Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM

16/11/2015

QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...

PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
Phần 1

QUYỂN 39
Quyển này có một chương Già-lam.
36. CHƯƠNG GIÀ-LAM

36.1. LỜI DẪN
Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩn chứa quang minh của Phật, tinh xá vẽ đắp hình tượng của Ngài, đầy khắp ba nghìn thế giới, tồn tại suốt một vạn năm. Bởi làm thuyền bè cho biển khổ, làm cành lá cho cội tin, khiến người thấy liền phát tâm, nhìn thì quên về, tăng phúc sinh thiện, nên gọi là già-lam.
Nhưng thời gian lâu xa, giáo pháp bị suy giảm; tuy có lập chùa tạo tượng nhưng ít có người kính phúc; hoặc chân, hoặc ngụy, theo lòng người mà thay đổi; hoặc tinh, hoặc thô, để phù hợp với các nước. Từ đó có người mắt trông thấy dấu vết, nhưng không biết ý nghĩa; hằng ngày sử dụng mà không biết nguồn gốc. Vì thế, người hành đạo không an tâm, người thế tục không kính pháp. Tâm khinh mạn từ đó mà sinh ra, lòng hủy nhục từ đó mà bộc phát. Muốn lấy đó để bảo vệ chính pháp, chẳng phải khó khăn lắm sao?
Vì thế, trong bài Tự cáo của pháp sư Linh Dụ nêu già-lam có nhiều tên gọi khác nhau: Hoặc gọi là đạo tràng, tức vô sinh đình; hoặc gọi là tự, tức công đình; hoặc gọi là tịnh trụ xá; hoặc gọi là pháp đồng xá; hoặc gọi là xuất thế gian xá; hoặc gọi là tinh xá; hoặc gọi là thanh tịnh vô cực viên; hoặc gọi là kim cang tịnh sát; hoặc gọi là tịch diệt đạo tràng; hoặc gọi là viễn li ác xứ; hoặc gọi là thân cận thiện xứ. Tất cả những tên gọi đó đều tùy ý nghĩa đặt ra, mỗi mỗi đều biểu đạt một công dụng. Nay tăng, tục ở riêng biệt há được gọi là già-lam sao?
36.2. XÂY DỰNG
Theo Tuyên luật sư Kì-hoàn tự cảm thông kí ghi: “Trong kinh luật đều nói rất rõ nền móng của chùa Kì-hoàn có tám mươi khoảnh đất, một trăm hai mươi viện. Ước tính chiều đông tây dài gần mười dặm; chiều nam băc rộng hơn bảy trăm bộ. Chùa Kì-hoàn do thái tử Kì-đà và trưởng giả Tu-đạt cùng nhau xây dựng, tôn tại hai trăm năm thì bị cháy. Lúc đó, ở Trung Quốc nhằm đời Bình vương Cơ Nghi Cữu năm ba mươi mốt (740BC) nhà Chu.
Tuy ban đầu thái tử Kì-đà không chịu bán đất, nhưng sau thấy trưởng giả Tu-đạt trải vàng nên vui vẻ dâng cúng.
Thái tử nói với trưởng già: ‘Tự tôi xây chùa không cần đến ông’. Nhưng Tu-đạt không đồng ý, vì thế hai người cùng nhau xây chùa.
Thái tử lập nguyện:; ‘Nếu sau này nơi đây bị bỏ phế thì nguyện cho cây vẫn sống’. Đến khi chùa Kì- hoàn bị thiêu cháy hết, như lời nguyện của thái tử cây vẫn sống.
Vì sao chùa bị thiêu cháy hết? Bởi vì trong lúc trưởng giả Tu-đạt còn là một kẻ phàm tục, ông buôn bán thịt kiếm được nhiều tiền. Từ nghèo muốn trở thành giàu, nên ông thường cầu cho đất nước mất mùa. Tuy nay nhà ông rất giàu, nhưng tài sản kiếm được từ tâm xấu, vì thế dùng tiền này xây chùa, cuối cùng chùa cũng bị lửa thiêu rụi. Còn lời nguyện của thái tử xuất phát từ tâm trong sạch, nên cây vẫn sống. Nghiệp hạnh có sai khác, được biểu hiện từ tâm nhiễm và tịnh.
Năm trăm năm sau, có vua Chiên-dục-ca lại xây chùa ngay trên nền đất đó, nhưng không bằng môt phần mười chùa xưa. Trải qua một trăm năm thì chùa bị giặc đốt cháy. Mười ba năm sau lại có vua Lục-sư-ca xây lại chùa y như trước, phòng ốc tráng lệ, trang hoàng bằng bảy báu. Một trăm năm sau, lại có vua bạo ác ra đời phá hoại chùa và giết hết người trong đạo tràng. Tứ thiên vương và vua rồng Sa-kiệt-la nổi giận dùng tảng đá lớn đè chết vua bạo ác kia. Trài qua chín mươi năm, vùng ấy hoang vắng không có người và vật. Bấy giờ, vua trời Đao-lợi sai người con thứ hai xuống làm vua và xây lại chùa, trang hoàng đẹp đẽ hơn cả lúc Phật còn tại thế. Sau khi Phật nhập niết-bàn một trăm năm mươi năm, thiên ma đốt cháy. Lúc ấy, ở Trung Quốc nhằm vào cuối nhà Hán, đời Hiến đế năm thứ hai mươi chín (218). Đó là nêu các việc ngày xưa để minh chứng, hầu hiển rõ mục đích tôn chỉ.
Vào các đời Hòa đế (79-105), An đế (107-125), Hoàn đế (132-167), Linh đế (156-189) đời Đông Hán (22-250), nhiều tu sĩ nối gót nhau qua lại Ấn Độ, chắc chắn họ đã thấy biết việc thiên vương tu sửa chùa tháp, nhân duyên vườn cây Kì-đà tươi tốt. về sau, tuy cũng có người xây dựng, cũng xây lại trên nền móng cũ, nhưng đến nay tinh xá Kì-hoàn chỉ là một nơi hoang phế mà thôi”.
Theo bộ Kì-hoàn đồ, một trăm quyển, do con của Nam Thiên vương soạn và bộ Ngũ đại tinh xá đồ, hai trăm quyển, do con của Bắc Thiên vương soạn, đều ở tại cõi trời ấy, không thể thuật đầy đủ.
về việc xây chùa, khồng có một qui cách nhất định, tất cả nên tùy thuộc vào tài vật của thí chủ cúng nhiều hay ít. Mặc dù nói lượng sức mà làm nhưng trong lúc xây dựng phải vận hết tâm thành, thì chùa tuy nhỏ, nhưng cũng được phúc rất lớn.
Cho nên kinh Vô thượng y ghi: “Dù xây tháp cho những vị chứng bốn quả thánh đầy khắp bốn thiên hạ và suốt đời cúng dường, cũng không bằng có người sau khi Phật nhập niết-bàn thâu lấy xá-lợi, xây tháp cúng dường. Công đức của người xây tháp cúng dường xá-lợi Phật nhiều hơn người xây tháp cúng dường người chứng bốn quả thánh gấp trăm nghìn vạn ức phần, không thể ví dụ được. Vì phúc có hơn kém, vì tâm có mạnh yếu. Nếu người thật lòng, thì dù xây chùa nhỏ vẫn được nhiều phúc, huống gì xây chùa lớn? Nếu người có lòng dối trá thì dù xây chùa lớn vẫn được ít phúc, huống gì xây chùa nhỏ? Vì thế nếu người nào muôn xây dựng chùa, phải hết sức cẩn thận, không được xem thường”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Có vị trời nói với trưởng giả Tu-đạt:
- Ông đến gặp Phật, sẽ được vô lượng lợi ích. Dù ông được một trăm xe trân bảo cũng không bằng bước một bước hướng đến Thế Tôn. Dù ông được trân bảo đầy một Tứ thiên hạ cũng không bằng bước một bước hướng đến Thế Tôn. Ông chỉ bước một bước hướng đến Thế Tôn được lợi ích nhiều hơn kia gấp trăm nghìn vạn ức lần. Trưởng giả Tu-đạt nghe vị trời kia nói vậy, lòng rất vui mừng, liền đến đỉnh lễ Phật. Đức Phật nói pháp cho ông nghe, ông chứng quả Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả Tu-đạt hỏi tôn giả Xá-lợi-phặt:
- Một ngày Thế Tôn đi được bao nhiêu dặm?
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
- Một ngày Thế Tôn đi được nửa do-tuần. Giống như cách đi của Chuyển luân vương, Thế Tôn cũng như thế.
Bấy giờ, dọc bên đường, cứ cách hai mươi dặm, trưởng giả Tu-đạt cho xây một ngôi nhà nghỉ. Đồng thời ông hỏi thái tử Kì-đà mua khu vườn để xây tinh xá. Thái tử nói:
- Nếu ông có thể trải vàng kín khu vườn, thì tôi sẽ bán cho ông.
Trưởng giả Tu-đật đáp:
- Được! Xin chấp nhận giá ấy.
Thái tử Kì-đà nói:
- Tôi chỉ nói đùa thôi.
Trưởng giả Tu-đạt nói:
- Thái tử chớ nói đùa!
Hai người dẫn nhau đến công đường. Bấy giờ, trời Thủ-đà-hội hóa làm người phân xử. Vị trời phán: ‘Là thái tử thì không nên nói đùa, đã đưa giá rồi thì không nên rút lại’.
Thải từ đành giao đất cho Tu-đạt. Tu-đạt sai người dùng voi chở vàng đến trải lên tám mươi khoảnh đất, trong chốc lát đã gần kín, chỉ còn trống một khoảng nhỏ thì hết vàng: Lúc ấy, Tu-đạt suy nghĩ: ‘Nên lấy kho vàng nào vừa đủ để trải hết chỗ đất còn lại đó!’.
Thái tử thấy ông chần chừ, liền nói:
- Nếu ông chê đắt thì trả đất lại!
Trưởng giả nói:
- Không! Tôi đang suy nghĩ nên lấy vàng ở kho nào để vừa đủ trải khoảnh đất còn trống kia.
Thái tử suy nghĩ; ‘Phật nhất định là bậc có đức lớn, nên mới khiến người này xem thường tài bảo đến như thế’. Thế là, thái tử nói: ‘Thôi đủ rồi, đừng chở vàng đến nữa! Đất trong vườn thuộc về ông, còn cây là của tôi. Tôi dâng cúng Phật để cùng nhau lập tinh xá’. Tu-đạt nghe thái tử nóỉ, lòng vô cùng vui mừng và nhận lời. Trưởng giả Tu-đạt trở về nhà chuẩn bị cho việc xây dựng tinh xá.
Lục sư ngoại đạo nghe được tin đó đến tâu vua:
- Tâu đại vương! Trưởng giả Tu-đạt đã mua khu vườn của thái tử để xây tinh xá cho sa-môn Cù-đàm. Mong đại vương chấp thuận cho đệ tử của chúng tôi cùng với đệ tử của sa-môn Cù-đàm so phép thuật. Nếu họ thắng thì cho phép họ xây dựng tinh xá, nếu họ thua thì không được xây dựng. Nay chúng đệ tử của Cù-đàm đang ở thành Vương Xá, chúng đệ tử của tôi cũng đang ở đó.
Phần 2

