Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG

16/11/2015

QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...

PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
Phần 1

QUYỂN 35
Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng.
30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC

30.1. LỜI DẪN
Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là Tiêu sấu, vì đắp y vào có thể tiêu trừ phiền não; áo giáp được gọi là nhẫn nhục, vì khi đắp vào có thể hàng phục chúng ma. Y còn được ví như hoa sen, không bị bùn nhiễm ô. Y cũng gọi là Tràng tướng, vì không bị bọn tà xô gãy; cũng gọi là tướng ruộng tốt, vì người thấy không khởi tâm ác; cũng gọi là áo cứu rồng, vì không bị kim sí điểu ăn; cũng gọi là y hàng tà, vì không bị ngoại đạo phá hoại; cũng gọi là y hoại sắc, vì không được người đời ham thích.
Vì thế, giáo thì có nội ngoại riêng biệt; nhân thì có đạo tục khác nhau. Ở nhà thì tuân theo ngoại giáo, mặc pháp phục do vua trước định, theo pháp lệnh do vua trước ban. Đối với bậc trên thì có lễ kính thờ cha mẹ, trung tín với vua; đối với người dưới thì có lòng thương yêu vợ con, cầu cồng danh sự nghiệp. Những hạnh cung kính hiếu thuận ấy, hợp với phép tắc của đạo Nho.
Người xuất gia thì học theo nội giáo, mặc pháp phục của Đức Phật, thực hành giáo pháp của Đức Phật. Trên thì bỏ trọng trách kính thờ cha mẹ, trung tín với vua; dưới dứt sự thương yêu vợ con, không cầu công danh sự nghiệp. Lấy công đức lành từ việc lễ tụng đáp ân sâu cha mẹ; đem phúc duyên của việc hành đạo đền ân nặng quốc gia. Đã cho rằng việc cạo bỏ râu tóc, thay đổi y phục là không tội, thì đâu thể vì việc giữ lễ kính thờ cha mẹ, trung tín với vua mà bị chê trách!
Vì thế, ngày cạo bỏ tóc, thiên ma nghe được, lòng sợ hãi; lúc đắp nhiễm y, Đê Thích trông thấy, tâm hân hoan. Kỉ nữ tự ý đắp y liền đắc quả Vô lậu; kẻ say vừa cắt, liên dứt hết ác duyên. Rồng con nương nhờ thì dứt kinh hãi; voi chúa trông thấy thì hết khiếp sợ.
Nên biết, ba tấm pháp y che thân tiêu dùng tiết kiệm; ba loại hoại sắc hàng phục ái tình. Đã mô phỏng theo hình thửa ruộng, chính là thành tựu đức ứng cúng; xa thì đồng với chư Phật quá khứ, đúng là thuận theo đạo hòa kính. Chỗ cao quý của chiếc y xuất trần thoát tục là như thế!
30.2. CÔNG NĂNG
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Người đắp ca-sa thì xa lìa được ba độc”.
Kinh Đại bi ghi: “Chỉ cần người có bản tính là sa-môn, người tự xưng là sa-môn mà làm hoen ố hạnh sa-môn, người đắp ca-sa có hình dáng giống như sa-môn, thì những người ấy từ lúc Đức Phật Di-lặc xuất thế, cho đến Đức Phật Lâu-chí, đều sẽ lần lượt được vào niết-bàn, không sót một ai”.
Kinh Bi hoa ghi: “Thuở xưa, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni ở chỗ Đức Phật Bảo Tạng phát tâm bồ-đề và nguyện lúc thành Phật, ca-sa sẽ có năm công đức:
1. Khi con thành Phật, nếu có chúng sinh nào xuất gia đắp ca-sa ở trong pháp của con, nhưng phạm tội nặng, hoặc tà kiến, hoặc phỉ báng không tin Tam bảo cho đến những tì-kheo, tì-kheo ni, ưu-bà-tăc, ưu-bà-di phạm các tội nặng hay những chúng sinh trong một niệm sinh tâm cung kính Tam bảo, dù chỉ một người cũng đều được thụ kí an trú trong Tam thừa, mãi mãi không lui sụt.
2. Khi con thành Phật, nếu trời rồng, qui thần, nhân và phi nhân cung kính cúng dường, trân trọng ngợi khen ca-sa của con, hoặc chỉ thấy được một phần nhỏ của ca-sa thì sẽ ở mãi trong Tam thừa không lui sụt.
3. Những chúng sinh bị đói khát bức bách, thấp hèn, nghèo khổ, các loài quỉ thần, ngạ quỉ, súc sinh có được một phần nhỏ ca-sa của con, dù chỉ bốn tấc cũng sẽ được thức ăn uống đầy đủ và mau chóng thành tựu sở nguyện.
4. Những chúng sinh oán thù cho đến bát bộ trời rồng v.v... nhân và phi nhân đang đánh nhau mà nhớ đến ca-sa của con, liền sinh tâm từ bi, tâm ôn hòa, không oán thù, tâm vắng lặng và tâm thiện điều phục.
5. Nếu có người nào ở trong chiến trường, hoặc nơi tranh đấu, kiện tụng mà mang một phần nhỏ ca-sa của con, vì để bảo vệ mình mà tôn trọng, cung kính, cúng dường ca-sa thì những người đó không bị xem thường, quấy nhiễu, xâm hại. Những người ấy thường thắng người khác và thoát các hiểm nạn.
Nếu ca-sa của con không thành tựu năm việc công đức bậc thánh như thế, tức là lừa dối mười phương chư Phật hiện tại, ở đời vị lai sẽ không thành Phật”.
Kinh Chỉnh pháp niệm ghi: “Nếu có chúng sinh trì giới, tín tâm thanh tịnh, biết ruộng phúc của tăng chính là pháp y, mà cúng dường một trái cây có trị giá bằng tiền may y, tâm thường ưa thích và hoan hỉ, thì sau khi mạng chung, chúng sinh ấy được sinh lên cõi trời Lâm Hí, tùy ý dạo chơi bất cứ nơi đâu. Nếu sinh làm người, có uy đức và tự tại. Nếu có chúng sinh, tín tâm thanh tịnh, giặt nhuộm ca-sa của tì-kheo, đến lúc mạng chung được sinh lên cõi trời Thái Địa, cùng các thiên nữ hưởng thụ ngũ dục, uống vị cam lộ, không còn mê loạn. Từ cõi trời mạng chung, nếu thụ thân người thì được mọi người kính yêu”.
30.3. TỎNG HỢP CÁC TÊN GỌI
Kinh Đại phương đẳng đà-la-ni ghi: “Đức Phật dạy:
- Nếu đến đạo tràng, phải đúng như pháp tì-kheo, tu các hạnh thanh tịnh và phải có đủ ba y, cành dương, đãy lọc nước, bình bát và tọa cụ. Hành giả phải luôn luôn mang theo những vật dụng như thế, khi đến đạo tràng mới đúng pháp tì-kheo.
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Y có ba loại: Một, xuất gia y, đắp khi thực hiện những pháp tắc của ba đời chư Phật; hai, tục phục y, đắp khi lên điện Phật và thường mang theo bên mình không để rời, dù trong gang tấc. Nếu rời y này thì phạm tội chướng đạo; ba, y, giống như áo thế tục, được đến đạo tràng, đắp trong lúc đi đứng ngồi nằm.
Ba y có tên gọi như thế các ông nên nhớ”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Có người hỏi:
- Đức Phật có thường cạo tóc không?
Đáp: Không! Vì tóc Phật thường giống như cạo sau bảy ngày!
Lại có người hỏi:
- Lúc Phật mới chứng đạo có đắp ca-sa không?
Đáp: Không! Bởi người tại gia mà đắc quả Phật cần phải có ba mươi hai tướng quí. Người xuất gia đắp pháp y chẳng những oai nghi đầy đủ, xa lìa phiền não mà Nhất thiết chủng trí thể nhập vào thân người ấy.
Ca-sa, Trung Quốc dịch là Nhiễm y. Tham đắm ái dục cũng gọi là nhiễm. Người mặc y phục này loài thú không sợ. Vì thế, người thợ săn mặc bộ y phục này để săn thú”.
Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “Ma-ha Tăng-kì bộ siêng năng học các kinh, giảng thuyết nghĩa chân thật, vẫn ở chỗ cũ đắp y màu vàng.
Phần 2

Đàm-vô Quật-đa-già bộ thông suốt nghĩa lí, giảng thuyết làm lợi ích, phát triển nghĩa thù thắng, đắp y màu tía.
Tát-bà-đa bộ thông minh sáng suốt, thuyết pháp giáo hóa, mặc y màu đen.
Ca-diếp-duy bộ siêng năng dũng mãnh, nhiếp hộ chúng sinh, mặc y màu mộc lan.
Di-sa-tắc bộ thiền định vắng lặng, hiểu thấu nghĩa mầu, mặc y màu xanh.
Vì vậy, tì-kheo La-tuần-du đi khất thực không được thức ăn, sau đó lấy năm loại luật y mặc chồng lên nhau, liền được nhiều thức ăn. Tại sao? Vì đời trước ông có tính hay ghen ghét, thấy sa-môn đến liền đóng cửa và nói: ‘Đại nhân đi vắng!’. Nhưng ông thấy người khác bố thí thì sinh lòng vui vẻ và nhiếp niệm, phát nguyện làm sa-môn. Do nhân duyên đó, nay tuy thân xuất gia, nhưng nghèo cùng khốn khổ như vậy.
Người xuất gia trong pháp của Ta nên dùng vải màu đen, vải cũ xấu, vải liệm tử thi để may y phục. Do tì-kheo La-tuần-du cố ý nhận đủ loại vải vóc, nên Phật chế định như vậy”.
Tam thiên uy nghi chép: “Nếu sang một nước có bốn trường hợp sau đây mà không đắp ca-sa thì không phạm tội:
1- Không có chùa tháp
2- Không có tì-kheo
3- Có giặc cướp
4- Vua nước kia không thích đạo”.
30.4. CỨU NẠN
Luật Tăng-kì ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, tôn giả Đạt-ni-ca lén lấy gỗ của quan, tội không thể tha. Vì vua Bình-sa tin kính Tam bảo, nên khi thấy tì-kheo Đạt-ni-ca đắp ca-sa, vua liền nguôi giận không bắt tội.
Các tì-kheo đem việc ấy hỏi Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Kiếp trước tì-kheo Đạt-ni-ca tạo nghiệp gì, nay được vua Bình-sa tha tội như vậy?
Đức Phật dạy:
- Các tì-kheo! Vào thời quá khứ xa xưa, lúc ấy có một kim sí điểu chúa rất lớn, hai cánh dang rộng hơn sáu nghìn dặm, thường vào biển bắt rồng ăn. Loài rồng sợ kim sí điểu, nên xin ca-sa móc trên cửa cung, kim sí thấy ca-sa liền sinh tâm cung kính, không đến bắt rồng ăn như trước nữa.
Sau đó, kim sí điểu dùng đôi cánh quạt nước xẻ đôi ra rồi vào biển bắt rồng. Lúc bấy giờ, có một con rồng bị kim sí điểu đuổi bắt, liền lấy ca-sa đội lên đầu rồi chạy lên bờ. Khi đó, kim sí điểu hóa thành một vị bà-la-môn đuổi theo rồng và hỏi: ‘Tại sao ngươi không bỏ ca-sa xuống?’. Vì rồng sợ chết nên giữ chặt ca-sa, không chịu bỏ. Bấy giờ, bên bờ biển có một vị tiên nhân; trong lúc quá sợ hãi, rồng chạy thẳng đến bên tiên nhân. Kim sí thấy tiên nhân, nên không dám đuổi nữa. Tiên nhân liền xuất định thuyết pháp cho chim nghe, bảo chim hướng đến rồng cùng nhau sám hối, rồi mỗi con đi mỗi đường.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vị tiên nhân lúc xưa chính là Ta; kim sí điểu là vua Bình-sa; con rồng lúc ấy chính là Đạt-ni-ca. Ngày xưa, Đạt-ni-ca nhờ đội ca-sa, nên không bị chim ăn, nay nhờ mặc ca-sa của Ta mà thoát khỏi nạn vua, xuất gia tu học, chứng quả A-la-hán. Thế mới biết, ca-sa có uy lực không thể nghĩ bàn”.
Kinh Hải long vương ghi: “Có một con rồng chúa bạch Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Ở trong biển này có vô số loài rồng, nhưng thường bị bốn loài kim sí điểu bắt ăn thịt, xin Phật che chở cho chúng con được an ổn!
Đức Thế Tôn liền cởi chiếc y màu đen trên thân trao cho Hải long vương và bảo:
- Ngươi lấy chiếc y này phân chia đều cho tất cả các loài rồng, kim sí điểu chúa chỉ thấy một sợi tơ của y cũng không thể phạm đến. Con nào giữ giới cấm thì nguyện ước sẽ thành tựu.
Bấy giờ các loài rồng vẫn còn lo sợ, tất cả đều nghĩ: Y đen của Phật rất nhỏ, làm sao đủ chia hết cho rồng ở trong biển?’. Đức Phật biết rồng còn nghi ngờ, nên bảo rồng chúa:
- Giả sử lấy y đen của Như Lai phân đều cho tất cả nhân dân trong tam thiên đại thiên thế giới cũng không thể hết. Thí như hư không, tùy theo nhu cầu của mỗi người mà tự nhiên sinh ra.
Rồng nhận y của Phật, phân ra vô lượng trăm nghìn vạn miếng, rồi chia cho tất cả loài rồng. Dù đã cấp đủ, nhưng y vẫn như cũ. Nên kính y này như kính Thế Tôn, như kính chùa tháp.
Phật dạy:
- Thấy y Như Lai liền thoát thân rồng, vào kiếp Hiền được siêu thoát, sẽ chứng niêt-bàn.
Bấy giờ, bốn con kim sí điểu chúa cùng nghìn quyến thuộc đều đến bạch Phật:
- Hôm nay chúng con muốn qui y Tam bảo, sám hối những tội lỗi trước đã phạm, giữ gìn giới cấm. Từ nay trở về sau, chúng con không gây ra nỗi sợ hãi cho loài rồng, trọn đời ủng hộ chính pháp, không trái lời Phật dạy.
Phật bảo bốn kim sí điểu chúa:
- Vào thời Kim Nhân Phật, bốn ông là bốn vị tì-kheo tên là Hoan Lạc, Đại Hoan Lạc, Thượng Thắng và Thượng Hữu. Bốn tì-kheo này thường phạm giới luật, tham của cúng dường, không giữ thân miệng ý, làm nhiều điều ác. Nhưng cũng chính những tì-kheo đó cúng dường Kim Nhân Phật không thể tính kể. Do đó mà các ông không đọa địa ngục, chỉ đọa làm súc sinh, sát sinh nhiều không thể tính kể.
Kế đó Đức Phật vận sức thần thông làm cho chúng biết kiếp trước và nhớ lại những điều tội phúc của chúng đã làm. Bốn kim sí điểu nghĩ: ‘Từ nay chúng ta dù có bỏ thân mạng này cũng không dám làm điều ác’. Đức Phật lại thuyết kinh và thụ kí:
- Lúc Phật Di-lặc xuất hiện, trong hội thứ nhất các ngươi sẽ được độ”.
30.5. CẢM BÁO
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Ca-tì-la-vệ có một trưởng giả tên là Cù-sa. Vợ của ông sinh được một bé gái xinh đẹp tuyệt trần, lúc sinh ra có tấm lụa trắng bọc thân, nhân đó hai vợ chồng đặt tên cho con là Bạch Tịnh. Năm tháng trôi qua, đứa bé lớn lên, tấm lụa ấy cũng lớn theo và vẫn trắng sạch không cần giặt tẩy. Mọi người thấy vậy, tranh nhau đến xin.
Một hôm, Bạch Tịnh thưa với cha mẹ:
- Nay con không tham vinh hoa phú quý thế gian, muốn xin xuất gia.

Phần 3

Vợ chồng thương con nên không ngăn cản, họ dẫn Bạch Tịnh đến chỗ Phật xin cho xuất gia. Phật nói:
- Thiện lai tì-kheo ni!
Tóc cô liền tự rụng, thân mặc pháp phục, thành ti-kheo ni. Sau đó, cô siêng năng tu tập, chứng quả A-la-hán, được chư thiên người đời kính ngưỡng.
Các tì-kheo thấy vậy, hỏi Phật. Đức Phật dạy:
- Vào thời quá khứ xa xưa, có Đức Phật Già-na Mâu-ni ra đời, dẫn các tì kheo đi giáo hóa. Lúc ấy có một vương nữ gặp Phật, sinh tâm vui mừng, đến đỉnh lễ chân Phật, rồi thỉnh Phật và tăng thụ nhận cúng dường tứ sự trong ba tháng, lại cúng dường cho mỗi vị một tấm y đẹp. Nhờ công đức này, dù sinh lên cõi trời hay trong loài người, cô đều được tôn quí và giàu sang, lúc sinh ra đều có ca-sa bọc thân.
Đức Phật bảo các tì-kheo: ‘Vương nữ ấy nay chính là tì-kheo ni Tôn-đà-lợi’. Các tì-kheo nghe xong đều hoan hỉ phụng hành”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Phật còn tại thế, phu nhân của vua Ba-tư-nặc sinh một bé trai khồi ngô, tuấn tú ở đời hiếm có. Mới sinh ra đứa bé đã có ca-sa bọc thân và biết nói. Đứa bé hỏi vua cha:
- Như Lai Thế Tôn hiện nay còn ở đời không? Các đại đức Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... còn ở đời không?
Cha mẹ đáp: - Họ đều còn ở đời!
Đứa trẻ thưa:
- Xin đại vương vì con mà thỉnh Phật và chúng tăng thiết trai cúng dường!
Khi Đức Phật vào cung thấy thái tử, liền hỏi:

- Ngươi nhớ lại, có phải là tì-kheo Tam Tạng ở thời Phật Ca-diếp không?
Thái tử đáp:
- Bạch Thế Tôn! Đúng vậy.
Phật hỏi:
- Ngươi ở trong thai có an ổn không?
Thái tử thưa:
- Nhờ ân Phật, nên trong thời gian đó tính mạng con cũng được an ổn.
Vua và phu nhân thấy thái tử đối đáp với Phật, vô cùng vui mừng, liền bạch Phật:
- Thái tử kiếp trước tạo phúc gì mà mới sinh ra đã biết nói và có thể đối đáp với Ngài? Cúi xin Thế Tôn giải bày cho!
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ cho vợ chồng vua nghe:
Quá khứ tạo duyên lành
Trăm kiếp sau không mất
Vì gieo trồng nhân lành
Nay được quả bảo này.
Trong kiếp Hiền có Đức Phật Ca-diếp ra đời, Ngài dẫn các tì-kheo đi giáo hóa tại nước của vua Ca-sí. Thái tử Thiện Sinh thấy Phật, sinh lòng kính tin, trở về cung thưa với đại vương xin xuất gia. Vua không cho và nói:

- Ta chỉ có một mình con kế vị, trị vì dân chúng, không thể cho xuất gia được!
Thái tử nghe xong, buồn rầu sinh bệnh, bỏ ăn bỏ uống suốt sáu ngày liền. Vua sợ thái tử sẽ chết, nên giao ước với thái tử: ‘Nếu con tụng thuộc làu ba tạng kinh, ta sẽ cho con xuất gia!’.
Thái tử nghe xong, vô cùng vui mừng, liền xuất gia. Sau đó, thái tử học thuộc làu ba tạng kinh. Vua rất hoan hỉ, nói với thái tử:
- Nay tài vật trong kho của ta, tùy ý con sử dụng, ta hoàn toàn không tiếc.
Tì-kheo vương tử nghe vậy, lấy tiền mua thức ăn trăm vị, thiết trai thỉnh Phật Ca-diếp và hai vạn tì-kheo và cúng dường cho mỗi tì-kheo ba y, sáu vật. Do công đức này mà người ấy không sinh vào đời ác, dù ở cõi trời hay cõi người, lúc mới sinh ra có ca-sa đắp thân, cho đến hôm nay gặp Tạ, xuất gia đắp ca-sa, tu hành đắc đạo.
Các tì-kheo nghe xong đều hoan hỉ phụng hành”.
30.6. HỦY PHẠM
Kinh Hiền ngu ghi: “Vào thời quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp ở cõi Diêm-phù-đề này, vua Đề-tì thống lĩnh tám vạn bốn nghìn nước nhỏ. Bấy giờ, ở đời không có Phật, nhưng có một bích-chi phật trú trong rừng sâu. Vị này dùng đức cứu độ chúng sinh, nên cầm thú cũng đến nương ở. Lúc ấy, trong núi có con sư tử Kiên Thệ, toàn thân màu vàng, chỉ ăn trái cây, rau cỏ, không làm hại quần sinh. Có một thợ săn, cạo râu tóc, đắp ca-sa, giấu cung tên trong người, rồi vào rừng. Vừa thấy sư tử, ông ta liền nghĩ: ‘Ta có thể giết con sư tử này lấy da dâng lên vua, đủ để thoát cảnh nghèo túng’. Nhân lúc sư tử đang ngủ, người thợ săn dùng tên độc bắn, sư tử tỉnh dậy, nhảy đến định vồ người thợ săn, nhưng thấy ông đắp ca-sa nên nghĩ: ‘Người đắp ca-sa ở đời không lâu sẽ được giải thoát. Bởi vì ca-sa này chính là biểu hiện của ba đời chư Phật. Nếu ta hại người này cũng chính là có ác tâm với các hiền thánh ba đời!’.
Nghĩ thế, nên sư tử không làm hại thợ săn. Lúc đó, độc đã thấm vào thân, biết không còn sống bao lâu, sư tử liền nói: ‘Na la la bà xà sa, tóa ha
Khi sư tử nói bài kệ ấy, trời đất chấn động, trời không có mây nhưng lại đổ mưa, chư thiên nhìn thấy rải hoa cúng dường. Sư tử chết rồi, thợ săn lột da đem về dâng vua và xin ban thưởng.
Vua thấy da sư tử, thầm suy nghĩ: ‘Trong kinh nói: Nếu cầm thú có thân màu vàng thì đó chính là bồ-tát. Nay ta sao có thể ban thưởng cho người này. Nếu ban thưởng thì ta cũng giống như người kia sao?’. Vua hỏi thợ săn:
- Lúc sư tử chết có điềm gì?
Thợ săn thưa:
- Trước khi chết sư tử nói tám chữ, trời đất chấn động, trời không mây nhưng đổ mưa và chư thiên rải hoa.
Vua nghe người thợ săn nói, trong lòng vui buồn lẫn lộn, liền triệu tập tất cả quần thần để giải nghĩa tám chữ đó, nhưng không ai giải được.
Bấy giờ, vua nghe nói trong núi có tiên nhân Xà-ma rất giỏi tự nghĩa, liền cho người mời đến giảng giải. Tiên nhân giải thích:
- Na-la-la nghĩa là người cạo đầu đắp ca-sa sớm giải thoát sinh tử. Bà-xà-sa nghĩa là người cạo đầu đắp nhiễm y, biểu hiện cho các bậc hiền thánh trong ba đời và gần với niết-bàn. Tóa-ha nghĩa là người cạo đầu đắp nhiễm y, tất cả trời người thấy được đều kính ngưỡng.
Nghe tiên nhân cắt nghĩa xong, vua vô cùng hoan hỉ, triệu tập vua của tám vạn bốn nghìn nước nhỏ cùng làm một xe bảy báu cao lớn chở da sư

Phần 4

tử, đốt hương, rải hoa thành tâm cúng dường. Đồng thời, vua làm một quan tài bằng vàng để đựng da sư tử và xây tháp phụng thờ. Bấy giờ, nhân dân do đó phát khởi thiện tâm và sau khi mạng chung đều được sinh lên trời.
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Vì sư tử phát thiện tâm đối với người đắp nhiễm y, nên trải qua ức vạn kiếp làm Chuyển luân vương, cung cấp đày đủ các thứ cần dùng cho chúng sinh và tạo nhiều phúc nghiệp, cuối cùng thành Phật.
Sư tử thuở ấy chính là Ta. Vua Đề-tì nhờ cúng dường da sư tử nên trải qua mười vạn ức kiếp sinh vào cõi người cõi trời, tôn quý bậc nhất, luôn gieo trồng cội lành, nay chính là ngài Di-lặc. Tiên nhân thuở ấy nay là tôn giả Xá-lợi-phất. Người thợ săn nay chính là Đề-bà-đạt-đa.
Vì thế, nếu có chúng sinh nào khởi ác tâm đối với các sa-môn đắp ca-sa, nên biết cũng chính là người ấy khởi ác tâm đối với Phật và hiền thánh trong ba đời. Vì khởi ác tâm nên chịu vô lượng tội. Ngược lại, nêu chúng sinh nào phát lòng tin, cung kính những người xuất gia đắp ca-sa thì sẽ được vô lượng phúc”.
Kinh Đại tập nguyệt tạng ghi: “Phật dạy:
- Thuở xưa, Ta vì tất cả chúng sinh tu hành khổ hạnh, phát tâm từ bi rộng lớn, xả bỏ đầu, thân, mắt, tai, mũi, lưỡi nhiều như núi Tì-phúc-la và cũng xả bỏ cả voi ngựa, quốc thành, vợ con, trải qua ba nghìn a-tăng-kì kiếp. Ta vì thương xót những chúng sinh chịu khổ não, những kẻ chê bai chính pháp, hủy báng hiền thánh, vô tàm vô quý, bất thiện và những chúng sinh chưa được sinh về cõi Phật, mà phát nguyện ở trong đời ác ngũ trược thành Vô thượng đạo, và cũng để cứu chúng sinh trong ba đường khổ, Ta chỉ bày con đường thiện và quả vị niết-bàn an lạc.
Nếu người nào bảo vệ, cúng dường những chúng sinh theo giáo pháp của Ta cạo bỏ râu tóc, xuất gia, đắp ca-sa, không thụ giới, hoặc thụ giới nhưng hủy phạm, thì cũng được quả báo lớn. Huống gì cúng dường, bảo vệ cho những người giữ gìn gìn thanh tịnh.
Vào đời sau, nếu vua, đại thần, các quan chửi mắng, nhục mạ, giam cầm, đánh đập đệ tử của Ta và những người đắp ca-sa, hoặc sai họ làm việc, hoặc lấy hết tài sản, vật dụng của họ, tức người ấy đã hủy hoại báo thân chân thật của chư Phật trong ba đời. Người ấy đã lấy mất con mắt của trời người, người ấy đã diệt mất chính pháp của chư Phật, khiến cho trời người đọa vào địa ngục.
Bấy giờ, tôn giả Kiều-trần-như và Phạm thiên vương thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu vua, đại thần, các quan chửi mắng, nhục mạ, giam cầm, đánh đập những người xuất gia đắp ca-sa, không thụ giới cấm, hoặc thụ rồi hủy phạm ấy thì mắc bao nhiêu tội?
Phật nói với Phạm vương:
- Ta sẽ nói cho ông nghe sơ lược về việc đó! Này Phạm vương! Người nào làm thân của vạn ức Đức Phật ra máu, tội nặng không?
Phạm vương đáp:
- Nếu người nào chỉ làm cho một thân Phật ra máu, tội của người đó đã nhiều vô lượng vô biên, huống chi làm cho vạn ức thân Phật ra máu, thì tội của người kia nhiều không thể nào nói hết được.
Phật nói với Phạm vương:
- Nếu người nào quấy nhiễu, mắng chửi, nhục mạ, giam cầm, đánh đập đệ tử Phật xuất gia, đắp ca-sa, không thụ giới, hoặc thụ giới mà hủy phạm, thì tội của người ấy nhiều hơn tội của người làm thân của vạn ức Đức Phật ra máu. Vì sao? Vì người ấy đã theo Ta cạo tóc xuất gia, đắp ca-sa. Tuy họ không thụ giới, hoặc thụ rồi hủy phạm, nhưng những người ấy có khả năng chỉ dạy con đường đến niết-bàn cho trời người. Người ấy có lòng tin Tam bảo, hơn tất cả chín mươi lăm phái ngoại đạo. Người ấy chắc chắn sẽ sớm đến niêt-bàn, họ hơn hẳn tất cả người đời. Vì thế trời người nên cúng dường họ. Nếu có quốc vương nào thấy người xuất gia gây ra tội lớn thì chỉ nên như quốc pháp đuổi ra khỏi nước và không cho ở chùa, chứ không được đánh đập, nhục mạ. Nếu như buộc tội, cố ý nhục mạ, đánh đập họ thì những người ấy mất con đường giải thoát, không sinh vào ở cõi trời người, nhất định sẽ bị đọa vào địa ngục A-tì. Huống gì lại đánh đập những đệ tử xuất gia giữ giới thanh tịnh cửa Phật.
Có bài tụng:
Ngoài sạch, trong sáng tỏ
Trang nghiêm cõi thanh tịnh
Giới phẩm thật tròn sáng
Pháp phục cũng sạch tinh
Đã phỏng theo thửa ruộng
Cũng cứu rồng thoát nạn
Uy nghi thật đáng kính
Ân mưa pháp thấm nhuần
30.7. CẢM ỨNG
30.7.1. Ca-sa của Phật ghi trong Tây Vực chí: Ở rừng Sa-la song thụ chỉ có một chiếc giường, trên giường người ta đúc tượng Phật Thích-ca nằm nghiêng hông bên phải, dài hai trượng hai thước bốn tấc, ca-sa màu vàng đắp trên tượng, nay vẫn còn và tượng nhiều lần phóng ánh sáng.
Ở trong núi Kì-xà-quật thuộc phía đông bắc thành Vương Xá, có ca-sa của Phật bằng đá. Khi Đức Phật còn tại thế, có lần Ngài đến hồ tắm và cởi y để trên bờ, có con chim ưng gắp ca-sa bay đi. Sau đó, ca-sa rơi xuống đất và hóa thành ca-sa đá này, các đường kẻ ngang dọc như gân lá, nay vẫn còn rõ rạng. Phía nam thành Vương Xá có ca-sa hình dạng giống thửa ruộng. Tương truyền: Do Phật nhìn thấy những thửa ruộng rồi bảo tôn giả A-nan tạo cà-sa ở đó. Ca-sa này cũng nhiều lần phóng ánh sáng. Vào thời Đường, sứ giả Vương Huyền Sách ba lần đến đó đều thấy ca-sa phóng ánh sáng.
30.7.2. Ca-sa bằng vải Hỏa hoán: Văn đế đời Ngụy, không tin ở phương nam có Hỏa Hoán bố ca-sa . Văn đế nói: “Lửa có thể nung vỡ đá, chảy vàng, tại sao không thể đốt được vải ấy?”. Văn đế qua đời, đến thời Minh đế, có người ở Tây Vực dâng cho ông chiếc Hỏa Hoán ca-sa. Lúc đầu nghe vua cha nói, nhưng Minh đế không tin. Ông dùng lửa thử đốt thật lâu, quả nhiên ca-sa không cháy. Từ đó, ông mới biềt là có bằng chứng, không phải nói suông. Trước đời Văn đế, trong sử đã ghi về việc không tin có Hỏa Hoán ca-sa, nhưng về sau có người âm thầm sửa lại là có điều đó.
30.7.3. Đời Tống, sa-môn Thích Tăng Diệu: Sư họ Phùng, người Thượng Đảng, gia đình cư ngụ ở thôn Thượng Minh, Giang Lăng. Niên hiệu Đại Minh thứ nhât (457) đời Tống, sư đến vùng Linh Lăng khất thực, rồi cư trú ở tinh xá Long Hoa, quận lị, trao đổi hàng hóa, tích trữ được mấy nghìn đấu thóc. Đến niên hiệu Đại Minh thứ tám (464), sư thị tịch ở chùa Long Họa. Sau đó chùa Long Hoa cững bị hỏa hoạn cháy rụi.
Trước khi thị tịch, sư đem hết tài sản giao cho để tử Pháp Tông và dặn phải dùng vào việc xây dựng giảng đường, phòng tăng. Pháp Tông theo lời sư dặn, tuy cất giảng đường xong, nhưng cứ dần dà nhiều ngày, chưa xây tăng phòng.

Phần 5

Đến tháng giêng, niên hiệu Thái Thỉ thứ ba (467), Pháp Tông bệnh nặng. Bấy giờ, có tì-kheo Đạo Mãnh theo huyện lệnh Tuyền Lăng là Hứa Tĩnh Tuệ người Cao Dương đến ở huyện. Huyện tức là trung tâm quận này. Đạo Mãnh đến thăm bệnh Pháp Tông, khi vào chùa được vài bước thì gặp một sa-môn mặc y phục vải hoa đào, quấn khăn nhỏ màu vàng vừa đi vừa mắng:
- Tiểu tử Pháp Tông cãi lời ta, không xây tăng phòng, phí phạm tài vật!
Vị ấy quay lại nhìn thấy Đạo Mãnh, có vẻ như sợ hãi, hổ thẹn và lấy khăn choàng trùm đầu vào phòng Pháp Tông. Đạo Mãnh thường lui tới ngôi chùa này, nhưng chưa từng thấy vị sa-môn ây. Đạo Mãnh không muốn xúc phạm đến vị sa-môn ấỵ, ông đến nói với đạo nhân Pháp Siêu. Pháp Siêu nghi ngờ Đạo Mãnh bày trò nói dối, nên hỏi hình dáng, giọng nói của vị sa-môn ấy. Sau khi nghe Đạo Mãnh trình bày xong, Pháp Siêu nói:
* Vị sa-môn ấy là thầy của Pháp Tông, thị tịch cách đây vài năm.
Hai người cảm thương Tăng Diệu. Đêm hôm đó, Tăng Diệu lại hiện về bảo gọi Pháp Tông đến gấp. Pháp Tông đến, Tăng Diệu rầy la rất nghiêm và nhắc lại việc xây dựng tăng phòng. Pháp Tông nghe âm thanh, khí khái của Tăng Diệu giống như lúc còn sống, nên cúi đầu đỉnh lễ tạ xong và hỏi:
- Nay hòa thượng sinh về chốn nào? Thiện, ác ra sao?
Tăng Diệu nói:
- Nơi sinh về cũng tạm được, nhưng phải chịu chút tội, hơn hai năm nữa mới thoát khỏi. Nay ta có một việc oan ức nhỏ muốn biện bạch với sở ti, nhưng vì không có ca-sa, không thể đi được, ông cố thể may gấp cho ta chiếc ca-sa.
Pháp Tông nói:
- Ca-sa thì may được, nhưng làm sao hòa thượng nhận được?
Tăng Diệu nói:
- Ngươi thiết trai thỉnh tăng và cúng dường ca-sa thì ta sẽ nhận được.
Pháp Tông nghe theo lời dặn, thiết trai và dâng y cúng dường chúng tăng. Đạo Mãnh cũng đến dự trai hội. Ông thấy Tăng Diệu đứng dựa cửa bên ngoài trai đường chắp tay nghe kinh. Khi trai hội cúng dường hoàn mãn, Đạo Mãnh thấy Tăng Diệu đã mặc ca-sa và đang tiến vào trai đường, định theo thứ bậc mà ngồi.
Tăng Diệu hỏi Đạo Mãnh:
- Ông bao nhiêu tuổi hạ?
Đạo Mãnh đáp:
- Tôi không nhớ, chỉ biết đó là tháng hai, năm Bắc triều vượt Trường Giang.
Tăng Diệu nói:
- Thế thì bằng tuổi hạ, nhưng ông nhiều hơn tôi một tháng.
Nói rồi, Tăng Diệu ngồi sau Đạo Mãnh. Đạo Mãnh liền khép người chừa một chỗ trống, Tăng Diệu ngồi xuống lặng lẽ lắng nghe. Đến khi pháp hội xong thì không thấy Tăng Diệu nữa.
Bấy giờ, trong giảng đường, tăng tục hơn trăm người. Thái thú Linh Lăng là Dương Xiến người Thái Sơn cũng đến tham dự pháp hội này. Khi Đạo Mãnh và Tăng Diệu đối đáp, mọi người chỉ nghe một mình Đạo Mãnh nói mà thôi, nên mới biết có điều linh nghiệm.
Thật ra Đạo Mãnh và Tăng Diệu hoàn toàn không biết nhau, nhưng nói về hình dáng, việc làm, tuổi hạ cao thấp đều trùng khớp.
Lúc Pháp Tông bệnh nặng sắp chết, linh ngữ nói: “Bệnh nặng rồi cũng hết thôi!”.
Linh ngữ nhập vào đứa bé, nhưng giọng nói, âm vận rõ ràng không khác, cho nên tin đó là điều linh dị. Lúc đầu Dương Xiển không tôn kính chính pháp, nhưng qua việc đó, ông ta tỉnh ngộ kính tin và bắt đầu làm phúc. Năm đó, ông cho xây giảng đường tại ngôi chùa này và trì trai, bố thí.
30.7.4. Trộm ca-sa may áo: Niên hiệu Trinh Quán thứ năm (631) đời Đường, pháp sư Tuệ Quang ở chùa An Dưỡng, Lương châu, có người đệ tử tên Mầu Thị, nhà nghèo, một cái y tiểu cũng không có. Ông đến chùa, vào phòng tăng lấy trộm chiếc ca-sa cũ, may y tiểu để mặc.
Một hôm, ông cùng những người hàng xóm tụ tập nói cười, bỗng cảm giác bàn chân nóng ran, rồi dần dần lên đến thắt lưng. Trong chốc lát trời nổi sấm chớp, đánh văng những người hàng xóm của Mẫu ra hơn trăm bước, nằm bất tỉnh trên đất, một ngày sau mới tỉnh lại. Riêng Mau Thị bị sét đánh chết cháy, người ông co rút lại, trên lưng xuất hiện hàng chữ: “Do sử dụng y không đúng pháp”. Con ông đem xác về nhà liệm thì trời lại nổi sấm sét, đến khi đưa thi thể của ông ra để ngoài rừng thì sấm sét mới dứt.
Vì thế nên biết, phúc lợi của việc thụ trì pháp phục là khiến loài rồng quy y Tam bảo, thật chẳng sai.
Gần đây có vị tăng ở một hang sâu trong núi, ban đêm ngủ, thường lấy y ngăn phía trước. Một hôm, có dị thân hình trạng rất đáng sợ đến, đưa tay vào hang dò xét định bắt vị tăng, nhưng sợ đụng vào ca-sa, nên không vào hang được, thế là vị tăng kia thoát nạn.
30.7.5. Những truyền thuyết về ca-sa của Phật: Tháng hai, niên hiệu Càn Phong thứ hai (667) đời Đường, luật sư Đạo Tuyên chùa Tây Minh5 thuật đầy đủ nhân duyên Phật pháp trụ trì thế gian cảm ứng và đã được ghi lại ở đầu quyển thứ mười của bộ sách này, ở đây chỉ nói thêm về ca-sa của Phật.
Truyện Cảm ứng ghi: Bấy giờ, có đại thần của trời Tứ Thiên Vương đến thưa với luật sư Đạo Tuyên:
- Ba tháng trước khi đức Như Lai nhập niết-bàn, Ngài bảo Văn-thù-sư-lợi thỉnh chuông triệu tập bồ-tát, tì-kheo, trời, rồng, bát bộ v.v... khắp bốn phương nhóm họp tại tinh xá Kì-hoàn. Bồ-tát Văn-thù vâng lời Đức Phật, nhóm họp đại chúng. Đức Thế Tôn nói với bồ-tát Văn-thù và đại chúng:
- Thuở xưa, khi mới vượt thành vào núi học đạo, Ta dùng y báu vô giá đổi lấy áo da nai. Lúc ấy, có vị thụ thần xuất hiện, trên tay cầm Tăng-già-lê nói với Ta: ‘Này thái tử Tất-đạt-đa! Nay ông tu đạo nhất định sẽ thành Chính giác. Thuở xưa, trước khi Đức Phật Ca-diếp nhập niết-bàn, có đem đại y Tăng-già-lê trao lại cho tôi và dặn phải giữ gìn, bảo vệ cẩn thận đợi bậc Chí nhân ra đời. Nay tôi giao lại cho Tất-đạt-đa’. Lúc ấy Ta muốn nhận đại y thì mặt đất chấn động mạnh. Thụ thần lại bảo: ‘Nay tôi sẽ mở y, chỉ tướng phúc điền cho ông biết!’.
Thụ thần liền mở y ra, chỉ cho Ta thấy tướng phúc điền, Ta liền nhập Kim cang tam-muội, mặt đất lại chấn động mạnh. Thụ thần nói: ‘Nay ông vẫn còn là người tại gia, chưa mặc pháp y này được, nên đặt trên đầu cung kính cúng dường, ông cầu Phật đạo sẽ không bị ma quỷ quấy nhiễu’.

Phần 6

Ta nghe lời thụ thần đội y trên đầu. Khi Ta vừa đặt y lên đầu thì mặt đất chấn động, thân Ta nghiêng ngã, không thể đứng vững. Lúc ấy, vị Kiên Lao địa thần từ mé kim cang vọt lên đỉnh núi Kim Cang đi theo dìu đỡ Ta, nhờ vậy Ta mới được đứng vững.
Thuở ấy, Ta tu khổ hạnh sáu năm, thân thể khô gầy, nhưng vẫn đội y trên đầu không hề than mệt mỏi.
Phạm vương nhiều lần đến, thấy Ta khổ nhọc, khởi lòng từ thương xót nên đem y Tăng-già-lê lên Phạm thiên. Nhưng lúc Phạm Vương vừa mang đi, lập tức mặt đất chấn động mạnh, mặt trời mặt trăng bị che khuất. Địa thần lại bảo Phạm Vương: ‘Ông nên đặt y lại trên đầu’. Phạm Vương làm theo thì mặt đất mới yên và mặt trời mặt trăng lại xuất hiện.
Bấy giờ, thái tử hỏi Phạm Vương:
- Ông có biết nguyên nhân Ta phải đội y trên đầu không?
Phạm Vương đáp:
- Không biết.
Thái tử nói:
- Ta đội y là vì những ác tì-kheo, tì-kheo ni v.v... đời sau không cung kính pháp phục giải thoát của Ta; cũng vì hàng phục thiên ma, ngoại đạo.
Lúc Ta xuống sông tắm và nhận hai bát cháo sữa của cô gái chăn bò, nhờ đội đại y này mà được niềm vui Đệ tam thiền, dứt hết các khổ. Lúc Ta ngồi bên cội bồ-đề Sơ chuyển pháp luân, thụ thần mang một ngôi bảo tháp đến dâng lên và Ta giải y đặt vào trong tháp.
Từ khi thành Phật đến nay đã năm mươi năm, nhưng Ta luôn giặt sạch, giữ gĩn, kính trọng đại y này, đồng thời sai thần Kim Cang cầm giữ bảo tháp, chưa từng đặt xuống đất. Mỗi khi Ta chuyển pháp luân đều đắp pháp y này, từ khi thành đạo đến nay Ta đã đắp năm mươi lần rồi. Nay Ta sắp nhập niết-bàn, cần trao lại cho người khác.
Đức Phật lại bảo bồ-tát Văn-thù, các tì-kheo và trời, rồng, bát bộ v.v...:
- Tăng-già-lê vải thô của Phật Ca-diếp có oai đức rất lớn. Ta dùng Phật nhãn quan sát thấy rcác trời, rồng, quỉ, thần và bồ-tát Thập địa v.v.... không thể lay động được đại y này dù trong chốc lát. Chỉ có Như Lai mới nhấc được tháp y ấy đi quanh giới đàn ba vòng. Như Lai bắt đầu từ phía nam theo hướng tây bước lên giới đàn, lại từ hướng tây bước sang hướng bắc, rồi đứng ngay hướng chính bắc ném tháp y bay lên hư không, tháp liền phóng ánh sáng chiếu soi khắp trăm ức cõi nước, tất cả những đường khổ nhờ ánh sáng ấy đều dứt trừ. Giống như âm thanh trong nước Thiên Thọ Diệu Lạc, đức Như Lai nói với các Đức Phật: ‘Ta sắp nhập niết-bàn, có Tăng-già-lê vải thô của Cổ Phật Ca-diếp trước kia giao cho Ta để bảo vệ chúng sinh trong đời mạt pháp, xin các đức Như Lai trong mười phương, mỗi vị hãy xả một y để cùng nhau bảo vệ chúng sinh trong đời mạt pháp!’. Các Đức Phật ở mười phương nghe Ta nói vậy, mỗi vị liền cởi Tăng-già-lê của mình cúng Phật Thích-ca Mâu-ni.
Sau khi Thế Tôn nhận y, ma vương bạch Phật:
- Cúi xin Đức Phật xót thương thụ nhận, con muốn cúng dường vàng bạc, châu báu để làm tháp đựng y.
Đức Phật nhận lời ma vương. Trong chốc lát, Ngài vận sức thần thông biến tất cả vàng bạc, châu báu thành những bảo tháp, rồi đặt mỗi đại y vào trong mỗi tháp. Chúng ma lại hỏi Phật:
- Không biết tháp này trao lại cho ai và an trí nơi nào?
Sắp đến giờ Như Lai nhập niết-bàn, Ngài bảo La vân:
- Ông gọi A-nan đến đây!
Khi tôn giả A-nan đến, Đức Phật phóng ánh sáng chiếu soi khắp đại thiên, khiến trăm ức hóa thân Phật Thích-ca đều nhóm họp tại tinh xá Kì-hoàn. Khi các hóa Phật đã vân tập, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy bước lên giới đàn và bảo tôn giả A-nan:
- Ông đến hang động ở núi Thanh Lương, nước Chấn-đán nói với bồ-tát Văn-thù-sự-lợi là Ta muốn truyền tăng-già-lê của cổ Phật Ca-diếp lại cho ông ấy!
Chừng khoảng thời gian bằng khảy móng tay, các hóa thân của Phật Thích-ca và Văn-thù đều đến giới đàn. Đức Phật nói với bồ-tát Văn-thù và các hóa thân Phật cùng đại chúng:
- Nay Ta nhập niết-bàn, muốn đem tháp y của Phật Ca-diếp giao cho ông, ông phải giữ gìn, bảo vệ giáo pháp của Ta. Sau khi Ta nhập niết-bàn? ông nên đem tháp y của Phật Ca-diếp an trí ở phía bắc giới đàn của Ta mười hai năm!
Đức Phật bảo Tứ thiên vương: ‘Ông phải trỗi nhạc trời cúng dường tháp y !
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù:
- Có những ác tì-kheo tranh đấu nhau, làm chính pháp của Ta hoại diệt. Những vua bạo ác đang cai trị các nước phía bắc Thiên Trúc, tin theo Tiểu thừa hủy báng Đại thừa. Những học giả Tiểu thừa xúi giục và ác ma quấy nhiễu, nên vua giết hại những học giả Tam tạng Đại thừa. Vì lỹ do đó, Ta cho phép ông trụ ở phía bắc giới đàn suốt mười hai năm. Khi ác vương trị thế và chính pháp hoại diệt, ông nên dùng thần lực cầm tháp y đi khắp nước kia, thâu lấy tất cả giáo pháp Đại thừa đặt vào trong tháp. Ông cũng nên thâu lấy tăng-già-lê được thụ tri đúng pháp của những tì-kheo trì giới bị vua kia giết hại đặt vào trong tháp y. Những tì-kheo trì giới còn sống sót, ông hãy dùng thần lực đưa họ lên đỉnh Tu-di an trú.
Ma vương bạch Phật:
- Vào đời vị lai con sẽ bảo vệ chính pháp. Khi vua bạo ác kia sắp tiêu diệt Đại thừa, con từ trên đỉnh Tu-di lăn những tảng đá lớn đè vua bạo ác kia và ác tì-kheo nát thành bụi. Con có một nghìn người con đều có oai lực lớn, sinh xuống Diêm-phù-đề làm vua các nước kia và mỗi vua tạo dựng vạn tăng-già-lam đầy khắp cả Diêm-phù-đề và ba cõi, để diệt mối lo và bảo vệ chính pháp.
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù:
- Ông mang tháp ỵ bát của Ta dạo khắp cõi Diêm-phù-đề, cho đến tam thiên đại thiên thế giới, an trí khắp nơi để giữ gìn giáo pháp của Ta và cũng có vua A-dục sai người xây tháp khắp các cõi tam thiên.
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
- Ông hãy dùng thần lực đến Kì-hoàn, lên lầu báu phía tây giảng đường lấy hộp châu ngọc đem về đây cho đại chúng xem. Lúc Ta vượt thành, khi đến một khu rừng cách hoàng cung của phụ vương bốn mươi dặm thì thân thể mỏi mệt, nên tạm dừng lại nghỉ ngơi. Bấy giờ, thụ thần hiện ra nói với Ta:
- Nay ngài tu đạo nhất định sẽ được thân sắc vàng, làm thầy của ba cõi. Khi Đức Phật Ca-diếp sắp nhập niết-bàn, có trao cho tôi hộp báu và tăng-già-lê bằng lụa, dặn tôi trao lại cho ngài!
Ta nói với thụ thần:
- Ta không dùng tăng-già-lê lụa của ngươi. Ta nghe người xưa nói: ‘Chư Phật ra đời không đắp ỵ lụa’. Nay Ta tu đạo, sao có thể giết hại sinh mạng để lấy tơ lụa may y đắp. Ngươi là ma đến quấy nhiễu Ta!
Thụ thần nói:

Phần 7

- Ngài là bậc đại trí, sao lại nói những lời thô như vậy? Đúng là chư Phật từ bi không đắp y lụa, nhưng y lụa này do biến hóa ra chứ đâu phải hại sinh mạng. Ông nên nhận hộp châu này và mở ra, trong ấy có chữ viết.
Ta liền nhận hộp châu và mở ra, thấy những việc kì dị như trong hộp chứa tạng luật, tạng kinh, lời di chúc của Phật Ca-diếp, tăng-già-lê, dấu tay của Phật, di thư phó chúc thụ thần trao hộp cho Ta. Trong thư Phật Ca-diếp ghi: ‘Lúc mới thành Phật, Đại Phạm thiên vương cúng cho Ta y lụa, đây là vật biến hóa ra chứ không phải dệt bằng tơ tằm. Phạm thiên vương cúng tơ dọc, địa thần Kiên Lao cúng sợi tơ ngang. Dùng tơ của hai vị thí chủ này- dệt thành một pháp y. Vì ý nghĩa đó, nay đem dâng cúng cho Ta. Từ khi Ta thành Phật đến nay, thường đắp y này và giữ gìn không để bị hư rách. Nay Ta trao lại cho Tât-đạt-đa. Sau khi ông thành Phật hãy an trí tăng-già-lê của Ta ở tinh xá Kì-hoàn. Lúc ông nói tì-ni9 nên vì Ta mà đắp y này. Nay Ta để lại y này, sau khi ông nhập niết-bàn, trong một trăm năm đầu, các tì-kheo vô trí phân tạng luật ra thành năm bộ. Sau một trăm năm ấy, họ lại phân Tu-đa-la của ông thành vô lượng bộ. Từ đây mà phát sinh tranh luận, khiến cho chính pháp mau diệt. Vì những vị tăng ngu kia không tinh thông kinh, luật, luận, nghe khai cho đắp y lụa liền giết hại loài tằm lấy tơ. Sau khi ông thành đạo, tơ kia tự xuất hiện ở các nước, chẳng phải giết hại loài tằm, nên Ta gửi thụ thần y lụa này, nay trao lại cho ông. Trong hộp này đều chứa đựng di pháp của Ta, nay cũng trao cho ông giữ gìn’.
Lúc ấy Ta nói:
- Ta đọc thư xong, mặt đất chấn động sáu cách, hộp châu tự mở ra và phóng ánh sáng rực rỡ.
Lúc ấy, thụ thần lại bảo Ta:
- Ông nên đặt hộp y này lên vai trái và luôn luôn cung kính, chớ đặt ở chỗ khác. Hộp châu ở trên vai có thể tiêu diệt chúng ma và hàng phục ngoại đạo, giúp ông mau thành Phật quả.
Ta nói:
- Từ khi Ta nhận hộp châu đó đến nay, luôn đặt trên vai, cho đên khi nhận bát cháo sữa. Khi Ta ngồi bên gốc bồ-đề, Đế Thích đến mở hộp châu trên vai, lấy tăng-già-lê dâng lên bảo Ta đắp. Đế Thích lại lấy tăng-già-lê bằng vải thô của cổ Phật Ca-diếp đắp chồng lên y lụa. Phạm thiên vương tiếp theo sau Đế Thích, đến cúng dường đại y bằng vải thô, Ta nhận lấy và đắp thành ba lớp. Hai y của Phật Ca-diếp truyền lại, còn một y là do Ta thụ nhận.
Khi đó, Đại Phạm thiên vương đến thưa:
- Con thấy chư Phật đời quá khứ, khi đắp ba đại y thì mặt đất không chịu đựng nổi, Thế Tôn nên cởi hai đại y kia ra, an trí lại chỗ cũ, chỉ đắp y của con cúng dường thì mặt đất mới an định.
Ta liền làm theo lời của Đại Phạm Thiên vương thì quả nhiên đại địa an trụ.
Đức Phật Thích-ca từ khi mới thành đạo đến lúc nhập niết-bàn, chỉ đắp tăng-già-lê bằng vải thô và ba y bằng vải trắng, chưa từng đắp y dệt bằng tơ tằm. Vì sao các ác tì-kheo oán hận, phỉ báng: ‘Trong tạng tì-ni cho phép đắp y bàng tơ lụa’. Lúc Ta mới thành đạo, tì-kheo ni Đại Ái Đạo dâng cúng ca-sa may chỉ vàng, Ta không dám nhận và bảo đem cúng cho Tăng Huống gì Ta là đạo sư của ba cõi lại đắp y dệt bằng tơ tằm. Trong ba tạng giáo, tuy cho phép dùng lụa màu cúng dường Phật, pháp và tăng, nhưng tơ lụa không được lấy từ miệng tằm. Châu Diệm-phù của Ta đây và các châu lớn khác, gồm một nghìn tám trăm nước lớn, đều có tơ lụa, nhưng đều lấy từ miệng người nữ, chẳng phải lấy từ miệng tằm. Do không sát hại sinh mạng chúng sinh, nên cảm được phúc báo tơ từ miệng người nữ sinh ra.
Hỏi: Làm sao biết được?
Đáp: Nếu muốn có tơ để dệt vải thì phải đến bên cây dâu đốt hương cầu nguyện. Bấy giờ sẽ có hai người nữ khoảng chừng tám tuổi xuất hiện, từ miệng nhả tơ. Người trong những nước kia chỉ cần tạo khung cửi, đưa tơ từ miệng người nữ vào khung, khi dệt đủ rồi thì hai người nữ biến mất. Ta cho phép đắp y dệt bằng tơ, chính là loại tơ của người nữ này và loại tơ của trời. Vì dùng những loại tơ ấy may y, không làm tồn hại mạng chúng sinh. Sao lại trách Ta hại mạng chúng sinh để lấy lụa dùng?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
- Nay con có chút việc chưa rõ muốn hỏi Thế Tôn, không biết Ngài cho phép không?
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù:
- Cho phép ông hỏi. Ta cũng thấy mọi người đang nghi ngờ.
Bồ-tát Văn-thù thưa:
- Như trước đã nói, Phật Ca-diếp có một hộp ngọc nhỏ dài ba tấc ba phân, chỉ một tăng-già-lê kia e rằng chứa không đủ, huống gì chứa tất cả kinh điển trong ba tạng giáo của Phật Ca-diếp?
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù và mọi người:
- Thần lực của chư Phật không thể nghĩ bàn, chỉ có Phật với Phật mới biết được mà thôi, các ông chẳng thể suy lường được.
Đức Thế Tôn lại bảo bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bưng hộp ngọc lên, Ngài đỉnh lễ và đưa tay chạm vào, hộp châu phát ra tiếng vang như mở cửa thành lớn. Mọi người đều thấy tháp châu, y lụa và mười vạn tòa cung điện bằng vàng bạc, chứa đựng tất cả tam tạng, luôn có nhạc trời cúng dường. Đài cao bốn mươi dặm, tháp cao mười do-tuần, nhưng hộp châu vẫn y nguyên ba tấc ba phân, không tăng không giảm. Đức Phật ở mười phương đều đến khen ngợi Phật Thích-ca Mâu-ni ở đời ác mà độ khắp chúng sinh. Rồi mỗi vị đem tăng-già-lê và hộp châu của mình cúng dường Phật Thích-ca để giúp tôn giả Mâu-ni giữ gìn giáo pháp.
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù mở tất cả hộp châu của các Đức Phật kia, thấy trong mỗi hộp đều có đại y, đài lớn và ba tạng giáo pháp, giống như tháp của Đức Phật Ca-diếp.
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù:
- Ông đem tháp này đến tinh xá Kì-hoàn, đặt trong đài phía bắc giới đàn, đợi sau khi Ta nhập niết-bàn, tự nhiên có người để giáo phó._ Nhân đó, bồ-tát Văn-thù hỏi Đức Phật:
- Sau khi đức Thế Tôn nhập niết-bàn, những hộp tháp này giao lại cho ai và đặt ở đâu?
Thế Tồn nói với đại chúng:
- Những hộp tháp này, nay Ta giao lại cho bồ-tát Văn-thù an trí trên giới đàn; ba năm sau, dời sang góc phía đông nam ba mươi năm. Sau đó lại dời sang phía nam hồ Quang Minh trên đỉnh núi Tần-già-la, Tây Ấn Độ.
Sau khi Như Lai nhập diệt bốn mươi lăm năm, có ông vua bạo ác ra đời, phá hoại Phật pháp và giết hại tăng ni không thể tính hết. Lúc ấy có quân binh của ma vương và trời Tứ thiên vương v.v.. lăn đá lớn đè chết vua bạo ác kia. Long vương Sa-kiệt đào phá cung điện thành sông lớn. Thế là vua bạo ác và dòng tộc đều chết, chỉ còn chùa viện, nhân dân. Bấy giờ người ở Tây Ấn Độ lại xiển dương Phật pháp cực thịnh. Toàn quốc có mười ba vạn ngôi chùa, sáu mươi vạn tăng, vô lượng bồ-tát, mười ba vạn tạng kinh; kinh bằng sợi vàng đến tám vạn tạng. Tượng Phật, bồ-tát lớn

Phần 8

bằng vàng bạc, bảy báu cao trăm thước, tượng nhỏ cao sáu trượng. Tổng cộng có một trăm ba mươi vạn tượng, còn những tượng nhỏ khác nhiều không thể tính kể. Những kinh tượng này đều do các nghệ nhân ở trời Đao-lợi tạo. Vì thế, những tháp, y này phải mang đến đặt tại núi kia. Đến sau đời tượng pháp một nghìn bảy trăm năm, ở cõỉ Diêm-phù-đề của Ta và bốn châu thiên hạ có rất nhiều ác tì-kheo xây dựng già-lam, nhưng không tu thiền định, không đọc tụng kinh và không biết chữ nghĩa. Giả sử có biết thì trong một nghìn người chỉ có một hai người. Vào đời ác kia, Ta sai bồ-tát Văn-thù-sư-lợi mang hộp tháp y đi khắp các nước giáo hóa nhân dân, khuyến khích họ tạo tháp, y, Đồng thời, bồ-tát cũng dùng thần lực biến hiện khắp đại thiên, làm cho những ác tì-kheo kia bỏ ác làm lành, học tập, đọc tụng tam tạng, khiến chính pháp trụ lâu dài ở thế gian. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi làm vậy xong, đem tháp trở về an trí tại chỗ cũ. Đến lúc Phật Di-lặc hạ sinh, Ta lại bảo bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đem hộp tháp y đến trao cho Phật Di-lặc, đó là nơi an trí. Vì thế Ta phó chúc cho ông.
Như Lai thành đạo được hai mươi mốt năm, một hôm Phật bảo tôn giả Mục-kiền-liên:
- Ông đến tinh xá Kì-hoàn, phía bắc giới đàn đánh chuông triệu tập thập phương tăng như bồ-tát Phổ Hiền, Quan Âm v.v... và nhóm họp trăm ức hóa thân của Ta ngồi đài lớn đến giới đàn.
Khi tôn giả Mục-kiền-liên đã triệu tập thập phương tăng và hóa thân của Phật Thích-ca xong, Đức Phật bảo bồ-tát Phổ Hiền:
- Ông đến ao Di Hầu, chỗ Ta thường kinh hành, lấy tháp châu nhỏ đặt tại góc tấm y tăng-già-lê rách mang về đây!
Bồ-tát Phổ Hiền liền đến ao Di Hầu lấy tháp mang về. Thế Tôn nhận được tháp, nói với đại chúng:
- Thuở xưa, khi Ta vượt hoàng cung, vừa lên lầu thành, vị thần giữ thành bảo: ‘Ta làm thần của thành này đến nay đã mười ba kiếp, thấy chư Phật thời quá khứ đều vượt thành học đạo, xé lưới ân ái, giết giặc phiền não, thành đạo Vô thượng, độ thoát chúng sinh; nay ngài cũng vậy, chớ nên lui sụt. Đức Phật Ca-diếp quá khứ đã trao cho tôi cái tháp châu nhỏ và dặn đợi khi Tất-đạt-đa vượt thành thì trao lại. Đây là tháp chứa bốn chiếc răng của Phật Câu-lưu-tôn, truyền trao đến Phật Lâu-chí’. Thái tử nhận và đỉnh lễ xong, tháp liền phóng ánh sáng rực rỡ, cửa tự mở ra, bên trong thấy bốn chiếc răng và di chúc của Phật. Lại có tám vạn đài lớn bằng vàng bạc đều chứa đầy kinh luật. Có một đài lớn bằng ma-ni, trên đài có hương đèn cúng dường. Quanh đài có khắc các dòng chữ bạc bảo Phật Thích-ca văn:
- Sau khi thành đạo, ông phải lấy một cái răng ấn vào lòng bàn chân thì dưới chân sẽ hiện ra tướng bánh xe nghìn căm. Kế đến dùng một răng khác ấn vào lòng bàn tay thì sẽ có chữ Vạn hiện ra. Dùng một cái răng nữa ấn lên ngực thì sẽ có. đức tướng hiện ra; dùng cái răng còn lại ấn trên đầu thì sẽ . có vòng ánh sáng tròn lớn hiện ra.
Sau khi thành đạo, Ta lần lượt ấn bốn dấu này, cứ mỗi dấu ấn ấn xuống thì hiện mỗi tướng khác nhau, giống như nói ở trên. Ấn xong thì đặt vào tháp, cửa tháp tự nhiên đóng và thấy dưới nền tháp có ghi là nên đặt tháp tại góc ca-sa.
Từ khi thành đạo đến nay, Ta thường đặt ca-sa trên vai trái. Trên đó còn ghi các hóa thân Phật và chúng trời người, mỗi mỗi cúng một tháp châu, để giữ gìn chính pháp cho đến đời vị lai. Chư Phật theo lời cúng dường, rồi giao lại cho bồ-tát Phổ Hiền giữ gìn, đợi khi Như Lai nhập niết-bàn, mang đến tinh xá Kì-hoàn an trí ở phía bắc giới đàn. Đến khi trà-tì Đức Phật xong, bảo bồ-tát Phổ Hiền giữ gìn trong vòng hai mươi năm, sau đó giao cho bồ-tát Văn-thù mở tháp lấy bốn con dấu ngà này. Đến cuối thời chính pháp, đem bốn cái dấu này truyền vào các nước ở cõi Diêm-phù-đề để bảo vệ Phật pháp. Đến một nghìn một trăm năm sau, đem bốn cái răng này ấn vào hình tượng trong trăm ức thế giới, khiến tất cả đều phát ánh sáng làm cho mọi người sinh tâm hi hữu. Sau đó truyền bá đến bốn châu, sáu từng trời cõi Dục v.v... để làm lợi ích. Cuối cùng bồ-tát Văn-thù trao lại cho Đức Phật Di-lặc.
Thế Tôn lại bảo đại chúng:
- Lúc mới thành đạo, Ta định xuống sông tắm, thì thần sông hiện ra, trên tay cầm tháp báu này, trong tháp có hộp bằng vàng ròng đựng một cái an-đà-hội, một ni-sư-đàn, một túi đựng bát và bốn chiếc răng của Phật Ca-diếp. Thần sông nói:
- Phật Ca-diếp gửi tôi, nhờ trao lại cho Thế Tôn. Thế Tôn đã tắm xong, xin Ngài đắp an-đà-hội này!
Ta nhận lấy và đắp vào thì mặt đất chấn động sáu cách và bốn góc an-đà-hội phóng quang chiếu sáng đến nghìn trăm ức cõi. Phạm Thiên ở mười phương theo ánh sáng tìm đến chỗ Ta thưa:
- Y năm điều bằng vải trắng này giống như y của Phật Câu-lưu-tôn. Phật Câu-lưu-tôn nhập niết-bàn, lần lượt truyền lại, cho đến Phật Lâu-chí. Sau khi Đức Phật Thích-ca nhập niết-bàn, đem y ấy trao lại cho long vương Ba-kiệt, bảo may tám vạn chiếc giống như pháp y này và xây tháp cúng dường để giữ gìn giáo pháp. Nhưng chiếc an-đà-hội này ở bốn góc và đầu các điều có ghi chữ Vạn; y này được may vào đầu kiếp Hiền. Tháp báu chỉ khoảng năm tấc, nhưng khi Thế Tôn mở ra, thấy trong tháp có khoảng tám vạn lầu các bằng trân châu, chứa đựng giáo pháp của Phật Câu-lưu-tồn. Lại có ba tì-kheo đệ tử của Đức Phật kia đang ngồi nhập định.
Đức Phật bảo bồ-tát Văn-thù:
- Ông lấy pháp loa của Ta đến chỗ của ba tì-kheo kia thổi khúc nhạc Phật xuất hiện ở đời.
Bồ-tát Văn-thù theo lời Đức Phật dạy, đem ốc pháp đến thổi thi những tì-kheo liền xuất định và hỏi bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
- Nay có Đức Phật nào ra đời?
Bồ-tát Văn-thù đáp:
- Đức Phật Thích-ca, vị Phật thứ tư trong kiếp Hiền ra đời.
Ba tì-kheo kia nghe bồ-tát Văn-thù nói thế, liền đến đỉnh lễ Phật, rồi đứng qua một bên và thưa:
- Khi Phật Câu-lưu-tôn nhập niết-bàn có gửi an-đà-hội, ni-sư-đàn, túi đựng bát cho chúng con và dặn ở trong tháp này cho đến khi gặp Phật Lâu-chí mới được nhập niết-bàn. Phật Ca-diếp lại gửi cho chúng con bốn cái răng. Phật Mâu-ni cho chúng con một ít móng tay và tóc, tất cả đều an trí trong tháp này. Sau khi đức Thế Tôn nhập niết-bàn, chúng con từ trong tháp xuất hiện ở cõi Diêm-phù-đề này cho đến đại thiên thế giới; nơi nơi đều dựng tháp y để giữ gìn giáo pháp.
Sau khi đức Như Lai thành đạo, Ngài lần lượt độ anh em tôn giả Ca-diếp, vì thế chúng đệ tử của Phật ngày một đông. Bấy giờ, Phật triệu tập hai bộ chúng bên hồ nước ở vườn Trúc tại Ca-lan-đà, rồi bảo họ cởi tăng-già-lê, trải ni-sư-đàn. Khi các tì-kheo ngồi trên ni-sư-đàn xong, Phật bảo xếp tăng-già-lê đặt lên đầu. Thế Tôn hỏi các tì-kheo:
- Các ông hiểu ý Ta không?
Các tì-kheo đáp:
- Bạch Thế Tôn! Chúng con không hiểu!
Đức Phật nói:

Phần 9

- Sau khi Ta diệt độ một nghìn một trăm năm, có nhiều tì-kheo phi pháp hủy hoại chính pháp của Ta và có vua bạo ác giết hại tì-kheo, thiêu đốt kinh tượng.
Như Lai nói xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cởi tăng-già-lê, xếp lại và đặt lên đầu.
Đức Phật lại bảo:
- Tăng-già-lê mà Ta đang đắp đây, chư Phật trong quá khứ, cho đến vị lai cũng nhờ đắp y này mà được giải thoát. Vào thời mạt pháp, có ác tì-kheo không thụ trì ba y, cũng không trì giới và xem thường pháp y, nên khiến cho chính pháp mau diệt. Nay Ta cho các ông ba nghìn đại y, các ông phải giữ gìn chớ để hư mât. Các ông nên dùng vải thô để may tăng-già-lê, không được dùng tơ lụa, vải mịn. Có như vậy mới khiến cho các tì-kheo đời mạt pháp không ưa thích y phục đẹp.
Khi Thế Tôn nói lời này, mặt đất chấn động sáu cách, trời người khen ngợi và hoan hỉ.
Thế Tôn dạy giao các đại y này cho bốn vị thiên vương và sứ giả của tám bộ chúng, rồi lệnh tám bộ quỉ thần giữ gìn y này, không để hư mất, đợi đến khi Phật Di-lặc ra đời thì trao lại. Đức Phật lại bảo Phạm thiên, Đế Thích cứ vào sáu ngày trai và ba tháng trường trai trong năm, thì nên lau dọn thiên cung, đưa tăng-già-lê đến đó cúng dường. Tăng-già-lê được an trí trong hộp bảy báu. Dùng nước hương tổng hợp Ngưu Đầu chiên-đàn, trầm thủy, bột hương đã nấu mà giặt tăng-già-lê. Sau khi phơi khô, đặt bột hương vào hộp bảy báu xông ướp tăng-già-lê, giúp đại y lâu hư. Sáu ngày trai hay bảy ngày trường trai là phép tắc của một tháng. Sau khi qua những ngày trai và tháng trường trai này, thì trao lại cho tứ thiên vương cất giữ. Đây là chỗ an trí tháp y.
Thế Tôn bảo tôn giả A-nan:
- Ông đến đỉnh núi Tu-di đánh chuông triệu tập tất cả tì-kheo khắp bốn phương nhóm họp tại giới đàn.
Tổng cộng có tám trăm vạn vị đã chứng quả A-la-hán cởi y bảy điều dâng lên đức Thê Tôn. Như Lai nhận lấy, đặt len chiếc chỏ đồng. Kế đó Đức Phật cởi y bảy điều của Ngài đặt lên trên những chiêc y đó. Ngài nói với đại chúng, trời người, long thần v.v...:
- Từ vô lượng kiếp đến nay, Ta xả bỏ đầu, mắt, tủy, não, tiền tài bảo vật trong ngoài, mới được y giải thoát này, chứng quả Vô thượng bồ-đề, giáo hóa chúng sinh. Sau khi Ta nhập niết-bàn, các ác tì-kheo không tin giáo pháp của Ta, không thụ trì giới cấm, không giữ y giải thoát, không có uy đức, phá hoại chính pháp. Các ác tì-kheo ni không nghe theo lời dạy của Ta, ở trong đạo tràng Kim Cang làm hạnh bất tịnh, giống như ở trong nhà chứa, không thực hành bát kính pháp, khinh mạn tì-kheo, làm cho chính pháp của Ta mau diệt, khiến chúng trời người ngày càng ít đi, những kẻ ác đầy dẫy. Nay Ta cùng ông phát bốn hoằng thệ nguyện, thương tưởng những ác tì-kheo, tì-kheo ni đời sau mà giữ gìn y này, chớ để hư mất, đồng thời an trí trong tháp để hộ trì Phật pháp.
Lúc Đức Phật nói như vậy, mặt đất chấn động sáu cách, trời người, long thần bi thương, khen ngợi vui mừng, tiếng vang cả đại thiên.
Khi Đức Phật mới thành đạo, độ năm anh em Kiều-trần-như, đến giữa năm thứ bảy, các đệ tử thanh văn dần dần đông thêm. Trong đó có tì-kheo Chân-đà-la, người ở nước Cù-đà-la, phía bậc châu Diêm-phù-đề. Tì-kheo này lúc còn ở đời vốn làm nghề buôn bán, một hôm đến Trung Thiên Trục, ông gặp Phật và xin xuất gia. Phật dùng pháp Thiện lái đắc để độ. Nhưng nước kia không có vải thô và vải dệt bằng lông thú, người nước này toàn dùng da trâu loang lổ để may áo quần. Tì-kheo Chân-đà-la vào thành Vương Xá, thấy một người choàng tấm da trâu, liền xin may ca-sa. Người kia chê cười, các tì-kheo thấy vậy, bạch Phật. Phật quở trách tì-kheo Chân-đà-la.
Phật bảo đại chúng:
- Cõi Diêm-phù-đề này và các đại thiên thế giới khác, như nước Cù-đà-la, có hai mươi vạn nước dùng da thú làm ca-sa. Ta sợ sau khi Ta nhập niết-bàn, nhiều ác tì-kheo tự tay giết hại sinh mạng lấy da may y.
Đức Phật bảo tôn giả Mục-kiền-liên:
- Ông đến chỗ phụ vương Ta thưa: ‘Khi còn nhỏ, Ta thay bốn cái răng cửa, đã gửi cho phụ vương và dặn giữ giúp Ta. Nay cần lưu lại đời sau để trần giữ chính pháp của Ta’.
Tôn giả Mục-kiền-liên theo lời dạy của Đức Phật đến lấy mang về trao cho Thế Tôn. Phật bảo các Đức Phật đã đến và các Phật phân thân, mỗi vị cúng dường một cái răng và một tháp Kim cang. Phật lại bảo các quỉ thần, long vương, trong khoảng khảy móng tay, tạo một tháp Kim cang để đựng bốn cái răng. Phật cũng bảo các Đức Phật đến từ mười phương, các Đức Phật phân thân cúng dường tháp răng. Phật lại bảo long vương Sa-kiệt mang xuống biển cúng dường.
Phật lại bảo Văn-thù-sư-lợi và Quán Âm đại sĩ:
- Đợi sau khi Ta diệt độ, các ông dùng thần lực phân thân lấy tháp răng của Ta, mang đến để trong tăng-già-lam của một nước kia. Lúc ấy bảo tháp sẽ phỏng ánh sáng, trong ánh sáng xuất hiện các thứ vải trắng; các ông giả làm thương buôn đên nước kia dùng vải trắng đó trao đổi, hoặc cho họ may pháp y. Các ông biến làm tì-kheo Tam Tạng dạy các tì-kheo nước kia đừng mặc y da và nói nếu tì-kheo nào theo lời dạy của Phật, siêng năng thụ trì thì chư thiên mang y và thức ăn đến.

Sau khi Ta diệt độ một nghìn bốn trăm năm, cõi Diêm-phù-đề của Ta và đại thiên thế giới, có nhiều ác tì-kheo không tu thiền, giữ giới, họ tạo chùa tháp khắp thiên hạ. Mặc dù trong nước có nhiều tơ lụa và mọi người không mặc áo da, nhưng tì-kheo đó thích giết hại chúng sinh lấy da màu loang lỗ để may y. Đến đời ác kia, các ông phải vận thần lực làm chấn động đại thiên, khiến tháp phát ra ánh sáng chiếu đến những người ác kia, để họ biết ăn năn, sám hối lỗi lầm, không làm các việc ác nữa”.
31. CHƯƠNG ĐỐT ĐÈN
31.1. LỜI DẪN
Mặt trời lên thì màn đêm khép lại, mặt trăng mọc thì bóng tối liền tan. Trí tuệ diệt trừ phiền não như ánh đèn xua tan bóng tối. Vì thế, bởi cung kính Đức Phật Tu-di Đăng Vương, nên thành tựu tôn hiệu A-di-đà, dốc sức thắp sáng liên tục, nên có hiệu là Định Quang. Chỉ một nhân duyên nhỏ dùng cỏ tranh chiếu soi mà được quả báo thân tỏa sáng; một mảy công đức thí đuốc lại được quả báo nhãn căn thanh tịnh. Huống gì là bậc vận đại trí này, chiếu ánh sáng tối thắng kia?
Vì thế, ngày vua A-dục sắp thăng hà, sai người tạo tám vạn bốn nghìn ngọn đèn chiếu sáng tám vạn bốn nghìn ngôi tháp. Đèn chế tạo vô cùng tinh xảo, hình dáng cũng rất xinh đẹp. Thật là tên thì ứng với Pháp thân, sự thì lay động chân cảnh. Chớp nháy lung linh, đèn hoa rực rỡ, ảnh tượng rọi vào nước biếc, ánh sáng phủ trùm cây xanh. Tia sáng giao thoa như ráng sớm khắc hoa trên hư không, rực rỡ chiếu soi như những vì sao thêu dệt trên nền trời. Đi vào tiệm vàng thì quên đi đêm tối, bước lên thềm ngọc mà ngỡ như ban mai. Vì thế nên nói, phúc vô tận thường chiếu, điềm sáng rực luôn soi vậy.
31.2. DẪN CHỨNG
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Đức Phật dạy:

Phần 10

- Từ vô số kiếp trước đến nay, Ta thường xà bỏ thân mạng. Vào kiếp nọ, Ta làm vua một nước lớn ở cõi Diêm-phù-đề. Một hôm, vua cầm dao đưa cho các cận thần và bảo họ khoét thịt trên thân để tạo một nghìn ngọn đèn. Các cận thần vâng lệnh, khoét một nghìn lỗ, rộng như đồng tiền lớn rồi rót dầu vào làm một nghìn ngọn đèn. Khi họ đặt tim đèn xong, vua nói với một vị bà-la-môn: ‘Ông phải nói kinh pháp cho ta nghe trước, sau đó mới châm lửa’. Bà-la-môn liền nói kệ:
Thường rồi cũng hoại diệt
Cao cũng có lúc rơi
Có hợp ắt có tan
Có sinh sẽ có chết.
Vua nghe bài kệ ấy rồi, vô cùng hoan hỉ và nói: ‘Nay trẫm vì pháp mà phát nguyện dùng thân này làm đèn, không cầu vinh hoa ở thế gian, cũng không cầu chứng quả Nhị thừa, nguyện đem công đức này cầu đạo Vô thượng chính chân’. Vua vừa phát nguyện, đại thiên thế giới chấn động sáu cách, một nghìn ngọn đèn trên thân vua đều thắp sáng.
Bấy giờ, tất cả trời Đế Thích, Phạm vương, Chuyển luân vương v.v... đều đến an ủi và hỏi thăm:
- Thân ông làm một nghìn ngọn đèn không bi đau sao? Ông có hối hận không?
Vua đáp:
- Không đau, cũng không hốỉ hận.
Trời Đế Thích nói:
- Lấy gì để chứng minh rằng ông không hối hận?
Vua liền thệ nguyện:
- Tôi xả thân này làm một nghìn ngọn đèn để cầu đạo Vô thượng, nếu tôi được thành Phật thì những vết thương liền lành lại.
Vua phát nguyện xong, thân thể bình phục không có dấu vết gì. Lúc ấy, Đế Thích, các vị thiên vương, đại thân, quyến thuộc, vô lượng dân chúng đồng khen ngợi, vui mừng và thực hành mười điều thiện”.
Kinh A-xà-thế vương thụ quyết ghi: “Một hôm, vua A-xà-thế thỉnh Phật thụ thực. Đức Phật nhận lời. Sau khi Phật trở về tinh xá Kì-hoàn, vua hỏi Kì-bà:
- Ngày mai, sau khi Phật thụ thực, chúng ta nên làm gì?
- Kị-bà tâu:
- Nên đốt nhiều đèn.
Thế là vua ra lệnh cho quần thần chuẩn bị một trăm đấu dầu mè đặc, rồi đốt đèn từ cửa cung đến tinh xá Kì-hoàn.
Khi ấy, có một bà lão nghèo thấy vua tạo công đức ấy, lòng rất cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, rồi đến tiệm mua dầu. Người bán dầu hỏi:
- Bà lão nghèo quá, xin được hai tiền sao không mua thức ăn mà lại mua dầu để làm gì?
Bà lão đáp:
- Tôi nghe nói rất khó gặp được Phật xuất hiện ở đời, một trăm kiếp mới gặp một lần. Nay tôi may mắn gặp được Phật, nhưng không có gì để cúng dường. Lại thấy vua tạo công đức lớn, mặc dù rất nghèo, nhưng tôi muốn đốt một ngọn đèn cúng dường Phật để gieo nhân lành cho đời sau.
Người bán dầu nghe nói như vậy, sinh tâm hoan hỉ, nên bán hai hộp và tặng thêm ba hộp. Bà lão có năm hộp dầu liền đến trước Phật đốt đèn cúng dường. Với số dầu ấy, nếu đốt chưa đến nửa đêm là đã hết Khi ấy, bà lão phát nguyện: ‘Nếu đời sau tôi đắc đạo giống như Phật thì cho số dầu này thắp sáng suốt đêm không tắt’. Phát nguyện xong, bà lão lễ Phật ra về.
Đêm ấy những ngọn đèn của vua đốt có ngọn bị tắt, có ngọn hết dầu, riêng ngọn đèn của bà lão ánh sáng rực rỡ hơn những ngọn đèn khác, cháy suốt đêm không tắt và dầu cũng không cạn. Sáng sớm hôm sau, Đức Phật bảo tôn giả Mục-kiền-liên: ‘Trời đã sáng, ông nên tắt hết những ngọn đèn kia’. Tôn giả Mục-liên theo lời Đức Phật dạy, lần lượt thổi đèn. Các đèn đều tắt, chỉ riêng ngọn đèn của bà lão, tôn giả thổi ba lần mà vẫn không tắt, liền dùng ca-sa quạt thì đèn càng sáng hơn. Tôn giả liền dùng thần thông dẫn luồng gió Tùy-lam để thổi ngọn đèn, nhưng ngọn đèn càng cháy mạnh hơn, ánh sáng chiếu đến Phạm thiên và tỏa đến ba nghìn thế giới, tất cả chúng sinh đều nhìn thấy.
Khi đó, Đức Phật bảo tôn giả Mục-kiền-liên:
- Hãy thôi! Đừng thổi nữa! Đây là ánh sáng công đức của Đức Phật đương lai, nên thần lực của ông không thể thổi tắt được. Bà lão này nhiều đời trước đã từng cúng dường một trăm tám mươi ức Đức Phật và được các Đức Phật thụ kí. Khi xưa bà lão mãi lo tu tập, thạo kinh pháp, không có thời gian bố thí cúng dường, cho nên hôm nay nghèo khó không có tài bảo, khoảng ba mươi kiếp sau, bà sẽ thành Phật, hiệu Tu-di Đăng Quang Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác. Thế giới của Phật ấy không có mặt trời, mặt trăng, nhân dân ở nước ấy, thân phát ánh sáng, phản chiếu lẫn nhau như ở cõi trời Đao-lợi’. Bà lão nghe Đức Phật nói xong, vui vẻ đỉnh lễ Phật ra về.
Bấy giờ, vua A-xà-thế hỏi Kì-bà:
- Vì sao trẫm tạo công đức lớn như vậy mà Phật không thụ kí, bà lão ấy chỉ thắp cúng một ngọn đèn mà lại được Phật thụ kí?
Kì-bà tâu:
- Vua tạo tuy nhiều, nhưng tâm không chuyên nhất; ngược lại bà lão tuy cúng ít mà một lòng nghĩ đến Phật.
Từ đó về sau, vua A-xà-thế thành tâm hiến dâng dầu, hoa cúng dường Phật. Phật liền thụ kí: ‘Tám vạn kiếp sau, vua sẽ thành Phật hiệu Tịnh Kì, kiếp tên Hỉ Quang’.
Bấy giờ, thái tử Chiên-đà-hòa-lợi con vua A-xà-thế mới tám tuổi, thấy vua cha được thụ kí, lòng vô cùng vui mừng liền cởi châu báu trên thân tung lên cúng dường Đức Phật và nguyện: ‘Con nguyện sẽ sinh vào chỗ của Đức Phật Tịnh Kì, làm Kim luân vương và cúng dường Phật. Sau khi Đức Phật kia nhập niết-bàn con sẽ thành Phật tiếp theo’.
Khi ấy, Đức Phật nói: ‘Như lời thái tử nguyện, về sau thái tử sẽ thành Phật hiệu Chiên-đàn’”.'
Kinh Hiền ngu ghi: “Tôn giả A-nan bạch Phật:
- Không biết trong đời quá khứ, đức Thế Tôn gieo những căn lành gì mà nay có phúc báo được cúng dường Vô cực đăng như thế?
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Vào thời quá khứ cách đây hai a-tăng-kì chín mươi mốt kiêp, ở cõi Diêm-phù-đề này có đại quốc vương Ba-tắc-kì, phu nhân của vua sinh được một thái tử thân màu vàng, đầy đủ các tướng quí và vẻ đẹp. Sau đó thái tử lớn lên, xuất gia tu hành thành Phật, giáo hóa nhân dân, độ rất nhiều người. Bấy giờ, vua cha thỉnh Phật và chúng tăng cúng dường ba tháng. Lúc ấy có tì-kheo A-lê-mật-la nguyện làm thí chủ cúng dường đèn trong ba tháng đó. Ngày ngày tì-kheo vào thành xin dầu, tim đèn. Lúc ấy công chúa Mâu-ni ở trên lầu cao nhìn xuống, thấy tì-kheo ấy

Phần 11

hằng ngày vào thành sắm sửa những thứ cần thiết, nên sinh tâm thương kính. Công chúa sai người đến hỏi:
- Thầy cần sắm sửa những gì?
Tì-kheo đáp:
- Tôi phát nguyện ba tháng làm người cung cấp dầu đèn cho Phật và chúng tăng, nên nay tôi vào thành xin dầu, tim đèn.
Sứ giả nghe tì-kheo nói vậy, về thuật lại với công chúa. Công chúa nghe xong, vui mừng đến nói với tì-kheo: ‘Từ naỵ về sau, thầy không cần phải đi xin nữa, tôi sẽ cung câp dầu, tim đèn’. Tì-kheo nhận lời. Ngay từ hôm đó, công chúa cho người mang dầu, tim đèn v.v... đến cho tì-kheo. Tì-kheo ấy thành tâm cúng dường, cuối cùng được Đức Phật thụ kí
- Một a-tăng-kì-kiếp sau, ông sẽ thành Phật Định Quang.
Công chúa nghe tì-kheo được Đức Phật thụ kí thành Phật, thầm nghĩ:
- Những vật dụng làm đèn cúng Phật đều của ta, sao tì-kheo ấy được Phật thụ kí mà ta không được?
Thế là công chúa tìm đến chỗ Phật trình bày suy nghĩ của mình. Đức Phật liền thụ kí cho công chúa:
- Hai a-tăng-kì chín mươi mốt kiếp sau, ngươi sẽ thành Phật Thích-ca Mâu-ni, đầy đủ mười hiệu.
Công chúa được Đức Phật thụ kí vui mừng khôn xiết, phát tâm bồ-đề, tức thời hóa thành thân nam, cung kính đỉnh lễ chân Phật, xin xuất gia làm sa-môn. Phật nhận lời cho xuất gia. Từ đó công chúa nỗ lực tu hành không gián đoạn.
Nhờ công đức cúng dường đèn thuở trước, từ đó đến nay trải qua vô số kiếp Ta thường sinh vào cõi trời, cõi người hưởng phúc tự nhiên, thân thể xinh đẹp hơn người. Đến nay thành Phật, cảm phúc báo được người cúng dường vô cực đăng này”.
Kinh Thí đăng công đức ghi: “Đức Phật nói với tôn giả Xá-lợi-phất:
- Nếu có người nào ở trước chùa tháp, hình tượng Phật bày biện phẩm vật cúng dường, hoặc dâng cúng đèn lớn, đèn nhỏ, hoặc chỉ cúng dầu, chất đốt, dù ánh sáng đó chỉ chiếu soi một bậc thềm thì được phúc đức vô lượng, hàng thanh văn, duyên giác không thể biết được, chỉ có đức Như Lai mới biết được mà thối. Người cầu phúc đức thế gian còn như thế, huống gì dùng tâm thanh tịnh, ưa thích nhớ nghĩ công đức của Phật không gián đoạn. Soi sáng một bậc thềm mà được phúc đức như thế, huống gì soi sáng tất cả đường bậc thềm. Hoặc chiếu sáng hai, ba, bốn đường bậc thềm; hoặc soỉ sáng một tầng, hai tầng, cho đến nhiều tầng của tháp thờ thân Phật; hoặc soi sáng một mặt, hai mặt, bốn mặt tháp, cho đến soi sáng tượng Phật.
Xá-lợi-phất! Ngọn đèn của người kia chỉ sáng trong chốc lát rồi vụt tắt, hoặc bị gió thổi tắt, hoặc vì hết dầu mà tắt, hoặc do hết tim mà tắt, hoặc do hết tim và dầu mà tắt, nhưng vì tin Phật, pháp, tăng, ở trước chùa tháp Phật dâng cúng đèn, nên được vô lượng phúc đức, chỉ Phật mới biết được. Chỉ dâng cúng một ngọn đèn nhỏ mà còn được phúc đức nhiều không thể tính kể. Huống gì sau khi Ta diệt độ, nếu có người nào, ở nơi chùa tháp Phật, hoặc tự mình, hoặc khuyến hóa người khác thắp một ngọn đèn, hai ngọn đèn, cho đến nhiều ngọn đèn, hoặc dâng hương, hoa, chuỗi ngọc, cờ báu, lọng báu và những phẩm vật quý giá khác cúng dường!
Nếu người nào cúng đèn dầu ở trong tháp Phật thì khi qua đời sẽ được ba lợi ích:
1. Lúc sắp qua đời, tất cả những điều phúc thiện đã làm đều hiện ra trước mặt và luôn nhớ nghĩ những pháp lành. Nhờ nhớ biết như vậy mà tâm an vui.
2. Nhờ đó mà phát tâm niệm Phật, bố thí, tâm hoan hỉ, không đau khổ vì chết.
3. Khởi tâm nhớ nghĩ đến pháp.
Này Xá-lợi-phất! Người kia lúc sắp qua đời lại được thấy bốn việc:
1. Thấy mặt trời tròn sáng xuất hiện.
2. Thấy mặt trăng tròn sáng xuất hiện.
3. Thấy chư thiên sinh vào một cõi.
4. Thấy đức Như Lai, ứng Chính Biến Tri đang ngồi bên cội bồ-đề sắp thành đạo quả và thấy mình cung kính tôn trọng, chắp tay đứng bên Phật.
Này Xá-lợi-phất! Sau khi người ấy qua đời, sinh lên trời Đao-lợi, lại được năm pháp thanh tịnh.
1. Được lực thanh tịnh.
2. Ở trong chúng trời được oai đức thù thắng.
3. Thường được niệm và tuệ thanh tịnh.
4. Thường được nghe âm thanh mà nhiếp tâm.
5. Luôn gặp được thân thuộc hợp ý, khiến tâm luôn hoan hỉ.
Khi tuổi thọ ở cõi trời kia hết cũng không bị rơi vào đường ác. Nếu sinh vào cõi người thì sinh vào gia đình thuộc dòng dõi tôn quý, chính tín Phật pháp. Nếu sinh ra đời nhằm lúc không có Phật, cũng không bị sinh vào gia đình hèn hạ, tà kiến.
Nhờ phúc đức cúng dường đèn mà được bốn niềm vui:
1. Thân thể khỏe mạnh.
2. Nhiều của cải.
3. Được điều lành lớn.
4. Có trí tuệ.
Nếu người nào tin kính Đại thừa, cúng dường đèn ở chùa tháp Phật thì được tám điều đáng quí:
1. Được nhục nhãn siêu việt.
2. Được niệm thù thắng không thể suy lường.
3. Đạt được phần thiên nhãn thù thắng.
4. Vì tu tập đầy đủ, nên không khuyết giới.
4. Được trí tuệ đầy đủ, nên chứng niết-bàn.
6. Nhờ những việc thiện đời trước, nên không sinh vào chỗ khổ nạn.
7. Nhờ những việc thiện đời trước, nên được gặp chư Phật, làm con mắt cho tất cả chúng sinh.
8. Nhờ những căn lành này, hoặc được làm Chuyển luân vương, có luân bảo không bị người khác làm chướng ngại, thân tướng xinh đẹp; hoặc làm Đế Thích được oai đức lớn, có đủ nghìn mắt; hoặc làm Phạm vương siêng tạo các việc thiện, được đại thiền định.
Này Xá-lợi-phất! Nếu hồi hướng công đức cúng dường đèn ấy về đạo bồ-đề thì được tám pháp an lạc thắng diệu như vậy.

Phần 12

Này Xá-lợi-phất! Nếu có người nào ở trước Như Lai, thấy người cúng dường đèn mà khởi lòng tin thanh tịnh, chắp tay tùy hỉ, thi được tám pháp tăng thượng:
1. Sắc tăng thượng.
2. Quyến thuộc tăng thượng.
3. Giới tăng thượng.
4. Sinh lên cõi trời hay người đều được đời sống tăng thượng.
5. Tín tăng thượng.
6. Biện tài tăng thượng.
7. Thánh đạo tăng thượng.
8. Được A-nậu bồ-đề.
Này Xá-lợi-phất! Có năm điều rất khó được:
1. Thân người.
2. Tin ưa chính pháp của Phật.
3. Thích Phật pháp, được xuất gia.
4. Đầy đủ giới thanh tịnh.
5. Đoạn hết phiền não.
Tất cả chúng sinh đều cho hôm nay các ông đã được năm điều khó ấy”.
Kinh Đăng Chỉ ghi: “Thuở xưa, tại thành Vương Xá có năm ngọn núi vây quanh, trong đó ngọn Ma-già-đà là bậc nhất. Các bậc thắng trí, những người tu Phạm hạnh đều cho rằng đây là vùng đất trang nghiêm kì đặc, có thể làm cho tâm hỉ lạc, nên họ từ các nơi xa xôi đều tụ tập về.
Bấy giờ, trong thành có một vị trưởng giả rất giàu có, kho lẫm tràn đầy như Tì-sa-môn, nhưng không có con nối dõi, nên họ cúng tế thần linh cầu con.
Không bao lâu sau, người vợ mang thai, đủ mười tháng thì sinh được một bé trai. Đứa trẻ đó kiếp trước đã gieo trồng cội phúc, nên mới sinh ra đã có một ngón tay phát ra ánh sáng chiếu xa mười dặm. Cha mẹ vui mừng, liền mời hết bà con họ hàng và các thầy tướng, mở tiệc lớn để đặt tên cho con. Vì ngón tay phát ra ánh sáng nên đặt tên là Đăng Chỉ. Tất cả mọi người dự tiệc thấy đứa trẻ có tướng lạ, đều cho là việc chưa từng có.
Bấy giờ, trong buổi tiệc có bà-la-môn Bà-tu học rộng hiểu nhiều, thông suốt mọi việc, thấy đứa trẻ này có tướng lạ, mỉm cười và nói:
- Đứa ưẻ này hoặc là trời Na-la-diên, Thích-đề-hoàn-nhân, Nhật thiên từ hay các vị trời đức lớn sinh xuống!
Cha mẹ đứa trẻ nghe bà-la-môn nói vậy thì càng vui hơn, nên kéo dài tiệc lớn suốt bảy ngày. Cà nước đều biết việc này, có người tâu lên vua.
Vua A-xà-thế nghe tin, ban lệnh đưa đứa trẻ vào cung. Trưởng giả vâng mệnh, liền bồng đứa trẻ đến cửa cung, gặp lúc vua đang dự yến tiệc, nên không thông báo được. Trong lúc chờ đợi, ánh sáng từ ngón tay của đứa trẻ chiếu thẳng vào hoàng cung, rồi chiếu đến thân vua và cung điện, khiến tất các vật ở đây đều màu vàng. Thấy ánh sáng chiếu khắp cung điện, vua kinh ngạc, hỏi:
- Ánh sáng này từ đâu chiếu đến hoàng cung của trẫm? Chẳng lẽ đức Thế Tôn muốn giáo hóa chúng sinh, nên đã đến cửa cung trẫm ư? Hay các vị trời đức lớn, trời Thích-đề-hoàn-nhân, Nhật thiên tử v.v... sinh xuống đây sao? Vua liền sai người ra ngoài cửa cung xem.
Người kia thấy vậy , trở vào tâu vua:
- Tâu đại vương! Trước đây, đại vương truyền lệnh gọi một đứa trẻ vào cung, hiện đang đứng đợi bên ngoài. Tay đứa trẻ ấy bám trên vai người vú nuôi, ngón tay của nó phát ra ánh sáng chiếu vào trong cung, nên mới có ánh sáng này.
Vua bảo người kia:
- Mau đưa đứa trẻ vào đây!
Vua thấy đứa trẻ rất lạ, liền nắm tay xem tướng. Vua xem kĩ một hồi lâu rồi nói:
- Lục sư ngoại đạo nói không có nhân quả, thật là dối gạt. Nếu không có nhân quả thì tại sao ngón tay đứa trẻ này có ánh sáng như vậy. Do đây đoán biết, bọn ngoại đạo muốn làm cho chúng sinh rơi vào đường ác. Chắc chắn rằng đứa trẻ này không phải là trời Tự Tại v.v..., cũng chẳng phải tự nhiên có ánh sáng, nhất định nhờ phúc đức đời trước nên có quả báo lành này. Thế mới biết lời cửa Phật là chân thật, không hư dối, mà chúng sinh không chịu tu phúc là sao? Thật là kì lạ thay! Nhưng nay vẫn chưa biết rõ ánh sáng trên ngón tay của đứa trẻ hay do mặt trời, hoặc do mặt trăng và muốn biết được thực hư phải đợi đến nửa đêm.
Thế rồi, khi mặt trời vừa lặn, họ đã vội đặt đứa trẻ này lên lưng voi cho đi phía trước, vua và thần theo sau ra vườn. Lúc ấy, ánh sáng từ ngón tay của đứa trẻ chiếu sáng tất cả nơi tối tăm, mọi người nhìn thấy chim thú, hoa trái trong vườn rõ như ban ngày,
Thấy vậy, vua bỗng thốt lên:
- Không ngờ những lời Phật dạy vi diệu đến như thế! Nay trẫm tin sâu nhân quả. Bọn lục sư ngoại đạo thấp kém kia thật ngu si mê muội. Thế là vua càng tôn kính Đức Phật hơn.
Bấy giờ, Kì-vực tâu:
- Dù nghèo con phải dốc hết tài sản để tu tạo nghiệp lành, huống gì giàu sang mà không làm phúc!
Luận bàn như thế, trong chốc lát thì trời sáng, vua và mọi người đưa Đặng Chỉ vào cung, ban nhiều châu báu, rồi cho về nhà.
Đãng Chỉ dần dần lớn khôn, cha mẹ tìm người để cưới vợ. Cuối cùng chọn được một cô gái xinh đẹp của một gia đình quyền quí. Trưởng giả vốn là người giàu sang nên bày đủ lễ nghi, làm khuê phòng lộng lẫy, của hồi môn rất nhiều.
Thế nhưng ở đời, hễ có thịnh thì có suy, có hợp thì có tan. Sau đó, cha mẹ Đăng Chỉ đều qua đời. Giống như mặt trời lặn thì ánh sáng tắt dần, mặt trời xuất hiện thì ánh sáng của trăng biến mất như củi đã thành tro thì lửa cũng tắt; khỏe mạnh, xinh đẹp rồi cũng bị bệnh tật hủy hoại; tuổi trẻ rồi cũng sẽ già, mạng sống đáng quí sẽ bị sự chết cướp đoạt.
Từ khi cha mẹ Đăng Chỉ qua đời công việc làm ăn cũng dần suy sụp. Nhưng vì lớn lên trong một gia đình giàu sang sung sướng, nên Đăng Chỉ không để ý gì đến gia nghiệp mà chỉ giao du với bạn xấu, chơi bời lêu lổng, đắm say tửu sắc, xài tiền phung phí. Vật chứa trong kho không có người trông coi dần dàn cạn kiệt như trăng tròn lại khuyết.
Bấy giờ, theo luật pháp nước kia, mỗi năm mở đại hội ở núi Ban-chu một lần. Đăng Chỉ trang sức chỉnh tề, sắp đặt tùy tùng cùng đến dự đại hội. Lúc ấy bọn cướp biết Đăng Chỉ đi vắng, lại dò xét biết nhà không có người, nên chúng đến cướp hết tất cả tiền của, châu báu. Chiều tối Đãng Chỉ mới về tới, thấy nhà mình bị cướp hết, chỉ còn cây, đá, gạch ngói v.v... liền ngất xỉu ngã trên đất, mọi người rưới nước mới tỉnh dậy. Đăng Chỉ buồn bã khóc lóc và nghĩ: ‘Ngày xưa, cha ta làm đủ mọi cách mới gầy dựng được gia nghiệp, khổ nhọc cất chứa lương thực, tài bảo, đến khi sinh ra ta, nuôi dưỡng khôn lớn và giao hết gia sản cho ta. Tại sao ta không nối nghiệp của cha mà lại chơi bời lêu lỏng, lười biếng bị người

Phần 13

khác khinh chê, gia sản của cha trong một ngày đã mất sạch, kho lẫm trống rỗng, vật nuôi cũng chạy mất’.
Bấy giờ ánh sáng ở ngón tay vàng của Đăng Chỉ cũng không còn. Người vợ chán cảnh sổng nghèo cùng nên bỏ đi, tôi tớ cũng trốn, họ hàng đoạn tuyệt, những người thân nhất cũng trở mặt thành thù.
Đăng Chỉ nghèo khổ tiều tụy giống như quỉ khởi thi, ai thấy cũng sợ hãi. Sự nghèo khổ có thể hủy hoại tuổi thanh xuân, nào là sắc đẹp, sức khỏe, tiếng tăm, dòng họ, nhà cửa, trí tuệ, nhân nghĩa và tín hạnh đều tan biến. Lúc đó, Đăng Chỉ nghĩ: ‘Thế gian này khồng ai nghèo khổ, khốn cùng như tôi, muốn bỏ thân này, nhưng không thể tự kết liễu, biết phải làm gì để kiếm sống đây? Nghề mà người đời khinh nhất là nghề vác xác chết; việc này tuy thấp hèn, nhưng không phải chịu nghiệp khổ đời sau’.
Có người nghe Đăng Chỉ nói vậy, liền thuê vác xác chết. Đăng Chỉ hỏi giá cả rồi theo yêu cầu người ấy vác xác chết đến một bãi tha ma. Đăng Chỉ định ném xác chết xuống đất, nhưng tử thi ôm chặt Đăng Chỉ, giống như đứa trẻ ôm chặt cha mẹ không chịu buông ra. Đăng Chỉ cố hết sức gỡ ra, nhưng không sao được. Cái xác chết bám dính vào lưng, giống như dán keo, không thể tháo ra được. Đăng Chỉ gỡ mãi không ra nên rất sợ hãi, liền suy nghĩ: ‘Nay ta vác mãi xác chết này trên lưng thì biết sẽ sống ở đâu?’. Đăng Chỉ đi đến thôn của hạng người Chiên-đà-la và nói: ‘Ai có thể gỡ xác chết trên lưng ta xuống sẽ được đền đáp trọng hậu’ Những người Chiên-đà-la hợp sức lại kéo xuống nhưng xác chết không chịu buông.
Khi ấy, có người trông thấy, mắng Đãng Chỉ: ‘Kẻ điên cuồng kia! Tại sao vác xác chết vào thôn xóm của người?’. Thế là họ lấy cây, đá đánh ném. Đăng Chỉ toàn thân thưomg tích, vô cùng đau đớn, sợ hãi. Có người thương xót, dẫn ông đến một thành nọ, nhưng khi vừa đến cửa thành thì lính canh cửa chặn lại đánh đập, không cho đến gần. Họ nói: ‘Kẻ ngu này tại sao muốn vác xác chết vào thành?’.
Thân thể bị đánh thương tích, Đăng Chỉ buồn bã, than khóc và la lớn: ‘Vì tôi nghèo khổ, không kiếm được chỗ làm nến mới làm nghề thấp hèn này, cớ sao bỗng nhiên lại bị đánh đập khốn khổ thế này? Thà tôi làm những nghề khác mà bị chết, chứ không vác cái thây này để được sống’
Nghe Đăng Chỉ khóc than, người giữ cửa thương xót thả cho về nhà. Đăng Chỉ đi đến ngôi nhà hoang, nơi mà trước kia ông cùng với những người ăn xin nghèo khổ chung sống. Những người ấy từ xa thấy Đẳng Chỉ vác thây chết trên lưng, họ đều bỏ đi. Nhưng khi về đến nhà mình, thì xác chết tự rơi xuống đất.
Bấy giờ, Đăng Chỉ càng sợ hãi, ngất xỉu té ngã trên đất. Một hồi lâu mới tỉnh lại, thấy trên xác chết có ngón tay vàng. Dù sợ, nhưng vì thấy vàng, nên Đăng Chỉ cố bước đến xem và dùng dao cắt thử thì đúng là vàng thật. Đăng Chỉ được vàng, vô cùng vui mừng. Ông tiếp tục cắt đầu, cổ, tay, chân thì chúng liền mọc ra trở lại. Đăng Chỉ chỉ cắt trong chốc lát mà đầu, tay, chân bằng vàng đã chất đống cao hơn người. Giống như vua bị mất nước mà lấy lại được, như người mù được sáng mắt. Đăng Chỉ vui mừng cũng như thế. Từ đó châu báu trong kho nhiều hơn ngày trước, uy đức, tiếng tăm cũng hơn trước; bà con, bạn bè, vợ con, tôi tớ đều quay trở về.
Đăng Chỉ than:
- Than ôi! Thật kì lạ! Người giàu có sức mạnh, khiến cho người đời quí phục rất nhanh! Than ôi! Kì lạ thay! Người nghèo có sức mạnh khiến cho người thân bỏ ta cũng rất nhanh!’.
Lúc trước ta nghèo khổ thì bà con, bạn bè thân thiết đều lánh xa; trong lúc buồn bã không ai đến hỏi thăm, an ủi, động viên. Hôm nay tất cả đều ngưỡng mộ, vâng lời, chắp tay cung kính.
Thế mới biết, giả sử nơi sinh như trời Đế Thích, sức mạnh như La-ma, hiểu biết như thiên sư, nếu không có tiền của thì cũng chẳng có giá trị gì. Còn người giàu sang thì không cần biết là ngu hay trí đều cho là tốt; dù kẻ ấy không biết gì, nhưng vẫn được gọi là người trí, người dũng cảm, khỏe mạnh và nhiều tiếng tốt; dù kẻ ấy già nua, xấu xí nhưng nhiều phụ nữ trẻ đẹp thích vây quanh.
Vua A-xà-thế nghe Đăng Chỉ giàu sang trở lại, liền sai người đến thâu lấy hết châu báu. Nhưng khi mang số châu báu kia về đến triều đình thì đều biến thành xác người chết. Vua sai người mang trả lại nhà Đăng Chỉ thi biến thành vàng. Đăng Chỉ biết vua muốn có số châu báu ấy, nên đem tất cả đầu, tay, chân vàng dâng lên vua, vua liền mang về cung.
Sau đó, Đăng Chỉ suy nghĩ và nói kệ:
Năm dục luôn khuấy động Như sấm chớp, rắn độc Giàu sang không lâu dài Mau sinh tâm chán bỏ!
Đăng Chỉ liền đem số châu báu đó phân phát cho mọi người, nương Phật pháp xuất gia cầu đạo, siêng năng tu tập, đắc quả A-la-hán. Tuy chứng được đạo quả, nhưng thây vàng kia thường theo ông.
Các tì-kheo hỏi Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà từ khi sinh ra đến nay ngón tay của tì-kheo Đăng Chỉ luôn có ánh sáng? Vì nhân duyên gì mà tì-kheo Đăng Chỉ phải chịu cảnh nghèo khổ và thây vàng thường theo?
Đức Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Các ông phải chí tâm lắng nghe, Ta sẽ nói cho các ông biết về nhân duyên đời trước của tì-kheo Đăng Chỉ. Thuở xưa, tì-kheo Đăng Chỉ sinh vào nhà một đại trưởng giả ở nước Ba-la-nại Lúc còn nhỏ, có lần đứa bé đánh xe ra ngoài dạo chơi đến tối trở về thì cửa đã đóng. Đứa bé gọi lớn, nhưng không có ai ra mở cửa. Một hồi lâu, người mẹ mới ra mở cửa, đứa bé nổi giận mắng mẹ:
Cả nhà vác xác chết hay là giặc cướp, mà sao không có ai mở cửa cho con?
Vì nghiệp duyên đó, nên sau khi chết bị đọa vào địa ngục chịu quả báo xong, mới sinh lại làm người, nhưng phải chịu sự nghèo hèn, khốn khổ.
- Này các tì-kheo! Như Lai sẽ nói cho các người nghe nguyên nhân ngón tay Đăng Chỉ có ánh sáng và thây vàng thường theo.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, có Đức Phật Tì-bà-thi xuất hiện ở đời. Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, Phật pháp vẫn còn lưu hành ở thế gian. Lúc ấy, Đăng Chỉ là một đại trưởng giả rất giàu có, thường đến chùa tháp Cung kính lễ bái. Thấy ngón tay của pho tượng đất bị vỡ, ông liền dùng bột vàng đắp lại. Sau khi tu sửa xong, ông phát nguyện: ‘Con đem công đức nhân duyên cúng dường hương, hoa, âm nhạc và tu sửa pho tượng, nguyện sinh lên cõi trời, cõi người thường được giàu sang, tôn quý. Ví như có mất cũng liền được lại, khiến cho con ở trong phật pháp xuất gia và đắc đạo’.
Vì tu sửa ngón tay Phật mà được quả báo ngón tay có ánh sáng và thây vàng thường theọ. Vì ác khẩu nên sau khi ra khỏi địa ngục, sinh lại làm người phải chịu quả báo nghèo cùng, khốn khổ. Vì gieo trồng một chút phúc nghiệp tu sửa hình tượng Phật mà được phúc báo. Tu sửa tượng Phật đã nhập niết-bàn còn được phúc báo như vậy, huống gì cúng dường Pháp thân của Như Lai!”.

Phần 14

Kinh Thí dụ ghi: “Khi Đức Phật còn ở đời, có lần đệ tử lớn của Phật là Đại Mục-kiền-liên vận thần thông bay lên cung trời Đao-lợi, vào vườn của Đế Thích dạo chơi, quan sát khắp nơi. Tôn giả thấy một thiên nữ xinh đẹp lạ thường, thân có ánh sáng chiếu rực rỡ hơn các thiên nữ khác, liền hỏi thiên nữ:
- Kiếp trước cô gieo trồng phúc duyên gì mà nay được quả báo xinh đẹp và có ánh sáng như vậy?
Thiên nữ đáp:
- Kiếp trước tôi là một cung nữ trong cung của vua Bình-sa. Khi ấy, trong cung có ngôi tinh xá thờ Phật. Một đêm nọ, tôi vào tinh xá thấy tháp Phật tối tăm, tôi liền đốt đèn đặt trong đó. Nhờ nhân duyên đó mà nay được thân có ánh sáng tuyệt đẹp, được sinh lên trời hưởng phúc, vô cùng an vui”.
Kinh Thí dụ ghi: “Lúc Đức Phật còn ở đời, các đệ tử, mỗi vị có năng lực khác nhau, như tôn giả Xá-lợi-phất là trí tuệ số một; tôn giả Đại Mục-liên thần thông số một; tôn giả A-na-luật thiên nhãn số một, có thể nhìn thấy đến ba nghìn đại thiên thế giới, thậm chí những hạt bụi nhỏ ở nơi tối tăm.
Tôn giả A-nan thấy thế, hỏi Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tì-kheo A-na-luật đời trước tạo nghiệp gì mà nay được thiên nhãn như thế?
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Vào thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, sau khi Đức Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn, bấy giờ A-na-luật là một tên cướp, vào trong tháp Phật định trộm đồ vật, tình cờ nhìn thấy ngọn đèn trước tượng Phật sắp tắt, ông lấy mũi tên khêu tim đèn cho sáng. Nhờ đó, tên cướp nhìn thấy oai quang của Phật và tự nhiên toàn thân rúng động, liền nghĩ: ‘Người khác có thể bỏ tài vật để cầu phúc, tại sao ta lại lấy trộm!’. Tên cướp nghĩ vậy rồi bỏ đi. Nhờ phúc đức nhân duyên sửa tim đèn cho sáng mà từ đó đến nay, trải qua chín mươi mốt kiếp A-na-luật thường sinh vào cõi lành, dần dần từ bỏ việc ác, phúc đức ngày càng thêm lớn. Cho đến hôm nay ông ấy được gặp Ta, rồi xuất gia tu học, chứng quả A-la-hán, là người có thiên nhãn số một trong chúng.
Bỏ tài vật đánh cướp mà còn được quả báo như thế, huống gì người có lòng thành xả bỏ. Thế mới biết, thắp đèn cúng dường Phật được phúc đức khó có thể suy lường”.
Luận Trí độ ghi: “Nếu người nào trộm hạt châu và đèn trong tháp Phật, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Nếu được làm người thì đời đời sinh ra đều bị mù”
Kinh Quán đỉnh ghi: “Bồ-tát Cứu Thoát bạch Phật:
- Nếu nam, nữ nào bị bệnh nặng, đau đớn khổ sở, không có người cứu giúp, con khuyên họ thỉnh chúng tăng tụng kinh này bốn mươi chín biến, giữ trai giới trong bảy ngày bảy đêm, nhất tâm thụ trì tám cấm giới, sáu thời lễ bái, họ đốt đèn bảy tầng, treo thần phan tục mạng năm màu.
Tôn già A-nan hỏi bồ-tát Cứu Thoát:
- Cách thức làm đèn, thần phan tục mạng như thế nào?
Bồ-tát Cứu Thoát nói:
- Phải làm thần phan năm sắc dài bốn mươi chín thước. Làm đèn bảy tầng, mỗi tầng đặt bảy ngọn, sắp thành hình tròn.
Nếu người nào gặp hiểm nạn hay bị trói buộc, giam cầm trong chốn lao tù cũng nên làm thần phan tục mạng, đốt đèn bảy tầng và phóng sinh bốn mươi chín loài vật thì được thoát khỏi những nạn đó, cũng không bị những loài quỷ dữ hãm hại”.
Kinh Siêu nhật minh tam-muội ghi: “Nhật Thiên Vương cùng vô số trời người đến chỗ Phật đỉnh lễ và hỏi:
- Bạch đức Thế Tôn! Tạo nhân gì để có mặt trời chiếu sáng khắp thiên hạ? Vì duyên gì để được mặt trăng chiếu trừ đêm tối?
Đức Phật đáp:
- Có bốn việc: Một, thường vui vẻ bố thí; hai, tu thân, hành vi cẩn trọng; ba, giữ giới thanh tịnh; bốn, tháp đèn cúng dường Phật. Hoặc thường cung cấp ánh sáng cho cha mẹ, sa-môn, đạo nhân và giữ thân khẩu ý không sát sinh v.v. .. hành trì mười điều thiện.
Phật lại bảo:
Có bốn việc được làm Nguyệt vương: Một, bố thí cho người nghèo khổ; hai, phụng trì năm giới; ba, kính thờ Tam bảo; bốn, thường cấp đèn cho vua, cha mẹ, thầy tổ”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật dạy:
- Từ nay về sau, khi đốt đèn, cho phép đặt mồi lửa một bên, rồi lần lượt đốt. Trước hết nên để đèn nơi thờ xá-lợi và hình tượng Phật, lễ bái xong, theo thứ tự mà đốt. Khi tắt đèn, thì tắt những nơi khác trước, rồi mới tát đèn trước Phật và xá-lợi, đồng thời nên bảo: ‘Các đại đức không được dùng miệng thổi đèn (vì có trùng trong lửa, sợ hơi thở của người làm tắn hại loài trùng, nên không cho phép thổi), chỉ cho phép dùng tay, hoặc dùng y quạt đèn, phải cúi thấp đầu xuống để mồi lửa. Khi mang đèn vào không được vội vàng, nên xướng lên rằng: ‘Các đại đức! sắp đưa đèn vào!’ rồi mới được vào, nếu không làm như thế, sẽ bị tội việt uy nghi?!”.
Tam thiên uy nghi ghi: “Khi đốt đèn, phải chú ý năm việc:
1. Nên lấy khăn lau bên trong và ngoài đèn cho sạch.
2. Phải làm sạch tim đèn.
3. Phải tự làm dầu.
4. Khi châm dầu không được quá đầy, cũng không được quá ít.
5. Phải giữ chắc, không được treo làm trở ngại người hành đạo”.
Ngũ bách vấn sự ghi: “Giữ ánh sáng trước Phật ban ngày cũng không được tắt. Tuy Phật không có sáng tối, nhưng thí chủ không giới hạn ngày tắt, đêm thắp. Vì thế, nếu để đèn tắt là có tội”.
Đại Đường tam tạng Ba-phả-sư ghi: “Đèn thắp trước Phật, nếu không vững dễ ngã đổ, có thể đặt vật một bên để giữ đèn, nhưng không che mất ánh sáng thì được”.
Có bài tụng:
Cành sen kết vô tận
Mây hoa phủ mấy tầng
Đan trúc tạo hình voi
Buộc lau lại thành rồng
Than rơi đốt đèn sáng
Dầu tuôn ướt non xanh
Nếu như cung trời sáng
Ắt sẽ gặp Đăng vương.
31.2. CẢM ỨNG

Phần 15

31.2.1. Đời Tống, sa-môn Thích Đạo Quýnh: Sư họ Mã, người Phù Phong, trú tại chùa Nam Giản, ở kinh đô. Sư xuất gia làm đệ tử của ngài Đạo Ý. Có lần, ngài Đạo Ý bị bệnh, nên sai sư và ba người khác đến núi Hoắc ở Hà Nam lấy chung nhũ. Bốn người đi vào hang được vài dặm, rồi bước lên một đoạn cây để qua sông, bỗng ba người bị rơi xuống sông chết đuối và bó đuốc cũng tắt. Lúc ấy, sư biết không ai giúp đỡ, nhưng vì thường tụng kinh Pháp hoa, nên chỉ biết nương vào nghiệp lành này và niệm danh hiệu bồ-tát Quan Âm. Bỗng sư nhìn thấy một điểm sáng nhỏ như con đom đóm, sư liền đuổi theo nhưng không kịp, lát sau thì thoát ra khỏi hang.
Từ đó, sư siêng năng tu tập thiền định, phẩm hanh càng thêm cao. Nhiều lần sư mở trai hội Phô Hiền lớn, đều có điềm lành ứng hiện. Hoặc thấy có vị tăng Ấn Độ vào ngồi trong trai hội, hoặc thấy có người cỡi ngựa đến, nhưng chưa kịp chào hỏi thì bổng chốc đã biến mất.
Sau đó, sư cùng với những người bạn đồng học đến kinh đô quan sát phong tục tập quán. Vào một đêm nọ, sư cùng với ba người bạn cùng ngồi trên một tảng băng lớn để qua sông, đến giữa dòng thì tảng băng vỡ, ba người kia rơi xuống sông chết đuối, sư lại chí thành niệm danh hiệu bồ-tát Quán Âm, bỗng có cảm giác như dưới chân có một vật gì đang dao động, lại thấy một đốm sáng đỏ ở phía trước, liền lần theo ánh sáng đó mà vào được bờ.
Khi đến kinh đô, sư trú tại chùa Nam Giản, chuyên tu Ban-chu tam-muội. Có lần, lúc nửa đêm sư nhập định, bỗng thấy bốn người ngồi xe đến phòng và gọi sư lên xe. Sư liền lên xe mà không hề hay biết gì, lát sau thấy mình ở tại Thẩm Kiều phía sau quận. Nơi đây sư thấy một người ngồi trên hồ sàng ở giữa đường, có mấy trăm người đứng hầu. Vị kia thấy sư, liền kinh hãi đứng dậy hỏi: “Ngài là người ngồi thiền sao?”. Rồi xoay qua nói với mọi người xung quanh: “Lúc nãy ta bảo các người đến xem để biết chỗ ở của sư thôi, sao bỗng nhiên làm nhọc lòng pháp sư?”. Người kia lễ bái từ biệt và bảo thuộc hạ đưa sư trở về chùa. Sư gõ cửa một hồi lâu mới có người mở. Vào trong chùa thấy cửa phòng vẫn còn đóng, mọi người đều không biết vì sao!
Niên hiệu Nguyên Gia hai mươi (443), Lâm Xuyên Khang vương Lưu Nghĩa Khánh đưa sư đến Quảng Lăng và thì sư tịch ở đó.
31.2.2. Đời Tùy, sa-môn Thích Pháp Thuần: Sư họ Chúc, người Thỉ Bình, Phù Phong, trú ở chùa Tịnh Tru, Tây Kinh. Sư thích ở trong rừng vắng và cứu giúp người hoạn nạn. Có lần sư thắp đèn trong điện Phật liền cảm ứng đèn sáng liên tục bảy ngày bảy đêm không tắt, dù không châm dầu, thay tim mà lại rực sáng hơn bình thường, mọi người thầm lấy làm lạ, cho là điềm lành của việc diệt tội. Bình dầu để trong điện Phật bỗng nhiên biến mất, đến đêm hôm sau thì nó trở về chỗ cũ và dầu vẫn đầy. Thường vào những đêm thanh vắng, người ta nghe có tiếng thuyết pháp, giảng dạy và có mùi thơm lạ từ khe cửa bay ra ngoài. Có người nghe mùi thơm đến xem thử, nhưng hoàn toàn không thấy gì hết. Những người có hiểu biết thì cho rằng do thần linh nhóm họp.
Đến niên hiệu Nhân Thọ thứ ba (603), cảm thấy thân không khỏe, sư đóng thất tọa thiền, thấy không có chỗ nào đau đớn cả. Lúc ấy có đứa trẻ mặc áo trắng bưng đèn đứng hầu bên phải sư. Đệ tử Tuệ Tấn vào hỏi:
- Đây là ai?
Sư đáp:
- Đây là vị trời Lục Dục nhiều lần đến thỉnh ta, nhưng vì chư thiên đắm trước dục lạc nên ta không chấp nhận, vì nó làm chướng ngại việc tu học. Ta thường nguyện sinh vào nơi không có Phật pháp để giáo hóa chúng sinh. Ông chớ nên tiết lộ lời nàỵ! Sau khi ta thị tịch thì mới được nói cho mọi người biết.
Lúc sư sắp thị tịch, chúng đệ tử thiết lập trai hội, làm việc phúc thiện, kẻ tăng, người tục đều tập trung ở trước sư rất đông. Lúc ấy, có một cặp bồ câu bay vào phòng, đậu trên giá móc y chăm chú nhìn sư, dù người đưa tay bắt, chúng vẫn không sợ. Sư nói: - Để mặc chúng, đừng bắt, đến tối chúng sẽ bay đi thôi!
Kể đó sư từ biệt đại chúng, rồi an nhiên thị tịch tại chùa Tịnh Trụ, thọ tám mươi lăm tuổi. Lúc ấy nhằm ngày 12 tháng 5, niên hiệu Nhân Thọ thứ ba (603)
31.2.3. Đời Đường, chùa ở núi Tam Học: Chùa nằm ở núi Tam Học, tại Giản châu, Thục Xuyên. Vào niên hiệu Khai Hoàng mười hai (592), đời Tùy, có dấu chân Phật xuất hiện ở bức tường phía đông của chùa, dài một thước tám tấc, rộng bảy tấc, đồng thời trên không trung tự nhiên xuất hiện đèn thần, đêm nào cũng vậy. Đặc biệt vào ngày lục trai thì xuất hiện nhiều.
Quan tri châu hay tin muốn tìm hiểu, nên cưỡi ngựa đến chùa. Khi còn cách chùa mười dặm, ông thấy trên không trung hiện một dãy đèn, nhưng càng tiến lại gần thì đèn mờ dần và biến mất. Khi ông rời khỏi chùa mười dặm thì đèn hiện lại như trước. Việc ấy đến nay vẫn còn.
Lúc đầu xuất hiện một ngọn đèn rất lớn, rồi từ ngọn đèn lớn ấy hiện ra hơn một nghìn ngọn đèn nhỏ khắp hư không. Khi gió lớn thổi đến thì nhũng ngọn đèn nhỏ này lại tắt. Những ngọn đèn nhỏ tắt hêt, thì ngọn đèn lớn kia xuất hiện trở lại. Những ngọn đèn nhỏ phân tán khắp nơi, đến lúc trời sáng mới tắt. Mỗi tháng vào ngày lục trai thường xuất hiện như vậy.
Đến cuối niên hiệu Trinh Quán (627-648), trong chùa có sư Pháp Tạng chuyên đi khất thực, nhưng không giữ gìn oai nghi tế hạnh. Một đêm kia, Pháp Tạng đang ngủ trong chùa, bỗng có một vị thần mặc giáp trụ đến ném sư ra ngoài, cách chùa bảy dặm, nhưng chỉ bị thương ở chân, còn những chỗ khác không bị gì. Sư tỉnh dậy trở vào chùa thì thấy các lớp cửa đều đóng chặt. Từ đó về sau, Pháp Tạng nỗ lực, siêng năng tu tập đạo nghiệp.
Trong bộ Đạo Tuyên luật sư cảm ứng kí ghi: “Luật sư hỏi vị trời:
- Vì sao có ngọn đèn thường chiếu sáng trên hư không tại ngôi chùa ở núi Tam Học, Giản châu, đất Thục?
Đáp:
- Trong núi ấy có chùa Bồ-tát, do bồ-tát Hoan Hỉ Vương lập vào thời kì chính pháp của Đức Phật Ca-diếp. Chùa ấy còn có tên là Pháp Đăng. Từ đó đến nay trên không trung thường chiếu sáng là biểu thị có ba trăm tiểu bồ-tát trường thọ tuyệt thực ở núi này. Còn ngọn đèn ấy chính là do thần núi Lý Đặc cúng dường sau này. Cho nên cứ đến tháng giêng là đốt đèn khắp nơi cúng dường Phật”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục