PUCL QUYỂN 32 - CHƯƠNG BIẾN HÓA VÀ NGỦ MỘNG
12/11/2015
QUYỂN 32 Quyển này có hai chương: Biến hóa và ngủ mộng. 25. CHƯƠNG BIẾN HÓA 25.1. LỜI DẪN Sự vận dụng của thánh nhân dung thông vô ngại, cảm ứng khắp cùng, cho nên không thể dùng một pháp để tìm cầu, không thể dùng một l...

QUYỂN 32
Quyển này có hai chương: Biến hóa và ngủ mộng.
25. CHƯƠNG BIẾN HÓA
Sự vận dụng của thánh nhân dung thông vô ngại, cảm ứng khắp cùng, cho nên không thể dùng một pháp để tìm cầu, không thể dùng một lí mà suy diễn. Vì thế, gặp thô thì ứng hiện thô, gặp tế thì ứng hiện tế. Tế thô là tùy theo căn cơ, lý ấy xưa nay vốn như vậy. Sở dĩ Đức Phật phóng ánh sáng lớn, hiện các thân biến là để ứng hợp với các vị đại bồ-tát ở mười phương sắp chứng quả vị Phật. Nếu ở trong cảnh trần tục tiếp độ chúng sinh xấu ác, khiến họ bỏ tà về chính, thì các Ngài tùy duyên biến hiện tất cả thân hình để phù hợp với tâm chúng sinh. Do đó, không thể dùng nghĩa lý nhiệm mầu để chỉ chung tất cả, mà phải biến hiện ra tất cả thân hình không thể nghĩ bàn, để ngăn chặn những kiến chấp ngu muội không thể nghĩ bàn.
Thí như thánh nhân gá sinh vào nai, ngựa để độ thoát chúng. Ngay lúc các Ngài làm nai, ngựa, há đồng với chúng sao? Nếu các Ngài đồng với nai. ngựa thì cũng lưu chuyển theo chúng, chứ đâu cần đợi hiện thần biến này.
25.2. THÔNG BIẾN
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Này các Phật tử! Như hóa thân của một đức Như Lai biến chuyển không thể giảng nói và thí dụ, ví như vầng mây pháp luân. Trong tất cả các thế giới như pháp giới, hư không giới v.v... đều dùng đầu sợi lông để đo lường khắp cả. Trên đầu mỗi sợi lông, trong mỗi niệm hóa hiện thân hình nhiều như vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật, cho đến tận số kiếp vị lai. Mỗi mỗi hóa thân Phật có nhiều đầu như số vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi đầu có số lưỡi nhiều như số vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi lưỡi phát ra âm thanh nhiều như số vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi âm thanh diễn nói Tu-đa-la nhiều như số vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi Tu-đa-la diễn nói diệu pháp nhiều như số vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật. Trong mỗi mỗi diệu pháp diễn nói cú thân, vị thân nhiều như số vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật. Lại nói dị cú thân, vị thân trải qua số kiếp nhiều như vi trần bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi Phật. Âm thanh ấy trùm khắp pháp giới, tất cả chúng sinh đều nghe. Cho đến tận vị lai thường chuyển pháp luân và âm thanh của Như Lai không đổi khác, không gián đoạn, không cùng tận. Đó là pháp an trú của tất cả chư Phật, của đại lực Na-la-diên Tràng Phật”.
Kinh Hoa nghiêm lại ghi: “Tất cả các Đức Phật đều có tám loại âm thanh vi diệu. Mỗi mỗi âm thanh đều có năm trăm âm thanh vi diệu phụ thuộc và không thể tính đếm trăm nghìn âm thanh khác dùng để trang nghiêm. Vô lượng, vô biên âm thanh vi diệu, kĩ nhạc thảy đều thanh tịnh, diễn nói ý nghĩa chính pháp của tất cả chư Phật, khiến người xa lìa sợ hãi, an trú trong tiếng sư tử hống đại vô úy của Như Lai. Tất cả chúng sinh trong khắp pháp giới nghe được âm thanh này, tùy theo thiện căn mỗi loài đã gieo trồng mà được khai ngộ. Đó là sự ttrang nghiêm khẩu nghiệp tối thắng vô thượng của tất cả chư Phật”.
Kinh Xứ xứ ghi: “Sở dĩ khi Phật mỉm cười, từ miệng phát ra ánh sáng năm sắc, là có năm nguyên nhân. Một là muốn cho người nào có điều muốn hỏi, nhân đó mà được lợi ích. Hai vì sợ người nói Phật không biết cười. Ba là hiện ánh sáng trong miệng. Bốn là cười những người không có lòng chí thành. Năm là cười hàng a-la-hán chấp ‘không’ mà không đác đạo bồ-tát. Anh sáng vào thân Ngài từ đỉnh đầu là muốn thị hiện cho người sau thấy rõ”.
Kinh Phật thuyết tâm minh ghi: "Bấy giờ. Đúc Phật vì Phạm chí mà cười. Khi ấy từ trong miệng Phật phát ra ánh sáng năm sác. chiếu soi khắp chúng sinh trong năm đường ở mười phương. Vì muốn khiến cho mọi người sinh tâm hoan hỉ, làm cho ngạ quỷ được no đủ, địa ngục dứt hết khổ đau, súc sinh tỉnh ngộ tiêu trừ tội chướng, lần theo ánh sáng tìm đến chỗ Phật. Mỗi khi Đức Phật cười thường có điềm lành.
Khỉ Phật thụ kí cho hàng bồ-tát thì ánh sáng chiếu soi khắp mười phương và từ đỉnh đầu đi vào. thụ kí cho hàng duyên giác thì ánh sáng từ miệng đi vào, thụ kí cho hàng thanh văn thì ánh sáng từ vai đi
vào. Nói về việc sinh lên trời thì ánh sáng từ rốn vào, nói về việc sinh vào loài người thì ánh sáng từ đầu gối đi vào, nói về nỗi khổ trong ba đường thì ánh sáng từ giừa lòng bàn chân đi vào.
Khi Đức Phật hoan hỉ thì không phải cười vì dục. không phải cười vì sân, không phải cười vi si không phải cười vi phóng dật, không phải cười vi lợi dưỡng, không phải cười vì vinh hiển, không phải cười vi giàu sang. Nay Đức Phật vì thương xót tất cả chúng sinh nên cười với lòng đại từ, hoàn toàn không có bảy tâm niệm kia”.
Luận Đại trí độ ghi: “Khi Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên, bồ-tát ứng Trì ở phương khác. vì muốn đo lường thân Phật, vượt lên hư không, hay qua vô lượng cõi Phật đến thế giới của Phật Hoa Thượng, mà vẫn còn thấy thân Phật y như vậy, bèn nói kệ ràng:
Hư không không cùng tận,
Công đức Phật cũng vậy,
Dẫu muốn lường thân Phật,
Chỉ nhọc sức mà thôi.
Vượt lên cõi hư không,
Qua vô lượng cõi Phật,
Thấy thân Thích sư tử,
Vẫn như cũ không khác.
Thân Phật như núi vàng,
Phóng ra ánh sáng lớn
Tướng hảo tự trang nghiêm,
Như hoa nở mùa xuân ”.
Kinh Xứ xứ ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, trời rồng, quỷ, thần, người đều đến chỗ Phật nghe kinh, số lượng người vây quanh đến mấy trăm nghìn lớp mà người trước, người sau đều thấy Phật. Vì sao? Vì đời trước, khi luận bàn, Phật không phân biệt trước sau. nên ngày nay ai cũng thấy mặt Phật. Người nằm, đầu luôn hướng về phía Phật là để tôn kính Ngài vậy”.
25.3. NHÀM CHÁN THAM DỤC
Kinh Đại trang nghiêm pháp môn6 ghi: “Bấy giờ, trong thành Vương Xá có kĩ nữ Kim Sắc thông minh, có oai đức. Người nữ kia nhờ căn lành đời trước mà có thân
xinh đẹp, đầy đủ các tướng, thân màu vàng ròng, chiếu sáng rực rỡ, cử chỉ uyển chuyển ở đời hiếm có; biện tài vô ngại, giọng nói trong trẻo, sâu kín hòa dịu. Khi nói, cô thường mỉm cười, đi đến đâu thì ánh sáng chiếu soi đến đó, y phục cũng có màu vàng ròng. Ai thấy cũng đều lưu luyến không muốn lìa xa. Cô đi đến bất cứ đâu đều có người theo hầu.
Bấy giờ, có con trai của vị trưởng giả Thượng Oai Đức, vì dục lạc chuẩn bị xe ngựa lộng lẫy, đem nhiều tài bảo, hẹn đến Kim sác một khu vườn để cầu hôn.
Bấy giờ, Kim sắc nhờ duyên lành đời trước cảm ứng nên được bồ-tát Văn-thù giáo hóa cho vào đạo, biến hóa tự tại. Kim sác gối đầu lên chân của Thượng Oai Đức nằm ngủ. Bấy giờ, Kim sác dùng thần biến hiện tướng chết, thân thể trương sình, hôi thôi không ai dám đến gần. Bỗng chốc bụng vỡ, ruột, gan, ngũ tạng lộ ra hôi thối rất gớm ghê, các đường đại tiện, tiểu tiện bài tiết ra chất bất tịnh, các căn và tứ chi đều bị dòi, ruồi rỉa rúc ghê gớm, không thể diễn tả.
Thượng Oai Đức thấy tử thí ấy, trong lòng vô cùng sợ hãi, toàn thân rung động, thầm nghĩ: 'nay không ai cứu giúp ta!’. Nhìn khấp nơi không có chỗ nào để nương nhờ, nên Thượng Oai Đức càng sợ hãi kêu la, hoảng hốt.
Có hai nguyên nhân khiến Thượng Oai Đức sợ hãi: ‘Một là từ nhỏ đến lớn chưa từng thấy việc ghê gớm như vậy; hai là vì mọi người biết mình cùng vớf Kim Sắc hẹn đến đây. Nay cô ấy bỗng: nhiên chết chắc chắn mọi người sẽ nói đo mình giết. Vua A-xà-thế ngang tàng không xét lý lẽ, thể nào ta cũng bị giết’. Nghĩ thế, nên Thượng Oai Đức sợ hãi
Lúc ấy, Thượng Oai Đức một mình ở giữa khu rừng, không thấy người nào, liền nghĩ: “Tất cả phàm thánh, ai có thể cứu giúp mình?’.
Tuy trong căn lành quá khứ của Thượng Oai Đức đã chín muồi, nhưng vẫn không nghe thấy Bồ-tát Văn thù nói pháp cho Kim sắc. Bồ-tát Văn-thù liền dùng thần lực khiến cho cây cối trong rừng đều nói kệ. Thượng Oai Đức nghe rồi, vô cùng vui mừng, liền bỏ thi thể, rời khỏi vườn cây, tìm đến chỗ Đức Phật Trình bày hết nguyên nhân sợ hãi.
Đức Phật khuyên Thượng Oai Đức:
- Ông chớ lo lắng sợ hãi. Ta sẽ ban cho ông tất cả sự an ổn. Nếu ông quy y Phật thì không còn gì để sợ
Thượng Oai Đức bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Tất cả sợ hãi từ đâu sinh ra?
Phật dạy:
- Sợ hãi từ tham, sân, si sinh ra. Ông nên biết, sự sợ hãi ấy không có chủ thể, không tạo tác, không có sự chấp giữ. Dục giác trước kia của ông bấy giờ ở đâu?
Thượng Oai Đức thưa:
- Khi thấy sắc đẹp, hàng phàm phu thường đắm trước, nên khởi ác giác. Trong thánh pháp không có việc như thế.
Thế là Đức Phật dùng nhiều phương tiện thuyết pháp cho Thượng Oai Đức nghe. Nghe xong, Thượng Oai Đức đắc Thuận pháp nhẫn. Khi ấy, Kim sác biết Thượng Oai Đức đã được giáo hóa, nàng trang trí năm trăm xe ngựa lộng lẫy, vây quanh trước sau đi đến chỗ Phật và đứng qua một bên.
Bấy giờ, bồ-tát Văn-thù hỏi Thượng Oai Đức:
- Ông biết người này không?
Thượng Oai Đức thưa:
- Nay con mới thật biết.
Bồ-tát Văn-thù hỏi:
- Ông nói biết gì?
Thượng Oai Đức xoay về phía bồ-tát Văn-thù nói kệ:
Thấy sắc như bọt nước
Các thụ tợ bọt bèo
Quán xét đồng dương diêm
Điều con biết như vậy!
Thấy hành như thân chuối
Biết thức như huyễn mộng
Tên “nữ” chỉ giả danh
Điều con biết như vậy!