Vua báo cho trưởng giả Tu-đạt biết ý định của lục sư ngoại đạo. Tu-đạt nghe vậy, trong lòng lo lắng, không vui. Tôn giả Xá-lợi-phất lấy làm lạ mới hỏi nguyên do. Trưởng giả Tu-đạt kể hết cho tôn giả Xá-lợi-phất nghe. Tôn giả Xá-lợi-phất nói: ‘Giả sử lục sư ngoại đạo đầy cả cõi Diêm-phù-đề, nhiều như rừng trúc cũng không thể động được một cọng lông chân của tôi. Họ muốn so pháp thuật gì thì cứ theo ý họ. Trưởng giả Tu-đạt vô cùng vui mừng đến báo với vua và hẹn bảy ngày sau sẽ gặp nhau tại bãi đất trống ngoài thành.
Bấy giờ, tôn giả Xá-lợi-phất cùng với Lao-độ-sai hiện các thứ thần biến, ngoại đạo không bằng tôn giả Xá-lợi-phất. Tôn giả Xá-lợi-phất thấy ngoại đạo đã chịu khuất, ngài nói pháp cho chúng nghe. Tùy theo bản hạnh và nhân duyên phúc đức đời trước của chúng mà mỗi người đều chứng được đạo quả. Ba ức chúng đệ tử của lục sư ngoại đạo theo tôn giả Xá-lợi-phất xuất gia, học đạo. Khi cuộc so pháp thuật kết thúc, mọi người trở về trú xứ của mình.
Trưởng già Tu-đạt và tôn giả Xá-lợi-phất đến khu vườn để đo đạc tinh xá. Trưởng giả Tu-đạt cầm một đầu dây, tôn giả Xá-lợi-phất cầm một đầu dây cùng nhau đo tinh xá. Bỗng nhiên tôn giả Xá-lợi-phất vui vẻ mỉm cười. Trưởng giả Tu-đạt hỏi:
- Vì sao tôn giả cười?
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
- Ông vừa đo ở đây xong thì cung điện đã xây xong ở cõi trời Lục Dục.
Trưởng giả Tu-đạt dùng đạo nhãn nhìn thấy rõ cung điện của trời Lục Dục nghiêm tịnh lạ thường.
Trưởng giả Tu-đạt hỏi:
- Ở cõi trời Lục Dục, nơi nào vui nhất?
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
- Ba cõi dưới còn dục nhiễm, hai cõi trên nhiều kiêu mạn và buông lung. Chỉ tầng trời thứ tư là thiểu dục tri túc, thường có hàng bồ-tát Nhất sinh bổ xứ sinh về, giảng pháp không dứt.
Trưởng giả Tu-đạt nói: ‘Tôi phải sinh vào trong cõi trời thứ tư’. Trưởng giả Tu-đạt vừa nói dứt lời thì những cung điện khác đều biến mất, chỉ có cung điện của trời thứ tư vẫn còn. Cả hai lại dời dây đo chỗ khác.
Bỗng tôn giả Xá-lợi-phất tỏ vẻ buồn rầu, lo lắng. Thấy vậy, trưởng giả Tu-đạt hỏi:
- Vì sao tôn giả có vẻ buồn rầu, lo lắng?
Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi:
- Ông có nhìn thấy kiến trong khu đất này không?
Trưởng giả Tu-đạt đáp:
Con đã nhìn thấy.
Tôn giả Xá-lợi-phất nói với trưởng giả Tu-đạt:
- Vào thời quá khứ, lúc Đức Phật Tì-bà-thi xuất hiện ở đời, ông cũng đã xây dựng tinh xá trên khu đất này để cúng dường Đức Phật; lúc đó những con kiến này cũng sinh sống ở đây. Từ bảy Đức Phật đến nay ông đều xây tinh xá ở đây để cúng dường các Đức Phật ấy và những con kiến này cũng sinh sống ở đây. Đến nay đã trải qua chín mơi mốt kiếp mà chúng vẫn mang thân kiến không được giải thoát. Sinh tử dài lâu chỉ có phúc là quan trọng, cần phải gieo trồng phúc đức.
Nghe tôn giả Xá-lợi-phất nói, trưởng giả Tu-đạt khởi lòng xót thương cho đàn kiến.
Sau khi đo đạc qua các khu đất, trưởng giả Tu-đạt cho khởi công xây dựng tinh xá. Ông xây riêng cho Phật một ngôi thất, dùng bột thơm chiên-đàn làm vữa hồ thơm để xây. Có một nghìn hai trăm phòng riêng biệt và có khoảng một trăm hai mươi chỗ đánh kiền-chùy riêng biệt. Khi tinh xá xây dựng hoàn tất, trưởng giả Tu-đạt muốn đến thỉnh Phật, nên ông đến tâu cho vua biết trước. Vua nghe vậy liền sai sứ đến thỉnh Phật.
Phật và tất cả bốn chúng trước sau vây quanh phóng ánh sáng lớn, chấn động trời đất, soi sáng khắp tam thiên. Trong thành, âm nhạc không trỗi mà tự vang, những người bị mù, điếc và các bệnh khác đều lành; nam nữ, già trẻ đều thấy điềm lành này vô cùng vui sướng, cùng nhau đi đến chỗ Phật. Tất cả có mười tám ức người đến hội họp. Bấy giờ, đức Thế Tôn tùy bệnh cho thuốc, nói pháp vi diệu, giúp mọi người chứng đạo quả.
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Đất của khu vườn này là do trưởng giả Tu-đạt mua, còn cây trái, hoa quả trong vườn là của thái tử Kì-đà. Hai người đồng lòng cùng nhau xây dựng tinh xá, nên gọi tinh xá này là Thái Tử Kì-đà Thụ Cấp-cô-độc Thực Viên. Tên gọi này phải được lưu truyền khắp nơi để người đời sau biết.
Bấy giờ, tôn giả A-nan và bốn bộ chúng nghe Đức Phật nói như vậy đều kính lễ phụng hành”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Tu-đạt cho chở vàng đến trải, nên trong vòng một ngày, ông trải gần hết khu vườn, chỉ còn khoảng năm trăm bộ thì hết vàng. Kì-đà nói với Tu-đạt: ‘Phần còn lại không cần trải nữa. Xin cho tôi cùng góp sức, tôi tự nguyện vì Phật xây dựng cổng tinh xá để Như Lai bước qua đây ra vào’. Thế là thái tử Kì-đà xây dựng cổng lớn có lầu gác. Trưởng giả Tu-đạt trong vòng bảy ngày cũng đã xây xong phòng lớn đủ cho ba trăm người ở; sáu mươi ba khu nhà thiền, tịnh xứ; nhà trú đông, nhà trú hạ mỗi mỗi đều riêng biệt; nhà bếp, phòng tắm, nơi rửa chân, nhà vệ sinh đều đầy đủ.
Hỏi: Vì sao Như Lai chỉ an trú tại khu vườn ấy?
Đáp: Theo truyện của ngài Chân Đế ghi:
Lúc Đức Phật Câu-lưu-tôn xuất hiện ở đời, khi ấy con người thọ bốn vạn tuổi. Bấy giờ, khu đất này rộng một do-tuần, trưởng giả Tì-sa dùng vàng trải kín và dâng cúng cho Như Lai để xây dựng nơi cư trú.
Vào thời Đức Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, con người thọ ba vạn tuổi. Bấy giờ khu vườn này rộng ba mươi dặm, trưởng giả Đại Gia Chủ dùng vải bằng bạc v.v... trải kín, dẫn bò mẹ và nghé vào khắp khu đất, rồi dâng cúng cho Như Lai xây dựng nơi cư trú.
Vào thời Đức Phật Ca-diếp-ba, con người thọ hai vạn tuổi. Bấy giờ khu vườn này rộng hai mươi dặm, trưởng giả Đại Phan Tướng đã dùng bảy báu trải kín khu đất ấy rồi dâng cúng cho Như Lai để xây dựng nơi cư trú.
Nay có Đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuất hiện ở đời, con người thọ một trăm tuổi. Khu vườn này chỉ rộng mười dặm, trưởng giả Tu-đạt-đa dùng vàng lá dày năm thốn2 trải kín để mua khu vườn này dâng cúng Như Lai xây dựng nơi cư trú.
Tương lai, Đức Phật Di-lặc xuất hiện ở đời, con người thọ tám vạn tuổi. Khi ấy, trưởng giả Tu-đạt làm đại thần của nước Nhưỡng-khư, tên là Tu-đạt-đa. Khu vườn này trở lại rộng một do-tuần, Tu-đạt-đa dùng bảy báu trải kín đất rồi dâng cúng cho Như Lai để xây dựng nơi cư trú. Ở quá khứ hay tương lai, tuy khu đất này tùy lúc rộng hẹp khác nhau, nhưng cũng chỉ một nơi. Người cúng dường đất dù có trước sau, nhưng về thể cũng chỉ một người. Người ấy luôn là trưởng giả giàu có và cúng dường các Đức Phật không ngừng nghỉ. Đến khi gặp Đức Phật Thích-ca mới chứng quả Tu-đà-hoàn, trước lúc qua đời chứng quả A-na-hàm, đến khi Đức Phật Di-lặc xuất hiện ở đời mới chứng quả A-la-hán”.
Cho nên, kinh Tạp A-hàm ghi: “Lúc trưởng giả Cấp-cô-độc bị bệnh, Đức Phật đến thăm và ghi nhận ông ta chứng quả A-na-hàm. Sau khi qua đời, trưởng giả sinh lên trời Đâu-suất, thường xuống nhân gian lễ Phật nghe pháp rồi quay về trời”.
Kinh Đại tập ghi: “Đức Phật bảo Phạm Thiên vương v.v,..:
- Những đệ tử Thanh văn của Ta trong hiện tại và vị lai sẽ được ba nghiệp tương ưng và ba loại bồ-đề tương ưng; bậc hữu học, vô học giữ giới trọn vẹn, đa văn, thiện hạnh, độ chúng sinh vượt qua biển Tam hữu. Những thí chủ xây tháp cho đệ tử thanh văn của Ta và cúng dường tất cả những thứ cần dùng. Nay Ta giao phó những người ấy và quyến thuộc của họ cho các ông, đừng để họ bị ác vương, phi pháp não loạn.
Bấy giờ, Phạm, Thích, thiên vương, long vương, dạ-xoa v.v... chắp tay hướng về phía Phật đồng bạch:
- Bạch đại đức Thế Tôn! Đã có chùa tháp của tất cả các đức Như Lai, các a-lan-nhã thì trong đời vị lai nếu có người tại gia, xuất gia xây dựng tháp cho Thế Tôn và cho chúng đệ tử thanh văn, chúng con sẽ cùng nhau bảo vệ giữ gìn, làm cho họ thoát khỏi tất cả hoạn nạn, sợ hãi. Nếu có những thí chủ cung cấp thức ăn, nước uống, y phục, ngọa cụ, thuốc thang, tất cả những thứ cần dùng khác, chúng con nguyện cũng sẽ bảo vệ, dưỡng dục những người ấy”.

