, không gián đoạn để bày tỏ tâm thành kính cúng dường Tam bảo thì được công đức rất lớn.
Nếu nhiều tiền thì làm như cách ở chùa Tây Quốc và nhà giàu thế tục, tức là chọn nơi thanh vắng xây phòng xá cho thánh tăng, quanh năm dâng lễ vật cúng dường. Vào mùa hạ thì hằng ngày nên trải chiếu trong phòng và đặt thau, bồn, xà phòng, khăn sạch... Trước giờ Ngọ dâng cơm, thức ăn, tối lại đốt đèn, thắp hương.!. tùy khả năng của mình như pháp cúng dường. Vào mùa đông, sắp đặt mền lông, lửa than, nước nóng, đèn sáng... tùy thời cúng dường. Dù cho tiền thánh tăng có dư cũng không được sử dụng cho tăng, dù là tăng thường trụ; lại cũng không được sử dụng cho Phật và pháp, không được dùng để vẽ hình các thánh tăng. Thường thấy có người dùng tiền thánh tăng họa hình Phật, đắp vẽ hình tượng thánh tăng Ca-diếp, A-nan... ở bốn vách chùa. Vì a-la-hán Tân-đầu-lô hiện tại không nhập niết-bàn, không được thánh tăng cho phép sử dụng, thì đâu thể dùng vào việc khác! Nếu đã lỡ dùng thì nên trả lại gâp đôi, nếu không thì phạm tội nặng. Cho nên luật Tứ phần ghi: “Cho phép dùng vào việc này, không được dùng vào việc kia, nếu phạm thì bị tội” (cũng như vật của mình, người khác không hỏi mình mà sử dụng vào việc khác, như thế có được không?).
Các đoạn văn trên đây đều căn cứ theo ý Phật trong kinh luật, cần phải thực hành. Vật của Tam bảo rất nặng, không nên dùng lẫn lộn, e rằng sai một li mà xa cách nghìn dặm. Lời nói thành thật không hư dối, nên xét kỹ mà thực hành. Cho nên, vào thời Lương Vũ đế, các đại đức, danh nho nước Trung Quốc thỉnh tam tạng Tây Vực biên soạn bộ Thánh tăng pháp dụng, sau đó dịch thành năm quyển, như trước đã trình bày, đại khái cũng đồng nhau.
39.4. THÍ THỰC
Kinh Niết-bàn ghi: “Quỷ thần khoáng dã thụ giới không giết hại sinh mạng, nên không ăn thịt, do đó khí lực suy kiệt sắp chết. Đức Phật nói với quỷ:
- Từ nay, Ta sẽ bảo đệ tử Thanh văn, ở nơi nào có Phật pháp đều phải bố thí thức ăn cho các ngươi. Nếu người ở trụ xứ nào mà không làm như vậy thì kẻ đó là quyến thuộc của ma, không phải là đệ tử của Ta, chẳng phải thanh văn”.
Nhưng khi lấy thức ăn cho chúng sinh phải phân biệt rõ. Nếu dùng thức ăn của tín thí thì phải y cứ theo luật Ngũ phần: “Nếu cho người ăn xin, chim, chó... thì phải giảm bớt phần ăn của mình để cho, không được lấy ngoài phần ăn của mình”.
* Lời bàn
Xưa nay thấy người đạo, kẻ tục thụ nhận thức ăn, đó là phần ăn của thí chủ tằn tiện không dám cho vợ con, mà đem cúng cho chúng tăng để được phúc đức. Nhưng có người trước không chịu tính lượng thức ăn cần dùng bao nhiêu, khi ăn no rồi đem thức ăn dư thừa đó cho người ăn xin, chim, chó... làm tốn hao của tiền thí chủ, chỉ tự chuốc lấy tội lỗi. Nếu bớt phần ăn của mình để cho thì bao nhiêu cũng được, không giới hạn.
Kinh Thập nhị đầu-đà ghi: “Khi đến giờ ăn nên quán niệm: ‘Nếu thấy chúng sinh đói khát, ta nên lấy một phần của mình cho họ. Mình là người cho, còn kia là người nhận’. Khi cho rồi nên nguyện rằng: ‘Vì khiến cho tất cả chúng sinh tăng phúc báo mà cứu khổ, chớ sinh tâm tham lam bỏn xẻn’. Sau đó đem thức ăn đến chỗ thanh vắng, lấy bớt một phần để trên tảng đá sạch bố thí cho cầm thú và cũng nguyện như trên. Ngay lúc ăn quán tưởng rằng: ‘Trong thân có tám vạn ổ trùng, các trùng được thức ăn này đều được an ồn. Hôm nay, ta bố thí thức ăn, đến khi ta đắc đạo sẽ bố thí pháp cho các ngươi’. Đó chính là tâm không bỏ chúng sinh”.
Kinh Quán Phật hình tượng ghi: “Đức Phật dạy đại chúng:
- Có người muốn thành tựu những điều họ mong cầu, lúc bố thí chẳng kể nhiều ít, đều giúp cho được no đủ. Công việc đã xong, thức ăn dùng không hết đem cúng cho các sa-môn trì pháp trong chùa. Chúng tăng tự phân chia thụ dụng. Khi xuất tài vật bố thí thì nên cầu phúc, không nên giành phần đem về cho vợ con, vì như thế chẳng khác nào trồng cây trên đá, gốc rễ sẽ bị khô héo, không thể sống được. Người đem phúc dư cúng dường cho tăng thì vật thí một mà được phúc báu gấp vạn lần”.
Luật Tứ phần ghi: “Cúng cháo cho tăng thì được năm điều lợi ích:
- Trừ đói.
- Trừ khát.
- Thức ăn tiêu hóa tốt.
- Đại tiểu tiện thông suốt.
- Đôi mắt trong sáng”.
Luật Tăng-kì ghi: “Cúng dường cháo cho tăng thì được mười điều lợi ích. Có bại kê:
Giữ giới thanh tịnh, người cung phụng,
Tôn kính tùy lúc dâng cháo cúng,
Được mười lợi ích cho hành giả,
Sắc, lực, thọ, vui, từ, thanh, biện,
Trừ phong, tiêu thực, dứt đói khát,
Phật bảo đó là môn thuốc hay,
Muốn sinh nhân thiên hưởng phúc lạc,
Nên thường dâng cháo cúng chúng tăng”.
Kinh Thực thí hoạch ngũ phúc báo ghi: “Phật dạy các tì-kheo:
- Nên biết ăn uống có tiết độ thì không tổn phúc.
Đức Phật dạy:
- Bố thí thức ăn cho người thì được năm phúc đức, giúp hành giả đắc đạo, người trí khen ngợi, tâm lượng rộng lớn. Năm phúc đức: thí mạng, thí sắc, thí lực, thí an, thí biện.
Thí mạng: Người không được ăn thì nhan sắc tiều tụy, không tươi sáng, chưa đến bảy ngày thì chết. Cho nên người trí bố thí thức ăn để bảo toàn tính mạng cho họ, gọi là thí mạng. Người bố thí mạng thì sống thọ, sinh trong cõi trời hay cõi người, đều được trường thọ, không bị chết yểu, phúc báo giàu sang, của cải vô số.
Thí sắc: Người không được ăn thì nhan sắc tiều tụy, không tươi nhuận. Cho nên bố thí thức ăn, gọi là thí sắc. Người bố thí sắc thì đời đời được sinh trong cõi trời, cõi người có thân tướng đoan chính, nhan săc xinh đẹp, mọi người nhìn thấy đều quí trọng, ưa thích.
Thí lực: Người không được ăn thì thân thể gầy yếu, tinh thần suy nhược không thể hoạt động, nên bố thí thức ăn, gọi là thí lực. Người thí lực thì đời đời sinh trong cõi trời hay cõi người, đều có sức mạnh không ai sánh bằng, làm việc cả ngày sức lực cũng không suy giảm.
Thí an: Người không được ăn thì thân tâm sầu khổ, bất an, đứng ngồi không yên. Cho nên bố thí thức ăn, gọi là thí an. Người thí an thì đời đời sinh trong cõi trời hay cõi người, luôn được an ổn, không bị các tai ương, đến nơi nào cũng gặp người hiền lương, của cải vô lượng, không bị chết yểu.
Thí biện: Người không được ăn thì thân thể gầy yếu, tâm ý mờ mịt, miệng không nói được. Cho nên bố thí thức ăn, gọi là thí biện. Người thí biện thì đời đời sinh vào cõi trời hay cõi người, lời nói lưu loát, có trí tuệ, biện tài thông đạt, mọi người nghe đều vui mừng đỉnh lễ vâng theo’. ,
Đó chính là phúc đức có được do bố thí thức ăn”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Có năm trường hợp được gọi là bổ thí đúng lúc:
- Bố thí cho người từ xa đến.
- Bố thí cho người đi xa.
- Bố thí cho người bệnh.
- Bố thí lúc đói kém.
- Lúc mới thu hoạch cây trái hoặc ngũ cốc thì trước hết đem cúng dường cho người trì giới tinh tiến, sau đó mình mới ăn.
Lại nữa, có ba cách bố thí:
- Mang thức ăn đến chùa cúng, là bậc nhất.
- Thỉnh đến nhà để cúng dường, là bậc trung.
- Phát tâm cúng dường người đến nhà mình khất thực, là bậc hạ”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Ta đang khát, ông hãy đi lấy nước đến đây!
A-nan bạch:
- Bạch Thế Tôn! Vừa rồi có năm trăm cỗ xe lội qua suối ở vùng thượng lưu, nên nước bị vẩn đục, chỉ dùng rửa chân, chứ không thể uống được!
Đức Phật ba lần bảo A-nan:
- Ông hãy lấy nước về đây!
A-nan bạch:
- Bạch Thế Tôn! Sông Câu-tôn nước trong mát, có thể uống và tắm rửa, hiện ở cách đây không xa.
Bấy giờ có vị thần sống tại núi Tuyết, kính tin Phật đạo, nghe biết Phật cần nước, liên dùng bát lấy nước tám đặc tính dâng cúng Phật. Vì thương xót vị thần, nên Thế Tôn thụ nhận”.
39.5. ĂN ĐÚNG THỜI
Hỏi: Thời gian nào là ăn đúng thời và ăn quá thời?
Đáp: Luật Tứ phần ghi: “Từ khi mặt trời mọc mới được dùng cháo, cho đến giờ ngọ. Theo đây thì giờ ngọ là giờ ăn đúng thời” {Luật Tăng-kì ghi: “Quá giờ ngọ, bóng đã ngã qua một sợi tóc, một khoảng chớp mắt, một cọng cỏ... tức là phi thời). Trong tứ thiên hạ đều lấy đây làm chuẩn mực”.
Kinh Tì-la tam-muội ghi: “Đức Phật dạy bồ-tát Đại Tuệ:
- Có bốn lúc ăn: buổi sáng là giờ ăn của chư thiên, giờ ngọ là giờ ăn đúng pháp, buổi chiều là giờ ăn của súc sinh, buổi tối là giờ ăn của quỷ thần”.
Phật muốn đoạn trừ nhân lưu chuyển trong sáu cõi, khiến đồng với các Đức Phật trong ba đời nên lấy giờ ngọ làm giờ ăn. Qua ngọ mà còn ăn là đồng với các cõi dưới chứ chảng phải giờ ăn của bậc thượng thánh, cho nên gọi là phi thời.
Luật Thập tụng ghi: “Chỉ có chư thiên được ăn quá giờ ngọ, nên không có tội”.
Lại nữa, luật Thập tụng ghi: “Tì-kheo ở cõi Diêm-phù-đề đi đến Tây Cù-da-ni thì thụ thực theo giờ của Diêm-phù-đề. Tì-kheo ở Tây Cù-da-ni đi đến ba châu khác cũng như thế. Nếu ở lại qua đêm nơi nào thì theo thời gian ở nơi ấy”.
Luận Ma-đức-lặc-già ghi:
Hỏi: Có thể ăn phi thời mà không phạm không?
Đáp: Có! Nếu đến Bắc uất-đơn-việt thụ thực theo thời gian ở đó thì không phạm, ở các phương khác cũng vậy. Lúc đúng ngọ ở cõi Diêm-phù thì ở Bắc châu là lúc nửa đêm, Đông châu là lúc mặt trời lặn, Tây châu thuộc lúc mặt trời mọc, cảc phương khác theo đó cũng có thể tính biết được”!
Luận Tát-bà-đa ghi: “Có bốn cách giải thích về đúng thời:
1. Mặt trời vừa mọc cho đến giữa ngày, lúc ánh nắng gay gắt, là đúng thời. Từ giữa trưa đến cuối đêm, ánh nắng kia giảm yếu dần và tắt hẳn, gọi là phi thời.
2. Qui định từ sáng sớm cho đến giữa ngày là giờ ăn đúng pháp, vì lúc này đi khất thực không sinh phiền não. Từ giữa ngày đến cuối đêm là thời gian mà người thế tục tổ chức yến tiệc, vui chơi, nếu đi khất thực lúc này sẽ có nhiều phiền phức, nên gọi là phi thơi.
3. Qui định từ sáng sớm cho đến giữa ngày là giờ ăn đúng pháp, vì lúc này không có việc dâm loạn của người thế tục, đi khất thực không sinh phiền não. Từ giữa ngày về sau, họ dừng nghỉ mọi công việc, ham vui chơi, nếu vào thôn xóm khất thực dễ bị phỉ báng, nên gọi là phi thời.
4. Qui định từ sáng sớm cho đến giữa ngày là giờ ăn đúng pháp; vì lúc này khất thực sẽ được thức ăn nuôi thân, an tâm tu tập đạo hạnh, mọi việc thuận lợi, đúng với chính pháp. Từ giữa ngày về sau nên chuyên lo tu tập, chẳng phải lúc khất thực, nên gọi là phi thời”.
39.6. CÁCH THỨC THỤ THỰC
Kinh Đại Di giáo ghi: “Trước khi ăn, tì-kheo nên đốt hương, ba lần khen ngợi công đức bố thí của đàn việt rồi mới ăn. Lại nữa, nghe theo lời thượng tọa dạy: “Các tu sĩ! Mỗi vị hãy tự ra ngoài rửa tay súc miệng rồi trở vào ngồi chỗ của mình, mỗi mỗi đọc một bài kệ, theo thứ lớp đọc tụng, chứ không được bỏ qua”.
Kinh Tăng nhất A’hàm ghi: “Nếu có cúng dường thì nên bưng lư hương xướng: ‘Đến lúc!’. Phật bảo hương là sứ giả của Phật, cho nên phải đốt hương phụng thỉnh khắp mười phương (Nên biết, đốt hương vốn là muốn thỉnh Phật. Vĩ tâm phàm mắt thịt không nhìn thấy, do đó Phật dạy đốt hương báo hiệu phúc sự, cung thỉnh hết thảy phàm thánh khắp cả mười phương, nương hư không đến dự hội. Lúc hành hương, mỗi người phải xướng tụng bài kệ trong kinh Hoa nghiêm:
Hương giới, hương định, hương giải thoát,
Tụ thành đài mây rực pháp giới,
Cúng dường vố lượng Phật mười phương,
Thấy nghe, xông ướp chứng niết-bàn
Kinh Tam thiên oai nghi ghi: “Ngồi nhận hương cũng được, vì người nữ hành hương sợ chạm tay mà sinh tâm đắm nhiễm” {hoặc sợ chê cười thì cho buông từ trên xuống. Người nam hành hương người nữ nhận hương, thì ngược lại)
* Lời bàn
Nếu được y phục, thức ăn thì không nên phân biệt ngon hay dở, chỉ mong duy trì được thân mạng để tu tập là hợp ý Phật. Như dầu nhớt là dùng để bôi trơn xe chứ đâu cần gì thơm, miễn sao khiến xe có thể vận chuyển là tốt. Cho nên, trong kinh Tạp bảo tạng, Đức Phật nói kệ:
Thân này như chiếc xe,
Không chọn lựa tốt xấu,
Nhớt thơm hay mỡ hôi,
Cũng dùng để bôi trơn.
Luận Đại trí độ ghi: “Ăn là để thực hành đạo giải thoát, chứ không vì bồi bổ thân thể, cũng giống như nuôi ngựa, nuôi heo vậy”.
Đến giờ ăn, trước hết phải dâng cúng Tam bảo, rồi bố thí cho bốn loài. Cho nên, kinh Hoa nghiêm có bài kệ:
Khi được thức ăn,
Nên nguyện chúng sinh,
Vì pháp cúng dường,
Tâm tại Phật đạo.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu tự may áo quần và làm bát thì trước hết dâng lên Phật, đồng thời trao cho cha mẹ, sư trưởng, hòa-thượng dùng hoặc mặc qua một lần rồi mình mới sử dụng. Nếu đã dâng Phật rồi thì phải dùng hoa hương cúng dường để nhận lại. Thức ăn uống, trước phải dâng lên sa-môn, Phạm chí rồi mới ăn. Lúc sắp ăn cần phải phát nguyện: muỗng thứ nhất, nguyện từ bỏ tất cả các việc ác; muỗng thứ hai, nguyện làm tất cả các việc lành; muỗng thứ ba, nguyện hồi hướng tất cả căn lành có được đến với chúng sinh, cùng thành Phật đạo. Nếu không thể từng miếng quán niệm, thì trước lúc ăn phát nguyện chung một lần cũng được”.
Luận Ma-đức-lặc-già ghi: “ Khi ăn, phải từng miếng, từng miếng quán niệm. Khi mặc y phục thì mỗi khi mặc phải quán niệm. Khi vào phòng thì từng bước, từng bước quán niệm. Nếu là người căn tính thấp kém thì quán niệm chung một lần cũng được”.
Kinh Hoa nghiêm, quyển sáu ghi:, “Bồ-tát có một trăm bốn mươi nguyện, trong mọi hành động có kệ tụng. Người thụ thực như thế thì không có phiền não, cũng không lìa phiền não, lý sự viên thông, lợi lạc quần sinh”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Trong các loại bố thí, bố thí pháp là bậc nhất, trong các sự nghiệp, thì sự nghiệp tu tập giáo pháp là bậc nhất, trong các ân thì ân của giáo pháp là bậc nhất”.
Nếu ăn quá no thì thân thể nặng nề, hơi thở gấp gáp, các mạch không thông, khiến tâm mê mờ, ngồi nằm không yên. Nếu ăn quá ít thì thân thể ốm gầy, tâm ý lơ đãng, khí hư sức kiệt. Cho nên, kinh Tăng nhất A-hàm có bài kệ:
Ăn nhiều bị bệnh khổ,
Ăn ít khí lực suy,
Nên ăn uống đúng lượng,
Vừa phải không nhiều ít.
Kinh Tát-già ni-kiền-tử có bài kệ
Người ăn uống quá nhiều
Thân nặng, tâm lười biếng,
Đời hiện tại, vị lai,
Thân mất lợi ích lớn,
Ngủ nhiều tự chuốc khổ,
Lại làm phiền người khác,
Mê mờ khó tỉnh thức,
Đúng thời, lượng sức ăn.
Người nấu ăn, muốn nếm thức ăn thử mặn hay lạt, sống hoặc chín, luật cho phép đặt thức ăn trong lòng bàn tay rồi dùng lưỡi nếm (Theo kinh Trai pháp, không cho nếm thức ăn vì sợ khởi tâm tham mà phạm tội).
* Lời bàn
Sở dĩ người xuất gia trước khi ăn, dùng tay sạch trực tiếp nhận thức ăn từ người cúng, là vì người xuất gia thanh cao, chẳng giống với hạng người bình thường, nên phải nhận rồi mới ăn.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Tì-kheo tự tay nhận thức ăn có năm ý nghĩa:
- Trừ bỏ chủng tử trộm cắp (tự lấy ăn cũng giống như ăn trộm).
- Chứng minh sự ngay thẳng (giả như có mất gì cũng không liên quan đến tì-kheo).
- Dứt trừ sự phỉ báng (người xuất gia tự lấy ăn thì chẳng cao quỉ).
- Sống thiểu dục tri túc (nếu không tự tay nhận từ người khác thì chẳng phải là sống tiết kiệm, đơn giản).
- Khiến người khởi tâm kính tin (nhận rồi mới ăn làm ngoại đạo phát khởi tín tâm).
Trước kia, có một tì-kheo đi chung với một ngoại đạo, cùng dừng nghỉ dưới một gốc cây. Trên cây có quả, lúc sắp đến giờ ăn, ngoai đạo bảo tì-kheo:
- Thầy hãy trèo lên cây hái qụả!
Tì-kheo đáp:
- Trong giới pháp của tôi, cây cao quá đầu người không được trèo.
Ngoại đạo lại đề nghị:
- Sao không rung cây để quả rơi xuống?
Tì-kheo nói:
- Trong giới pháp của tôi, không được rung cây cho quả rụng.
Ngoại đạo nghe nói vậy, tự mình leo lên hái, rồi ném xuống đất cho tì-kheo, gọi rằng:
- Lượm quả ăn đi!
- Tì kheo đáp:
- Trong giới pháp của tôi, nếu không trực tiếp nhận từ tay người trao cho thì không ăn.
Ngoại đạo trèo xuống, nhặt trái cây dâng cho tì-kheo. Ngoại đạo chứng kiến như thế, nghĩ rằng đối với một quả mà còn như vậy huống gì phép tắc của người xuất gia. Thế rồi, ngoại đạo phát khởi tín tâm tôn kính, nhận thấy Phật pháp thanh tịnh chẳng giống với hàng ngoại đạo, liền theo tì-kheo xuất gia tu hành, trừ sạch được lậu hoặc”.
Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “ Đức Phật dạy:
- Ngoại đạo, Phạm chí còn biết nhận từ tay người, huống gì đệ tử của Phật sao lại không tự tay thụ nhận mà dùng. Tất cả các vật đều phải trực tiếp nhận từ tay người, chỉ trừ tiền bạc, người nữ là không được nhận. Nếu có tác pháp vẫn phải tự tay trao cho, như y phục trên thân. Nếu chứa trong đồ đựng bằng vàng mà nhận, thì trái phạm”.
Luật Thập tụng ghi: “Trong nước Xá-vệ, tì-kheo Ma-ha Ca-la là người thụ nhận tất cả y thực phấn tảo. Tức những thức ăn và y phục ở nghĩa địa, tì-kheo này đều thâu lấy, mang xuống sông giặt rửa sạch rồi dùng mà không trực tiếp nhận từ tay người. Tì-kheo này cũng thường trú ngụ ở bãi tha ma. Khi có dịch bệnh cũng không vào thành, nên mọi người đều gọi vị ấy là kẻ ăn thịt người chết. Tiếng xấu lan truyền cùng khắp, các tì-kheo bạch Phật. Đức Phật triệu tập tì-kheo tăng dạy rằng: ‘Từ nay về sau nếu các tì-kheo không trực tiếp nhận từ người thí mà ăn thì phạm tội”.
Kinh Đại phương đẳng đà-la-ni ghi: “ Khi ăn không được nhìn người nữ, trong tâm chỉ nên suy nghĩ: ‘Làm sao nhổ mũi tên độc trong tâm ta, chứ nhìn người nữ mà làm gì? Từ vô thỉ đến nay, do nữ sắc mà ta rơi vào ba đường, không có ngày thoát ra. Sáu trần cũng nên quán xét như thế, tất cả đệ tử Phật chúng ta không nên đắm nhiễm. Các tên giặc này phá hoại căn lành của chúng ta”.
* Lời bàn
Thức ăn của tất cả chư tăng đều phải được phân chia bình đẳng, không phân biệt phàm thánh, trên dưới.
Luật Tăng-kì ghi: “Khi đàn việt dâng thức ăn, nếu dâng cho thượng tọa nhiều thì thượng tọa nên hỏi: ‘Tât cả chúng tăng đều được như thế không?’. Nếu đáp: ‘Chỉ có thượng tọa được như vậy’, thì nói: ‘Nên cúng dường bình đẳng tất cả’. Nếu họ nói: ‘Tất cả đều được như vậy’, thì nhận.
Phép tắc của vị thượng tọa trong tăng là không được thụ dụng liền sau khi nhận, phải đợi tất cả được đầy đủ rồi xướng ‘Đẳng cúng’, mới được ăn. Thượng tọa phải ăn từ từ, không được ăn nhanh rồi đứng dậy trước, nên đợi người đưa nước uống, tùy thuận chú nguyện xong mới đứng dậy”.
Kinh Xứ Xứ ghi "Đức Phật dạy:
- Sau giờ Ngọ không ăn thì được năm phúc: ít dâm, ít ngủ, được nhất tâm, không hạ phong, thân an ổn, không bệnh’. Vì thế, sa-môn phải biết lợi ích đó mà không ăn quá Ngọ”.
* Lời bàn
Nếu tham ăn thì phiền não sẽ tăng trưởng; đối với thức ăn, cần phải nhàm chán, khởi ý tưởng bất tịnh.
Luận Đại trí độ ghi: “Quán nhàm chán thức ăn tức là quán thức ăn từ nhân duyên bất tịnh sinh, như thịt từ tinh huyết, đường tiểu sinh ra. Đó là nơi máu mủ và các vi trùng trú ngụ. Váng sữa, sữa, lạc là do máu biến thành, không khác gì máu mủ, sau đó hòa lẫn với mồ hôi nhơ nhớp của người làm bếp và các thứ bất tịnh khác. Nếu đưa vào miệng thì từ não bộ có hai dòng nước hôi thối chảy xuống hòa với nước miếng để thành vị, như đồ đã nôn ra lại nuốt vào bụng. Đất duy trì, nước làm nát, gió làm chuyển động, lửa rang nấu. Giống như cái chảo nấu chín nhừ, cặn bã lắng xuống dưới, nước trong nổi lên trên; ví như gây rượu, phần cặn là phân, phần trong là nước tiểu. Yết hàu có ba lỗ, gió thổi chất béo tan vào trăm mạch, hòa hợp với huyết sẵn có, ngưng kết biến thành thịt. Từ thịt sinh ra mỡ, xương, tủy. Từ đó lại sinh thân căn; lại thịt mới thịt cũ hợp lại sinh năm căn, từ năm căn sinh năm thức, năm thức thứ lớp sinh ý thức. Từ đó, phân biệt chấp tưởng, phân biệt tốt xấu, rồi sinh ngã, ngã sở, các phiền não và các tội nghiệp. Lại nữa, nên suy nghĩ thức ăn này; mang nặng công lao. Tính ra một bát cơm, công sức mồ hỏi của nông phu góp lại nhiều hơn bát cơm ấy. Có được bát cơm này gian khổ như vậy, mà ăn vào miệng thì liền thành bất tịnh, không chút giá trị, trải qua một đêm đã biến thành phân. Vốn là thức ngon mà ăn vào biến thành bất tịnh, gớm không muốn nhìn. Hành giả phải tự suy nghĩ: ‘Thức ăn tệ như vậy, nếu ta tham
đắm thì sẽ đọa vào địa ngục. Quán thức ăn như vậy thì sinh ý tưởng nhàm chán, do nhàm chán thức ăn, nên không tham đắm năm dục.
Ví như có một bà-la-môn tu pháp thanh tịnh, có công việc đi đến một nước bất tịnh, tự suy nghĩ rằng: ‘Ta sẽ làm sao để tránh khỏi những thức ăn bất tịnh này, chỉ phải dùng thức ăn khô mới thanh tịnh được’. Khi nhìn thấy một bà cụ bán bánh bạch tủy, ông liền nói:
- Tôi có việc ở đây một trăm ngày, cụ hãỵ làm thứ bánh này bán cho tôi.
Hằng ngày bà lão đem bánh đến, bà-la-môn rất thích ăn. Lúc ban đầu bánh trắng sạch nhưng dần về sau thì không còn màu sắc và hương vị như trước nữa. Bà-la-môn hỏi:
- Tại sao như vậy?
Bà cụ đáp:
- Mụn đã lành.
Bà-la-môn ngạc nhiên hỏi:
- Nghĩa là sao?
Bà cụ đáp:
- Chồng tôi sinh mụn nhọt ở chỗ kín, tôi lấy bột gạo trộn sữa đắp vào, mụn nhọt muồi vỡ mủ ra hòa lẫn với bột, cứ mỗi ngày như vậy lấy bột này làm bánh đem cho ông, vì thế mà bánh ngon. Nay chồng tôi đã lành mụn thì tôi biết tìm ở đâu được!
Bà-la-môn nghe xong, nắm hai tay đánh vào đầu, đấm ngực nôn khan và nói:
- Biết làm sao đây? Ta đã phá pháp thanh tịnh rồi! Việc tu hành của ta mất hết rồi!
Bà-la-môn liền bỏ công việc trở về nước cũ.
Hành giả cũng như vậy, tham đám ăn uống, hoan hỷ ưa thích mà chẳng quán xét bất tịnh, sau chịu quả báo đau khổ thì hối tiếc làm sao kịp!”.
39.7. SAU KHI THỤ THỰC
Luận Ba-li ghi: “Tăng, ni, bạch y thụ trai xong, nếu không dùng bột đậu, cự-ma để súc miệng thì không đúng phép thụ trai. Vào thời quá khứ, tì-kheo Liên-đề sáu mươi năm trì trai không một mảy may thiếu sót, ngày nào ăn xong cũng sử dụng cự-ma, bột đậu, nên đúng với trai pháp. Nếu không làm như thế thì khồng thành tựu trai pháp”.
Kinh này không nói rõ cự-ma là gì, nếu căn cứ vào bộ Xuất yếu luật nghi14 thì cự-ma là phân bò. Nếu vậy, chẳng lẽ dùng phân bò làm sạch miệng ư? Truyện kí về Pháp sư Da-xá có ghi: “Người thế tục và ngoại đạo ở Ấn Độ... tôn thờ Phạm thiên và bò, vì cho đây là hai nhân sinh ra vạn vật và nuôi dưỡng nhân dân, nên phân bò dùng làm thanh tịnh đạo tràng. Phật thuận theo thế tục cũng lấy phân bò để làm sạch, nhưng chẳng dùng để làm sạch miệng!”.
Các bộ luật như Tứ phần... ghi .Giữ gìn bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, ăn năm món ăn chính, liền thành tựu trai pháp, không luận phải dùng bột đậu để làm sạch miệng mới thành tựu. Nếu quá thời, phạm oai nghi, gây lỗi lầm, dẫu có sử dụng bột đậu, cự-ma cũng không thành trai pháp”.
Luật Thiện kiến ghi: “Thụ trai xong bị nôn, nếu chưa tuôn ra khỏi cổ mà nuốt trở vào thì không phạm. Nếu đã tuôn ra rồi lại nuốt trở vào là phạm”.
Luật Tăng-kì ghi: “Ăn xong nếu khát nước, Phật bảo lấy tất cả các loại ngũ cốc, đậu, lúa mạch đem nấu, không nhừ nát, lúc phi thời lọc lấy nước mà uống. Đối với tô du, mật, đường phèn, các loại nước ép trái cây, thì phải dùng nước tác tịnh. Nếu ở đáy hũ còn lại một ít, có nước mưa văng vào, cũng được xem là tịnh”.
Luật Thiện kiến ghi: “Phi thời được uống nước Xá-lâu-già lắng trong”.
Luận Ma-đức-lặc-già ghi: “Nước đường cát cũng có thể uống lúc phi thời”.
Luật Tăng-kì ghi: “Con người có bốn trăm lẻ bốn bệnh:
- Bệnh Phong đại có một trăm lẻ một chứng, dùng dầu để chữa trị.
- Hỏa đại gây bệnh nhiệt có một trăm lẻ một chứng, dùng váng sữa điều trị.
- Thủy đại gây bệnh rét có một trăm lẻ một chứng, dùng mật chữa trị.
- Bệnh tổng hợp ba đại có một trăm lẻ một chứng, dùng ba loại thuốc trên để điều trị”.
Luật Thập tụng ghi: “Lúc phi thời không được ăn đường phèn, nhưng có năm trường hợp cho phép: một, đi xa; hai, bệnh; ba, ít ăn; bốn, không xin được thức ăn; năm, ở chỗ bố thí nước, hòa đường phèn vào nước uống”.
Luật Ngũ phần ghi: “Cho phép lúc đói và lúc khát được uống nước đường phèn” nên biết người không bệnh, lúc phi thời mặc dầu có dư đường phèn, tô du.., cũng không được dùng).
Luật Tăng-kì ghi: “Dùng lá tiêu, lá lốt, gừng, ha-lê-lặc... làm thuốc dùng suốt đời. Dùng những loại này hòa với nước cho phép uống lúc phi thời”.
Luật Tứ phần ghi: “Tất cả các vị đắng, cay, mặn, ngọt..., trong đó có loại không thể dùng làm thức ăn, thì cho phép dùng làm thuổc uống lúc phi thời suốt đời”.
Luật Thiện kiến ghi: “Tất cà cây cối, quả, rễ, thân, cành, lá..., trong đó có loại không thể dùng làm thức ăn, thì đều được dùng làm thuốc uống cả đời”.
* Lời bàn
Gần đây thấy nhiều người ăn uống phi thời mà giống như ăn đúng thời. Như thế đúng chăng? Người đạo kẻ tục ở vùng biên địa, nghe luật cho phép uống nước trái cây thì liền uống nước táo khô, hoặc lê, nho, lựu không giả nhuyễn. Dù cò giã nát ép lấy nước, nhưng cũng không lắng trong, uống luôn cả nước và xác. Hoặc nghe cho phép uống nước Xá-lâu-già để trị bệnh nhiệt, thì liền lấy cọng sen, ngó sen ăn sống, hoặc uống nước cơm. Hoặc khi không đói khát lại uống tô du, đường phèn... lúc phi thời; hoặc dùng hạnh nhân nấu đặc. Như thế quá lạm dụng, chẳng thể nào ghi chép hết. Theo luật Thập tụng, nếu chẳng thuộc năm trường hợp nêu trên thì không được tự tiện ăn, nếu ăn là phá trai giới. Ngày nay thấy người sai phạm ngày càng nhiều.
39.8. CHÚ NGUYỆN SAU KHI ĂN
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Khi mặt trời vừa mọc, Thế Tôn đắp y, ôm bát cùng với các tì-kheo đên cung vua Thâu-đầu-đàn. Phật đã an tọa trên tòa, các tì-kheo cũng theo thứ tự ngồi đúng pháp, vua Thâu-đầu-đàn tự tay dâng các thức ăn ngon cho tất cả. Thụ thực xong, Thế Tôn thuyết pháp giáo hóa, khiến vua Thâu-đầu-đàn giải ngộ, tâm vô cùng hoan hỉ. Thế Tôn dạy xong, từ tòa đứng lên và trở về nơi cư trú.
Luật Thập tụng ghi: “Tì-kheo nhận lời thỉnh, im lặng đến ăn rồi lặng lẽ ra về, các cư sĩ trách:
- Chúng ta chẳng biết thức ăn có ngon hay không?
Các tì-kheo bạch Phật, Đức Phật dạy:
- Từ nay khi thụ thực, nên chú nguyện khen ngợi công đức thí chủ!
Các tì-kheo không biết người nào sẽ nói, Đức Phật dạy:
- Thượng tọa nói, nếu thượng tọa không nói được thì bảo người kế thượng tọa có khả năng để nói thay”.
Luật Tăng-kì ghi: “Vị thượng tọa phải biết thí chủ cúng dường vì mục đích gì mà chú nguyện cho thích hợp. Nếu thí chủ vì người qua đời mà cúng dường tạo phúc thì nên nguyện:
Tất cà loài chúng sinh
Cỏ mạng đều phải chết
Tùy theo nghiệp thiện ác
Tự nhận lấy quả bảo
Tạo ác rơi địa ngục
Làm thiện sinh cõi trời
Nên gắng sức tu đạo
Lậu tận chứng niết-bàn.
Nếu thí chủ vì đứa con mới sinh mà cúng dường tạo phúc, thì nên nguyện:
Đồng tử qui y Phật
Tì-bà-thi Như Lai
Thi-khí, Ti-diệp-bà
Câu-lâu, Cầu-xá-na
Ca-diếp và Thích-ca
Bảy đời Đại Thánh Tôn.
Thí như bậc cha mẹ
Luôn thương nhớ đến con
Món vui cả thể gian
Muốn con có tất cả
Lại mong con được phúc
Gấp nhiều lần người khác
Thân bằng và quyến thuộc
Cũng cùng tột an vui.
Nếu thí chủ về nhà mới mà cúng dường tạo phúc thì nên nguyện:
Xây nhà hành bố thí
Ước mong được tùy ý
Chúng hiền thánh cát tường
Đến nhà mà thụ dụng.
Người thông minh trên đời
Mới biết ở nơi này
Đã thỉnh người trì giới
Tu phúc bày trai hội
Chư tăng đã chú nguyện
Thần đất nhà hoan hỉ
Khởi tâm lành bảo vệ
Vĩnh viễn ngụ trong nhà
Nếu vào trong xóm làng
Hoặc đến nơi hoang vắng
Hoặc là ngày hay đêm
Thiên thần luôn theo giữ.
Nếu thí chủ sắp lên đường đi buôn bán, thiết trai cúng dường tạo phúc thì nên nguyện:
Nơi nơi đểu an ổn
Các trời báo điềm lành
Biết rồi tâm hoan hỉ
Ước muốn đều trọn thành.
Loài hai chân an ổn
Loài bốn chân cũng vậy
Khi đi luôn an ổn
Khi đến cũng được an
Đêm an ngày cũng an
Chư thiên luôn bảo vệ
Chúng bạn lại thuần thiện
Tất cả đều an ổn
Tráng kiện lại tốt lành
Tay chân không tật bệnh
Trên thân các chi phần
Cũng khỏe mạnh an toàn
Nếu mong muốn điều chi
Tùy tâm ước nguyên thành.
Nếu thí chủ vì cưới vợ mà thiết trai cúng dường, tạo phúc thì nên nguyện:
Vợ tin sâu, giữ giới
Người chồng cũng như vậy
Do có lòng tin sâu
Luôn thực hành bố thí
Hai người đều trì giới
Tu tập hạnh chính kiến
Vui vẻ cùng tạo phúc
Chư thiên luôn bảo vệ
Phúc báo của hạnh này
Giống như người đi xa
Không cần mang lương thực.
Nếu thí chủ vì việc xuất gia mà cúng dường tạo phúc thì nên nguyện:
Ôm bát xin mọi nhà
Gặp kẻ giận, người vui
Đều nên chính tâm ý
Xuất gia khó hành thí.
Luật Tứ phần ghi: “Vị thượng tọa sau khi thụ trai, nên lượng biết mục đích cúng dường mà cầu nguyện cho thí chủ, để người thụ nhận và người thí đều được phúc báo”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thế Tôn cầu nguyện cho người nữ cúng dường khu vườn như sau:
Vườn cây cho bóng mát
Cầu bến đưa người sang
Bên đường lập phòng nhà
Cho bộ hành nghỉ ngơi
Ngày đêm thường an ổn.
Phúc ấy không thể lường
Các giới pháp thành tựu
Chết được sinh cõi trời
39.9. PHÚC BÁO CÚNG DƯỜNG
Kinh Soạn tập bách duyên ghi: “Một thời, Đức Phật ở vườn tre Ca-la-đà tại thành Vương Xá. Bấy giờ, có trưởng giả Tu-già, rất giàu, của cải nhiều không thể tính kể. ông cưới một cô gái con nhà quyền quí làm vợ, hằng ngày cùng nhau ca hát vui chơi. Sáu đó, vợ ông mang thai, đủ mười tháng thì sinh một bé gái. Vừa sinh, bé gái liền biết nói, trong nhà tự nhiên đầy đủ thức ăn. Cha mẹ thấy thế thì cho là quỉ Tì-xá-xà, nên không dám đến gần, cô bé thấy cha mẹ sợ hãi, liền chắp tay nói kệ:
Xin cha mẹ hãy nghe
Con nói lời chân thật
Chằng phải Tì-xá-xà
Hay là quỉ nào khác
Mà con chính là người
Do hành nghiệp theo đuổi
Nhân duyên thiện nhiều đời
Nên được quả bảo này.
Nghe xong, cha mẹ vui mừng khôn xiết, liền ôm con vào lòng, dưỡng nuôi chăm sóc, đặt tên là Thiện Ái. Thiện Ái thấy cha mẹ vui mừng như thế, liền chắp tay thưa:
- Xin cha mẹ vì con mà thỉnh Đức Phật và chúng tăng cúng dường!
Cha mẹ liền đồng ý và chuẩn bị đầy đủ các món ăn, sai người đến thỉnh Đức Phật cúng dường. Cúng dường xong, Thiện Ái khát ngưỡng muốn được nghe pháp. Đức Phật nói pháp Tứ đế. Nghe xong, tâm ý Thiện Ai khai mở, liên chứng quả Tu-đà-hoàn. Sau đó Thiện Ái cầu xuất gia, Đức Phật bảo:
- Thiện lai tì-kheo-ni!
Tức thời tóc Thiện Ái tự rụng, thân đắp pháp phục, thành tì-kheo-ni. Sau đó cố tinh tấn tu tập, chứng quả A-la-hán, đủ ba minh, sáu thông và tám giải thoát, được trời người cung kính. Lúc ấy, Đức Phật dẫn một nghìn hai trăm năm mươi tì-kheo đi vào cánh đồng vắng ở nước khác. Đến giờ ăn, Đức Phật bảo tì-kheo-ni Thiện Ái:
- Cô hãy dọn thức ăn cúng dường Phật và tăng!
Tì-kheo-ni Thiện Ái cung kính nhận lấy bát của Đức Phật và tung lên hư không, trong bát tự nhiên đầy đủ thức ăn. Lần lượt bát của một nghìn hai trăm năm mươi tì-kheo cũng thế. Ngài A-nan thấy việc ấy, cho là hiếm có, liền thỉnh Đức Phật nói nhân duyên này.
Đức Phật bảo ngài A-nan:
- Vào kiếp Hiền, ở nước Ba-la-nại có Đức Phật Ca-diếp ra đời. Một hôm, Ngài đắp y, ôm bát dẫn các tì-kheo vào thành khất thực, lần lượt đến nhà một trưởng giả. Trưởng giả kia đang chuẩn bị thức ăn để đãi khách, nhưng khách chưa đến. Lúc ấy, một nô tì trong nhà thấy Đức Phật và chúng tăng đứng khất thực ngoài cổng, cô ta không thưa trưởng giả mà cúng dường hết thức ăn. Sau đó khách đến, trưởng giả liền bảo nô tì dọn thức ăn, cô ta nói:
- Hôm nay Đức Phật và chúng tăng đến khất thực, nên con cúng dường hết rồi!
Trưởng giả nghe xong, lòng rất vui mừng, liền bảo nô tì:
- Hôm nay ngươi dâng thức ăn cúng dường, tức đã vì ta đã gieo vào ruộng phúc, ta rất vui mừng và quyết định trả tự do cho ngươi, ngươi muốn cầu xin điều gì thì tùy ý!
Nô tì đáp:
- Nếu ngài trả tự do thì cho phép con được xuất gia!
Trưởng giả đồng ý. Như vậy trong một vạn năm, tì-kheo-ni kia tu tập tinh tấn, không lui sụt, sau khi mạng chung, không rơi vào đường ác, được sinh lên cõi trời người, trăm món thức ăn tùy ý hiện đến.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Nô tì thuở ấy, nay là tì-kheo-ni Thiện Ái. Nhờ xưa kia tinh tấn giữ giới, nay được gặp Ta, xuất gia chứng đạo quả!
Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy xong, đều vui vẻ vâng theo”.
Kinh này cũng ghi: “Một thời, Đức Phật ở Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên tại thành Xá-vệ. Sau khi an cư, Đức Phật định dẫn các tì-kheo đến nước khác. Bấy giờ, vua Tần-bà-sa-la cùng quần thần ra ngoài thành cầu mong Như Lai đến nhận sự cúng dường của mình!
Đức Phật từ xa biết lòng khát ngưỡng của vua, nên cùng các tì-kheo đến nước Ma-kiệt-đà. Trên đường đi, Ngài gặp đàn chim anh vũ. Chim anh vũ đầu đàn từ xa thấy Đức Phật, liền bay lên hư không đón tiếp và bạch:
- Cúi xin Đức Thế Tôn và các tì-kheo thương xót đến rừng của chúng con nghỉ một đêm!
Đức Phật đồng ý.
Thế là, chim anh vũ biết Đức Phật nhận lời, liền bay về rừng dẫn cả đàn ra đón tiếp.
Lúc ấy, Đức Phật dẫn các tì-kheo vào rừng, nơi chim anh vũ ở, trải tọa cụ ngồi thiền bên gốc câỵ. Anh vũ đầu đàn thấy Đức Phật và các tì-kheo ngồi yên tĩnh, lòng rất , vui mừng, suốt đêm bay chung quanh, nhìn bon phía xem co sử tử, cọp, sói và trộm cướp đến nhiễu loạn Đức Phật và các tì-kheo không.
Sáng hôm sau, Đức Phật dẫn các tì-kheo rời khỏi rừng, anh vũ bay trước dẫn đường, rồi đến thành Vương Xá tâu với vua Tần-bà-sa-la:
- Đức Phật dẫn các tì-kheo sắp đến đây, xin đại vương bày biện thức ăn cúng dường!
Vua nghe xong, liền cho dọn thức ăn ngon, cầm tràng phan, hương hoa, trỗi nhạc và dẫn các quần thần ra đón tiếp. Đêm ấy, anh vũ đầu đàn qua đời, sinh lên cõi trời Đao-lợi; vừa sinh ra bỗng nhiên lớn như đứa bé tám tuổi, liền nghĩ: “Ta tạo phúc gì mà được sinh lên cõi trời này”. Anh vũ liền quán sát biết mình ở nhân gian làm chim anh vũ, nhờ thỉnh Đức Phật nghỉ lại một đêm, nên được sinh lên cõi trời. Vị trời nghĩ: “Ta phải trở lại nhân gian đáp đền ơn Đức Phật!”.
Thế là vị trời ấy liền đội mũ trời, đeo chuỗi báu, cầm hoa hương đến cúng dường Phật. Cúng dường xong, lui ngồi một bên, nghe Đức Phật thuyết pháp tứ đế. Nghe xong, tâm ý vị trời khai mở, chứng quả Tu-đà-hoàn, nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi trở về.
Các tì-kheo lại bạch Phật:
- Thiên tử này đã tạo nghiệp gì mà sinh làm chim anh vũ, lại tạo phúc gì mà được nghe pháp và chứng quả?
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông hãy lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ!
Vào kiếp Hiền, ở nước Ba-la-nại có Đức Phật Ca-diếp ra đời. Bấy giờ, trong nước có một trưởng giả thụ năm giới, đã phạm một giới, nên sau khi qua đời sinh làm anh vũ, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn bốn giới còn lại, nên nay được gặp Ta, xuất gia chứng đạo.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Ưu-bà-tắc trưởng giả khi xưa chính là thiên tử anh vũ.
Các tì-kheo nghe Đức Phật nói xong, đều vui vẻ vâng theo”.
Kinh Phó pháp tạng ghi: “Vào thời quá khứ, sau Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn chín mươi mốt kiếp, có một tì-kheo bị bệnh đau đầu rất nặng. Lúc bấy giờ, Bạc-câu-la là người nghèo khổ, thấy tì-kheo bệnh liền dâng một quả ha-lê-lặc, tì-kheo uống xong liền hết bệnh. Do nhân bố thí này mà chín mươi mốt kiếp ông được sinh vào cõi trời, cõi người hưởng phúc sung sướng, chưa từng bệnh tật. Sau cùng, ông sinh vào nhà bà-la-môn, mẹ mất sớm, cha lại tái hôn. Lúc đó Câu-la còn nhỏ, thấy mẹ kế làm bánh, thường theo xin, nhưng bà ta căm ghét bắt Câu-la bỏ trên lò sấy. Lửa lò cháy hừng hực, nhưng không thể đốt cháy được Câu-la. Người cha từ ngoài vào thấy thế liền đến bế xuống.
Lần khác, lúc bà đang nấu thịt, Bạc-câu-la theo xin, bà tức giận bắt Câu-la bỏ vào chảo luộc, nhưng cũng không chết. Người cha tìm con không gặp, kêu gọi, khi nghe tiếng con trả lời, ông đến ẵm ra ngoài, Bạc-câu-la vẫn không bị tổn thương. Sau đó bà đi ra sông, Bạc-câu-la đi theo, đến bên bờ sông bà phẫn hận nói: ‘Ngươi là quỷ mị yêu tinh chốn nào, vì sao đốt nấu hai lần mà không chết?’. Bà liền bắt ném xuống sông, ngay lúc ấy Bạc-câu-la bị con cá lớn nuốt chửng, nhưng nhờ có phúc duyên nên vẫn được bình an. Không lâu sau, ngư ông bắt được con cá này đem ra chợ bán, có nhiều người trả giá nhưng chẳng ai mua, cho đến chiều xế cá sắp ươn thì cha Bạc-câu-la nhìn thấy, liền mua cá ấy đem về nhà. Khi ông cầm dao mổ bụng cá, đứa bé nói lớn: ‘Xin cha nhẹ tay, chớ làm con bị thương!’. Người cha nghe tiếng con kêu liền rạch bụng cá và bế ra.
Lớn lên, Bạc-câu-la xuất gia, đác quả A-la-hán. Từ khi sinh ra cho đến già một trăm sáu mươi tuổi mà Bạc-câu-la chưa một lần bị bệnh, cũng không bị các chứng bệnh nhẹ như đau đầu, nóng sốt. Chính do xưa kia bố thí thuốc nên được trường thọ như thế. Trải qua năm lần: lửa đốt không cháy, chảo hầm không chín, nước nhận chìm không chết, cá nuốt không tiêu, dao cắt không trúng. Vì vậy, người trí nên thực hành bố thí”.
Luật Thập tụng ghi: “Bấy giờ, trong thành Vương Xá có cư sĩ Thi-lợi-cừu-đa rất giàu, là đệ tử của ngoại đạo. Ông ta thường phân vân chẳng biết sa-môn Cù-đàm có phải là bậc Nhất Thiết Trí hay không? Một hôm, ông đến chỗ Phật, thưa rằng:
- Thỉnh sa-môn ngày mai đến nhà tôi thụ trai!
Phật muốn độ ông ta, nên im lặng nhận lời. Bấy giờ cư sĩ trở về nhà, tạo một hầm lửa lớn ở trước cửa, rồi phủ cát lên lớp mặt để ngụy trang và không cho bốc khói. Trong nhà, ông sắp đặt chỗ ngồi, nhưng lại không lót vải trải nệm, còn lấy thuốc độc trộn chung với cơm, cho rằng: ‘Nếu Cù-đàm là bậc Nhất Thiết Trí thì phải biết việc này, còn không, sẽ sa vào hầm lửa, hoặc bị chết vì trúng độc’.
Đến sáng hôm sau, ông sai người đến tinh xá thỉnh Phật. Phật bảo A-nan thông báo cho tất cả tì-kheo không được đi trước. Bấy giờ chúng tì-kheo tuần tự theo sau Phật đến nhà cư sĩ, khi đến trước cửa, Đức Phật biến hầm lửa thành hồ sen, chứa đầy
nước sạch, vừa ngọt vừa trong mát, Ngài cùng chúng tăng bước nhẹ trên lá sen đi vào nhà. Chỗ ngồi không trải vải, Phật hóa thành có vải. Đức Phật nói với cư sĩ rằng:
- Ông nên trừ lòng nghi ngờ, Ta chính là bậc Nhất Thiết Trí!
Cư sĩ thấy thần lực của Đức Phật qua hai lần biến hóa, liền phát lòng tin và tôn kính Đức Phật, ông chắp tay bạch rằng:
- Kính lạy Đức Thế Tôn! Cơm này có thuốc độc, Ngài không ăn được!
Đức Phật bảo:
- Cứ cúng dường thức ăn này, chúng tăng dùng không sao đâu!
Phật lại bảo A-nan nói cho các tì-kheo biết, khi Ngài chưa xướng ‘Đẳng cúng’ thì không được ăn, vì đây là lời chú nguyện của Phật. Chất độc trong thế giới này chính là dâm dục, sân hận và ngu si, Đức ngữ của Phật mà độc đều tiêu trừ, thức ăn trở nên thanh tịnh. Chúng tăng thụ trai xong, cư sĩ ngồi trước Phật, nghe Ngài giảng pháp, liền ngay đó chứng đắc Pháp nhãn tịnh. Đức Phật trở về tinh xá, nhóm họp chúng tăng dạy rằng:
- Từ nay trở về sau, không được đi trước Phật, hòa-thượng, thượng tọa, giáo thụ và khi chưa xướng ‘Đẳng cúng’ thì không được ăn”.
Luận Ma-đức-lặc-già ghi: “Chúng tăng sắp thụ trai, vị thượng tọa nên bảo thí chủ cúng dường bình đăng, bảo chư tăng cùng nhau xướng Tăng-bạt rồi sau mới dùng”.
Pháp hội cúng mĩ vị Ngày trai cảm thần linh Mời khắp, chớ biệt thỉnh Chủ khách đồng lợi trinh Thánh phàm trong mọi lúc Nạn hết được khương ninh Ấy do sức từ thiện Lìa ác, phúc yên bình.
39.10. CẢM ỨNG
39.10.1. Đời Tấn, Tư không Hà Duẫn: Ông tự là Thứ Đạo, người Lô Giang, thuở nhỏ đã tin Phật pháp, chuyên tâm tu đạo. Ông thường đặt một tòa trống nơi trai đường, trải chiếu tốt, giăng màn đẹp có kết bảo châu. Trải qua nhiều năm như thế, mong được Phật thánh hiển hiện thần dị. Một hôm ông lập trai hội lớn, tăng tục tham dự rất đông. Bấy giờ từ trong chúng có một vị tăng thần thái tầm thường, dung mạo xấu xí, y phục thô dơ bước thẳng lên tòạ, ngồi im lặng, không nói một lời. Cả chúng hội đều kinh ngạc, cho rằng vị này có hành động sai quấy. Hà Duẫn thấy dung mạo như thế, trong lòng cũng không vui, có ý xem thường.
Đến trưa, vị tăng này thụ thực ngay tại tòa. Thụ thực xong, vị tăng cầm bát bước ra khỏi trai đường, bỗng quay lại nói với Duẫn: “Đâu uổng công tinh tấn!”. Nói xong vị tăng ném bát lên cao, nương hư không đi mất. Hà Duẫn và tăng tục đuổi theo, thấy từ thân vị tăng phát ra ánh sáng rực rỡ, nhìn đến hết tầm mắt mới thôi. Tất cả đều ân hận, đỉnh lễ sám hối nhiều ngày.
39.10.2. Đời Tấn, ni sư Trúc Đạo Dung: Ni sư trụ ở chùa Ô Giang, giới hạnh tinh nghiêm, thường hiển hiện những điềm linh dị. Vào thời Minh đế nhà Tấn, ni sư rất được mọi người kính trọng. Từng có người rải hoa trên chiếu để nghiệm biết quả vị của ni sư, thì thật hoa không héo. Đến đời Giản Văn đế, vua kính thờ đạo Thanh Thủy, tôn Vương Bộc Dương làm thầy, xây dựng đạo xá trong cung. Ni sư dốc lòng khai hóa, nhưng nhà vua không nghe theo.
Một hôm mẹ của vua vào đạo xá, thấy các vị thần mang hình dáng sa-môn đứng chật cả phòng, vua nghi là do ni sư biến hóa. Nhân đó vua tôn ni sư làm thay, tin theo chính pháp. Nhà Tấn tin kính Phật đạo, phần lớn do công ni sư khuyên hóa. Người thời bấy giờ rất sùng kính ni sư và tôn là Thánh nhân, vua cũng đã xây dựng chùa Tân Lâm cứng dường. Đến đầu đời Vũ đế, bỗng nhiên ni sư tuyệt tích, mọi người bèn chôn y bát của ni sư bên chùa.
39.10.3. Đời Tấn, Khuyết Công Tắc: Ông là người nước Triệu, tính điềm tĩnh, phóng khoáng, dáng vẻ nhàn nhã, chỉ siêng năng với pháp sự. Ông mất tại Lạc Dương vào đời Tấn Vũ Đế. Tăng tục đồng tu lập trai hội tại chùa Bạch Mã. Đêm ấy tụng kinh, đến nửa đêm mọi người bỗng nghe trên không trung có tiếng khen ngợi, ngước nhìn thì thấy một người thân hình cao lớn, oai nghi tề chỉnh, y phục đẹp đẽ. Vị ấy nói:
- Ta là Khuyết Công Tắc, đã sinh cõi An Lạc phương tây, hôm nay cùng với các Bồ-tát đến đây nghe kinh!
Cả đạo tràng đều thấy rõ, trong lòng vô cùng kinh ngạc. Bấy giờ có Vệ Sĩ Độ người quận Hấp, cũng là một cư sĩ tu khổ hạnh, thờ Công Tắc làm thầy. Mẹ của vị cư sĩ này cũng rất tin kính Phật pháp, suốt đời ăn chay trường, tụng kinh và thường cúng dường trai tăng. Hôm ấy sắp đến giờ ngọ, bà ra khỏi trai đường cùng với các tăng ni dạo chơi, nhìn lên bầu trời cao xa, bỗng thấy từ hư không có một vật rơi ngay trước mặt bà, chính là cái bát chứa đầy cơm, mùi thơm xông khắp. Cả trai đường đều im lặng, đồng loạt lễ lạy. Bà bèn chia cho tất cả mọi người cùng ăn, trải qua bảy ngày mà vẫn không cảm thấy đói. Bát này hiện vẫn còn tại đất Bắc.
Vệ Sĩ Độ giỏi văn chương, đã soạn văn sám Bát quan, đến cuối đời Tấn vẫn còn thịnh hành. Ông qua đời vào niên hiệu Vĩnh Xương (322) đời Tân. Khi ông mất cũng hiện những điềm linh dị. Có người tạc tượng soạn truyện Thánh hiền ghi lại việc này và cho ông đã vãng sinh Tây phương. Ngô Hưng Vương Cai ca ngợi: “Khuyết Công vê Tây, Vệ Độ tiếp bước, đều vắng lặng nơi vô sinh, cùng thoát hình mà bất tử”.
39.10.4. Đời Tấn, Đằng Tịnh ở Nam Dương: Tổ tiên ông nhiều đời kính tin Phật pháp. Vợ ông họ Kim, người quận Ngô, siêng năng khắc khổ tu hạnh. Nhà ông thường lập trai hội, nhưng không mời thỉnh riêng, gặp bất kì vị tăng nào đến cũng lưu lại cúng dường, về sau lập hội, tăng số đến không đủ, ông cho người ra đường mời thỉnh, thây một vị sa-môn đang ngồi dưới bóng cây liễu, liền thỉnh về nhà cúng dường. Gặp lúc tịnh nhân dọn cơm, vô ý làm đổ tất cả xuông đất, hoảng hốt không biết tính sao. Bấy giờ vị sa-môn bảo:
- Trong bát bần đạo có cơm đủ cúng dường cho đại chúng hôm nay!
Nói xong, vị tì-kheo bảo Đằng Tịnh phân chia, thế là tất cả tăng tục đều no đủ. Trai hội xong, vị tì-kheo ném bát lên không trung rồi vọt mình theo bay đi mất. Đằng Tịnh tạc tượng gỗ ngày đêm lễ lạy, mỗi khi trong nhà sắp có việc chẳng lành, tượng gỗ nhất định ngã về phía trước báo hiệu. Con của Tịnh là Hàm nhờ công dẹp Tô Tuấn, nên được phong đất ở Đông Hưng.
39.10.5. Sa-môn Trúc Pháp Tiến: Sư trụ trì chùa Khai Độ, học rộng biết nhiều, có thể hiểu được ngôn ngữ các bộ tộc khác. Khi Lạc Dương loạn lạc, sư muốn ẩn cư nơi núi rừng, đại chúng nài thỉnh ở lại, nhưng sư không chịu. Thế là sư tổ chức trai hội lớn, đốt hương từ biệt. Lúc sắp phân phát hương cho đại chúng, bỗng nhiên có một vị tăng mặt vàng phù thủng, y phục hôi dơ đi thẳng đến ngồi vào tòa cao. Sư xem thường nên kéo xuống, đặt ngồi hàng sau; nhưng vị tăng lại lên tòa cao. Ba lần như thế, bỗng nhiên vị tăng biến mất. Đại chúng đã an tọa, sắp bày biện thức ăn, thì tự nhiên gió lớn nổi lên, cát bay mù mịt, bàn ghế ngã đổ. Sư sám hối tự trách, quang cảnh mới lặng yên, do đó sư không vào núi ẩn cư. Mọi người thời bấy giờ cho rằng thiên hạ sắp đại loạn, Pháp Tiến không nên vào núi, Lại do tăng tục luyến mộ, chí thành thiết tha cầu thỉnh sư, nên mới cảm hiện điềm thần dị này, hầu ngăn ý muốn vào núi của sư.
39.10.6. Đời Tống, Cừu-na-bạt-ma (Cừu-na-bạt-ma, Trung Quốc dịch là Công Đức Khải): Sư vốn là vương tử nước Kế-tân, xuất gia từ thuở nhỏ. Vào đầu đời Tống, sư đến Trung Hoa phiên dịch rất nhiều kinh điển Đại thừa, nên gọi là Tam tạng pháp sư. Sư có giới hạnh thanh cao, ít ai sánh bằng. Sa-môn Tuệ Quán cảm phục giới đức của sư, nên thỉnh về kinh trụ tại chùa Kì-hoàn. Những người đến chùa đều nghi sư là bậc phi phàm, nhưng hành trạng ẩn kín, không ai lường được. Có lần sư nhận lời thỉnh đến chùa Định Lâm ở Chung sơn dự hội, thấy mọi người hái hoa rải trên tòa của chúng tăng để chứng nghiệm nhận biết thánh tăng đến đạo tràng. Sau trai hội, hoa nơi tòa của chúng tăng đều héo, chỉ hoa nơi tòa của sư là vẫn còn tươi. Thế là chư tăng kinh đô càng tôn kính sư.
Ngày mười tám tháng chín niên hiệu Nguyên Gia thứ tám (431), sư vẫn khỏe mạnh, ngồi kết-già, chỉnh sửa y phục, cháp tay im lặng, trải qua hai đêm sắc diện không đổi. Mọi người đều cho sư đang nhập định sâu. Sau đó mọi người tìm thấy di thư dưới chiếu, trong đó có ghi là: “Nhị quả sa-môn”. Bấy giờ mọi người mới biết sư đã thị tịch. Các đệ tử đứng hầu đều ngửi thấy mùi hương lan tỏa. Đêm ấy hơn hai trăm vị tăng ở kinh đô đã tụng kinh cho sư, bên ngoài điện tăng tục nhóm họp đông vô số. Lúc sắp sáng, ở phía tây nam nổi lên một luồng khí, rồi có một vật như dải lụa trắng vây quanh thân sư rồi biến mất. Tất cả mọi người đều thấy. Lúc còn sống, sư có soạn ba mươi bài kệ và dặn dò đệ tử gửi cho vị tăng Thiên Trúc.
39.10.7. Đời Lương, Thích Đạo Lâm trụ chùa Tề Kiên, Phú Dương: Sư người Sơn Âm, Cối Kê, xuất gia từ thuở nhỏ, giới hạnh tinh nghiêm. Sư thông hiểu kinh Niết-bàn, Pháp hoa và thường tụng kinh Duy-ma. Trương Tự người đất Ngô tôn sư làm thầy, về sau, sư đến trụ chùa Tuyền Lâm ở Phú Dương. Chùa này thường có ma quỉ biến hiện quấy phá, từ khi sư đến ở thì nạn này không còn.
Đệ tử của sư là Tuệ Thiều bị mái nhà sập đè, khiến đầu thụt sâu vào ngực. Sư cầu khẩn, đêm hôm ấy, Tuệ Thiều thấy hai vị tăng người Ấn Độ đến kéo đầu minh, đến sáng thức dậy, hoàn toàn bình phục. Thế là sư bèn thiết trai dâng cúng thánh tăng, trải lụa mới trên giường. Trai hội xong, thấy trên giường có dấu người, dài hơn ba thước. Từ đó mọi nhà ở huyện Phú Dương đều lập tòa ngồi cho thánh tăng, hằng ngày cúng dường cơm. Sang đời Lương, sư chuyển đen trụ tại chùa Tề Hi. Niên hiệu Thiên Giám thứ tám (509), sư thị tịch, thọ bảy mươi hai tuổi.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
29/11/2015
PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...