Thân vô tri như cây
Như ngói đá và cỏ
Không thể thấy được tâm
Điều con biết như vậy!
Phàm phu như người say
Điên đảo sinh ác giác
Người trí không nhiễm ô
Điều con biết như vậy!
Như thây chết trong rừng
Hôi thối và nhơ uế
Thân thể vốn như thế
Đó là điều con biết!
Quá khứ vốn không diệt
Vị lai cũng không sinh
Hiện tại không dừng trụ
Điều con biết như vậy!
Văn-thù, ngài lắng nghe
Ơn kia khó báo đền
Con vốn nhiều tham dục
Thấy bất tịnh được thoát
Thân kia thật không chết
Hiện chết để dạy con
Thương chúng sinh nên hiện
Ai thấy cũng phát tâm
Tham, sân, si như vậy
Tất cả là phiền não
Pháp tính vốn như thế
Hay thay! Thật vi diệu!
Bấy giờ, Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Thuở xưa Kim sắc và Thượng Oai Đức được giáo hóa, nên phát tâm bồ-đề, nay lại nghe pháp đắc Thuận pháp nhẫn. Kim sắc này ở đời vị lai trải qua chín mươi trăm nghìn kiếp sẽ thành Phật hiệu là Bảo Quang Như Lai. Thượng Oai Đức ở chỗ Phật Bảo Quang làm bồ-tát hiệu là Đức Quang. Sau khi Phật Bảo Quang nhập diệt, Đức Quang sẽ thành Phật hiệu là Bảo Diệm Như Lai”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Thuở xưa, lúc Ta an cư ở nước Đa-la-nại, khi ấy có kĩ nừ Diệu Ý sống trên tòa lâu đài. Ngày xưa, nàng ấy vốn đã có duyên với Đức Phật. Ta liền hóa thành thiếu niên mười lăm tuổi, khôi ngô tuấn tú, ở thế gian không ai sánh bằng. Diệu Ý nhìn thấy liền sinh vui mừng và nói:
- Này chàng! Nhà thiếp giống như Công Đức thiên, giàu có vô cùng, châu báu trang hoàng lộng lẫy. Nay thiếp đem thân này và nô tì hết lòng hầu chàng đầy đủ. Nếu chàng chấp nhận theo lời yêu cầu của thiếp, thiếp sẽ cung cấp tất cả, không luyến tiếc!
Diệu Ý nói vừa dứt lời, hóa nhân liền đến giường nằm, ngay lập tức cô gái tiến lại gần bên và nói: ‘Này chàng! Xin cho thiếp được thỏa lòng!’. Hóa nhân không dám làm trái, nên Diệu Ý tùy tiện thỏa mãn dục vọng. Diệu Ý gần gũi hóa nhân suốt
một ngày một đêm, mà không thấy nhàm chán. Đến ngày thứ hai, tâm ái của Diệu Ý bắt đầu vơi dần. Sang ngày thứ ba, Diệu Ý bảo hóa nhân ngồi dậy ăn uống, hóa nhân liền ngồi dậy, nhưng vẫn ôm ấp Diệu Ý chẳng chịu buông ra. Bấy giờ, Diệu Ý cảm thấy nhàm chán và hỏi:
- Chàng khác người quá vậy?
Hóa nhân nói:
- Đời trước, tôi cùng với người nữ quan hệ với nhau suốt mười hai ngày liền như thế.
Diệu Ý nghe hóa nhân nói, cảm thấy mình giống người bị mắc nghẹn nuốt không trôi, nhả ra không được, thân thể đau đớn như búa bổ. Đến ngày thừ tư, thân thể như bị xe cán qua. Đến ngày thứ năm như một hoàn sắt nóng, Ngày thứ sáu, tay chân đều đau đớn như tên bắn trúng tim.
Bấy giờ, Diệu Ý suy nghĩ: ‘Tôi nghe nói ở thành Ca-tì-la có thải từ con của vua Tịnh Phạn, thân màu vàng tía, đủ ba mươi hai tướng quí, thương người ngu muội, cứu kẻ khổ đau, thường ở thành ấy làm phúc, phóng ánh sáng màu vàng cứu độ tất cả mọi người, sao nay không đến cứu ta? Từ nay đến lúc chết, tôi không dám tham sắc nữa, Thà tôi ở cùng một hang với hổ, lang chứ không dám tham sắc dục để khỏi phải chịu khổ não này!
Khi ấy, hỏa nhân nổi giận quát:
- Đồ xấu xa kia! Nàng đã phả hết sự nghiệp của tôi. Nay tôi và nàng chung chăn chung gối, nếu không được như vậy thà chết sớm còn hơn. Nếu cha mẹ, người thân tôi có đến hỏi thì nàng nên tìm nơi nào đó trốn đi. Tôi thà chết chứ không thể chịu nhục.
Diệu Ý nói:
- Đồ xấu xa, tôi không cần, chàng muôn chết thì tùy ý!
Bấy giờ, hóa nhân lấy dao bén đâm cổ, máu chảy lênh láng, thấm ướt thân Diệu Ý và ngã lăn ra Diệu Ý không ngăn lại được. Đến ngày thứ hai thân thể hóa nhân bầm tím. Ngày thứ ba thi thể phình trương. Ngày thứ tư thi thể bắt đầu tan rã. Ngày thứ năm thi thê phân hủy. Ngày thứ sáu thịt da rơi rớt ra. Ngày thứ bảy chỉ còn xương thối, nhưng giống như keo, sơn bám chặt vào thân người nữ. Các chất bất tịnh đại, tiểu tiện, côn trùng dơ uế, máu mủ chảy tràn khắp thân người nữ. Người nữ vô cùng nhờm gớm, nhưng không trút bỏ được. Nàng liền phát nguyện: ‘Nếu các vị trời thần, tiên nhân, con của vua Tịnh Phạn có thể giải được nổi khổ của tôi, tôi sẽ đem nhà này và tất cả châu báu cung cấp cho các vị ấy’. Cô gái phát nguyện vừa dứt, Đức Phật cùng tôn giả A-nan, tôn giả Nan-đà, có Đế Thích dẫn đường Phạn vương theo sau đến nhà cô gái. Đức Phật phóng thường quang chiếu sáng khắp đất trời, đại chúng đều thấy Như Lai đang ngự trên lầu của cô gái ấy.
Cô gái nhìn thấy Đức Phật trong lòng hổ thẹn, muốn giấu bộ hài cốt, nhưng không có chỗ. Nàng lấy những tấm lụa trắng quấn kín thi thể, nhưng không sao ngăn được mùi hôi thối.
Cô gái thấy đức Thế Tôn liền đỉnh lễ. Vì hổ thẹn nên thân cô ảnh hiện cái bóng của hài cốt và bộ hài cốt hôi thối bỗng nhiên dính trên lưng cô. Lúc ấy, cô gái vô cùng hổ thẹn, khóc lóc và bạch Đức Phật:
• Bạch đức Thế Tôn! Như Lai có vô lượng công đức và từ bi, nếu có thể khiến cho con khỏi nạn khổ này con nguyện làm đệ tử Như Lai trọn đời không thay đổi!
Nhờ thần lực của Phật mà bộ hài cốt hôi thối tan biến. Cô gái vô cùng mừng rỡ, đỉnh lễ Phật và bạch rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Con có bao nhiêu trâu báu, nay xin dâng cúng Ngài.
Đức Phật dùng Phạm âm chú nguyện, cô gái nghe được, vô cùng hoan hi, liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Năm trăm thị nữ nghe âm thanh của Đức Phật đều phát tâm Vô thượng bồ-đề. Vô lượng Phạm chúng thấy thần biến của Đức Phật chứng Vô sinh nhẫn. Nhưng vị trời đi theo Đế Thích, có vị phát tâm bồ-đề, có vị đác quả A-na-hàm”.
Kinh Bách duyên ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, trong thành Xá-vệ có vợ của một trưởng giả hạ sinh được bé trai vô cùng xấu xí, chẳng khác gì ác quỷ, ai cũng xa lánh. Theo năm tháng, đứa bé ngày càng lớn, cha mẹ nó chán ghét, ruồng bỏ, đánh đuổi. Loài vật thấy đứa bé xấu xí ấy cũng sợ hãi, huống gì loài người.
Vào một ngày kia, nó vào rừng hái trái ăn để nuôi sống, chim muông, cầm thú thấy nó đều sợ hãi bay chạy tán loạn, không quay lại.
Đức Thế Tôn nghĩ thương, nên Ngài dẫn các ti-kheo vào rừng độ nó; nhưng vừa thây Đức Phật, nó liền chạy trốn. Đức Phật dùng thần lực khiến nó không thể bỏ đi được.
Khi ấy, các tì-kheo, đến bên gốc cây ngồi kiết già thiền quán.
Đức Thế Tôn hóa thành một người xấu xí, bưng bình bát đựng đầy cơm, từ từ đi về phía nó. Thấy có người hình tướng xấu xí giống mình, trong lòng nó rất hoan hỉ và nói người ấy chính là bạn của mình, liền đến chỗ người kia hỏi thăm nhau và ngồi ăn chung. Ăn xong, hóa nhân kia bỗng trở thành người xinh đẹp. Thấy vậy, người xấu xí ấy hỏi:
- Sao bỗng nhiên ông trở thành người đẹp vậy?
Hóa nhân đáp:
- Vì tôi ăn thức ăn này. Khi ăn, tôi dùng thiện tâm quán sát các vị tì-kheo đang ngồi thiền bên gốc cây kia nên được thân hình xinh đẹp.
Người xấu xí ấy nghe vậy, liền làm theo và thân hình cũng được xinh đẹp, trong lòng vui sướng tột cùng, càng tin tưởng hóa nhân hơn.
Bấy giờ, hóa nhân liền hiện lại thân Phật. Người xấu xí thấy Đức Phật có ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng khắp nơi, giống như trăm nghìn mặt trời, ông đến trước Đức Phật đỉnh lễ và ngồi sang một bên. Đức Phật nói pháp, người ấy vừa nghe liền chứng quà Tu-đà-hoàn, kế đó ông quỳ trước Đức Phật cầu xin xuất gia. Đức Phật nói:
- Thiện lai tì-kheo! Râu tóc người ấy tự rụng, đầy đủ pháp phục, trở thành sa-môn, tinh tấn tu tập, cuối cùng chứng quả A-la-hán.
Các tì-kheo thấy vậy, liền thỉnh Đức Phật nói nhân duyên đời trước của vị ấy. Đức Phật bảo:
- Trong vô lượng kiếp quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Phất-sa. Đức Phật ấy ngồi kiết già bên gốc cây. Lúc ấy, Ta và Di-lặc đều là bồ-tát cùng đi đến chỗ Đức Phật ấy cúng dường đầy đủ các thứ, đồng thời đứng nhón một chân suốt bảy ngày nói kệ ca ngợi:
Tất cả trời, người không bằng Phật
Mười phương thế giới cũng như thế
Những gì ở thế gian đều hay biết
Không ai có thể sánh bằng Phật.
Bồ-tát nói bài kệ này rồi, trong núi kia có một vị thần, thân hình xấu xí hiện đến dọa. Ta dùng thần lực làm cho đường đi của nó biến thành vách núi cao cheo leo hiểm trờ, không qua đến chỗ Ta được. Khi ấy, thần núi nghĩ: ‘Mình có tâm ác làm người ấy sợ, nên đường đi bỗng nhiên hiểm trở không đến đó được, mình nên đến chỗ người kia sám hối tội lỗi'. Thần núi nghĩ vậy rồi, liền đến chỗ người kia sám hối và phát nguyện rồi bỏ đi.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vị thần núi dọa Ta, nên mắc quả báo trong năm trăm đời có thân hình xấu xí, ai thấy cũng sợ hãi bỏ chạy. Nhưng vì lúc xưa ông ấy biết sám hối nên nay gặp được Ta, xuất gia và đắc đạo.
Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy đều hoan hỉ phụng hành”.
