PUCL QUYỂN 37 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP
16/11/2015
QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi...

QUYỂN 37
Quyển này có một chương Kính tháp.
35. CHƯƠNG KÍNH THÁP
Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi. Vì thế, bảo tháp vọt lên từ lòng đất ở Linh Sơn, hình tượng Phật lưu lại trong hang đá, hoặc được tạo bằng gỗ chiên-đàn, vẽ trên lụa, hay đúc bằng vàng, chạm bằng ngọc quí. Như Lai xá-lợi toàn thân và toái thân, tụ tháp và tán tháp diệu kỳ, đều phóng hào quang soi sáng lớp lớp tối tăm, phúc báo cứu giúp vô số hàm thức, khiến tiếng tốt vang xa, bọn tà chuyển lòng tin kính.
Việc dựng tháp bắt đầu từ thời vua A-dục, truyền đến Trung Hoa vào đầu triều Đại Đường. Từ đó trải qua các đời, nhiều tháp đã được dựng lên, sự thần biến chẳng phải một. Do đó, kinh ghi: “Chính pháp còn ở đời hay bị hủy diệt” chính là ý này ư!"
35.2. DẪN CHỨNG
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Đức Phật đã để lại hình ảnh trong hang đá cạnh ao rồng độc ở nước Na-kiền-ha-la. Bấy giờ, Phật ngồi trong thạch thất, hiện mười tám thứ thần biến để hàng phục loài rồng, rồi tung người vào vách đá bóng như gương sáng. Từ trong đá, bóng Ngài ánh hiện ra ngoài. Đứng xa nhìn thì thấy bóng Ngài, đến gần nhìn thì ẩn mất. Hàng trăm nghìn vị trời đã đến đây cúng dường. Bóng Phật cũng thuyết pháp cho họ nghe (Đến nay, hình bóng ấy vẫn còn, truyền mãi đến ngài Di-lặc)
Kinh Đại tập ghi: “Trong vườn Chiếu Minh, phía đông cung điện của trời Đao-lợi có tháp thờ tóc Phật. Trong vườn Thô Sáp ở phía nam cung điện có tháp thờ y của Phật. Trong vườn Hoan Hỉ ở phía tây cung điện có tháp thờ bát của Phật. Trong vườn Giá Ngự ở phía bắc cung điện có tháp thờ răng Phật”.
Luận Đại trí độ ghi: “Trời Đế Thích đem tóc và y của bồ-tát về trời và dựng tháp ở bên ngoài cửa phía đông thiên cung phụng thờ”.
Truyện A-dục vương ghi: “Vua khởi lòng tin, hỏi đạo nhân:
- Tôi xưa nay đã vô cớ giết hại nhiều người, nay nên tu nghiệp thiện gì để thoát tội ấy?
Đáp:
- Chỉ có xây tháp cúng dường chư tăng, tha người tù tội, giúp đỡ người nghèo khổ.
(Do đó, kinh Thí dụ nói rằng trong cung vua thường cúng dường bốn thứ cần dùng cho hai vạn sa-môn, hết lòng lễ kính).
Vua hỏi:
- Nên dựng tháp ở đâu?
Đạo nhân liền dùng thần lực đưa tay trái che ánh mặt trời, tạo thành tám mươi bốn nghìn luồng ánh sáng chiếu soi khắp cõi Diêm-phù-đề. Những chỗ nào ánh sáng chiếu đến thì dựng tháp ở đó. Đây chính là những nơi có tháp.
Bấy giờ, vua muốn dựng tháp xá-lợi, nên đem bốn đạo quân đến thành Vương Xá lấy xá-lợi trong tháp Phật củạ vua A-xà-thế. Vua cho sửa sang ngôi tháp này lại giống như trước. Sau đó, vua lấy xá-lợi trong tháp Thất Phật, đến thôn Chúng Ma, được long vương đưa vào long cung, xin xá-lợi để cúng dường, liền được long vương chia cho một số xá-lợi. Vua đã cho làm tám mươi bốn nghìn chiếc hộp bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê để tôn trí xá-lợi Phật, rồi lại sai làm tám mươi bốn nghìn cái bình báu để giữ những chiếc hộp ấy. Vua còn sai làm vô số tràng phan, bảo cái để cúng dường xá-lợi, lại sai các quỉ thần bưng xá-lợi cúng dường. Đồng thời ra lệnh quỉ thần tuyên cáo đến tất cả xóm làng, thành thị khắp cõi Diêm-phù-đề cứ đủ một ức hộ thì hãy dựng một tháp thờ Đức Phật.
Bấy giờ, nước Trước-xoa-thi-la có ba mươi sáu ức gia đình. Dân trong nước ấy cầu xin quỉ thần cho ba mươi sáu hộp xá-lợi Phật để họ dựng tháp cúng dường. Vua bày phương tiện khéo léo, sai cứ tính đủ số lượng một ức dân mà ban xá-lợi cho họ xây tháp cúng dường.
Khi ấy, ở ấp Ba-Iiên-phất có vị thượng tọa Da-xá. Một hôm vua A-dục đến gặp thượng tọa và thưa:
- Tôi có ý nguyện dựng tám mươi bốn nghìn ngôi tháp ở khắp cõi Diêm-phù-đề trong cùng một ngày.
Thượng tọa nói:
- Quí thay đại vương! Vào ngày mười lăm, đúng giờ ăn trưa, đại vương hãy sai người ở cõi Diêm-phù-đề cùng lúc khởi công dựng tháp.
Thế rồi, trong một ngày, tám mươi bốn nghìn ngôi tháp đã được dựng lên. Dân chúng trên thế giới hết sức vui mừng, cùng gọi đó là tháp vua A-dục.
Kinh Đại A-dục vương ghi: “Bấy giờ, tám nước chia nhau xá-lợi Phật. Sau khi được chia tám mươi bốn nghìn viên xá-lợi và được riêng phần râu mép của Phật, vua A-xà-thế liền cung thỉnh về nước. Giữa đường, vua gặp long vương Nan-đầu-hòa đòi chia phần xá-lợi. Vua A-xà-thế không cho, long vương liền nói:
- Ta là long vương, có thừa sức mạnh để phá hoại đất nước của ông.
Lo sợ, vua A-xà-thế đành chia râu Phật cho long vương. Trở về long cung ở sâu tám mươi bốn nghìn dặm dưới núi Tu-di, long vương dựng tháp bằng thủy tinh để thờ râu Phật. Vua A-xà-thế, sau khi về nước, liền dùng hộp bằng vàng ròng đựng xá-lợi, làm một ngọn đèn thắp sáng một nghìn năm, dùng cát và nước của sông Hằng xây tháp, rồi chôn hộp xá-lợi dưới tháp ấy. Mãi sau khi vua A-dục lên ngôi, rồi cưới một phu nhân cao tám thước, tóc cũng dài bằng thân người, đầy đủ tướng quí. Theo lệnh vua, thầy tướng xem cho bà ấy xong, nói: ‘Phu nhân sẽ sinh cho đại vương một đứa bé da màu vàng ròng’. Vua liền phong bà ấy làm đệ nhị phu nhân. Thái hậu ganh ghét, luôn tìm thời cơ thuận tiện để trừ khử đệ nhị phu nhân. Đệ nhị phu nhân mang thai đủ mười tháng, sắp sinh, hôm ấy vua có việc phải ra khỏi cung. Thái hậu thừa dịp ấy, liền sai người tìm một con lợn nái sắp đẻ, rồi bảo đệ nhị phu nhân:
- Em còn ít tuổi, lại mới sinh lần đầu, do đó, em không nên để lộ mặt ra ngoài trời.
Vừa trùm mặt lại, phu nhân liền sinh đứa bé trai da vàng sáng rực cả cung điện. Thái hậu trộm đem đứa bé giết đi, lấy lợn con đặt bên cạnh phu nhân, rồi mắng:
- Ngươi bảo rằng sẽ sinh cho đại vương đứa bé trai da vàng, nhưng tại sao lại sinh ra con lợn?
Thái hậu liền cầm gậy đánh và nhốt phu nhân ở khu vườn phía sau cung điện, chăm sóc rau cải. Vừa trở về cung, nghe thái hậu tâu lại, vua không vui. Sau đó khá lâu, một hôm đi dạo trong vườn, nhìn thấy phu nhân, vua chợt thấy nhớ thương, liền cho đón bà về cung. Dần dần được gần gũi vua trở lại, rồi đệ nhị phu nhân kể lại đầy đủ sự tình trước kia. Nghe xong, vua A-dục rất kinh dị, liền sai giết tám mươi bốn nghìn bà phu nhân, lại cho xây một nhà ngục ở ngoài kinh thành để trừng trị tội nhân.
Đức Phật biết vua giết các phu nhân của mình nên phải đọa địa ngục, liền sai tì-kheo Tiêu Tán đến giáo hóa. Vua phát khởi lòng tin và hiểu đạo lý. Vua hỏi:
- Tôi đã giết tám mươi bốn nghìn vị phu nhân. Tội ấy có thể chuộc được không?
Tì-kheo đáp:
- Cứ giết một người thì phải dựng một ngôi tháp, rôi đặt dưới tháp một viên xá-lợi. Làm như thế thì đại vương sẽ được thoát tội.
Vua A-dục liền tìm xá-lợi Phật của vua A-xà-thế. Khi ấy, có một vị tướng phụ đã một trăm hai mươi tuổi, dẫn năm trăm người đi lấy xá-lợi trong nước. Tìm được xá-lợi, vua rất vui mừng, liền giao cho các quỉ thần mỗi vị đem xá-lợi về chỗ của mình. Vua ra lệnh trong một ngày phải đưa xá-lợi đến tám mươi bốn nghìn nơi. Các quỉ thần nói:
- Bởi có nhiều núi ngăn cách, nên các nơi không thể báo tin cho nhau được.
Vua bảo:
- Các ngươi hãy trở về cõi nước của mình chuẩn bị nền móng, dựng trụ và treo chuông gió lên. Tạ sẽ sai A-tu-la dùng tay che mặt trời để khắp thế giới có cùng một giờ”.
Kinh A-dục vương ghi: “Khi dựng tháp xong, vua cho dệt một nghìn hai trăm lá phan và các loài hoa, nhưng chưa kịp treo lên thì vua bị bệnh nặng. Sợ mình sẽ qua đời, nên sáu ngày sau, vua liền thỉnh chư tăng đến thượng uyển để cúng dường. Bấy giờ, có a-la-hán Ưu-ba-quật-đa nhận lời thỉnh của vua, đưa mười tám nghìn vị a-la-hán đến. Tôn giả Quật-đa có dung mạo xinh đẹp, da dẻ mịn màng; còn vua thì thân thể xấu xí, da dẻ thô nhám. Tôn giả liền nói kệ:
Khi ta làm bố thí,
Tâm tịnh dâng vật tốt.
Không như vua bố thí,
Dùng cát dâng chư Phật.
Nghe rồi, vua bảo các đại thần:
- Ta vì dùng cát cúng dường Phật, nên chịu quả báo như thế. Tại sao ta không tu hạnh cung kính Thế Tôn?
Sau đó, vua sai tìm những ngôi tháp của các đệ tử Phật thời Phật tại thế, như Ca-diếp, A-nan v.v... Đích thân vua đến chỗ các tháp ấy, thành tâm cung kính đỉnh lễ, tỏ bày sự xót xa và cúng dường mọi thứ. Vua còn dựng một ngôi tháp lớn cho mỗi vị và cúng dường những ngôi tháp này mười vạn lượng châu báu.
Đến lượt cúng dường ngôi tháp của Bạc-câu-la,
vua hỏi:
- Vị này có công đức gì?
Tôn giả Quật-đa đáp:
- Vị ấy là bậc ‘Vô bệnh đệ nhất’, nhưng không giảng câu pháp nào cho ai cả, chỉ luôn luôn im lặng.
Vua sai các quan:
- Hãy cúng dường một đồng tiền.
- Các quan hỏi vua:
- Công đức vốn bình đẳng, tại sao bệ hạ chỉ cúng dường tháp này một đồng tiền?
Vua bảo:
- Hãy nghe ta nói kệ:
Tuy trừ vô minh si,
Trí tuệ soi xét khắp,
Nhưng như Bạc-câu-la,
Thế gian được ích gì?
Lúc ấy đồng tiền kia tự quay trở lại chỗ vua. Thấy việc lạ lùng ấy, các quan cùng ca ngợi vị A-la-hán kia:
- Than ôi! Tôn giả giữ hạnh thiểu dục tri túc, dù chỉ một đồng cũng không nhận.
Vua lại liên tục cúng dường cây bồ-đề. Có vị phu nhân tên Đê-xá-la-hi-đa nghĩ: ‘Đức vua đang rất yêu mến ta, nhưng nay lại bỏ thân ngọc ngà ta mà đến cội bồ-đề. Vậy ta nên tìm cách làm cho cây ấy chết để đức vua không đến nữa. Chỉ có thế, đức vua mới chịu vui với ta. Phu nhân liền sai người tưới sữa nóng vào cây bồ-đề ấy khiến cây khô, lá rụng. Nghe tin cây bồ-đề chết, vua quá đau buồn và ngất xỉu trên đất. Thấy vua mãi âu sầu, phu nhân muốn làm vui lòng vua, liền hỏi nguyên do. Vua bảo:
- Nếu không có cây kia thì mạng tạ cũng không còn. Như Lai đã đắc đạo ở cây ấy. Nay cây ấy không còn thì ta đâu cần sống!
Phu nhân bèn sai tưới sữa lạnh vào cây ấy, nó liền sống lại. Vua nghe tin, vô cùng vui mừng, đến cội cây bồ-đề chiêm ngưỡng, mắt không rời. Sau đó, vua sai mang một nghìn bình nước thơm tưới cây bồ-đề, khiến nó cao to và sum suê, đẹp hơn trước.
về sau, vua chuẩn bị thân tâm thanh tịnh, bưng lư hương ở trên điện thờ, lễ bốn phương, tâm nghĩ, miệng nói:
- Các đệ tử hiền thánh của Như Lai ở các nơi! Hãy thương xót mà nhận sự cúng dường của con!
Khi vua nói như thế xong, có ba mươi vạn tì-kheo nhóm họp đến-. Trong số đó, mười vạn là a-la-hán, hai mươi vạn là thánh hữu học và phàm phu. Nhân đây, nhân dân, cung nhân, thái tử, các quan đã cùng với vua tạo vô lượng công đức, không thể kể xiết”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Vua A-dục hỏi các tì kheo:
- Ai ở trong Phật pháp thường thực hành bố thí rộng lớn?
Các tì-kheo nói:
- Trưởng giả cấp Cô Độc thực hành bố thí rộng lớn nhất.
Vua hỏi:
- Ông ấy bố thí như thế nào?
Các tì-kheo đáp:
- Ông ấy đã bỏ ra ức nghìn lượng vàng để bố thí.
Vua nghe xong, nghĩ: ‘Ông trưởng giả kia còn có
thể bỏ ức nghìn lượng vàng để cúng dường. Nay ta là vua, lý do gì lại không dùng ức nghìn lượng vàng để bố thí? Ta cũng sẽ dùng trăm ức nghìn lượng vàng để bố thí, cho đến đem hết kho báu riêng, cùng tất cả phu nhân, mĩ nữ, đại thần, thái tử trong cõi Diêm-phù-đề này cúng dường cho các thánh tăng. Sau đó, ta sẽ dùng bốn mươi ức lượng vàng chuộc họ lại. Tính ra, như thế ta đã dùng chín mươi sáu ức nghìn lượng vàng’. Đến khi bị bệnh nặng, vua tự biết số mạng mình sắp hết, muốn dùng trăm ức nghìn lượng vàng tạo công đức, nhưng nay điều nguyện chưa tròn thì sắp qua đời sau, chỉ còn thiếu bốn ức lượng vàng. Do đó, vua sai lấy châu báu đưa đến chùa Kê-đầu-ma cúng dường. Khi chỉ còn nửa quả a-ma-lặc vua cũng đưa đến chỗ chư tăng. Sau khi đỉnh lễ và thăm hỏi, vua thưa:
- Con cai trị cõi Diêm-phù-đề này, cõi này là của con. Nay của cải đã hết, không được tự chủ nữa, chỉ còn nửa quả a-ma-lặc này, xin các ngài nhận lấy để con thêm phúc!
Thượng tọa Da-xá sai nghiền quả a-ma-lặc, cho vào canh thạch lựu, rồi phân chia cho tất cả chư tăng.
Vua liền hỏi cận thần:
- Ai là vua cõi Diêm-phừ-đề?
Các quan tâu:
- Chính là đại vương.
Vua ngồi dậy ngoảnh nhìn bốn phía, chắp tay đỉnh lễ, nghĩ đến công đức của Phật, lòng nghĩ, miệng nói:
- Náy ta cúng dường cõi Diêm-phù-đề này cho Tam bảo.
- Vua viết giấy xác nhận, niêm phong lại, dùng ấn ngà đóng lên. Làm xong, vua liền qua đời.
Bấy giờ, thái tử và nhân dân cúng dường mọi thứ và lo việc tống táng theo nghi thức hỏa thiêu dành cho vua”.:
Kinh Pháp ích ghi: “Nay đất nước này thuộc Tam bảo, tại sao lại lập thái tử làm vua?
Nghe dân nói thế, các quan cùng nhau bỏ ra bốn ức lượng vàng đem đến chùa chuộc lại đất nước”,
Luận Thiện kiến ghi: “Vua A-dục dùng chín mươi sáu ức đồng tiền vàng để xây dựng tám mươi bốn ngôi tháp báu và cúng dường nhiều phẩm vật”.
35.3. DỰNG THÁP
* Lời bàn
Hỏi: Qua những điều kinh luận đã dẫn ở trên, đã biết lý do dựng tháp, nhưng chưa hiểu tháp nghĩa là gì, có mấy loại tháp, phàm phu có được dựng tháp tôn thờ không?
Đáp: Bởi chữ Phạn và chữ Hán khác nhau, việc phiên dịch trước sau không đồng, cho nên dẫn đên việc dùng danh từ và các thuật ngữ khác nhau, văn tự cũng nhiều sai biệt.
Tháp, tiếng Phạn là tháp-bà, Trung Hoa dịch là phương phần; hoặc tiếng Phạn là chi-đề, Trung Hoa dịch là nơi diệt ác sinh thiện; hoặc tiếng Phạn là đẩu-tẩu-ba, Trung Hoa dịch là hộ tán, như người ủng hộ và khen ngợi, người đáng được ủng hộ và khen ngợi. Chính âm tiếng Phạn của tháp là tốt-đổ-ba, Trung Hoa dịch là miếu. Miếu nghĩa là mạo, tức là linh miếu.
Việc dựng tháp có ba ý nghĩa: Một, biểu thị tính đức ưu việt của người được thờ; hai, khiến người khác tin; ba, để báo ân.
Nêu là tì-kheo phàm phu có đức hạnh cao trọng, cũng được dựng tháp thờ, còn những phàm phu khác thì không được.
Cổ thể dựng tháp ở bốn nơi:
1. Nơi đản sinh.
2. Nơi thành đạo.
3. Nơi chuyển pháp luân.
4. Nơi niết-bàn.
Nơi đản sinh và nơi thành đạo của chư Phật chắc chắn phải có chi-đề. Đức Phật chắc chắn sinh ở cội cây A-thâu-kha, Trung Hoa dịch là cây Vô ưu. Đó là nơi phu nhân của vua Tịnh Phạn đã sinh thái từ, nên gọi cây ấy là chi-đề đản sinh. Như Lai thành đạo cội cây bồ-đề, nên gọi ngôi tháp tại cây ấy là chi-đề thành đạo.
Nơi Như Lai chuyển pháp luân và niết-bàn thì không cố định. Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên để hóa độ năm vị tì-kheo ở Lộc Dã. Vườn này ngang dọc mỗi bề hai mươi lăm tầm. Một tầm bằng tám thước. Người xưa thân hình cao to nên một tầm bằng tám thước. Tổng cộng, hai mươi lăm tầm bằng hai mươi trượng. Hiện nay, người Ấn Độ lập hình tượng chuyển pháp luân ở khắp nơi, chọn vị trí đẹp, theo kích thước ấy trồng ba cây trụ và đặt lên đó ba bánh xe để biểu thị ngày xưa Đức Phật đã ba lần chuyển pháp luân tứ đế. Tháp ở những nơi ấy gọi là chi-đề chuyển pháp luân.
Nơi Như Lai nhập niết-bàn có dựng tháp để tôn trí xá-lợi Ngài, gọi. là chi-đề, niết-bàn. Ngày nay, nơi ấy có lập chùa, tên lạ chùa Niết-bàn, là nơi cố định; còn các tháp xá-lợi ở những nơi khác thì không cố định.
Bốn loại tháp trên đều gọi là tốt-đổ-ba.
Luận Tí-bà-sa ghi: “Người dựng tháp lớn và người xây tháp nhỏ ở nơi Như Lai đản sinh, chuyển pháp luân... đều được phúc đức bằng nhau. Vì hai việc làm ấy đều tôn quí. Nếu dựng tháp, dù lớn hay nhỏ để thờ Như Lai, Đại Phạm thì phúc như nhau, vì việc làm giống nhau”.
Kinh A-hàm ghi: “Có bốn hạng người đáng được dựng tháp thờ là Như Lai, bích-chi-phật, thanh văn và chuyển luân vương”.
Kinh Thập nhị nhân duyên ghi: “Có tám hạng người được dựng tháp tôn thờ: Như Lai, bồ-tát, duyên giác, a-la-hán, a-na-hàm, tư-đà-hàm, tu-đà-hoàn và chuyển luân thánh vương. Những hạng dưới chuyển luân vương thì dựng tháp đặt lộ bàn một tầng, khi thấy không cần lễ, vì đó không phải là tháp của thánh nhân. Tháp của hàng tu-đà-hoàn thì làm lộ bàn hai tầng..., cho đến tháp của Như Lai thì làm lộ bàn tám tầng. Tháp có lộ bàn tám tầng trở lên đều là tháp Phật”.
Luật Tăng-kỳ ghi: “Muốn dựng chùa, trước hết phải qui hoạch chỗ đất tốt để làm tháp, không được ở phía nam chùa, không được ở phía tây, mà phải ở phía đông hoặc phía bắc, không được lấn đất của Phật, của tăng. Phòng tăng phải ở phía tây, phía nam. Tháp Phật phải làm chỗ cao ráo, quang đãng. Không được giặt, nhuộm, phơi y phục hoặc khạc nhổ trong khuôn viên tháp. Được làm khám thờ Phật ở bốn mặt tháp, được vẽ hình sư tử, chim, thú... và treo phan, lọng trong tháp. Nên tạo vườn hoa, rừng với nhiều loại cây trái quanh tháp. Hoa trong vườn ấy nên dùng cúng dường tháp. Nếu những cây ấy do thí chủ tự phát tâm trồng thì thí chủ nên nói: ‘Hoa trong vườn này để cúng dường Phật, quả cho tăng dùng’.
Đức Phật bảo;
- Phải làm theo lời thí chủ. Nếu hoa nhiều thì có thể đưa cho thợ kết hoa xâu thành vòng, số hoa còn thừa bảo họ định giá trả tiền, nếu được tiền thì mua hương đèn cúng dường Phật và sửa sang tháp. Nếu số hoa ấy bán được nhiều tiền thì cất vào vô tận vật4 của Phật. Nếu người nào nói Phật không tham, sân, si, rồi tự ý lấy hoa quả của tháp trang trí vui chơi thì bị tội báo nặng.
Đức Phật dạy:
- Cũng phải làm chi-đề. Có xá-lợi thì gọi là tháp, không có xá-lợi thì gọi là chi-đề. Các tháp nơi Phật đản sinh, thành đạo, chuyển pháp luân, niết-bàn, tượng bồ-tát, tượng bích-chi phật, dấu chân Phật đều phải treo lọng hoa của Phật và các vật khác cúng dường, về việc cúng dường, bậc thượng là cúng dường tháp Phật, bậc hạ là cúng dường chi-đề. Nếu chợt gặp mưa gió, phải thu dọn các vật cúng dường đặt vào nơi kín đáo gần đó mà không được nói ta là thượng tọa, là đại đức khổ hạnh khất thực. Nếu không, sẽ bị tội Việt tì-ni5. Nếu có giặc cướp đến, trong lúc nguy cấp, không kịp cất giấu thì vật cúng Phật phải dùng trang nghiêm tượng Phật, còn tọa cụ của chư tăng thì nên trải ra, sắp bày các thức ăn uống để giặc cướp trông thấy. Nếu bọn cướp khởi tâm từ hỏi han thì tì-kheo đừng sợ, cứ ra gặp, Tì-kheo trẻ tuổi nên lưu ý, nếu giặc cướp đến bất ngờ, không cất giấu vật dụng, thì nên nói với chúng: ‘Tất cả các hành đều vô thường’. Nói xong, thì bỏ đi. Đây là cách ứng xử khi gặp nạn cướp’
35.4. CẢM PHÚC
Kinh Tiểu Vị tằng hữu ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Giả sử cây cỏ trong khắp bốn thiên hạ đều thành người, số người đó tu tập chứng được bốn quả Sa-môn hoặc Bích-chi-phật. Có một người suốt đời cúng dường bốn thứ cần dùng cho các vị ấy, sau khi diệt độ, lại xây tháp cho từng vị, rồi dùng hương, hoa, tràng phan, lọng báu cúng dường tháp. Lại có người thiện nam hoặc thiện nữ khác xây dựng trăm nghìn ức ngôi điện lớn và trang nghiêm như cung điện của trời Đế Thích, có tám mươi bốn nghìn cột báu, tám mươi bốn nghìn cửa sổ báu, tám mươi bốn nghìn cửa sổ báu ở thiên tỉnh, tám mươi bốn nghìn lầu gác được trang trí các thứ báu xung quanh để cúng dường chúng tăng ở khắp nơi. Người đó được rất nhiều phúc, nhưng không bằng phúc của người sau khi Phật nhập niết-bàn, làm ngôi tháp bằng quả am-ma-lặc, trụ của lộ bàn bằng cây kim, các tầng lộ bàn như lá táo, bên trong tháp tôn trí xá-lợi nhỏ như hạt cải hoặc tượng Phật nhỏ như hạt lúa mạch. Công đức của người này lớn hơn người kia gấp trăm lần, nghìn, vạn, trăm nghìn vạn lần, không thể tính hết.
A-nan! Như Lai có vô lượng công đức, gồm vô lượng công đức thuộc giới phần, định phần, tuệ phần, giải thoát phần, giải thoát tri kiến phần, có thần thông biến hóa, sáu ba-la-mật.!.”.
Kinh Vô thượng ý ghi: “A-nan chắp tay bạch Phật:
- Hôm nay con vào thành Vương Xá khất thực, thấy một căn gác lớn và đẹp mới được xây xong, trong ngoài đều hoàn mĩ. Có một cư sĩ cúng dường căn gác ấy và đầy đủ bốn thứ cần dùng cho chư tăng bốn phương. Nếu sau khi Như Lai diệt độ, có người dựng tháp nhỏ như hạt a-ma-la trụ của lộ bàn nhỏ như cây kim, các tầng lộ bàn nhỏ như chiêc lá táo, tôn trí viên xá-lợi nhỏ như hạt cải hoặc tượng Phật nhỏ như hạt lúa mạch. Trong hai công đức này, công đức nào lớn hơn?
Đức Phật bảo A-nan:
- Giả sử số người chứng quả Sa-môn và Bích-chi-phật đầy khắp bốn thiên hạ, nhiều như rừng mía, ruộng lau, tre..., có người suốt đời cúng dường những vị ấy đầy đủ bốn thứ cần dùng. Sau khi họ nhập niết-bàn, lại xây tháp lớn, thắp đèn, đốt hương, treo tràng phan, dâng y..., để cúng dường, thì ông nghĩ công đức của người này có nhiều không?
A-nan đáp:
- Bạch đức Thế Tôn! Công đức của người kia rất nhiều.
Đức Phật bảo:
- A-nan! Hãy gác qua việc ấy. Ở cung trời của Đế Thích có tòa lầu cao lơ lửng trên hư không tên là điện Thường Thắng. Điện này được trang trí bằng nhiều thứ báu, mỗi thứ đều tám mươi bốn nghìn vật. Có người nam hoặc nữ làm trăm nghìn muôn ức ngôi điện Thường Thắng để cúng dường chư tăng bốn phương; lại một người khác, sau khi Đức Phật nhập niêt-bàn, có được viên xá-lợi bằng hạt cải, xây tòa tháp thờ nhỏ như hạt a-ma-la trụ cửa lộ bàn nhỏ như cây kim, các tầng lộ bàn nhỏ như chiếc lá táo, làm tượng Phật nhỏ như hạt lúa mạch, thì công đức của người này lớn hơn người kia hơn trăm, nghìn vạn ức lần, hơn a-tăng-kì lần, không thể thí dụ được. Vì công đức Như Lai lớn vô lượng. Dầu nghiền nát thế giới Ta-bà thành bụi nhỏ, lại có số người nhiều bằng số bụi ấy lần lượt chứng bốn quả Sa-môn hoặc quả Bích-chi-phật, rồi một cư sĩ nam hoặc nữ suốt đời cúng dường số thánh ấy. Sau khi các vị ấy diệt độ, lại dựng tháp cúng dường, thì cũng không bằng người làm tháp thờ viên xá-lợi Phật nhỏ như hạt cải, cho đến thờ tượng Phật nhỏ như hạt lúa mạch. Công đức của người này lớn hơn công đức của người nói trên gấp trăm, nghìn vạn ức lần, không thể tính toán hoặc thí dụ được.
A-nan! Tất cả Như Lai ngày xưa còn ở nhân địa, đều biết chúng sinh giới vốn tự tính thanh tịnh, nhưng bị khách trần phiền não làm ô nhiễm. Các Ngài không vào cõi chúng sinh thanh tịnh, mà vẫn ở thế gian giảng cho tất cả chúng sinh nghe diệu pháp sâu xa, giúp trừ phiền não chướng. Vì tâm lượng rộng lớn, các Ngài không khởi tâm cho là hèn kém mà khởi tâm tôn trọng, cung kính họ như đại sư, từ đó khởi trí bát-nhã, tâm tổng trì, tâm đại bi. Từ pháp này, bồ-tát vào giai vị A-bệ-bạt-trí, rồi nương nơi trí như thật mà đạt được phương tiện trí, chứng đắc Vô thượng bồ-đề”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Nếu cúng dường Phật, pháp, tăng một nén hương, một ngọn đèn, cho đến một cành hoa, sẽ sinh vào cõi nước Bất Động. Nếu giữ gìn kĩ vật của Phật và tăng, quét dọn chỗ thờ Phật hoặc chỗ ở của tăng, làm tượng, dựng tháp nhỏ như ngón tay cái, thường sinh tâm vui vẻ, cũng sinh về cõi nước Bất Động. Đó là cõi thanh tịnh thường hằng trang nghiêm, không bị ảnh hưởng bởi ba tai họa”.
- Luật Tăng-kì ghi; “Lúc Đức Phật du hóa ở nước Câu-tát-la, một bà-la-môn đang cày ruộng, thấy đức Thế Tôn đi qua, liền cắm cây gậy, giữ cho trâu dừng lại rồi lễ Phật, Ngài mỉm cười. Các tì-kheo bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà Ngài cười? Cúi xin đức Thế Tôn nói, chúng con muốn nghe!
Phật bảo các tì-kheo:
Vị bà-la-môn này lễ hai Đức Phật.
Các tì-kheo bạch:
- Tại sao có hai Đức Phật?
Đức Phật dạy:
- Ông ấy lễ Ta và dưới cây gậy có tháp của Phật Ca-diếp.
Các tì-kheo bạch:
- Xin Thế Tôn cho chúng con thấy tháp của Phật Ca-diếp!.
Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông đến xin đất bùn ở chỗ của người bà-la-môn ấy đem lại đây.
Các tì-kheo đến xin được đất bùn liền đem về đưa Phật. Bấy giờ, Thế Tôn liền khiến tháp bảy báu của Đức Phật Ca-diếp xuất hiện. Tháp cao một do-tuần, rộng nửa do-tuần. Người bà-la-môn thấy vậy liền thưa:
- Con họ Ca-diếp. Đó là gò đất của dòng họ Ca-diếp con!".
Đức Thế Tôn liền xây tháp Phật Ca-diếp ở chỗ ấy. Các tì-kheo bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng con được phép đưa bùn cho Phật không?
Phật nói:
- Được. Ngài liền nối kệ:
Vàng ròng trăm nghìn gánh
Mang ra để bố thí
Không bằng lấy nắm bùn
Thành tâm sửa tháp Phật!
Bấy giờ, Thế Tôn cung kính đỉnh lễ các Đức Phật quá khứ. Các tì-kheo cũng đỉnh lễ theo. Đức Phật nói kệ:
Dùng trăm nghìn xe vàng
Đem ra để bố thí
Không bằng chút lòng lành
Cung kính lễ tháp Phật!
Các tì-kheo mang hương hoa đến dâng cúng Thế Tôn, vì kính Đức Phật quá khứ nên cúng dường tháp. Đức Phật nói kệ:
Trăm nghìn xe vàng rỗng
Đem ra để bố thí
Không bằng chút lòng lành
Dâng hương hoa cúng tháp
Khi ấy, đại chúng nhóm họp rất đông, Đức Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất: ‘Ông nói pháp cho đại chúng nghe’. Đức Phật lại nói kệ:
Trăm nghìn cõi Diềm-phù
Đầy vàng bố thí hết
Không bằng mảy pháp thí
Thuận theo để tu hành!
Khi ấy, có người trong pháp hội nghe bài kệ đó liền chứng quả. Đức Phật lại nói kệ:
Vàng đầy trăm nghìn cõi
Mang ra thí cùng khắp
Không bằng mảy pháp thí
Nghe theo thấy chân đế!
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, Ngài sai a-la-hán Tu-mạn đem tóc, móng tay của Phật đến ngọn núi phía nam nước Kế-tân dựng tháp phụng thờ. Trong chùa thường có năm trăm vị a-la-hán ngày đêm đốt hương nhiễu tháp lễ bái.
Bấy giờ, trong núi có năm trăm con khỉ thấy chư tăng nhiễu tháp lễ bái cúng dường, chúng bắt chước lấy đá xây tháp, nhiễu quanh lễ bái. Một hôm, trời mưa lớn, trong núi nước ngập chảy xiết, năm trăm con khỉ đều bị chìm chết và được sinh lên trời Đao-lợi ở trong cung điện bảy báu nguy nga tráng lệ, y phục, thức ăn, thức uống tự nhiên hiện đến, vui sướng vô cùng. Lúc ấy mỗi con suy nghĩ: ‘Vì sao chúng ta được sinh lên đây?’ Chúng dùng thiên nhãn quan sát thấy thân trước của mình làm khỉ, bắt chước chúng tăng làm tháp vui đùa, rồi bị nước suối cuốn trôi chết mà sinh lên đây. Thấy như thế, chúng cùng nhau mang hương hoa từ trên trời xuống chỗ tử thi cúng dường. Sau đó đến chỗ Phật đỉnh lễ, thăm hỏi. Nhân đó, Đức Phật nói pháp cho chúng nghe, năm trăm thiên tử đều chứng quả Tu-đà-hoàn. Sau khi chứng quả chúng trở về trời.
Bầy khỉ bắt chước chúng tăng làm tháp vui chơi mà được phúc báo lớn như thế, huống gì người có tín tâm xây tháp mà không được phúc báo sao?”
Kinh Thí dụ ghi: “Sau khi Phật nhập niết-bàn, trong nước của vua A-dục có một vị cư sĩ phúc đức rất lớn, trên đời hiếm có, muốn điều gì, vừa nghĩ liền có. Nhà ông xây bằng bảy báu, trong nhà có các người nữ sắc đẹp tuyệt trần, ngày đêm ca múa, đàn hát vui vẻ vô cùng. Ông kính tin Tam bảo, thường cúng dường hơn hai vạn vị tăng. Vua A-dục nghe được tin này liền cho gọi ông vào cung, vua nói:
- Trẫm nghe nhà khanh rất giàu có, vậy có những vật gì?'
Ông đáp:
- Nhà thần không có gì cả.
Vua không tin, liền sai người đến nhà xem thì chỉ thấy phòng nhà có bảy lớp cửa đều xây bằng bảỵ báu, nguy nga tráng lệ. Họ vào trong nhà thì chẳng thấy vật gì khác, chỉ thấy các phụ nữ sắc đẹp tuyệt trần. Sứ giả xem xong, trở về tâu vua. Vua dần dần hiểu mọi việc.
Ông biết vua đã hiểu mọi việc, liền ở trước vua lấy tay chỉ về hướng đông thì trên không trung mưa bảy báu xuống nhiều không thể tính kể. ông chỉ các phương khác cũng có như vậy. Vua thấy vậy, mới biết đây là người có phúc đức lớn. Vua liền đến chùa thưa hỏi việc này. Trong chùa có vị thượng tọa chứng quả A-la-hán, đầy đủ ba minh, sáu thông. Vua hỏi:
- Vị cư sĩ này kiếp trước gieo phúc gì mà nay được quả báo muốn gì đều có?
Thượng tọa đáp:
- Vào thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp sau khi Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn, vị cư sĩ này và bốn người nữa cùng phát tâm rộng lớn xây tháp. Khi xây tháp xong, họ mang bảy báu và hoa đẹp lên đỉnh tháp tung xuống bốn phía để cúng dường, rồi cư sĩ phát nguyện:
- Nguyện cho con sinh ra được phúc thức ăn thức uống tự nhiên hiện đến, đời đời không chấm dứt!
Do công đức này, từ đó trở về sau chín mươi mốt kiếp không rơi vào đường ác, sinh lên trời hay trong loài người đều được phúc như thế, vui sướng vô cùng. Do lúc ấy chỉ nguyện được phúc thức ăn thức uống vô tận mà không nguyện giải thoát, cho nên đến nay chỉ hưởng thụ phúc thù thắng này, mà chưa tu tập thánh đạo”.
Kinh Đại bi ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Nếu người nào ưa thích quả báo trong ba cõi mà gieo các căn lành, bố thí cúng dường vào ruộng phúc Phật và phát nguyện cho con đời đời không nhập niết-bàn. Nếu do căn lành này mà không vào niết-bàn, thật không có việc đó. Người này tuy không mong cầu vào niết-bàn, nhưng vì gieo căn lành với Phật, Ta nói người này nhất định sẽ vào niết-bàn”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Ca-tì-la-vệ có một trưởng giả rât giàu, của cải nhiều vô lượng, không thể tính kể. Vợ ông sinh được một bé trai khôi ngô tuấn tú, hiếm có trong đời, hai bàn tay của nó đều cầm đồng tiền vàng, lấy rồi lại có, không bao giờ hết. Vợ chồng trưởng giả vui mừng, nên đặt tên cho con là Bảo Thủ. Bảo Thủ ngày càng lớn khôn, có lòng từ bi, hiếu thảo thuận hòa, thích bố thí. Có người đến xin, nó mở hai bàn tay ra để lấy tiền vàng cho người.
Một hôm, nó cùng mọi người ra ngoài thành dạo chơi, khi đến tinh xá Kì-hoàn, thấy Đức Phật tướng hảo, lòng nó rất vui mừng, đỉnh lễ thỉnh Phật và tì-kheo tăng nhận sự cúng dường của mình! A-nan nói:
- Muốn thiết trai cúng dường phải có tiền.
Bảo Thủ liền mở hai bàn tay ra, tiền vàng rơi như mưa, trong chốc lát đầy cả mặt đất, chất cao hơn người.
Phật bảo A-nan:
- Hãy nói Bảo Thủ chuẩn bị đồ cúng dường.
Thụ trai xong, Đức Phật nói pháp cho nghe, Bảo Thủ liền chứng qủa Tu-đà-hoàn. Sau đó, ông trở về nhà từ biệt cha mẹ, xin xuất gia. Khi được xuất gia, Bảo Thủ siêng năng tu tập và chứng quả A-la-hán. A-nan thấy việc này, liền bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tì-kheo Bảo Thù kiếp trước gieo phúc gì mà được sinh vào nhà giàu có, trong tay xuất hiện đồng tiền vàng, lấy mãi không hết? Lại gặp đức Thế Tôn xuất gia, đắc đạo?
Phật bảo A-nan:
- Thuở xưa, sau khi Phật Ca-diếp nhập niết-bàn có vua Ca-sí thâu lấy xá-lợi tạo tháp bằng bốn thứ báu cúng dường. Lúc ấy có một vị trưởng giả thấy vua dựng tháp, sinh lòng hoan hỉ, cầm một đồng tiền vàng đặt dưới chân tháp, phát nguyện rồi đi. Trưởng giả đó nay chính là Bảo Thủ, do công đức này mà Bảo Thủ không đọa vào đường ác, sinh lên cõi trời hay vào cõi người thường có đồng tiền vàng, hưởng phúc vui sướng. Cho đến hôm nay gặp Ta xuất gia, đắc đạo”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Phật còn tại thế, ở nước Ca-tì-la-vệ có một vị trưởng giả rất giàu, của cải vô lượng. Vợ ông sinh được một bé trai khôi ngô tuấn tú, trong đời hiếm có. Lúc mới sinh đứa bé, trên đỉnh đầu của nó tự nhiên có lọng báu ma-ni che khắp trên thành. Cha mẹ vui mừng, đặt tên cho đứa bé là Bảo Cái.
Bảo Cái ngày một lớn khôn, gặp Phật xuất gia tu hành, đắc quả A-la-hán.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, sau khi Đức Phật Tì-bà-thi nhập niết bàn, có vị quốc vương tên Bàn-đầu-vị-đế thâu lấy xá-lợi, xây tháp bằng bốn báu cao một do-tuần cúng dường. Lúc ấy có vị thương nhân ra biển tìm châu báu được an ổn trở về, ông lấy lọng báu ma-ni che trên đầu tháp, phát nguyện rồi đi. Do công đức này mà chín mươi mốt kiếp không đọa vào đường ác; sinh lên cõi trời hay vào cõi người đều có lọng báu theo che. Cho đến hôm nay gặp Ta xuất gia, đắc đạo. Nghe Phật nói vậy, các tì-kheo đều hoan hỉ phụng hành”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Phật còn tại thế, trong thành Ca-tì-la-vệ có một vị trưởng giả rất giàu, của cải nhiều vô lượng, không thể tính kể. Vợ ông sinh được bé trai khôi ngô tuấn tú, trong đời hiếm có, trên đầu tự nhiên có viên ngọc ma-ni. Nhân đó, cha mẹ đặt tên cho con là Bảo Châu. Đến lúc khôn lớn gặp Phật xuất gia, chứng quả A-la-hán. Một hôm vào thành khất thực, lúc ấy trên đầu của Bảo Châu có ngọc ma-ni, người trong thành thấy lạ, tranh nhau đến xem. Bảo Châu tự thấy xấu hổ, trở về bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Trên đầu của con có ngọc này, không thể tháo ra được. Hôm nay con vào thành khất thực bị người chê cười, xin Thế Tôn tháo bỏ ngọc này giúp con!
Phật bảo tì-kheo Bảo Châu:
- Ông hãy nói với hạt châu: “Hôm nay mạng sống ta đã hết, không cần đến ngươi nữa”. Nói ba lần như vậy thì ngọc sẽ tự nhiên biến mất. Bảo Châu làm theo lời Phật dạy thì hạt ma-ni không còn xuất hiện nữa.
Bấy giờ, các tì-kheo thỉnh Phật nói nhân duyên kiếp trước của tì-kheo Bảo Châu.
Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, sau khi Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn. Lúc ấy có vị quốc vương tên Bàn-đầu-mạt-đế, thâu lấy xá-lợi xây tháp bằng bốn báu cao một do-tuần cúng dường. Một hôm vua vào trong tháp đỉnh lễ, buộc ngọc ma-ni trên đỉnh tháp, phát nguyện rồi đi. Do công đức này mà chín mươi mốt kiếp không rơi vào đường ác; sinh lên cõi trời hay loài người thường có hạt châu trên đầu, hưởng thụ niềm vui, cho đến hôm nay gặp Ta xuất gia, đắc quả A-la-hán. Các tì-kheo nghe Phật nói đều hoan hỉ phụng hành’’.
35.5. NHIỄU THÁP
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Khi còn tại thế, một hôm Phật cùng A-nan vào thành Xá-vệ khất thực. Bấy giờ, trong thành có một bà-la-môn từ ngoài thành đi vào, thấy Phật có vầng hào quang rạng ngời quanh thân đang ra khỏi thành, bà-la-môn vui mừng, phấn khởi, nhiễu quanh Ngài một vòng, đỉnh lễ rồi đi.
Đức Phật mỉm cười, bảo A-nan:
- Bà-la-môn này gặp Phật, lòng vui mừng, nhiễu một vòng với tâm thanh tịnh. Ông nhờ công đức ấy, mà từ nay trở về sau hai mươi lăm kiếp, không bị đọa vào đường ác; dù sinh lên cõi trời hay cõi người đều vui sướng vô cùng. Hết hai mươi lăm kiếp, ông ấy sẽ thành bích-chi phật hiệu là Trì-thấn-na-kì-lê. Vì nhân duyên ấy, nếu người nào nhiễu Phật hoặc nhiễu tháp Phật thì sinh nơi nào cũng được phúc đức vô lượng”.
Kinh Đề-vị ghi: “Trưởng giả Đề-vị bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Rải hoa, đốt hương, thắp đèn, lễ lạy đều để cúng dường. Còn việc nhiễu tháp được phúc đức như thế nào?
Đức Phật dạy:
- Nhiễu tháp có năm phúc đức: một, đời sau được thân hình xinh đẹp; hai, được giọng nói hay; ba, được sinh lên trời; bốn, được sinh vào nhà vua chúa; năm, chứng Niết-bàn.
Vì sao được xinh đẹp? Do vui mừng khi nhìn thấy tượng Phật. Vì sao mà có giọng nói hay? Do nhiễu tháp và giảng kinh. Nhân duyên gì mà được sinh lên trời? Do tâm ý không phạm giới trong khi nhiễu tháp. Nhân duyên gì mà được sinh vào nhà vua chúa? Do đỉnh lễ chân Phật. Nhân duyên gì mà được đạo Niết-bàn? Do có rất nhiều phúc.
Đức Phật dạy:
- Nhiễu tháp có ba điều: một, khi nhấc chân phải nghĩ đang nhấc chân; hai, khi hạ chân xuống phải nghĩ đang hạ chân xuống; ba, không được ngoảnh nhìn hai bên hoặc khạc nhổ quanh tháp.
Nên nhiễu theo chiều phải, vì trong kinh luật đều dạy nên nhiễu theo chiều phải. Nếu nhiễu chiều trái thì bị thần quở mắng, cho đến người nhiễu chiều trái đống lúa mạch còn bị người đời chê trách.
Việc đi nhiễu hiện thời thuận với lẽ trời thì mặt hướng về tây chuyển sang bắc, áo bày vai phải, cung kính hướng về Phật. Có thể nhiễu trăm vòng, mười vòng, bảy vòng, ba vòng; mỗi số đều biểu thị một ý nghĩa. Hơn nữa, thường nhiễu ba vòng là bày tỏ ý cúng dường Tam bảo, dừng ba độc, tịnh hóa ba nghiệp, trừ ba đường ác, được gặp Tam bảo”.
Kinh Hoa nghiêm có bài kệ:
Nếu muốn nhiễu tháp,
Nên nguyện chúng sinh, hành điều phúc,
Thông suốt ý đạo,
Nhiễu tháp ba vòng,
Nên nguyện chúng sinh,
Được tâm chuyên nhất,
Chấm dứt ba độc.
Kinh Hiền giả ngũ giới ghi: “Việc nhiễu tháp ba vòng biểu thị sự tôn kính ba ngôi tôn quí là Phật, pháp và tăng, cũng biểu thị nhớ việc diệt ba độc: tham, sân và si”.
Kinh Tam thiên oai nghi ghi: “Nhiễu tháp có năm việc: Một, cúi đầu nhìn xuống đất; hai, không được dẵm lên côn trùng; ba, không được quay nhìn sang hai bên; bốn, không được khạc nhổ trước tháp; năm, không được đứng trong khuôn viên tháp chuyện trò với người”.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/11/2015
PUCL QUYỂN 40 - CHƯƠNG XÁ LỢI
Quyển này có một chương Xá-lợi. 37. CHƯƠNG XÁ-LỢI 37.1. LỜI DẪN Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 38 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 38 Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt) 35.6. THÁP CỔ Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng! Có những chún...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 33 - CHƯƠNG TẠO PHÚC
QUYỂN 33 Quyển này có một chương Tạo phúc. 27. CHƯƠNG TẠO PHÚC 27.1. LỜI DẪN Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả r...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 32 - CHƯƠNG BIẾN HÓA VÀ NGỦ MỘNG
QUYỂN 32 Quyển này có hai chương: Biến hóa và ngủ mộng. 25. CHƯƠNG BIẾN HÓA 25.1. LỜI DẪN Sự vận dụng của thánh nhân dung thông vô ngại, cảm ứng khắp cùng, cho nên không thể dùng một pháp để tìm cầu, không thể dùng một l...
