PUCL QUYỂN 40 - CHƯƠNG XÁ LỢI
17/11/2015
Quyển này có một chương Xá-lợi. 37. CHƯƠNG XÁ-LỢI 37.1. LỜI DẪN Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn...

Quyển này có một chương Xá-lợi.
37. CHƯƠNG XÁ-LỢI
Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn cả thắng tích của hiền nhân. Nhân duyên giáo hóa đã mãn, theo lẽ thường thâu thần thị tịch. Cho nên sa-la song thụ tám nhánh tùy nghĩa hiển bày; xá-lợi chia tám phần theo duyên cảm ứng. Trước lúc nhập Kim cang định, Ngài đã căn dặn việc phân chia xá-lợi toái thân và xá-lợi toàn thân, ý muốn phúc lành nhuần thấm trời người, công đức ban trải muôn nơi. Cho đến những loại răng, tóc, móng, con ngươi, xương đỉnh, những vật dụng như y, bát, bình, gậy; những dấu vết như chỗ ngồi, dấu chân đều bao quát cổ kim, biến hiện vô cùng. Nào là điềm lành liên tiếp ứng hiện, ánh sáng nhiều lần chiếu khắp muôn nơi. Bậc hiền, kẻ ngu đều thấy biết, há còn nghi ngờ là đặt điều mê hoặc người sau sao?
Vả lại, như Tam hoàng, Ngũ đế, Hạ Ân, Văn Võ, Khổng Khâu, Trang Lão đều là thánh là hiền, cùng được mọi người tôn kính. Nhưng họ đều chôn thân chốn ngũ tuyền, mất hình trong cửu thổ, thanh danh tắt lịm, còn ai biết được hành tung! Không biết tạo phúc đời này thì làm sao cảm quả báo đời sau? Đâu có thể so sánh danh thơm và hình tượng với đức Năng Nhân đại thánh! Đạo cảm ứng không cùng tận, gió kính ngưỡng càng lan xa; tiếp nối sự nghiệp giáo hóa khắp đại thiên, cứu giúp chúng sinh chìm đắm nơi hằng sa cõi. Dù cho phương tiện khai thị tùy nghĩa mà sai khác, nhưng yếu chỉ “hội không” thì chỉ nhất thật.
37.2. DẪN CHỨNG
Xá-lợi là âm tiếng Phạn, Trung Quốc dịch là cốt thân. Vì sợ gọi nhầm với xương cốt của người chết bình thường, nên vẫn gọi xương cốt của Phật theo nguyên âm phạn là xá-lợi.
Xá-lợi Phật có ba loại: một là xá-lợi xương, màu trắng; hai là xá-lợi tóc, màu đen; ba là xá-lợi thịt, màu đỏ.
Xá-lợi của bồ-tát, a-la-hán cũng có ba loại. Nếu đúng là xá-lợi Phật thì đập không vỡ nát, còn xá-lợi của đệ tử Phật thì đập sẽ nát vụn.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: "Đức Thế Tôn bảo các đại chúng:
- Công đức mà Ta tạo thuở xưa, như xả thân, thụ thân không phải một cũng chẳng phải hai. Nay Ta sẽ nói cho các ông nghe pháp ‘nhất hình’.
Xá-lợi toàn thân của chư Phật đều ở dưới cõi Kim cang. Cõi Kim cang ấy dày tám mươi bốn vạn ức dặm. Toàn bộ xá-lợi toái thân của Phật đều ở dưới đó. Cõi ấy có nước Diệu Hương, Đức Phật Bất Trụ Như Lai đầy đủ mười hiệu, hiện đang nói pháp.
Đức Phật bảo đại chúng:
- Xá-lợi toái thân ở tại cõi Thanh Tịnh, dưới độ sâu tám mươi bốn vạn ức dặm, có Đức Phật Biến Quang, đầy đủ mười hiệu, hiện đang nói pháp. Bên dưới cõi đó có nước Thí Vô Tận Tạng, với Đức Phật Khuyến Trợ. Dưới cõi Thí Vô Tận Tạng là nước Pháp Cổ, có Đức Phật Thiện Kiến. Cõi này mới có xá-lợi toàn thân của ức nghìn vạn Đức Phật và xá-lợi của Ta"
Kinh Hải long vương ghi: “Bấy giờ, các long vương bạch Phật:
- Nay Thế Tôn trở lại cõi Diêm-phù-đề, loài rồng trong biển không có chỗ nương tựa, chiêm ngưỡng, nên lòng càng buồn bã. Sau khi diệt độ, xin Ngài lưu lại toàn bộ xá-lợi trong biển lớn này để cho tất cả các loài thủy tộc được cúng dường, hầu tăng thêm phần công đức, chóng thoát thân rồng, mau chứng đạo Vô thượng chính chân. Xin Phật ban ân, để chúng con tăng thêm oai đức, thành tựu ước nguyện!
Phật bảo long vương:
- Quý thay! Ta sẽ thuận theo ý các ông!
Bấy giờ, tôn giả Tu-bồ-đề nói với các long vương:
- Cần phải phân xá-lợi khắp nơi để cứu giúp trời người. Nay các ông muốn thỉnh toàn bộ xá-lợi của Phật xuống long cung phụng thờ riêng, vậy tất cả chúng sinh làm sao được độ?
Các long vương đáp:
- Xin tôn giả Tu-bồ-đề chớ nói những lời như vậy! Tôn giả chớ lấy trí tuệ hữu hạn của mình mà lượng định trí tuệ vô hạn của Như Lai. Thánh đức của Như Lai biến hiện cùng khắp tam thiên đại thiên thế giới, thì toàn thân xá-lợi của Phật cũng không tăng, không giảm, biến hiện khắp tất cả, giống như bóng của mặt trời hiện trong nước. Phật vốn không sinh cũng không diệt, cớ sao tôn giả muốn giới hạn trí tuệ của Như Lai?
Tôn giả Tu-bồ-đề nghe long vương nói thế, im lặng không nói được lời nào.
Phật khen ngợi các long vương: ‘Các ông thật sáng suồt! Thật đúng như lời các ông nói. Phật đạo cao xa mầu nhiệm không bờ mé, không vuông tròn, chẳng rộng hẹp, không xa gần, giống như hư không, không thể lấy gì để ví dụ được’”.
37.3. ẢNH PHẬT
Kinh Quản Phật tam-muội ghi: “Lúc đầu Phật lưu lại hình ảnh trong thạch thất ở phía nam sườn núi A-na-tư, bện cạnh hồ Độc Long, nước Na-kiền-ha-la. Bấy giờ, có năm nữ la-sát thông đồng với rồng độc thường làm mưa đá, khiến cho nhân dân đói khát, bệnh tật suốt bốn năm. Lúc ấy, vua lập đàn cúng tế, trì chú rồng, nhưng vì thế lực của nữ la-sát quá mạnh, nên chú thuật không hiệu nghiệm.
Khi ấy, vua quỳ dài chắp tay thưa thỉnh:
- Phật là bậc thông tuệ! Xin Ngài chứng giám lòng con, mong rủ lòng từ bi quang lâm đến nước này!
Vua cầu nguyện vừa dứt lời, Như Lai liền ứng hiện đến. Ngay lập tức, rồng nổi sấm sét, giương vẩy phun khói lửa, mắt của năm nữ la-sát phóng ra những tia sáng như điện chớp.
Khi ấy, vị thần Kim cang cầm chày lớn, trên đầu chày lửa cháy giống như bánh xe lửa, thiêu đốt rồng độc. Vua rồng sợ hãi chạy vào trong ảnh Phật, thì thấy mát mẻ giống như được rưới cam lồ. Vua rồng thấy những vị thần Kim cang to lớn, lòng vô cùng sợ hãi, vội vàng đỉnh lễ Phật. Nam nữ la-sát cũng đỉnh lễ Như Lai.
Vua rồng lấy đài báu trong hồ dâng cúng Phật. Phật bảo: ‘Ta không cần đài báu của ngươi, chỉ cần ngươi cúng cho Ta hang đá của la-sát thôi’. Vua rồng liền dâng cúng Phật hang đá của la-sát.
Bấy giờ, các trời đều cởi áo báu của mình quét dọn hang đá. Đức Phật liền thâu thần túc, một mình vào hang đá, làm cho đá trong hang đều biến thành bảy báu. Vua rồng cũng làm những hang đá để cúng dường bốn đệ tử lớn của Phật và tôn giả A-nan.
Sau đó, Thế Tôn từ hang đá đi ra. Vua rồng nghe Phật trở về nước, nghẹn ngào rơi lệ và thưa:
- Vì sao Phật bỏ con? Nếu con không thấy Phật, sẽ làm những việc xấu, ắt hẳn rơi vào đường ác.
Phật an ủi vua rồng:
- Ta nhận lời thỉnh cầu của ngươi, sẽ ngồi trong hang đá này một nghìn năm trăm năm.
Thế là Đức Phật ngồi trong hang hiện mười tám thứ thân biến, vọt thân vào vách đá, vách đá như gương sáng, hình ảnh Ngài từ đó hiện ra. Nếu từ xa nhìn thì thấy, đến gần nhìn thì không. Trăm nghìn chư thiên đến cúng dường hình ảnh Phật. Hình ảnh ấy cũng nói pháp, đến nay vẫn còn”.
37.4. PHÂN CHIA XÁ-LỢI
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Bấy giờ, thấy vua của tám nước tranh giành xá-lợi, đại thần Ưu-ba-cát can ngăn:
- Vì sao các vua lại khởi binh đánh nhau?
Khi ấy, trời Đế Thích hiện thành người và nói:
- Các trời chúng tôi cũng đáng có phần, nếu cùng tranh sức ắt sẽ có thắng thua. Xin được phân cho, nếu dùng sức đoạt lấy đâu có gì khó!
Các vua rồng A-nậu-đạt, Văn-lân, Y-na-bát nói với vua tám nước:
- Chúng tôi cũng phải có phần, nếu không được chia, chúng tôi đủ sức để đoạt!
Đại thần Ưu-ba-cát lại can ngăn:
- Các ông hãy thôi đi! Xá-lợi sẽ chia đều cho tất cả, đâu cần phải đánh nhau!
Nói xong, đại thần ưu-ba-cát chia xá-lợi thành ba phần. Một phần trao cho các trời, một phần trao cho các long vương, phần còn lại trao cho vua tám nước.
Cái hũ dùng để phân chia xá-lợi chứa khoảng hơn một thạch, vị đại thần ấy lấy mật ong bôi bên trong cái hũ, rồi dùng đong lường xá-lợi phân chia cho mọi người. Các vị trời được xá-lợi, liền thỉnh về trời, xây tháp bảy báu phụng thờ. Các long vương được xá-lợi thỉnh về cung rồng, xây tháp bảy báu phụng thờ. Đại thần Ưu-ba-cát xây bảo tháp thờ phần xá-lợi dính trong hũ và cái hũ đong xá-lợi. Tro và đất chỗ trà-tì đong được bốn mươi chín hộc, cũng xây bốn mươi chín bảo tháp. Nơi trà-tì cũng xây tháp báu cao ba mươi chín nhận”.
Kinh A-dục vương ghi: “Vua tám nước vì tranh giành xá-lợi mà khởi binh đánh nhau. Trời Đế Thích thấy thế, xuống khuyên can và dạy cho tám vua dùng bình vàng phân chia xá-lợi. Vua A-xà-thế cùng các vua khác được tám vạn bốn nghìn viên xá-lợi. Chỉ có râu mép của Phật không ai dám lấy. Vì vua A-xà-thế đến trước, nên được xá-lợi và râu mép trước. Trên đường trở về, vua vô cùng vui mừng, nên cho trỗi nhạc vang rền trời đất. Long vương Nan-đầu-hòa biến thành người đến nơi Phật niết-bàn, trên đường đi gặp vua A-xà-thế, liền quay lại nói với vua:
- Ông có thể chia cho tôi một phần xá-lợi được không?
Vua A-xà-thế đáp:
- Không thể được!
Long vương nói:
- Tôi là long vương Nan-đầu-hòa, có thể ném đất nước của ông ra xa tám vạn dặm và nghiền nát thành bụi!
Vua A-xà-thế nghe long vương nói vậy, vô cùng sợ hãi liền trao phần râu mép của Phật cho vua long vương. Long vương đến dưới núi Tu-di, đùn nước cao tám vạn bốn nghìn dặm, xây tháp thủy tinh phụng thờ.
Sau khi vua A-xà-thế qua đời, vua A-dục chiếm được nước ấy. Bấy giờ, có vị đại thần tâu vua A-dục:
- Long vương Nan-đầu-hòa trước kia xem thường vua A-xà-thế, nên đã chiếm lấy phần râu mép của Phật mang đi rồi.
Nghe đại thần tâu, vua A-dục giận dữ liền sai các vị quỷ thần vương làm lưới sắt giăng dưới nước nơi núi Tu-di để bắt long vương. Loài rồng vô cùng sợ hãi cùng nhau bàn kế: ‘Vua A-dục kính thờ Phật, nên rình lúc ông ta nằm ngủ, dời cung điện của ông ta xuông nước dưới núi Tu-di thì ông ta sẽ hết giận.
Long vương liền sai các rồng nhấc lấy cung điện của vua A-dục. Vua A-dục đang nằm nên không biết đó là chỗ nào. Đến khi vua thấy tháp thủy tinh cao tám vạn bốn nghìn dặm, trong lòng vừa vui vừa sợ. Bấy giờ, long vương đến gặp vua A-dục tạ lỗi:
- Vua A-xà-thế cho chúng tôi râu mép của Phật, chứ không phải chúng tôi đoạt lấy. Vả lại, khi Đức Phật còn tại thế đã hứa với chúng tôi: ‘Sau khi Ta nhập niết-bàn, vào kiếp Tận, tất cả giáo pháp, ca-sa và bình bát, Ta đều thâu lấy cất vào trong tháp ấy, đợi khi Phật Di-lặc hạ sinh mới đem những thứ ấy ra.’
Nghe long vương nói như vậy, vua tha thiết xin lỗi và nói:
- Thật lòng tôi không biết việc này!
Long vương liền sai các rồng đưa cung điện của vua A-dục trở về an trí lại chỗ cũ”.
Luận Thiện kiến ghi: “Trong cung của Đế Thích có hai phần xá-lợi: một là xá-lợi răng bên hàm phải của Phật, hai là xá-lợi xương chậu vỡ bên hông phải của Phật”.
Luật Thập tụng ghi: “Khi Phật nhập niết-bàn, vua tám nước đều đến cầu thỉnh xá-lợi, mỗi vua dẫn theo bốn binh vây quanh nơi trà-tì. Lúc ấy, có bà-la-môn Tính Yên nói lớn:
- Các Lực Sĩ! Hiện tại xá-lợi này sẽ chia thành tám phần.
Các Lực Sĩ đáp:
- Chúng tôi xin nghe theo lời đề nghị của các vị!
Bà-la-môn Tính Yên lại nói:
- Xin cho tôi được thỉnh bình lường xá-lợi. Tôi sẽ thỉnh về tụ lạc Đầu-na-la xây tháp phụng thờ!
Bà-la-môn Tất-ba-la-diên-na cũng xin thỉnh phần tro nơi thiêu Phật về nước xây tháp phụng thờ. Lực Sĩ thành Câu-thi được phần xá-lợi thứ nhất liền xây tháp phụng thờ. Nước Ba-bà được phần xá-lợi thứ hai, liền thỉnh trở về nước xây tháp phụng thờ. Dân ở tụ lạc La-ma được phần xá-lợi thứ ba, thỉnh về xây tháp phụng thờ. Các người thuộc dòng Sát-đế-lợi ở nước Già-lặc được phân xá-lợi thứ tư, thỉnh về nước xây tháp phụng thờ. Những người bà-la-môn ở nước Tì-nậu được phần xá-lợi thứ năm, thỉnh về nước xây tháp phụng thờ. Người dân Lợi-xương ở nước Tì-da-li được phần xá-lợi thứ sáu, thỉnh về nước xây tháp phụng thờ. Những người dòng họ Thích ở nước Ca-tì-la-bà được phần xá-lợi thứ bảy, thỉnh về nước xây tháp phụng thờ. Vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà được phần xá-lợi thứ tám, thỉnh về thành Vương Xá xây tháp phụng thờ. Bà-là-môn Tính Yên được bình lường xá-lợi, liền thỉnh về tụ lạc Đầu-na-la xây tháp phụng thờ. Bà-la-môn Tất-ba-la-diên-na được phần tro, thỉnh về nước xây tháp phụng thờ.
Bấy giờ, trong cõi Diêm-phù-đề có tám tháp thờ xá-lợi, tháp thứ chín thờ bình lường xá-lợi, tháp thứ mười thờ tro. Từ đó về sau có rất nhiều tháp được xây dựng để thờ xá-lợi”.
Kinh A-dục vương ghi: “Thuở xưa, vua A-thứ-già muốn thâu lấy toàn bộ xá-lợi do vua A-xà-thế đã phụng thờ. Nhưng ngày xưa vua A-xà-thế đã đặt xá-lợi xuống sông Căng-già, rồi làm một cái thiết kiếm luân lớn đặt ngay đó, khiến cho nước xoáy quanh nơi an trí xá-lợi, vì thế vua A-dục dùng đủ mọi cách cũng không tài nào lấy được xá-lợi.
Vua A-dục hỏi tì-kheo Liên Hoa:
- Làm sao có thể lấy được xá-lợi?
Tì-kheo Liên Hoa đáp:
. Chỉ cần ném mấy nghìn hộc quả Nại xuống nước thì có thể làm cho dòng nước dừng xoáy.
Vua A-dục làm theo, liền cho người ném quả Nại xuống trong nước. Tình cờ, vua lấy một quả Nại ném thử, bỗng quả Nại rơi vào lỗ của cơ quan, kiếm luân liền dừng lại. Nhưng còn có đại long vương canh giữ, nên không thể lấy xá-lợi được.
Vua A-dục hỏi tì-kheo Liên Hoa:
• Làm thế nào mới lấy được xá-lợi?
Tì-kheo đáp:
- Long vương phúc lớn hơn bệ hạ, nên không có cách nào lấy được.
Vua hỏi:
- Làm sao biết long 'vương kia phúc lớn hơn trẫm?
Tì-kheo đáp:
- Dùng vàng đúc tượng long vương và tượng bệ hạ, rồi cân hai tượng ấy, tượng nào nặng hơn thì người đó phúc lớn hơn.
Vua liền cho đúc hai tượng. Khi cân, quả nhiên tượng của long vương nặng hơn. Vua chứng kiến việc ấy, lại càng siêng năng tu phúc. Vua tu được một thời gian rồi cho đúc tượng và cân lại, thì tượng của vua nặng bằng tượng của long vương. Vua tiếp tục siêng năng tu phúc, rồi lại cho đúc tượng và cân thì tượng của vua nặng hơn tượng long vương. Vua biết tượng mình nặng hơn, liền dẫn binh lính đến bờ sông. Bấy giờ long vương tự xuất hiện dâng các thứ châu báu. Vua A-dục nói:
- Vua A-xà-thế để lại xá-lợi cho ta, nay ta muốn thỉnh về!
Long vương biết oai lực cùa mình không bằng, nên dẫn vua A-dục đến chỗ thờ xá-lợi, mở cửa thỉnh xá-lợi trao cho vua A-dục.
Ngọn đèn dầu do vua A-xà-thế làm cũng sắp cạn dầu, nên vua A-dục vừa thỉnh xá-lợi đi thì ngọn đèn cũng tắt. Vua A-dục lấy làm lạ hỏi tì-kheo Liên Hoa:
- Tại sao vua A-xà-thế tính được lượng dầu đến khi thỉnh xá-lợi đi, đèn mới tắt?
Tì-kheo đáp:
- Thời vua A-xà-thế, có một người tính toán rất giỏi. Người ấy tính trong vòng một trăm năm sẽ sử dụng lượng dầu như thế”.
37.5. CẢM PHÚC
Kinh Đại bi ghi: “Đức Phật bào tôn giả A-nan:
- Sau khi Ta nhập niết-bàn, nếu có người nào cúng dường xá-lợi của Ta, dù chỉ bằng hạt cải, lại cung kính tôn trọng, khiêm hạ cúng dường, nhờ căn lành này, được cõi niết-bàn và đạt đến cùng tận bờ niết-bàn.
- Nếu có người nào tạo lập hình tượng, chùa tháp và có lòng tin nhớ nghĩ công đức của Phật, rồi dù chỉ dùng một cành hoa tung lên hư không cúng dường, nhờ căn lành này, sẽ được cõi niết-bàn và đạt đến cùng tận bờ niết-bàn.
Phật lại bảo tôn giả A-nan:
- Nếu có chúng sinh nào vì nhớ nghĩ đến Phật, rồi dù chỉ dùng một cành hoa tung lên hư không cúng dường, nhờ phúc đức như thế mà người đó được quả báo không thể cùng tận.
Nếu có chúng sinh nào với lòng chí thành nhớ nghĩ công đức của Phật, rồi dù chỉ dùng một cành hoa tung lên hư không cúng dường, đời vị lai người đó sẽ được làm Thích Thiên vương, Phạm thiên vương, Chuyển luân thánh vương; phúc báo của người ấy cũng không cùng tận. Phúc điền cúng dường Phật không thể dùng quả báo hữu vi mà so lường được. Ta nói người đó sẽ được niết-bàn và đạt đến cùng tận bờ niết-bàn.
Cho đến loài súc sinh nào nhớ nghĩ đến đức Thế Tôn, Ta nói súc sinh đó nhờ phúc báo căn lành này mà được cõi niết-bàn và đạt đến cùng tận bờ niết-bàn.
Những bậc đã chứng bốn quả sa-môn và Bích-chi-phật đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, nhiều như mía, trúc, lau, sậy. Có người hoặc hiện tại, hoặc sau khi các vị ấy diệt độ mà xây tháp cúng dường, hoăc là trọn một kiếp, hoặc ít hơn một kiếp cúng dường những vật dụng vui chơi mà mọi người ưa thích lên các vị thanh văn và bích-chi-phật ấy. Lại có người chỉ ở trước chư Phật chắp tay, một lần xưng niệm danh hiệu Phật. Phúc đức người này gấp trăm lần, nghìn lần, trăm nghìn vạn ức lần, cho đến ca-la lần những người cúng dường ở trên. Vì sao? Vì trong tất cả các loại phúc điền thì phúc điền của Phật Như Lai là cao tột hơn hết. Vì thế, nếu người nào cúng dường Phật, sẽ thành tựu công đức và thần thông oai lực lớn”.
Có bài tụng:
Thân vàng lưu xá-lợi
Tháp báu khắp trời, rồng
Đầu tiên xây mười tháp
Sau thành tám vạn ngôi
Lọng châu, linh quang hiện
Trụ tháp trẻ phù dung
Bao sớm bày sương móc
Nhiều ngày hiện điềm lành
Cầu vồng thường phản chiếu
Gió nhẹ lay chuông vang
Tiên loan luôn luôn hiện
Thần tăng thường thường theo
Bậc siêu việt chư thánh
Chúng sinh đều cung kính
Chày đe đập không vỡ
Thánh đức lớn vô cùng.
37.6. CẢM ỨNG
37.6.1. Đời Hán Minh đế, xá-lợi phóng ánh sáng-Hán pháp nội truyện ghi: “Minh đế hoằng dương Phạt pháp, xây chùa độ tăng. Do đó các đạo sĩ tại đạo quán ở Ngũ nhạc, xin vua cho phép Phật và Lão tranh tài. Bấy giờ các Đạo sĩ đem kinh điển của Đạo giáo ra châm lửa đốt, thì kinh cháy rụi. Người đứng đầu đạo sĩ là Phí Tài hổ thẹn tự trách, nên tự vẫn trước mọi người. Thái phó Trương Diễn khai thị thêm, do đó nhiều người tranh nhau xuất gia. Bấy giờ, có người ở Tây Vực mang năm viên xá-lợi đến Trung Quôc. Năm viên phát năm màu chiếu thẳng lên hư không, xoay tròn giống như cái lọng, che khuất cả ánh mặt trời”.
73.6.2. Đời Ngụy Minh đế, xá-lợi phóng ánh sáng năm màu: Trong chương Phá tà ghi: “Vào thời Ngụy Minh đế, trong kinh thành Lạc Dương vốn .có ba ngôi chùa. Trong đó ngôi ở phía tây hoàng cung, thường treo xá-lợi trên đầu trụ cờ của chùa. Có người trèo lên trụ cờ nhìn vào trong cung. Vua cho đó là môi họa nên ra lệnh đập phá trụ cờ.
Bấy giờ có vị sa-môn người nước ngoài ở trong chùa ấy, lấy mâm vàng đựng đầy nước rồi thả xá-lợi vào, xá-lợi liền phát ra ánh sáng năm màu chiếu rực rỡ không dứt. Vua thấy vậy, ca ngợi: ‘Nếu chẳng phải sự linh nghiệm thần kì thì làm sao được như thế?’.
- Vua liền ra lệnh xây một trăm gian Chu lữ ở phía đông con đường, gọi là Quan Phật Đồ tinh xá.
73.6.3. Khương Tăng Hội cầu xá-lợi: Niên hiệu Xích Ô thứ tư (241) thời Ngô Tôn Quyền, sa-môn Khương Tăng Hội đến Giang Nam, tôn trí tượng Phật để lễ lạy, tụng kinh. Người nước Ngô cho là yêu tà, nên tâu lên vua. Vua mời Khương Tăng Hội đến hỏi:
- Phật có linh nghiệm gì?
Sư đáp:
- Đức Phật đã nhập diệt, nhưng xá-lợi của Ngài ứng hiện khắp nơi.
Tôn Quyền hỏi:
- Xá-lợi ở đâu?
Đáp:
- Xá-lợi của Phật linh thông cảm ứng, nếu cầu ắt sẽ được.
Tôn Quyền nói:
- Nếu cầu được xá-lợi, trẫm sẽ xây dựng chùa chiền.
Khương Tăng Hội lập đàn chí thành cầu nguyện, trải qua hai mươi mốt ngày, xá-lợi ứng hiện trong bình. Sáng hôm sau, Khương Tăng Hội dâng xá-lợi lên vua, ánh sáng của xá-lợi chiếu rực rỡ khắp cả cung điện. Vua cầm bình đổ xá-lợi ra mâm đồng, xá-lợi rơi xuống làm mâm vỡ nát. Tôn Quyền kinh hãi cho rằng đây là điềm hi hữu.
- Xá-lợi của Phật là kim cang bất hoại, dù lửa kiếp hỏa vẫn không thể đôt cháy, chày đập cũng không nát. Sư tâu.
Vua liền sai một lực sĩ dùng hết sức đập xá-lợi chày và đe đều bị lõm vào, nhưng xá-lợi vẫn còn nguyên vẹn và ánh sáng phát ra chung quanh làm chói cả mắt. Vua lại sai người dùng lửa đốt, xá-lợi phóng ánh sáng chiếu thẳng lên hư không và hóa thành hoa sen lớn. Vua phát khởi lòng tin và cho lập chùa Kiến Sơ, đổi tên vùng đất này thành làng Phật-đà.
Đến lúc Tôn Hạo lên ngôi, ông thi hành chính sách tàn bạo, muốn bài trừ Phật giáo, đốt kinh, hủy tháp. Có vị cận thần kính tin Phật pháp can ngăn:
- Xin bệ hạ đợi thêm ít thời gian, khí nào biết chính xác Phật không linh nghiệm, thì trừ diệt cũng chưa muộn.
Tôn Hạo chấp thuận, liền mời Khưorng Tăng Hội đến nói:
- Nếu ông có thể làm cho ta thấy những điều linh nghiệm thì ta sẽ giúp ông phát triển đạo Phật. Nếu không làm được, ta phế bỏ Phật giáo, giết hết sa-môn.
Khương Tăng Hội đáp:
- Đức Phật tùy duyên ứng hiện, có cảm ắt có ứng. Xin bệ hạ cho ít thời gian thì việc cầu linh nghiệm không khó.
Tôn Hạo ra kì hạn ba ngày. Bấy giờ, có hôm một trăm vị tăng tập trung tại chùa ngài Khương Tăng Hội.
Tôn Hạo cho quân bao vây chùa, giương giáo sẵn sàng, chỉ đợi đến kì hạn đến là ra tay. Chư tăng lo sợ không có linh ứng, nên định thắt cổ tự vẫn, sư nói với chúng tăng:
- Phật lưu xá-lợi chính là vì những lúc như thế này, từ xưa đã linh nghiệm, lẽ nào nay không có sao!
Quả nhiên, đến đúng kì hạn, Khương Tăng Hội cầu được xá-lợi. Ngài nói với Tôn Hạo:
- Đây là xương kim cang của Như Lai do lòng chí thành mà cầu được. Giả sử Mạnh Bôn và Ô Hoạch dùng chày ba nghìn cân đập cũng không vỡ.
Tôn Hạo nói:
- Vàng, đá còn mòn, xương khô mà cứng vậy sao? Sa-môn này ở trước mặt ta mà còn dám nói dối, chắc muốn mau chết.
Vua liền cho đặt xá-lợi lên đe sắt, dùng chày vàng đập mạnh, chày và đe đều bị lõm mà xá-lợi vẫn y nguyên. Vua lại đặt xá-lợi vào nước trong, ánh sáng phát ra, chiếu rực rỡ khắp cả đại điện. Tôn Hạo hân hoan tín phục, chí thành nhận sự giáo hóa.
37.6.4. Đời Tấn, viên xá-lợi Phật cùa Trúc Thường Thư: Trúc Trường Thư có viên xá-lợi, ông rất quý trọng. Ông có người con xuất gia làm sa-môn hiệu là Pháp Nhan. Pháp Nhan nhiều lần muốn hoàn tục, có lần cười nói:
- Xá-lợi này chỉ là cát đá thôi, có gì đáng quý?
Ông liền thả viên xá-lợi vào nước, bỗng có ba vòng hào quang năm màu từ nước phóng lên cao mấy thước. Pháp Nhan thấy việc linh nghiệm này, không muốn hoàn tục nữa.
Sau khi ông qua đời, Pháp Nhan lại có ý muốn hoàn tục, thì liền mắc bệnh nặng. Từ đó sư nguyện làm sa-môn suốt đời. Sau sư thỉnh xá-lợi đến an trí trong ngôi tháp ở Giang Hạ.
37.6.5. Đời Tấn, xá-lợi Phật của Đỗng Uông: Niên hiệu Thái Hưng (318-321), Đỗng Uông tại Ư Tiềm có thờ một pho tượng Phật gỗ. Ban đêm, tượng thường phát ra ánh sáng. Bỗng một hôm, gần pho tượng phát ra tiếng động, như có vật gì rơi xuống đất; ông đến xem thì thấy xá-lợi đang nổi trong hồ, phóng ánh sáng năm màu chiếu soi rực rỡ, lại xoay ba vòng theo chiều phải.
Sa-môn Pháp Thường đến xem, bỗng xá-lợi bay vút lên hư không cao khoảng bốn năm thước, rồi bay vào lòng Pháp Thường. Sư nói:
- Nếu muốn bảo Pháp Thường xây dựng chùa tháp ở đây, xin hiện oai thần lần nữa!
Pháp Thường nói vừa dứt lời thi xá-lợi lại bay vọt lên như trước. Vì thế, Pháp Thường xây chùa tháp tại Ư Tiềm. Hằng ngày có mười mấy người đến nơi đây vào đạo.
37.6.6. Đời Tấn, xá-lợi phóng ánh sáng: Vào khoảng niên hiệu Thái Hưng (318-322) đời Tấn, mỗi ngày có mấy nghìn người từ phương bắc di cư đến Quảng Lăng. Trong số đó, có người thỉnh theo xá-lợi, họ cùng nhau xây một ngôi chùa nhỏ tôn thờ và một cây trụ cờ. Xá-lợi phóng ánh sáng chiếu đến đầu cột cờ, làm cảm động gần xa.
37.6.7. Đời Tấn, sa-môn An Pháp Khai: Khoảng niên hiệu Hàm Hòa (326-334) đời Tấn, sa-môn An Pháp Khai đến Dư Hàng, muốn xây chùa mà không có tiền của. Sư xe dây xâu tiền để bán. Gom góp nhiều năm sư mới được ba vạn tiền đồng. Sư dùng số tiền đó mua đất cất một cái thất, nhưng vẫn xe dây xâu tiền bán sinh sống.
Sư muốn xây một ngôi tháp, nhưng sợ không có xá-lợi. Bấy giờ, La Ấu có xá-lợi, Pháp Khai liền đến xin thỉnh, nhưng La Ấu không cho. Một hôm, Pháp Khai đến chùa lễ Phật, chợt thấy cái túi đựng xá-lợi của La Ấu ở trước mặt mình, liền báo cho La Ấu biết. La Ấu đến xem và rất vui mừng, nên trao xá-lợi cho Pháp Khai, rồi hai người cùng nhau xây chùa ở Dư Hàng.
37.6.8. Đời Tấn, thái thú Mạnh Gảnh: Niên hiệu Hàm Khang (335-342) đời Tấn, quan thái thú Mạnh Cảnh ở Kiến An muốn xây chùa dựng tháp. Đêm ấy, ông nghe như có tiếng ngọc kêu leng keng trên đầu giường, ngồi dậy xem, thấy có ba viên xá-lợi. Nhân đó, ông xây dựng tháp để thờ.
Tháng sáu niên hiệu Nguyên Gia mười sáu (439) mọi người đều nhìn thấy xá-lợi phóng ánh sáng chiếu khắp nơi, trải qua bảy đêm mới hết.
37.6.9. Đời Tấn, Điêu Quì: Niên hiệu Nghĩa Hi thứ nhất (405) đời Tấn, một người ở Lâm Ấp có viên xá-lợi, đến ngày trai giới, xá-lợi thường phóng ánh sáng. Sa-môn Tuệ Thúy theo thứ sử Quảng châu là Điêu Quì đến phương nam. Vì kính ngưỡng xá-lợi phóng ánh sáng nên muốn thỉnh, nhưng ông chưa mở lời thì xá-lợi tự phân làm hai. Điêu Quì biết việc ấy rât vui mừng, muốn thỉnh một viên để kính lễ thì xá-lợi lại phân làm ba.
Điêu Quì muốn tạc pho tượng phỏng theo pho tượng ở Trường Can, nhưng vị tự chủ không cho. Đêm ấy, vị tự chủ nằm mộng thấy một người cao vài trượng đến bảo:
- Tượng, quí ở chỗ dùng để truyền đạo, sao ông lại tiếc?
Sáng ra, vị tự chủ cho người báo với Điêu Quì bằng lòng cho tạc tượng. Khi tạc xong, ông đặt xá-lợi vào búi tóc của tượng, vì cho rằng những tượng Phật thỉnh từ Tây Trúc về đều phóng hào quang, phần nhiều là do có đặt xá-lợi bên trong.
37.6.10. Đời Tấn, Giả Đạo Tử; Niên hiệu Nguyên Gia thứ sáu (629) đời Tống, Giả Đạo Tử đến Kinh châu. Trên đường đi, ông thấy một đóa phù dung vừa nở, ông hái mang về nhà, bỗng nghe trong đóa hoa có tiếng động, ông lấy làm lạ, đến xem thì nhặt được viên xá-lợi màu trắng như trân châu, ánh sáng chiếu khắp nhà. Ông cung kính đặt xá-lợi vào hộp treo lên tường. Từ đó người trong nhà thường thấy Phật và tăng từ bên ngoài vào, cởi áo choàng rồi bước lên ngồi trên án.
Một hôm, có người đến ngủ nhờ, không biết nên khinh thường những vị tăng kia. Đêm đó, người ấy mộng thấy có người đến bảo:
- Ở đây có chân thân Thích-ca, thánh nhân thường đến kính lễ, sao ngươi lại khinh thường, để rồi sau khi chết phải đọa địa ngục, ra khỏi địa ngục lại làm tôi tớ! Ngươi không sợ ư?
Người ấy nghe nói thế lòng rất sợ hãi, không lâu sau thì bị bệnh hủi rôi qua đời.
Chỗ đất treo xá-lợi mọc lên hoa sen tám cánh, trải qua sáu tuần mới héo, hơn một năm sau thì biến mất.
37.6.11. Đời Tấn, An Thiên Tải: Niên hiệu Nguyên Gia thứ tám (431) đời Tống, gia đình An Thiên Tài ở cối Kê nhiều đời thờ Phật. Một đêm, có người đến gõ cửa, người nhà bước ra thì thấy có hơn mười người mặc áo đỏ chở gỗ đến chất trong cửa và nói:
- Quan sai chúng tôi làm tháp Phật.
Bỗng chốc họ đều biến mất. Sáng hôm sau, Thiên Tải đến nhà người thân dự tiệc chay, thì được viên xá-lợi màu vàng tía, ông dùng chày đập nhưng xá-lợi khỗng vỡ, đặt vào nước thì phát ra ánh sáng. Nhân đó ông thỉnh về cung kính phụng thờ; từ đó trong nhà thường có hương lạ.
Một hôm, người nhà muốn thỉnh ra để mọi người cùng đỉnh lễ thì xá-lợi bỗng nhiên biến mất, tim kiếm khắp nơi đến nửa ngày mới thấy. Khi ấy, Lâm Xuyên vương trấn giữ vùng Giang Lăng, đã thỉnh viên xá-lợi này. Xá-lợi thường phát ra ánh sáng nhiều màu, các quan và sa-môn mỗi người nhìn thấy màu khác nhau. Lâm Xuyên vương nâng thau nước đựng xá-lợi câu nguyện thì xá-lợi phát ra ánh sáng. Đêm đến, thấy có hơn trăm người nhiễu quanh ngôi nhà an trí xá-lợi; họ đốt hương, cầm hoa giống như hình ảnh lúc Phật mới đản sinh. Đến sáng, những người ấy và xá-lợi đều biến mất.
37.6.12. Đời Tống, Trương Tu Nguyên: Niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (432) đời Tống, gia đình của Trương Tu Nguyên ở Tầm Dương tổ chức tu Bát quan trai giới, cả tăng lẫn tục mấy mươi người đều thấy trên cành hoa trước tượng Phật giống như có tuyết, nhìn kỹ thì thấy mấy chục viên xá-lợi. Họ liền đặt xá-lợi vào nước thì ánh sáng phát ra rực rỡ, một lát sau biến mất.
Vài ngày sau, khi mở kho thì người nhà lại được chiếc răng Phật cùng mười viên xá-lợi được bọc trong tấm lụa trắng đặt trong hộp, ánh sáng chiếu thẳng lên trời. Mọi người khắp nơi đến nhà ông xin thỉnh xá-lợi.
37.6.13. Đời Tống, Lưu Ngưng Chi: Niên hiệu Nguyên Gia mười lăm (438) đời Tống, Lưu Ngưng Chi người Nam quận, ẩn cư ở Hoành sơn, dù nhiều lần vua mời ông ra giúp nước, nhưng ông quyết không xuống núi. Ông thờ đạo Ngũ Đấu Mễ, không tin Phật pháp. Một hôm, ông mộng thấy có người đứng cách mặt đất vài trượng và nói:
- Điều nghi của ông sẽ được giải đáp!
Tỉnh dậy, ông liền tỏ ngộ. Từ đó, sớm tối chuyên cần lễ Phật. Được nửa năm, ông bỗng thấy dưới bức hoành phi có ánh sáng màu tía, đến xem thì thấy hai viên xá-lợi; ông đập chẻ cách mấy cũng không vỡ, thả vào nước thì phát ra ánh sáng.
Một hôm, trong lúc ăn cơm, ông có cảm giác như mình đang ngậm một chiếc răng trong miệng, ông liền nhả thì vật ấy phát ra ánh sáng, vợ ông liền nhặt, thì ra được môt viên xá-lợi nữa. Như vậy, tông cộng được năm viên xá-lợi. Sau đó, đột nhiên xá-lợi biến mất, nhưng tìm lại được.
37.6.14. Đời Tống, Từ Xuân: Niên hiệu Nguyên Gia mười chín (542) đời Tống, Từ Xuân ở Cao Bình là người siêng năng tụng kinh. Một hôm, trong lúc ăn cơm, ông nhặt được hai viên xá-lợi. Ông đặt hai viên xá-lợi vào trong bình, một thời gian sau, xem lại thì phát hiện xá-lợi dần dần tăng lên đến hai mươi viên. Sau đó, ông mang bình ấy gửi cho Lưu Phức, huyện lệnh Quảng Lăng. Lưu Phức tự ý
mở xem thì thấy bình không. Lúc ấy, Từ Xuân đang ở tại kinh đô, bỗng nhiên có xá-lợi. Về sau, do ông thoái tâm, nên xá-lợi biến mất hết.
Thế mới biết, xá-lợi thường ứng hiện và người gặp được xá-lợi rất nhiều, nhưng tất cả đều nhờ lòng thành kính mà được, nếu khinh thường thi xá-lợi sẽ biến mất.
Xá-lợi lưu truyền sang phương đông, trải qua nhiều triều đại. Những chuyện mà bộ truyện kí đề cập tới chỉ một phần vạn. Bởi vì, nhiều việc trùng lặp, hoặc có ứng hiện, nhưng chẳng kì đặc, hoặc Phật cốt đã ẩn tàng, nên không thể ghi chép hết.
Còn nói về những tháp trong nước do các triều đại xây dựng thì không đời nào xây tháp nhiều bằng đời Tùy. Vì chỉ riêng đời Tùy đã xây hơn một trăm ngôi tháp, những điềm thần diệu từ đó xuất hiện đã trình bày trong nhiều truyện khác, ở đây chỉ lược nêu, để hiển bày những điều đã cảm được.
37.7. TÙY VĂN ĐẾ XÂY THÁP THỜ XÁ-LỢI PHẬT
37.7.1. Những châu được xây tháp: Tùy Văn đế đã xây tháp ở hai mươi tám châu, năm mươi ba châu hiện điềm lành.
- Chùa Tiên Du ở Ung châu.
- Chùa Phượng Tuyền ở Kì châu.
- Chùa Tư Giác ở Hoa châu.
- Chùa Đại Hưng Quốc ở Đồng châu.
- Chùa Đại Hưng Quốc ở Kinh châu.
- Chùa Thê Nham ở Bồ châu.
- Chùa Đại Nhạc ở Thái châu.
- Chùa Vô Lượng Thọ ở Tinh châu.
- Chùa Thường Nhạc ở Định châu.
- Chùa Tung Nhạc ở Tung châu.
- Chùa Đại Từ ở Tương châu.
- Chùa Liên Vân Nhạc ở Khuếch châu.
- Chùa Hoành Nhạc ở Hoành châu.
- Chùa Đại Hưng Quốc ở Tương châu.
- Chùa ở núi Cự Thần thuộc Mâu châu.
- Chùa ở núi cối Kê thuộc Ngô châu.
- Chùa ở núi Hổ Khâu thuộc Tô châu.
Tháp của những ngôi chùa thuộc mười bảy châu nói ở trên, được xây dựng nhờ vào kinh phí quyên góp và quốc khố.
Những ngôi tháp thuộc mười một châu: Thái châu, Cô châu, Dương châu, Ích châu, Hào châu, Quê châu, Giao châu, Nhữ châu, Phiên châu, Tưởng châu, Trịnh châu, được xây dựng tại những nơi thanh tịnh ở các chùa trong châu, huyện. Kinh phí xây dựng cũng giống như trước.
37.7.2. Vua ban sắc về việc xây tháp xá-lợi: sắc chỉ ghi:
- Đấng Chính Giác đại từ đại bi cứu giúp chúng sinh, dẫn dắt muôn loài. Trẫm quy y Tam bảo, trùng hưng thánh giáo là vì muốn cùng với nhân dân trong bốn biển phát tâm bồ-đề, đồng tu phúc nghiệp, khiến cho họ ngay trong đời này và đời sau mãi tạo nhân lành, đồng chứng diệu quả. Do đó trẫm thỉnh ba mươi vị sa-môn hiểu rõ Phật pháp và có khả năng giảng đạo, mỗi vị dẫn theo hai thị giả và một tán quan, mang theo một trăm hai mươi cân huân lục hương, năm con ngựa, phân nhau thỉnh xá-lợi đến những châu đã nói ở trên xây tháp phụng thờ.
Như những chùa trên đất liền thì chọn những chùa có thế sông núi để xây tháp, y như trước. Nếu núi nào xưa nay không có chùa thì phải chọn một chùa thanh tịnh ở trong châu ấy để xây tháp. Vị sở ti phải lập bản vẽ đưa đến bản châu. Châu nào có chư tăng nhiều thì ba trăm sáu mươi vị, trung bình thì hai trăm bốn mươi vị, ít nhất thì một trăm hai mươi vị. Nếu nơi nào thiếu tăng thì phải tập trung hết tăng trong châu. Tất cả hãy vì trẫm, hoàng hậu, thái tử, cho đến vương tử, vương tôn và tất cả quan viên trong ngoài, thứ dân, sinh linh dương gian hay âm phủ, cứ bảy ngày tổ chức hành đạo, sám hối. Vào ngày hành đạo, nên tổ chức quyên góp, bất luận là người ở cùng châu hay châu khác, đều tùy ý cúng dường, số tiền cúng dường chỉ mười đồng trở xuống, không được hơn. Tiền mà mọi người cúng dường dùng để xây tháp, nếu ít thì không dùng trả công cho công nhân mà phải lấy tiền của quốc khố. Tăng ni các châu trong cả nước phải thiết trai cúng dường xá-lợi. Vào giờ Ngọ, ngày mười lăm tháng mười đồng loạt thỉnh xá-lợi an trí vào hộp đá.
Từ Tổng quản thứ sử trở xuống, từ huyện úy trở lên, ngoại trừ những ai bận quân cơ, còn tất cả phải nghỉ việc bảy ngày để kiểm tra việc hành đạo và quyên góp v.v... cần phải dốc lòng thành kính thì mới hợp với ý trẫm.
Những người có trách nhiệm nhận lệnh mà thi hành. Ngày mười ba tháng sáu, niên hiệu Nhân Thọ thứ nhất (601), Nội sử lệnh Dự Chương vương, Thần là Giản tuyên chỉ.
37.7.3. Tùy Văn đế cảm được xá-lợi hiện: Khi xưa, lúc hoàng đế chưa lên ngôi, có sa-môn đến cung điện trao cho một túi xá-lợi và nói: “Đàn-việt có tâm tốt nên ta trao cho để tôn thờ”. Sa-môn trao túi xá-lợi rồi ra đi. Vua tìm vị sa-môn kia mà không biết ở đâu.
Sau đó, vua và sa-môn Đàm Thiên cùng đặt xá-lợi trong lòng bàn tay và đếm, xá-lợi lúc nhiều, lúc ít không nhất định. Đàm Thiên nói: “Tôi từng nghe một vị bà-la-môn nói Pháp thân vượt ngoài số lượng, thế gian chẳng thể đo lường được”. Từ đó, vua cho làm một chiếc hộp bằng bảy báu để an trí xá-lợi.
Thần ni Trí Tiên nói: “Phật pháp sắp diệt, tất cà thần minh nay đã đi về tây. Con nên làm cha lành khắp thiên hạ mà trùng hưng Phật pháp để tất cả thần minh quay về”,
Sau đó, quả nhiên họ Chu tiêu diệt Phật pháp. Đến đời Tùy, Phật giáo mới được phục hồi. Vua thường dùng chuyện thần ni để nói: Trẫm lên ngôi là nhờ Phật, cho nên trong tháp xá-lợi khắp thiên hạ đều phải tạc tượng Thần ni" vì thế vua và hoàng hậu xây tháp Liên Cơ ở Pháp giới ni tự tại kinh đo để báo đền nguyện xưa, dưới tháp đó có an trí xá-lợi
Vào một đêm cuối thu, niên hiệu Khai Hoàng thứ năm (585), có thần quang từ dưới nền tháp phóng lên, theo chiều phải xoay quanh lộ bàn, đỏ rực như lửa trong lò đúc. Trong một tuần, thần quang xuất hiện bốn lần như thế. Vào ngày mười ba tháng sáu, niên hiệu Nhân Thọ thứ nhất (601), chính là ngày sinh của mình, vua ngự ở điện Nhân Thọ nơi cung Nhân Thọ. Mỗi năm vào ngày ấy, vua chuyên tâm nhiếp niệm, tu tạo phúc lành để báo đáp công ơn cha mẹ, nên thỉnh các vị đại đức sa-môn đến cùng luận bàn lí đạo. Đông thời vua ra lệnh chọn ba mươi nơi thanh tịnh, thoáng mát ở các châu trong cả nước để xây tháp thờ xá-lợi.
Ngày đó, vua đích thân mở hộp bảy báu thỉnh ba mươi viên xá-lợi ra và an trí trên bàn trước ngai vàng, rồi cùng các vị sa-môn đốt hương đỉnh lễ. Vua nguyện: “Đệ tử nguyện thường dùng chính pháp hộ trì Tam bảo, cứu độ tất cả chúng sinh”. Vua an trí xá-lợị vào ba mươi bình lưu li, rồi đặt mỗi bình lưu li vào mỗi bình vàng, sau đó dùng bột Huân lục hương gắn nắp và đóng dấu. Vào đúng giờ Ngọ ngày mười lăm tháng mười, ba mươi châu đồng loạt đặt những bình vàng đó vào trong hộp đồng hay hộp đá, rồi xây tháp cùng một lúc. Khi các sa-môn v.v... thỉnh xá-lợi đưa đến các châu, tất cả tăng tục trong nước chuẩn bị hương hoa, màn báu, âm nhạc, quét dọn đường sạch sẽ, tận tâm tận lực cung đón xá-lợi. Không thể trình bày hết những điềm lành ứng hiện như trong truyện đã ghi; nay chỉ lược nêu hơn mười việc để người đời sau biết rõ.
Ngày hôm đó, vua, hoàng hậu, thái tử, phi tần trong cung dốc lòng thành tâm sám hối;, vì khắp tất cả chúng sinh kết duyên lành. Bỗng vua nhìn thấy một dị tăng đắp y màu vàng sẫm, phủ kín vai đi đến, vua nói với các cận thần: “Chớ kinh động. Cứ để mặc người ấy!”. Sau khi vị tăng đi, đếm lại số đại chúng, quả thật không thấy. Xá-lợi sắp rời khỏi đây.
Vua nói: “Ngày nay Phật pháp đã hưng thịnh trở lại, ắt có cảm ứng”. Quả nhiên sau đó, khắp các nơi tấu trình lên đều giống như lời vua nói.
Trong tháng mười ấy, mỗi lần vua ăn đều có xá-lợi dưới chân răng, hoàng hậu cũng có như vậy. Vua dùng mâm bạc đựng đầy nước rồi thả một viên xá-lợi vào và cho các quan xem. Trong chốc lát mọi người nhìn thấy hai viên xá-lợi, xoay theo chiều phải vá dính vào nhau. Hai quý nhân, Tấn vương Chiêu, Dự Chương vương Giản, mỗi người được ban cho một cái nghiên; đồng thờỉ vua ban lệnh phải quan sát xá-lợi thật kĩ. Mỗi người đặt một viên xá-lợi vào trong nghiên của mình. Chưa được hai tuần, trong cung được tổng cộng mười chín viên xá-lợi, phần nhiều đều phóng ánh sáng. Từ đó, tặng tục gần xa có xá-lợi đều dâng hết cho vua. Vua nó “Không hẳn tất cả xá-lợi đều là chân thân Phật!”. Các vị sa-môn cùng nhau đập thử quả thật chỉ có mười ba viên xá-lợi thật. Những viên xá-lợi thật ấy, dù dùng búa sắt đập mà không vỡ.
37.8. XÂY THÁP XÁ-LỢI CÓ CẢM ỨNG
37.8.1. Tháp chùa Tiên Du: Chùa ở phía nam huyện Chu Chất, Ung châu; ngày xây tháp xá-lợi ở ngôi chùa này, tuyết rơi trắng xóa, trời đất mù mịt, trên đỉnh núi tuyết đóng rất dày, nhưng khi đưa xá-lợi vào tháp, bỗng nhiên mây tan, mặt trời chiếu sáng. Khi tăng tục rải hoa cúng dường thì mây tụ lại như cũ.
37.8.2. Xây tháp cảm đá hoa: Khi xây tháp thờ xá-lợi ở chùa Phượng Tuyền, Kì châu, đã cảm được đá hoa, giống như ngọc, nên được dùng làm hộp. Bấy giờ còn hiện các điềm lành như cây sa-la, chim thú, nền đá biến thành thủy tinh.
37.8.3. Xây tháp có ba nơi mang đá xưa đến: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Đại Hưng Quốc, Kinh châu, có ba nơi đem đá cũ đến; đá này không có ở thế gian. Người ta lấy tất cả đá ấy làm hộp đựng xá lợi, khi ráp lại thì rất khớp.
37.8.4. Xây tháp có mây năm màu che phủ: Khi xây móng tháp xá-lợi ở chùa Tĩnh Niệm, Tần châu, có điềm lành mây năm màu che phủ, tuyết rơi, cỏ cây nở hoa. Khi thỉnh xá-lợi an trí vào hộp, hào quang chiếu sáng và có tiếng ca tụng.
37.8.5. Xây tháp có hào quang năm màu và trời mưa hoa báu: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Tư Giác, Hoa châu, tuyết rơi dàỵ đặc, lúc sắp thỉnh xá-lợi an trí vào tháp, mặt trời chiếu sáng rực rỡ, hào quang năm màu phóng lên cao mấy chục trượng chiếu trùm ngôi tháp và trời mưa hoa báu.
37.8.6. Xây tháp có thần quang vây quanh mặt trời: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Đại Hưng Quốc, Đồng châu, gặp trời mưa lớn. Nhưng lúc thỉnh xá-lợi vào hộc, bỗng nhiên mây tan, mặt trời chiếu sáng, lại có thần quang vây quanh mặt trời. Đến tháng mười hai, ban đêm có ánh sáng chiếu xa năm mươi dặm.
37.8.7. Xây tháp, mặt đất rung động, núi phát ra âm thanh: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Thê Nham, Bồ châu, mặt đất rung động, núi phát ra âm thanh, chuông trống vang rền, lại phóng năm luồng hào quang, người đứng cách xa hai trăm dặm đều thấy.
37.8.8. Xây tháp có thần quang năm màu và vô số thiên thần xuất hiện: Ngày xây tháp xá-lợi ở chùa Vô Lượng Thọ, Tinh châu, ban ngày trời mờ tối, mây che nhiều lớp. Lúc sắp thỉnh xá-lợi an trí trong hộc, trời trong, mặt trời chiếu sáng, lại có thần quang năm màu rực rỡ, vô số thiên thần xuất hiện.
37.8.9. Xây tháp có lão ông đến cúng dường và khiêng đất: Ngày xây tháp xá-lợi ở chùa Bắc Nhạc, Định châu, cọ một ông lão đến cúng dường và khiêng đất. Đến khi tháp xây xong thì biến mất. Chỗ ấy xưa nay vốn không có nước, bỗng nhiên trước sau đều có suối. 37.8.10. Xây tháp cảm mưa hoa lạ: Ngày xây tháp xá-lợi ở chùa Đại Từ, Tương châu, trời tối đen và mưa tuyết dày đặc. Lúc sắp thỉnh xá-lợi vào hộc thì mặt trời mọc. Sau khi an trí xá-lợi và đóng tháp thì trời lại kéo mây và mưa hoa lạ liên tục.
Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Hưng Thế, Nhữ châu ban đầu mây đen giăng đầy trời, tuyết rơi dày đặc. Nhưng đến lúc sắp thỉnh xá-lợi để an trí thì trời tạnh. Đến khi thỉnh xá-lợi vào trong hộp rồi thì trời mù tối và tuyết lại rơi.
37.8.11. Xây tháp cảm thần quang bay vào chùa: Ngày xây tháp xá-lợi ở chùa Định Giác, Trịnh châu, cảm được thần quang giống như sao băng bay vào trong chùa. Ngày hôm đó, chùa nấu cơm chay bố thí cho hơn hai mươi vạn người mà thức ăn vẫn không hết.
37.8.12. Xây tháp cảm thỏ trắng đến trước kiệu rước: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Nhàn Cư, Tung châu, cảm được con thỏ tráng chạy đến trước kiệu rước. Ban đầu trời rơi tuyết dày đặc, nhưng đến khi thỉnh xá-lợi an trí vào hộc thì mặt trời chiếu sáng. Sau khi an trí xá-lợi xong, mây lại kéo đến.
37.8.13. Xây tháp cảm hai cái giếng xuất hiện: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Khai Tịch, Hào châu, trong châu không có đá tốt, nên mới tìm đá ở ba nơỉ khác nhau, để ráp thành cái hộc. Lúc đào móng đến tảng đá lớn, bỗng xuất hiện hai cái giếng nước trong vắt ở hai bên tảng đá.
37.8.14. Xây tháp cảm tiếng trống vang khắp nơi: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Đại Nhạc, Thái châu, đêm đến có tiếng trống vang khắp nơi, ba lớp cửa tự nhiên mở và thấy cỏ người cưỡi ngựa từ trong miếu chạy ra nghinh đón xá-lợi. Ánh sáng lành xuất hiện cũng rất nhiều.
37.8.15. Xây tháp cảm ánh sáng lành xuất hiện: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Thắng Phúc, Thanh châu, lúc đào móng tự nhiên gặp cái hộc bằng đá. Lúc sắp an trí xá-lợi vào tháp thì có ánh sáng lành xuất hiện.
37.8.16. Xây tháp cảm hai cọng cỏ chi: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Cự Thần Sơn, Mâu châu, được hai cọng cỏ chi màu đỏ tía, mây đen giăng đầy trời. Nhưng lúc sắp thỉnh xá-lợi vào tháp, mặt trời rực sáng, đến khi đóng cửa tháp thì trời lại tối tăm.
Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Đại Hưng Quốc, Tương châu, xây tháp xá-lợi ở chùa Pháp Tụ, ích châu, ban đầu trời tối đen, nhưng lúc sắp thỉnh xá-lợi vào tháp thì trời lại sáng. Đến khi thỉnh xá-lợi an trí trong hộp thì mây đen lại kéo đến.
37.8.17. Xây tháp cảm rùa thần, trời mưa cam lộ: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Trí Môn, Tùy châu, lúc đào móng được rùa thần, trời rơi cam lộ, ong đen bay quanh, rùa thần có phù văn.
37.8.18. Xây tháp cảm được trời mưa: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Tây, Dương châu thì trời hạn hán đã lâu. Nhưng khi thỉnh xá-lợi vào châu thì ngày đêm hôm đó trời mưa lớn thấm ướt khắp nơi.
37.8.19. Xây tháp cảm Phật từ hướng tây bắc đến: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Thê Hà, có người ở gần chùa nằm mộng thấy Phật từ hướng tây bắc đến rồi vào chùa. Sau đó xá-lợi được thỉnh về, quả nhiên đúng như người đã mộng thấy.
37.8.20. Xây tháp cảm xá-lợi phóng thần quang và nhặt được cỏ chi: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Đại Vũ, Ngô châu, xá-lợi được chở trên thuyền đi qua năm con sông, nhưng không gặp sóng gió. Xá-lợi còn phóng thần quang, mọi người lại nhặt được cỏ chi màu đỏ tía.
37.8.21. Xây tháp cảm tiếng nhạc trời nước giếng kêu vang: Khi xây tháp xá-lợi tại một ngôi chùa ở núi Hổ Khâu, Tô châu, trong lúc đào móng, nhặt được một viên xá-lợi. Bấy giờ trên không có tiếng nhạc trời, mọi người đều nghe. Nước giếng kêu vang ba ngày, xá-lợi mới đến.
37.8.22. Xây tháp cảm mây trắng vây quanh tháp: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Hoành Nhạc, Hoành châu, gió dữ từ bốn phương thổi đến, nước sông ở bốn hướng chảy về, trên đỉnh núi có đám mây trắng rộng hai trượng bay thẳng đến nền tháp, nhiễu quanh ba vòng rồi bay đi.
37.8.23. Xây tháp cảm đàn chim bay hai bên kiệu: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Duyên Hóa, Quế châu, cách tháp chưa đầy mười dặm, có khoảng một nghìn con chim bay hai bên kiệu vào thành, rồi bỗng bay đi mất.
37.8.24. Xây tháp cảm thần tiên hiện hình cưỡi mây bay: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Linh Thứu, Phiên châu, trong hố móng có thần tiên hiện hình cưỡi mây bay đi.
37.8.25. Xây tháp cảm ánh sáng chiếu cao vài trượng: Khi xây tháp xá-lợi ở chùa Pháp Giảng, Khuếch châu, trong đêm xá-lợi chuyển đến tây thành, ở Khuếch châu có ánh sáng chiếu cao vài trượng, xuất hiện từ hướng đông bay đến và chui xuống lòng đất. Người trong, ngoài thành đều thấy.
37.8.26. Xây tháp cảm gặp xá-lợi: Vương Oai ở Vị châu áp giải chín mươi tù nhân lưu đày, trên đường đi gặp xá-lợi, tất cả mọi người đều phát tâm lành. Vương Oai thả cho bọn tù nhân tự do một thời gian. Những tù nhân được thả đi tự do khoảng một nghìn dặm, nhưng không có ai bỏ trốn.
Người ở Tùy châu làm nghề đánh cá trên sông Vân đã ba trăm năm, con cháu đời đời nối nghiệp. Một hôm, họ thấy xá-lợi nên tất cả quyết định bỏ nghề, vĩnh viễn chấm dứt việc ác này. Người ở châu khác cũng bắt chước như vậy.
37.9. BÀI BIỂU CHÚC MỪNG XÁ-LỢI CẢM ỨNG
37.9.1. Bài biểu của An Đức vương Hùng và các quan:
Thần là Hùng và các quan từng nghe: Đấng Đạỉ giác viên mãn, về trí thật đã dung thông không hữu; bậc chí thánh rỗng lặng, về nghĩa hẳn không còn sinh diệt. Cho nên, tuy thân hình nát như hạt cải, nhưng vẫn còn lưu giữ trong bình vàng; thân đã tan như bụi mà vẫn còn xây bảo tháp. Sau khi Thích-đề-hoàn-nhân thỉnh tro, vua A-dục xây tháp đến nay, chưa một lần phân bố xá-lợi để tiếp tục phát dương thăng nghiệp.
Kính nghĩ: Bệ hạ từ nhiều kiếp trước đã tích nhân lành, đã chứng bồ-đề; nay sinh lại cõi người làm vua để bảo vệ thế giới. Ngày trước, đạo bị tiêu diệt theo vận nước, chùa chiền bị phá hủy; vì thế, đèn từ tắt bóng, biển trí ngừng trôi. Nhưng nay
ngôi vua đã vững, trống pháp mới vang; khắp thiên hạ đều là Tịnh độ, muôn loài được mây pháp chở che.
Vào tháng sáu, mùa hạ năm ngoái, bệ hạ ban chiếu chỉ thỉnh các sa-môn cung tống xá-lợi đến ba mươi châu, cho ngày mười lăm tháng mười đồng loạt xây tháp. Trong đó, khi qui hoạch nơi xây tháp chùa Thê Nham, Bồ châu, thì trên núi ấy thường có tiếng chuông trống. Khi xá-lợi mới thỉnh đến chùa an trí tạm trong giảng đường, ngay đêm hôm ấy trên đỉnh tháp phát ánh sáng lớn, chiếu khắp giảng đường. Lúc sắp thỉnh xá-lợi vào hộp đồng, lại có ánh sáng giống như lò hương vọt lên hư không. Khi ánh sáng này chiếu đến, cái bình báu trong tháp lại phát ra ngọn lửa đỏ tía, có lúc tản ra, có khi tụ lại và đều thành hoa sen. Lại có ánh sáng trên đỉnh tháp, hình dáng giống như tượng Phật ngồi kiết-già trên tòa. Ánh sáng ấy ngưng lại một hồi lâu rồi dần dần biến mất. Lại có ánh sáng xoay quanh bình báu trong tháp.
Chư tăng ở các chùa Nhân Thọ v.v... trong thành Bồ châu, từ xa nhìn thấy trên đỉnh núi giống như có lầu các cung điện, khe suối, hang động tất cả đều hiển hiện rõ ràng. Ánh sáng ấy chiếu sáng một góc đông nam thành Bồ châu hồi lâu mà không tắt. Chùa Thê Nham này do Thái tổ Vũ Nguyên hoàng đế lập.
Lúc xây tháp ở Hoa châu, trời đất đang tối tăm, tuyết rơi dày đặc, bỗng nhiên trở nên sáng tỏ. Ngay ở trên đỉnh tháp xuất hiện tướng luân năm màu. Khi xá-lợi được thỉnh vào trong tháp thì trời lại tối. Hoàng đế, hoàng hậu lại được xá-lợi. Xá-lợi phát ra ánh sáng và chiếu khắp nơi, lúc hiện, lúc ẩn.
Nếu chẳng phải bậc đức cả chí thành, đạo hợp với thánh linh thì đâu thể cản ngăn được thần công diệu tướng, hiện ra những điều kì đặc đến thế? Chúng thần được vận tốt, gặp lúc thái bình; đã sống vào đời thái bình, lại sinh ra gặp nghiệp thiện, nên mới thoát khỏi cảnh trần lao. Do đó không nén được lòng vui sướng, nên kính cẩn dâng biểu chúc mừng.
37.9.2. Hoàng đế nhà Tùy ban sắc đáp từ: sắc chỉ ghi: “Đệ tử kính nghe! Đấng Đại giác che chở muôn loài, đưa chúng sinh xa lìa biển khổ, cứu người ngu thoát khỏi nhà lửa. Vì thế, trẫm nhất tâm hồi hướng, một dạ quy y; nguyện cùng thần dân trong cả nước, cho đến kẻ còn, người mất, đồng vun nghiệp tốt, gieo các nhân lành. Vì thế, trẫm mới phân bố xá-lợi, xây lại một hồi lâu rồi dần dần biến mất. Lại có ánh sáng xoay quanh bình báu trong tháp.
Chư tăng ở các chùa Nhân Thọ v.v... trong thành Bồ châu, từ xa nhìn thấy trên đỉnh núi giống như có lầu các cung điện, khe suối, hang động tất cả đều hiển hiện rõ ràng. Ánh sáng ấy chiếu sáng một góc đông nam thành Bồ châu hồi lâu mà không tắt. Chùa Thê Nham này do Thái tổ Vũ Nguyên hoàng đế lập.
Lúc xây tháp ở Hoa châu, trời đất đang tối tăm, tuyết rơi dày đặc, bỗng nhiên trở nên sáng tỏ. Ngay ở trên đỉnh tháp xuất hiện tướng luân năm màu. Khi xá-lợi được thỉnh vào trong tháp thì trời lại tối. Hoàng đế, hoàng hậu lại được xá-lợi. Xá-lợi phát ra ánh sáng và chiếu khắp nơi, lúc hiện, lúc ẩn.
Nếu chẳng phải bậc đức cả chí thành, đạo hợp với thánh linh thì đâu thể cản ngăn được thần công diệu tướng, hiện ra những điều kì đặc đến thế? Chúng thần được vận tốt, gặp lúc thái bình; đã sống vào đời thái bình, lại sinh ra gặp nghiệp thiện, nên mới thoát khỏi cảnh trần lao. Do đó không nén được lòng vui sướng, nên kính cẩn dâng biểu chúc mừng.
37.9.2. Hoàng đế nhà Tùy ban sắc đáp từ: sắc chỉ ghi: “Đệ tử kính nghe! Đấng Đại giác che chở muôn loài, đưa chúng sinh xa lìa biển khổ, cứu người ngu thoát khỏi nhà lửa. Vì thế, trẫm nhất tâm hồi hướng, một dạ quy y; nguyện cùng thần dân trong cả nước, cho đến kẻ còn, người mất, đồng vun nghiệp tốt, gieo các nhân lành. Vì thế, trẫm mới phân bố xá-lợi, xâylại một hồi lâu rồi dần dần biến mất. Lại có ánh sáng xoay quanh bình báu trong tháp.
Chư tăng ở các chùa Nhân Thọ v.v... trong thành Bồ châu, từ xa nhìn thấy trên đỉnh núi giống như có lầu các cung điện, khe suối, hang động tất cả đều hiển hiện rõ ràng. Ánh sáng ấy chiếu sáng một góc đông nam thành Bồ châu hồi lâu mà không tắt. Chùa Thê Nham này do Thái tổ Vũ Nguyên hoàng đế lập.
Lúc xây tháp ở Hoa châu, trời đất đang tối tăm, tuyết rơi dày đặc, bỗng nhiên trở nên sáng tỏ. Ngay ở trên đỉnh tháp xuất hiện tướng luân năm màu. Khi xá-lợi được thỉnh vào trong tháp thì trời lại tối. Hoàng đế, hoàng hậu lại được xá-lợi. Xá-lợi phát ra ánh sáng và chiếu khắp nơi, lúc hiện, lúc ẩn.
Nếu chẳng phải bậc đức cả chí thành, đạo hợp với thánh linh thì đâu thể cản ngăn được thần công diệu tướng, hiện ra những điều kì đặc đến thế? Chúng thần được vận tốt, gặp lúc thái bình; đã sống vào đời thái bình, lại sinh ra gặp nghiệp thiện, nên mới thoát khỏi cảnh trần lao. Do đó không nén được lòng vui sướng, nên kính cẩn dâng biểu chúc mừng.
37.9.2. Hoàng đế nhà Tùy ban sắc đáp từ: sắc chỉ ghi: “Đệ tử kính nghe! Đấng Đại giác che chở muôn loài, đưa chúng sinh xa lìa biển khổ, cứu người ngu thoát khỏi nhà lửa. Vì thế, trẫm nhất tâm hồi hướng, một dạ quy y; nguyện cùng thần dân trong cả nước, cho đến kẻ còn, người mất, đồng vun nghiệp tốt, gieo các nhân lành. Vì thế, trẫm mới phân bố xá-lợi, xây dựng linh tháp. Bậc Đại thánh xót thương nhiều lần phóng ánh sáng, trong cung điện xá-lợi hiển linh; không biết nguyên do từ đâu mà tự nhiên biến hiện. Bởi thế, mọi người vui mừng, kính lễ như được điều chưa từng có. Đây là nhờ thiện nghiệp của quần sinh nên mới cảm được phúc lành này, nào phải chi một chút thành ý của trẫm mà có thể cảm đến được sao?
Xét thấy vương công v.v... dâng biểu tỏ lòng thành kính sâu xa, nên trẫm cùng các vương công, đại thần và toàn thể nhân dân cần phải nỗ lực làm cho Tam bảo hưng thịnh hơn.
Nay xá-lợi chân thật vẫn còn năm mươi viên, trẫm lệnh cho quan phụ trách y theo cách thức trước mà phân đến khắp các châu trong nước xây tháp phụng thờ, hầu làm cho chúng sinh trong ba cõi, sáu đường đều thoát khỏi phiền não, khiến muôn loài chúng sinh đều lên Diệu quả.
Các quan chủ quản nên cấp tốc thi hành!”.
37.10. Tùy Văn đế phân bổ xá-lợi: Khi sứ giả ba nước Cao Li, Bách Tế, Tân La sắp trở về nước, mỗi người đều xin thỉnh một viên xá-lợi để về nước xây tháp cúng dường. Vua ban chiếu chấp thuận.
Vua lại cho xây tháp xá-lợi tại chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô. Trước an trí xá-lợi ở Thượng thư đô đường, đến ngày mùng hai tháng mười hai mới thỉnh xá-lợi đi. Bấy giờ trời quang mây tạnh, khí hòa, gió lặng; có kiệu báu, cờ lọng, hương hoa, âm nhạc, các món cúng dường bày biện khắp các nẻo đường; đạo tục, quan dân, không biết bao nhiêu nghìn vạn ức, ăn mặc chỉnh tề, theo thứ bậc xếp thành hàng ngay ngắn. Từ Thượng trụ quỗc Tư không công An Đức vương Hùng trở xuống đều đi bộ theo xe rước xá-lợi đến chùa. Đồng thời, thiết Vô-già đại hội và thực hành lễ sám. Bấy giờ có con thanh tước18 bay lượn giữa đám đông, hoặc rút thanh đao đang đeo bên mình ném xuống cúng dường, mặc dù lúc ấy mọi người tụ tập rất đông, nhưng không một ai bị thương.
Ngày hai mươi ba tháng giêng, niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602) đời Tùy, lại phân bố xá-lợi đến năm mươi ba châu để xây tháp phụng thờ. Vua ra lệnh cho các quan từ Thứ sử tổng quản trở xuống, từ Huyện úy trở lên dừng công việc bảy ngày, thỉnh tăng tụng kinh, hành đạo ở chùa. Cúng dường mỗi vị mười đồng tiền, cách thức giống như trước. Chọn giờ Ngọ ngày mùng tám tháng tư, trong toàn quốc đồng thỉnh xá-lợi an trí vào hộc đá. Những nơi có tôn trí và cảm ứng được ghi chép dưới đây.
- Thường châu: trời không mây bỗng đổ mưa, hoa trời rơi xuống khắp thành.
- Tuyền châu
- Tuần châu
- Doanh châu: Xá-lợi ba lần phóng ánh sáng trắng, cảm được đá xưa, chẻ ra làm hộc an trí xá-lợi.
- Hồng châu: quạ đầu trắng dẫn đường.
- Hàng châu: đào móng gặp đá trắng, để đặt hòm đá.
- Kinh châu
- Đức châu: cảm được chim lớn bay quanh tháp mọi người đều không biết đó là chim gì.
- Thương châu
- Quan châu: mây năm màu hiện trên đỉnh tháp từ giữa trưa đến chiều tối.
- Doanh châu: trong nền tháp xuất hiện cỏ chi màu đỏ tía.
- Kí châu: người mù và người què đều khỏi bệnh.
- Ư châu: được cái hòm đá như mật nước trong, phóng ánh sáng hiện nhiều hình tượng.
- Từ châu: hòm đá hiện tướng tiên nhân, thánh tăng v.v...
- Cử châu: ba lần hiện thần quang, phát hiện tháp cổ dưới nền, người câm nói được.
- Tề châu
- Lai châu
- Sở châu: nai rừng chạy đến, có âm thanh chim nhạn bay liệng trên tháp.
- Giang châu: từ lòng đất xuất hiện tượng đồng.
- Đàm châu: xá-lợi vừa chuyển đến sông, có nghìn thần điểu nghinh đón.
- Mao châu: trời mưa hoa vàng và bạc.
- Bối châu
- Tống châu: nước giếng vị đắng biến thành ngọt, xá-lợi phóng quang, trời mưa hoa như tuyết.
- Triệu châu: xá-lợi phóng ánh sáng đỏ, trong đó hiện vô số hình tượng.
- Tề châu: hai lần phóng hào quang, có hương thơm, tiếng chuông, núi ẩn trong mây.
- Duyên châu
- Thọ châu - Tín châu
- Kinh châu: mây che trên đỉnh tháp, trời mưa hoa.
- Lan châu: được một tượng đá và hai tượng đồng dưới nền tháp.
- Lương châu
- Lợi châu: xá-lợi phóng ánh sáng rực rỡ như mặt trời, mặt trăng.
- Lộ châu: suối linh tự nhiên hiện, người bệnh uống được lành.
- Lê châu: mọi người đều nghe tiếng nhạc nghìn năm vang vọng từ lòng đất.
- Từ châu: lọng mây như tiên đang bay; suối linh tuôn nước, người bệnh uống liền lành bệnh.
- Ngụy châu: xá-lợi nhiều lân phóng quang, trời mưa hoa báu, mọi người đều nhặt được.
- Biện châu: có hương thơm lạ, xá-lợi phóng quang, người bệnh thấy tượng liền lành bệnh.
- Hứa châu: cách châu chín mười dặm, thấy xá-lợi phóng ánh sáng trùm trên tháp, giếng nước ngọt tự nhiên tuôn trào.
- Dự châu: xuất hiện ánh sáng và chữ viết năm màu.
- Hiển châu
- Tào châu: ánh sáng biến hiện nhiều hình sắc.
- An châu: hương thơm lạ phảng phất suốt đêm, xá-lợi phóng quang, lọng mây tụ tập.
- Phổ châu: xá-lợi ba lần phóng ánh sáng năm màu.
- Hoài châu: thỏ đực tự chạy đến và rất thuần hóa. Xá-lợi phóng ánh sáng và hiện dị tích.
- Thiểm châu: xá-lợi mười một lần phóng ánh sáng lành.
- Lạc châu: hương thơm lan như gió và nhiều lần phóng ánh sáng.
- Đặng châu: khi làm hòm đựng xá-lợi, xuất hiện văn tự.
- Thái châu: lại được thêm xá-lợi, hòm đựng xá-lợi biến thành mã não.
- Vệ châu: ánh sáng từ tháp phát ra ngoài.
- Chiểu châu: vị tăng bị đau lưng, không đi được, nhưng đến cung nghinh xá-lợi, đi được mười dặm thì hết đau lưng.
- Trịnh châu: xá-lợi phóng ánh sáng, tràng phan hướng về ánh sáng.
- Kỉ châu: xá-lợi phóng ánh sáng năm màu.
Tổng cộng có năm mươi ba châu, nhưng bốn mươi châu có hiện điềm lành. Ở đây không thể trình bày hết, những cảm ứng ấy đã có thuật đầy đủ trong Đại truyện.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
16/11/2015
PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 38 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 38 Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt) 35.6. THÁP CỔ Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng! Có những chún...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 37 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP
QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 33 - CHƯƠNG TẠO PHÚC
QUYỂN 33 Quyển này có một chương Tạo phúc. 27. CHƯƠNG TẠO PHÚC 27.1. LỜI DẪN Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả r...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 32 - CHƯƠNG BIẾN HÓA VÀ NGỦ MỘNG
QUYỂN 32 Quyển này có hai chương: Biến hóa và ngủ mộng. 25. CHƯƠNG BIẾN HÓA 25.1. LỜI DẪN Sự vận dụng của thánh nhân dung thông vô ngại, cảm ứng khắp cùng, cho nên không thể dùng một pháp để tìm cầu, không thể dùng một l...
