Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG

16/11/2015

QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...

PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
Phần 1

QUYỂN 36
Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng.
32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN

32.1. LỜI DẪN
Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần phải dâng thần phan để hiến cúng. Vì vậy, vua A-dục xây tháp thờ xá-lợi, kết cấu cao vút không trung. Vua Ngụy xây đài Thông Thiên, chùa chiền cao chạm Ngân hà. Những chỗ ấy, cờ hoa phất phới bay cao đến đại thiên; sắc màu phản chiếu, phóng ánh sáng rực soi trăm ức cõi. Lúc gió tuệ thổi mạnh, thì nghiệp thanh thăng hiển hiện, khi gió tuệ thổi nhẹ thì quả báo Luân vương không cùng tận.
32.2. DẪN CHỨNG
Kinh Ca-dỉếp cật vấn A-nan ghi: “Thuở xưa, vua A-dục xây dựng trong nước một nghìn hai trăm ngôi tháp. Sau đó vua lâm bệnh nặng, có vị sa-môn đến thăm, vua nói:
- Trước đây, trẫm xây dựng một nghìn hai trăm ngôi tháp, cho may phan bằng tơ vàng và muốn chính tay treo phan, rải hoa mới thành tựu chí nguyện nhưng nay mắc bệnh nặng, e rằng nguyện kia không thành.
Sa-môn bảo vua:
- Đạỉ vương hãy chắp tay nhất tâm cung kính.
Nói xong, vị sa-môn hiện thần túc, lập tức một nghìn hai trăm ngôi tháp hiện ra ở trước mặt, vua nhìn thấy vô cùng vui mừng, liền sai người mang tràng phan và hoa bằng vàng treo trên các tháp, tức thời những ngôi tháp cao thấp đều hiện đến tay vua, vua được toại nguyện và lành bệnh. Sau đó vua phát tâm rộng lớn, sống thêm hai mươi lăm năm nữa. Vì thế phan này được gọi là Thần phan tục mạng”.
Kinh Phổ Quảng ghi: “Nếu có người trong bốn chúng tì-kheo, tì-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di lâm chung, hoặc đã qua đời, thì ngay trong ngày mất, quyến thuộc của họ làm tràng phan màu vàng treo trên tháp, thì người ấy được phúc đức, xa lìa tám nạn khổ, được sinh vào cõi nước của chư Phật mười phương. Cúng dường tràng phan, bảo cái thì được sở nguyện tùy tâm, cho đến thành đạo Bồ-đề. Tràng phan tung bay theo gió, rách nát hết, cho đến thành những hạt bụi nhỏ. Khi tràng phan vừa theo gió lay động, sẽ được ngôi vị Chuyển luân thánh vương, cho đến thổi nát thành hạt bụi cũng được ngôi vị tiểu vương; quá báo vô lượng. Đốt đèn cúng dường, chiếu sáng những nơi tối tăm, giúp cho chúng sinh đang chịu đau khổ nơi ấy thấy nhau và đều được yên ổn”.
* Lời bàn
Hỏi: Vì sao trong kinh dạy phải làm phan màu vàng treo trên mộ tháp cho người chết?
Đáp: Tuy chưa thấy trong kinh Phật giải thích, nhưng có thể theo nghĩa suy biết. Vì trong năm màu chính thì màu vàng ở giữa, tiêu biểu cho lòng trung thành, dẫn thân trung ấm sinh vào vùng trung quốc, không sinh vào những nơi biên địa. Màu vàng còn giống như vàng trang sức, quỷ thần ở chốn u minh đều sử dụng vàng. Nên khi nhân gian cúng giấy bạc thì quỷ nhận được tiền bạc; nếu cúng giấy tiền vàng thì quỷ nhận được tiền vàng.
Vì thế, kinh Thí dụ ghi: “Bấy giờ có một con vật đến trộm hết ngũ cốc của người chủ. Người chủ bắt được tra hỏi:
- Vì sao ngươi trộm hết ngũ cốc của ta? Ngươi là thần gì?
Con vật đáp:
- Ông đem tôi đến con đường lớn sẽ có người
biết. Trên đường đi họ gặp một người mặc đồ màu
vàng ngồi trên xe ngựa màu vàng. Người ấy hỏi:
- Cốc tặc! Sao ngươi lại ở đây?
Người chủ mới biết đó là Cốc tặc, liền hỏi:
- Người mặc đồ màu vàng, ngồi trên xe ngựa màu vàng là ai?
Cốc tặc đáp:
- Đó là tinh của vàng ròng, tôi xin lấy số vàng này để đền lại giá trị số lúa đã mất cho ông.
Nhân đó, người chủ được vàng dùng mãi không hết. Bởi vì, người và quỷ khác đường, cảm thấy cũng không giống nhau. Cho nên Phật dạy làm phan màu vàng treo trên mộ tháp người chết, giúp người được của báu, cứu vong linh”.
Kinh Bách duyên ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, trong thành Ca-tì-la-vệ có một vị trưởng giả rất giàu, của cải nhiều vô lượng, không thể tính kể. Vợ ông sinh được một bé trai khôi ngô tuấn tú, không ai sánh bằng. Lúc đứa bé ra đời, trên hư không xuất hiện tràng phan lớn che phủ khắp thành, cha mẹ thấy thế vô cùng vui mừng, nhân đó đặt tên cho con là Ba-đa-ca.
Khi đứa bé lớn lên, liền xin theo Phật xuất gia tu tập và chứng quả A-la-hán, đầy đủ ba minh, sáu thông và tám giải thoát.
Các tì-kheo thấy thế, bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Đời trước tì-kheo Ba-đa-ca gieo trồng phúc gì mà mới sinh ra đã xinh đẹp hơn người, trên hư không có tràng phan lớn che phủ khắp thành, lại gặp được Thế Tôn, xuất gia đắc đạo?
Phật bảo các tì-kheo:
- Cách đây chín mươi mốt kiếp, sau khi Đức Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn. Bấy giờ, vua Bàn-đầu-mạt-đế thâu lấy xá-lợi, xâỵ tháp bằng bốn báu, cao một do-tuần tôn thờ. Lúc ấy, có một người mở hội lớn bên tháp cúng dường, đồng thời làm một lá phan dài treo trên tháp, phát nguyện rồi đi. Nhờ phúc đức này mà từ đó đến nay trải qua chín mươi mốt kiếp, người này không đọa vào đường ác; dù sinh lên cõi trời, hoặc sinh vào cõi người, thường có tràng phan lớn che, hưởng phúc an vui; đên nay gặp được Ta xuât gia, đắc đạo”.
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Đức Phật dẫn các tì-kheo và tôn giả A-nan từ nước uất-tì-la-diên du hóa khắp nơi. Bấy giờ, trời rất nóng bức, ven đường không có bóng mát, có người chăn dê thấy Đức Phật đi dưới nắng nóng, khởi tâm thanh tịnh, bện cỏ làm lọng đi theo che nắng cho Phật. Đến khi cách đàn dê rất xa, ông ta mới buông chiếc lọng xuống đất và trở về chỗ đàn dê. Đức Phật mỉm cười bảo tôn giả A-nan:
- Người chăn dê này phát tâm cung kính làm lọng cỏ che nắng cho Ta, nhờ công đức này, trong mười ba kiếp không rơi vào đường ác, được sinh lên cõi trời. Nếu sinh vào cõi người thì được sinh vào nhà tôn quý, giàu sang, Vui sướng vô cùng, thường có lọng bảy báu tự nhiên theo che. Mãn mười ba kiếp, ông ta xuất gia tu đạo, thành bích-chi-phật hiệu A-nậu-bà đạt.
Có bài kệ:
Tháp báu hứng cam lộ
Lụa màu rực bầu trời
Phất phới bay trong mây
Dáng úp tợ sen hồng
Ráng phan tỏa màu gấm
Mùi thơm hợp khói hương
Tung bay không cố định
Vốn chỉ là nhẹ xoay
Hồ soi muôn hình hiện
Suối đùa trăm hoa tươi
Ngày đêm gió thổi lay
Nhiều lớp phúc Chuyển luân
Ngước nhìn không biết chán
Kết bạn cảm bồi hồi
Sao biết màu trong lụa?
Được phúc, tuồi thọ lâu
32.3. CẢM ỨNG
Phần 2

Đời Tống, Lưu Sâm Chi: Ông là người quận Bái, có lần gặp một vị sa-môn ở Quảng Lăng, vị ấy nói:
- Ông có bệnh nhưng sẽ không chết, nên chi ra một hai trăm tiền sắm sửa thức ăn cúng dường chúng tăng sẽ khỏi bệnh.
Sâm Chi vốn không tin Phật pháp, nên khi nghe sa-môn nói, ông nổi giận và xem thường. Vị sa-môn lai nói: “Ông phải tin Phật, chớ nổi giận”. Nói xong, vị sa-môn bỏ đi khoảng hai mươi bước bỗng biến mất.
Bảy ngày sau, quả nhiên Sâm Chi mắc bệnh, hơi thở yếu ớt, nguy cấp sắp chết. Đến ngày thứ chín, khi trời vừa sáng, trong lúc mơ màng, ông thấy có môt ngôi tháp cao năm tầng ngay tim ông, lại có khoảng hai mươi vị tăng nhiễu tháp và đỉnh lễ. Nhân đó ông tỉnh dậy, được lợi lớn và bệnh cũng thuyên giảm.
Sau đó, ông dời đến ở kinh đô thì gặp một vị sa-môn lạ đi thẳng vào nhà ông và nói:
- Ông có nhân duyên với Phật pháp, sao lại không siêng năng?
Nhân đó, Sâm Chi kể lại chuyện mình đã gặp. Vị sa-môn nói:
- Vị ấy chính là Tân-đầu-lô!
Nói dứt lời, vị sa-môn kia liền bỏ đi, Sâm Chi cũng không biết vị ấy đi đâu.
Đến mùa hạ, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười bảy (440), Sâm Chi ở Quảng Lăng, từ xa nhìn thấy trước tinh xá Tuê Uông có rất nhiều tràng phan, bảo cái, nhưng không có tượng Phật; ông liền thúc ngựa đến xem, khi gần đến cửa thì bỗng nhiên tất cả tràng phan, bảo cái đều biến mất.
33. CHƯƠNG HOA HƯƠNG
33.1. LỜI DẪN
Kính nghĩ: Đức Thích-ca gá thân nơi cung vua, giáng thần ở thành La-vệ, trí tuệ vốn bởi tự nhiên, đạo thì đạt đến Biến giác. Ngài phóng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp pháp giới chúng sinh; tuôn mưa pháp thấm nhuần khắp đại thiên thế giới. Tượng Phật được thờ khắp mười phương, bảo tháp xây cùng pháp giới. Hương thơm xông ngào ngạt tựa như mây mỏng rơi sương; hoa báu khoe sắc rực rỡ giống như cọng sen ngược treo hoa nở. Chí thành cúng dường, cùng hướng đến pháp hội, cúi đầu đỉnh lễ trong chốc lát thấm nhuần phúc lợi.
33.2. DẪN CHỨNG
Trong kinh Phật thuyết hoa tụ đà-la-ni ghi: “Đức Phật dạy:
- Sau khi Ta diệt độ, nếu có người đi trên đường trống, thấy tháp miếu của Như Lai mà dùng một cành hoa, một ngọn đèn, hoặc một viên đất bùn đặt trước tượng để cúng dường, cho đến cúng dường một đồng tiền để sửa sang tượng Phật, hoặc dùng một vốc nước rửa tháp Phật, rồi dùng hoa hương cúng dường, hoặc bước môt bước hướng đến chùa tháp, hoặc chỉ một lần xưng nam-mô Phật, mà muốn người ấy rơi vào ba đường ác trăm nghìn vạn kiếp thì thật vô lí”.
Lại kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu có chúng sinh dùng hương thoa lên tháp Phật, sau khi mạng chung được sinh lên cõi trời Hương Lạc, vui chơi cùng các thiên nữ; từ cõi trời mạng chung, sinh vào một gia đình giàu có trong cõi người”.
Kinh A-xà-thế vương ghi: “Vào thời quá khứ có Đức Phật Nhất Thiết Độ cùng đại chúng đi khất thực. Bây giờ, có ba người con của các trưởng giả, y phục xinh đẹp cùng dạo chơi. Khi thấy thân tướng Đức Phật và các vị bồ-tát tỏa ánh sáng rực rỡ, chúng bảo nhau cúng dường. Hai đứa trẻ hỏi:
- Chúng ta không có hương hoa, dùng vật gì cúng đây?
Đứa trẻ kia liền cởi vòng ngọc trai trên đầu mang vào tay và nói với hai đứa trẻ kia:
- Chúng ta có thể dùng vòng ngọc trai này cúng dường Phật.
Hai đứa trẻ kia cũng làm như thế rồi cùng đến chỗ Phật. Bấy giờ, một đứa trẻ hỏi hai đứa trẻ kia:
- Chúng ta tạo công đức để cầu gì?
Một đứa nói:
. - Nguyện giống như tì-kheo hầu bên phải Phật!
Một đứa nói:
- Nguyện giống như tì-kheo thần túc hầu bên trái Phật!
Hai đứa trẻ kia hỏi lại, đứa trẻ này đáp:
- Tôi muốn thành Phật!
Bấy giờ, tám nghìn thiên tử đều nói: “Quí thay! Nếu đúng như lời ngươi nói thì trên trời, dưới đất đều nhờ ân!”. Ba đứa trẻ đến trước Phật, mỗi người dâng vòng ngọc trai lên cúng dường. Hai đứa trẻ phát nguyện làm thanh văn thì vòng ngọc trai nằm ở vai , Phật, một đứa còn lại phát tâm bồ-đề thì vòng ngọc trai nằm trên đầu của Phật, rồi hóa thành màn trướng vây quanh, hoa báu đan xen, bên trong có Đức Phật.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Đứa trẻ phát tâm bồ-đề nay chính là Ta, đứa trẻ hầu bên phải nay là Xá-lợi-phất, đứa trẻ hâu bên trái nay là Mục-kiền-liên.
Xá-lợi-phất! Các ông vốn sợ sinh tử, không phát tâm bồ-đề, muốn mau vào niết-bàn, còn Ta phát tâm A-nậu-bồ-đề nên được thành Phật”.
Kinh Thái hoa thụ quyết ghi: “Lúc bấy giời vua La-duyệt sai hơn mười người thường xuyên vào rừng hái hoa đẹp dâng cho nhà vua. Một hôm, các cung nữ ra ngoài thành hái hoa, trên đường về thì gặp Đức Phật, họ liền cúi đầu kính lễ và suy nghĩ: ‘Bỏ thân mạng, dâng hoa cúng dường Phật và thánh chúng, cho dù bị hại cũng không rơi vào đường ác!’. Nghĩ xong, họ liền tung hoa lên cúng dường Phật và thánh chúng rồi tự nhất tâm cung kính đỉnh lễ. Đức Phật biết ý niệm ấy, nên thương xót thuyết pháp cho họ nghe. Những người hái hoa nghe xong, đều phát đạo tâm, được Đức Phật thụ kí:
- về sau các ngươi sẽ được thành Phật hiệu là Diệu Hoa.
Sau đó các cung nữ trở về nhà từ biệt cha mẹ-
- Mạng con chắc không còn nữa! Vì hôm nay sẽ bị vua giết.
Cha mẹ ngạc nhiên hỏi:
- Con có tội lỗi gì mà bị vua giết?
Các cung nữ kể rõ câu chuyện cho cha mẹ nghe và nói:
- Nếu không có hoa dâng lên vua thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nên hôm nay con trở về từ biệt cha mẹ!
Cha mẹ nghe xong càng buồn rầu, họ liền mở giỏ, thì thấy đầy hoa đẹp, mùi thơm lan tỏa khắp nơi, liền bảo:
- Con hãy đem hoa này dâng lên vua!
Thấy những người này mang hoa đến quá muộn, vua rất tức giận, sai người bắt trói rôi đem ra chợ xử trảm. Thế nhưng sắc mặt của họ vẫn không biến đổi, vua lấy làm lạ hỏi:
- Các ngươi sẽ bị giết, vì sao không sợ?
Những người hái hoa đáp:
- Con người có sống thì phải có chết, vạn vật có thành ắt có hoại, chúng tôi vì pháp mà phạm tội, nên không tiếc thân mạng. Buổi sáng đi hái hoa, trên đường về gặp Đức Phật, nên đã dâng cúng, biết làm như thế là trái mệnh vua, sẽ bị tội chết, nhưng thà có đức mà chết, còn hơn sống mà không đức. Nhưng khi trở về mở giỏ ra thì thấy hoa vẫn còn như cũ, đều là nhờ ân của Đức Phật chở che.
Vua càng lấy làm lạ, trong lòng không tin, bèn đến hỏi Phật:
Đức Phật bảo:
- Đúng vậy! Những người này chí tâm, muốn độ chúng sinh khắp mười phương, không tiếc thân mạng, nên tung hoa cúng dường Như Lai, lại không có ý cầu quả báo, nên đã được Ta thụ kí tương lai sẽ thành Phật hiệu là Diệu Hoa.
Nghe xong, vua rất vui mừng, cởi trói cho họ, hối hận trách mình ngu si, không bằng bồ-tát. Vua cầu xin Đức Phật tha thứ. Đức Phật bảo:
- Quí thay! Người biết sửa lỗi lầm, đồng với người không có lỗi!”...
Kinh Bách duyên ghi: “Một thời, Đức Phật ở Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Ngài đắp y ôm bát cùng các tì-kheo vào thành khất thực, vừa đến một ngõ phố thì thấy một phụ nữ bồng con ngồi trên đất.

Phần 3

Đứa bé từ xa thấy Đức Phật thì rất vui mừng, liền đòi mẹ mua hoa dâng cúng Đức Phật. Đứa bé được hoa, liền đến chỗ Phật tung lên hư không, biến thành lọng hoa theo che Đức Phật. Thấy thế, nó rất vui mừng và phát nguyện lớn:
- Xin đem căn lành công đức cúng dường này, nguyện đời sau con thành Chính giác, độ thoát chúng sinh giống như Đức Phật!
Đức Phật nghe đứa bé phát nguyện liền mỉm cười, từ miệng phóng ra một luồng ánh sáng năm màu, xoay quanh Phật ba vòng rồi trở vào đỉnh Ngài.
Khi ấy, A-nan bạch Phật:
- Đức Thế Tôn là bậc cao quí, không bao giờ cười vô cớ, nay có nhân duyên gì lại mỉm cười? Kính xin đức Thế Tộn chỉ dạy!
Đức Phật bảo A-nan:
- Ông thấy đứa bé tung hoa cúng dường Ta chăng? Đứa bé này đời vị lai, không rơi vào đường ác, sinh lên cõi trời hay xuống cõi người, thường được an vui; trải qua mười ba a-tăng-kì kiếp thành Bích-chi-phật hiệu là Hoa Thịnh, độ thoát chúng sinh không thể tính kể, vì thế mà Ta cười.
Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy xong, đều vui vẻ vâng theo”.
Kinh Bách duyên cũng ghi: “Trong thời gian Đức Phật an trú tại Kì Thụ cấp Cô Độc Viên, thành Xá-vệ, các trưởng giả giàu sang quyền quí trong thành tụ tập bên bờ suối, mở hội kết vòng hoa, ca hát vui chơi. Họ sai một người vào rừng hái hoa ba-la-nại về kết vòng. Người ấy vào rừng hái hoa, trên đường trở về thấy Đức Phật đủ ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, sáng rực như trăm nghìn mặt trời, lòng rất vui mừng, liền đỉnh lễ chân Phật và tung hoa cúng dường. Cúng dường xong, người ấy lại vào rừng, leo lên cây định hái hoa, chợt cành cây bị gãy, ông ta rơi xuống đất và qua đời, liền được sinh lên cõi trời Đao-lợi, thân hình xinh đẹp, ở trong cung điện được làm bằng hoa ba-la-nại. Đế Thích hỏi:
- Ông ở đâu, tu phúc gì mà được sinh về cõi này?
Người hái hoa đáp:
- Tôi ở cõi Diêm-phù-đề, một hôm vào rừng hái hoa về lập hội vui chơi, trên đường về gặp Đức Phật, liền tung hoa cúng dường, nhờ nhân duyên công đức ấy, nên được sinh về cỗi này!
Đế Thích liền nói kệ khen:
Thân như màu vàng ròng,
Tỏa ảnh sảng rực rỡ,
Dung mạo rất xinh đẹp,
Vượt hơn cả chư thiên.
Vị trời ấy liền nói kệ đáp:
Tôi nhờ ân Đức Phật,
Cúng dường hoa ba-la,
Do nhân duyên lành này,
Được quả báo như vậy.
Nói kệ xong, ông ta cùng Đế Thích đến chỗ Đức Phật nghe thuyết pháp. Nghe xong tâm ý sáng tỏ, phá tan mười hai ức nghiệp chướng, tà kiến, chứng quả Tu-dà-hoàn. Ông vô cừng vui mừng, nói kệ khen Phật:
Đại Thánh Tôn vòi vọi,
Tối thượng không ai bằng,
Công cha mẹ, thầy tổ,
Cũng không thể sánh kịp,
Làm khô bốn biển lớn,
Vượt qua núi xương trắng,
Lấp kín ba đường ác,
Mở rộng ba cửa lành
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thiên nữ nói kệ:
Xưa ta dùng vòng hoa,
Cúng tháp Phật Ca-diếp,
Nay sinh lên cõi trời,
Được công đức thù thắng,
Đã sinh lên cõi trời,
Lại được thân sắc vàng
Luận Tát-bà-đa ghi: “Đất của tăng bốn phương, không được xây tháp, nên vì Phật pháp mà trồng trọt. Nếu tăng hòa hợp thì được, còn không hòa họp thì không được làm; hoặc trong đất chúng tăng có trồng hoa, thì cũng nên để cho tịnh nhân chăm sóc, thu hoạch thứ tự trao cho tăng tùy ý cúng dường, không được tự ý lấy riêng cúng dường Tam bảo. Nếu hoa nhiều, tăng sử dụng không hết, tăng hòa hợp cho phép, thì tùy ý mà lấy. Trong tăng xá không được tạo tháp, đúc tượng, vì để gần người thì nhơ bẩn, không thanh tịnh. Nếu nhà nhiều tầng, có kinh và thờ tượng Phật ở tầng dưới, thì không được đứng ở tầng trên; khồng được lấy hoa trồng trên tháp cúng dường tăng, phải nên cúng dường Phật. Hoa này cũng được bán để lấy tiền cúng dường tháp. Nếu nước thuộc về phần của tháp thì cúng dường cho tháp, nếu còn dư, nước này do công sức của người chăm lo tháp mà có, nên bán phần nước này lấy tiền cúng dường tháp, không được dùng vào việc khác, nếu dùng thì tính theo số tiền mà phạm tội. Hoặc trong tháp không có người, mà phần nước này hoàn toàn do công sức của tăng, số nước dùng cho tháp còn lại bao nhiêu, tăng khéo tính toán mà sử dụng”.
Kinh Văn-thù vấn ghi: ‘‘Lúc bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Các hoa cúng dường xong còn dư, dùng để trị bệnh thì như thế nào?
Đức Phật bảo Văn-thù-sư-lợi:
- Mỗi hoa đều phải chú nguyện riêng đủ một trăm lẻ tám biến. ,
Chú hoa Phật: Nam-mô Phật-thát-tả-trị sa-ha
Chú hoa Bát-nhã ba-la-mật: Na-mạt kha-lô-lí bát-nhã-ba-la-mật-đa-thương sa-ha
Chú hoa Phật túc: Na-mạc ba-đà-chế-điểm-đam-diêm sa-ha
Chú hoa bồ-đề thụ: Nam-mô bồ-đề bức lực khám lam sa-ha
Chú hoa chuyển pháp luân xứ: Nam-mô đạt-ma chước-kha-la-dạ sa-ha
Chú hoa tháp: Na-mạc thâu-bạt-da sa-ha
Chú hoa bồ-tát: Nam-mô bồ-đề tát-đỏa-dã sa-ha
Chú hoa chúng tăng: Na-mạc tăng-già-dã sa-ha
Chú hoa Phật tượng: Na-mạc ba-la-để-da sa-ha Đức Phật lại bảo Văn-thù-sư-lợi:
- Về việc sử dụng hoa này, nếu bốn chúng phát tâm kính tin tu hành thì sáng sớm thức dậy tắm gội, súc miệng sạch sẽ, nhớ nghĩ công đức của Phật và cung kính hoa này, không được dẫm lên hoặc bước ngang hoa, phải như pháp cắm hoa vào bình nước sạch. Nếu có người bị bệnh nóng lạnh, nhức đầu, thì giã nát hoa rồi cho vào nước lạnh, dùng thoa vào thân. Người bị bệnh kiết lị ra máu, hoặc bị đau bụng, cũng dùng hoa giã nát hòa vào nước lạnh rồi cho họ uống, thì liền hết bệnh. Nếu có người bị lở miệng, cũng giã hoa vắt nước rồi hòa nước ấm cho họ ngậm thì sẽ lành. Nếu trời mưa không dứt, nên đến nơi vắng vẻ đốt hoa, mưa liền dứt. Nếu gặp lúc trời khô hạn, cũng nên đến nơi vắng vẻ đặt hoa vào nước rồi chú nguyện trong nước lạnh, rưới lên hoa, trời liền tuôn mưa xuống.
Nếu các loài trâu, ngựa... không thuần, đem hoa cho chúng ăn, chúng liền điều phục. Các loại cây, hoa, trái không tươi tốt, nên trộn hoa giã nát với phân bò, hòa với nước lạnh rồi rưới lên gốc cây, không được dẫm đạp hay tiểu tiện trên đó thì hoa trái sum suê. Nếu ruộng có nhiều nước làm hư hại lúa mạ, giã hoa thành bột rồi đem rải vào ruộng, lúa mạ liền xanh tốt. Nếu trong cõi nước có bệnh tật thì giã nát hoa hòa với nước lạnh, thoa vào ốc hoặc trống, rồi thổi hoặc đánh, người nghe âm thanh này liền khỏi bệnh. Nếu các nước thù địch muốn đến xâm lăng, nên giã nát hoa, hòa vào nước rồi rải lên họ, tất cả liền rút lui. Nếu trên núi cao có tảng đá lớn, các tì-kheo mài hoa trên đá rồi cùng nhau lễ bái, ít lâu sau trên đá tự nhiên sinh ra trân bảo.
Đức Phật bảo Văn-thù-sư-lợi:

Phần 4

- Mỗi hoa đều phải tụng đủ một trăm lẻ tám biến, ông cũng nên đi khắp nơi tuyên nói các câu chú này cho mọi người biết. Như cách thực hiện đối với hoa Phật, các hoa khác cũng như vậy”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: ‘‘Thuở xưa trong loài người có một loại hương tên là Đại Tượng Tạng, do rồng đánh nhau mà có. Nếu đốt một viên, thì nó phóng ra luồng ánh sáng rực rỡ, có lưới mây che phủ phía trên, vị ngọt như cam lộ. Trời mưa hương suốt bảy ngày bảy đêm, nếu dính vào thân, vào y phục, cung điện, lầu gác thì tất cả đều biến thành màu vàng. Nếu có chúng sinh ngửi được mùi hương này, trong bảy ngày bảy đêm thường vui vẻ, diệt trừ tất cả bệnh khổ, không bị tai nạn bất ngờ, tâm hằng xa lìa sợ hãi, nguy hại, khởi lòng đại từ, nhớ nghĩ khắp chúng sinh. Ta biết rõ tâm người này, nên đến thuyết pháp, giúp vô lượng chúng sinh chứng được quả vị Bất thoái chuyển. Lại hương Ngưu Đầu chiên-đàn, lấy từ núi Li Cấu, nếu đem thoa vào thân, thì lửa không thể đốt cháy”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Ca-tì-la-vệ có một trưởng giả rất giàu, của cải nhiều vô lượng, không thê tính kể. Vợ ông sinh được một bé trai, dung mạo khôi ngô tuấn tú, hiếm có trong đời, các lỗ chân lông trên thân đều tỏa ra mùi hương chiên-đàn, trong miệng thường thoảng ra mùi thơm hoa ưu-bát-la. Cha mẹ vô cùng vui mừng, đặt tên con là Chiên-đàn Hương. Thời gian sau Chiên-đàn Hương lớn lên, xin Phật xuất gia và chứng quả A-la-hán. Các tì-kheo thấy thế liền bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Chiên-đàn Hương đời trước trồng phúc gì mà được sinh vào nhà giàu sang quyền quý, thân và miệng thường thoảng ra mùi thơm, lại được gặp đức Thế Tôn xuất gia, chứng đạo quả?
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Thuở quá khứ, trải qua chín mươi mốt kiếp, sau khi Đức Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn, vua Bàn-đầu-mạt-đế thâu lấy xá-lợi xây tháp bằng bốn báu, cao một do-tuần để an trí cúng dường. Lúc ấy có một trưởng giả vào tháp Phật, thấy nền tháp bị thủng, ông liền nhồi trộn đất bùn trám lại, lấy bột hương chiên-đàn rải lên, phát nguyện rồi đi. Nhờ công đức ấy, từ đó về sau trải qua chín mươi mốt kiếp, trưởng giả kia không rơi vào đường ác, sinh lên cõi trời hay cõi người, thân và miệng thường thoảng ra mùi thơm, hưởng thụ niềm vui, cho đến hôm nay được gặp Ta xuất gia, chứng đạo quả”.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Đức Phật dạy:
- Thuở xưa, vào thời Đức Phật Ca-diếp có một pháp sư, khi thuyết pháp cho đại chúng nghe, thường khen ngợi Đức Phật Ca-diếp. Nhờ nhân duyên ấy, nên khi mạng chung, pháp sư được sinh lên cõi trời, về sau dù sinh vào cõi trời hay cõi người, ông ta cũng thường hưởng nhiều niềm vui. Sau khi Đức Phật Thích-ca Văn nhập niết-bàn một trăm năm, vào thời vua A-thâu-ca, vị này cũng làm pháp sư, rồi chứng quả A-la-hán, trong miệng thường thoảng ra mùi thơm vi diệu. Có lần pháp sư thuyết pháp cho đại chúng nghe, ở cách vua không xa, mùi thơm trong miệng bay đến chỗ vua. Vua ngửi được, Ịòng nghi ngờ, liền nghĩ: ‘Tì-kheo này ngậm hương trong miệng chăng, sao lại thơm như thế?’. Thế là, vua liền bảo pháp sư súc miệng, xem còn có mùi thơm không. Tì-kheo hỏi:
- Sao đại vương bảo tôi súc miệng?
Vua đáp:
- Tôi ngửi được mùi hương, trong lòng nghi ngờ, nên mới bảo thế.
Thế là pháp sư liền sức miệng, mùi thơm ấy từ trong miệng pháp sư càng tỏa ra ngào ngạt, không có mùi khác. Vua liền nói:
- Xin pháp sư thuyết pháp cho tôi nghe!
Pháp sư mỉm cười và nói kệ:
Người tự tại trong đời,
Nay vì đại vương thuyết,
Chảng phải hương trầm thủy,
Cũng không phải lá hoa,
Do các hương chiên-đàn...
Hòa hợp mà có được,
Tôi sinh tâm hi hữu,
Mà nói như thế ấy,
Nhờ khen Phật Ca-diếp,
Nên được mùi hương này,
Hương hòa hợp thời ấy,
Nay vẫn như hương mới,
Đêm ngày thường tỏa ra,
Chưa lúc nào đoạn dứt”.
Kinh Nhật vân ghi: “Hương cháy chưa hết mà ném xuống đất thì bị tội việt khí, sau khi chết rơi vào địa ngục Phẩn thỉ năm trăm năm. Vì sao? Vì tâm thường buông lung”.
Kinh Dạ vấn ghi: “Nếu có người dùng miệng thổi tro bụi trên các vật dụng cúng dường trang nghiêm, sau khi chết bị đọa vào địa ngục Ưu-bát-la, quả báo làm vua các thần gió”.
Kinh Yếu dụng tối ghi: “Nếu có người dùng mũi ngửi hương, làm giảm mùi thơm thì không có phúc đức, về sau bị quả báo rơi vào địa ngục Ba-đầu-ma, đến đời vị lai mũi không ngửi được hương thơm”.
Kinh Nhật cúng dường ghi: “Khi cúng dường hương mà không ngậm miệng, sau khi chết sẽ bị rơi vào địa ngục Hắc phẩn thỉ, chịu tội nửa kiếp. Nếu làm người sẽ bị quả báo không có tín và tuệ. Vì sao? Vì thở ra sẽ làm bay bụi hương lên”.
Tam thiên oai nghi ghi: “Thắp hương trước Phật, cần biết ba việc: Một, thay hương cũ trong lò; hai, tự lấy hương ra; ba, nên chia cho người khác. Nói về lò hương cũng có ba việc: Một, trước hết nên đổ tro cũ, gom hương trong lò để qua một bên; hai, lau lò hương cho sạch rồi mới thắp hương, lại lấy hương cũ cắm vào; ba, khi hương đang cháy mạnh cũng không được thổi tắt”.
Tụng rằng:
Nhàm chán cội vô minh
Mới ưa vườn Nại tốt,
Mới vào lối Hương sơn
Lại gặp nhà, xe lửa
Cha lành thường chỉ dẫn
Con trẻ bỏ ân xa
Biết họa chuột cắn dây
Vẫn thương rắn trong hòm
Lộc Uyển rừng thiền rậm
Đỉnh Thứu cành nhánh lay
Hoa định sinh quả trí
Cưỡi thuyền “không” qua sông
Mưa pháp thường rơi mãi
Mây hương từng đám bay
Nếu thành tựu đạo quả
Vào đời cứu chúng sinh.
33.3. CẢM ỨNG
33.3.1. Đời Tống, sa-môn càu-na-bạt-ma: Vào khoảng niên hiệu Nguyên Gia (424-454), đời Tống, Tam tạng pháp sư cầu-na-bạt-ma người Ấn Độ, nhận sắc lệnh của vua đến chùa Kì-hoàn. Mỗi khi sư lên tòa thuyết pháp bốn chúng đến nghe đông như mây tụ.
Có lần, sau mùa an cư, hàng cư sĩ tín tâm hái những bông hoa dâng cúng chư tăng trong pháp hội. Sau đó xem lại thì chỉ có hoa ở chỗ của pháp sư cầu-na-bạt-ma vẫn còn tươi.
Pháp sư cầu-na-bạt-ma biết đến lúc thị tịch. Vào ngày đó, sư tắm rửa sạch sẽ, chắp tay ngồi ngay thẳng tụng kinh rồi thị tịch, toàn thân toát ra hương thơm. Mọi người tìm thấy dưới chỗ ngồi của sư có một tập văn viết tay, trong đó có bài kệ:
Biên giới Ma-la-bà

Phần 5

Trong chùa A-lan-nhã
Ta mới chứng thánh quả
Kiến đế lìa các lậu
Ta ở nước Sư Tử
Thôn tên Kiếp-ba-lợi
Tu đắc quả thứ hai
Đó là Tư-đà-hàm.
Văn đế vô cùng vui mừng. Sau đó, mọi người thấy nơi an trí thân của sư có một con vật giống như long xà, dài khoảng một trượng, bay thẳng lên trời. Tăng chúng thương tiếc và theo lễ nghi của Ấn Độ dùng củi thơm thiêu thân của sư và xây tháp tôn thờ.
33.3.2. Đời Tống, chùa Thê Hà: Chùa nằm tại Nhiếp sơn, ấp Tần Giai, làng Giang Thùy Bắc, quận Lang Da, Từ châu, do cao sĩ Minh Tăng Thiệu người Bình Nguyên xây dựng vào khoảng niên hiệu Thái Thỉ (465-466) đời Tống. Người trong làng thường nghe tiếng chuông chùa trong núi vang lên, mặc dù làng cách núi năm sáu dặm.
Khoảng niên hiệu Thăng Minh (477-479) đời Tống, vào một ngày kia, lúc trời vừa hừng sáng, dân làng đều nhìn thây lưng chừng núi tràng phan, bảo cái bày la liệt, khói phát ra ánh sáng năm màu chiếu cả hư không, mọi người cho là thật, liền tranh nhau đến xem, nhưng khi đến nơi thì không thấy gì cả.
Bấy giờ, có pháp sư Pháp Độ giảng kinh Vô Lượng Thọ tại một ngôi chùa ở trong núi, nửa đêm bỗng thấy ánh sáng màu vàng chiếu rực cả chùa. Trong ánh sáng ấy như có lầu gác, hình tượng tuyên dương chính pháp.
Tăng chúng trong chùa và những người giúp việc, nếu có điều gì không đúng pháp, cho đến cư sĩ, quan khách nhơ uế mà vào chùa thì cọp liền xuất hiện gầm rống, đi quanh các phòng; tiếng rống của hổ chấn động các hang núi. Việc ấy đến nay vẫn còn.
Nếu người nào lười biếng tụng niệm thì thần núi liền xuất hiện, mặc áo lông chim, thân cao một trượng, tay cầm dây thừng. Vì thế tăng chúng sợ hãi, nên siêng năng tụng niệm.
33.3.3. Đời Lương, sa-môn Thích Tuệ Chiêu: Sư họ Từ, xây dựng chùa Minh Chân ở làng Trung Hưng, huyện Mạt Lăng vào đời Lương, niên hiệu Phổ Thông thứ năm (524).
Đầu đời Tề, sư theo người cậu đến Lô Lăng. Trên đường đi sư nhặt được một cái túi, trong đó có chiếc khăn vải thêu; trong chiếc khăn có năm tờ giấy năm màu, mỗi tờ gói thành một gói và xếp chồng lên nhau. Khi mở bốn gói trên đều không thấy gì, mở đến gói cuối cùng thì thấy có ánh sáng phát ra giống như ánh chớp, chiếu sáng khắp phòng. Từ đó, sư có năng lực thân dị, xuống nước không bị chìm, vào lửa không bị cháy. Người nhà cho sư bị điên, nên đem nhốt vào lồng đóng chặt cửa, nhưng chẳng mấy chốc đã thấy sư ở ngoài. Từ đó, họ mới biết là sư có thần lực.
Bấy giờ, họ làm một cái tòa để trống, cầu sư ban phúc, bỗng trên hư không có tiếng nói:
- Ta là bồ-tát Trường Sinh, ứng hiện để làm lợi ích cho đất nước, các người nên nương theo Phật pháp thanh tịnh cúng dường.
Từ đó, mọi người tranh nhau dâng hương hoa cúng dường, tất cả đều được linh nghiệm. Lý Thúc Hiến vốn là người phương nam thường cầu nguyện được làm quan ở châu mình; về sau quả nhiên làm thứ sử Giao châu, ông đã tạc pho tượng sư bằng gỗ trầm hương. Người đời cho là thần chuộng hoa quý. Nên gọi là Hoa Nương thần, dân chúng hiến dâng đồ cúng đông như trai hội. Những nơi mà sư Tuệ Chiêu giáo hóa đều có xây chùa.
33.3.4. Nam Lương, Tấn An vương Tiêu Tử Mậu: Ông tự Vân Xương, là con của Vũ đế, sống vào thời Nam Tề.
Năm mới bảy tuổi, mẹ ông là Nguyễn Thục Viện bị bệnh nguy cấp, người nhà thỉnh chúng tăng tụng kinh. Bấy giờ có người dâng hoa sen cúng dường Phật, chúng tăng liền dùng một cái bình đồng đựng đầy nước rồi cắm hoa vào cho khỏi héo, trải qua ba ngày mà hoa càng tươi đẹp. Thấy thế, Tiêu Tử Mậu cảm động rơi lệ, đỉnh lễ Phật và phát nguyện: “Nếu mẹ con do việc này mà lành bệnh thì xin thần lực của Phật làm hoa tươi mãi trong những ngày tổ chức trai hội!"
Sau bảy ngày trai, quả nhiên hoa càng tươi hồng hơn, nhìn vào bình thấy những cành hoa đâm ra một ít rễ, ít hôm sau mẹ của ông lành bệnh. Người thời bấy giờ cho rằng vì lòng hiếu thảo mà có cảm ứng.
Em của Tử Mậu là Nam Hải vương Tử Hản, tự Linh Hoa, có mẹ là Lạc Dung Hoa bị bệnh. Tử Hản ngày đêm lễ bái và dùng cây tre để treo đèn. Đèn đó chiếu sáng rực rỡ suốt đêm vẫn không tắt. Qua hôm sau cây tre ấy nảy cành lá sum suê và mẹ của Tử Hản cũng lành bệnh.
33.3.5. Đời Đường, sa-môn Thích Tuệ Chủ: Sư họ Giả, người huyện Vĩnh An, Thỉ châu, chuyên trì giới luật và siêng năng tạo phúc. Thời gian sau, sư trở về quê và ở ẩn trong núi Chung Nam, chỉ ăn lá cây tùng. Các loại cầm thú kéo đến chỗ sư rất đông, nhưng không gây ồn náo. Hoặc có sơn thần mang phục linh, cam tùng hương đến dâng. Sư ngày đêm sáu thời tụng niệm không hề biếng trễ. Các loài cầm thú cũng theo sư lễ Phật, nghe kinh rất cung kính. Sư truyền giới bô-tát cho chúng sinh ở hai cõi dương và âm. về sau, có một đàn khỉ nói với sư:
- Ngôi vua sắp thay đổi, mặt trời Phật sẽ tỏa khắp.
Nghe vậy, sư rất ngạc nhiên, khỉ mà nói tiếng người, thật là hi hữu. Không bao lâu, lại có những điềm lành như rồng bay, muôn thú tập họp, hương lạ tỏa khắp núi v.v.
Sau đó, có tám người chặt gỗ làm cung vào núi. Thấy họ sư rất kinh ngạc, họ liền thăm hỏi sư và thưa:
- Minh quân đã xuất hiện, cải niên hiệu Khai Hoàng (581-587)
Năm Trinh Quán thứ ba (629), trong chùa có thiền sư Minh là bậc đạo hạnh thanh cao không ai sánh bằng, ban ngày ngồi mộng thấy mình bị mất nửa thân, liền kể lại cho đại chúng và nói:
- Ta cùng luật sư Chủ đồng tâm xây dựng chùa này, nay bỗng nhiên mất nửa thân, nếu không phải luật sư đi trước ta ư!
Đến giờ cơm ngày mai, người thế tục kinh ngạc nói: “Trong chùa có thiết trai hội sao?”. Họ thấy các ngả đường, khách tăng mấy nghìn người vào chùa, nay ở đâu?
Sau đó không lâu, vào giờ Ngọ, sư không bệnh mà an nhiên thị tịch, thọ thế tám mươi chín tuổi.
33.3.6. Đời Đường, hang Đảo Báo: Đời Đường, trong một hang động ở núi Chung Nam, huyện Vị Nam, Ung châu, có thạch nhũ hình dạng giống như con báo lộn ngược, nên gọi là hang Đảo Báo. Ngoài ra, trên vách hang có hình mặt Phật, nên hang còn có tên là Tượng Cốc.
Các người già truyền rằng: “Thuở xưa, có vị tăng Ấn Độ đến nói:
- Tôi nghe nơi hang này có núi Tượng Diện, có khám thờ bảy Đức Phật. Vì thuở xưa bảy Đức Phật từng đến hang nạy thuyết pháp. Trong khe suối luôn có loài hoa chiêm-bặc nở cúng dường bảy Đức Phật”.
Đến khoảng niên hiệu Vĩnh Huy (650-655), sa-môn Trí Tích cư ngụ chùa Long Trì ở Nam Sơn nghe được việc đó, liền đến hang xem thử. Khi đến hang, quả nhiên sư nghe có hương thơm, nhưng không biết ở đâu. Sư lấy làm lạ, cố tìm thì phát hiện hương thơm từ trong cát dưới suối bay ra. Sư liền bới cát lên xem thì thấy có loại rễ hình dạng giống như rễ tranh, có một lớp đất cát bao bên ngoài, nhưng vẫn tỏa hương thơm ngào ngạt. Sư đem xuống nước cạo rửa thì cả dòng suối thơm ngát. Sư đem về đặt trong điện Phật chùa Long Trì thì cả điện Phật đều thơm.
Người dân sống nơi chân núi nhìn thấy núi này có hình dạng giống như tháp Phật, hoặc thấy giống như mặt Phật xuất hiện giữa hư không. Vì thế, chẳng phải vô cớ mà gọi hang ấy là Tượng Đầu.
Tượng rất gần hang Gia Mỹ, cũng là nơi mà Vương Gia đời Diêu Tần cư ngụ.
33.3.7. Tạp kí
Sưu thần kí ghi: “Phu nhân của Sơ Câu Dặc phạm tội bị xử tử, thi thể để lâu, chẳng những không hôi thối mà tỏa hương thơm”.
Tục Sưu thần kỉ ghi: “Có một chiếc thuyền trắng lớn bị lật úp ở cửa sông Hợp Phì. Đêm nọ, một ngư dân ngủ gần đó, nghe trong thuyền có tiếng đàn tranh, tiếng sáo và có hương thơm lạ.
Tương truyền: ‘Chiếc thuyền Tào công chở đào hát bị lật úp ở đây”'.

Phần 6

Dị uyển ghi: “Mẹ của Vệ Sĩ Độ ở Tư châu thường tụng kinh, trường trai và không làm những việc trái đạo lí. Có lần, bà thiết trai cúng dường, khi chúng tăng chưa thụ thực, mọi người đều nhìn thấy trong đám mây có một vật gì đó từ trên hư không bay xuống. Khi vật ấy đáp xuống trước mặt, mới biết đó là cái bát lớn đựng đầy cơm trắng thơm ngon. Tăng chúng thấy vậy, vô cùng kinh ngạc, đồng loạt đứng dậy cung kính đỉnh lễ. Tự tay bà sớt cơm cho từng vị. Người thụ trai khi dùng cơm này xong suốt bảy ngày mà không cảm thấy đói”.
Thuật dị kí ghi: “Ngày xưa, có người lên núi Lô chặt cây tùng, bỗng nghe có tiếng người bảo: ‘Chớ vội chặt cây này!’. Người ấy lần theo tiếng nói mà lên thì gặp một cành hoa lạ, rất đẹp, tỏa hương thơm khác thường. Người ấy biết đó là loài hoa quí hiếm liền hái ăn, nên sống thọ được ba trăm tuổi”.
U minh lục ghi: “Trần Tương Tử người Ô Trình, Ngô Hưng vừa mới thấy được kinh điển Phật giáo liền học thuật bay trên hư không. Khi thiết trai cung cấp cho mọi người, nghe trên hư không có âm thanh vi diệu và hương thơm phàng phất khắp nơi”.
Hứa Mại biệt truyện ghi: “Hứa Mại lúc còn nhỏ tên là Ánh. Cao Bình, Diêm Khánh v.v... đều là học trò của ông. Lúc Cao Bình, Diêm Khánh đốt hương từ biệt Anh, có khói năm màu xuất hiện”.
Phật-đồ-trừng truyện ghi: “Ngài Phật-đồ-trừng lấy bát đựng nước, đốt hương chú nguyện vào trong đó, không lâu sau trong bát mọc hoa sen xanh
Bác vật chí ghi: “Sứ giả Tây Vực cống hương quí, nhưng theo phép tắc của nhà Hán quy định, nếu công không đủ một cân hương thì không được nhận. Lúc sắp trở về, sứ giả Tây Vực mở hộp đựng hương, thấy một viên hương lớn như hạt đậu, thử đặt ở cửa cung thì hương thơm lan tỏa khắp thành Trường An trong vòng mấy chục dặm, một ngày mới hết”.
Thuật chinh kỉ ghi: “Ở vùng hoang mạc cực bắc của Trung Quốc có ngôi mộ của Trương Mầu. Thuyết xưa cho đó là mộ của vợ một người họ Vương. Chôn bà được nhiều năm, sau đó quật mộ lên thì thấy hương, đèn vẫn còn cháy, người nhà bà ấy bèn thờ cúng và tự xưng là đạo Thanh Thủy”.
Thế thuyết ghi: “Vào thời Hoàn Xa Kị có môt người tên Trân Trang vào núi Võ Đang học đạo. Chỗ ở của ông có làn khói trắng và hương thơm lan tỏa khắp nơi”.

33.4. CÁC LOẠI HƯƠNG
* Xạ hương
Kinh Sơn hải ghi: “Ở phía bắc núi Thúy có nhiều xạ hương”.
Kinh Bản thảo ghi: “Xạ hương có vị cay, trừ được ác khí, giết quỷ và tinh linh. Loài này thường sống ở núi Trung Đài”.
* Hương Uy nhuy
Tôn thị thụy ứng đồ ghi: “Khi vua có đầy đủ lễ tiết thì Uy nhuy hương xuất hiện một ngày. Nếu vua biết thương nhân dân thì hương mới tỏa. Uy nhuy hương còn có tên là Uy hương”.
Bộ Thuyết văn ghi: “Rượu uất hương được tạo từ hoa của một trăm loại cỏ. Các loại hoa cỏ quý hiếm mà các nước phương xa cống nạp, người ta trộn lại, gây men nấu thành rượu dùng để thỉnh thần linh”.
* Hương Tô hợp
Bộ Tục Hán thư ghi: “Người dân nước Đại Tần nấu chung các loại hương rồi gạn lấy nước. Nước hương tổng hợp đó gọi là Tô hương”.
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Tô họp có nguồn gốc từ nước Đại Tần”.
Hoặc có thuyết nói: “Người dân nước Tô Hợp hái các loài cỏ thơm đem về ép lấy nước để làm hương cao và bán xác bả cho khách buôn”.
Có thuyết lại nói: “Hương Tô hợp do người ta trộn chung các loại cỏ thơm rồi nấu thành, chứ chẳng phải là một loại hương tự nhiên”.
Bộ Truyện Tử ghi: “Theo tiếng Hồ của các nước phía tây, Tô hợp hương là do loài thú tạo ra. Trung Quốc cho là điều lạ”.
* Hương Kê thiệt
Bộ Ngoại quốc truyện ghi: “Ở châu Ngũ Mã có sản xuất loại hương Kê thiệt”.
Tục Sưu thần kí ghi: “Lưu Quảng người Dự Chương, lúc chưa kết hôn, có lần ông đến Điền Xá gặp một cô gái, nàng ấy nói: ‘Tôi là con gái của Hà Tham Quân, năm mười bốn tuổi bị chết yểu, nhưng được Tây Vương Mẫu nuôi dưỡng và bảo kết giao với người ở trần thế’. Lưu Quảng liền kết duyên với cô gái. Ngay hôm đó, Lưu Quảng nhặt được chiếc khăn tay gói bột hương Kê thiệt ở dưới giường. Mẹ của Lưu Quảng lấy chiếc khăn tay đốt mới biết đó là Hỏa hoán bố”.
Nam châu dị vật chí ghi: “Hương Kê thiệt có nguồn gốc từ cây đỗ”.
Sách Bạt châu ghi: “Đó là một loại cỏ, khi héo có thể ngậm cho thơm miệng”.
Bộ Du ích kì tiên ghi: “Người Tây Vực cho rằng các loại hương đều từ một loại cây. Trong đó hoa của cây ấy tạo thành hương Kê thiệt”.
* Hương Tước đầu
Hương này vốn sản sinh từ nước Ngô.
Giang biểu truyện ghi: “Ngụy Văn đế sai sứ sang nước Ngô xin hương Tước đầu”.
* Hương Huân lục
Bộ Ngụy lược ghi: “Nước Đại Tần sản xuất hương Huân lục”.
Nam phương thảo vật trạng ghi: “Hương Huân lục có nguồn gốc từ nước Đại Tần. Cho rằng có một cây lớn tự nhiên mọc giữa vùng cát. Cuối mùa hạ nhựa cây chảy trên cát, dân vùng này nhặt lấy đem bán lại cho mọi người”.
Bộ Du ích kì tiên ghi: “Các loại hương đều từ một cây. Trong đó nhựa của cây tạo thành hương Huân lục”.
* Hương Lưu hoàng
Bộ Ngoại quốc truyện ghi: “Hương Lưu hoàng có nguồn gốc ở nước Đô-côn, cách phía nam Phù-nam hơn ba nghìn dặm”.
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Lưu hoàng có nguồn gốc từ các nước vùng Nam Hải”.
* Hương Thanh mộc
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Thanh mộc có nguồn gốc từ Giao châu”.
Từ Trung nam phương kí ghi: “Hương Thanh mộc có nguồn gốc ở nước Thiên-đốc, nhưng không biết hình dáng chúng thế nào”.
Bộ Nam châu dị vật chí ghi: “Hương Thanh mộc có nguồn gốc ở Thiên Trúc. Đó là rễ của một loại cỏ giống như Cam thảo”.
Bộ Du ích kí tiên ghi: “Các loại hương đều từ một cây. Trong đó phần hương lấy từ mắt. cây là Thanh mộc hương”.
* Hương Chiên-đàn
Trong Trúc Pháp Chân đăng La sơn sớ ghi: “Chiên-đàn có nguồn gốc ở nước ngoài. Cuối niên hiệu Nguyên Gia (151-153), vị tăng Thành Đằng thấy trong núi có một cây lớn, bóng che rợp một vùng hơn mấy mẫu, cây tỏa ra mùi thơm và hơi cay . Trên cây ấy có một cành khô khoảng vài thước, bèn kéo xuống và chặt thì thấy đó là chiên-đàn trắng"
Bộ Du ích kì tiên ghi: “Các loại hương đều từ một cây. Trong đó hương của rễ cây ấy là Chiên-đàn”.
* Hương Cam tùng
Quảng chí ghi: “Hương Cam tùng xuất phát từ các ngọn núi ở Lương châu”.
* Hương Đâu-nạp
Ngụy lược ghi: “Hương Đâu-nạp có nguồn gốc ở nước Đại Tần”.
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Đâu-nạp có nguồn gốc ở phương tây”.
* Hương Ngải nạp
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Ngải nạp xuất xứ từ nước Phiêu”.
Nhạc phủ ca ghi:
Người Hồ từ đâu đến?
Các nước mang gì đến?
Chăn nệm và thảm lông

Phần 7

Ngũ mộc hương thơm ngát
Ngải nạp và Đô lương.
* Hoắc hương
Bộ Quảng chỉ ghi: “Hoắc hương có xuất xứ từ các nước ở phương nam”.
Bộ Ngoại quốc truyện, đời Ngô ghi: “Nước Đô-côn thuộc Phù-nam sản xuất Hoắc hương”.
Bộ Nam châu dị vật chỉ ghi: “Hoắc hương có xuất xứ từ các nước vùng bờ biển Điển-tốn thuộc Phù-nam. Hoắc hương có hình dáng giống như hương Đô lương, có thể dùng để tẩm xông ướp y phục”*
Bộ Du ích kì tiên ghi: “Các loại hương đều từ một cây. Trong đó hương từ lá của cây ấy là Hoắc hương”.
* Phong hương
Bộ Nam phương kí ghi: “Hạt của câỵ Phong hương giống như trứng vịt, phơi khô có thể đốt cháy”. Ngụy vũ lịnh ghi: “Phòng ốc không sạch cho phép đốt nhựa cây Phong và Tuệ thảo”.
* Sạn hương
Bộ Quảng chí ghi: “Sạn hương có nguồn gốc từ các nước ở phương nam”.
* Hương Mộc mật
Dị vật chí ghi: “Hương Mộc mật còn gọi là Hương thọ. Loại cây này sống một nghìn năm, gốc rất lớn. Trước tiên người ta chặt cây ngã xuống, để khoảng bốn, năm năm sau, đến xem thì thấy rễ cấy đều mục rã hết, chỉ phần đốt cây là vẫn còn cứng chắc và hương thơm chỉ có ở chỗ đó”.
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Mộc mật cọ xuất xứ từ Giao châu và phương tây”.
Kinh Mộc thảo ghi: “Mộc hương còn có một tên gọi khác là Mật hương, có vị cay và mát”.
* Đinh hương
Sách Nam phương thảo vật trạng ghi: “Cây Đinh hương mọc ở ven bờ sông”.
* Hương Đô lương
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Đô lương xuất xứ từ vùng Hoài Nam”.
* Trầm hương
Dị uyển ghi: “Lúc sống ở Quảng châu, sa-môn Chi Pháp Tôn có cái nệm bằng lông thú tám thước và bộ phản gỗ Trầm hương tám thước. Khoảng niên hiệu Thái Nguyên (251-252), Vương Hán làm thứ sử châu này cố gắng cầu xin hai vật đó, nhưng không được, nên ra lệnh giết sư và chiếm đoạt”.
Bộ Nam châu dị vật chỉ ghi:, “Mộc hương có nguồn gốc từ Nhật Nam. Muôn lấy được nó, trước phải chặt cây bỏ trên đất một thời gian lâu, phần giác màu trắng bên ngoài tự nhiên mục rã, còn lại phần lõi cứng chắc, nếu bỏ phần này vào nước chìm thì đó là Trầm hương. Tiếp theo đem phần khoảng giữa lõi và giác không quá cứng thả vào nước, phần này không chìm, không nổi gọi là Sạn hương. Loại hơi có màu trắng gọi là Tiệm hương”.
Bộ Cố Vi Quảng châu kí ghi: “Huyện Tân Hưng là xứ sở của Trầm hương. Trầm hương ở đây có hình dạng giống như cây Tâm thảo. Người dân chặt nó để nhiều năm, đến khi phần bên ngoài bị mục rã hết, chỉ còn phần lõi, đó chính là Trầm hương”.
Bộ Du ích kí tiên ghi: “Các loại hương đều từ một cây. Trong đó lõi của cây là Trầm hương”.
* Giáp hương
Bộ Quảng chí ghi: “Giáp hương xuất xứ từ phương nam”.
Bộ Phạm Diệp hương phương gọi là Hương Giáp tiễn tức là Sạn hương”.
* Hương Mê diệt
Bộ Ngụy lược ghi: “Hương Mê diệt có xuất xứ từ nước Đại Tần”.
Bộ Quảng chí ghi: “Hương Mê diệt có xuất xứ ở vùng Tây Hải”.
* Hương Linh lăng
Nam Việt chí ghi: '"‘Hương Linh lăng, dân địa phương thường gọi là Yến thảo vân hương”. Phần Hạ tiểu, thiên Đại tái lễ ghi: Tháng giêng hái Yến thảo vân hương để cúng miếu”.
Thiên Nguyệt lệnh Lễ kí ghi: “Vào tháng mười một mùa đông, Yến vân thảo hương mới mọc”.
Bộ Thuyết văn ghi: “Vân thảo giống như rau Mục túc”.
Hoài nam ghi: “Vân thảo chết có thể sống lại”.
* Lan hương
Dịch thông quán nghiệm ghi: “Vào tiết lập đông, có gió bắc là lúc hoa lan mới nở”.
Bộ Thuyết văn ghi: “Lan hương là một loại cỏ”.
Bộ Bản thảo kinh ghi: “Lan thảo còn có tên gọi khác là Thủy hương, uống lâu có tác dụng bổ khí, thân thể nhẹ nhàng, không già”.
* Hòe hương
Hòe hương xuất xứ ở vùng Mông Sở, cho nên mới khảo xét đến lời tựa của bài Thuật Hỏe hương phú.
* Hương Đâu-mạt
Hán vũ cố sự ghi: “Tây Vương Mau sắp giáng trần, vua đốt hương Đâu-mạt. Hương Đâu-mạt do nước Đâu-cừ hiến dâng, lớn như hạt đậu. Nếu xoa vào cửa thành, hương thơm lan xa trăm dặm. Vùng Quan Trung từng bị đại dịch, người chết liên tục, đốt hương này thì dịch bệnh chấm dứt”.
* Phản sinh hương
Chân nhân quan doãn truyện ghi: “Lão Tử nói:
- Khi bậc chân nhân du hành đều ngồi trên hoa sen. Hoa có đường kính mười trượng và có hương Phản sinh, ngược gió ba mươi dặm vẫn nghe thơm”.
* Thân hương
Sách Thập châu kỉ ghi: “Niên hiệu Thiên Hán thứ ba (98BC), đời Hán, sứ giả một nước phương Tây hiến dâng Linh giao, Cát quang cừu và thần hương. Sứ giả nói: ‘Loại hương này có thể làm cho người yếu được khỏe mạnh, người tàn tật được hết, người bệnh được lành, người chết sống lại’
Đến niên hiệu Thái Thỉ thứ nhất (96BC), trong thành Trường An có dịch bệnh lớn, mỗi ngày hàng trăm người chết. Vua thử lấy Thần hương của nước Nhục-chi đốt ở trong thành thì những người chết chưa được ba ngày đều sống lại và hương thơm trải qua ba ngày vẫn không hết. Vua ra lệnh cho ghi vào sách quí, nhưng về sau bị thất lạc”,
* Hương Kinh tinh
Sách Thập châu kí ghi: “Ở vùng Tây Hải có nhiều linh quán của các bậc chân tiên. Tại cửa bắc của các linh quán này có một cây lớn giống như cây Phong, hương thơm của nó lan xa mấy trăm dặm. Cây ấy có tên Phản hồn hay Khấu và có thể phát ra âm thanh như tiếng bò rống; người nghe đều kinh hãi. Chặt lấy lõi cây ấy rồi cho vào ngọc phủ nấu, sau đó lấy nước sắc lại cho đặc rồi vò thành viên, gọi là hương Kinh tinh, hoặc gọi hương Chấn linh, Phản sinh, hoặc gọi Nhân điểu, hoặc Khước tử. Hương thơm của chúng lan xa mấy trăm dặm. Người chết nằm dưới đất mà nghe được hương thơm này liền sống dậy”.
34. CHƯƠNG TÁN TỤNG
34.1. LỜI DẪN
Ý khen ngợi thường gửi vào lời thơ, lời thơ lại nương vào âm hưởng. Do đó, lời thơ hay đẹp thĩ ý khen ngợi rõ ràng; âm hưởng hay thì lời thơ lưu loát; ngôn từ nương âm hưởng là lẽ trợ giúp nhau. Xét ra, Ấn Độ có bái, còn Trung Quốc có tán. Tán là văn dùng kết luận một chương. Bái là bài kệ ngắn dùng để truyền tụng. So sánh nội dung ý nghĩa thì bái và tán tuy tên khác nhưng thật là đồng. Do đó, kinh ghi: “Dùng âm hưởng vi diệu để ca tụng công đức của Phật”
Ngày xưa, khi Đức Phật nhập định thì tiếng đàn ca chấn động hang đá. Khi Bà-đề cất tiếng tụng thì âm thanh vang thấu đến trời Tịnh Cư. Âm thanh cực vi diệu giác ngộ thế gian, tất nhiên không thể dùng lời tán dương cho cùng tận. Đến đời mạt pháp, việc tu tập rất có linh nghiệm; vì thế, Trần Tư chú tâm suy tưởng đã nghe được tiếng Phạn bái ở Ngư Sơn. Bạch Kiều thành tâm thệ nguyện, nên hiểu được

Phần 8

diệu âm của đại sĩ. Dược Luyện siêng tu, nên nghe được pháp âm ở chốn u minh. Văn Tuyên chí thanh, nên cảm được diệu âm ở nơi tịnh thất. Tất cả đều diễn theo âm thanh ở cung trời và cõi Phật, âm điệu trầm bổng, giọng văn nhanh chậm. Đó cũng là bằng chứng rõ ràng của tâm cảm, là khuôn thước sáng chói của người học. Lời kinh thâm diệu phát ra tự nhiên, cách đọc thì có thể tập được, nhưng giọng hay chẳng thể luyện nên. Bởi tuyên giảng pháp âm là để người thế tục nghe, nên phải giữ giọng trong mà không yếu, hùng hồn mà không dữ dội, trôi chảy mà không quá gấp, ngưng mà không trệ. Nghĩa lí mang tông phong Ấn Độ, âm vận mang sắc thái Trung Quốc. Ở xa nghe thì mênh mông mà thanh nhã, đến gần nghe thì thong dong mà hòa kính. Thật là vĩ đại! Kinh gọi âm giọng của Phật là lôi âm sâu xa, có lẽ do đây chăng?
Nếu kể truyện Liêu trai thì mọi người tụ họp lạỉ nghe đến tận đêm khuya, hương tàn nến tắt. Bởi thùy cái hay che lấp lục tình, sự biếng nhác thường vây trói thân thể, cho nên phải chọn người có giọng hay để lên tòa, tuyển người có tiếng tốt để giảng kinh. Khi lời tán tụng như tiếng nhạc cất lên thì khác nào tiếng ngọc tiếng vàng hòa điệu, lan xa khiến bảy chúng xúc động. Lại giống tiếng chim ca-lăng-tần-.già, tựa giọng chim loan thần, khiến kẻ mê muội khai mở, người biếng nhác trở nên nghiêm túc, khắp giảng đường đều kinh ngạc, cả pháp hội cùng vui vẻ. Chính ngay lúc ấy, mới biết tiếng kinh là quí.
34.2. DẪN CHỨNG
Kinh Trường A-hàm ghi: “Âm thanh ấy có năm đặc tính thanh tịnh, nên gọi là Phạm âm. Đó là: ngay thẳng, hòa nhã, trong trẻo, sâu lắng tròn đầy, vang khắp”.
Lại nữa, kinh Phạm-ma dụ chép: “Âm thanh thuyết pháp của Đức Phật có tám đặc tính: rất hay; dễ hiểu; êm dịu; hòa nhã; thông đạt; không nhầm lẫn, sâu lắng; không có âm thanh người nữ, không thiếu sót, không ngắn hụt”.
Luật Thập tụng ghi: “Chư thiên nghe kệ tán, lòng rất vui mừng, nên Đức Phật cho phép tán tụng”.
Kinh Tì-ni-mẫu chép: “Đức Phật bảo các tì kheo:
- Cho phép các ông tán tụng. Tán tụng là âm thanh của lời nói, tuy nghe, nhưng chưa biết nói những pháp gì?
Có người nghi: “Đức Phật dạy: ‘Từ Tu-đa-la cho đến Ưu-ba-đề-xá, thì tùy ý diễn nói’. Nhưng đối với mười hai thể loại kinh, có người nghi ngờ, như muốn diễn nói theo thứ lớp thì văn rất dài dòng, e sinh tâm nhàm chán. Nhưng nếu chỉ chọn lọc lấy những lời hay, nêu rõ ràng ý nghĩa, thì không biết thế nào?”.
Các tì-kheo thưa việc này lên Đức Phật. Đức Phật cho phép trích dẫn những lời hay ý đẹp, diễn đạt ý nghĩa rõ ràng trong kinh.
Lúc ấy, có một tì-kheo, đứng cách Phật không xa, cất tiếng hát lớn để diễn lời kinh. Đức Phật nghe xong, không cho phép tụng kinh bằng âm điệu này. Vì có năm lỗi giống âm điệu thuyết pháp của ngoại đạo.
1. Không tự kềm chế mình.
2. Không hợp với đại chúng.
3. Chư thiên không vui.
4. Lời không đúng, khó hiểu.
5. Lời không rõ, nên cũng khó hiểu nghĩa”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm, vua Ba-tư-nặc dẫn quân lính đến địa phận Kì-hoàn, bỗng nghe âm thanh tán tụng rất hay của một tì-kheo, tất cả quân lính và cả voi ngựa cũng đều dừng lại lắng tai nghe, không chịu đi. Vua dẫn quân lính vào chùa xem, thấy một tì-kheo thấp bé, diện mạo vô cùng xấu xí đang tán tụng thì không nỡ nhìn, liền đến hỏi Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tì-kheo này đời trước đã tạo nghiệp gì mà bị quả báo như thế?
Đức Phật bảo vua:
- Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, vua Cơ-lí-tì thâu xá-lợi định xây tháp cúng dường. Lúc ấy có bốn long vương hóa làm hình người đến hỏi vua:
- Đại vương định xây tháp bằng vật báu hay bằng đất?
Nhà vua đáp:
- Muốn xây tháp lớn, phải cần rất nhiều của báu, nên nay ta chỉ dùng đất để xây, chiều ngang năm dặm, chiêu cao hai mươi lăm dặm.
Long vương nói:
- Ta là long vương, hôm nay đến đây hỏi đại vương, nếu dùng vật báu xây tháp thì ta giúp đỡ.
Vua nghe xong, lòng rất vui mừng. Long vương lại nói:
- Ngoài bốn cổng thành có bốn dòng suối, ta sẽ biến dòng suối phía đông thành con hào toàn bàng lưu li, dòng suối phía nam bằng vàng ròng, dòng suối phía tây toàn bằng bạc, dòng suối phía bắc thì biến thành bạch ngọc trắng.
Vua nghe xong, càng thêm vui mừng, liền cho xây tháp, mỗi tháp đều đặt một vị quan trông coi. Ba vị quan kia siêng năng, nên việc xây dựng sắp xong, chỉ riêng một quan vì biếng trễ, nên chưa hoàn thành. Vua đích thân đến xem xét, thấy thế liền quở trách, vị quan ấy sinh lòng oán hận tâu vua:
- Tháp này quá lớn, làm đến bao giờ mới xong?
Ngay lúc ấy, vua ra lệnh cho nhân công ngày đêm siêng năng làm việc. Chỉ trong thời gian ngắn thì công trình hoàn thành. Ngôi tháp cao vút, các báu trang nghiêm, hùng vĩ khác thường. Vị quan ấy thấy thế, vui mừng khôn xiết, liền sám hối và đem chiếc chuông vàng đặt trên đỉnh tháp, phát nguyện:
- Nguyện cho con sinh ra nơi nào, cũng được giọng nói rất hay, tất cả chúng sinh đều thích nghe, tương lai được gặp Đức Phật Thích-ca và thoát khỏi sinh tử.
Vì thuở xưa, ông ta chê tháp quá lớn, nên sinh ra nơi nào cũng thường bị xấu xí. Nhưng nhờ đem chuông vàng đặt lên đỉnh tháp và nguyện gặp Phật, nên từ đó về sau, trải qua năm trăm đời, tì-kheo này có âm giọng tuyệt hảo. Nay lại được gặp Ta, xuất gia tu đạo chứng quả A-la-hán. Do đó, tất cả chúng sinh thấy người khác làm phúc không nên chê bai, nếu không, sẽ bị quả báo ác, hối hận không kịp”..
34.3. CA NGỢI
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Ta nhớ thuở xưa, có Đức Phật Phất-sa Đa-đà-a-già-độ A-la-ha tam-miệu tam-phật-đà ra đời. Lúc ấy, Ta nhìn thấy đức Phật ở trong hang núi Tạp Bảo, lòng rất vui mừng, liền chắp taỵ đứng một chân suốt bảy ngày bảy đêm và nói kệ khen Phật:
Khắp trời người, không ai bằng Phật,
Mười phương thế giới cũng không sánh,
Những người Ta gặp ở thế gian,
Tất cả đều không ai bằng Ngài.
Này A-nan! Khi Ta nói kệ xong, liền phát nguyện, cho đến khi Đức Phật kia bảo thị giả: ‘Người này trải qua chín mươi bốn kiếp sẽ được thành Phật, hiệu là Thích-ca Mâu-ni’. Ta được thụ kí xong, lại càng thêm tinh tấn, tăng trưởng công đức, trong vô lượng kiếp, thường làm trời Đế Thích, Chuyển luân thánh vương. Nhờ nhân duyên nghiệp lành ấy, nên Ta được đầy đủ bốn biện tài, không ai sánh kịp, cho đến đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề,v chuyển pháp luân vô thượng”.
Lại nữa, kinh Niết-bàn ghi: “Bấy giờ, bồ-tát Ca-diếp ở trước Phật nói kệ khen:
Đại Y Vương thương xót thế gian,
Thân và trí tuệ đều vắng lặng,
Trong pháp vổ ngã có thật ngã,
Thế nên kính lễ Vô Thượng Tôn,
Sơ phát, rốt sau, tâm không khắc,
Hai tâm như thế, tâm trước khó,
Chưa độ cho mình, trước độ người,
Nên con đỉnh lễ Sơ phát tâm Luận Bảo tính có bài kệ:
Con nay lễ tất cả
Các đấng Vô Thượng Tôn

Phần 9

Mở kho tàng Pháp Vương
Làm lợi ích muôn loài.
Thân Phật không mé trước
Lại chẳng thuộc khoảng giữa
Cũng chẳng phải mẻ sau
Vắng lặng tự giác tri.
Đã tự giác tri rồi
Giúp người khác giác ngộ
Cho nên luôn giảng nói
Hành đạo không sợ hãi.
Phật đủ sức trí bi
Nắm lấy chày kim cang
Đập nát núi tà kiến
Cho nên con kính lễ.
Pháp này chẳng nghĩ bàn
Chẳng thuộc cảnh văn tuệ
Vượt ngoài đường ngôn ngữ
Trí tâm đều mát mẻ.
Mặt trời chân diệu pháp
Trong sạch không bụi nhơ
Ánh sáng đại trí tuệ
Chiếu soi khắp thế gian
Phá tan bao chướng ngại
Giác quán tham sân si
Tất cả các phiền não,
Cho nên con đỉnh lễ.
Vì biết rõ vốn có
Tự tính thanh tịnh tâm
Thấy phiền não không thật
Nên xa lìa phiền não.
Trí tuệ tịnh vô chướng
Như thật thấy chúng sinh
Tự tính thanh tịnh tâm
Là cảnh giới Phật pháp.
Mắt trí sạch vô ngại
Thấy rõ tính chúng sinh
Khắp vô lượng cảnh giới
Cho nên con kính lễ.
Trong luận Phát bồ-đề tâm, luận chủ nói kệ ca ngợi Phật:
Nay con kính lễ vô biên Phật,
Quá khứ, vị lai và hiện tại,
Trí tuệ bất động tợ hư không,
Đấng Đại Bi hay cứu giúp đời.
***
Thầy ta là trời trong các trời,
Chúng sinh ba cõi chẳng bằng người
(kình Phổ diệu).
♦ ♦ ♦
Vì sao thế giới được trường thọ,
Chứng đắc kim cương bất hoại thân
(kinh Niết-bàn).
***
Sắc thân Như Lai thật vi diệu,
Tất cả trên đời không ai bằng
(kinh Thắng Man).
***
Sống nơi thế giới tựa hư không,
Giống như hoa sen không ô nhiễm
(kinh Siêu Nhật Nguyệt Tuệ Minh).
***
Đại từ thương xót cả quần sinh,
Âm cái phiền não khiến vô minh,
Mở mắt người mù nhìn thấy được,
Cứu người điếc tỏ đạo quang vinh,
Ở nơi thế giới tựa hư không,
Lại giống hoa sen nào nhiễm dính,
Vượt hơn cõi kia tâm hằng tịnh,
Cúi đầu đỉnh lễ đấng Đại Minh.
* Lời bàn
Hỏi: Trung Quốc lưu hành kinh văn rất thích lược bớt, cho nên trong chúng làm kệ tán tụng, phần nhiều chỉ có nửa bài, Do đó trong luận Tì-ni-mẫu chép: ‘Làm nửa bài kệ tụng, bị tội đột-cát-la’. Nhưng chưa biết âm từ Phạn bái này xuất xứ từ kinh điển nào ở Ân Độ?
Đáp: Chỉ có bậc thánh mới có thể đặt ra kệ tán tụng theo lời kệ trong kinh mà tán tụng thì không
ngại. Ở vùng Quan nội và Quan ngoại, các triều đại Ngô, Thục, lời tán tụng tùy theo sự ưa thích mà có nhiều loại. Nhưng Phạn, Hán đã khác nhau, nên âm vận cũng không thể dùng lẫn lộn. Đến triều nhà Tống có pháp sư Khương Tăng Hội người nước Khương Cư, học rộng hiểu nhiêu, dịch các kinh điển, giỏi tiếng Phạn, lưu truyền kệ tụng Nê-hoàn, chế ra âm thanh hòa dịu buồn cảm, rất nổi tiếng ở đời. Các nhà âm thanh học đều lấy đó làm phép tắc. Lại thuở xưa, vào đời nhà Tấn có pháp sư Đạo An chế ra ba khoa như thượng kinh, thượng giảng và bố-tát. Các bậc hiền xưa lập ra qui chế, làm phép tắc trong thiên hạ, lưu truyền mãi mọi người đều thực hành.
Đến thời nhà Ngụy có người con thứ tư của Ngụy Vũ đế là Trần Tư vương Tào Thực, tự là Tử Kiến, tuổi nhỏ mà rất giỏi văn chương. Năm lên bảy tuổi, Tào Thực chỉ cần hạ bút là thành văn, hoàn toàn không cần phải sửa chữa. Bao nhiêu nghệ thuật thế gian, ông đều thông suốt. Hàm Đan Thuần nhìn thấy thì vô cùng khâm phục, khen là người cõi trời. Mỗi lần đọc kinh Phật, Tào Thực không ngớt khen ngợi, cho là cốt tủy của chí đạo, bèn chế ra bảy thanh, âm vận trầm bổng, uyển chuyển, đời đều lấy đó làm qui luật phúng tụng. Có lần, Tào Thực đến núi Ngư, bỗng nghe trên hư không phát ra âm thanh Phạm thiên thật thanh nhã, bi cảm, xúc động lòng người. Tào Thực nghe được một lát, thì những người hầu cận cũng đều được nghe. Ông cảm nhận sâu sắc được diệu lí, càng tỏ ngộ sự ứng nghiệm của Phật pháp, bèn mô phỏng âm thanh tiết tấu, soạn sách tán tụng bằng tiếng Phạn, chọn văn chế âm, truyền lại làm cách thức cho đời sau. Phạn bái xuất hiện ở đời khởi đàu từ đây. Pháp tán tụng này gồm có sáu khế”.
34.4. ÂM NHẠC
Kinh Bách duyên ghi:

Phần 10

Khi Đức Phật còn tại thế, trong thành Vương Xá có các trưởng giả giàu sang cùng nhau tụ tập mở đại hội ca hát, nhảy múa vui chơi. Bấy giờ có vợ chồng vũ sư từ phương nam đến dẫn theo một đứa con gái tên là Thanh Liên Hoa. Thanh Liên Hoa đoan chính, xinh đẹp hiếm có ở đời. Nàng rất thông minh, có thể ứng đáp nhanh các câu gạn hỏi. Nàng biết hết sáu mươi bốn nghề của người phụ nữ, lại còn rất giỏi về các điệu múa. Nàng uốn lượn, xoay tròn, cúi xuống, ngang lên, bẻ cong tay chân v.v... rất dẻo dai và đẹp mắt. Vì thế, nàng ngạo mạn nói:
- Nay trong thành này có người nào có thể múa như tôi không? Có ai hiểu rõ kinh luận để hỏi đáp không?
Mọi người đáp:
- Đức Phật Thế Tôn hiện đang ở trong rừng tre Ca-lan-đà. Ngài có thể giải đáp làm cho ngươi dứt hết nghi ngờ.
Nghe mọi người nói thế, Liên Hoa liền cùng mọi người vừa hát, vừa múa đi đến rừng tre. Khi đã vào rừng trúc mà Liên Hoa vẫn còn kiêu mạn, tung tăng, cười giỡn không chút kiêng nể Như Lai. Thấy cô ta như vậy, Như Lai liền dùng thần lực biến cô gái ấy thành một bà lão trăm tuổi, tóc bạc, mặt nhăn, răng thưa thiếu, lom khom nhấc từng bước. Cô khó nhọc bước đi và nhìn lại thân mình, thì thấy hình hài trở nên già nua, nàng nghĩ: ‘Vì sao đang là một thiếu nữ xinh đẹp, bỗng tôi trở thành một bà lão như thế này? Chắc là do oai lực của Phật khiến như thế.
Nghĩ xong, cô gái liền đến trước Phật, lòng hổ thẹn nguyện xin Thế Tôn tha lỗi. Lúc ấy, Thế Tôn biết cô gái đã chuyển tâm thuần phục, Ngài dùng thần lực biến thân cô trở lại như trước. Mọi người thấy cô gái ấy lúc làm bà lão, lúc làm cô gái, mọi người đều sinh tâm nhàm chán và hiểu được lẽ vô thường, tâm mờ ý tỏ. Bấy giờ có người chứng được một trong bốn quả Sa-môn, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề.
Khi ấy, cô gái và cha mẹ ở trước Phật cầu xin xuất gia. Phật nói: ‘Thiện lai tì-kheo ni!’. Lập tức tóc cô tự rụng, pháp y đắp trên thân, thành tì-kheo ni. Sau đó, cô tu hành tinh tấn và chứng quả A-la-hán, trời người thấy đều kính ngưỡng.

Mọi người chính mắt chứng kiến việc ấy, liền cầu Phật giảng nhân duyên. Đức Phật nói:
- Vô lượng đời trước có thái tử Tôn-đà-lợi, con vua nước Ba-la-nại vào núi học đạo, đạt ngũ thần thông. Thái tử thấy một Khẩn-na-la nữ đoan chính, xinh đẹp giống như chư thiên, dáng vẻ lả lướt vừa ca hát, vừa nhảy múa muốn làm động lòng Ta, mong Ta tham đắm mà lui sụt đạo quả. Lúc ấy, tâm Ta kiên cố không có dục tưởng và nói với khẩn-na-la nữ kia: “Tất cả các pháp hữu vi đều không trường tồn, nay Ta xem xét, thấy thân thể của ngươi bên trong chứa đầy những thứ hôi thối, chỉ lớp da mỏng bọc ngoài, không thể gìn giữ lâu dài. Chính vì thế, ngươi sẽ bị tóc bạc, mặt nhăn, lom khom nhấc từng bước. Vì sao ngươi lại ra vẻ ngạo mạn, hống hách đến thế? Giọng ca trước đây của ngươi nay đã biến đổi, tại sao ngươi còn ở đây tỏ vẻ?”.
Khẩn-na-la nữ nghe nói thế liền đến trước tiên nhân sám hối lỗi lầm trước và nhân đó phát nguyện: ‘Xin cho tôi ở đời vị lai dứt đường sinh tử, luôn được ở bên người chứng đạo quả’.
Phật nói:
- Vị thái tử ấy chính là Ta Nữ khẩn-na-la kia nay chính là tì-kheo ni Thanh Liên Hoa. Nhờ trước kia phát nguyện, nên nay được gặp Ta xuất gia đắc đạo.
Các tì-kheo nghe Phật nói ai nấy đều hoan hỉ phụng hành.
Kinh Bách duyên ghi:
Lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Ca-tì-la-vệ có một vị trưởng giả rất giàu, tài bảo nhiều vô lượng không thể tính kễ. Vợ ông ta sinh được một đứa con trai khôi ngô tuấn tú ở đời hiểm có. Đứa trẻ ngày một lớn khôn và có giọng nóỉ rất hay khiến cho mọi người ai cũng thích nghe, về sau đứa bé gặp được Phật, rồi xuất gia học đạo và chứng quả A-la-han.
Khi ấy, các tì-kheo thỉnh Phật nói nhân duyên đứa trẻ được gặp Phật, xuất gia, tu hành, chứng quả.
Phật bảo các tì-kheo: “Thuở xưa, cách đây chín mươi mốt kiếp, có Đức Phật Tì-bà-thi xuất hiện ở đời. Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, quốc vương Bàn-đầu-mạt-đê thâu lấy xá-lợi Phật, xây bốn ngôi tháp cao một do tuần để cúng dường xá-lợi. Bấy giờ, có một người nhìn thấy những ngôi tháp ấy sinh tâm hoan hỉ, nhiễu quanh tháp trỗi nhạc cúng dường và phát nguyện rồi bỏ đi. Nhờ công đức ấy mà người kia trong chín mươi kiếp không bị đọa vào ba đường ác, được sinh lên cõi trời, vào cõi người có giọng nói rất hay, ai cũng thích nghe. Cho đến nay người ấy gặp được Ta xuất gia, tu học và chứng được đạo quả”.
Các tì-kheo nghe Đức Phật nói tất cả đều hoan hỉ phụng hành.
Kinh Bách duyên ghi: “Thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, có một số người sống trong thành Xá-vệ trang điểm và tấu nhạc ca hát. Một hôm, họ lần lượt kéo nhau ra ngoài dạo chơi, vừa đến cổng thành thì gặp Đức Phật và chư tăng khất thực, lòng rất vui mừng, liền lễ bái, trỗi nhạc cúng dường và phát nguyện rồi đi.
Đức Phật mỉm cười, bảo A-nan:
- Những người này nhờ công đức trỗi nhạc cúng dường Ta và chúng tăng, vị lai, trải qua một trăm kiếp, họ không rơi vào đường ác, sinh lên cõi trời hay xuông cõi người, cũng đều hưởng thụ sự vui sướng. Trải qua một trăm kiếp sau, họ thành bích-chi phật, đồng một hiệu là Diệu Thanh. Do nhân duyên ấy, nếu có người trỗi nhạc cúng dường Tam bảo, thì người ấy sẽ được công đức vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn”.
Trong kinh Pháp hoa có bài kệ:
Nếu có người trỗi nhạc,
Đánh trống thổi sừng, ốc,
Tiêu, địch, cẩm, không hầu,
Tì bà, nao, đồng, bại,
Những tiếng hay như thế,
Tât cả dâng cúng dường,
Đều đã thành Phật đạo.
Lại nữa, kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Có một khẩn-na-la vương cư trú ở núi Đại Hắc, bên ngoài Tiêu Thiết Vi, phía bắc núi Tu-di, cũng ở trong mười núi báu. Nơi ấy không có Phật pháp, mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Nhưng vị này nhờ sức bố thí mà được ở trong cung điện bảy báu, thọ mạng lâu dài. Thuở xưa, lúc khẩn-na-la này còn trong loài người, có một trưởng giả rất giàu phát tâm xây tháp Phật, khẩn-na-la cúng dường một cây cột, giúp hoàn thành ngôi chùa, lại cung cấp thức ăn ngon cho những người thợ. Sau khi mạng chung, ông sinh làm thần Hung Ức, sống giữa hai ngọn núi. Lại thuở xưa khẩn-na-la này ở thế gian, làm một đại trưởng giả rất giàu có, của cải nhiều vô lượng, lúc ấy có một sa-môn đến khất thực, người vợ dâng cúng thức ăn, ông tức giận nói:
- Tại sao người khất thực nhìn vợ ta? Phải làm cho tay chân người này bị đứt lìa!
Vì thế, sau khi mạng chung ông ta phải chịu thân hình xấu xí, trải qua tám mươi bốn kiếp, thường không có tay chân. Chư thiên mở hội yến tiệc, vị này cùng với các càn-thát-bà luân phiên lên xuống. Bấy giờ, chư thiên định tấu nhạc, thì dưới nách đều tiết mồ hôi, họ liền lên trời, thấy một khẩn-na-la tên là Đầu-lâu-ma đang đàn ca về thật tướng các pháp, khen ngợi đức Thế Tôn. Lúc ấy, núi Tu-di và các núi rừng khác đều chấn động, ngài Ca-diếp ngồi trên tòa không an, năm trăm tiên nhân đều mê loạn, mất thần thông”.
Lại nữa, trong kinh Đại Thụ khẩn-na-la vương sở vấn ghi: “Lúc bấy giờ, Đại Thụ khẩn-na-la vương dùng hoa lá bằng vàng Diêm-phù-đàn trang trí cây đàn lưu li do nghiệp thiện tịnh tạo ra, lại đến trước Thế Tôn gảy đàn và tấu tám mươi bốn nghìn kĩ nhạc khác cúng dường Đức Phật. Khi vị Đại Thụ vương này gảy đàn, âm thanh vang lên cao vút đến tận tam thiên đại thiên thế giới. Tiếng đàn và giọng ca tuyệt diệu của vị khẩn-na-la này lấn át cả âm nhạc của chư thiên ở cõi Dục. Tất cả núi, rừng, cây cỏ thảy đều chấn động, trạng thái như người say rượu bước đi nghiêng ngả, núi Tu-di lắc lư trồi sụt không yên, chỉ trừ những bậc bồ-tát Bất thoái chuyển mới không bị lay động, còn tất cả hễ nghe tiếng đàn và âm nhạc ấy đều không thể ngồi yên, liền đứng dậy nhảy múa. Tất cả thanh văn bỏ hết oai nghi, cùng nhau nhảy múa, đùa giỡn như đứa bé, không thể kiềm chế được. Lúc ấy, bồ-tát Thiên Quang nói với các vị thanh văn như ngài Đại Ca-diếp.
- Đại đức! Các ngài đã lìa phiền não, đạt được tám giải thoát, vì sao hôm nay lại bỏ oai nghi, nhảy múa, ca hát giống như đứa bé vậy?
Các đại đức thanh văn đều đáp:

Phần 11

- Này hiền giả! Lúc ấy chúng tôi không thể tự chủ được, như cơn lốc xoáy, quật ngã cây cối, không có năng lực kiềm giữ, chớ chẳng phải muốn như thế!
Lúc ấy, bồ-tát Thiên Quang nói với ngài Ca-diếp:
- Hôm nay ngài đã tận mắt nhìn thấy oai đức thế lực của bồ-tát Bất thoái, bất cứ ai được nhìn thấy như thế, cũng đều phát tâm Vô thượng chính chân bồ-đề! Bởi vì oai lực tiếng đàn này đều phát ra âm thanh giáo pháp, giúp cho tám nghìn bồ-tát đều chứng Vô sinh nhẫn.
Tụng rằng:
Trời trong tỏa khí thanh,
Tiếng thần thấu tai điếc,
Lên đài vịnh tiếng xuân,
Cao hứng xa dấu vết,
Nương không cảm linh giác,
Núi Ngư chấn Tư vương,
Mô phỏng tiếng Phạm thiên,
Mong pháp âm rộng khắp,
Du dương không đoạn dứt,
Dìu dặt giữa không gian,
Tì-kheo tụng âm Phạn,
Người, vật động cõi lòng,
Cũng do xướng pháp mầu,
Cảm bầy nhạn trên không,
Sáng ra lòng tỉnh ngộ Hoát nhiên tự linh thông”.
34.5. CẢM ỨNG
34.5.1. Đời Tấn, sa-môn Bạch Pháp Kiều: Sư người Trung Sơn, khi còn nhỏ đã thích đọc tụng kinh điển, nhưng hơi ngắn và yếu, nên trong lòng cảm thương cho chính mình. Nhân đó sư phát nguyện nhịn ăn, đối trước tượng Quán Âm đỉnh lễ sám hối suốt bảy ngày bảy đêm để cầu phúc báo hiện tại. Mặc dù, những người đồng học hết lòng can ngăn, nhưng sư nguyện không thay đổi. Đến ngày thứ bảy, sư cảm thấy cổ họng mình khai thông, liền xin nước súc miệng và nói: “Tôi đã được ứng nghiệm" Từ đó, sư tụng kinh tiếng vang xa khoảng ba dặm, kẻ xa người gần đều ngạc nhiên và ngợi khen, người và vật đều đến xem nghe.
Từ đó về sau, sư tụng được năm mươi vạn lời, ngâm vịnh suốt ngày đêm, giọng đọc buồn thương và uyển chuyển, cảm đến thần linh. Năm sư chín mươi tuổi mà giọng vẫn không thay đổi.
Sư thị tịch ở Hà Bắc, khoảng niên hiệu Vĩnh Hòa (345-357), Mục đế đời Tấn, tức cuối đời Thạch Hổ.
34.5.2. Đời Tấn, sa-môn Chi Đàm Dược: Sư người nước Nhục-chi, nhưng cư ngụ ở Kiến Nghiệp. Sư xuất gia từ nhỏ, siêng năng tu tập, ăn uống đạm bạc, ẩn tu tại núi Hổ Khâu, đất Ngô. Vua Hiếu Vũ đời Tấn thỉnh sư đến trụ trì chùa Kiến Sơ thuộc kinh đô và cầu thụ năm giới.
Sư có chất giọng trời cho, nên tụng đọc rất hay. Sư từng mộng được thiên thần truyền cho cách luyện thanh. Nhân đó sư sáng tác ra những thanh điệu mới, làm cho âm thanh trong trẻo, thánh thoát và vang vọng khăp bốn phương. Mặc dù trước đã có Đông A cải biến và sau đó Khương Tăng Hội có sáng chế ra cách tán tụng, nhưng vẫn chưa có cách tán tụng nào hay như của sư. Người đời sau đều tuân theo phương pháp này. Sáu âm điệu tán tụng kinh văn do sư chế tác được lưu truyền đến ngày nay.
Sư tịch ở chùa Kiến Sơ, thọ tám mươi mốt tuổi.
34.5.3, Sa-môn Thích Tăng Biện: Sư họ Ngô, người Kiến Khang, xuất gia ở chùa An Lạc. Lúc còn nhỏ sư đã thích tụng kinh, giọng buồn thương uyển chuyển. Vào khoảng đầu đời Tề, không ai hơn được sư.
Có lần sư thụ trai tại nhà Lưu Thiệu ở Tân Đình vào đầu hôm, sư tụng kinh, nhưng vừa mới tụng được một đoạn, bỗng có bầy hạc bay đến đậu trước thềm nhà, Đến khi sư tụng hết một quyển thì bầy hạc đồng loạt bay đi. Do đó, tiếng tăm của sư vang khắp thiên hạ, xa gần đều biết. Những người đến cầu học đều hết lòng tôn kính và phụng sự.
Đến ngày 19 tháng 2, niên hiệu Vĩnh Minh thứ bảy (489), Tư đồ Cánh Lăng Văn Tuyên vương nằm mộng thấy mình ở trước Phật, vịnh một đoạn kinh Duy-ma. Nhờ âm thanh phát ra mà ông tỉnh giấc, liền ngồi dậy đến điện Phật, theo cách thức đã mộng thấy, vịnh lại đoạn cổ Duy-ma, nhân đó phát hiện âm giọng thông suốt, hay hơn ngày thường.
Sáng hôm sau, ông cho mời các vị sa-môn ở kinh đô giỏi về thanh điệu như Thích Tăng Biện v.v... lần lượt soạn nhạc. Sư soạn thanh điệu cho một đoạn cổ Duy-ma và bài kệ bảy chữ của kinh Thụy ứng, sư là người xuất sắc nhất.
Người đời sau có lưu truyền cách tụng đọc của sư, nhưng phần nhiều đều bị sai lạc, đánh mất phần chính yếu. Sư tịch vào niên hiệu Vĩnh Minh mười một (493).
34.5.4. Đời Tề, sa-môn Thích Đàm Bằng: Sư tên là Dương Kiền, người Nam An, trụ ở chùa Bạch Mã. Lúc còn trẻ có lần sư đến kinh đô học cách tán tụng kinh điển ở chùa Bạch Mã. Tuy sư có giọng rất hay, nhưng hay phạm lỗi về âm điệu và tùy tiện, nên không được người thời ấy khen ngợi. Từ đó sư càng để tâm nghiên cứu các quy tắc, âm luật nhiều hơn.
về già, tài năng tán tụng của sư càng xuất sắc, nhưng bỗng nhiên thay đổi quan niệm, chuyên tụng kinh Bản khởi, rất giỏi thanh luật. Sau đó, sư trở về trụ tại chùa Long Uyên ở đất Thục. Những người nghiên cứu về thinh âm ở vùng Ba Hán đều khâm phục luật phối âm của sư.
Từ đó, mỗi khi sư tụng kinh làm cho voi ngựa kêu gào thảm thiết, hoặc đang đi thì liền đứng lại. Nhân đó, sư chế tạo ra chuông đồng, nguyện đới vị lai luôn được bát âm, tứ biện. Ở Dung Thục có chuông đồng bắt nguồn từ đây. Không lâu sau, sư tịch tại chùa Long Uyên.
34.5.5. Đời Bắc Tề, có một quan nhân họ Lương rất giàu có, lúc sắp qua đời, ông dặn vợ: “Thường ngày tôi yêu thương đứa đầy tớ và con ngựa; sai khiến, cưỡi chúng lâu ngày rất hợp ý. Tôi chết rồi nên chôn chúng theo tôi, nếu không làm như vậy thì chẳng có gì để cưỡi và sai khiến”.

Đến khi ông chết, người nhà dùng bao đựng đày đất đè chết người đầy tớ, nhưng con ngựa vẫn chưa giết. Người đầy tớ chết được bốn ngày thì sống lại, kể rằng: “Trong lúc bất giác, tôi bỗng thấy mình đến trước cửa quan phủ, người canh cửa chặn lại và ngủ ở ngoài một đêm. Sáng hôm sau, tôi thấy chủ cũ của mình bị xiềng xích, có lính áp giải, dẫn vào quan. Ông chủ thấy tôi liền nói:
- Ta cho là người chết vẫn có thể sai khiến nô bộc, cho nên mới bảo gọi ngươi. Nay mỗi người tự chịu khổ, hoàn toàn không liên quan ngươi. Nay ta sẽ thưa với quan tha cho ngươi!
Nói xong, ông chủ đi vào trong.
Tôi nấp ở bên ngoài lén nhìn, nghe vị quan hỏi người áp giải:
- Hôm qua ngươi ép mỡ được nhiều ít?
Tên quản ngục thưa:
- Được tám đấu.
Vị quan bảo:
- Phải ép tiếp, lấy đủ một hộc sáu đấu!
Ông chủ bị lôi ra ngoài mà không nói được một lời.
Sáng hôm sau, ông chủ bị lính gác lại dẫn đến, nhưng sắc mặt tươi tỉnh hơn và nói với tôi: “Nay ta sẽ xin quan thả ngươi”. Nói xong, ông chủ bị dẫn vào trong.
Vị quan hỏi tên lính:
- Có ép được mỡ không?
Tên lính đáp:
- Không được.
Quan hỏi:
- Vì sao không được?
Tên lính thưa:

Phần 12

- Người này chết ba ngày, người nhà vì nó mà thỉnh tăng thiết trai, cho nên mỗi khi nghe tiếng tụng kinh thì cây đòn sắt liền gãy, nên không ép được.
Quan bảo:
- Hãy dẫn nó đi.
Nhân đó, chủ ti thưa:
- Xin quan tha cho đứa đầy tớ này!
Quan liền bảo đưa cả hai người ra khỏi cửa.
Ông chủ sai tôi về nói với vợ con ông: “Ta nhờ các người làm việc phúc nên thoát khổ miễn ngục hình, nhưng vẫn chưa thoát khỏi ngục; các người nên in kinh, tạo tượng để cứu giúp, mong nhờ phúc đức ấy mới có thể thoát được. Từ nay không nên sát sinh cúng tế nữa, ta đã không ăn được mà càng mang thêm tội! .
Nói xong, ông chủ từ biệt tôi.
Đứa đầy tớ sống lại và kể hết những gì ông chủ dặn cho người nhà nghe. Hôm ấy, đúng vào ngày mất của ông, nên mọi người đang chuẩn bị cúng tế và đãi tiệc. Nhưng nghe người đầy tớ nói, họ dốc hết tiền của tạo công đức, cả nhà cùng nhau học đạo tu hành.
34.5.6. Đời Đường, Thứ sử Nhâm Nghĩa Phương: Ông quê ở Lạc An, làm thứ sử Quát châu. Vào khoảng niên hiệu Vũ Đức (618-627), ông qua đời, vài ngày sau bỗng nhiên sống lại và kể: “Tôi bị dẫn đến gặp Diêm-vương. Diêm-vương sai người dẫn tôi đi xem cảnh địa ngục; thật giống như những gì trong kinh Phật nói. Ở dưới địa ngục cả ngày lẫn đêm đều tối tăm, giống như đang đi trong sương mù”.
Bấy giờ, người trong nhà thấy trên tim của ông còn chút hơi ấm, liền thỉnh chúng tăng đến tụng kinh. Ngay lức ấy, Nghĩa Phương ở dưới địa ngục nghe được tiếng tụng kinh. Diêm-vương tra lại án và nói với sứ giả: “Người này chưa đến lúc chết, sao lại bắt nhầm?”. Diêm-vương ra lệnh thả ông trở về. Ông đi qua ba cửa ngục, các quan giữ cửa đều ngủ quên. Người đưa Nghĩa Phương đi nói: “Ông chỉ cần lần theo tiếng tụng kinh thì sẽ về đến nhà”.
Trên đường đi, Nghĩa Phương thấy có một cái hầm lớn nằm chắn ngang đường, ông có ý muốn nhảy qua, nhưng bị rơi xuống hầm. Lúc ông sống lại đã kể cho mọi người biết sự việc và vẽ lại cảnh tượng ở địa ngục trên mặt đất.
Từ đó, ông dốc hết bổng lộc của mình ra in kinh tạo tượng. Ông từng in hơn một nghìn bộ kinh Kim-cang bát-nhã.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục