PUCL QUYỂN 41 - CHƯƠNG CÚNG DƯỜNG, THỤ THỈNH
17/11/2015
QUYỂN 41 Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng dường và Thụ thỉnh. 38. CHƯƠNG CÚNG DƯỜNG 38.1. LỜI DẪN Tam bảo bình đẳng, rộng lớn như hư không, về lí thì không phân oán thân, nơi sự thì chẳng định sang hèn. Vì thế, nê...

QUYỂN 41
Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng dường và Thụ thỉnh.
38. CHƯƠNG CÚNG DƯỜNG
Tam bảo bình đẳng, rộng lớn như hư không, về lí thì không phân oán thân, nơi sự thì chẳng định sang hèn. Vì thế, nên tùy theo khả năng, chí thành cúng dường cùng khắp; lòng không chấp tướng, kính dâng Tam bảo mười phương. Như ngày xưa, nghe Tì-xá-khư mẫu thỉnh riêng năm trăm vị a-la-hán cúng dường, Như Lai quở trách, rồi dạy pháp bình đẳng cúng dường. Cho nên biết, tâm vô hạn thì vật cúng đến mười phương, tài vật không lượng ít nhiều thì tâm trùm pháp giới.
38.2. DẪN CHỨNG
38.2.1. Bồ-tát cúng dường Như Lai
Luận Địa trì ghi: “Bồ-tát có mười cách cúng dường đức Như Lai:
1. Cúng dường sắc thân Phật.
2. Cúng dường chi-đề.
3. Cúng dường hiện tiền.
4. Cúng dường không hiện tiền.
5. Chính mình cúng dường.
6. Khuyên giúp người khác cúng dường.
7. Cúng dường tài vật.
8. Cúng dường thù thắng.
9. Cúng dường không nhiễm ô.
10. Chí xứ đạo cúng dường.
- Bồ-tát thiết lễ cúng dường trước sắc thân Phật, gọi là cúng dường sắc thân Phật.
- Bồ-tát vì đức Như Lai mà cúng dường tháp, hang động thờ Phật, hoặc tinh xá, cho đù đã cũ hay mới xây, đều gọi là cúng dường chi-đề.
- Bồ-tát thiết lễ cúng dường trước Như Lai và chi-đề thì gọi là cúng dường hiện tiền.
- Bồ-tát với niềm hoan hỉ, khao khát ở trước Đức Phật và chi-đề hiện tại cúng dường, đối với các Đức Phật ở ba đời cũng như thế, cho đến hiện tại cúng dường chi-đề Phật và cả ba đời mười phương vô lượng thế giới chi-đề hoặc cũ hoặc mới, thì gọi là cộng hiện tiền cúng dường. Nếu bồ-tát không cúng dường Như Lai và chi-đề hiện tại mà sau khi Phật nhập niêt-bàn, tùy khả năng của mình xây dựng cả trăm nghìn vạn ức bảo tháp tôn thờ xá-lợi, thì gọi là cúng dường rộng khắp không hiện tiền. Nhờ việc làm này nên thành tựu công đức lớn, có được Phạm phúc, trải qua vô số kiếp không bị rơi vào đường ác, đầy đủ vật dụng cho đến chứng đắc Vô thượng bồ-đề. Bồ-tát cúng dường hiện tiền được công đức lớn, cúng dường không hiện tiền được công đức rất lớn, cúng dường hiện tiền và không hiện tiền cũng được công đức vô cùng lớn.
- Bồ-tát tự tay mình cúng dường Như Lai và chi-đề chứ không lười biếng nhờ người khác cúng, gọi là chính mình cúng dường.
- Bồ-tát không chỉ riêng mình cúng dường Như Lai và chi-đề mà còn khuyến khích thân bằng quyến thuộc tại gia, xuất gia cùng cúng dường thì gọi là mình cùng với người khác cúng dường. Tuy có ít tài vật, nhưng vì lòng từ bi nên bồ-tát ban phát cho những người nghèo khổ thiếu phúc, rồi bảo họ cúng dường Như Lai và chi-đề để được an lạc, chứ bồ-tát không tự làm. Đó gọi là khuyên giúp người khác cúng dường. Chính mình cúng dường được phúc báo lớn, bảo người khác cúng dường được phúc báo rất lớn, mình cùng với người khác cúng dường cũng được phúc báo vô cùng lớn.
- Bồ-tát cúng dường y phục, thức ăn, các bảo vật lên Phật và chi-đề, gọi là cúng dường tài vật.
- Từ trước đến nay, với lòng tin thanh tịnh, bồ-tát cúng dường tài vật lên Phật và chi-đề, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc cúng dường hiện tiền và không hiện tiền, tự mình cúng dường hay khuyên người khác cúng dường, rồi đem việc tốt này hồi hướng Vô thượng bồ-đề, gọi là cúng dường thù thắng.
- Bồ-tát tự tay mình cúng dường Như Lai và chi-đề, không xem thường người khác, không buông lung lười biếng, một lòng cung kính, tâm không nhiễm ô, không siểm khúc, cầu lợi dưỡng đối với người có lòng tin, cũng không cúng dường các vật bất tịnh, gọi là cúng dường không nhiễm ô.
- Bồ-tát cúng dường tài vật thanh tịnh, không nhiễm ô lên Như Lai và chi-đề, hoặc tài vật do chính mình làm ra, hoặc xin từ người khác, hoặc tự có theo ý muốn. Bồ-tát hóa thân, hoặc hai, ba thân, cho đến trăm nghìn vạn ức thân lễ lạy Phật, mỗi thân lại hóa ra trăm nghìn tay, trên mỗi tay đều cầm các loại hoa hương cúng dường Như Lai và chi-đề, đồng thời ca ngợi công đức chân thật của Phật, làm lợi ích cho chúng sinh. Cúng dường như thế gọi là Như ý tự tại lực cúng dường.
- Bồ-tát không đợi Như Lai xuất hiện ở đời. Vì sao? Vì bồ-tát đạt được giai vị Bất thối chuyển, đối với các cõi Phật không bị chướng ngại. Bồ-tát không tự mình làm ra của cải, cũng không xin của cải người khác để cúng dường, nhưng khởi tâm thượng, trung, hạ cúng dường tất cả chúng sinh khắp cả mười phương vô lượng thế giới. Bồ-tát cúng dường với tâm thanh tịnh, tâm hiểu biết vi diệu thù thắng, tùy thuận hoan hỷ khắp cả. Bồ-tát dùng một ít phương tiện thực hiện đại cúng dường, trụ trong tâm bồ-đề chỉ trong khoảnh khắc, đối với tất cả chúng sinh thực hành tứ vô lượng tâm, đây gọi là Chí xứ đạo cúng dường, là cách cúng dường Như Lai cao tột nhất. So với cúng dường tài vật ở trước, công đức cúng dường này gấp cả trăm nghìn lần, chẳng gì sánh được.
Đó là mười cách bồ-tát cúng dường Như Lai, cúng dường pháp và tăng cũng như thế. Phải thực hành mười pháp cúng dường này đối với Tam bảo.
Lại nữa, bồ-tát đối với Như Lai, nên phát khởi sáu tâm thanh tịnh:
1. Tâm tôn Như Lai là phúc điền vô thượng.
2. Tâm tôn Như Lai là ân đức vô thượng.
3. Tâm tôn Như Lai là bậc nhất trong tất cả chúng sinh.
4. Tâm tôn Như Lai như hoa ưu-đàm-bát khó gặp.
5. Tâm tôn Như Lai là bậc duy nhất trong tam thiên đại thiên thế giới.
6. Tâm tôn Như Lai là bậc đầy đủ khả năng làm nương tựa cho pháp thế gian và xuất thế gian.
Đủ sáu tâm này, dù khởi một ý niệm nhỏ cúng dường Như Lai, cúng dường pháp, cúng dường tăng cũng được công đức vô lượng, huống gì là nhiều.
Luận Du-già ghi: “Có mười cách bồ-tát cúng dường Như Lai:
1. Cúng dường Thiết-lợi-la.
2. Biệt cúng dường.
3. Cúng dường hiện tiền.
4. Cúng dường không hiện tiền.
5. Tự mình cúng dường.
6. Dạy người khác cúng dường.
7. Cung kính cúng dường tài vật.
8. Cúng dường rộng lớn.
9. Cúng dường không nhiễm ô.
10. Cúng dường chính hạnh”.
38.2.2. Cúng dường sáu phương Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Đức Phật dạy:
- Này thiện nam tử! Nếu bồ-tát tại gia muốn thụ trì giới ưu-bà-tắc, trước phải lần lượt cúng dường sáu phương:
1. Phương đông biểu thị cho cha mẹ: Nếu người nào hết lòng lễ bái, ca ngợi tôn trọng và cung cấp cho cha mẹ áo quần, thức ăn, giường nệm, thuốc men, nhà cửa, tiền của thì gọi là cúng dường phương đông. Cha mẹ của người đó đối xử lại năm điều:
- Hết lòng lo lắng.
- Không bao giờ lừa dối.
- Di chúc tài sản.
- Cưới gả cho người thuộc dòng họ danh tiếng.
- Chỉ dạy việc đối nhân xử thế.
2. Phương nam biểu thị cho thầy tổ: Nếu người nào cung cấp cho thầy tổ áo quần, thức ăn, giường nệm, thuốc men..., ca ngợi, cung kính, đỉnh lễ, thức khuya dậy sớm, vâng theo lời dạy bảo đúng đắn, thì gọi là cúng dường phương nam. Thầy đối xử lại năm điều:
- Chỉ dạy đúng lúc.
- Truyền dạy hết kiến thức.
- Không có tâm tật đố khi trò vượt trội.
- Gởi gắm cho thầy nghiêm, bạn hiền.
- Di chúc tài sản.
3. Phương tây biểu thị cho vợ con: Nếu người nào cung cấp cho vợ con áo quân, thức ăn, giường nệm, thuốc men và các bảo vật trang sức như chuỗi báu... thì người nàỵ đã cung cấp cho phương tây. Vợ con của người đó đền đáp lại mười bốn điều:
- Hết lòng lo liệu công việc.
- Siêng năng.
- Luôn hoàn thành mọi công việc.
- Làm nhanh chóng, không để trễ thời gian.
- ưu đãi khách của gia đình.
- Dọn dẹp nhà cửa, giường nệm sạch sẽ.
- Yêu kính, nhu hòa.
- Dùng lời dịu dàng khuyên bảo những người giúp việc.
- Giữ gìn của cải cẩn thận.
- Dậy sớm thức khuya.
- Trông nom nhà cửa.
- Nghe theo lời chỉ dạy.
- Che giấu việc xấu.
- Chăm sóc lúc đau ốm.
4. Phương bắc biểu thị cho thiện tri thức: Nếu người nào cung cấp cho thiện tri thức, dốc lòng vì họ; lại cung kính, nói năng khiếm tốn, lễ bái, ca ngợi thì gọi là cúng dường phương bắc. Thiện tri thức sẽ đối xử lại bốn điều:
- Hướng dẫn tu pháp lành.
- Khiến xa lìa pháp ác.
- Cứu giúp trấn an khi sợ hãi.
- Động viên, khuyên bảo khi buông lung.
5. Phương dưới biểu thị cho nô bộc: Nếu người nào cung cấp cho hàng nô bộc các món: áo quần, thức ăn, thuốc men, không hề chửi mắng, cũng chẳng đánh đập, thì người này đã cung cấp cho phương dưới. Nô bộc sẽ báo đáp lại mười điều:
- Không gây lỗi lầm.
- Tự giác làm việc.
- Hoàn thành công việc.
- Gắng sức làm việc, không để mất thời gian.
- Dầu cho chủ nghèo khổ cũng không bỏ đi.
- Dậy sớm.
- Giữ gìn vật dụng.
- Nhận ân huệ ít, nhưng báo đáp nhiều.
- Một lòng cung kính.
- Khéo léo che giấu việc xấu của chủ.
6. Phương trên biểu thị cho sa-môn, bà-la-môn: Nếu người nào cúng dường sa-môn, bà-la-môn áo quần, thức ăn, tinh xá, giường nệm; thường cứu giúp khi gặp hiểm nguy, cúng dường lương thực lúc đói khổ, nghe tiếng xấu thì che giấu, hết lòng ca ngợi, lễ bái, cung kính thì gọi là cúng dường phương trên. Người xuất gia sẽ đối xử lại năm điều:
- Giúp phát khởi tín tâm.
- Dạy tu trí tuệ.
- Dạy tu bố thí.
- Dạy trì giới.
- Dạy dỗ và giúp có được kiến thức uyên bác.
Người nào cúng dường sáu phương sẽ được tăng trưởng tiền tài, tuồi thọ, có thể tu tập giữ gìn giới ưu-bà-tắc”.
38.2.3. Công đức cúng dường
Luận Đại trí độ ghi: “Các Đức Phật cung kính pháp, cúng dường pháp, lấy pháp làm thầy. Vì sao? Vì các Đức Phật trong ba đời đều lấy thật tướng các pháp làm thầy.
Hỏi:
- Phật không cầu phúc đức, tại sao lại cúng dường?
Đáp:
- Phật từ vô lượng a-tăng-kì kiếp tu các công đức, 'thường làm các việc lành, không chỉ vì cầu quả báo mà còn vì quí trọng công đức, nên đã thực hành cúng dường.
Như khi Phật còn tại thế, tì-kheo A-na-luật mù mắt đang vá áo thì kim bị tuột chỉ. Tôn giả nói:
- Ai cần phúc đức hãy xỏ kim giúp tôi!
Đức Phật lại gần bên tôn giả nói:
- Ta là người thích phúc đức, sẽ xỏ kim cho ông.
Tì-kheo A-na-luật nhận ra tiếng nói của Phật,
vội vàng đứng dậy đáp y, đỉnh lễ, thưa rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Ngài đã đầy đù công đức, tại sao lại nói cần phúc đức?
Đức Phật dạy:
- Công đức của Ta đã viên mãn. Ta biết rõ ràng nhân của công đức, quả báo của công đức, năng lực của công đức, Nhờ công đức này, nên Phật là bậc nhất trong tất cà chúng sinh. Vì thế Ta thích công đức.
Phật muốn dạy đệ tử nên hỏi:
- Ta còn làm công đức, vì sao ông không làm?
Như một vũ công đã trăm tuổi mà vẫn còn múa
hát, có người quở rằng:
- Đã trăm tuổi rồi, ông còn múa hát làm gì?
Lão ông đáp:
- Tôi không cần múa hát nữa, chỉ vì muốn dạy cho con cháu mà thôi!
Đức Phật cũng vậy, công đức đã viên mãn, nhưng để dạy đệ tử tạo công đức, nên mới thực hành cúng dường”.
Như tì-kheo-ni Ma-ha-ba-xà-ba-đề, nhũ mẫu của thái tử Tất-đạt-đa nhập niết-bàn. Tứ thiên vương khiêng giường của bà, còn Phật ở trước cầm lò hương, đốt hương cúng dường. Đó chính là báo ân. Thế nên tuy không cầu quả, nhưng vẫn thực hành cúng dường.
Lại nữa, Phật chỉ cúng dường Phật, người khác không biết công đức của Phật, như bài kệ:
Người trí kính bậc trí,
Trí luận người trí vui,
Người trí biết được trí,
Như rắn biết chân rắn.
Kinh Tần-tì-sa-la vương tác Phật cúng dường ghi: “Bấy giờ vua Tần-tì-sa-la nước Ma-kiệt đến bạch Đức Phật:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Con cai trị đất nước này, tất cả của cải, y phục, giường chiếu, ngọa cụ, thuốc men... con muốn trọn đời cúng dường Như Lai và chúng tăng. Và cũng sẽ khuyến khích tất cả quan dân cúng dường, để họ được độ, thoát khỏi ba đường ác, mãi mãi được an ổn”. Thể Tôn thụ thỉnh xong liền nói kệ:
Miếu, lớn nhất đứng đầu
Thi cũng có bài thủ
Loài người, vua trên hết
Các dòng, biển là to
Trăng nhất trong các sao
Ánh sáng, mặt trời nhất.
Trên dưới và bốn phương
Tất cả các vật loại
Chư thiên và thế gian
Phật là bậc tối thượng
Người muốn được giống phúc
Nên cầu nơi Đức Phật.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo, có tám hạng người nhất định phải cúng dường, không cần phải do dự: cha, mẹ, Phật, đệ tử Phật, người từ xa đến, người sắp đi xa, người bệnh, người nuôi bệnh”.
Luận Đại trí độ ghi: “Vì các bồ-tát thành tựu vô số công đức, nên dâng một bữa ăn cúng dường các Đức Phật và tăng mười phương, đã giúp tất cả đều được no đủ mà vẫn không hết. Ví như dòng suối tuôn trào không bao giờ khô cạn. Như Văn-thù-sư-lợi cúng dường tám mươi bốn nghìn tăng một bát bánh hoan hỉ, chư tăng thụ dụng no đủ mà vẫn còn thừa”.
Lại nữa, bồ-tát chỉ dâng một bát cơm cúng dường các Đức Phật trong mười phương, mà thức ăn uống lại hiện ra đầy đủ trước các Đức Phật, ví như quỷ thần chỉ được một phần ăn của người thí cho mà biến ra gấp nghìn vạn lần.
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Xưa có vị Phạm chí sống đến một trăm hai mươi tuổi, không cưới vợ, đoạn dâm dục, ở chốn núi sâu không người lui tới. Phạm chí lấy tranh lợp nhà, bện cỏ làm chiếu, uống nước suối, ăn quả rừng, không cất chứa của cải, vua mời cũng không đến, tâm vắng lặng vô vi.
Hơn mấy mươi năm ở chốn núi sâu, hằng ngày Phạm chí vui chơi cùng các loài cầm thú. Trong đó, bốn con thú là cáo, khỉ, rái, thỏ luôn đến chỗ đạo nhân nghe giới kinh. Qua nhiều năm, quả rừng bị chúng ăn hết. Đạo nhân có ý muốn dời đi nơi khác, bốn con thú này rất buồn, cùng bàn nhau:
- Chúng ta chia nhau đi tìm thức ăn để cúng dường đạo nhân.
Lúc này, khỉ đi đến một núi khác, hái quả ngọt đem về cúng dường đạo nhân, mong đạo nhân đừng đi. Cáo hóa làm người xin ăn được một túi cơm khô, đem về dâng lên đạo nhân, đủ dùng cho một tháng, mong đạo nhân ở lại. Rái cũng lặn xuống sông bắt cá lớn đem về cúng dường đạo nhân đủ lương thực cho một tháng, mong đạo nhân đừng đi. Thỏ thầm nghĩ: ‘Ta biết lấy gì cúng dường đạo nhân đây!’. Rồi nó lại nghĩ: ‘Ta đem thân cúng dường’.
Thế là, thỏ tự đi lấy củi, đốt lửa, rồi đến thưa đạo nhân:
- Con là thỏ rất nhỏ bé, xin nướng thân này cúng dường đạo nhân, làm lương thực trong một ngày.
Nói xong, thỏ liền nhảy vào lửa, nhưng lửa khồng cháy. Đạo nhân vô cùng cảm kích tấm lòng nhân nghĩa của chúng, nên thương xót mà ở lại.
Đức Phật dạy:
- Phạm chí thuở ấy chính là Phật Đề-hòa-kiệt, thỏ khi ấy nay là Ta, khỉ là Xá-lợi-phất, cáo là A-nan, rái là Mục-kiền-liên vậy”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật an trú bên bờ sông Lê-kì-xa. Hôm ấy bát của Ngài và của tăng đang đặt tại khoảng đất trống; một con khỉ thấy trong bộng cây gần đó có mật Vô phong, bèn đến lấy bát của Phật. Các vị tì-kheo ngăn cản, Đức Phật liền bảo: ‘Chớ ngăn! Nó không có ý xấu đâu!’. Khỉ liền lấy bát đến lấy mật dâng Phật. Đức Phật không nhận, bảo khỉ dùng nước làm thanh tịnh bát mật. Khỉ không hiểu ý Phật, cho rằng có trùng, lại nhìn thấy bên ngoài bát có dính mật, bèn mang xuống sồng để rửa, vô ý làm nước tràn vào bát mật. Rửa xong, khỉ dâng bát mật lên Phật, Đức Phật liền nhận và thụ kí. Khỉ vô cùng vui mừng, vừa đi vừa nhảy múa, bất giác rơi xuống hố chết, thần thức sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba. Bấy giờ các vị tì-kheo liền nói kệ:
Thế Hùng Thập Lực trụ bên sông
Bát Ngài và tăng trên đất không
Thú hoang tu phúc, tâm biết rõ
Trong bông cây kia có mật ong
Liền vội đến nơi ôm bát Phật
Ti-kheo muốn chặn, Phật không đồng.
Được bát lấy mật dâng cúng Phật
Như Lai thương xót thụ nhận xong
Quá vui vừa đi vừa nhảy nhót
Sa chân rơi xuống một hầm sâu,
Mạng chung sinh lên trời Đao-lợi
Hạ sinh, xuất gia, chứng Vô sinh
Kinh Văn-thù-sư-lợi vấn ghi: “Nếu vì cúng dường Phật, pháp, tăng, cha mẹ, anh em thì bồ-tát được cất chứa của cải. Vì xây chùa chiền, tăng phòng, tạc tượng, bố thí thì được nhận vàng bạc, tiền của mà không phạm tội’
Có bài tụng:
Sông ái dài muôn dặm
Đường mê thật xa xăm
Não phiền che đậy kín
Muốn thoát khó trăm ngàn
Nếu chẳng từ dâng cúng
Thánh vị chứng được sao
Phúc cúng dường Tam bảo
Thập địa quả thăng cao.
39. CHƯƠNG THỤ THỈNH
39.1. LỜI DẪN
Pháp cúng dường trai hội là lấy sự không giới hạn làm căn bản, không qui định là phải như thế này hay phải như thế kia; thế mới hợp với tâm bố thí. Cho nên tâm thể lìa tướng, rộng lớn như hư không, tùy thời tùy duyên, lượng đồng với pháp giới. Nhân đã vô cùng thì quả cũng vô lượng. Vả lại, người thế tục nghèo hèn thiếu thốn, bố thí có giới hạn, vật thí đã giới hạn, thì tâm cũng thiên chấp. Như chọn người có đức mới thỉnh... Nếu không bỏ phúc hữu hạn thì quả vô biên cũng khó thành. Cho nên biết, phàm phu cúng dường, dù phẩm vật nhiều mà tâm thí hạn hẹp; bồ-tát cúng dường, dù tài vật ít mà tâm thí vô cùng. Vì thế, ở nước ngoài, khi thiết trai thì rộng khắp, không ngăn chặn một đối tượng nào, tâm khắp mười phương, bao trùm pháp giới.
39.2. THỈNH TĂNG
Khi Phật mới xuất gia, di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề tự dệt một tấm y nỉ màu vàng. Bà luôn nghĩ để cúng dường Phật. Gặp Phật, bà vô cùng vui mừng, dâng tấm y nỉ lên Đức Phật. Đức Phật bảo:
- Di mẫu hãy đem tấm y nỉ này cúng dường chúng tăng.
Ba-xà-ba-đề thưa:
- Bạch Thế Tôn! Từ khi Ngài xuất gia, tôi luôn thương nhớ, nên tự tay dệt nó, đợi Ngài trở về sẽ dâng Ngài. Nay xin Ngài thương xót, vì tôi mà nhận tấm y nỉ này.
Đức Phật bảo:
- Như Lai biết di mẫu một lòng muốn dâng cho Ta, nhưng với tâm ái nhiễm thì phúc báo rất ít. Nếu người dâng cúng cho chúng tăng thì phúc báo càng nhiều. Ta biết việc này cho nên khuyên người cúng cho chúng tăng. Nếu có đàn việt thỉnh riêng mười sáu vị: tám tì-kheo và tám tì-kheo-ni cúng dường, tuy có phúc báo nhưng không nhiều bằng công đức thỉnh ở trong tăng bốn vị tì-kheo, phúc báo này nhiều hơn. Nếu thỉnh riêng thì công đức không bằng một phần mười sáu công đức thỉnh tăng. Thời mạt pháp, khi pháp sắp diệt hết, nếu có tì-kheo tay dắt vợ, tay bồng con thì từ bốn người trở lên cũng gọi là chúng tăng, Di mẫu phải nên cung kính xem như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên...
Nghe Phật dạy, tâm Ba-xà-ba-đề chợt khai ngộ. Bà liền đem tấm y nỉ dâng cúng cho chúng tăng. Bà lần lượt dâng lên tăng, nhưng không ai chịu nhận; khi bà đến trước Di-lặc, Di-lặc nhận tấm y nỉ ấy cho bà.
Di-lặc hỏi chúng tăng:
- Nếu có thí chủ thỉnh một vị Tăng trì giới thanh tịnh về nhà cúng dường, sẽ được lợi ích như thế nào so với người được mười vạn tiền vàng?
Tôn giả Kiều-trần-như đáp:
- Ví như người có được một trăm chiếc xe chất đầy châu báu, phúc lợi này chẳng bằng thỉnh một sa-môn trì giới thanh tịnh đến nhà cúng dường.
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
- Giả như có người được châu báu chất đầy khắp cả Diêm-phù-đề cũng không bằng thỉnh một người trì giới thanh tịnh về nhà cúng dường, phúc lợi này nhiều hơn.
Tôn giả Mục-kiền-liên đáp:
- Giả như có người được một thế giới cho đến bốn thế giới châu ngọc vàng bạc thì phúc báu đó cũng không bằng thỉnh một sa-môn trì giới thanh tịnh đến nhà cúng dường.
Các tì-kheo khác đều đưa ra nhiều ví dụ để so sánh phúc lợi của sự cúng dường đều nhiều hơn mười vạn tiền. A-na-luật nói:
- Cho dù người được nhiều của báu đầy cả bốn thiên hạ, thì món lợi ấy cũng vẫn không bằng thỉnh một sa-môn giữ giới thanh tịnh đến nhà cúng dường, phúc lợi này thù thắng gấp bội. Tôi sẽ làm chứng điều đó. Tôi nhớ thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp có Phật Tì-bà-thi ra đời. Sau khi Đức Phật ấy nhập niết-bàn, kinh pháp diệt hết. Trong nước Ba-la-nại có gia đình A-lệ-tra rất nghèo khổ, lại gặp năm đói kém, lúa gạo không đủ ăn. Ngày ngày, ông ấy phải đi kiếm củi bán, mua gạo về nuôi vợ con. Một hôm gặp một vị Bích-chi-phật khất thực ôm bát không trở về, liền thỉnh đến nhà cúng dường. Vị Bích-chi-phật nói
- Ông cũng đã đói, hãy cùng ăn với tôi
-Chúng tôi là người thế tục, không quy định giờ giấc ăn cơm, còn ngài chỉ một bữa trong ngày, xin ngài hãy dùng hết đi.
Vị Bíc-chi-phật vô cùng cảm kích trước lòng chí thành của A-lệ-tra, cho lên sau khi thụ thực, liền bảo ông ta phát nguyện lớn. Sau đó vị Bích Chi Phật trở về chỗ của mình. A-lệ-tra lại vào rừng kiếm củi, anh ta thấy một con thỏ; vì muốn bắt, nên từ xa ném cái liềm vào thỏ. Thỏ ngã xuống đất, anh ta tiến đến bắt lấy , nhưng nó hóa thành một thây chết đeo vào lưng anh ta và ôm chặt lấy đầu. Anh ta dốc sức đẩy xuống , nhưng không được. Anh lo sợ hoảng hốt, vô cùng khổ lão muốn vào thành cùng vợ con gỡ ra, nhưng sợ mọi người thấy sẽ không cho vào. Anh đành đợi đến tối, lấy áo phủ kín rồi vác vào thành. Về đến nhà tự nhiên người chết ấy rơi xuống đất, biến thành một đống vàng,. Ánh sáng rực rỡ chiếu đến các nhà gần bên
Mọi người truyền nhau về việc này, nhà vua nghe được, liền đến quan sát thực hư. Vừa nhìn thấy người chết sắp thối rữa, vua hỏi A-lệ-tra
- Người thấy đó là vật gì?
- Tâu bệ hạ! Tiện dân thấy thật là vàng
Vua kinh ngạc cho là điều chưa từng có, lại hỏi đến nguyên nhân có được việc như thế. A-lệ-tra thuật lại việc cúng dường vị bích-chi-phật. Nghe xong, vua hết lòng ca ngợi và ban cho A-lệ-tra quan tước cao.
- Này các vị! A-lệ-tra thuở xưa, nay chính là tôi. Nhờ nhân duyên cúng dường phần ăn của mình cho vị bích-chi-phật, nên từ đó đến nay suốt chính mươi mốt kiếp, dù sinh lên cõi trời hay trong loài người, tôi không bao giờ nghèo thiếu”.
Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Nếu đàn việt sắm sửa thức ăn, thỉnh tăng cúng dường, lại sai người canh cửa, chặn các tì-kheo, người già bệnh và những kẻ nghèo hèn xin ăn, không cho vào thì dù có cúng dường nhưng cũng luống uổng, không được chút phúc thiện nào”.
Kinh Phổ Quảng ghi: “Bốn chúng đệ tử Phật, nếu thụ trì trai giới thì nên khởi tâm chí thành thỉnh mười phương tăng, không chọn lựa người tốt người xấu, giữ giới hay phá giới, đức hạnh cao hay thấp. Khi đến các chùa thỉnh tăng, nên theo thứ lớp cúng dường, không được có ý niệm phân biệt; được vậy thì phúc đức này nhiều vô lượng vô biên. Nếu gặp được bậc a-la-hán, hoặc người có tâm đại bồ-đề thì được phúc đức càng vô cùng, vừa nghe thuyết pháp có thể đạt đến đạo quả Vô thượng niết-bàn”.
Luật Thập tụng ghi: “Lộc Tử mẫu chọn thỉnh năm trăm vị a-la-hán về nhà cúng dường bị Phật quở trách: “Ngươi thật là dại dột, làm không đúng. Vì làm như thế, chẳng bằng phúc đức theo thứ tự trong tăng thỉnh một vị đến cúng dường”.
Kinh Thỉnh tăng phúc điền và kinh Nhân vương đều ghi: “Thế Tôn dùng nhiều lời quở trách, không cho phép thỉnh riêng; thỉnh riêng là phép tắc của ngoại đạo chứ chẳng phải pháp của bảy Đức Phật”.
Kinh Phạm võng ghi: “Nếu có đàn việt đến thỉnh chúng tăng thụ trai, thì khách tăng cũng có phần. Vị liêu chủ cũng phải theo thứ tự, cử khách tăng thụ thỉnh. Nếu chỉ cử riêng tăng thường trụ mà không cử khách tăng, thì liêu chủ bị vô lượng tội, không xứng đáng là sa-môn, không thuộc dòng Thích, khác gì loài súc sinh, phạm tội khinh cấu”.
Tất cả đệ tử Phật không được nhận lời thỉnh riêng của đàn việt, vì lợi dưỡng đó thuộc về tăng mười phương. Nếu nhận thỉnh riêng, tức lấy vật của tăng mười phương, đã lấy thì phạm tội Khinh cấu.
Tất cả đàn việt xuất gia hay tại gia muốn thỉnh phúc điền tăng, thì nên vào tăng phòng thưa với vị tri sự: ‘Nay tôi muốn thỉnh tăng theo thứ tự’. Như vậy liền được hiền thánh tăng mười phương chứng minh thụ thỉnh. Nhưng có người thỉnh riêng năm trăm vị a-la-hán, bồ-tát tăng; làm như vậy không bằng theo thứ tự thỉnh một vị phàm tăng. Thỉnh riêng là phép tắc của ngoại đạo, không phải của bảy Đức Phật, không thuận đạo hiếu. Nếu cố thỉnh riêng tăng, thì phạm tội Khinh cấu.
Luận Đại trí độ ghi: “Có một trưởng giả giàu sang tin kính chúng tăng, một hôm ông thưa với vị tăng Chấp sự:
- Con muốn thỉnh tăng theo thứ tự đến nhà thụ thực.
Ngày ngày lần lượt thụ thỉnh, sau cùng đến các vị sa-di, nhưng vị tăng chấp sự không cho sa-di thụ thỉnh, các sa-di thưa:
- Vì sao không cho sa-di đi?
- Vì đàn việt không thích mời người trẻ tuổi_ Vị chấp sự đáp và nói kệ:
Thí chủ chỉ thích thỉnh,
Những người già răng rụng,
Thân gầy, da nhăn nheo,
Lưng còng, râu tóc bạc.
Các sa-di đều đã chứng quả A-la-hán, nghe bải kệ như đánh vào đầu sư tử, từ chỗ ngồi vọt đứng dậy nói kệ:
Thí chù này kém trí,
Chuộng hình, không mến đức,
Bỏ dáng niên thiếu này,
Chỉ thích già gầy yếu.
Các sa-di lại nói tiếp:
- về tướng cao quý, lớn tuổi, Đức Phật dạy:
Gọi là bậc trưởng lão,
Không hẳn vì tuổi tác,
Hình gầy, râu tóc bạc,
Mà phúc đức trống rỗng.
Không chấp quả tội phúc,
Tinh tiến tu Phạm hạnh,
Đã lìa tất cả pháp,
Gọi đó là trưởng lão.
Khi ấy, các sa-di lại suy nghĩ: ‘Chúng ta không nên mặc nhiên ngồi xem vị đàn việt này so lường tăng tốt xấu’. Các sa-di liền nói kệ:
Đối với sự khen chê,
Tâm chúng ta chỉ một,
Người ấy hủy Phật pháp,
Cần phải nên răn dạy.
Mau đến nhà người kia,
Nói pháp dạy bảo họ,
Chúng ta không độ được,
Đó là người bỏ đi.
Thế là các sa-di tự biến thành trưởng lão, râu tóc trắng như tuyết, lông mày phủ xuống mắt, da nhăn như sóng gợn, lưng còm như cây cung, chống gậy bước đi, toàn thân run rẩy, đi đứng không vững, giống như liễu trắng lung lay theo gió, thứ lớp thụ thỉnh. Đàn việt thấy như vậy, lòng rất vui vẻ, thỉnh vào nhà ngồi. Bỗng chốc sa-di biến lại trẻ trung, đàn việt sợ hãi nói:
Tướng già nua như thế,
Lại biến thành niên thiếu,
Như uống thuốc hoàn đồng,
Việc này là thế nào?
Các sa-di nóỉ:
- Ông chớ nghi sợ, chúng tôi đây chẳng phải hàng yêu quái phi nhân. Ông lượng định chúng tăng thật là đáng thương! Nên chúng tôi hóa hiện như vậy.
Ông nên biết rõ ràng không thể lượng định được thánh chúng. Các sa-di lại nói kệ:
Như vòi của con muỗi,
Có thể đo đáy biển,
Nhưng tất cả trời, người,
Không thể lường được tăng.
Tăng quí do công đức,
Còn không thể phân biệt,
Mà ông dùng tuổi tác,
Căn lường các Đại đức!
Lớn nhỏ do nơi trí,
Không ở nơi trẻ, già.
Có trí, siêng tinh tiến,
Tuy trẻ mà lại già,
Biếng nhác, không trí tuệ,
Tuy già mà lại trẻ.
Nay ông định lượng tăng, đó là tội rất lớn, không khác nào dùng một ngón tay mà đo đáy biển, chỉ làm cho người trí chê cười. Ông không nghe Phật dạy bốn việc tuy nhỏ mà không thể xem thường đó sao? Bốn việc là:
- Thái tử tuy nhỏ, sẽ làm quốc vương.
- Rắn con tuy nhỏ, mà độc làm chết người.
- Đốm lửa tuy nhỏ, có thể đốt cháy núi rừng.
- Sa-di tuy nhỏ, mà được thần thông của bậc thánh.
Đàn việt nghe việc ấy xong, thấy rõ sức thần thông của các sa-di, lòng vô cùng kinh hãi, toàn thân rúng động, chắp tay thưa ràng:
- Thưa các bậc thánh! Con hôm nay xin sám hối, con là kẻ phàm phu, tâm mang tội lỗi. Xin hỏi, có lòng tin thanh tịnh đối với Phật bảo và có lòng tin thanh tịnh đối với tăng bảo, phúc nào hơn?
Đáp:
- Chúng tôi vốn không thấy sự hơn kém giữa tăng và Phật. Vì sao? Vì có một lần khất thực tại thành Xá-bà-đề, Phật thường đến nhà bà-la-môn Bà-la-đỏa-thệ khất thực, bà-la-môn suy nghĩ: ‘Sao sa-môn này đến hoài, như ta mắc nợ ông vậy?’.
Khi ấy Phật nói kệ:
Thường thường mưa đúng thời,
Ngũ cốc luôn được mùa.
Thường thường tu nhân phúc,
Luôn luôn hưởng quả lành.
Vì thường thường thụ sinh,
Nên phải luôn thụ tử.
Nếu thành tựu thánh pháp,
Còn ai chịu tử sinh!
Bà-la-môn nghe Phật dạy như thế, biết bậc Đại Thánh đã rõ tâm mình, trong lòng hổ thẹn, nhận lấy bát của Phật đem vào nhà đặt đầy thức ăn ngon đem ra dâng cúng, Phật không nhận mà nói rằng:
- Vì nói kệ nên Ta mới được thức ăn này, Ta không nhận!
Bà-la-môn thưa:
- Vậy thức ăn này, nên dâng cho ai?
Phật dạy:
- Ta không thấy trời hay người nào có thể tiêu hóa được thức ăn này, ông hãy để ở chỗ đất ít cỏ hoặc trong nước không có vi trùng.
Theo lời Phật dạy, bà-la-môn đem thức ăn đặt vào trong nước không có trùng, nước liền sôi trào, khói lửa bốc lên, như bỏ thanh sắt cháy đỏ vào nước, bà-la-môn thấy như thế sợ hãi nói:
- Thật chưa từng có, thức ăn mà cũng có thần lực như vậy!
Ông liền vội trở lại đỉnh lễ sám hối dưới chân Phật, xin xuất gia thụ giới, tu hành, dần dần dứt sạch kiết sử, chứng được đạo quả A-la-hán.
Lại có bà Ma-ha Kiều-đàm-di cúng dường Phật một chiếc y báu màu vàng ròng, Phật biết chúng tăng có thể thụ nhận, nên bảo Kiều-đàm-di đem y ấy cúng cho chúng tăng”.
Vì thế nên biết, Phật bảo và tăng bảo phúc đức như nhau.
Nếu ai cung kính Phật,
Cũng phải cung kính tăng,
Không nên sinh phân biệt,
Vì đồng là bảo vậy
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Thế Tôn nói kệ: Người phải luôn suy nghĩ,
Mỗi bữa tự tiết giảm,
Từ đó thụ dụng ít,
Thân gầy mà sống lâu
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Xưa kia ở nước Xá-vệ có một nhà nghèo, cây nho trong sân có vài chùm trái gần chín. Ưu-bà-di dự định sẽ cúng dường cho đạo nhân. Nhưng trước đó, quốc vương đã thỉnh đạo nhân thụ thực một tháng. Ưu-bà-di nghèo kia thế lực không bằng vua, nên mong mỏi cả tháng mới gặp lại được đạo nhân, cô liền hái trái cúng dường và thưa:
- Tâm nguyện bố thí của con đã hơn một tháng rồi, nay mới được mãn nguyện.
Đạo nhân nói:
- Như vậy là đã bố thí được một tháng!
ưu-bà-di hỏi:
- Con chỉ cúng dường một chùm nho, sao ngài nói là đã cúng dường được một tháng?
Đạo nhân trả lời:
- Có tâm niệm cúng dường trong một tháng là đã cúng dường một tháng rồi!”.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
29/11/2015
PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...