Có bài kệ:
Thần biến của Đại thánh
Tùy việc độ kẻ mê
Tài năng vượt trội người
Khai ngộ người hợp cơ
Hàng phục kẻ tà đạo
Hỏa hiện các thần thông
Ẩn hiện lợi chúng sinh
Làm phép tắc cao thượng
Chúng sinh dứt phỉ báng
Cảm ngộ được rốt ráo
Thầm vận dụng tự tại
Người gặp lòng cung kính
Ít gặp bậc thánh này
Và rồng linh siêu thế
Chúng sinh có phúc đức
Gặp được điểm lành này,
25.4. CẢM ỨNG
* Lời bàn
Đạo từ bi từ xưa đã được kình ngưỡng, pháp giáo hóa từ trước đến nay thật khó lường. Đây là bậc Đại
thánh xuất thế, chẳng phải khả năng cùa phàm tình Dù xét đến cùng vẫn không đạt được nguồn, truy cho tận cũng không thể thấu được đáy, Tuy thánh, phàm khác nhau, nhưng sự biến hóa có điểm đồng nhất. Bởi trí có cạn sâu, nên chướng có thô tế; căn cơ có đại tiểu nên pháp giáo hóa có rộng hẹp. Nếu thấu đạt nguồn gốc của sinh tử mới có thể gọi là biến hóa. Theo Phật giáo thì tin hiểu nhân quả, biết nhân duyên giả hợp mới biết biến hóa. Theo thế tục thì chưa đạt Đại phương10, chỉ tin duyên khởi, không y cứ vào nhân mà thành biến hóa.
Vì thế Thiên bảo kí ghi: “Trời có ngu khí, muôn vật hình thành từ đây. Mộc tinh là nhân, hỏa tinh là lễ, kim tinh là nghĩa, thủy tinh là trí, thổ tinh là ân. Người nào ngũ khí hoàn toàn thuần khiết là đã đầy đủ thánh đức. Mộc nhơ bẩn thì yếu hèn, hỏa nhơ bẩn thì dâm loạn, kim nhơ bẩn thì bạo ngược, thủy nhơ bẩn thì tham lam, thổ nhơ bẩn thì ngu dát, Ngũ khí hoàn toàn nhơ bẩn thì thành kẻ thấp hèn”,
Sở dĩ Trung thổ có nhiều thánh nhân là vi hòa khí tương giao; vùng biên địa có nhiều yêu quái là do dị khí phát. Nếu nhận khí chất này thì ắt sẽ có hình này; nếu có hình này thì sinh ra tính này. Vì thế, loài ăn ngũ cốc thì có trí tuệ và xinh đẹp; loài ăn cỏ cây thì có sức mạnh, nhưng ngu muội; loài ăn lá dân thì sinh tằm và có nhiều tơ; loài ăn thịt thì dũng cảm và hung dữ; loài ăn đất thì vô tâm và không thở; loài hớp khí thì tâm thần sáng suốt và sống lâu; loài không ăn thì không chết mà linh hiển. Đại yêu không có con đực, tiểu yêu không có con cái; vì không có con đực lên nó giao tiếp với loài khác, vì không có con cái lên nó nuôi dưỡng loài khác.
Loại côn trùng có ba giai đoạn chuyển hóa thì mang thai trước, giao hợp sau; loài thú kiêm ái tự đủ hai tính đực và cái; loài kí sinh sống nhờ vào cây cao, nấm Nữ La sống nhờ vào cây phục linh. Cây thì bám vào đất, bèo thì sống dưới nước, chim thì bay trên hư không, thú thì chạy trên mặt đất, trùng ẩn dưới đất, cá thì nặn nơi vực sâu. Thuộc trời thì thân gần ở trên, thuộc đất thì thân gần ở dưới, thuộc thời gian thì thân gần hai bên. Mỗi mỗi tùy theo giống loại của mình. Như chim chĩ nghìn năm xuống biển thành sò hến. Chim sẽ trăm năm xuống sông thì biến thành con trai. Rùa, ba ba nghìn năm nói được tiếng người. Chồn nghìn năm biến thành mỹ nữ. Rắn nghìn năm nếu thân bị đứt thì tự nối lại được. Chuột trăm năm có thể làm thầy xem tướng. Những loài ấy nhiều năm mà biến thành.
Mùa xuân chim ưng biến thành chim tu hú. Mùa thu chim tu hú biến thành chim ưng. Những loài này theo thời tiết mà biến hóa Cho nên. cỏ mục biến thành đom đóm, lau mực biến thành dế, lúa biến thành sâu mọt gạo. Lúa mạch biến thành bướm; hoặc do lông và cánh sinh ra, hoặc do mắt biến thành, hoặc do tâm trí tồn tại. Những loài này từ vô tri biến thành hữu tri mà khí chất thay đổi theo.
Chim hạc biến thành con mang, rắn biến thành ba ba, dế biến thành tôm. Những loài này tuy huyết khí không mất, nhưng hình thể và đặc tính biến đổi. Nhừng loài như thế này không thể kể hết; vì thuận theo biến mà động, nên gọi là thuận thường.
Nếu sai quy luật đó thì trở thành yêu họa. Cho nên, mới có việc trái nghịch là hạ thể sinh từ thượng khí. Người sinh ra thú, thú sinh ra người, đây là do khí loạn. Nam biến thành nữ, nữ biến thành nam, đây là do khí biến vậy.
Ở nước Lỗ có Công Ngưu Ai bị bệnh bảy ngày thì biến thành hổ, thân hình đổi khác, răng dài, móng nhọn. Anh của Ngưu Ai vào thăm, hổ liền bắt ăn thịt. Lúc Ngưu Ai làm người không biết sẽ hóa thành hổ, lúc làm hổ chẳng biết sẽ hóa thành người.
Niên hiệu Thái Khang (280-284) đời Tấn, Nguyễn Sĩ ở Trần Lưu thấy rắn bị thương, không nỡ thấy nó bị đau, nên ông ngửi mãi vết thương của nó, sau đó trong mũi ông có hai con rắn.
Niên hiệu Nguyên Khang (291-297), Kỉ Nguyên Tài ở Lịch Dương, có lần đang ăn mà nói về loài rùa. Không lâu sau, ông ta bệnh bón, uổng thuốc vào thì xổ ra mấy thăng rùa con, lớn như đồng tiền, đầy đủ đầu chân, mai, giáp; rùa bị trúng thuốc đã chết.
Ngửi không phải khí để sinh trưởng, mũi không phàỉ là nơi để thụ thai, ăn và nói chẳng phải dụng cụ đề sinh, Từ đây mà quán sát thì sự sinh tử và biến hóa cùa vạn vật chẳng phải do suy nghĩ của thần linh, dù tự trách chính mình thì họa cũng tự đến. Như vậy có mục biến thành đom đỏm, là do sự mục nát. Lúa mì biên thành bươm bướm, là do sự ẩm ướt. Vì thế, sự biến hóa của muôn vật đều có nguyên nhân.
Người nông dân muốn ngăn sự chuyển hóa của lúa mì, nên dùng tro ngâm chúng. Bậc thánh nhân thấu suốt sự chuyển hóa cùa vạn vật, nên dùng đạo cừu giúp, Điều ấy không hợp lý sao?
Nay xem những việc đă biết được, thật chưa đủ để cừu xét đến tận cùng của sự biến hóa ấy. Đây là do bản thức cùa chúng sinh và tạp nghiệp huân tập thành. Do hạt giống đã chín, mượn duyên bên ngoài đã thành thì loài có tình thức và không có tình thức đều theo đó mà biển đổi. Nếu trước không có hạt giống, dù có gặp được duyên thì duyên mỏng, sức yếu, nên không thể biến hóa được. Nhân phải nhờ vào duyên, vì chi có hạt giống thì khỏng thể tự thành. Duyẻn phải nhờ vào nhân, vì chỉ có duyên thì không thể tự thành. Nhân và duyên hòa hợp, năng lực và tác dụng ngang bằng thì muôn vật mới sinh khởi, chứ chỉ có một thì không thể nào thánh lập. Mong rằng các bậc trí đời sau không có những suy đoán khác!
25.4.1. Tả Từ: Ông tự Nguyên Phóng, quê ở Lô Giang, giỏi thần đạo16. Có lần ông ngồi nói chuyện với Tào Công.
Tào Công nói:
- Hôm nay có đại yến tiệc, nhưng tiếc là không bắt được cá lư ở sông Tùng đất Ngô để làm chả.
Nguyên Phóng nói:
- Tôi có thể bắt được.
Thế là ông ta tìm một cái chậu đồng chứa đầy nước, lấy cần câu móc mồi thả vào trong chậu, lát sau ông kéo lên một con cá lư. Tào Công vỗ tay lớn và những người dự yến tiệc đều kinh ngạc.
Tào Công nói: “Chỉ có một con không đủ cho bữa tiệc, nếu được hai con thì quá tốt”.
Nguyên Phóng lại móc mồi vào lưỡi câu thả vào chậu đồng. Bỗng chốc ông kéo lên con cá lư, đều dài hơn ba thước, còn sống và rất đẹp. Tào Công lập tức cho người làm chả rồi ban cho tất cả những người trong bữa tiệc.
Tào Công lại nói:
- Nay đã có cá lu, tiếc là còn thiếu gừng ở đất Thục.
Nguyên Phóng nói:
- Tôi kiếm được!
Tào Công sợ Nguyên Phóng mua ở gần đây, nên nói:
- Trước đây tôi có sai người sang nước Thục mua gấm, ông có thể nhờ người ấy nói với người của tôi mua thêm hai tấm gấm nữa.
Người kia đi một lúc lại mang gừng tươi về và nói: “Tôi gặp người của Tào Công ở hàng bán gấm và đã truyền lệnh mua thêm hai tấm gấm.
Hơn một năm sau, người của Tào Công mới trở về và quả nhiên có mua thêm hai tấm gấm. Hỏi ra, người ấy nói: “Lúc trước, vào ngày tháng năm đó có gặp người ở hàng bán gấm, người ấy đã truyền lệnh của Tào Công mua thêm hai tấm”.
Sau đó Tào Công ra vùng ngoại ô có khoảng một trăm người theo hầu. Bấy giờ, Nguyên Phóng mang một bầu rượu, một miếng thịt khô và tự tay rót rượu cho bá quan, họ đều uổng rượu no say. Tào Công trở về kiểm tra rượu thịt, người giữ rượu thịt nói: “Hôm qua đã mất hết số rượu thịt đó”.
Tào Công ghét và âm thầm tìm cách giết Nguyên Phóng. Một hôm, Nguyên Phóng đang ngồi với Tào Công, ông lệnh quân lính bắt, Nguyên Phóng liền ép vào tường và bỗng nhiên biến mất. Tào Công sai người đi khắp nơi tìm kiếm bắt ông ta. Có người thấy ông ở trong chợ, muốn bắt thì tất cả người trong chợ đều có hình dáng giống như Nguyên Phóng. Sau đó, có người thây Nguyên Phóng ở trên đỉnh núi Dương Thành, mọi người liền đuổi đến, thấy Nguyên Phóng đi vào trong đàn dê. Biết Nguyên Phóng ở trong đàn dê, nên người thi hành lệnh bắt nói dối: ‘‘Tào Công không còn muốn giết ông ấy nữa! Chỉ muốn biêt đạo thuật của ông. Nay đã biết, giờ chi muốn gặp ông thôi!”
Bính lính nói vừa dứt lời, bỗng có một con dê đực lớn từ trong đàn đến đứng co hai chân trước như người và nói: “Há có việc như vậy ư?” Người kia nói: “Chính là con dê này rồi!” Bấy giờ, mọi người tranh nhau đến bắt con dê, nhưng bầy dê mấy trăm con bỗng nhiên đều biến thành dê đực đứng trước như thế và cùng nói: “Há có việc như vậy ư?” Lúc ấy, mọi người không biết bắt con nào.
Lão Tử nói: “Sở dĩ ta bị họa lớn vì ta có thân, nếu ta không có thân thì đâu có họa?”.
Nếu Lão Tử mà có thể cho là có khả năng không thân, há chẳng xa vời lắm sao!
25.4.2. Thiệt Đóa sơn vương: Con gái của Thiệt Đóa sơn vương chết hóa làm cỏ yêu quái. Có lá và hoa màu vàng, trái giống như hạt cỏ Thố ti. Cho nên nếu uống loại cỏ quái này, thì thường xinh đẹp hơn người.
25.4.3. U vương: Đời Chu Tuyên vương, năm thứ ba mươi ba (794. BC), U vương ra đời. Năm đó có con ngựa biến thành chồn.
25.4.4. Đời Tấn, Tuệ vương: Tấn Hiến công năm thứ hai (653. BC), bấy giờ Chu Tuệ vương đang ở nước Trịnh. Khi ấy, người nước Trịnh vào vương phủ, phần nhiều đều bị hại chết. Trành Hoằng cũng bị chúng hại chết. Người nước Thục giữ máu của ông ta lại, ba năm sau máu biến thành ngọc bích.
25.4.5. Đời Hán, người biến thành ba ba: vào đời Hán Linh đế (156-189), ở Giang Hạ có người mẹ họ Hoàng ngâm mình trong bồn nước một hồi lâu mà không ra, mà biến thành con ba ba. Tì nữ kinh hãi chạy đi gọi mọi người trong nhà lại xem thì con ba ba dần dần lặn xuống sâu. Sau đó, nó thường xuất hiện. Lúc tắm bà có cài cây trâm bạc trên đầu, nay vẫn còn trên đầu con ba ba. Từ đó, người họ Hoàng nhiều đời không dám ăn thịt ba ba.
Đến đời Ngô, mẹ của Tuyên Khiên: vào ngày ba mươi tháng sáu, niên hiệu Bảo Đinh thứ nhất (266), đời Ngô, ở Đơn Dương có mẹ của Tuyên Khiên đã tám mươi
tuổi, tắm trong hồ cũng biến thành ba ba, hình trạng giống như người mẹ họ Hoàng. Bốn anh em Tuyên Khiên đóng cửa lại, thav nhau canh giữ; rồi họ đào một cái hố lớn giữa nhà, đổ nước vào vá thả ba ba trong đó cho bơi lội. Cứ một hai ngáy nó trồi đầu lên, rình chờ cửa mở, khi cửa mớ hé, nó liền bỏ đi và lặn xuống vực sâu, không trở lại.
25.4.6. Người biến thành thú: Cha của vua Vũ, nhà Hạ tên Cổn biển thành con gấu váng. Con của Hán Tổ là Triệu vương Như Ý biến thành chó xanh.
25.4.7. Nữ biến thành nam: Tương vương năm thứ ba (648), đời Ngụy, có một người con gái tự thú nhận mình đã biến thành nam giới và cưới vợ sinh con.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Nữ biến thành nam, là âm thịnh; kẻ thấp hèn làm vua, nam biến thành nữ, là âm thắng dương, là họa diệt vong”.
Khoảng niên hiệu Nguyên Khang (291-297), đời Tấn, ở An Phong có người nữ tên là Chu Thế Ninh, năm lên tám tuổi, dần dần biến thành nam. Đến năm mười bảy, mười tám tuồi tính nữ mới thành. Nhưng thân thể người nữ biến chuyển không hết và thân thể người nam hình thành không trọn. Nên tuy cưới vợ mà không có con.
25.4.8. Nam biến thành nữ: Khoảng niên hiệu Kiến Bình (6. BC) nhà Hán, ở Dự Chương có người nam biến thành nữ và lấy chồng sinh được một người con.
Trần Phượng ở Trường An nói: “Dương biến thành âm là điềm sắp tuyệt tự. Sinh được một người con, là điềm còn một đời nữa là tuyệt dòng giống”. Vì thế, khi Ai đé thăng hà, Bình đế cũng qua đời và Vương Mãng cướp ngôi.
Khoảng niên hiệu Kiến An thứ bảy (202), ở Việt Tây có một người nam biến thành nữ. Chu Quần nói: “Vào thời Ai đế cũng có sự hoán chuyển giống như thế, là điềm sắp thay đổi triều đại”. Thật vậy, đến niên hiệu Kiến An thứ hai mươi lăm (220), Hiến đế bị giáng làm Sơn Dương công.
25.4.9. Một người có hai bộ phận sinh dục: Vào đời vua Tuệ Hoài nhà Tấn, ở kinh đô Lạc Dương có người một thân mà hai bộ phận sinh dục của nam và nữ. Cả hai đều có khả năng hành dâm và rất dâm loạn, là điềm thiên hạ có chiến tranh. Khí nam nữ hỗn loạn, tạo thành thân hình kì dị.
Đang thời kì hưng thịnh mà có người nữ ở Dương châu, xuất hiện âm đạo ở bụng, người ấy cũng rất dâm loạn.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Người sinh con có âm đạo ở đầu thì thiên hạ đại loạn; nếu âm đạo xuất hiện ở bụng thì thiên hạ có biến; âm đạo xuất hiện ở lưng thì thiên hạ không có người kế thừa”.
25.4.10. Nhà Hán, người mọc sừng: Tháng chín, đời Cảnh đế năm thứ nhất (157BC), có người họ Giao ở Đông Hạ, nước Mật Tu, năm hơn bảy mươi tuổi thì mọc một cái sừng, trên sừng có lông.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Trị nước có lỗi lầm nên người mọc sừng”. Ngũ hành chí ghi: “Người không thể mọc sừng, giống như các nước chư hầu không nên khởi binh đánh vào kinh đô”. Nhưng sau đó, có nạn bảy nước khởi tranh.
25.4.11. Gà mái hóa thành gà trống: Niên hiệu Hoàng Long thứ nhất (49BC), thời Tuyên đế nhà Hán, ở trong chuồng ngựa tại điện Vị Ương có một con gà mái hóa thành gà trống, lông của nó cũng đổi màu, nhưng không biết gáy, không có đàn và không có cựa.
Vào khoảng niên hiệu Sơ Nguyên (48-43BC), đời Nguyên đế, trong phủ thừa tướng có con gà mái hóa thành gà trống có mồng và cựa, khi gáy thì cả đàn đều tụ tập.
Đến niên hiệu Vĩnh Quang (43-3 8BC), có người tặng cho một con gà trống mọc sừng. Bộ Ngũ hành chỉ ghi: “Đó là điềm ứng vào họ Vương”.
25.4.12. Còng và cua biến thành chuột: Niên hiệu Thái Khang thứ tư (283), đời Tấn, tại quận cối Kê, còng và cua đều hóa thành chuột, đầy đồng nội, ăn phá hết lúa. Lúc chúng mới chuyển thành chỉ có lông và thịt, không có xương, không thể bò qua bờ ruộng, nhưng vài ngày sau thì chúng lớn mạnh.
Đến năm thứ sáu (285), ở Nam Dương bắt được một con hổ chỉ có hai chân. Hổ thuộc âm tinh mà ở nơi dương. Kim thuộc thú, Nam Dương thuộc hỏa. Kim tinh mà nhập hỏa thì hình trạng biến đổi, đây là điềm yêu quái nhiễu loạn vương thất.
25.4.13. Cá trê biến hình: Khổng Tử gặp nạn tại nước Trần, thầy trò đang ngồi đàn ca trong hội quán, đêm xuống có một người cao hơn chín thước, mặc áo đen, đội mũ cao, giọng nói rất lớn làm chấn động mọi người. Tử Cống liền đến hỏi: “Ông là ai?”
Ông ta liền kéo Tử cống đi. Tử Lộ đến, dẫn ra sân đánh nhau một trận mà chưa phân thắng bạỉ. Không Tử ra xem thấy chiến xa liên tục mở ra như đánh chưởng. Khổng Tử nói: “Sao ông không nắm chiến xa mà đưa lên?”. Tử Lộ liền làm theo, rồi liền hạ tay đẩy xuống đất, chính là một con cá trê lớn, dài hơn chín thước. Khổng Tử than:
- Con vật này vì sao đến đây? Ta nghe con vật già thì các loài tinh linh dựa vào, do suy yếu mà đến, chứ đâu phải vì ta gặp nạn hết lương thực và người đi theo bị bệnh mà đến? Lục súc và rùa, rắn, cá, ba ba, cỏ cây lâu năm, các thần nương vào đó làm yêu quái, cho nên gọi là ngũ dậu. Ngũ dậu là các phương vị của ngũ hành đều có vật đó. Dậu nghĩa là già, cho nên vật lâu năm thì thành yêu quái, giết rồi thì thôi, có gì mà lo sợ? Hoặc là vì trời chưa làm mất văn này, cho nên mới buộc mệnh ta? Nếu không phải như vậy, vì sao lại đưa đến việc này?”.
Rồi Khổng Tử tiếp tục đàn ca không dừng. Khi ấy, Tử Lộ nấu cá, vị rất ngon, người bệnh liền khỏe. Sáng hôm sau, thầy trò Khổng Tử đi nơi khác.
25.4.14. Đời Tấn, người biến thành hổ: Vào khoảng niên hiệu Nghĩa Hi (405-419), đời Tấn, một nhân viên của quận tên là Dị Bạt ở quận Dự Chương đến phiên, nhưng lại về nhà ẩn trốn. Quận sai người đi tìm, gặp Bạt vẫn nói bình thường, như không có việc gì xảy ra. Người sứ thúc dục ông chuẩn bị hành lí nhanh chóng lên đường. Bạt nói: “ông xem mặt tôi sẽ thấy!”. Người ấy thấy Bạt hai mát căng rộng, thân có đốm màu vàng, lại dựng đứng một chân, rồi vọt ra cửa đi mất. Người nhà vào núi tìm, vừa đến chân núi thì thấy Bạt hóa thành con hổ lớn ba chân, còn cái chân dựng đứng biến thành đuôi.
25.4.15. Đời Tấn, Bành Nga: vào niên hiệu Vĩnh Gia (145), thiên hạ loạn lạc, các quận huyện đều không có người đứng đầu, mạnh yếu đánh nhau. Bấy giờ, ở huyện Nghi Dương có một người nữ tên Bành Nga, cha mẹ và anh em của cô hơn mười người đều bị giặc Trường Sa giết hết.
Lúc ấy, Nga cầm bình ra suối lấy nước, nghe có giặc đến liền chạy về, thấy giặc đã phá bờ thành, không nén được nổi đau trong lòng, cô lao vào thí mạng với giặc và bị giặc bắt trói đem ra bờ suối định giết. Bên suối có một ngọn núi lớn vách cao mấy chục trượng, Nga ngửa mặt và nói: “Trời không hiển linh sao? Tôi có tội gì mà phải chịu như vậy?”. Nói xong, cô chạy nhanh về hướng núi, núi liền mở ra một con đường rộng vài trượng rất bằng phẳng. Nga liền chạy vào con đường ấy,
quân giặc lập tức đuổi theo thì núi bít lại như cũ, quân giặc bị ép chết hết. Từ đó, Nga ẩn luôn không xuất hiện nữa. Cái bình lấy nước của Nga rơi xuống hóa thành tượng đá hình dáng giống như con gà, nên nhân dân gọi là núi Thạch Kê. Dòng suối mà cô lấy nước gọi là Nga đàm.
25.4.16. Đời Tấn, mẹ của Ngô Đạo Tông: Vào niên hiệu Nghĩa Hi thứ tư (408), đời Tấn, có Ngô Đạo Tông ở huyện Thái Mạt, quận Đông Dương, mất cha từ thuở bé, một mình ở với mẹ, chưa có vợ con, Tông đi làm thuê nên thường vắng nhà.
Một hôm, người hàng xóm nghe trong nhà Tông có tiếng “Bách! Bách!” họ nhìn vào khe cửa thì không thấy mẹ của Tông mà chỉ thấy một con hổ, lông loang đen ở trong nhà. Dân làng kinh hãi, sợ hổ vào nhà ăn thịt mẹ của Tông, liền đánh trống nhóm họp mọi người đến cứu bà. Họ vây quanh nhà rồi xông vào, nhưng không thấy con hổ mà chỉ gặp mẹ của Tông nói chuyện bình thường. Mọi người đều ngỡ ngàng, không biết việc ấy thế nào!
Sau đó, Tông trở về, người mẹ nói: “Do tội lỗi kiếp trước truy bức nên có việc biến hóa như thế”. Một tháng sau, người mẹ lại biến mất. Cùng lúc đó, trong huyện xảy ra nạn hổ dữ. Mọi người nói: “Người mẹ của Tông chính là hổ lông loang đen”. Nhân dân lo sợ, nên phát động mọi người cùng nhau đuổi giết hổ. Nhưng cũng vì thế mà họ bị hổ hại chết mấy người.
Sau đó, có người bắn hổ, thả chim ưng truy đuổi và dùng kích đâm trúng bụng, nhưng vẫn không bắt được nó. Vài ngày sau, hổ trở về nhà nằm trên giường cũ, nhưng không thể biến lại hình người được. Sau đó, nó nằm chết trên giường. Người con gào khóc, chôn cất giống như lễ tang của mẹ mình và sớm tối tiếc thương, cúng viếng mẹ.
25.4.17. Ăn thịt trâu biến thành hổ: Vào đời Tấn, trong một làng thuộc huyện Phục Dương, có đứa bé chăn trâu của một gia đình nọ. Một hôm, bỗng nhiên trâu lè lưỡi liếm đứa bé, chỗ trâu liếm đó, thịt đều biến màu trắng. Vài ngày sau đứa bé qua đời. Sau khi mai táng đứa bé xong, người nhà giết con trâu đó để đãi khách. Hơn hai mươi nam nữ ăn thịt trâu ấy đều biến thành hổ.
25.4.18. Không lượng sức mình: Viêm đế có một người con gái rất xinh đẹp. Một hôm, cô dạo chơi trong biển Đông chẳng may bị chết đắm và hóa thành Tinh Vệ. Hình dáng Tinh Vệ giống như con quạ, thường tha gỗ, đá ở Tây Sơn để lấp biển Đông.
Khoa Phụ chạy đua với mặt trời bị khát, đến uống nước ở Hoàng hà, nước sông cạn không đủ để uống, lại chạy sang hướng bắc uống nước ở một cái đầm lớn, chưa đến nơi thì đã chết. Chỗ cây gậy của ông rớt hóa thành rừng cây.
25.4.19. Hổ phách: Bác vật chí ghi: “Nhựa tùng chảy xuống đất, một nghìn năm sau biến thành phục linh. Phục linh một nghìn năm biến thành hổ phách. Hổ phách còn có tên gọi khác là giang châu. Nay ở núi Thái có phục linh, nhưng không có hổ phách. Ở ích châu, Vĩnh Xương có hổ phách, nhưng không có phục linh”.
Hoặc có thuyết lại nói đốt tổ ong tạo thành hổ phách. Hai thuyết này chưa biết thuyết nào đúng.
Kinh Thần nông bản thảo ghi: “Lấy hoàng bạch và vỏ trứng gà trộn lẫn với nhau, rồi nấu cho chín. Trong lúc còn mềm tùy ý khắc thành các vật, sau đó dùng men rượu ngâm vài ba đêm, vật đó sẽ cứng. Hoặc bỏ nó vào trong bột gạo thì giống như hổ phách thật”.
25.4.20. Cỏ cây biến thành súc vật:
Hàn thi ngoại truyện ghi: Khổng Tử nói: “Rau hẹ lâu năm biến thành cỏ quán; cỏ bồ lâu năm biến thành cây lau”.
Sưu thần kí ghi: “Ong đất còn có tên gọi là quả lõa. Người đời nay gọi là yết ong. Là một loại vật có eo nhỏ, chỉ có con trống mà không có con mái, chúng không giao hợp và sinh sản. Chúng thường bắt con kén tằm về nuôi dưỡng, những con kén đó về sau đều biến thành con của chúng”.
25.4.21. Đời Tấn, Chu Phỏng: Chu Phỏng lúc trẻ từng theo các thương buôn đến Tố Giang. Đêm nọ, họ ngủ lại bên cạnh miếu Cung Đình, một người trong đoàn hỏi: “Có ai dám vào trong miếu ngủ không?”. Chu Phỏng là người can đảm, quả quyết nên liền vào trong miếu ngủ. Chu Phỏng ngủ một đêm an ổn. Sáng ngày thức dậy, ông thấy trong miếu có một cái đầu râu tóc bạc trắng. Chu Phỏng nhặt lấy thì nó liền biến thành con vịt đực. Phỏng bắt đem xuống thuyền chưa kịp làm thịt thì nó vụt bay mất. Từ đó về sau miếu không còn hiển linh nữa.
25.4.22. Đầu lìa khỏi thân: Ở phương nam có một người tên là Lạc Dân, đầu ông ta có thể lìa thân bay đi. Người trong bộ tộc, khi cúng tế ông thường gọi là Trùng Lạc, nhân đó đặt tên bộ tộc là Trùng Lạc.
Vào đời Ngô, tướng quân Chu Hoàn bắt được một tì nữ; mỗi đêm sau khi nằm ngủ, đầu nó tự bay đi, hoặc chui qua lỗ chó, hoặc ra vào qua cửa sổ, dùng hai tai làm cánh để bay đi, gần sáng lại bay trở về. Cô ấy làm nhiều lần như thế, nên những người bên cạnh lấy làm lạ, nửa đêm họ rọi đèn xem thì chỉ thấy thân mà không có đầu, thân thể lạnh ngắt, hơi thở yếu ớt, họ lấy chăn trùm kín thân. Đến sáng, đầu bay trở về, nhưng thân đã bị phủ mền nên không ráp lại được, rơi xuống đất hai, ba lần, than thở rất sầu não và thân thể thở gấp giống như sắp chết. Thấy vậy, họ kéo tấm chăn ra và cái đầu bay lên ráp vào cổ; một lát sau cô ấy bình phục như cũ.
Chu Hoàn cho là yêu quái, nên sợ hãi không dám nuôi nữa va đuổi đi. Không lâu sau, họ mới biết đó là thiên quái.
Đại tướng chinh phạt ở phương nam cũng nhiều lần bắt được người tì nữ ấy, có lần lấy mâm đồng đậy kín thân, vì thế đầu không thể ráp lại được và chết.
25.4.23. Anh em cùng mẹ lấy nhau: Ngày xưa, trong họ Cao Dương có hai anh em một trai một gái cùng mẹ sinh ra, nhưng lại lấy làm vợ chồng. Cao Dương đế bỏ chúng trong núi Không Động. Chúng ôm nhau chết. Bấy giờ có con chim thần lấy cỏ Bất tử che chúng lại.
Bảy năm sau, có người sinh ra một đứa con, một thân mà có đủ hai bộ phận nam và nữ, hai đầu, bốn chân, bốn tay. Đó là Mông Song Thị.
25.4.24. Thuật biến người thành hổ: Vào đời Ngụy, ở trong núi phía bắc, huyện Tầm Dương, có một người thuộc dân tộc thiểu số biết pháp thuật, có thể biến người thành hổ, hình dáng, màu lông đều giống như thật.
Bấy giờ, ở làng khác có một người tên Chu Chẩn. Một hôm, Chu Chẩn sai người nô bộc vào núi đốn củi. Người ấy dẫn theo vợ và em gái. Khi đến núi, ông nói với vợ và em gái: “Hãy leo lên cây cao xem tôi biến hóa”. Hai người kia leo lên cây như lời ông dặn.
Sau đó, ông chui vào trong đám cỏ, bỗng chốc có một con hổ vàng lớn từ trong bụi cỏ đi ra, dáng vẻ hung dữ, gầm rống đáng sợ. Hai người kia vô cùng sợ hãi. Một
hồi lâu, hổ chui vào lại trong bụi cỏ, rồi chẳng mấy chốc biến thành người trở lại và dặn hai người kia: “Về nhà chớ nói cho ai biết”. Nhưng sau đó, hai người kia cũng nói cho mọi người biết.
Chu Chẩn biết được việc ấy, bèn dùng một loại rượu mạnh phục cho tên nô bộc uống say rồi sai người cởi hết y phục, xem khắp thân thể, nhưng không thấy có gì khác lạ, ngoài một tờ giấy giấu trên tóc vẽ hình một con hổ lớn, bên hình con hổ có vẽ bùa. Chu Chẩn âm thầm giấu tờ giấy. Khi tên nô bộc tỉnh rượu, Chu Chẩn gọi hắn lại hỏi. Biết sự việc đã bại lộ, hắn liền trình bày rõ ràng: “Trước đây, có lần đi mua lương thực ở phía nam, tôi đã dùng ba thước vải, một đấu gạo, một con gà trống tía, một đấu rượu để đổi lấỵ pháp thuật này của một người thuộc dân tộc thiểu số phương nam”.
26. CHƯƠNG NGỦ MỘNG
26.1. LỜI DẪN
Vốn chỉ một tâm mà chứa cả ba cõi, như tâm si mê, tâm biếng lười, tâm tán loạn, tâm mờ mịt. Dù muốn tìm hiểu ranh giới của tâm, cũng khó suy lường được. Vì thế, thân này từ vô thỉ cho đến ngày nay, bị luân chuyển trong sinh tử trải qua vô lượng vô số kiếp không thể tính biết được. Như sáng tối đổi thay, nợ sinh tử thật không thể ví dụ. Như dòng nước cứ dần trôi, mạng sống thật khó bảo toàn. Vả lại, lẽ thịnh suy thì thuận theo thời gian, trạng thái mộng là do tâm động. Động là do bên trong phân biệt, cảnh là do bên ngoài huân tập. Do cảnh huân tập có tốt xấu nên mộng đầy đủ ba tính. Như quá khứ tạo thiện ác thi mộng có lành dữ, đây là hữu kí. Nếu hành động không thiện, không ác, mọi việc đều bằng nhau thì gọi là vô kí. Nếu ban ngày chỉ nhìn thấy màu xanh, màu vàng, đêm mộng tưởng giống như vậy, đây là tưởng mộng. Nếu thấy nước lửa, lên xuống xâm đoạt nhau, gọi là bệnh mộng. Tuy mộng đầy đủ cả ba tính, nhưng có quả báo và không có quả báo. Nếu muốn biết được điều này, xin xem đọc những kinh dưới đây.
26.2. BA TÍNH
Luật Thiện kiến ghi: “Có bốn nguyên nhân sinh mộng: do bốn đại bất hòa, do trước đã thấy, do trời người báo, do tưởng.
Hỏi: Thế nào là mộng do bốn đại không điều hòa?
Đáp: Mộng thấy núi sụp lở, thân hình bay bổng lên hư không, hoặc thấy hổ, sói, sư tử, giặc cướp rượt đuổi, mộng này không có thật.
Hỏi: Thế nào là mộng do trước đã thấy?
Đáp: Do ban ngày thấy cảnh tượng như màu trắng, đen, nam, nữ..., ban đêm nằm mộng thấy lại giống như vậy, mộng này cũng không thật.
Hỏi: Thế nào là mộng do trời báo?
Đáp: Nếu người tu thiện thì cảm được chư thiên hiện cho thấy mộng lành, khiến cho thiện căn người đó tăng trưởng. Nếu người làm ác thì chư thiên cho thấy ác mộng, mộng này có thật.
Hỏi: Thế nào là mộng do tưởng?
Đáp: Người thấy mộng, nếu đời trước tạo nhiều phúc đức thì thấy được mộng lành, gây nhiều tội ác thì thấy ác mộng. Như thuở xưa, lúc bồ-tát muốn nhập thai, hoàng hậu Ma-da nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà từ cung trời Đao-lợi giáng trần, nhập hông phải của bà. Đây chính là mộng do tưởng. Mộng thấy lễ Phật, tụng kinh, trì giới, bố thí và gieo trồng các công đức, cũng gọi là mộng do tưởng.
Hỏi: Mộng là thiện, bất thiện hay vô kí?
Đáp: Mộng có lúc thiện, có lúc bất thiện, có lúc vô kí. Nếu mộng thấy lễ Phật, nghe pháp, thuyết pháp, là mộng thiện. Mộng thấy sát sinh, trộm cắp, tà dâm là mộng bât thiện. Mộng thấy các màu xanh, đỏ, vàng, trắng v.v... là mộng vô kí.
Hỏi: Như vậy, nằm mộng có chịu quả báo không?
Đáp: Không! Vì sao? Vì tâm nghiệp yếu ớt, nên không chiêu cảm quả báo. Cho nên các bộ luật có ghi: ‘Trong mộng thì không phạm”’.
Luận Ca-diên ghi: “Hỏi: Thụy và miên tưong ưng với nhau không?
Đáp: Có lúc thụy không tương ưng với miên. Vì lúc chưa miên thì thân tâm không thư thái, thân tâm nặng nề, lờ đờ, mê mờ, buồn ngủ, bị thụy ràng buộc, nên gọi là thụy không tương ưng với miên.
Hỏi: Thế nào là miên không tương ưng với thụy?
Đáp: Ngủ say với tâm không ô nhiễm.
Hỏi: Thế nào là thụy tương ưng với miên?
Đáp: Ngủ say với tâm ô nhiễm.
Hỏi: Thế nào là không miên không thụy?
Đáp: Trừ các trường hợp trên.
Hỏi: Miên là thiện, bất thiện hay vô kí?
Đáp: Miên có thể là thiện, hoặc bất thiện, hoặc vô kí.
Hỏi: Thế nào gọi miên là thiện?
Đáp: Vì khi ngủ với tâm thiện.
Hỏi: Thế nào gọi miên là bất thiện?
Đáp: Khi ngủ với tâm bất thiện.
Hỏi: Thế nào gọi miên là vô kí?
Đáp: Ngoài hai trường hợp trên.
Như trong giấc mộng thấy mình bố thí, giữ giới, trì trai... là ngủ với tâm thiện. Tâm hồi ức lại những việc làm phúc trước đó, gọi là thiện.
Hỏi: Thế nào là những việc làm không có phúc đức trong lúc ngủ, là hồi ức?
Đáp: Như trong giấc mộng thấy mình giết hại, trộm cướp... là ngủ với tâm bất thiện. Tâm nhớ lại những việc làm không có phúc đức, gọi là bât thiện.
Hỏi: Thế nào là thấy việc làm có phúc đức và không có phúc đức trong lúc ngủ không phải hồi ức?
Đáp: Lúc ngủ tâm không hồi ức những việc làm có phúc và không có phúc, tức là ngủ với tâm vô kí, thì những việc làm có phúc và không phúc mộng thấy lúc ấy không phải hồi ức.
Hỏi: Mộng là pháp gì!
Đáp: Là vô minh, một trong ngũ cái.
26.3. TÍNH THIỆN
Kinh Xuất sinh Bồ-đề tâm ghi "Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo bà-la-môn Ca-diếp
- Này thiện nam tử! Có bốn loại mộng thiện thuộc về thắng pháp. Đó là: mộng thấy hoa sen, thấy có lọng che, thấy trăng tròn, thấy hình Phật. Người nào thấy như vậy nên vui mừng tự nghĩ: ‘Nay ta may mắn gặp được thắng pháp’. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ:
Nếu nằm ngủ mộng thấy hoa sen Hoặc là mộng thấy lọng báu che Lại ở trong mộng thấy trăng tròn Sẽ được lợi ích rất lớn lao.
Hoặc mộng thấy hình tượng Đức Phật Các tướng đầy đủ trang nghiêm thân Chúng sinh thấy vậy, nên vui mừng Nghĩ sẽ thành bậc Điều Ngự Sư ”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Ác Sinh vương là một ông vua tin theo tà kiến, bản tính tàn bạo, không có lòng nhân từ. Một hôm, đức Như Lai sai ngài Ca-chiên-diên đến nước đó giáo hóa, Ác Sinh vương và phu nhân đều sinh lòng tin Phật pháp. Sau đó, đại phu nhân của vua tên là Thi-bà-cụ-sa sinh được vị thái tử tên Kiều-bà-la.
Bấy giờ, Ác Sinh vương nằm mộng thấy tám việc:
1. Trên đầu lửa cháy.
2. Hai con rắn quấn ngang hông mình.
3. Lưới sắt nhỏ quấn vào thân.
4. Thấy hai con cá hồng ngậm hai chân.
5. Thấy bốn con hạc trắng bay đến chỗ ông.
6. Đi trong vùng bùn máu, ngập đến nách.
7. Leo lên núi Thái Bạch.
8. Thấy chim quán tước đại tiện trên đầu mình.
Ác Sinh Vương tỉnh mộng cho là điềm không
tốt, nên buồn bã, tiều tụy, liền hỏi các vị ngoại đạo bà-la-môn. Các ngoại đạo vốn không thích vua và ghét tôn giả Ca-chiên-diên, nay nhân nghe vua mộng như vậy liền nói:
- Đây là mộng không lành, nếu không cúng tế giải trừ thì vua sẽ gặp họa!
Vương nghe họ nói thế, cho là đúng, càng buồn bã lo lắng hơn và hỏi:
- Nếu cúng tế, trừ họa, thì cần những vật gì?
Các bà-la-môn nói:
- Những vật dùng để cúng tế đều được bệ hạ yêu thích và quí trọng, dù chúng tôi nói ra bệ hạ không thể cung cấp được.
Vua nói:
- Mộng này rất xấu, chỉ sợ họa lớn liên lụy đến thân ta. Ngoài thân ta ra những thứ khác ta không tiếc gì cả, xin các vị cứ nói những phẩm vật cần dùng!
Các bà-la-môn biết vua tha thiết, liền nói:
- Mộng này có tám việc, nên cần phải có tám loại phẩm vật để cúng tế mới trừ được họa:
1. Giết phu nhân Thi-bà-câu-sa.
2. Giết thái tử Kiều-bà-la.
3. Giết quan Tể tướng.
4. Giết chim thần của bệ hạ.
5. Giết con voi một ngày đi ba nghìn dặm của bệ hạ.
6. Giết con lạc đà một ngày đi ba nghìn dặm của bệ hạ.
7. Giết ngựa hay của bệ hạ.
8. Giết gã đầu trọc Ca-chiên-diên mà vua tôn kính.
Từ nay đến bảy ngày sau, nếu giết tám vật này, dồn máu chúng lại rồi lội vào trong đó thì sẽ trừ được họa.
Nghe các đạo sĩ bà-la-môn nói vậy, vua cho mạng mình là quan trọng, nên liền chấp nhận. Vua trở về cung mà trong lòng vô cùng buồn rầu, lo lắng.
Thấy vậy, phu nhân hỏi:
- Tại sao bệ hạ buồn vậy?
Vua nói cho phu nhân nghe giấc mộng không lành và những lễ vật mà các bà-la-môn cần.
Phu nhân nghe vua nói vậy liền tâu vua:
- Chỉ cần bệ hạ được bình an vô sự, chứ tấm thân hèn mọn cùa thiếp đây nào có đáng gì!
Phu nhân lại tâu:
- Thiếp bằng lòng bảy ngày sau sẽ quay lại chịu chết, nhưng xin bệ hạ cho thiếp đến chỗ tôn giả Ca-chiên-diên, trong vòng sáu ngày ấy thiếp ở đó thụ trai, nghe pháp.
Vua nói:
- Không được! Nếu phu nhân đến đó nói hết sự thật, Ca-chiên-diên biết được sẽ bỏ trẫm đi mất.
Thấy phu nhân tha thiết quá, vua không nỡ từ chối, đành bằng lòng để phu nhân đến gặp tôn giả Ca-chiên-diên. Phu nhân đến đỉnh lễ tôn giả Ca-chiên-diên, thăm hỏi và ở lại ba ngày. Tôn giả thấy lạ, bèn hỏi:
- Từ trước đến nay chưa bao giờ phu nhân nghỉ lại ở đây hai ba đêm liền, tại sao hôm nay lạ vậy?
Phu nhân trình bày điềm mộng dữ của vua cho tôn giả nghe rồi báo:
- Bảy ngày sau vua sẽ giết chúng ta dùng để trừ tai họa. Mạng sống của tôi không còn được bao nhiêu nên đến đây nghe pháp, tiện thể trình bày cho tôn giả biết những điều vua mộng thấy.
Tôn giả Ca-chiên-diên nói:
- Điềm mộng này rất tốt, nên vui mừng chứ sao lại buồn?
- Lửa cháy trên đầu là điềm vua nước Bảo Chủ sẽ sai người mang mũ trời báu giá trị mười vạn lượng vàng đến dâng lên vua.
Phu nhân vô cùng lo lắng vì thời hạn bảy ngày sắp đến, sợ người kia mang mũ đến trễ sẽ bị vua hại, bèn hỏi tôn giả:
- Lúc nào họ mang mũ đến?
Tôn giả đap:
- Sau giờ ăn hôm nay họ sẽ mang đến.
- Hai con rắn quấn vào hông mình là điềm vua nước Nhục-chì sẽ tặng hai thanh kiếm báu giá trị mười vạn luợng vàng. Hôm nay sẽ đến.
- Lưới sắt nhỏ quấn thân là điềm vua nước Đại Tần sẽ dâng tặng chuỗi ngọc giá trị mười vạn lượng vàng. Sáng mai sẽ mang đến.
- Cá hồng ngậm chân là điềm vua nước Sư Tử sẽ dâng tặng đôi giày báu lưu-li giá trị mười vạn lượng vàng. Đến giờ ăn ngày mai sẽ mang đến.
- Bốn con hạc trắng bay đến là điềm vua nước Bạt-kì dâng tặng vàng bạc, châu báu. Trưa hôm sau sẽ mang đến.
- Đi trong bùn máu, ngập đến nách là điềm vua nước An Từc dâng tặng áo Khâm-bà-la bằng lông cừu gìá trị mười vạn lượng vàng, xế chiều ngày mai sẽ mang đến.
- Tên núi Thái Bạch là điềm vua nước Khoang Dã dâng tặng con voi lớn. Sau giờ ăn ngày mai sẽ mang đến.
- Chim quán tước đại tiện trên đầu là điềm vua và phu nhân sẽ có việc bí mật riêng. Việc đến sẽ tự biết.
Quả thật đúng như lời tôn giả nói, tất cả các nước đều đến dâng tặng phẩm vật đúng thời hạn, vua rất vui mừng.
Phu nhân Thi-bà-cụ-sa trước đó đã có một cái mũ báu, lại đội thêm cái mũ báu của vua nước Bảo Chủ dâng tặng. Vua liền cởi lấy bớt một cái tặng cho Hiệu Hí và đội vòng hoa vàng lên đầu phu nhân.
Lúc ấy, phu nhân tức giận, nói: ‘Gặp việc xấu thì thiêp phải chịu trước, nay được mũ báu lại cho người kia. Phu nhân liền bưng một bát sữa tạt lên đầu vua. Vua tức giận rút kiếm muốn giết phu nhân. Phu nhân sợ hãi, chạy vào phòng đóng cửa lại, vua không thể vào được. Ngay lúc ấy, vua chợt nhớ lại lời tôn giả đoán mộng: ‘Có chuyện bí mật riêng’. Chính là việc này.
Bấy giờ, vua và phu nhân đến chỗ tôn giả Ca-chiên-diên thuật lại mọi việc và thưa:
- Vì từ trước đến nay tin theo lời phi pháp tà ác, nên nghi ngờ tôn giả, vợ con, đại thần yêu quý của trẫm, suýt nữa đã tạo việc cực ác. Nay nhờ tôn giả mà trẫm không làm việc cực ác.
Nói rồi, vua đến kính lễ và cúng dường tôn giả. Đồng thời, vua đuổi các ngoại đạo bà-la-môn ra khỏi nước mình. Nhân đó, vua hỏi tôn giả:
- Vì nhân duyên gì mà các nước mang châu báu đến dâng tặng trẫm như vậy?
Tôn giả đáp:
- Vào thời quá khứ, cách đây chín mươi mốt kiếp, bấy giờ có Đức Phật Tỳ-bà-thi ra đời. Lúc Đức Phật này xuất hiện, có một cõi nước tên là Bàn-đầu, thái tử tín ngưỡng Phật pháp, siêng năng tu tập, đến chỗ Đức Phật cúng dường lễ bái và dùng các thứ mũ báu, kiếm báu, chuỗi ngọc, voi lớn, xe báu và y khâm-bà-la dâng lên Đức Phật. Do phúc đức này mà đời đời sinh ra đều được tôn quí, châu báu không cầu mà tự đến.
Vua nghe tôn giả nói vậy, càng sinh lòng tin và tôn kính Tam bảo, rồi đỉnh lễ trở về cung”.
26.4. TÍNH BẤT THIỆN
Kinh Phát giác tịnh tâm ghi: “Phật bảo bồ-tát Di lặc:
- Bồ-tát nên quán hai mươi tai họa của thùy miên:
1. Lười biếng.
2. Thân thể nặng nề.
3. Thân thể nhơ bẩn.
4. Da dẻ sần sùi.
5. Thân kém uy đức.
6. Ăn uống không tiêu.
7. Thân thể sinh mụn nhọt.
8. Buông lung.
9. Tăng trưởng ngu si.
10. Trí tuệ mờ mịt.
11. Nguyện lành giảm bớt.
12. Sẽ đi đến chồ tối tăm.
13. Không được cung kính.
14. Bẩm chất ngu si.
15. Nhiều phiền não, tâm chạy theo các kết sử.
16. Không còn ham muốn các pháp lành.
17. Khiến cho tất cả pháp lành giảm sút.
18. Luôn sống trong sợ hãi.
19. Hủy nhục người tinh tiến.
20. Làm cho người khác khinh thường đại chúng”.
Kinh Quốc vương Bất-lê-tiên-nê thập mộng ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, có vua Bất-lê-tiên-nê nằm mộng thấy mười việc:
1. Mộng thấy ba cái bình đều có khói xông lên mờ mịt từ hai bên miệng và đan xen nhau mà không vào bình.
2. Mộng thấy con ngựa ăn bằng miệng và ăn bằng hậu môn.
3. Mộng thấy cây nhỏ ra hoa.
4. Mộng thấy cây nhỏ có trái.
5. Mộng thấy một người cầm sợi dây, sau lưng là một đàn dê và con dê chúa ngậm sợi dây.
6. Mộng thấy chồn ngồi trên ghế vàng và ăn thức ăn đựng trong bát vàng.
7. Mộng thấy một con trâu lớn theo bú con trâu nhỏ.
8. Mộng thấy bốn con trâu từ bốn hướng gầm rống tiến lại gần sắp húc nhau, bỗng nhiên biến mất.
9. Mộng thấy một hồ nước lớn, ở giữa đục bốn phía trong.
10. Mộng thấy một dòng suối lớn nước màu đỏ.
Sau khi tỉnh giấc, trong lòng vua vô cùng lo lắng, sợ sẽ hại thân, mất nước và vợ con.
Sáng hôm sau, vua cho triệu tập tất cả công khanh, đại thần, đạo sĩ, những người giỏi về đoán mộng vào triều và nói:
- Đêm qua trẫm nằm mộng thấy mười việc, khi tỉnh dậy cảm thấy sợ hãi, trong lòng không an, ai có thể giải mộng này?
Bấy giờ, có một đạo sĩ bà-la-môn tâu:
- Tôi sẽ giải điềm mộng của bệ hạ, nhưng chỉ sợ khi bệ hạ nghe rồi thêm lo lắng, không vui.
Vua nói:
- Khanh biết gì cứ nói ra, chớ e ngại.
Đạo sĩ bà-la-môn tâu:
- Những điều bệ hạ mộng thấy đều xấu, phảỉ giết những người yêu thương, quý trọng như phu nhân, thái tử, những cận thân, người hầu, nô tì của bệ hạ để cúng tế trời thì sẽ được bình an vô sự. Ngoài ra phải đốt hết những đồ trang sức quý giá và ngọa cụ của bệ hạ để cúng tế trời. Như thế bệ hạ sẽ được bình an vô sự.
Vua nghe đạo sĩ bà-la-môn nói, càng thêm lo lắng, buồn bã, vào trai phòng suy nghĩ những điều đạo sĩ nói.
Bấy giờ, chính phu nhân của vua là Ma-ni liền đến hỏi:
- Tại sao bệ hạ vào trai phòng và buồn bã, sầu não như vậy? Thần thiếp có lỗi với bệ hạ sao?
Vua đáp:
- Nàng không có lỗi gì với trẫm cả, tự trẫm cảm thấy buồn thôi.
Phu nhân lại hỏi, nên vua bảo:
- Nàng chớ hỏi trẫm! Nếu biết được chỉ làm cho nàng không vui thôi.
Phu nhân lại nói:
- Thiếp là một nửa của bệ hạ, nếu có việc lành, dữ gì cứ nói, tại sao bệ hạ không nói cho thiếp biết?
Vua liền nói cho phu nhân nghe mười điều mà vua đã mộng thấy. Nghe xong, phu nhân nói:
- Bệ hạ chớ lo buồn, sầu não! Giống như người mua vàng mài lên đá tốt xấu, thật giả màu sắc của nó tự hiện ra trên đá. Nay Đức Phật đang ở gần tinh xá cách nước ta không xa, sao chúng ta không đến đó hỏi, xem Đức Phật giải thế nào, bệ hạ nên làm theo lời Phật dạy.
Vua liền ra lệnh cho quần thần chuẩn bị xe ngựa, đến chỗ Phật. Đến nơi vua đỉnh lễ chân Đức Phật, ngồi sang một bên và bạch:
- Đêm qua con mộng thấy mười việc, sau khi tỉnh giấc cảm thấy kinh hãi, con sợ mất nước, vợ con. Cúi xin Đức Phật giải mười điều mộng ấy, con nguyện nghe lời Ngài dạy.
Đức Phật dạy:
- Bệ hạ chớ lo buồn, sợ hãi, những điều mộng ấy không có gì đáng lo, chỉ là việc ở đời sau, chẳng phải trong đời ác này. Đây là điềm nói người đời sau không sợ cấm pháp, dâm loạn, tham lợi, ganh ghét, không biết đủ, thiếu nhân nghĩa, không có lồng từ, mừng giận không chừng, không hổ thẹn:
- Mộng thấy ba cái bình đều có khói xông lên từ hai bên miệng và đan xen lẫn nhau, nhưng không vào bình là điềm đời nay những người giàu sang, phú quý kết giao với nhau, họ không thân gần những người nghèo khổ. Bệ hạ mộng thấy bình chính là điều này vậy. Vậy chớ lo buồn, đất nước, phu nhân, thái tử đều bình an vô sự.
- Mộng thấy ngựa ăn bằng miệng và ăn bằng hậu môn là điềm người đời sau làm đế vương, đại thần, xén bớt bổng lộc của quan huyện, lại bóc lột muôn dân không biết chán, không biết đủ. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng
- Mộng thấy cây nhỏ ra hoa là điềm người đời sau chưa đủ ba mươi tuổi mà đầu tóc đã bạc trắng, tham dâm, đa dục, tuy tuổi trẻ mà đã già yếu. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng.
- Mộng thấy cây nhỏ có trái là điềm đời sau người nữ chưa đầy mười lăm tuổi đã lấy chồng, bồng con trở về nhà mà không biết hổ thẹn. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng.
- Mộng thấy có một người cầm sợi dây, sau lưng là một đàn dê và con dê chúa ngậm sợi dây là điềm đời sau người chồng ra ngoài buôn bán, vợ ở nhà tư thông với người đàn ông khác và tiêu xài hết tài sản của chồng. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng.
- Mộng thấy chồn ngồi trên ghế vàng và ăn thức ăn trong bát vàng là điềm đời sau kẻ hạ tiện sẽ thành người tôn quý, có tàỉ sản, mọi người kính và sợ; còn hàng công hầu, tử tôn trở thành người nghèo thiếu, ngồi dưới, ăn sau. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng.
- Mộng thấy một con trâu lớn theo bú con trâu nhỏ là điềm đời sau con người không có lễ nghĩa, mẹ đi làm mai mối cho con gái, dụ dỗ con trai nhà người tư thông với con gái mình, cầu mong được tiền tài, vật chất, lấy đó làm kế sinh nhai mà không biết hổ thẹn. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo láng.
- Mộng thấy bốn con trâu từ bốn hướng gầm rống tiến lại gần sắp húc nhau, bỗng nhiên biến mất là điềm đời sau đế vương, trưởng sử và nhân dân không có
lòng thành thật, dối gạt lẫn nhau, ngu si, sân hận không kính trời đất, vì thế mưa gió thất thường. Bấy giờ, trưởng sử, nhân dân lập đàn cầu mưa thì mây đen kéo đến, sấm chớp rền trời. Khi ấy, trưởng sử, nhân dân ai nấy cho rằng trời sẽ mưa, nhưng bỗng chốc mây tan biến hết, không mưa. Vì sao? Vì đế vương, trưởng sử, nhân dân không ngay thẳng, không nhân từ. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng.
- Mộng thấy một hồ nước lớn, ở giữa đục, bốn phía trong là điềm đời sau trong nước loạn lạc, chính sách cai trị bất bình, người dân không hiếu thảo với cha mẹ, không kính nhường người lớn tuổi. Bấy giờ các nước lân cận đang thanh bình, nhân dân hòa thuận, hiếu kính cha mẹ. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng.
- Mộng thấy một dòng suối lớn nước màu đỏ là điềm đời sau các nước oán hận, tập hợp quân khởi binh đánh nhau. Họ lập ba loại binh: xa binh, bộ binh, kị binh giao chiến, giết người nhiều vô số, xác chết đầy đường, máu chảy thành sông. Vì thế, bệ hạ chớ buồn rầu, lo lắng.
Sau khi nghe Đức Phật dạy xong, vua rất vui mừng, liền quỳ xuống bạch Đức Phật:
- Nay nhờ ân của Ngài mà con được an ổn!
Rồi vua đỉnh lễ Đức Phật và trở về cung. Vua ban thưởng cho các quan thần rất nồng hậu và phát nguyện từ nay về sau không tin các ngoại đạo bà-la-môn nữa”.
26.1.5, TÍNH VÔ KÍ
Luật Thập tụng ghi: “Trong giờ thiền, có vị tì-kheo ngủ gật. Đức Phật dạy:
- Cho phép lấy nước rưới lên đầu. Nhưng tì-kheo khi dùng nước rưới lên đâu người khác phải biết năm điều:
1. Vì lòng thưong.
2. Không quấy rối người khác.
3. Người ngủ gật.
4. Ngồi thiền mà đầu dựa vào tường vách.
5. Ngồi duỗi chân.
Nếu vẫn còn ngủ gật thì chạm tay vào thân. Nếu vẫn còn ngủ thì Phật cho phép ném thiên cúc, nếu vẫn chưa tỉnh thì Phật cho phép dùng thiền trượng. Người cầm thiền trượng phải khởi tâm cung kính, dùng hai tay đặt thiền trượng lên đầu. vẫn còn buồn ngủ, nên đứng dậy đi xem. có ai ngủ thì dùng thiền trượng gõ nhẹ cho thức, rồi về lại chỗ ngồi.
Nêu không có người ngủ gật thì đem thiền trượng để lại chỗ cũ, rồi trở về ngồi. Nếu còn ngủ gật, Phật cho phép sử dụng thiền trân đê đánh thức. Thiền trấn là tấm gỗ nhỏ, có đục một lỗ đê xỏ dây, đầu dây có khuy, móc vào tai đặt trên đầu, cách trán bốn lóng tay.
Lúc ngồi, nếu thiền trấn rơi xuống, Đức Phật dạy nên đứng dậy đi kinh hành, dáng đi an tường như ngỗng.
Có bài tụng:
Hôn trầm và thùy cái
Mộng tưởng liền dối hiện
Nào thân tộc tụ tập
Nào yến tiệc vui say
Thức dậy không còn gì
Vọng sinh tâm luyến tiếc
Tuy thông cả ba tính
Rốt cuộc thành bảy biến.
26.6. CẢM ỨNG
26.6.1. Đời Hán, Văn Dĩnh: Niên hiệu Kiến An (196-198) đời Hán, có Văn Dĩnh, tự Thúc Lương, người Nam Dương, làm phủ thừa ở Cam Lăng. Có lần ông đi ra khỏi quận và ngủ lại một nơi kia. Canh ba đêm đó, ông mộng thấy một người đến quỳ trước mặt và nói:
- Ngày xưa, tổ tiên của tôi mai táng tôi ở chỗ này, nhưng nước chảy tràn đến làm ngập mộ và quan tài. Tuy nay một nửa quan tài của tôi đã khô, nhưng nửa kia vẫn còn ngập trong nước. Hôm nay biết ngài ở đây nên đến nhờ, sáng mai xin ngài nán lại trong giây lát, dời mộ tôi lên chỗ khô ráo!
Bấy giờ, con quỷ mặc đồ ướt sũng hiện ra cho Văn Dĩnh thấy. Văn Dĩnh thấy vậy sinh tâm thương xót chợt tỉnh giấc và thuật lại với những người đi theo. Mọi người nói:
- Mộng thì không thật, có gì lạ đâu?
Văn Dĩnh liền quay về ngủ lại. Đến gần sáng, ông lại mộng thấy người đó đến nói:
- Tôi đã đem hết nỗi khổ của tôi nói cho ông biết, sao ông không chút xót thương?
Khi ấy, Văn Dĩnh đang ở trong mộng, hỏi lại:
- Ngươi là ai?
Người kia đáp:
- Tôi vốn người nước Triệu, nhưng nay làm bộ hạ cho thần ở đây!
Văn Dĩnh hỏi:
- Quan tài của ông hiện đang ở đâu?
Người kia đáp:
- Quan tài của tôi đang ở dưới gốc cây dương khô bên dòng sông cách chỗ ngủ của ngài khoảng mười bước về hướng bắc. Trời sáp sáng rồi, sẽ không gặp lại được, xin ngài nghi nhớ điều tôi đã nói!
Văn Dĩnh đáp:
- Vâng!
Văn Dĩnh liền tỉnh giấc thì trời vừa sáng, ông nói với mọi người:
- Tuy nói mộng không có gì lạ, nhưng sao mộng này lại trùng hợp quá vậy?
Mọi người nói:
- Chúng ta tiếc gì một chút thời gian, nên nghiệm thử xem?
Văn Dĩnh liền làm theo lời người kia, ông dẫn mười mấy người đi theo dòng nước quả nhiên thấy có một cây dương khô. Văn Dĩnh nói: “Chính là chỗ này!”. Ông cho người đào lên, sâu chưa bao nhiêu đã thấy quan tài. Quan tài đã mục rã, một nửa đang nằm dưới nước. Văn Dĩnh nói với mọi người:
- Vừa rồi tôi nghe theo lời các vị cũng cho là không thật, nhưng người đời truyền tụng không thể không có!_ Văn Dĩnh dời quan tài của ông ta và cúng tế rồi lên đường.
26.6.2. Đời Tống, Trần Tú Viễn: Ông người Dĩnh Xuyên, từng giữ chức Tây tào ở Tương châu, nhưng ngụ tại huyện Lâm Tương. Lúc nhỏ ông đã tin kính, phụng thờ Tam bảo. Dù đã hơn sáu mươi tuổi, nhưng ông vẫn giữ vững lòng tin không hề suy giảm.
Khoảng tháng bảy, niên hiệu Nguyên Huy (473-477), một hôm, lúc trời vừa tối, ông nằm nghỉ và oán thán: “Muôn vật sinh tử xoay vần không định, thân ta từ đâu mà có?”. Ông nhứt tâm cầu nguyện, mong được cảm mộng. Bấy giờ trời đã về đêm, phòng ốc tối tăm, không có đèn đuốc, bỗng ông nhìn thấy bên cái gối như có đom đóm, phát ra ánh sáng rồi bay vụt đi. Một lát sau, cả phòng sáng rực và chiếu đến không trung, giống như ban ngày.
Tú Viễn vội vàng ngồi dậy chấp tay thở hổn hển. Bỗng chốc ông nhìn thấy giữa sảnh đường có một cây cầu cách mặt đất khoảng bốn năm trượng, hai bên có lan can màu đỏ rực lơ lững giữa không trung.
Tú Viễn không biết mình lên đó bao giờ mà đã ngồi ngay thăng bên cầu và thấy nam nữ y phục chỉnh tề chẳng khác gì người đời qua lại tấp nập. Cuối cùng có một phụ nữ khoảng ba mươi tuổi mặc áo xanh váy trắng đi đến chỗ Tú Viễn và đứng sang bên trái. Bỗng chốc lại có một phụ nữ khác toàn thân mặc đồ trắng, búi tóc lệch một bên, tay cầm hoa, hương đến đứng trước mặt và nói với Tú Viễn:
- Tiền thân của ông chính là ta đây! Vì ta dâng hoa hương này cúng dường Phật, nên được chuyển đổi làm thân ông.
Người ấy quay lại chỉ người phụ nữ bận áo xanh váy tráng và nói:
- Người kia chính là tiền thân của tôi.
Nói xong, liền bỏ đi. Người ấy đi rồi, cây cầu cũng dần dần biến mất, Tú Viễn cũng không biết mình xuống cầu từ lúc nào và ánh sáng cũng biến mất.
26.6.3. Đời Tống, Gia Cát Phú: Ông người Lang Gia. Vào niên hiệu Vĩnh Gia, đời Tống, ông được chuyển đến làm thái thú ở Cửu Chân, tất cả người nhà đều để lại kinh đô Lạc Dương, chỉ dẫn theo con trai trưởng là Nguyên Sùng đến nhận chức. Sau đó, Cát Phú bị bệnh chết ở quận Cửu Chân, lúc đó Nguyên Sùng mới mười chín tuổi, đưa quan tài của cha về quê. Môn sinh của Cát Phú là Hà Pháp Tăng muốn chiếm đoạt tài sản của ông, bèn âm mưu với đồng bọn xô Nguyên Sùng xuống sông chết, rồi cùng nhau phân chia tài sản.
Đêm hôm ấy, mẹ của Nguyên Sùng là Trần thị nằm mộng thấy Nguyên Sùng về trình bày rõ ràng việc cha chết và nói mình bị chết oan, thi thể trôi nổi, oán hận và đau khổ vô cùng. Cha mẹ nuôi dưỡng bấy lâu, nay bỗng chốc vĩnh viễn biệt li, thật ngậm sầu nuốt hận, nói sao cho hết! Than ôi! Thật không thể kiềm lòng!
Lại nói:
- Do con đi gấp, mệt mỏi nên nằm ngủ bên cửa sổ. Tuy nằm trên giường, nhưng đầu gối lên cửa sổ, mẹ hãy xem chỗ con nằm ngủ thì sẽ biết chắc không phải hư dối.
Bấy giờ Trần thị vô cùng bi thương, giật mình thức dậy, đốt đèn soi chỗ đứa con nằm ngủ thì thấy có dấu thấm ướt giống như hình người. Lúc ấy cả nhà gào khóc thảm thiết và tìm hỏi.
Lúc ấy, Từ Sâm vừa nhận chức ở Giao châu, Từ Đạo Lập làm trưởng sử. Trần thị là cô của Đạo Lập, nên bà trình bày rõ việc đã nằm mộng, nhờ Từ Sâm và Từ Đạo Lập kiểm tra lại tin này. Từ Sâm, Từ Đạo Lập trên đường đi gặp được thuyền chở quan tài cùa Cát Phú, hỏi ngày cha con Cát Phú chết giống như lời vong hồn đã báo mộng, liền bắt hai kẻ giết người. Hai người kia cúi đầu nhận tội. Từ Sâm, Từ Đạo Lập theo pháp luật giết chúng và cho người đưa quan tài về kinh đô.
26.6.4. Đời Tống, Mã Kiền Bá: Ông người ở Lãng Trung, Ba Tây, thuở nhỏ đã tin Phật và từng làm huyện lệnh Tuyên Hán. Vào tháng bảy niên hiệu Nguyên Gia thứ hai (425), đời Tống, ông ngủ trong huyện đường, mộng thấy ở phía chân trời có ba người cao hơn hai trượng, dung mạo tư thái xinh đẹp, đang đứng trên mây nhìn xuống, có chư thiên trỗi nhạc vang rền khắp hư không. Lại nghe có tiếng nói:
- Ông sẽ gặp nạn ở Kinh Sở vào ngày mùng bốn tháng tám năm Mậu Dần. Nếu ông ẩn cư trong núi rừng thì tai nạn kia sẽ tiêu trừ. Nếu ở nhà mà trai giới cũng được thoát nạn. Nếu vượt qua kì hạn này ông sẽ ngộ đạo.
Bấy giờ, ông nhìn xuống dưới thấy có tám người từng quen biết là Dương Xiêm v.v... đều bị gông cùm, xiềng xích. Ông lại thấy đạo sĩ Hồ Liêu và vị thần nửa thân dưới đất nửa thân trên trời, cả hai đều dự đoán tháng, năm mà tám người kia sẽ chết, nhưng cũng nói với Hồ Liêu:
- Nếu ông có thể tu thân, tích đức thì vẫn còn kéo dài tuổi thọ!
Tám người kia đều chết đúng như kì hạn đã đoán. Hồ Liêu càng sợ hãi, tin theo Phật pháp vào ẩn cư trong núi và nỗ lực tu tập.
Kiền Bá làm Tây tào ở Lương châu. Khi tướng quân Lương châu là Tiêu Tư Thoại chuyển đến Nam Man, cho Kiền Bá làm Hành tham quân. Kiền Bá nghe nói đến Kinh Sở, thì lòng vô cùng lo sợ, nên khi gần đến núi Vệ, bèn xin từ chức, nhưng Tiêu Tư Thoại không đồng ý. Đến cuối tháng sáu năm thứ mười lăm, nhằm năm Mậu Dần, ông mắc bệnh. Đến ngày mùng bốn tháng tám, bệnh tình của ông nguy kịch, sắp chết. Đêm ấy, bỗng nhiên trời bừng sáng, ông nhìn thấy ở phía tây có ba người, thân cao hai trượng. Người đứng trước mặc y phục đội mũ, tóc mai rủ xuống, trên đầu có vòng tròn sáng. Hai người đứng sau, thân hình vàng chói, dáng vẻ uy nghi. Tất cả đều đứng trên hư không, cách mặt đất vài nhận. Kiền Bá nhìn thấy giống như những gì trước đã mộng thấy. Trong chốc lát thì không nhìn thấy nữa, chi còn lại hương thơm phảng phất một lúc mới hết.
Những người có mặt đều ngửi được mùi hương ấy. Nhờ đó ông toát mô hôi và bệnh tình thuyên giảm. Kiền Bá đang ở dưới mái nhà dột nát, nhưng lúc ấy cảm thấy như mình đang trong cung điện, tường mái đều bằng châu báu sáng rực. Sau đó ông bình phục hoàn toàn.
26.6.5. Đời Đường, Thích Trí Hưng: Sư họ Tống, người Lạc châu, trụ tại chùa Đại Trang Nghiêm, kinh đô đời Đường. Sư là người khiêm nhường, sống kiệm ước, giới hạnh thanh tịnh. Sư theo luật sư Thủ tụng kinh, học luật, một lòng sớm hôm hầu hạ chưa từng biếng trễ. muốn báo ơn vị ấy. Nàng thay tôi chuẩn bị mười tấm
lụa, sáng mai mang đến dâng cúng vị ấy và trình bày ý của tôi là: “Thành tâm gởi lễ tạ ơn”.
Người vợ giật mình tỉnh giấc, không biết tại sao lại có giấc mộng lạ như vậy, bà nói với mọi người, nhưng không ai tin. Không lâu sau, bà lại mộng thấy như vậy. Bà đến các thầy bói xem thì tất cả đều nói giống như nhau.
Mười ngày sau hung tin ập đến, đúng như những gì bà mộng thấy. Người vợ liền đem số lụa đến dâng cúng, nhưng sư Trí Hưng nói mình vô đức, nên đã đem số lụa cúng dường cho đại chúng.
Thiền sư Cung trụ trì và những vị đại đức trong chùa đều hỏi Trí Hưng:
- Vì sao, thỉnh chuông mà được cảm ứng như vậy?
Trí Hưng đáp:
- Tôi không có cách gì khác, chỉ thấy trong truyện Phó pháp tạng ghi: “Vua Kế-trị-ná nước Nhục-chi chịu khổ, nhờ nghe tiếng chuông mà hết khổ”. Trong kinh Tăng nhất A-hàm cũng có bài kệ thỉnh chuông, nên tôi cung kính tuân theo đây mà siêng năng thỉnh chuông!
Một hôm, trời đông giá rét, sư lên lầu gió lạnh buốt da thit, chúng tăng cấp cho bao tay da dê để cầm chày đánh chuông, nhưng sư gắng sức dùng tay không thinh chuông; vì thế lòng bàn tay bị thương, nhưng sư vẫn không thấy đau. Lúc mới bắt đầu thỉnh chuông,
Đến đời Tùy, tháng mười một, niên hiệu Đại Nghiệp thứ năm (609), sư đảm nhiệm chức duy-na, sư thỉnh chuông đúng thời khóa, nên chúng tăng đều hoan hỉ.
Bấy giờ, tăng Tam Quả ở cùng chùa với sư có người anh theo Tùy Dạng đế vi hành đến Giang Đô, trên đường đi bị chết đột ngột, nhưng không có ai báo tin cho gia đình biết. Vì thế, ông ta về báo mộng với vợ:
- Tôi đi đến Bành Thành chẳng may bị bệnh chết. Vì tôi không trì trai, giữ giới nên nay bị đọa vào địa ngục, chịu đủ năm thứ khổ, đau xót vô cùng không thể kể xiết. Ai biết được nỗi khổ của tôi! May nhờ ngày mùng một tháng mười cổ sư Trí Hưng ở chùa Trang Nghiêm thỉnh chuông, tiếng chuông vọng thấu địa ngục, những người đồng chịu khổ cùng lúc được giải thoát. Nay tôi đã được sinh về chốn lành, nên trước tiên phát thiện nguyện: “Nguyện các vị hiền thánh đồng vào đạo tràng, cùng thụ pháp thực”. Sau đó, thỉnh ba tiếng chuông. Nếu muốn thỉnh liên tục thì cũng phải thành kính như trước nguyện: “Nguyện các đường ác nghe tiếng chuông này đều lìa khổ, chóng được giải thoát!”. Cứ giữ nguyện hạnh như thế mà hành trì thì đâu chỉ thấu tâm thành mà còn cảm ứng cùng khắp. Đại chúng làm theo lời sư nói, hiệu nghiệm gấp bội, chẳng phải hư dối.
Đến tháng ba, niên hiệu Trinh Quán thứ sáu (633), sư bị bệnh một thời gian ngắn và tự biết được đời sau của mình, nên đem hết những gì mình có cúng dường tăng. Một hôm, nhân lúc đại chúng thụ thực, sư đến từ biệt và thị tịch tại chùa Trang Nghiêm, thọ bốn mươi lăm tuổi.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/11/2015
PUCL QUYỂN 40 - CHƯƠNG XÁ LỢI
Quyển này có một chương Xá-lợi. 37. CHƯƠNG XÁ-LỢI 37.1. LỜI DẪN Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 38 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 38 Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt) 35.6. THÁP CỔ Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng! Có những chún...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 37 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP
QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 33 - CHƯƠNG TẠO PHÚC
QUYỂN 33 Quyển này có một chương Tạo phúc. 27. CHƯƠNG TẠO PHÚC 27.1. LỜI DẪN Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả r...