Phần 3

Kinh Thất Phật ghi: “Có mười tám vị thần thường bảo vệ, giữ gìn tăng-già-lam: Mỹ Âm, Phạm Âm, Thiên cổ, Thán Diệu, Thán Mỹ, Ma Diệu, Lôi Âm, Sư Tử, Diệu Thán, Phạm Hưởng, Nhân Âm, Phật Nô, Thán Đức, Quảng Mục, Diệu Nhãn, Triệt Thính, Triệt Thị, Biến Thị.
Chùa tháp đã có thần bảo vệ, giữ gìn thì người ở đó cũng phải siêng năng, tu tập không được lười biếng, vì sợ sẽ chuốc lấy quả báo hiện tại”.
36.3. KÍNH LỄ
* Lời bàn
Theo phong tục Tây Vực, hễ nam hay nữ vừa đến cổng chùa, vì vui đã gặp được chùa, nên trước hết sửa y phục ngay ngắn, lễ chung một lạy. Sau khi vào bên trong cổng, lại lễ một lạy, rồi khoan thai bước thẳng, không được ngoảnh nhìn hai bên.
Kinh Niết-bàn ghi: “Khi đến tăng phường, cần phải thực hành bảy việc: khởi lòng tin, lễ lạy, nghe pháp, chí tâm, suy nghĩ ý nghĩa pháp được nghe, thực hành đúng như lời dạy, hồi hướng Đại thừa giúp nhiều người được lợi ích an lạc. Giữ bảy việc thiện này thì được công đức cao hơn cả, không thể thí dụ được’’.
Kinh Úc-già trưởng giả ghi: “Đức Phật bảo:
- Này trưởng giả! Bồ-tát tại gia khi vào chùa hoặc tinh xá, nên đứng ngoài cửa nhất tâm lễ lạy. Sau đó, bước vào chùa, suy nghĩ: ‘Bao giờ ta mới được vào chùa, nơi xa lìa trần cấu như thế”’.
Luận Thập trụ tì-bà-sa ghi: “Nếu bồ-tát tại gia vào chùa, trước khi vào nên ở ngoài cổng lạy sát đất và suy nghĩ: ‘Đây là nơi ở của bậc thiện nhân, của người tu hạnh từ, bi, hỉ, xả, cho nên cần phải lễ’. Nếu thấy các tăng sĩ có đầy đủ oai nghi thì cung kính lễ lạy, gần gũi, thăm hỏi”.
Kinh Tự ái ghi: “Bấy giờ, có một vị vua đến chỗ Đức Phật. Từ xa nhìn thấy tinh xá, nhà vua liền xuống xe, bỏ lọng, tháo gươm, cởi giày, chắp tay đi thẳng đến”.
Luật Tăng-kì ghi: “Khi đi thì nhìn thẳng, lúc quay lại thì quay cả người. Khi bước đi, gót chân chạm đất trước, các ngón chân chạm đất sau”.
Luận Trỉ độ ghi: “Ra vào lui tới nhất tâm an ổn, khi đi phải nhìn xuống đất, vì tránh loạn tâm và bảo vệ chúng sinh. Đó là oai nghi của bồ-tát bất thoái”.
Tây quốc tự đồ ghi: “Đến chỗ của Phật, lễ ba lạy xong, nhiễu ba vòng, tán tụng ba biến. Sau khi lễ Phật xong, mới đến tăng phòng. Ở ngoài phòng lễ một lạy, rồi vào yết kiến vị thượng tọa, tuần tự đến vị hạ tọa, phải lễ mỗi vị ba lạy; nếu tăng đông thì lễ một lạy. Nếu thấy việc không đúng pháp trong tăng cũng không nên chê trách. Nếu không sẽ đánh mất lợi ích, đó không phải là việc nên làm khi vào chùa”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Nên bỏ dao, gậy và các vật linh tinh rồi mới vào chùa. Bỏ dao gậy tức là bỏ lòng giận hờn Tam bảo; bỏ vật linh tinh tức là bỏ tâm cầu xin Tam bảo. Hãy bỏ hai lỗi ấy, rồi mới vào chùa. Nhiễu Phật theo chiều thuận, không được đi theo chiều nghịch. Giả sử gặp vật chướng ngại buộc phải đi theo bên trái, thì phải luôn luôn nghĩ tưởng Phật ở bên phải. Lúc vào hoặc ra khỏi chùa đều quay mặt về phía Phật. Người lễ lạy Tam bảo phải luôn nhớ thể cùa Tam bảo chỉ là một. Vì sao? Vì giác ngộ trọn vẹn được gọi là Phật, đạo được giác ngộ gọi là pháp, người tu học Phật đạo gọi là tăng. Cho nên, phải biết tất cả phàm thánh chỉ đồng một thể, không hai. Khi vào chùa, nên cúi đầu nhìn xuống đất, không được nhìn lên cao; thấy côn trùng trên đất thì đừng làm tổn thương chúng. Phải ca ngợi Tam bảo, không được khạc nhổ trong khuôn viên chùa, nếu thấy có rác dơ bẩn thì phải dọn sạch”.
Luật Tứ phần ghi: “Vào chùa, trước hết phải lễ tháp Phật, kế đó lễ tháp thanh văn, sau đó lễ vị thượng tọa lớn nhất, cho đến vị thượng tọa thứ tư”.
Luật Ngũ phần ghi: “Nếu vào chùa có nhiều tăng thì chỉ lễ riêng sư trưởng, còn những người khác thì lễ chung, rồi rời chùa”.
Luật Tứ phần lại ghi: “Phải lễ tháp Như Lai và tháp của năm chúng xuất gia”.
Ngũ bách vấn sự ghi: “Đệ tử phải lễ tháp của thầy để báo ân”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Khi ở trong tháp, không được lễ người khác”.
Luật Thập tụng ghi: “Khi đứng trước tháp Phật và tháp thanh văn, không được lễ lẫn nhau”.
Ngũ bách vấn sự cũng ghi: “Ở trước tháp Phật mà lễ người khác thì phạm tội”.
Kinh Tam thiên oai nghi ghi: “Không được ngồi trên cao mà lễ”.
(Thời nay, thường ở một số chùa và các nhà cư sĩ, có người xuất gia và tại gia ngồi trên giường lễ Phật, đó là quá kiêu mạn. Vỉ dụ muốn lạy nhà vua, đâu được ở trên giường mà lạy! Đối với vua nhân gian còn không được phẻp như thế, huống gì đối với Pháp vương mà được làm theo cách ấy sao?)
Luận Tì-ni mẫu ghi: “Không được mang giày dép và vớ vào tháp”.
Ngũ bách vấn sự ghi: “Nếu là giày dép và vớ sạch mới thì được mang khi lễ lạy”.
Luật Tăng-kì ghi: “Nếu đã nhận sự lễ lạy của người, không được im lặng như con dê câm, mà phải hỏi thăm Thí chủ khỏe và an vui không, đi đường có mệt nhọc không?’’
* Lời bàn
Nếu cư sĩ gặp nạn, phải đến chùa xin nghỉ qua đêm thì không được nằm trên giường chiếu của chư tăng. Nếu không có đồ nằm riêng của mình thì nên mượn đồ nằm đúng phép tắc, nhưng cũng không được chung giường với tăng.
Kinh Bảo lương ghi: “Nằm chung giường với tăng thì nửa người sẽ bị khô, sau khi chết đọa địa ngục, chịu khổ cùng cực”.
Khi tăng chưa ngủ, không được ngủ trước, không được đùa giỡn, cười nói những lời không đúng pháp, mất oai nghi, động tâm mọi người. Nếu ban đêm có đại tiểu tiện, hỉ mũi, khạc nhổ, vì cầu pháp mà không ra ngoài được thì không phạm. Khi ngủ, phải nằm nghiêng về bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, tâm nghĩ đến trời sáng, ghi nhớ phải dậy sớm. Đó là biểu hiện nhân xuất gia”.
Do đó, kinh ghi: “Nằm ngửa là cách nằm của a-tu-la; nằm sấp là cách nằm của ngạ quỉ; nằm nghiêng bên trái là cách nằm của người tham dục; nằm nghiêng bên phải là tư thế nằm của người xuất gia”.
Phải thức dậy trước chư tăng, rửa mặt, sửa y phục ngay ngắn, đến trước phòng của tăng.
Kinh Sa-di oai nghi ghi: “Nếu muốn vào phòng của thầy, phải búng tay ba lần”.
Kinh Tam thiên uy nghi cũng ghi: “Nếu vào phòng của thầy, phải giữ đủ năm phép tắc: một, búng tay ở ngoài phòng thầy; hai, phải bỏ mũ; ba, phải lễ lạy; bốn, đứng thẳng, thầy cho ngồi mới được ngồi; năm, không quên trì kinh”,
Luật Tăng-kì ghi: “Đệ tử phải thức dậy sớm đến phòng thầy, bước chân phải vào trước, lạy sát chân thầy”.
Luận Thiện kiến ghi: “Đệ tử tham vấn thầy nên tránh sáu vị trí:
1. Không được đứng ngay trước mặt thầy
2. Không được ở sau lưng thầy
3. Không được ở quá xa thầy
4. Không được đến quá gần thầy
5. Không được đứng ở chỗ cao hỏi thầy
6. Không được đứng trên gió.
Nên đứng một bên không quá gần hoặc quá xa, thầy nói nhỏ có thể nghe được, để không làm tổn sức của thầy. Khi thầy muốn đi, trong mọi hành động cử chỉ đều không được rời xa thầy.
Luận Thiện kiến ghi: “Đệ tử đi theo thày, không được đi cách thầy bảy thước”.
Kinh Sa-di oai nghi ghi: “Đệ tử đi theo thầy không được đạp chân lên bóng thầy”.
* Lời bàn
Nếu phụ nữ vào chùa, cũng giữ phép tắc như trên, nhưng không được ngồi phía trước nam giới, không được trò chuyện, cười cợt, trang điểm son phân, vẽ lông mày, đùa giỡn trái phép tắc, kích động lẫn nhau, lại không được chạm tay vào người khác. Cần phải nhiếp tâm giữ nét mặt nghiêm trang, vâng theo lời người trong chùa dạy bảo, theo thứ tự cầm hương nhất tâm cúng dường, sám hối tự trách rằng: “Mình bị sinh làm người nữ, luôn có chướng ngại, không đủ nhân duyên tu tập diệu pháp, không được tự chủ, phải làm theo ý người khác, thật khổ thay!”. Phải thật lòng đau xót. Nếu thấy sa-di, phải lễ như lễ tì-kheo, đừng cho là người nhỏ mà không cung kính, vì vị này tuy nhỏ hơn tì-kheo, nhưng tôn quí hơn người thế tục. Phải hết sức thực hành những phép tắc như thế.
Có nhiều phép tắc cho người nữ được ghi chép đầy đủ trong thiên Sĩ nữ.
* Lời bàn

Phần 4

Nếu nam nữ cư sĩ đã thực hiện xong các hạnh tu, muốn rời khỏi chùa, trước tiên phải lễ tháp Phật ba lạy, nhiễu ba vòng, chắp tay tán tụng xong, mới ra về. Ra khỏi cổng chùa, lại lễ một lạy nữa. Khi trông thấy tăng, nếu ít người thì lễ mỗi vị ba lạy, nếu nhiều vị thì lễ từ biệt chung ba lạy.
Luận Thiện kiến ghi: “Khi lễ Phật, phải nhiễu ba vòng, lễ ba lạy, lễ bốn phương, chắp hai tay đặt trên đỉnh đầu, rồi lui ra. Khi không còn trông thấy tướng Như Lai nữa, lại lễ, rồi quay về phía trước mà đi”.
Đến chùa là tạo duyên xuất thế, xây chùa là gieo nhân Tịnh độ, cúng dường chư tăng là tập phép tắc xuất ly. Thân thế gian ô trọc, vào chốn già-lam thanh tịnh, tất cả những hành vi e rằng trái phép tắc, nên trở vê nhà xả bỏ chút ít của cải cúng dường Tam bảo để tự chuộc lỗi. Như vậy mới tỏ rõ người xuất gia, có pháp thí, kẻ tục gia có tài thí. Hễ hành động đúng phép tắc thì người trong chùa và ngoài đời đều được lợi ích.
Có bài tụng:
Đạo mầu vang đất Ấn
Kinh Phật truyền phương đông
Đồng rộng mở hộp báu
Đất phúc căng dây vàng.
Cửa son cao sáng rực
Đẩu củng lớp lớp chồng
Mặt trời không khó cậy
Thần mây vốn dễ nhờ
Lầu nam nghi tắt lửa
Hiên bắc giống mở dòng
Bảng đề sao băng tắt
Đầu cửa sương đêm ngưng
Tinh môn ảnh dương hiện
Thế đạo mây đêm lan
Kì-hoàn nhiều linh vật
Vườn Trúc lắm điềm lành
Rỗng không bút khó tả
Thân hèn trộm khoe khoang
Tạm nương chốn ưu du
Khó nhờ ân huệ lớn.
36.4. CẢM ỨNG
36.4.1. Chùa Kiến Nguyên: Chùa ở làng Thái Thanh, Kiến Khang. Đến đời nhà Tống, niên hiệu Nguyên Huy thứ hai (474), Trần Thái phi xây dựng tháp thờ xá-lợi. Từ đó xá-lợi liên tục hiện những điềm linh dị và mỗi đêm thường phóng ánh sáng. Phía sau đại điện của chùa có vẽ hai tượng Ca-tì-la vương và Tì-sa-môn thiên vương. Nếu có vị tăng nào mất oai nghi hay các trẻ nhỏ đùa giỡn thì hai bức tượng đều hiện ra những điều thần dị làm cho họ phải cung kính, nghiêm trang. Nếu như người nào thành kính lễ sám, tâm ý thiết tha thì ở trên hư không có tiếng khảy móng tay, hoặc thấy hai vị ấy đi quanh bảo vệ. Lúc ấy nếu người nào cầu phúc, ước nguyện thì tất cả đều được như ý muốn.
36.4.2. Chùa Linh Vị: Chùa ở làng Tương Lâm Chung Sơn, Kiến Khang, do sa-môn Pháp Ý trùng kiến vào niên hiệu Vĩnh Sơ thứ ba (422) đời Tống. Cuối đời Tấn (265-420), có một sa-môn ẩn dật, không ai biết rõ danh tính và hành trạng. Sư thường sống bên dòng suối ở Chung sơn. Một đêm nọ, bỗng sư nghe có tiêng đá lở, chấn động cả núi rừng. Sáng ngày sư đến xem thì chỉ thấy một dòng suối trong xanh, mặt nước phẳng lặng. Nhân đó, sư nhóm họp đồ chúng cùng nhau xây chùa và đặt tên là chùa Linh Vị.
36.4.3. Chùa Bình Đẳng: Chùa do Quảng Bình Vũ Mục vương lập. Ngoài cổng chùa có một pho tượng bằng vàng cao hai trượng, tám thước, tướng hảo đoan nghiêm, thường hiện những điều thần dị. Nếu vận nước sắp có việc lành dữ thì tượng hiện những điềm tương ứng báo trước.
Tháng mười hai, niên hiệu Hiếu Xương thứ ba (527), đời Nguyên Ngụy, mặt tượng lộ vẻ buồn bã, rơi lệ, khắp tượng đều ẩm ướt. Người thời bấy giờ cho là Phật đổ mồ hôi. Mọi người ở kinh đô cùng nhau kéo đến xem. Lúc ấy, có một tì-kheo dùng bông sạch lau nước mắt tượng, trong chốc lát nước mắt thấm ướt hết bông. Tì-kheo kia lại dùng miếng bông khác lau tiếp, chẳng mấy chốc miếng bông cũng thấm ướt. Nước mắt cứ rơi mãi suốt ba ngày mới thôi. Đến tháng tư năm sau, Nhĩ Chu Vinh vào Lạc Dương giết hại quan dân, xác chết nằm la liệt trên đất.
Đến tháng ba niên hiệu Vĩnh An thứ hai (529), đời Nguyên Ngụy, tượng ấy lại đổ mô hôi. Quan dân trong kinh thành lại kéo nhau đến xem. Đến tháng năm, Bắc Hải vào Lạc Dương, Trang đế đưa quân lên phương bắc. Đến tháng bảy thì Bắc Hải bị thua trận, hơn năm nghìn con em Giang Hoài đều bị bắt.
Đến tháng bảy, niên hiệu Vĩnh An thứ ba (530), tượng ấy buồn cảm rơi lệ và ra mồ hôi như trước. Mỗi lần xuất hiện điềm linh dị cả nước đều lo sợ, vì thế vua cấm không cho người đến xem.
Đến tháng mười hai, Nhĩ Chu Triệu tiến vào Lạc Dương bắt giam Trang đế. Sau đó, Trang đế thăng hà ở Tấn Dương. Trang đế mất, cung điện bỏ hoang nhiều ngày không chủ. Đến khi quan Thượng thư lệnh Ti châu mục Lạc Bình Vương Nhĩ Chu Thế trấn giữ kinh đô thì việc sinh hoạt buôn bán mới thuận tiện và ổn định, không còn bị giặc cướp hoành hành.
36.4.4. Chùa Bạch Tháp: Chùa ở làng Tam Tỉnh, Mạt Lăng. Khoảng niên hiệu Thăng Bình (357-362) đời Đông Tấn, có chim phượng hoàng đến tụ tập trên vùng đất này. Nhân đó gọi chỗ ấy là đài Phượng Hoàng. Đến niên hiệu Thăng Minh thứ hai (478) đời Tống, Tề Thái tổ bắt đầu cho khởi công xây dựng chùa này, mọi người đều cho rằng núi cao khó tìm được nguồn nước. Bấỵ giờ tì-kheo Pháp Hòa phát nguyện: “Nếu vùng đât này có thể ở được thì suối nước tự nhiên xuất hiện”. Phát nguyện rồi cho người đào một cái giếng ở trước trai đường, đào chưa được vài nhận thì xuất hiện một dòng nước trong xanh, có vị ngọt và trong lành, chảy mãi không cạn.
36.4.5. Chùa Bạch Mã: Chùa ở làng Hoàng Trung, Kiến Khang, do Trung tông Nguyên Hoàng đế xây dựng vào niên hiệu Thái Hưng thứ hai (319) đời Đông Tấn.

Ngày xưa, có vị vua ở nước ngoài muốn diệt Phật pháp, nên ra lệnh quân lính đi khắp nơi đập phá chùa tháp. Khi quân lính đến chùa Chiêu-đề, bỗng thấy một con ngựa trắng từ phương tây chạy đến, đi quanh tháp hí vang. Tiểng hí rất buồn thảm, có lúc ngựa vọt lên hư không, rồi hạ xuống đất, hí vang một ngày một đêm không dứt. Quân lính tâu vua, vua nghẹn ngào rơi lệ, thầm trách và ban lệnh dừng việc phá hoại chùa tháp, đồng thời cho tu sửa những chùa tháp đã đập phá. Nhờ sự xuất hiện của con ngựa trắng mà đại pháp được hưng thịnh trở lại. Nhân đó đổi tên chùa Chiêu-đề thành chùa Bạch Mã.
Tên của ngôi chùa này cũng lấy theo tên ngôi chùa vừa kể trên.
36.4.6. Thánh tự trên núi Thiên Thai: Ngày xưa sa-môn Bạch Đạo Du, còn gọi là Trúc Đạo Du, trèo đèo vượt suối đến tất cả những nơi kì dị, rồi đến cây cầu đá ở Thiên Thai, cầu đá ấy từ xưa đến nay không có người đi qua. Sư dõng dạc nói:
- Những ai kia thật không kiên tâm bền chí mới để cho ngôi Thánh tự thân gần mà như cách xa nghìn dặm!
Thế là sư chống gậy đi về hướng cây cầu. Sư nhìn khắp bốn phía thấy toàn là vách núi cheo leo, đi một hồi lâu sư mới đến được ngọn núi có cây cầu đá kia. Sư thấy có rất nhiều cầu đá và nhiều ngôi Thánh tự. Sư muốn đi thẳng qua bên đó mà chẳng hề tiếc thân mạng. Bỗng sư thấy có một chiếc cầu đá bắc ngang qua vực sâu nghìn trượng rộng khoảng một thước. Cầu bị rêu xanh phủ kín và nghiêng, phía đông dường như có lối đi, phía tây có tảng đá lớn chắn ngang, muốn leo lên nhưng bít lối. Sư có ý định muốn vọt qua. Đêm hôm đó, sư ngủ lại phía đông cây cầu, bỗng nghe tiếng khánh và tiếng tán tụng kinh vang khắp chùa phía tây. Vì thế, lòng sư cứ thôi thúc liên tục thâu đêm không yên. Sư lại nghe có tiếng bảo:
- Mười năm nữa Ông sẽ đến cư trụ ở đây cần gì phải khổ cầu!
Dù vậy, sư vẫy không từ bỏ ý định của mình, ngày đêm trong lòng cứ ấm ức mãi, rồi sư cất một thảo am, thiền quán nhiều năm. Sau đó, sư thử đến bên cầu thì thấy tảng đá nằm ngang tự nhiên dạt ra và cây cầu bằng thẳng xuất hiện; nhờ vậy, sư mới qua được. Sư thấy phòng ốc rất rộng lớn, chùa tháp nguy nga và có thần tăng tiếp đón, giống như đã quen biết từ lâu.

Phần 5

Sau khi thụ trai xong, sư bày tỏ ý muốn ở lại đó. Có vị tăng nói:
- Mười năm nữa tự nhiên ông sẽ đến đây, nhọc gì phải ở lại sớm!_ Rồi vị thần tăng đưa sư quay trở lại. Khi sư qua cầu rồi, tảng đá nằm ngang chắn lối như trước.
Đến niên hiệu Thái Nguyên thư nhất (376) đời Tấn, sư thị tịch ở trong núi ấy, thân thể vẫn hồng hào đoan chính giống như còn sống.
Vương Hi Chi hay tin liền xây chùa ở đó và hướng về vách núi vái lạy. Ngày nay cũng có người tìm đên nơi đó nhưng con đường ấy bị mây phủ.
36.4.7. Thánh tự trên núi Bồng Lai, Đông Hải: Vào đời Tống, Chu Linh Thạch đi sứ đến Liêu Đông, khi trở về bị lạc đường, thuyền theo chiều gió trôi lênh đênh trên biển hơn một tháng rồi tấp vào một hòn đảo. Lúc ấy lương thực hết sạch, Chu Linh Thạch lên đảo tìm suối nước. Linh Thạch đi sâu vào trong đảo rồi leo lên núi, đến một ngôi chùa, điện đường trang nghiêm chưa từng thấy. Có vị tăng hỏi Linh Thạch từ đâu đến, Linh Thạch trình bày hết sự tình. Vị tăng bày biện cơm nước và hỏi đi hay ở lại.
Linh Thạch thưa:
- Đây là chỗ của bậc thánh, phàm phu không thể ở được.
Vị tăng nói:
- Nếu muốn ở thì tùy ý!
Linh Thạch một mực xin trở về.
Vị tăng nói:
- Từ đây cách kinh đô hơn hai mươi vạn dặm.
Linh Thạch và những người đi theo nghe vậy, sợ hãi, hỏi lại:
- Nếu vậy, có cách nào để về tới kinh đô không?
Vị tăng nói:
- Tôi sẽ đưa các người về, đừng lo quá lắng .
Vị tăng lại hỏi:
- Các người có biết đạo nhân Bôi Độ không?
Linh Thạch đáp:
- Dạ biết!
Vị tăng chỉ cái túi đựng bát treo trên vách, nói:
- Đây là vật của vị ấy. Vì vị ấy mắc một vài lỗi nhỏ nên bị phạt ở lại cõi người.
Rồi vị tăng lấy cái túi đựng bát và một phong thư trao cho Linh Thạch. Trên bì thư có viết chữ, nhưng Linh Thạch không hiểu.
Vị tăng dặn:
- Ông đem bức thư và cái túi này trao cho đạo nhân Bôi Độ.
Vị tăng bảo một chú sa-di đưa họ trở lại thuyền và dặn:
- Đừng đi theo con đường mà các ông ấy đã đến, hãy theo con đường thẳng, sẽ mau đến chỗ neo thuyền.
Đi chốc lát đã đến biển, chú sa-di cầm cây gậy tre chống trên đầu thuyền, nói:
- Chỉ cần đóng kín thuyền lại là nghe tiếng thuyền chạy chứ không cần phải nhọc công chèo lái.
Mọi người đều làm theo lời dặn của chú sa-di và chỉ nghe tiếng gió vù vù. Có người lén nhìn ra ngoài thấy thuyền lơ lững trong mây, bay qua khắp núi rừng, biển cả. Trong tích tắc thuyền đến Đại Hàng, Dương Đô và thấy ngài Bôi Độ đứng tựa lan can trên cầu gọi lớn: “Mã! Mã!”. Linh Thạch vừa đến nơi thì phong thư tự nhiên bay lên tay ngài Bôi Độ. Ngài Bôi Độ ngạc nhiên hỏi:
- Làm sao ông có được thư của đạo nhân ở Bồng Lai, vị ấy gọi tôi trở về ư?”
Linh Thạch trình bày nguyên nhân và đem bát trao cho ngài Bôi Độ. Ngài Bôi Độ ôm bát và nói:
- Hơn bốn nghìn năm rồi ta không thấy cái bát này. Nói xong, sư Bôi Độ ném cái bát lên hư không; bát bay vào trong mây rồi rơi vào tay sư.
36.4.8. Chùa Tiên: Chùa nằm trong hang Đường Thuật, cách Hà châu về phía tây bắc mười lăm dặm. Vượt qua bến Phong Lâm, trèo lên đỉnh Trường Di nhìn về hướng nam là núi Tích Thạch. Chương Vũ cống trong Hán thư gọi đó là vùng đất tận cùng của phương này. Ở đó có nhiều đỉnh núi chen nhau, mỗi ngọn có một dáng vẻ khác nhau. Ngọn thì giống như bảo tháp, ngọn thì như làu cao; tùng bách bóng rợp vách núi; sắc đỏ, xanh tỏa khắp núi đồi. Nếu chẳng phải do sức thần của tạo hóa thì làm sao có thể đep đẽ, tráng lệ đến như thế!
Đi về hướng nam hai mươi dặm là đến chùa. Nơi đây phải đục núi làm điện đường phòng xá, bắc cầu qua sông. Xung quanh chùa hoa quả, rau củ đầy dẫy. Nay ngôi chùa ấy đã có chư tăng ở.
Phía nam chùa có một cái cổng đá, gần bến Hoàng Hà có tấm bia đá, trên đó khắc ‘Chùa được xây dựng vào niên hiệu Thái Thỉ (265-275) đời Tấn”.
Trong cái hang phía đông chùa có một ngôi Thiên tự. Tìm khắp nơi trong hang ấy, tuy hoàn toàn không có một trú xứ nhất định, nhưng lại thường nghe tiêng chuông và có những vị tăng lạ, cho nên gọi hang ấy là Đường Thuật. Người Khương gọi là Quỷ.
Vì thế, từ xưa đến nay nhiều người vào núi Tích Thạch thường gặp các bậc tiên thánh xuất hiện mờ ảo, hoặc hiện ra chùa, hoặc hiện tướng tăng.
Trên đỉnh phía đông bắc có dòng nước chảy vào suối Lễ, nước có vị ngọt, rất trong, người nào uống thì không già.
36.4.9. Thánh tự Trúc Lâm, núi Thạch cổ, Tương châu: Khoảng niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (479) đời Tề Cao đế, có vị tăng lạ đến một ngôi chùa ở Nghiệp Hạ an cư. Vị tăng ấy chuyện trò rất hợp ý với tăng Vong Danh ở cùng phòng.
Sau đó, vị khách tăng bị bệnh lị rất nguy cấp, Vong Danh đưa rượu bảo vị ấy uống. Vị khách tăng nói:
- Không thể uống.
Vong Danh nói:
- Thầy cứ uống đi! Tuy giới luật cấm, nhưng có bệnh thì cho phép.
Vị khách tăng chau mày uống thì bệnh liền bớt.
Mãn hạ, vị khách tăng từ biệt trở về chùa. Khi tiễn ra khỏi kinh đô, vị khách tăng hỏi Vong Danh:
- Thầy có nghe nói về chùa Trúc Lâm ở núi cổ Thạch không?
Vong Danh đáp:
- Có nghe. Nhưng từ xưa đến nay chỉ là lời đồn, chứ chưa ai đến đó cả.
Vị khách tăng nói:
- Không có lòng muốn đi thì làm sao đến được. Suốt một mùa hạ ở chung phòng nhiều lần làm phiền bạn. Bệnh lị nguy cấp, uống rượu mới biết là thuốc hay, nhưng vốn không có ý muốn uống mà phải uống, xin đừng đem việc này nói lại với người. Chùa tôi ở trên núi cao, thầy có thể đến thăm bất cứ lúc nào, mong thầy lên đó một lần thì mới thỏa lòng này.
Vong Danh nghe vậy vui mừng nói:
- Nếu sáng đến được thì tối chết cũng không có gì hối hận. Đến rằm tháng chín tôi sẽ đi, xin hãy chỉ đường cho, nếu không thì chẳng biết đâu mà tìm.
Vị khách tăng nói:
- Nếu đến, có thể từ phía đông núi Thạch cổ đi lên, qua một cái hang nhỏ, rồi theo hướng đông bắc đi lên là đến chùa.
Đến kì hạn, Vong Danh cùng với năm sáu người có nhiệt tâm đi thẳng đến chùa Thạch Quật, một vị sơn tăng hỏi:
- Vì sao ông đến đây?
Vong Danh đáp:
- Vì muốn đến chùa Trúc Lâm nên phải đi con đường này.
Vị sơn tăng nói:
- Người đời thật buồn cười, cứ thích nghe những lời xằng bậy. Ngọn núi này tôi đã dạo khắp đông tâỵ chẳng thấy nơi nào có chùa. Đó chỉ là truyền thuyết thôi, không cần phải khổ nhọc đi tìm.

Phần 6

Vong Danh nói:
- Lời của vị khách tăng kia nói rất nghiêm túc, hoàn toàn không có ý qua loa đại khái, sao lại hư dối được? Tôi phải cố gắng tìm, nếu tìm không được thì chẳng phải lỗi của tôi.
Rồi mấy mươi vị tăng ở chùa Thạch Quật cùng với Vong Danh như lời dặn theo hướng đông đi lên, vượt qua cái hang và tìm trên đỉnh núi bỗng nhìn thấy một cụ già đang cuốc đất. Mọi người lại nhìn thấy có một vị tăng đến bừa hết tất cả lúa của ông lão. Ông lão vừa nắm lấy cái bừa lại vừa kéo cuốc và nói: “Năm trước đạo nhân ở chùa quan thà ngựa ăn hết lúa của tôi. Năm nay lại đến dẫm đạp mạ hè thu của tôi nữa”. Nói dứt lời, ông lão đưa cuốc lên đuổi vị tăng kia.
Mọi người thấy vậy đều quaỵ trở về, chỉ một mình Vong Danh đi lên phía đông bắc.
Ông lão nói: “Tha cho ông lên núi, để cọp ăn đi cho rồi!”. Vong Danh nghe ông lão nói, liền theo hướng đông đi lên thì đến khu rừng cậy rậm rạp. Vong Danh nghe có tiếng ngâm vịnh ở trên đỉnh phía nam.
Vong Danh hỏi:
- Chẳng phải là vị tăng ngày xưa đó sao?
Có tiếng đáp lại:
- Đúng là tôi!
Rồi vị khách tăng vạch bụi cây, bước đến cầm lấy tay Vong Danh tỏ bày nỗi lòng xa cách bấy lâu rồi dắt nhau về chùa. Trong nháy mắt, chợt thấy ngọn núi cao vút, những cây trúc cao tận mây, lớp lớp cửa đều mở toang, điện đường nhiều dãy nối nhau. Bên ngoài cửa ở phía đông và tây đều CÓ chuồng ngựa được trang sức bằng vàng giống như có dấu ngựa nhưng không thấy buộc nhốt. Vong Danh đến trước cửa, vị khách tăng bảo:
- Hãy đợi ở đây, tôi vào thưa với Hòa thượng đã!
Vị tăng vào bên trong chốc lát quay ra dẫn Vong Danh đến trước điện Phật. Lễ bái xong lại đưa Vong Danh đi về hướng tây đến hành lang thì gặp hòa thượng. Hòa thượng khoảng chín mươi tuổi, mi dài, mũi cao, hình dáng giống người Tây Trúc. Quanh hòa thượng có khoảng ba mươi quan sử cầm văn thư, sổ sách như đang phán định một việc gì. Bỗng có người đưa tay lên nói:
- Ngôi sơn tự trong làng, thật không thể nhìn thấy. Làm sao có thể vượt qua đoạn đường xa xôi như vậy.
Vong Danh thấy vậy liền lễ mười mấy lạy. Hòa thượng nói:
- Ông đã đi đường mỏi mệt cần phải nghỉ ngơi. Tôi sẽ cho người dẫn về phòng!
Người kia đưa Vong Danh đi về phía bắc của tây phòng, lúc ấy nhìn sang hướng đông thấy chư tăng đều ngồi vào bàn tụng kinh. Thấy vậy, Vong Danh lễ bái, nhưng họ đều không hỏi han gì hết. Người kia dẫn Vong Danh đi hết dãy phòng phía bắc, sang dãy phía đông mới đến phòng của vị khách tăng khi xưa. Gặp lại nhau vui mừng khôn xiết. Suốt đêm hôm đó, họ trò chuyện với nhau và Vong Danh nhiều lần nói muốn ở lại đó luôn. Nhưng vị khách tăng kia nói:
- Tùy ý Hòa thượng, chứ tôi không dám ngăn cản, đợi sáng mai hỏi hòa thượng.
Sáng hôm sau, vị khách tăng nói với Vong Danh: “Hòa thượng không đồng ý!
Cho đến bữa ăn trưa của chư tăng ở đây cũng không khác gì ở Nghiệp Trung. Lúc Vong Danh đến từ biệt, hòa thượng nói:
- Ta biết ông muốn ở lại đây luôn, biết ông có tình bạn sâu sắc, nhưng người xuất gia không thể thụ pháp ở hai nơi. Ông đã nhận sự giáo dưỡng ở chùa xưa, nay có thể làm trái được không? Nếu muốn ở lại đây luôn thì phải bỏ pháp danh kia. Thôi ông về bình an!
Hòa thượng cho người tiễn đưa Vong Danh ra về. Vong Danh nắm chặt tay vị khách tăng năm xưa mà lòng vô cùng tiếc nuối, chia tay rồi mà lòng vẫn cảm thấy buồn, Đi được khoảng một dặm, Vong Danh nhiều lần nhìn lại vẫn thấy chùa tháp, rừng trúc y nguyên như cũ. Nhưng đi được hai dặm, Vong Danh nhìn lại thì không thấy gì cả, chỉ thấy núi cao chót vót, cây cối rậm rạp mà thôi. Vong Danh đi về phía tây theo con đường cũ xuống núi thì không thấy lúa mạ, cũng không thấy ông lão và chùa Thạch Quật nữa.
Khi về đến chùa, Vong Danh kể lại cho chư tăng trong chùa nghe.
36.4.10. Thánh tự trên núi Minh Tịch, Tấn Dương: Lúc ở Tấn Dương, vua Văn Tuyên, nhà Tề (550-577) bảo sứ giả:
- Ngươi hãy cưỡi con lạc đà trắng này đến chùa của trẫm lấy hòm kinh đem về đây.
Sứ giả hỏi:
- Không biết phải đến chùa nào?
Vua nói:
- Ngươi cứ để cho lạc đà tùy ý đi, tự nhiên sẽ biết.
Khi trời vừa tối, sử giả ra khỏi thành, lạc đà đi rất nhanh và nhẹ nhàng như đang ngủ. Bỗng chốc đến núi Minh Tịch. Ở giữa lưng chừng núi có một ngôi chùa, mấy chú sa-di thấy sứ giả đến, đồng nói: “Lạc đà của Cao Dương đến!”. Rồi họ dẫn sứ giả vào chùa gặp một lão tăng. Sau khi lễ bái xong, lão tăng hỏi:
- Cao Dương làm vua thế nào?
Sứ giả đáp:
- Vị vua anh minh!
Lão tăng lại hỏi:
- Ông đến đây làm gì?
Sứ giả đáp:
- Tôi theo lệnh vua đến lấy hòm kinh.
Lão tăng nói:
- Lúc Cao Dương còn ở chùa, đã lười biếng tụng kinh, nay lấy kinh về để làm gì?
Lão tăng chỉ sứ giả:
- Đi hết dãy phòng phía bắc đến đầu dãy phòng phía đông là đến phòng của Cao Dương, ông lấy hòm kinh kia đem về cho Cao Dương.
Sứ giả lấy hòm kinh rồi trở về. Giống như đang nằm mộng. Bỗng chốc đã về đến Tấn Dương và dâng hòm kinh lên vua.
Không lâu sau, vua đến chùa Mộc Tĩnh ở Cốc Khẩu. Khi ấy, một người si cuồng và câm, bỗng nhiên nói với Cao Dương: “Ta đi trước rồi ông sẽ đến sau” Cao Dương gật đầu đồng ý. Đêm hôm đó, người kia qua đời.
Không lâu sau, Cao Dương bị bệnh, phải sai Lưu Đào Chi cõng đi. Một hôm, mũi vua tuôn máu và trong đêm đó vua thăng hà.
36.4.11. Thánh tự ở Đại Phu, núi Ngũ Đài, Đại châu: Núi Ngũ Đài ở phía đông nam Đại châu, người xưa gọi đó là ngôi nhà của thần tiên, Chu vi núi ba trăm dặm, cao chót vót, trên núi Ngũ Đài không có cây cỏ, chỉ toàn là tùng bách rất rậm rạp.
Trong kinh có nói bồ-tát Văn-thù đưa năm trăm tiên nhân đến Thanh Lương. Thanh Lương chính là vùng đất ấy. Vùng này rất lạnh và có nhiều tuyết nên gọi là Thanh Lương, lại có rất nhiều di tích, hang động. Vì thế, từ xưa đến nay người cầu đạo phần nhiều đều đến núi này. Trung đài cao nhất, đứng cách xa khoảng bảy trăm dặm, vẫn nhìn thấy rõ như trong lòng bàn tay. Trên đỉnh núi có hàng nghìn ngôi chùa nhỏ bằng đá, do Ngụy Văn đế cho xây dựng. Trên đá có dấu chân người, ngựa rõ ràng như mới. Ngoài ra còn có dòng suối lớn, gọi là suối Thái Hoa, trong vắt, phẳng lặng như gương, có hai ngôi chùa ở hai bên, trong đó có thờ tượng Văn-thù-sư-lợi; người đến đây rất đông, nên không ngày nào dứt tiếng chuông, thiếu khói hương, thần tăng và thụy tượng cũng thường xuất hiện.
Đến niên hiệu Long Sóc thứ ba (663) đời Đường, vua hạ lệnh sư Hội Trách ở chùa Hội Xương, Trường An đến tu bổ chùa tháp. Sư Hội Trách cũng nhiều lần gặp những điều linh cảm.
Bên dưới chân Trung đài về phía đông nam khoảng ba mươi dặm có chùa Đại Phu Linh Thứu, tương truyền do vua Minh đế đời Hán tạo. Hiện tại hai đạo tràng ở phía đông phía tây tượng Phật vẫn còn nguyên. Phía nam có hoa viên rộng khoảng ba mẫu, bốn mùa thường phát ánh sáng chiếu soi lẫn nhau; từ xưa đến giờ không hề thay đổi, nhưng không biết nguyên nhân.
Khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650) đời Đường, thiền sư Giải Thoát dẫn đệ tử đến đây tu tập thiền định ở phía bắc Hoa viên. Thiền sư nói bốn lần thấy bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bay trên hư không cùng với rất nhiều quần tiên dị thánh.

Phần 7

Gần đây, có thiền sư Tăng Lãng ở trên núi hơn ba mươi năm cũng thường gặp tiên thánh, bay trên không mà đi, chỉ để lại lớp da cũ.
Khu vực ba mươi dặm xung quanh Nam đài có rất nhiều hoa quý, đầy cả núi non, nên thường gọi là Hoa Sơn. Trong núi có ngôi thánh tự, lúc nào cũng có tiếng chuông. Có người từng gặp dị nhân, hình dáng to lớn khác người, trong lúc nói năng, bỗng vọt lên hư không đi xa tít. Núi ấy rất gần, nhưng ít ai lên được. Người nào lên được thì cảm thắng duyên.
36.4.12. Chùa Đan Lĩnh, núi Thái: Thích Tăng Chiếu ở chùa Đan Lĩnh, núi Thái, đời Ngụy. Không biết sư tên họ gì, tính tình phóng thoáng, thích tìm các linh tích. Những nơi kì dị sư đều đặt chân đến, như hang động dưới những thác nước, thường là nơi các bậc tiên thánh dạo chơi và cư ngụ.
Vào niên hiệu Phổ Thái (531) đời Bắc Ngụy, sư đến núi Vinh, thấy dưới thác nước có một cái hang rộng, sư liền vào, đi khoảng năm sáu dặm thì ra khỏi hang. Bên ngoài hang có một con đường nhỏ, đi về hướng đông bắc khoảng vài dặm thì gặp một con suối đá, rộng vài bộ, chảy về hướng tây, nước trong vắt nhìn thấu đáy, cỏ thuốc mọc kín đất, phủ một màu xanh rì. Phía bắc suối có một ngôi nhà ngói, có ba người ở. Ngôi nhà rất cũ và tồi tàn. Trước sân lúa thóc vung vãi khắp nơi, rất nhiều chim chóc đến lượm thức ăn dư. Có vài cái áo lông màu vàng treo trên giá ở đầu đông bên trong ngôi nhà. Ở giữa nhà có hai cái cối sắt và một cái nồi; tất cả đều bị bụi bám đầy và cũng chẳng có dấu vết nấu nướng. Ở góc phía tây trong nhà có một vị sa-môn ngồi thẳng bất động, bụi đã lấp tới đầu gối. Nhìn khắp bốn hướng chỉ thấy rừng rậm, thác nước, không thấy một bóng người. Bỗng gặp một vị thần tăng, khoảng sáu mươi tuổi, lông mi dài hơn một trượng vắt vòng qua tai. Vừa mới gặp nhau, cả hai vui mừng thăm hỏi như đã quen biết từ lâu.
Tăng Chiếu hỏi:
- Ngài từ đâu đến?
Vị thần tăng đáp:
- Tôi và hai bạn đồng học đến đây tránh đời. Một người đi ra ngoài chưa về, một người qua đời đã lâu, giống như nhập Diệt tận định, hiện đang ngồi tại góc phía tây trong nhà, ông thấy chưa? Hiện tại họ nào làm vua?
Tăng Chiếu đáp:
- Nhà Ngụy.
Thần tăng hỏi:
- Chẳng phải vua tại vị lâu nay là họ Tào sao?
Tăng Chiếu đáp:
- Không! Họ Nguyên.
Thần tăng nói:
- Tôi không biết những người này!
Rồi vị thần tăng giã gạo nấu cháo, lại vào rừng hái lê táo đưa cho Tăng Chiếu, bảo ăn và nói:
- Ông cứ ăn đi! Tôi không ăn trái này.
Thần tăng hỏi:
- Ông thường tụng kinh gì?
Tăng Chỉếu đáp:
- Tôi thường tụng kinh Pháp hoa,
Thần tăng gật đầu nói:
- Tốt quá! Nên siêng năng! Tôi thường tụng mấy quyển kinh đặt trên giá ở góc phía đông phòng, ông muốn nghe không?
Tăng Chiếu chắp tay thưa:
- Xin được nghe!
Thần tăng bắt đầu tụng từng bộ một, giọng đọc trong và rõ ràng. Vị tăng tụng suốt đêm, Tăng Chiếu mỏi mệt nên buồn ngủ.
Thần tăng nói:
- Ông cứ ngủ đi! Tôi thường tụng như vậy.
Thần tăng tụng mãi đến sáng, không ngủ nghỉ. Hôm sau thần tăng lại làm thức ăn cho Tăng Chiếu. Tăng Chiếu cảm tạ, nói:
- Tôi may mắn gặp được ngài, nhưng nay xin tạm trở về, hẹn sẽ trở lại tiếp chuyện ngài.
Thần tăng cũng không giữ Tăng Chiếu lại, chỉ nói:
- Bạn đồng học của tôi đi xa, tiếc là ông không được gặp. Nếu gặp người ấy ông chắc sẽ được khai ngộ.
Thần tăng nói tiếp:
- Mong ông trở về bình an!
Tăng Chiếu tìm đường trở về. Sau đó, ông rủ mấy người bạn cùng quay trở lại thác nước để tìm cái hang, nhưng không biết hang ở chỗ nào. Hiện ở Chung Nam cũng thường có những việc như thế này, không thể thuật hết được.
36.4.13. Chùa Cửu Không, núi Thái Nhất, Ưng châu: Chùa ở núi Hệ Đầu, phía nam huyện Hộ, Ung châu. Vì những người đi biển thường neo thuyền cột dây nơi núi này, nên gọi là núi Hệ Đầu.
Ngày xưa, khi núi Thái Nhất chưa phân chia, còn nối liền với núi Thái Hành và núi Vương Ốc, vì nước sông Bạch Lộc bị ngăn chặn tại vùng này, nên gọi là Sơn Hải.
Thủy thần Cự Linh Tần Cung Hải sợ nước dâng tràn, bèn dùng tay trái ấn vào núi Thái Hoa, chân phải đạp vào đoạn giữa, khiến núi Thái Nhất bị tách làm hai, từ đó sông thông nước rút, đất hiện ra, núi cũng nhô cao, nhưng vẫn gọi Hệ Đầu.
Trong Tây kinh phú của Trương Hành ghi: “Tay đưa cao, chân đạp xa, để khơi thông dòng sông uốn khúc”, chính là việc này.
Người già xưa kể: “Phía nam núi Hệ Đầu có ngôi chùa tiên tên là chùa Cửu Không. Tương truyền, ngày xưa, có một người vào núi đốn củi, đến lúc trời sắp tối không biết đường về, bèn ngủ lại trong rừng. Đêm hôm đó, người ấy nghe có tiếng chuông rất gần, bèn lần theo tiếng chuông thì đến một ngôi chùa, thấy hơn một trăm tăng chỉ kinh hành, ngồi thiền chứ không hỏi han gì. Người ấy lấy làm lạ, đến khi trời sáng thì ngôi chùa biến mất”. Từ xưa đến nay không có ai đến tìm ngôi chùa này. Có một vị tăng từng đến núi, nhưng chỉ thấy núi non trùng điệp, cây cối rậm rạp, không thể leo lên”.
Có thuyết nói trên núi có chín cái hang, là chỗ ở của tiên nhân. Lại bên cạnh một tòa thành thời Phục Hi ở Đại Cốc, Lam Điền, có chùa Qui Nghĩa. Vị tăng chùa này tên Hoằng Tạng, là người can đảm nghe nói bèn đến tìm. Hoằng Tạng đi quanh núi suốt mấy ngày mấy đêm, nhưng chỉ tìm được năm hang. Hang nào cũng rất tròn và sạch sẽ giống như do người xây dựng, lại không hư nát, ô uế giống như có người ở.
Thiền sư Liễu ở chùa Quang Minh cũng lên núi tìm và đã ở trong hang an cư một mùa hạ. Ngày nay gọi hang đó là hang Chiếu Dương.
Đó quả là một nơi xinh đẹp và kì bí đáng để mọi người ngưỡng vọng, nhưng chùa tiên mãi mãi vẫn không tìm thấy.
36.4.14. Chùa Trúc Lâm, núi Chung Nam: Chùa Trúc Lâm ở ngọn Đại Tần, phía nam hang Tí Ngọ, núi Chung Nam. Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627) đời Đường, có người vào núi lấy mật ong, bỗng nghe tiếng chuông, liền tìm đến thì thấy một ngôi chùa hai gian có người cư trú, bên cạnh có rừng trúc cao lớn khoảng hai mẫu. Người ấy chặt hai đốt trúc, chứa được khoảng năm thăng mật. Hai người vác xuống núi, tìm đường đến đồn lính Đại Tần báo cho lính gác biết và nói: “Từ rừng trúc đến đây khoảng mười lăm dặm”.
Vị đồn trưởng tham muốn những cây trúc to lớn ấy, nên muốn đến chặt về. Theo lời người kia kể, ông sai lính đến tìm, quân lính đi qua hang Tiểu Trúc thì đến vách núi. Ở đây họ thấy có một dây xích dài khoảng ba trượng, liền đến kéo, nhưng dây xích bi khóa quá chặt. Bên trên có hai con hổ lớn, đứng tựa vào vách núi, cúi xuống gầm rống. Người ấy sợ hãi, vội chạy về dẫn thêm mười người đến tìm thì gặp một cơn mưa lớn, nên họ quay trở về.
Có vị tăng Qui Chân ở chùa Ngộ Chân, Lam Điền, tuy tuổi còn nhỏ mà đã ẩn cư trong núi, nghe nói chuyện này liền đến tìm. Khi đến hang Tiểu Trúc, ông đi lên phía bắc nhìn xuống chân núi, thấy không có đường đi nên quay về, mọi người đã nói với nhau về việc này.
36.4.15. Thánh tự ở phía nam hang Tí Ngọ: Trạm thứ nhất ở phía nam hang Tí Ngọ gọi là Tam Giao, phía đông có một con suối, sườn núi đông nam rộng khoảng

Phần 8

mười mấy mẫu, trồng toàn cây lật. Không ai biết có chư tăng ở đó hay không, nhưng nhiều người thường nghe tiếng chuông, nên họ chẳng lấy làm lạ.
Một hồm, vợ của người chủ trạm vào rừng lượm củi, khi lội xuống suối, bỗng thấy một vị tăng ngồi trên tảng đá vá y, bên cạnh không có vật gì khác. Người nữ vốn có lòng tin, nên liền đến thưa:
- Con không biết ngài ở đây, sắp đến giờ Ngọ, xin ngài đến trạm thụ thực.
Vị tăng đáp:
- Bần đạo ở trong núi, không thể dùng thức ăn của nhà quan.
Người nữ thưa:
- Con có thức ãn riêng đủ để cúng dường ngài.
Vị tăng nói:
- Cũng không được dùng thức ăn của người tín tâm.
Người nữ sợ trễ giờ, nên chạy vội về lấy thức ăn Nhưng khi quay lại tìm thì chẳng thấy vị tăng ấy đâu cả. Vì thế, bà thường sai những người thân cận đi tìm vị tăng, nhưng không gặp, mà vẫn nghe tiếng chuông. Chùa ấy cách trạm năm dặm.
36.4.16. Chùa Tông Lư ở Tích Cốc, Chung Nam: Gần đây có người gặp một vị tăng, vị ấy nói:
- Nhờ ông may giúp cái chăn mang đến chua.
Ông hỏi:
- Chùa sư ở đâu?
Vị tăng đáp:
- Chùa ở đỉnh phía đông của núi Cự Minh, Tích Cốc.
Ông may cái chăn thành hình hoa sen, rồi đem đến chùa thì gặp một vị tăng cao khoảng năm mươi thước, từ vách núi phía nam đi lại. Vị tăng gọi, nhưng ông ta từ chối.
Vị tăng nói:
- Hàng ngày ông vào núi đốn củi, có thể lấy bánh dư dưới đống củi để dùng, chớ nói cho ai biết vì sao mà có.
Ông làm theo, ngày nào cũng được bánh. Người vợ thấy lạ cứ theo hỏi mãi, vì không thể từ chối được nên ông nói cho vợ biết. Nhưng khi ông vừa nói ra thì liền bị câm. Một năm sau, ông lại thấy hai vị tăng đi vào trong hang. Ông vẫy tay và chỉ vào miệng ba lần
như vậy, bỗng nhiên nói lại được. Không lâu sau ông qua đời.
Ngày nay người vào trong núi, đến bên đỉnh Cự Minh thường nghe tiếng chuông và cũng thường thấy có những dị tăng. Gần đây có vị tăng nghe việc này liền đến xem, cũng thấy một vị tăng đi vào trong hang, nghi đó là chùa Tông Lư nên hỏi:
- Có phải đại đức ở chùa Tông Lư không?
Vị đại đức đáp:
- Phải!
Vị tăng kia hỏi:
- Tôi muốn đi theo đại đức được không?
Vị đại đức đáp:
- Được! Có thể đi theo tôi.
Nói dứt lời, vị tăng kia chỉ nghe tiếng gió vù vù bên tai và lao đi rất nhanh, vị tăng kia suy nghĩ: “Chưa chắc vị này là thánh, biết đâu vào trong núi sâu rồi ném chết ta”.
Vừa trộm nghĩ như vậy thì vị đại đức đi phía trước liền biến mất. Vị tăng kia vô cùng buồn bã, đành quay trở về, đi ba ngày mới ra đến miệng hang. Sau đó lập một tinh xá ở trong rừng cách xa người đời để chờ đợi vị đại đức kia. Tinh xá ấy đến nay vẫn còn, nhưng vị tăng ấy không biết tịch ở đâu.
36.4.17. Hang Khố ở Chung Nam: Hang Khố ở phía tây nam núi Chung Nam, còn gọi là hang Hồ Lô.
Ngày xưa, có người vào núi đốn củi, tình cờ thấy một ngôi chùa với các thất đá, cổng đá. Trong cổng có rất nhiều đồ vật báu lớn nặng, không thể di dời được, là những vật dụng mà chúng tăng sử dụng, nhưng không thấy vị tăng nào. Người kia bồi hồi nhìn quanh, rồi ghi chép vị trí chùa và lấy bình hồ lô treo lên cậy trụ trong nhà. Sau đó người ấy xuống núi gọi những người trong thôn vào hang tìm kiếm. Nhưng khi vào thì thấy trên khắp các cây đều có bình hồ lô, nhưng không thấy dấu vết ngôi chùa. Nay những người vào núi tìm kiếm và nói: “Cánh cổng đá nằm bên cạnh sườn núi, một nửa đã lún vào chân núi, nửa kia tuy vẫn còn nằm ở trên, nhưng không ai đủ sức mở ra”. Nay hang kia gọi là Khố; khu đất đó gọi là Thiên Tạng, cho nên phủ, phường ở Cốc Khẩu đều đặt tên là Thiên Tạng. Tính thời gian thì đến khi Đức Phật Di-lặc hạ sinh, ngôi nhà trong núi ấy mới xuất hiện ở đời.
36.4.18. Các việc cảm ứng ghi trong Tây Vực chí.
Tây Vực chỉ ghi: “Cách nước Ô-trành về phía tây nam có núi Đàn-đặc, trong núi có một ngôi chùa rất đông chúng tăng cư trú, mỗi ngày có lừa chở thức ăn đến, nhưng không có người dắt, Lừa chở thức ăn đến rồi quay về, không ai biết lừa ở đâu”,
Tây Vực chí ghi: “Ngày hai mươi bảy tháng chín, niên hiệu Hiển Khánh thứ năm (660) đời Đường, Vương Huyền Sách đang đi sứ ở Tây Vực, được ngài Giới Long, tự chủ chùa Bồ-đề mở hội lớn tiếp đãi.
Sau khi sứ giả dự tiệc xong, từ Vương Huyền Sách trở xuống, mỗi người đều được tặng mười khúc lụa hoa và bát đựng thức ăn. Tiếp theo là trình báo những vật mà sứ giả hiến dâng như long châu v.v... nhưng theo ghi chép đầy đủ thì có tám hòm đại chân châu, một tháp Phật bằng ngà voi, một bảo tháp thờ xá-lợi, bốn cái ấn của Phật.
Đến ngày mùng một tháng mười, niên hiệu Hiển Khánh thứ năm (660) đời Đường, tự chủ và chúng tăng tiễn sứ giả trở về nước. Đi về phía tây khoảng năm dặm, tự chủ rơi lệ nói với sứ giả: “Hội ngộ khó, chia li dễ, đó là lẽ thường tình ở đời, huống gì Giới Long tôi tuổi đã cao, ngôi chùa này là nơi các Đức Phật thành đạo. Xin về tâu với vua ngài, nếu chuyên tâm nơi Phật pháp, tự tu tập lời Phật đương lai. Nếu muốn có phúc báo đời sau, phải nỗ lực siêng năng không ngừng nghỉ”.
Nếu xét kĩ, Phật pháp truyền vào Trung Quốc đã hơn sáu trăm năm, những truyện kí về Tam bảo cũng rất nhiều. Trong đó, toàn là những bậc danh tăng, đức trọng đáng noi gương; những vị có thần thông, biến hóa, hiện điềm lành cảm ứng hơn nghìn người. Từ xưa đến nay, các vua quan, những người sống ẩn dật, những kẻ cậy tài khinh đời đều sùng kính các vị ấy như hiền thánh. Những điều này đã được ghi đầy đủ trong các bộ Truyện kỉ, ở đây không thể thuật hết được”.'
Luận Nhập Đại thừa ghi: “Có mười sáu vị đại a-la-hán trụ ở đời truyền bá chính pháp như tôn giả Tân-đầu-lô, La-hầu-la v.v... Lại có chín ức bậc thánh nhân Vô học ở châu này chưa nhập niết-bàn. Căn cứ theo đây mà biết, ngày nay chúng tăng trụ trong vùng núi non biển cả đều nghe có tiếng khánh, nếu tìm theo thì thấy có chùa tháp. Đó há chẳng phải chỗ ở thánh nhân sao? Nay lại căn cứ theo các môn mà chia làm ba thời: Trụ kiếp, Hiền kiếp, quán xét thời gian Thích-ca xuất thế.
- Thứ nhất, căn cứ vào trụ kiếp để nói về thông và tắc: ở Tây Vực nêu ra những hành nghiệp quá khứ của Phật nhự Tát-đỏa xả thân chảy máu vẫn còn; thái tử Đạt-noa bỏ con, gậy đánh vẫn còn dấu máu; chỗ trải tóc lót bùn; nơi bồ-tát xả thân cầu một bài kệ Nguyệt Quang đồng tử tự cắt đầu; Thi-tì xả thân cho chim ưng ăn; những di tích ấy chỉ có trong kiếp xưa, nếu tính số tai biến vì sao vẫn còn? Những vị danh tăng Thiên Trúc cũng nghi điều này. Như những điều vừa hỏi thì các linh tích này không thể riêng biệt tồn tại đến nay. Nhưng về những sự tích quá khứ, có vị tăng giải thích: “Chính là do thần lực cùa Như Lai, do chí hạnh của bồ-tát, tuy có tam tai, nhưng không thể diệt mất. về sau, khi hình thành thế giới chúng sinh, tất cả đều nương vào đây để nhóm họp”.
Có người nói:
- Sự biến động của tam tai, tất cả đều diệt tận cho đến không mảy bụi nhỏ nào tồn tại. Nay nói tháp vẫn còn há không trái ngược sao?
Các vị cổ đức giải thích:
- Nếu đó chẳng phải là thánh tích thì cũng sẽ như một mảy bụi không thể tồn tại. Nay nói có sự tồn tại lâu dài là nhờ thánh lực gia bị, với mục đích khiến cho người đời sau học theo, khởi lòng cung kính ngưỡng mộ thánh tích và cũng nương vào đó mà đắc đạo. Lúc thế giới mới thành, những di tích xưa cũng hiện như thế. Đó đều do thần lực của Đức Phật biến hóa ra. Cho nên biết, thần lực của Đức Phật

Phần 9

chính là một trong năm điều không thể nghĩ bàn. Vì thế mới nêu ra những việc bản sinh trong kiếp quá khứ.
- Thứ hai, căn cứ vào những sự việc xảy ra trong cùng một kiếp để biện minh. Đại khái có bốn việc:
* Chuyện một nghìn Đức Phật cùng dùng chung một bình bát: Truyện kể:
- Đức Phật Thích-ca thụ thực bằng cái bát do Tứ thiên vương dâng cúng. Sau khi Đức Phật nhập diệt, bát đó sẽ lưu hành đến nước Tì-xá-li. Bát lưu lại đó trong nhiều trăm năm, lại chuyển đến nước Càn-đà-vệ, rồi được chuyển đến nước Nhục-chi, nước Vu-điền, nước Khâu-di. Kế tiếp sẽ đến Trung Quốc, rồi quay trở lại nước Sư Tử và trở về Thiên Trúc. Sau cùng bát bay lên trời Đâu-suất, ngài Di-lặc trông thấy bát, nói;?Bát của Đức Phật Thích-ca nay đã đến đây’. Bát được an trí ở trời Đâu-suất bảy ngày để cúng dường rồi chuyển xuống Long cung. Khi Đức Phật Di-lặc thành đạo, Tứ thiên vương lại đem bát ấy dâng cúng Ngài”.
* Một nghìn Đức Phật cùng để hình ảnh tại Long cung.
* Một nghìn Đức Phật cùng ngồi trên một tảng đá vuồng, bên cây Tì-bát-la ở nước Kiền-đà thuyết pháp.
* Một nghìn Đức Phật cùng quan sát sự thịnh suy của tháp đá.
Trong truyện trên, phần nhiều nói về dấu tích bốn oai nghi của Phật. Căn cứ vào đây, thời vị lai cũng có thể thấy.
- Thứ ba, nói rõ việc một đời của Đức Phật Thích-ca chung riêng không giống nhau. Như đường thềm báu lên thiên cung bị hủy diệt, không để lại vết tích; tháp lớn của Kế-nị-trá vương bảy lần biến đổi, cây bồ-đề chết rồi sống lại; dấu chân Phật bị hủy diệt rồi hiện lại; cành dương gãy rồi mọc lại; xá-lợi đem ra thử nghiệm thì càng linh ứng.
Những việc vừa nêu không giống với chư Phật đời sau. Đến như tôn giả Ca-diếp nhập Diệt định trong núi Kê-túc đợi đức Từ Tôn, Minh Biện giữ thân trong sơn cung để đợi bậc thánh, Thư Cừ là bạn của bậc Diệt định, Ma-lợi là đồ đệ của bậc ứng cúng. Những việc ấy đều thuộc về vị lai, biến hóa khắp các cõi. Tất cả đều vì làm rõ việc khai tâm cho hàng tục lụy, từ bi dẫn dắt hữu tình, làm lắng tâm chúng sinh các cõi.
36.4.19. Các việc ghi trong truyện Đạo Tuyên luật sư cảm ứng. Truyện ghi: “Luật sư hỏi một vị trời:
- Chùa Hà Đông ở Kinh châu là ngôi chùa rất lớn ở Trung Quốc. Tôi và pháp sư Tung ở chùa Từ Ân có giao tình nhiều năm. Vị ấy là đệ tử pháp sư La-vân ở Hà Đông. Chùa ấy từng có hàng vạn vị tăng, là ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc. Nghe điều đó, tôi rất vui mừng, nhưng không biết nguồn gốc của tên Hà Đông. Xin giải thích điều đó và nói rõ về ngôi danh thắng này!
Đáp: Khi nhà Tấn dời đô về phía nam, lúc ấy có Quách Phác là bậc đa văn tâu:
- Theo Chu phưởng địa đồ, Kinh Sở này khi xưa là kinh đô. Ban đầu định đặt kinh đô ở Hạp châu, nhưng ngặt vĩ quá gần núi nên thôi, do đó có tên là Nghi Đô. Dưới đến Tùng Tư, vùng đất này có địa thế giống như kinh đô, liền đào hầm cân đất, nhưng chê đất quá nhẹ, lấp lại hố cũ không đủ đất. Vì thế, vua liền cho dừng lại và nói:
- Vận khí đế vương tại Kim Lăng ngày xưa đến nay vẫn còn, chắc chắn sẽ kéo dài được ba trăm năm.
Rồi vua liền hạ lệnh đóng đô ở Kiến Nghiệp và vùng đất ấy được đặt thành quận Hà Đông, đồng thời dời bốn họ Bùi, Tiết, Liễu, Đỗ về sinh sống ở đó. Vì vùng đất này nằm ở vùng gấp khúc của dòng Trường giang giống như vùng gấp khúc của Hoàng hà ở Bồ châu, nên gọi là Hà Đông.
Ở đây có chùa Đông và chùa Tây. Ngày xưa vua Phù Kiên chinh phạt nước Tấn, cả vùng bờ phía bắc Kinh châu đều thuộc nước Tần. Bấy giờ, Hoàn Trọng giữ chức Kinh châu mục, ông thỉnh pháp sư Dực qua sông xây dựng chùa Đông, mời chư tăng chùa Trường Sa trụ và xây chùa Tây mời chư tăng chùa Tứ Tăng trụ.
Sau khi vua Phù Kiên qua đời, bờ bắc lại thuộc về nhà Tấn. Chư tăng chùa Trường Sa và chùa Tứ Tăng đều trở về chùa cũ. Chùa Đông, chùa Tây y theo nền cũ xây dựng rộng lớn hơn. Từ đời Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, tăng đồ ở đây thường có vài trăm vị. Đến cuối đời Trần, đầu đời Tùy (579-581), chùa này có ba nghìn năm trăm tăng, vài nghìn tịnh nhân, mười ba gian đại điện. Chỉ riêng hai hàng trụ để đỡ xà ngang đã dài đến năm mươi lăm thước, loan lư nhiều lóp. Kinh quán trong nước do ngài Di Thiên Thích Đạo An sai đệ tử là pháp sư Dực xây dựng. Từ đời Tấn đến đời Đường chùa chưa từng bị hư hoại. Trước chùa có bốn cái vạc sắt lớn, mỗi cái có sức chứa hơn mười hộc để trồng hoa sen. Ngôi tháp trước điện Phật do Tiều vương Lưu Nghĩa Quý đời Tống xây dựng. Trong tháp có sẵn tượng Phật do thợ ở trời Đao-lợi tạc. Trong điện Phật, phần nhiều là tượng bàng vàng và đồng, màn báu có thêu hình tiên nhân bay, chân châu, vòng hoa do chư thiên cõi Tứ Thiên Vương làm.
Chúng tăng trong chùa gồm chủ và khách hơn một vạn người. Năm mươi ba người đảm nhiệm việc giảng kinh; mười ba vị chứng thánh quả, mỗi vị lãnh đạo một nghìn vị tăng. Ngoài ra, hơn năm trăm tiểu pháp sư. Có bốn mươi luật sư của phái Luật Thập Tụng, trong đó chín người chứng thánh quả. Hơn tám trăm thiền sư Đại - Tiểu thừa, với hai trăm hai mươi bốn vị đắc quả thánh. Còn những đồ chúng tu hành nghiêm tịnh thì không thể kể hết.
Theo quy định trong chùa, người nào tụng sáu mươi trang kinh được miễn làm Duy-na, tụng được một bộ kinh Pháp hoa miễn làm trực tuế. Tăng phòng năm tầng và đều có bảy gian; hơn mười biệt viện lớn nhỏ. Hai viện Bát-nhã và Phương Đẳng vô cùng trang nghiêm. Vào mùa hạ thường có một nghìn vị tăng. Phòng ốc trong chùa và ở hành lang chung quanh không dưới một vạn gian. Chùa mở ba cổng, mỗi cổng gồm hai tầng, bảy gian. Điện đường hai bên được bố trí theo chiều ngang, không xây tầng, vì căn cứ theo kết cấu địa tầng mà xây dựng, với mục đích giữ bền vững dài lâu. Do đó, đến nay đã ba trăm năm mà điện đường hoàn toàn không bị hư hỏng. Ngôi chùa này cao nhất vùng đất phía đông. Chùa chiếu sáng cả một vùng sông nước, thật xứng là một ngôi già-lam hùng vĩ.
Lại hỏi:
- Di Thiên Thích Đạo An được người bốn phương kính ngưỡng và nói: “Đạo An cưỡi lừa đỏ, sáng tối đều thấy ở Kinh, Tương, nhưng chưa rõ việc ấy thế nào?”.
Đáp: Không thật!
Hỏi: Nếu vậy, vì sao trên chùa Đông có Lư đài, phía nam núi Hiện có thôn Trung Lư? Theo đây thì nhất định có việc cưỡi lừa.
Đáp:
- Không phải! Người đời sau xây đài ở trong khuôn viên chùa và trồng cây để cúng dường. Hoặc là do người ta cột những con lừa bên cạnh điện Phật!
Gọi Trung Lư là vì nó là vùng đất cũ của nước Lư, nước Si ngày xưa. Người đời sau không học, nên mới nghĩ sai như vậy.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục