PUCL QUYỂN 33 - CHƯƠNG TẠO PHÚC
12/11/2015
QUYỂN 33 Quyển này có một chương Tạo phúc. 27. CHƯƠNG TẠO PHÚC 27.1. LỜI DẪN Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả r...

QUYỂN 33
Quyển này có một chương Tạo phúc.
27. CHƯƠNG TẠO PHÚC
Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả rõ chân dung, khéo bày diệu tướng, cho nên tượng phóng quang, hiện điềm lành, rời tòa đỉnh lễ Phật. Đến như hai tháp thờ tóc và móng tay, hai đài thờ y và ảnh của Phật đều được xây dựng lúc Phật còn tại thế.
Khi Đức Phật thị tịch bên bờ sông, làm lễ trà-tì trong rừng, tám nước đều xin thỉnh xá-lại về xây thấp phụng thờ; tám tháp ấy và hai tháp thờ bình và tro, cộng thành mười tháp. Tại bốn nơi: đản sinh, thành đạo, thuyết pháp đầu tiên, nhập niết-bản cũng như búi tóc, xương đỉnh đầu, bốn chiếc răng, hai dấu chân, bình bát, tích trượng, binh nhổ, niết-bàn-tăng v.v... của Đức Phật đều được dựng tháp, khắc bia ghi lại việc thần dị.
Hơn một trăm năm sau, vua A-dục sai sứ vượt biển, phá các tháp ở rải rác khắp nơi, thâu lấy xả lợi.
Khi đoàn người trở về gặp sóng to gió lớn, một ít xá-lợi bị rơi xuống biển, nên ngày nay thỉnh thoảng có người bắt gặp xá-lợi trong bụng những loài sống ở biển. Sau đó, vua A-dục xây dựng tám vạn bốn nghìn ngôi tháp để tôn thờ xá-lợi.
Hai người con của vua lần lượt phát tâm thanh tịnh, cũng tạc đá, đúc tượng vàng, họa vẽ tôn dung, rồi mang những tượng Phật ấy qua sông vượt biển đến giáo hóa các nước ở phương đông. Tuy có những dấu tích linh ứng, nhưng còn ẩn kín, chưa hiển lộ cho người hay biết.
Mãi đến khi Thái Âm, Tần Cảnh từ Tây Vực trở về, mới bắt đầu truyền họa tượng Phật Thích-ca trên lụa và thờ ở, đài Thanh Lương cũng như ở Thọ lăng. Từ đó về sau, mọi người tranh nhau họa vẽ hình tượng Phật, xây dựng tháp miếu. Đến đời Lương (502-557), Phật pháp càng hưng thịnh.
Nhưng pháp thân vốn không có hình tướng, nhân cảm nên ứng hình. Vì cảm có sai khác nên ứng hình cũng không đồng. Nếu như tâm trí mờ mịt thì chân hình ẩn mất, chí nguyện tha thiết thì gỗ đá cũng mở lòng. Nên Lưu An chí hiếu được cảm ứng trên nôi đồng hiện bài minh. Đinh Lan tâm thành, tượng mẹ bằng gỗ cũng biến sắc. Lỗ Dương múa giáo khiến mặt trời xoay chuyển. Kỉ Phụ rơi lệ khiến thành quách sụp đổ. Đó đều do lòng thương cảm chuyển vào tính tình, nên khiến điềm lành hiện rõ.
Thế mới biết, đạo do người lưu truyền, thần nhờ vật cảm mà hiện, lẽ nào dối gian sao? Vì thế, cúng thần như thần đang hiện hữu thì thần hiển linh; kính tượng như kính Phật thì pháp thân ứng hiện. Cho nên, ngưới học đạo phải lấy trí tuệ làm gốc, trí tuệ phải lấy phúc đức làm nền. Giống như chim nhờ có đủ hai cánh mới bay cao vạn tầm, xe nhờ đủ hai bánh mới chạy xa nghìn dặm. Há không siêng năng, không nỗ lực mà được ư?
27.2. TẠO PHÚC
Kinh Phật thuyết phúc điền ghi: “Đức Phật bảo trời Đế Thích:
- Có bảy pháp bố thí rộng lớn, gọi là phúc điền. Người thực hành bảy pháp này được sinh lên Phạm thiên. Bảy pháp:
1- Xây dựng chùa tháp, phòng tăng, giảng đường.
2- Tạo vườn cây ăn trái, xây hồ tắm, trồng cây che bóng mát.
3- Thường cấp thuốc men cửu chữa người bệnh.
4- Làm thuyền bè vững chắc đưa người sang sông.
5- Xây dựng cầu cống giúp người già yếu qua sông.
6- Đào giếng dọc đường để người đi đường đỡ khát.
7- Xây nhà xí dọc đường để tiện cho người đi đường.
Bấy giờ, trong hội chúng có tì-kheo Thính Thông, sau khi nghe pháp, sinh tâm hoan hỉ, bạch Phật:
- Nhớ đời trước con là một trưởng giả ở nước Ba-la-nại, từng xây dựng tinh xá bên đường lớn và sắm sửa giường nằm, thức ăn, nước uống để cung cấp cho chúng tăng và những người lỡ đường có nơi ăn uống ngủ nghỉ. Nhờ công đức ấy, sau khi mạng chung con sinh lên trời làm Đế Thích, lại sinh xuống nhân gian làm Chuyển luân vương thống lĩnh trời người, sinh lên sinh xuống ba mươi sáu lần. Trải qua chín mươi mốt kiếp, dưới bàn chân mọc lông, đi trên hư không, do phúc đức mà thức ăn tự nhiên có. Nay gặp Thế Tôn, thương tưởng chúng sinh, giúp con đoạn trừ ngu muội, dứt nguồn sinh tử, được trí tuệ thanh tịnh, chứng quả A-la-hán. Nhờ công đức, phúc báo mà thành tựu quả vị đó.
Tì-kheo Ba-câu-lô bạch Phật:
- Con nhớ, thuở xưa con làm một vị trưởng giả ở nước Câu-na-kiệt. Khi ấy, ở đời không có Phật, chỉ có chúng tăng giáo hóa, mở đại hội thuyết pháp. Con đến nghe giảng, sinh tâm hoan hỉ và dâng cúng chúng tăng một trái ha-lê-lặc làm thuốc. Nhờ quả báo đó, sau khi mạng chung được sinh lên cõi trời. Khi phúc trời đã mãn sinh xuống nhân gian thì thường ở chỗ tôn quý. Sống trong cõi người trải qua chín mươi mốt kiếp, không hề bệnh tật. Nay nhờ những dư phúc ấy mới được gặp Phật, chứng quả A-la-hán.
Tì-kheo Tu-đà-da bạch Phật:
- Con nhớ, thuở xưa con làm một người dân thường ở nước Duy-da-li. Bấy giờ, ở đời không có Phật, chỉ có chúng tăng giáo hóa. Một hôm, con mang sữa ra chợ bán, trên đường đi gặp lúc chúng tăng mở đại hội giảng pháp. Con ghé lại nghe, sinh tâm hoan hỉ nên dâng bình sữa cúng dường chúng tăng. Chúng tăng nhận bình sữa và chú nguyện khiến con càng vui mừng hơn. Nhờ phúc báo ấy, sau khi mạng chung được sinh lên trời. Khi phúc trời hết sinh xuống nhân gian thì thường ở chỗ tôn quý. Kiếp thứ chín mươi mốt, do nghiệp xưa sót lại, nên khi sinh xuống nhân gian, mẹ con mang thai được vài tháng thì mắc bệnh qua đời. Mặc dầu, con cũng bị chôn theo mẹ, nhưng ngày đầy tháng đủ vẫn được sinh ra. Con ở trong mồ bảy năm, sống nhờ uống sữa trên thi thể của mẹ. Nhờ một chút phúc đó nay được gặp Phật, chứng quả A-la-hán.
Tì-kheo A-nan bạch Phật:
- Con nhớ, thuở xưa con là một người dân thường ở nước La-duyệt-kì. Lúc ấy, thân thể con mọc mụn độc trị mãi không lành. Bấy giờ, có một đạo nhân trong thân tộc nói với con: ‘Ông chuẩn bị nước để chúng tăng tắm, rồi lấy nước đó rửa thì mụn độc sẽ lành, lại được phúc đức’. Con nghe vậy, vô cùng vui mừng liền vào chùa, chuyên tâm nhất ý, đào giếng, nấu nước thơm, chuẩn bị đầy đủ để chúng táng tắm, rồi lấy nước ấy rửa mụn độc mong lành bệnh. Nhờ phúc đức ấy, đời đời sinh ra được thân xinh đẹp, có ánh sáng màu vàng, không đính bụi dơ; trải qua chín mươi mốt kiếp thường được phúc đức thanh tịnh. Nhờ phúc đức ngày càng tăng trưởng, nay được gặp Phật, tâm cấu uế đoạn trừ, chứng quả A-la-hán.
Bấy giờ, trong chúng có tì-kheo ni Nại Nữ bạch Phật:
- Con nhớ thuở xưa con là một người nữ nghèo ở nước Ba-la-nại. Lúc ấy, có Đức Phật Ca-diếp xuất hiện ở đời, đại chúng ngồi vây quanh nghe Ngài nói pháp. Con cũng có mặt trong pháp hội nghe kinh, lòng rất hoan hỉ, muốn cúng dường Phật và chúng tăng, nhưng nhớ lại mình chẳng có vật gì. Tự nghĩ mình nghèo hèn mà lòng càng buồn bã, con liền đến vườn người xin một quả dưa để dâng cúng Phật, nhưng lại xin được một quả nại lớn và thơm ngon. Con liền lấy một bát nước đầy và trái nại đó dâng cúng Phật Ca-diếp và chúng tăng. Phật biết ý con nên thụ nhận, chú nguyện và chia đều nước, trái cây cho tất cả mọi người. Nhờ phúc lành ấy, sau khi mạng chung sinh lên trời làm thiên hậu. Khi tuổi thọ ở trời hết, sinh xuống nhân gian không sinh từ bào thai. Trải qua chín mươi mốt kiếp con đều sinh ra trong hoa nại, thân hình xinh đẹp, thuần khiết và thường biết được đời trước. Nay con gặp được Thế Tôn, nhờ Ngài chỉ dạy, nên chứng được đạo nhãn.
Thiên đế từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật, quỳ gối chắp tay bạch:
- Bạch Thế Tôn! Con nhớ, thuở xưa con làm con của một vị trưởng giả ở nước Câu-lưu. Một hôm, người hầu bồng con vào thành dạo chơi, bỗng gặp chúng tăng đi khất thực, thấy rất nhiều người cúng dường, con thầm nghĩ: ‘Ước gì mình có tài bảo cúng dường chúng tăng, hẳn không vui sao?’. Con liền cởi chuỗi báu trên người cúng dường, chúng tăng hoan hỉ thụ nhận, chú nguyện và đi tiếp. Nhờ nhân duyên đó, sau khi mạng chung, con được sinh lên trời làm thiên đế, chín mươi mốt kiếp thường xa lìa tám nạn.
Phật bảo Thiên đế và đại chúng:
- Hãy lắng nghe những việc đời trước của Ta! Thuở xưa, tại nước Ba-la-nại, Ta thường xây nhà xí dọc đường, giúp người dân trong nước có chỗ đại tiểu thuận tiện. Do đó, mọi người đều cảm mến Ta. Nhờ công đức ấy, đời đời thanh tịnh,
nhiều kiếp hành đạo trong đời ác mà không bị nhiễm ô, thân có màu vàng rực rỡ, không dính bụi nhơ, ăn vào tự tiêu hóa, không có việc đại tiểu tiện.
Phật bảo thiên đế:
- Phật đạo là tôn quý nhất trong chín mươi sáu đạo, Phật pháp chân thật nhất trong chín mươi sáu pháp, chúng của Phật chân chính nhất trong chín mươi sáu chúng. Vì sao? Vì Như Lai từ vô lượng a-tăng-kì kiếp phát nguyện chân thật, xả bỏ thân mạng, tu nhân tích đức, nguyện vì chúng sinh tu sáu pháp ba-la-mật và thực hành bốn tâm vô lượng, làm tất cả việc lành, thành tựu trí tuệ, là bậc Chí tôn trong ba cõi, không ai sánh bằng. Nếu có chúng sinh nào phát tâm thành kính đối với Như Lai thì được phúc đức hơn cả phúc báo do bố thí châu báu trong đại thiên thế giới. Như Lai giảng nói ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mười hai thể loại kinh, phân biệt tội phúc thảy đều chân thật. Ngài chỉ bày pháp ba thừa để chúng sinh tu tập. Vì thế, người nghe sinh tâm hoan hỉ, nguyện làm sa-môn, tin Phật tu pháp, ý chí thanh cao, không còn tham tiếc danh lợi, phúc báo thế gian. Trời người biết được tội phúc là nhờ chúng tăng giáo hóa vậy. Đó là đạo tôn quý nhất, không có đạo nào cao hơn!”.
27.3. PHÁT KHỞI LÒNG TIN
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: ‘Thuở xưa, ngoài thành Xá-vệ có một phụ nữ tin sâu Tam bảo, giữ giới trọn vẹn. Một hôm, Đức Phật đến nhà khất thực, bà đặt cơm vào bát cúng dường và đỉnh lễ Phật. Phật dạy:
- Trồng một sinh mười, trồng mười sinh trăm, trồng trăm sinh nghìn, trồng nghìn sinh vạn, trồng vạn sinh ức cho đến thấy được đạo quả!
Nhưng chồng của bà không tin Phật, ông đứng sau vợ lắng nghe. Đức Phật chú nguyện xong, người chồng nói:
- Sa-môn Cù-đàm nói quá lời rồi! Làm gì chỉ bố thí một bát cơm mà được phúc nhiều như vậy, lại còn thấy được đạo nữa!
Đức Phật hỏi:
- Ông từ đâu đến?
Người chồng đáp;
- Tôi từ trong thành đến.
Đức Phật hỏi:
- Ông biết cây Ni-câu-đà cao bao nhiêu không?
Người chồng đáp:
- Cao khoảng bốn năm dặm, mỗi năm rụng vài vạn đấu hạt.
Đức Phật hỏi:
- Hạt nó lởn hay nhỏ?
Người chồng đáp:
- Bằng hạt cải.
Đức Phật nói:
- Ông nói quá lời rồi! Làm gì có việc gieo một hạt cải mà mọc thành cây cao bốn năm dặm, mỗi năm rụng mấy chục vạn hạt.
Người chồng nói:
- Mọi người đều thấy đúng như vậy.
Đức Phật nói:
- Đất vô tri mà còn có năng lực như vậy, huống gì người là hữu tình.
Người chồng nghe Đức Phật nói, tâm hoan hỉ dâng cúng Phật một bát cơm. Do phúc rất lớn không thể tính được, nên vợ chông đều tỏ ngộ và tức thời chứng quả Tu-đà-hoàn”.
Luận Đại Trí độ ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm, Ngài cùng tôn giả A-nan từ thành Xá-bà-đề đến thành Bà-la-môn. Bấy giờ, vua của thành Bà-la-môn tin theo ngoại đạo, nghe Phật sắp đến liền ban lệnh cấm: ‘Nếu ai cúng dường thức ăn, tiếp chuyện với Phật sẽ bị phạt năm trăm đồng tiền vàng’.
Không lâu sau, Phật đến, vào thành khất thực, mọi người đều đóng cửa, Đức Phật và tôn giả A-nan ôm bát không ra khỏi thành. Đang đi trên đường, Phật gặp một lão nô bưng một cái chậu bể đựng đầy nước vo gạo thối mang ra thành đổ. Bà lão thấy Phật tướng hảo, ôm bát không đi ra, muốn cúng dường Đức Phật. Đức Phật biết ý của bà nên đưa bát ra xin nước vo gạo đó, bà lão thành tâm mang đến cúng Đức Phật. Đức Phật thụ nhận rồi nói với tôn giả A-nan: ‘Nhờ sự cúng dường này mà lão nô đây trong mười lăm kiếp sinh ở cõi trời, cõi người hưởng phúc báo vui sướng, không đọa vào đường ác. Sau đó được làm người nam, xuất gia học đạo, chứng quả Bích-chi phật’.
Lúc ấy, có một bà-la-môn đứng gần đó, nghe Đức Phật nói, liền bảo:
- Ông là thái tử, con vua Tịnh Phạn, tại sao vì miếng ăn mà phải nói dối?
Ngay lập tức, Đức Phật lè lưỡi trùm kín mặt đến chân tóc và hỏi người kia:
- Ông thấy có người nào lưỡi dài như thế này mà nói dối không?
Bà-la-môn đáp:
- Giả sử có người lưỡi chỉ trùm mũi thôi còn không nói dối, huống chi Ngài lưỡi dài trùm kín mặt và đến chân tóc.
Nhân đó, vị bà-la-môn phát khởi lòng tin và bạch Phật:
- Nay tôi không hiểu, tại sao cúng dường ít mà được phúc báo nhiều?
Đức Phật hỏi:
- Ông từng thấy những việc hi hữu chưa?
Bà-la-môn đáp:
- Tôi từng thấy cây Ni-câu-đà, bóng của nó che mát cả năm trăm xe ngựa.
Đức Phật hỏi:
- Hạt của cây ấy lớn hay nhỏ?
Bà-la-môn đáp:
- Bằng một phần ba hạt cải.
Đức Phật hỏi:
- Ai dám tin lời ông?
Bà-la-môn nói:
- Sự thật là thế! Thế Tôn! Chính mắt tôi trông thấy như vậy, chẳng phải nói dối đâu!
Đức Phật nói:
- Ta thấy lão nô này thành tâm cúng dường Phật được quả báo lớn, cũng giống như cây này nhân ít mà quả báo thì nhiều.
Bấy giờ, bà-la-môn kia tỉnh ngộ, đối trước Phật sám hối. Đức Phật nói pháp cho nghe, ông liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Ông bỗng đưa tay lên và nói lớn:
- Này tất cả mọi người! Cửa cam lộ đã mở, tại sao không bước ra?
Ngay lập tức, mọi người cùng mở cửa, đem năm trăm đồng tiền vàng đến nạp cho vua và thỉnh Phật về nhà cúng dường, không chẩp hành lệnh cấm. Sau đó, vua và quần thần cũng quỵ y theo Phật. Phật thuyết pháp cho họ nghe, tất cả đều chứng được đạo quả. Vì nhân duyên đó, nên những lời Như Lai nói không hề hư dối, quả báo thiện ác nhất định phải nhận, không thể sai. Vì thế, tất cả chúng sinh nên tin và thực hành”.
Kinh Thí dụ ghi: ‘Thuở xưa, có hai tì-kheo đều chứng quả Tu-đà-hoàn. Một vị thường đi khuyến hóa thụ nhận của tín thí mang về làm phúc, cúng dường chúng tăng. Vị kia chỉ chuyên tọa thiền tự giữ tâm ý, không thích làm phúc. Bấy giờ, vị tọa thiền hỏi vị đi khất thực:
- Sao không tọa thiền mà tự làm khổ mình?
Vị tu phúc nói:
- Đức Phật thường dạy các tì-kheo phải thường thực hành hạnh bố thí.
Sau đó, hai vị qua đời, đều sinh vào nhà trường giả. Nhưng vị hay tu phúc, bố thí thì làm con của trưởng giả, được nô tì hầu hạ, cung cấp y phục, thức ăn uống đầy đủ, sống đời vui vẻ, sung sướng. Còn vị chuyên tọa thiền thì sinh làm con của kẻ
nô tì, ngồi một mình giữa bãi đất trống, đói khát, gào khóc. Hai người đều biết được đời trước của mình.
Bấy giờ, con vị trưởng giả nói với con của kẻ nô tì:
- Tôi đã khuyên anh nên tu phúc, bố thí, nhưng anh không nghe, đó là lỗi của anh, sao lại khóc?
Thời gian sau, cả hai đều đã trưởng thành. Một hôm, con của vị trưởng giả đánh xe ra thành dạo chơi, nên tất cả đầy tớ trong nhà và con của kẻ nô tì kia cũng theo hầu.
Sau đó, cả hai đều xuất gia, chứng quả A-la-hán. Khi ấy, con của vị trưởng giả chuyên tâm tọa thiền, mà mọi người tranh nhau dâng cúng y phục, vật thực. Con của người nô tì luôn ra ngoài khất thực, nhưng chẳng ai cúng dường, nên thường bị đói khát.
Vì nhân duyên đó, nên người tu hành không chỉ trì giới, tọa thiền, tụng kinh mà còn phải thực hành hạnh bố thí, làm các việc phúc đức!”.
Vì thế, trong kinh Đại Ái Đạo, Đức Phật có nói kệ:
Ngày đêm không chịu học
Mắt không nhìn thấy gì
Hễ động thì gây tội
Càng ngày thêm lún sâu
Tự chôn vùi thân mình
Chịu đủ mọi khổ đau
Bỏ thân không trở lại
Dẫn mạng vào Thái sơn
Thụ tội ở địa ngục
Đau đớn thật khó khăn
Lúc sống không gắng học
Chết rơi vào vực sâu
Già vẫn ham dâm dục
Thân mạng ở thế gian
Chỉ trong một hơi thở
Cớ sao không quí tiếc
Tự thực hành sám hối
Giữ mình cho trong sạch
Đời nay diệt được tội
Đời sau được rảnh rang
Của cải nhiều không thí
Đời đời chịu nghèo hèn.
27.4. SO SÁNH
Kinh Tu-đạt ghi: “Thế Tôn nói với trưởng giả Tu-đạt:
- Có cư sĩ thực hành bố thí, nhưng không tin, không đúng lúc, không tự tay bố thí, không đến tận nơi bố thí; cũng không biết, không tin, không biết có nhân duyên, quả báo mà vẫn bố thí. Nên biết, người kia được quả báo không được như ý.
Vào thời quá khứ, có vị bà-la-môn Tì-lam rất giàu có, của cải vô số. Một hôm, ông mở hội bố thí lớn, dùng tám mươi bốn nghìn bát vàng đựng đầy bạc vụn, tám mươi bốn nghìn bát bạc đựng đầy vàng vụn, tám mươi bốn nghìn bát vàng đựng đầy vàng vụn, tám mươi bốn nghìn bát bạc đựng đầy bạc vụn, tám mươi bốn nghìn con voi trắng như tuyết, tám mươi bốn nghìn con ngựa che bằng lọng vàng, tám mươi bốn nghìn con trâu cho sữa đầy bình; tám mươi bốn nghìn ngọc nữ xinh đẹp, trang sức chuỗi ngọc. Bố thí như thế nhiều không thể tính đếm. Cư sĩ Tì-lam giàu có và bố thí cho tất cả mọi người khắp cõi Diêm-phù-đề, nhưng phúc đức không bằng người cúng dường cho một tiên nhân; cúng cho tiên nhân, phúc đức không bằng cúng cho một vị tu-đà-hoàn; cúng cho một vị tu-đà-hoàn, phúc đức không bằng cúng cho một vị tư-đà-hàm; cúng cho một vị tư-đà-hàm, phúc đức không bằng cúng cho một vị a-na-hàm; cúng cho một vị a-na-hàm, phúc đức không bằng cúng cho một vị a-la-hán. Cúng cho một trăm vị tu-đà-hoàn, không bằng cúng cho một vị tư-đà-hàm; cúng cho một trăm vị tư-đà-hàm không bằng cúng cho một vị a-na-hàm; cúng cho một trăm vị a-na-hàm không bằng cúng cho một vị a-la-hán; cúng cho một trăm vị a-la-hán không bằng cúng cho một vị bích-chi phật; cúng cho một trăm vị bích-chi phật, phúc đức không bằng cúng cho đức Như Lai Vô Sở Trước Chính Đẳng Chính Giác.
Cư sĩ kia bố thí như thế cho tất cả người ở cõi Diêm-phù-đề, cho đến cúng dường cho một trăm vị bích-chi phật, phúc đức không bằng xây dựng phòng xá cúng dường cho chiêu-đề tăng; cúng cho chiêu-đề tăng, phúc đức không bằng dùng tâm thanh tịnh quy y Tam bào, thụ trì giới cấm; quy y Tam bảo và thụ trì giới cấm, phúc đức không bằng đối với một chúng sinh mà khởi lòng từ bi, dù chỉ trong chốc lát; đối với tất cả chúng sinh mà khơi lòng từ bi dù chỉ trong chốc lát, phúc đức không bằng người tư duy các hạnh vô thường, khổ, không, vô ngã trong khoảng khảy móng tay”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các tì-kheo:
- Có bốn phúc được sinh Phạm thiên, đó là:
1. Người tin Phật pháp, xây tháp ở những nơi chưa có tháp.
2. Người tin Phật pháp, tu sửa những chùa tháp cũ.
3. Người tin Phật pháp, làm cho thánh chúng hòa hợp.
4. Khi Phật sơ chuyển pháp luân, chúng trời người thỉnh Phật chuyển pháp luân.
Bấy giờ có tì-kheo bạch Phật:
- Phúc của Phạm thiên nhiều hay ít?
Đức Phật nói:
- Lấy tất cả công đức của chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề, lần lượt đến bốn thiên hạ, rồi đến trời Tha Hóa Tự Tại, cũng không bằng phúc của một vị Phạm thiên vương”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Có đàn việt cúng dường cho tì-kheo Xiển-na ba mươi vạn tiền để xây một căn phòng lớn, nhưng vừa xây xong thì bị sụp đổ. Vì tốn nhiều tiền tài, công sức, nên đàn việt kia thối tâm. Bấy giờ, các tì-kheo nói pháp cho đàn việt kia nghe và bảo: ‘Tuy phòng ốc bị sụp đổ, nhưng công đức đã thành tựu. Vì trước khi phòng sụp đổ, Đức Phật đã đến ở, tức là thụ dụng rồi. Phật là bậc vô thượng phúc điền, Ngài đã thụ dụng thì chắc chắn đàn việt được vô lượng công đức, không thể tính được.
Hơn nữa, khi phòng vừa xây xong, có một tì-kheo trẻ tuổi mới thụ giới vào ở; vị ấy giới đức thanh tịnh, tức là đã báo xong ân đức của đàn việt. Nếu xây dựng xong nhiều phòng ốc trang nghiêm, lát đá Kim cang, cao rộng lộng lẫy, giống như núi Tu-di, được một tì-kheo giữ giới thanh tịnh, tạm thời thụ dụng, tức là đã báo đáp ân đức của thí chủ. Vì giới là pháp xuất thế gian, là con đường hướng đến niết-bàn. Không như phòng xá, ngọa cụ, vật thực, thuốc men chỉ là pháp thế gian, chẳng phải là pháp xuất thế”.
27.5. TU TẠO
Nếu muốn tu sửa phải làm đúng như pháp, dù làm ít nhưng được vô lượng phúc. Nếu không đúng pháp, dù làm nhiều cũng không có lợi ích gì.
Kinh Phật tại kim quan kính phúc ghi: “Đừng cho rằng mình là người chủ in kinh, tạo tượng, thuê người làm. Người làm cũng không nên nghĩ mình là kẻ đúc thuê, viết thuê. Vì người có công khắc tượng và người cúng dường tiền của đều được phúc không thể tính kể. Nếu muốn nói phúc đức ấy, trọn kiếp cũng không hết được. Người nào làm đúng như pháp mới đích thực là đệ tử của Phật. Với lòng chí thành như thế, dù làm ít nhưng được phúc rất nhiều.
Hỏi: Thông thường người làm nghề khắc kinh, tạc tượng là vì muốn nhận thù lao công sức, vậy có nên định giá không?
Đức Phật dạy:
- Không nên định giá. Vì như vậy sẽ giống như con bán cha mẹ lấy tiền. Người này phạm tội nghịch rất nặng, chính là thiên ma, nên mau ra khỏi Phật pháp của ta, chẳng phải quyến thuộc của Ta. Những kẻ uống rượu, ăn thịt và ăn năm thứ cay nồng, làm trái thánh giáo, dù khắc kinh, tạc tượng nhiều như cát bụi thì phúc đức cũng rất ít. Gặp kiếp thiêu, không được vào cung của Hải long vương. Những
người ấy tuỵ làm cực khổ, nhưng công đức rất ít, chẳng những thế mà còn mang tội bất kính, chết đọa vào địa ngục.
Vì vậy, kẻ bỏ tiền của, người chịu công đều không có lợi ích gì, lại không được các vị trời ủng hộ. Không bằng người không khắc kinh, tạo tượng mà chỉ thành tâm lễ bái, vẫn được vô lượng phúc, như trước đã nói, làm nhiều mà phúc ít. Nếu tạc không đầy đủ các diệu tướng thì mẳc quà báo trong năm trăm vạn đời các căn không đầy đủ. Tốt nhât là khởi tâm chí thành, sẽ dược quả báo lành”.
Kình Tội phúc quyết nghi ghi: “Tăng ni và cư sĩ tự dùng tài bảo hoặc khuyến hóa được vật dụng mang dâng cúng Phật, nhưng người quản lí chùa lại đem số tiền ấy khắc đắp hình tượng chim thú rồi đặt trước Phật. Nếu tiêu tốn đủ năm tiền thì phạm tội nghịch. Nếu không trả lại đủ thì đọa vào địa ngục A-tì một kiếp. Nếu dùng tiền đó đổi lấy hương, dầu, đèn để cúng dường Phật thì không phạm. Mặc dù, Phật không tham cầu lợi dưỡng, nhưng không ai xứng đáng tiêu dùng tiền vật ấy.
Trước khi dâng cúng Phật thì thượng, trung, hạ tọa phải dạy cho hàng cư sĩ biết cúng Phật và tăng. Vì thế, những vật dâng cúng Phật rồi phân cho chúng tăng dùng thì không phạm. Nếu người nào không làm đúng như vậy, tự ý dùng tiền vật cúng Phật thì sẽ đọa địa ngục A-tì một nghìn ức năm. Nếu đàn-việt không làm đúng như lời thượng, trung, hạ tọa chỉ dạy, cũng mắc quả báo như trên đã nói. Nếu sinh lại nhân gian thì làm kẻ nghèo hèn chín trăm vạn năm. Vì sao? Vì tiền vật thuộc về Phật thì không ai có thể định giá được”.
* Lời bàn
Ở đây ý nói, thí chủ quyết định cúng riêng cho Phật thụ dụng, nếu ai muốn dùng thì phải chuộc lấy.
Như hiện nay, đến giờ thụ trai, người ta thường dâng cúng thức ăn, uống trên bàn Phật, thức ăn đó thuộc về tất cả chứ chẳng phải riêng của Phật tăng, nên sau khi ăn xong, trao lại cho thí chủ, không phải mang tiền chuộc lấy. Như vào ngày mười lăm tháng bảy hiến cúng Phật và tăng, nhưng không có Phật và tăng để thụ dụng, nếu ai muốn thì nên chuộc lại mà dùng.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Bấy giờ, vua ưu-điền vì thương nhớ Đức Phật, nên đúc tượng bằng vàng. Nghe tin Ngài sắp bước xuống thềm báu về nhân gian, vua cho voi chở tượng đến nghinh đón. Khi đến nơi, tượng vàng từ trên voi bước xuống giống như Đức Thế Tôn đang bước đi trên không, cũng có hoa báu đỡ chân, toàn thân phát ra ánh sáng đến nghinh đón và chắp tay đỉnh lễ Thế Tôn thật.
Lúc ấy, đức Thế Tôn cũng quỳ xuống chắp tay hướng về phía tượng, trăm nghìn hóa Phật trong hư không cũng đều quỳ xuống chắp tay, hướng về phía tượng. Đức Thế Tôn nói với tượng:
- Sau này ông làm rất nhiều Phật sự. Sau khi Ta diệt độ, tất cả đệ tử của Ta đều giao phó cho ông!_ Lúc ấy, tất cả hóa Phật trong hư không đều nói:
- Sau khi Phật diệt độ, nếu có chúng sinh nào tạo tượng phụng thờ, cúng dường, người ấy đời sau nhất định sẽ chứng được tam-muội Niệm Phật thanh tịnh”.
Ngoại quốc kí ghi: “Có lần Đức Phật lên cung trời Đao-lợi nói pháp độ thánh mẫu Ma-da suốt bốn mươi chín ngày. Trong thời gian đó, vua Ba-tư-nặc nhớ và muốn thấy tôn dung của Đức Phật, ông cho thợ dùng gỗ Ngưu Đầu chiên-đàn tạc tượng Như Lai và đặt lên chỗ Ngài thường ngồi. Khi Phật trở về tinh xá, tượng gỗ bước xuống tòa nghinh đón. Lúc ấy, Đức Phật nói với tượng:
- Hãy ngồi lại chỗ cũ! Sau khi Ta nhập niết-bàn, ông phải thay Ta làm các pháp sự cho bốn chúng! Nghe vậy, tượng Phật liền ngồi lại chỗ cũ. Tượng này là tượng đầu tiên.
Sau này Đức Phật dời sang tinh xá nhỏ, cách chỗ an trí tượng khoảng hai mươi bước. Tinh xá Kì-hoàn vốn có bảy tầng, các nước thay nhau cúng dường không dứt. Trong tinh xá luôn thắp đèn sáng, một hôm bị chuột kéo tim, đèn cháy thiêu đốt cờ phướn, lọng lụa và thiêu rụi tinh xá. Vua và nhân dân trong nước vô cùng buồn lo, đều cho rằng tượng Phật chiên-đàn đã bị cháy thành tro. Nhưng khoảng bốn năm ngày sau, mọi người mở cửa tinh xá nhỏ phía đông, thì thấy tượng chiên-đàn đã di chuyển sang đây. Mọi người vô cùng vui mừng, cùng xây dựng lại tinh xá. Khi dựng được hai tầng, họ thỉnh tượng về an trí lại vị trí cũ”.
Kinh ưu-điền vương tác Phật tượng hình ghi: “Khi xưa, Đức Phật còn ở đời, có vua nước Bạt-kì tên là Ưu-điền đến gặp Phật, cúi đầu đỉnh lễ và chắp tay bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Sau khi Ngài nhập diệt, nếu có người nào tạo hình tượng Phật, sẽ được phúc như thế nào?
Đức Phật bảo vua Ưu-điền:
- Người nào tạo hình tượng Phật sẽ được vô lượng công đức, không thể tính kể, đời đời sinh ra không rơi vào đường ác. Người ấy sinh lên cõi trời, cõi người đều được vui sướng, thân có ánh sáng màu vàng tía rực rỡ; mắt đen, mặt sáng, thân thể, tay chân xinh đẹp vô cùng, thường được trời người kính mến. Nếu người ấy sinh vào cõi người, thường làm con của các trưởng giả hiền thiện, quan đại thần, vua chúa, hoặc sinh vào những nơi giàu sang tôn quý; tài sản, châu báu nhiều không thể tính kể, được cha mẹ, anh chị em thương yêu. Nếu người ấy làm vua thì rất tôn quý, được vua các nước quý phục, thậm chí còn làm đến Chuyển luân thánh vương cai trị bốn châu thiên hạ, bảy báu tự nhiên có sẵn, con cái đông đúc, dạo đi khắp các cõi trời. Nếu người ấy sinh lên cõi trời thì làm vị trời tối thắng, đứng đầu cõi trời Lục Dục. Nếu người ấy sinh lên cõi Phạm thiên thì làm vị Đại Phạm vương đoan chính không ai bằng, hơn cả các Phạm thiên khác và thường được các Phạm thiên tôn kính. Sau cùng được sinh về cõi Vô Lượng Thọ, làm vị đại bồ-tát được tôn kính bậc nhất; trải qua vô số kiếp sẽ thành Phật và nhập niết-bàn. Nếu có người nào tạo hình tượng Phật thì nhất định sẽ được phúc báo như thế”.
Kinh Pháp hoa có bài kệ:
Nếu có người vì Phật,
Tạo lập các hình tượng,
Cho đến trẻ con giỡn,
Dùng cỏ cây và bút,
Hoặc dùng các mỏng tay,
Họa vẽ hình tượng Phật,
Những người như thế ấy,
Đều sẽ thành Phật đạo.
Kinh Tạo lập hình tượng phúc báo ghi: “Vua ưu-điền nước Câu-duy-la mới vừa mười bốn tuổi, nghe tin Đức Phật sẽ đến nước mình liền ra lệnh cho các vị cận thần ra đón Phật. Khi Đức Phật đến, vua đầu mặt lạy chân Phật, quỳ xuống chắp tay bạch:
- Bạch Thế Tôn! Trong cõi người, cõi trời không ai bằng Phật, hào quang của Ngài rực rỡ; chỉ có Ngài mới được như thế. Con sợ Phật đi rồi, sau này e khó gặp lại, nên nay con muốn tạo hình tượng Phật để cung kính phụng thờ. Xin Ngài hãy thương tưởng dạy cho con biêt, nếu kính thờ Phật thì sẽ được những phúc báo gì?
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp:
Đại vương nghe Ta nói,
Phúc của Vô Thượng Sĩ,
Thế gian không ai bằng.
Quả báo tạo tượng Phật,
Thường sinh nhà giàu sang,
Tôn quí không gì hơn,
Bà con thường yêu mến.
Quả báo tạo tượng Phật,
Thường có được thiên nhãn.
Xanh biếc không ai bằng.
Quả báo tạo tượng Phật,
Cha mẹ nhìn hoan hỉ,
Xinh đẹp, uy đức lớn,
Thương yêu không nhàm lìa.
Quả báo tạo tượng Phật,
Thân phát ánh sáng vàng,
Giống như tượng sư tử,
Chúng sinh thấy vui mừng.
Quả báo tạo tượng Phật,
Sinh vào dòng cao quý,
Sát-lợi, Bà-la-môn,
Làm hạng người có phúc.
Quả bảo tạo tượng Phật,
Không sinh nước biên địa,
Không mù, không xấu xí,
Sáu căn luôn đầy đủ.
Quả báo tạo tượng Phật,
Lúc chết biết đời trước,
Thấy Phật ở trước mặt,
Không biết khổ lúc chết.
Quả báo tạo tượng Phật,
Làm vị vua danh tiếng
Hoặc làm Chuyển luân vương,
Cai trị tứ thiên hạ.
Quả báo tạo tượng Phật,
Sẽ làm trời Đế Thích,
Thần túc, lĩnh nhị thiên
Cả Đao-lợi kính thờ.
Quả báo tạo tượng Phật,
Người ấy thoát cõi Dục,
Làm đến Phạm thiên vương,
Được Phạm chúng cung kính.
Quả báo tạo tượng Phật,
Hưởng phúc đúng như thế,
Hoặc khắc, vẽ tượng Phật,
Trời đất còn cân lường
Phúc kia không tính được.
Vì thế cúng dường Phật,
Dùng hoa, hương, nước thơm,
Cúng dường bậc Đại sĩ,
Được vô lậu giải thoát”.
Kinh Phó pháp tạng ghi: “Thuở xưa, cách đây chín mươi mốt kiếp, có Đức Phật Tì-bà-thi xuất hiện ở thế gian. Sau khi Đức Phật ấy nhập niết-bàn, bốn chúng đệ tử xây tháp bảy báu phụng thờ. Bấy giờ, trong tháp báu kia có thờ phọ tượng Phật thiếp vàng, trên mặt tượng bị bong một vết nhỏ. Khi ấy có người nữ nghèo đi khắp nơi xin được một chiếc nhẫn vàng, thấy mặt tượng như thế, bà muốn đắp lại.
Thuở ấy, tôn giả Ca-diếp là một thợ vàng, người nữ kia đên nhờ đắp lại vết bong tróc đó. Ca-diếp biết là việc phúc thiện nên vui vẻ nhận làm. Họ cùng nhau dùng số vàng xin được tu bổ mặt tượng rồi lập nguyện: ‘Nguyện cho chúng con thường làm vợ chồng, thân có màu vàng ròng và luôn được hạnh phúc an vui!’. Từ đó về sau, trải qua chín mươi mốt kiếp, thân họ thường có màu vàng ròng, sinh lên cõi trời, cõi người đều được niềm vui sướng tột cùng. Kiếp cuối cùng họ sinh lên cõi trời thứ bảy là Phạm thiên.
Bấy giờ, ở nước Ma-kiệt-đà có một người tên Ni-câu-luật-đà thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Người này nhiều đời làm phúc, nên sinh ra được thông minh, trí tuệ, lại rất giàu có, vàng bạc, bảy báu nhiều vô số; dê, trâu, nhà cửa, ruộng vườn, nô tì, xe cộ nhiều hơn vua Bình-sa gấp nghìn lần.
Vua Bình-sa có một nghìn cái cày vàng, bà-la-môn kia không dám làm bằng vua, sợ đắc tội nên chỉ làm chín trăm chín mươi chín cái. Nhà bà-la-môn có rất nhiều lụa, những loại thấp nhất có giá trăm nghìn lượng vàng. Ngoài ra, ông còn có sáu mươi thùng lúa vàng, mỗi thùng chứa ba trăm bốn mươi đấu. Tuy giàu sang, nhưng ông không có con nối dõi. Bên cạnh nhà ông có một cây lớn, cây ấy có thần cư trú, vợ chồng thường đến đó cúng tế cầu con, nhưng nhiều năm rồi vẫn không có. Vì thế, họ nổi giận nói: ‘Từ nay đến bảy ngày sau, chúng tôi hết lòng thờ cúng, nếu vẫn không linh nghiệm thì nhất định sể đốt cây này!’.
Thụ thần nghe vậy, vừa buồn vừa lo, thần bèn thưa với Tứ thiên vương. Tứ thiên vương nói với Đế Thích. Đế Thích xem khắp cõi Diêm-phù-đề, nhưng không thấy ai xứng để làm con họ. Đế Thích đến Phạm thiên vương trình lại việc trên. Phạm thiên vương dùng thiên nhãn xem khắp thì thấy có một Phạm thiên sắp mạng chung, liền đến nói với vị ấy và khuyên nên sinh vào nhà kia. Phạm thiên đó nhận lời, thác sinh vào nhà người bà-la-môn.
Người vợ mang thai đủ mười tháng, sinh ra một bé trai, tướng mạo khôi ngô tuấn tú, thân màu vàng ròng, ánh sáng phát ra chiếu xa bốn mươi dặm. Tướng sư đoán đứa bé này nhờ phúc đời trước, nên sẽ xuất gia. Cha mẹ đứa bé nghe vậy, vô cùng buồn bã. Họ bàn tính: ‘Chúng ta phải tìm cách gì để ngăn chặn ý định xuất gia của con!’. Họ lại suy nghĩ: ‘Người đời thường say đám nữ sắc, chúng ta nên tìm cưới cho nó một cô gái xinh đẹp để ngăn chặn ý định xuất gia’.
Khi người con được mười lăm tuổi, vợ chồng trưởng giả định cưới vợ, nhưng người con thưa: ‘Tâm con thanh tịnh không muốn cưới vợ!’. Nhưng vợ chồng không đồng ý. Biết khó thoái thác ý định của cha mẹ, nên người con nghĩ ra một kế và thưa răng: ‘Nếu cha mẹ có thể tìm được một người con gái xinh đẹp tuyệt trần, thân màu vàng tía thì con sẽ cưới làm vợ .
Vợ chồng liền triệu tập những vị bà-la-môn đi khắp nơi tìm kiếm người nữ như thế. Họ đúc một tượng người nữ bằng vàng ròng xinh đẹp lạ thường, đặt lên xe chở đi khắp nơi và rao lớn: ‘Nếu có người nữ nào thấy được tượng thần màu vàng này mà lễ bái thì về sau chắc chắn sẽ cưới được người chồng tốt, có thân hình màu vàng ròng, vô cùng xinh đẹp’.
Các cô gái nghe tiếng rao như vậy đều chạy ra xem, chỉ có một cô toàn thân màu vàng, xinh đẹp tuyệt trần không chịu ra, chính là người nữ ngày xưa cúng dường vàng tu bổ mặt tượng Phật. Vì thắng duyên xưa, nay cô có được thân vi diệu này, tâm ý thanh tịnh. Lúc ấy, các người nữ cố ép dẫn cô ra xem tượng vàng, nên cô thuận theo. Khi cô vừa đến thì ánh sáng màu vàng từ thân phát ra lấn áp cả ánh sáng của tượng vàng. Các vị bà-la-môn thấy cô gái, liền đến xin cưới cho con trai của thân chủ họ. Khi về nhà chồng, họ thật là xứng hợp, cả hai đều thanh tịnh, hoàn toàn không có tâm dục. Họ cùng nhau giao ước, mỗi người ở một phòng. Nhưng cha mẹ biết việc này nên phá một phòng và sai người chỉ đặt một cái giường.
Khi ấy, Ca-diếp nói với vợ:
- Nếu tôi ngủ thì nàng kinh hành, nếu nàng ngủ thì tôi kinh hành!
Một hôm, người vợ đang nằm ngủ, buông tay ra ngoài giường, có con rán bò vào phòng sắp cắn. Ca-diếp thấy vậy, lấy vải quấn tay rồi đỡ tay vợ đặt lên giường, vợ giật mình tinh giấc trách chồng:
- Chàng đã giao ước với thiếp là không được gần gũi nhau, sao nay chàng lén đụng tay thiếp?
Ca-diếp nói:
- Vì có con rắn vào phòng, sắp cắn tay nàng, nên tôi mới nhấc tay nàng đặt lên giường.
Ca-diếp chỉ con rắn cho vợ thấy thì nàng mới tin. Hai vợ chồng đều có khí tiết, nhàm chán thế gian nên thưa cùng cha mẹ xin xuất gia. Cha mẹ đồng ý. Hai vợ chồng liền đến chỗ Đức Phật cầu xin xuất gia. Phật bảo ngồi xuống và thuyết pháp cho họ nghe. Ca-diếp chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ ngồi. Người vợ sau đó cũng chứng quả A-la-hán.
Khi tôn giả Ca-diếp còn ở đời, thường được Như Lai phân tòa thuyết pháp. Sau khi Phật diệt độ, tất cả pháp tạng đều giao phó cho tôn giả Ca-diếp. Sau khi kết tập Tam tạng xong, tôn giả Ca-diếp vào núi Kê Túc nhập niết-bàn, toàn thân không tan rã. Tôn giả Ca-diếp ở trong núi Kê Túc đợi đến khi Đức Phật Di-lặc ra đời, tôn giả sẽ ra khỏi núi và ở trước đại chúng hiện mười tám thần biến độ người vô số. Sau đó ngài thị tịch, tương lai sẽ thành Phật hiệu là Quang Minh”.
Luận Trí độ ghi: “Vua Tịnh Phạn còn có một người con tên Nan-đà, là em của Phật. Nan-đà rất khôi ngô, tuấn tú, có ba mươi tướng quí. Vua Tịnh Phạn cưới nàng Tôn-đà-lợi cho Nan-đà. Tôn-đà-lợi là một cô gái sắc tuyệt mĩ hiếm có ở đời, Nan-đà ngày đêm say đắm không muốn xuất gia. Thấy vậy, Phật dùng phương tiện
khuyến hóa, Nan-đà xuất gia và chứng quả A-la-hán. Bấy giờ, các tì-kheo thấy Nan-đà có ba mươi tướng quí nên hỏi Phật:
- Tì-kheo Nan-đà đời trước gieo trồng phúc lành gì mà kiếp này sinh ra làm anh em cùng cha với Phật và có ba mươi tướng quí, thân thể đoan nghiêm, thế gian không ai bằng, lại bỏ đời sống giàu sang, xuất gia tu hành và chứng quả?
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Thuở xưa, cách đây chín mươi mốt kiếp, khi Đức Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn. Lúc ấy, Nan-đà là một đại trưởng giả, ông dùng thanh đại đắp lên tường tháp bích-chi phật, vẽ tượng bích-chi phật lên đó, rồi phát nguyện: ‘Nguyện cho con đời đời sinh vào nhà tôn quý, thường được dung mạo xinh đẹp, thân thể màu vàng, gặp Phật đắc đạo!’. Nhờ căn lành và công đức phát nguyện này, từ đó đến nay trải qua chín mươi mốt kiếp, không rơi vào đường ác, thường sinh lên cõi trời, cõi người đều được thân thể đoan chính, có ba mươi tướng quí, giàu sang, vui sướng vô cùng. Cho đến đời nay sinh ra làm anh em với Ta, xuất gia tu hành và đắc đạo”.
27.6. BỐ THÍ
Kinh Luân chuyển ngũ đạo ghi: “Đức Phật dạy:
- Phàm tạo công đức, nên tự thân làm lấy. Như đốt hương, làm phúc và chuyên đọc tôn kinh, không được nhờ người khác làm. Giống như cho người khác ăn, há mình tự no được sao?
Phải thường làm các việc như đốt hương, quét dọn, rót dầu, thắp đèn, thiết trai cúng dường, tụng kinh, bố thí. Bố thí thì được phúc và chư thiên thường hộ vệ, những điều ác tránh xa, chúng ma đều quy phục.
Người lười biếng, không chịu siêng năng làm thiện, một mai bệnh tật cũng chẳng được tốt lành. Đến lúc ấy mới hối hả đốt hương, làm phúc thì chư thiên chưa đến mà chúng ma đã ở trước mặt, tranh nhau nhiễu loạn, biến hiện ra các hình tướng quái dị. Vì thế, mọi người phải thường tinh tiến, tội phúc theo người như bóng theo hình. Gieo trồng ruộng phúc cũng giống như cây Ni-câu-loại, vốn trồng từ một hạt, ngày một lớn dần, lấy hạt vô số.
Đức Phật nói:
- Nan-đà bố thí một mà được nhiều gấp vạn lần, lời này thật không hư dối vậy._ Đức Phật lại nói kệ:
Hiền giả thích bố thỉ Thiên thần thường ủng hộ Thí một được gấp vạn An lạc và sống lâu Nay dáng cúng người lành Phúc ấy không thế lường Đều sẽ đắc Phật đạo
Độ thoát khắp chúng sinh
27.7. CÁC VIỆC PHÚC KHÁC
Luận Tát-bà-đa ghi: “Người làm phòng tăng, xây chùa tháp, tạo tượng, đào giếng bên đường, cho đến làm cầu cống, thuyền bè thì có công đức lớn. Nhờ công đức này nên sinh ra ở nơi nào cũng thường làm thí chủ giàu có, trừ ba lý do: một là việc làm bị hủy hoại, hai là chưa làm mà chết, ba là khởi tà ác. Không có ba lý do này thì được nhiều phúc đức”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Bố thí năm vật sau đây sẽ không được phúc:
1. Cho dao.
2. Cho thuốc độc.
3. Cho trâu rừng.
4. Cho gái dâm.
5. Xây dựng miếu cúng thần.
- Bố thí năm vật sau đây sẽ được phúc đức sinh vào cõi trời, người:
1. Tạo lập công viên.
2. Trồng rừng.
3. Xây dựng cầu đường.
4. Đóng thuyền lớn.
5. Xây dựng phòng xá, nhà nghỉ cho người qua lại.
Đức Phật nói kệ:
Lập vườn cho bóng mát,
Bắt cầu và đắp đường,
Đóng thuyền chở người qua,
Cùng xây xựng phòng xá,
Người ấy trong mọi thời,
Luôn luôn được phúc đức,
Giới định đã thành tựu,
Người này sẽ sinh thiên
Luật Tăng-kì ghi: “Các thiên tử dùng kệ hỏi Đức Phật:
Người nào sinh cõi thiện?
Người nào được sinh thiên?
Người nào cả ngày đêm,
Trưởng dưỡng công đức lành?
Đức Thế Tôn dùng kệ đáp:
Đào giếng nơi đường vắng,
Lập vườn cây ăn quả,
Trồng rừng cho bóng mát,
Bắt cầu, đóng thuyền bè,
Bố thí tu tịnh giới,
Trí tuệ bỏ xân tham,
Công đức ngày thêm lớn,
Thường sinh làm trời người
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu bố thí nước sạch cho mọi người, hoặc đậy miệng giếng, vì sợ ràn độc rơi vào khiến những người đi đường uống vào bị ngộ độc, thì sau khi chết được sinh lên trời Tam Không Hầu, hưởng năm thứ dục lạc. Khi thọ mạng hết, sinh làm thân người, được vua yêu mến.
Ai bố thí nước uống, của tiền cho người bị bệnh nặng, nói không ra tiếng, mạng sống sắp dứt, thì sau khi chết được sinh lên cõi trời Thâm Thủy hưởng niềm vui giống như Đế Thích. Khi thọ mạng cõi trời hết, tuy theo nghiệp thác sinh, nhưng không bị rơi vào ba đường ác, được làm thân người, đời đời sinh ra không bị bệnh khổ, không buồn phiền.
Nếu có chúng sinh nào trì giới, cúng dường quạt cho tì-kheo tăng, giúp được mát mẻ trong lúc tụng kinh thì sau khi chết, thì sẽ được sinh lên cõi trời Phong Hành, thường có hương thơm thổi đến, khiến được an vui không gì sánh bằng.
Nếu có chúng sinh tạo đường cầu, đóng thuyền, với tâm thiện giúp người trì giới và những người khác qua sông, họ cũng không làm điều ác thì sau khi chết người ấy sinh lên cõi trời Man Trì hưởng năm thứ dục lạc. Khi thọ mạng cõi trời hết, sẽ sinh vào cõi người được giao trông coi kho báu của vua”.
Kinh Thí dụ ghi: “Xưa có ba mẹ con thường làm ba việc:
1. Làm thuyền lớn đặt sẵn bên bờ để đưa mọi người qua sông.
2. Đào giếng nước sạch trong đô thị để cung cấp cho nhân dân.
3. Tại bốn cửa thành đều xây nhà xí để mọi người đại tiểu tiện.
Nhờ công đức này, ba người sau khi chết đều được sinh lên trời hưởng phúc tự nhiên, sinh xuống cõi người thì được giàu sang và sống lâu. Dù sinh ra nơi nào cũng không bị rơi vào trong ba đường ác.
Tạo phúc này tuy ít, nhưng được quả nhiều vô lượng, huống gì có người tu tạo nhiều công đức, dựng tháp xây chùa, lập đàn bố thí, làm các việc phúc thì phúc báo ấy gấp trăm nghìn vạn lần, không thể tính kể”.
Luận Thành thật trích dẫn một bài kệ trong khế kinh:
Nếu trồng rừng, vườn cây,
Đào giếng, xây dựng cầu,
Việc phúc người ấy làm,
Ngày đêm thường tăng trưởng.
Kinh Hoa thủ ghi: “Đức Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất:
- Bồ-tát thực hành bốn pháp sẽ không lui sụt quả vị Vô thượng bồ-đề,-đó là:
1. Nếu thấy chùa tháp hư hoại, nên dùng đất, hoặc vữa hồ cho đến một viên gạch tu sửa.
2. Xây tháp, tạc tượng ở ngã tư, nơi nhiều người nhìn thấy; trong tháp vẽ hình Đức Phật chuyển pháp luân, cảnh Phật xuất gia cho đến cảnh Phật nhập niết-bàn nơi Ta-la song thụ, tạo điều kiện cho mọi người nhớ nghĩ đến ân đức của Phật.
3. Nếu có hai nhóm tì-kheo tăng tranh cãi thì ân cần tìm đủ mọi cách giúp cho họ hòa hợp.
4. Nếu thấy Phật pháp sắp hoại diệt, phải thường đọc tụng, thuyết giảng kinh điển cho đến một bài kệ, giúp cho chính pháp không mất. Lại vì giữ gìn chính pháp mà cúng dường pháp sư, chuyên tâm hộ pháp không tiếc thân mạng.
Nếu bồ-tát thành tựu bốn pháp này thì đời đời sẽ làm Chuyển luân thánh vương, được thân hình cao lớn, có sức mạnh như Na-la-diên, lìa bỏ bốn thiên hạ mà phát tâm xuất gia, tu bốn Phạm hạnh một cách trọn vẹn. Sau khi chết, sinh lên trời làm Đại Phạm cho đến chứng quả Vô thượng. Cho nên người trí muốn cầu Phật đạo phải tu học như thế”.
Kinh Phóng ngưu ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Có mười một điều, nếu người chăn trâu không biết thì không chăn dắt và nuôi dưỡng trâu cho tốt. Đó là:
1. Không biết xem khí sắc của trâu.
2. Không biết xem tướng mạo.
3. Không biết tắm rửa.
4. Không biết chăm sóc vết thương,
5. Không biết xông khói hun muỗi.
6. Không biết chọn đường đi.
7. Không biết cách đối xử với trâu.
8. Không biết chọn nơi để trâu qua sông.
9. Khồng biết tìm chỗ cỏ ngon, nước trong mát cho trâu.
10. Không biết vắt sữa trâu, vắt mà không chừa lại.
11. Không biết phân biệt thức ăn nào nên cho và không nên cho trâu ăn.
Mười một việc như thế, nếu người chăn trâu không biết, thì không thể nuôi dưỡng, bảo vệ trâu, giúp trâu sinh sôi nảy nở, mà ngày càng tổn giảm.
Đây là dụ cho tì-kheo cũng có mười một pháp tổn hại (nhưng ở đây không trình bày).
Đức Phật liền nói kệ:
Người chăn trâu cẩn thận,
Là phúc của ông chủ,
Sáu con trong sáu năm,
Trở thành sáu mươi con,
Người chăn trâu thông minh,
Biết phân biệt các tướng...
Người chăn trâu như thế,
Đời trước Phật thường khen ”.
27.8. CHUẨN BỊ NƯỚC TẮM CHO TĂNG
Kinh Thí dụ ghi: “Vào ngày mồng tám tháng chạp, Đức Phật vận thần thông hàng phục bon lục sư ngoại đạo. Chúng đấu không lại Phật, bèn nhảy xuống sông tự tử. Phật lại thuyết pháp giáo hóa các ngoại đạo khác, họ đều quy phục, nên cùng nhau bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Ngài đã dùng nước chính pháp tẩy sạch hết những vết cáu bẩn trong tâm chúng con, nay chúng con thỉnh chư tăng tắm gội để trừ sạch những nhơ bẩn trên thân thể, và cũng lấy đây làm lệ thường”.
Kinh Ma-ha Sát-đầu21 có ghi: “Phật bảo mọi người:
- Chư Phật trong mười phương đều hạ sinh, xuất gia, thành đạo, nhập niết-bàn vào nửa đêm ngày mồng tám tháng tư.
Đức Phật lại bảo:
- Sở dĩ lấy ngày mồng tám tháng tư là vì trong khoảng giao thời giữa mùa xuân và mùa hè mọi tai ương đều tan biến, vạn vật sinh sôi, độc khí không xuất hiện, không nóng cũng không lạnh, khí hậu ôn hòa, nên chư Phật đều đản sinh trong ngày ấy.
Nhân dân trong nước đều ghi nhớ công đức của Phật, nên tắm gội tượng Phật như khi Ngài còn tại thế.
Lại vì muốn chỉ bày cho mọi người nên Phật nói:
- Khi còn làm bồ-tát, Ta đã từng làm vua trời Đế Thích ba mươi sáu lần, làm Kim luân vương ba mươi sáu lần, làm Phi hành hoàng đế ba mươi sáu lần.
Ngày nay, người có lòng thành nhớ nghĩ đến ân Phật Thích-ca, dùng nước thơm tắm gội tượng Phật, người đó sẽ được phúc tối thắng, được chư thiên, quỉ thần chứng minh. Phép tắm Phật ngày mồng tám tháng tư nên dùng ba loại hương như đô lương hương, hoắc hương và ngãi nạp hương. Hòa ba loại hương này lại rồi ngâm trong nước sẽ ra màu xanh. Nếu ba loại hương trên không đủ, có thể dùng tần bì màu tía xanh để thay. Lại lấy uất kim hương vò nát và ngâm trong nước thì sẽ ra màu đỏ. Lấy nước sạch rưới trên tượng xong, rồi dùng lụa trắng lau khô. Sau cùng, kiểm tra lại rồi lấy nước hương trên rưới lên tượng. Đây mới là thanh tịnh, được phúc báo đệ nhất”.
Kinh Ôn thất ghi: “Đức Phật bảo trưởng giả Kỳ-vực:
- Khi tắm gội phải chuẩn bị đủ bảy thứ thì trừ được bảy bệnh, được bảy phúc báo. Bảy thứ là lửa, nước sạch, tháo đậu, tô cao, tro sạch, cành dương, áo lót.
Trừ bảy bệnh: tứ đại an ổn, trừ phong hàn, trừ bệnh tê liệt, trừ lạnh, trừ nóng, tẩy sạch nhơ bẩn và thân thể nhẹ nhàng, mắt trong sáng.
Được bảy phúc báo là:
1. Thân thể không bệnh, sinh ra ở đâu cũng thường an ổn.
2. Đời đời sinh ra thân luôn sạch sẽ và tướng mạo xinh đẹp.
3. Thân thể thường thoảng hương thơm, y phục sạch sẽ chỉnh tề.
4. Thân thể mịn màng, có oai đức lớn.
5. Nhiều người theo phẩy sạch bụi bặm trên thân.
6. Răng trắng đều, miệng thoảng hương thơm, lời nói được nhiều người tin tưởng
7. Sinh ra nơi nào cũng tự nhiên có y phục”.
Luật Thập tụng ghi: “Tắm gội có năm lợi ích:
1 .Thân thể sạch sẽ.
2. Da dẻ một màu.
3. Trừ nóng lạnh.
4. Hạ phong điều hòa.
5. ít bệnh hoạn.
Vào mùa hạ, thời tiết rất nóng bức, có người làm vườn gánh nước tưới cây, thấy tôn giả Xá-lợi-phất liền phát khởi chút lòng lành, ông gọi:
- Xin hãy cởi áo đến bên gốc cây, tôi sẽ tắm gội cho ngài mát mẻ.
Người làm vườn, sau khi mạng chung được sinh lên trời Đao-lợi, có oai lực lớn. Công tuy ít, nhưng nhờ gặp ruộng phúc tốt, nên phúc báo đạt đươc rất nhiều.
Vị trời ấy liền bay xuống chỗ tôn giả Xá-lợi-phất, rải hoa cúng dường. Thấy vị trời ấy thành tâm, tôn giả Xá-lợi-phất liền thuyết pháp khiến ông ta đắc quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Bấy giờ, trời Thủ-đà-hội xuống cõi Diêm-phù-đề, đến chỗ của Đức Phật thỉnh Ngài cùng các tì-kheo tắm rửa và cúng dường. Đức Phật im lặng nhận lời. Thưa xong, vị trời chuẩn bị thức ăn, uống và đồ dùng tắm rửa. Phòng tắm, nước ấm thích hợp, dầu tô, cỏ chà thân đều đầy đủ.
Nhận sự cúng dường này, Đức Phật và các tì-kheo tắm xong, thụ dụng những thức ăn ngon bổ thật hiếm có ở đời. Ăn xong, súc miệng rồi mỗi vị đều trở về chỗ ngồi của mình.
Bấy giờ, tôn giả A-nan bạch Phật:
- Vị trời này khi xưa tạo công đức gì mà nay được thân hình xinh đẹp uy nghiêm lạ thường, ánh sáng rực rỡ như núi báu lớn?
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Thuở xưa, vào thời Đức Phật Tì-bà-thi, vị trời này là một người nghèo khổ, làm thuê để kiếm sống. Một hôm, ông nghe Đức Phật dạy về công đức của việc tắm gội cho chúng tăng, trong lòng vui mừng, siêng năng làm việc, kiểm được một ít tiền. Ông đem số tiền đó sắm sửa thức ăn và dụng cụ tắm rửa, rồi thỉnh Phật và chúng tăng đến cung kính cúng dường. Nhờ phúc đức đó, sau khi ông mạng chung được sinh lên trời Thủ-đà-hội, có được tướng tốt này. Từ bảy đời Đức Phật đến nay và cho đến nghìn Đức Phật ra đời, ông cũng tắm Phật và tăng như thế. Phật thụ ký cho ông ta, hai a-tăng-kì và một trăm kiếp ở đời vị lai sẽ thành Phật hiệu Tịnh Thân, đầy đủ mười đức hiệu”.
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Thưở xưa, vào thời Phật Duy-vệ, Nan-đà em của Phật do phúc đức của một lần tắm chúng tăng mà nay được sinh vào họ Thích, có ba mươi tướng quí, thân hình có ánh sáng màu vàng rực rỡ, được sinh cùng thời với Phật, lại tu hành tinh tiến chứng được lục thông30.
Người xưa cúng dường chỉ một lần mà còn được phúc báo lớn, huống gì nay đàn-việt có thể cúng dường nhiều lần. Hạnh cúng dường rộng khắp nhất định sẽ thành Phật, được an lạc lớn, độ thoát hết thảy chúng sinh”.
Kinh Phúc điền ghi: “Tì-kheo A-nan bạch Phật:
- Nhớ đời trước con làm người dân trong nước La-duyệt-kì, thân thể mọc mụt độc, chữa trị không lành, có một đạo nhân bạn thân đến nói với con: ‘Ông nên chuẩn bị nước tắm cho chúng tăng, rồi lấy nước ấy đem rửa mụt ghẻ thì sẽ lành, lại còn được phúc’.
Nghe xong, con vui mừng liền đến chùa với tâm thành kính đào giếng, sắm sửa dầu gội và dụng cụ tắm. Chờ cho chúng tăng tắm xong, con lấy nước ấy rửa mụn ghẻ, mụn lành rất nhanh. Do nhân duyên đó, đời đời sinh ra con được tướng mạo xinh đẹp, thân có ánh sáng màu vàng rực rỡ, không dính bụi bặm, chín mươi mốt kiếp thường được phúc lành, niềm vui ấy thật rộng lớn, dài lâu. Nay được gặp Phật, phiền não tiêu trừ, chứng quả A-la-hán”.
Luật Thập tụng ghi: “Phòng tắm ở nước ngoài có hình tròn giống như cái nhà kho, bên trên có lỗ thông hơi, phía dưới có rãnh để thoát nước ra ngoài. Một chiếc bình ba ngăn bằng nhau được đặt ở nơi mà mọi người có thể sử dụng được. Bình này đựng ba loại nước, ngăn trên đựng nước nóng, ngăn giữa đựng nước ấm, ngăn dưới cùng đựng nước lạnh. Người tắm có thể tủy ý sử dụng, chứ không nấu nước nóng tắm riêng, nên gọi là tịnh thủy”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ, Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Xây dựng nhà tắm có năm công đức: không trúng gió, được lành bệnh, ngăn bụi bặm, thân thể nhẹ nhàng, da dẻ hồng hào.
Bốn chúng, nếu có ai muốn được năm công đức này thì nên xây dựng nhà tắm”.
Luật Tăng-kỳ ghi: Khi muốn tắm, sai người phụ việc v.v... rưới nước quét dọn sạch sẽ, chuẩn bị củi lửa, nấu nước vừa đủ nóng rồi đánh kiền chùy để mọi người biết. Khi vào tắm mỗi người phải lấy dây lưng buộc y làm dấu rồi móc lên giá. Không được đi vung tay vào nhà tắm, nên để một tay che phía trước mà vào. Nếu muốn vào lau cho thầy thì phải thưa trước mới không có lỗi, không được nâng cả hai tay thầy lên lau cùng một lúc mà phải lau một tay, một tay che phía trước, lau xong tay này mới lau tiếp tay kia và những bộ phận khác. Vào tắm thì phải đóng cửa mà ngồi để cho mồ hôi trong thân thoát ra. Phải lượng nước mà dùng, không được dùng quá nhiều. Nếu tắm ở ao thì được dùng nước thoải mái không có tội. Không cho phép trần truồng tắm ở chỗ trống, nếu nước tới ngang lưng hay nách thì được tắm trần không phạm. Nếu khi ngồi xuống mà nước ngập đến rốn thì cũng được tắm trần. Tắm xong, ra khỏi nước phải đắp y vào, chỉnh sửa ngay thẳng mới được đi.
* Lời bàn
Nhân trình bày việc cúng dường cho chư tăng tăm rửa mà nói vê công đức ây. Vì sợ những vị tăng, tục ở vùng quê xa xôi không hiểu được phép tắc cần thiết, nên tôi lược trình bày pháp sự này để nêu lên mục đích ý nghĩa ấy.
Trộm nghĩ, khi thái tử đản sinh ở vườn Lâm-tì-ni thật không có bụi nhơ để gội sạch. Lúc Đức Phật đến sông Ni-liên-thiền chẳng có cấu uế để tẩy rửa. Cho nên biết, việc tắm gội là gốc để thăng cao, việc tẩy rửa là nguồn của trong lặng. Có thể nói, việc rải hương thì học ở các bậc hiền thánh trước, phép dâng cỏ thơm đã bắt nguồn từ những vị cầu học sau.
Vì thế các nước phương đông thả bảy loại hoa trong nước để khách Nhất thừa tắm gội, các nước phương tây xây hồ tắm đức để hàng cửu phẩm gội nhuần. Cho nên, Y vương đêm nằm suy nghĩ, phát tâm xây dựng ôn thất; trưởng giả sáng sớm nói lời thành kính nguyện tăm chúng tăng. Do đó cảm được Như Lai khéo dùng phương tiện, gần thì nói nghi thức về bảy vật; đấng Đại giác rủ lòng từ, xa thì nói quả báo ngũ thiên.
Nhưng ở xứ này có đại thí chủ là vị quan tên đó... họ đó... phát tâm rộng lớn, làm những việc cao cả, đời đời thường làm các Phật sự, kiếp kiếp luôn chuyển pháp luân. Cho nên, dù sống giữa đám tà kiến mà tin chính pháp; dù ở vào thời kì cuối của tượng pháp mà có thể cung kính tăng-già. Thế mới biết rõ giá trị việc giảng thuyết bốn câu kệ hơn cả ngọc trai của Tùy hầu; dâng cơm, chuẩn bị đồ tắm cho chư tăng được phúc điền cao hơn đạo khác. Do đó, mọi người khuyến khích nhau tự bỏ tiền tài để cùng vun đắp phúc này. Thế nên, đúng thời bày biện bảy vật, ngày ấy tắm rửa Tam tôn. Lại có thể cúi đầu cung thỉnh những pháp sư đức cao vọng trọng giảng thuyết kinh Ôn thất tẩy dục chúng tăng. Pháp sư thời ấy được gọi
là Học hải, người đời gọi là Từ tông; giảng giải nghĩa lí sâu mầu giống như mây tích tụ, giải quyết nghi vấn của chúng trôi chảy như suối tuôn trào; khiến cho người tầm thường hiểu rõ, như ánh sáng mặt trời xóa tan màn đêm; bạn pháp dứt hết nghi ngờ, như sương lạnh cuốn sạch lá rụng. Bây giờ đã cuối sách, xin hãy tạm dừng bàn lời Phật; hơn nữa vừa đến lúc tắm tăng nên cần trình bày bảy vật dùng trong chuyện ấy.
1. Lò lửa than hừng hực, vạc lớn hơi mịt mù, phòng kín đã che lạnh, vòi nước tự nhiên ấm.
2. Dòng nước trong sạch chảy vào ao báu, gạn lọc bụi nhơ, sạch như sen hồng, thân thể thấm ướt, mát mẻ tươi nhuần.
3. Tháo đậu trắng bạc mịn hơn cả Đâu-la-miên, lau chùi cáu bẩn, thân thể trong sạch giống như mây tan mặt trời hiển lộ.
4. Tô cao tám vị, lan tỏa ngũ hương, trừ phòng ngăn bệnh chẳng kém ma-kì, thân thể trơn nhuần đâu kém thuốc tốt.
5. Tro ấm trong ống ngọc, trắng mịn tinh nhuần, gió độc gặp phải thì hết thổi, loạn tưởng nhờ đây mà lặng yên.
6. Cành dương nhẹ nhỏ, liễu biếc mảnh mai, khử nhiệt thì miệng toát ra mùi hoa lan; làm sạch răng thì hơi thở giống như hoa ưu-bát.
7. Lụa nước Tề, tơ nước Ngụy làm nội y, ngăn bệnh an thân, tắm xong tự nhiên sáng nhuần.
Chuẩn bị đầy đủ bảy vật và thành tâm dâng cúng, mong chúng tăng thương xót chú nguyện cho!
Muốn sinh vào cõi Phật, phải tẩy sạch thân hình đấng Thập Lực mong nương gá thiên cung, trước phải tấm gội cho chúng Lục hòa.
Thí như, âm hòa thì tiếng thuận, hình thẳng thì bóng ngay, lí nhân quả là tất nhiên, chẳng phải do quỉ thần định đặt. Nay có các thí chủ thành kính học theo Y vương xây dựng phòng tắm, chuẩn bị bảy thứ cần thiết để tắm gội Tam tôn và khuyến người có duyên giúp truyền chính pháp, dùng thiện căn to lớn thù thắng này để trang nghiêm thân.
Ngày nay các pháp sư có uy lực lớn, đời đời thường chuyển pháp luân, được đại thần thông; kiếp kiếp luôn làm Phật sự, nên kẻ già, người trẻ đều có trí tuệ, bà con họ hàng sống lâu trăm tuổi, nghiệp chướng chóng tan giống như sương buổi sáng, điềm lành cùng đến như sao sáng xếp hàng.
Nguyện cho các thí chủ thông đạt bát chính mà chứng quả Bồ-đề; đầy đủ bảy báu, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh!
Lại nguyện cho những ai giúp đỡ trong chốc lát cũng trừ bảy bệnh; người chỉ khen ngợi một lời cũng được bảy phúc, hoặc người thấy nghe mà vui theo, đều đến được pháp thành, kẻ cúi đầu chừng khoảng khảy móng tay đều lên Phật quả. Truyền bá giáo pháp đã viên mãn, chuẩn bị đầy đủ đồ tắm đã xong, xin mọi người nhất tâm phụng thỉnh Tam bảo!
Cúi đầu quy y, kính thỉnh Ứng thân, Pháp thân, ngũ phân pháp thân của chư Phật khắp mười phương ba đời, đã dứt sạch chín mươi tám phiền não, ba mươi hai tướng hảo trang nghiêm, thật không có tứ cầu, tạm nương nhờ tứ sự. Vì chúng sinh có cảm nên mới ứng hiện. Ngưỡng mong quí Ngài lên Ma-ni bảo điện, ngồi trên mây Mã não, phóng trăm ức tia sáng chiếu khắp ba nghìn cõi. Phạm vương che lọng, Đế thích rải hoa cùng đến đạo tràng và vào phòng tắm.
Kế đến thỉnh các bậc bồ-tát từ phát tâm đến bậc Bổ-xứ, như bồ-tát Hoan hỉ, Li cấu, Thiện tuệ, Pháp vân địa, Tam hiền, Thập thánh và tất cả các vị bồ-tát. Ngưỡng mong các ngài dời cõi trời, người đặt vào lòng bàn tay, đem pháp giới đặt lên đầu cọng lông, ngự chim linh bốn chân, cưỡi tuấn mã lục thông, chẳng có tướng thấy mà thấy, không có tướng đến mà đến, tất cả đầy đạo tràng cùng vào phòng tắm.
Lại thỉnh bậc Độc giác đại nhân tọa thiền trong núi, các vị đã chứng bốn quả Thanh văn, lại thỉnh các bậc thánh tăng như thượng tọa Tân-đầu-lô Phả-la-đọa v.v... mong các ngài bước trên hư không, du hí thần thông, ôm bát đứng trên mây hiện mười tám thần biến, khiến vua Ba-tư-nặc sinh chính tín, hàng phục tâm tà của Lao Độ. Lại thỉnh đại chúng hiện tiền hòa hợp, từ những vị trăm tuổi hạ, cho đến các vị sa-di đều vào phòng tắm.
Lại thỉnh các vị có lòng từ rộng lớn, bản nguyện độ bốn loài, phương tiện quyền xảo hiện các thân hình trong sáu đường, theo âm thanh mà đến, giông như bóng theo hình; những người bạn không mời, không cần nghĩ nhớ mà hiện đến. Xin tất cả đều vào phòng tắm.
Lại thỉnh thiên chúng trong ba cõi, tứ hải long vương, bát bộ quỉ thần, cho đến tất cả loài chúng sinh có hình, những loại côn trùng nhỏ bé cùng vào phòng tắm.
Thỉnh cầu đã xong, đại chúng hòa hợp tán tụng, cầm hương, theo thứ tự mà đi.
Có bài tụng:
Tam bảo được hưng thịnh
Bốn loài luôn an ổn
Bóng từ che mười phương
Ân lưu truyền muôn đức
Trí thông cả bát tạng
Giáo hóa khắp trăm nghìn.
Báo đáp ân nghĩa nặng
Đây đều do phúc lực
Vẽ hình và tạc tượng
Giảng kinh và tạo phúc
Đóng thuyền, xây cầu cổng
Thiết trai, lo đồ tắm
Chẳng hề tiếc thân mạng
Chân thành có gì hơn
Vĩ đại thay! Thắng nghiệp
Công đức chẳng thể lường”.
27.9. CẢM ỨNG
27.9.1. Đời Tấn, Hoàn Ôn: Ông làm quan đến chức Đại tư mã. Vào những năm cuối đời, ông hết lòng tin theo Phật pháp và thường thiết trai cúng dường tăng ni.
Bấy giờ, có một tì-kheo ni từ phương xa đến nhà Hoàn Ôn khất thực. Thấy vị ấy tài trí, đức hạnh phi thường, nên ông rất kính trọng, thỉnh trụ trong nhà và hết lòng hầu hạ. Mỗi khi tì-kheo ni ấy tắm thì rất lâu. Vì vậy, Hoàn Ôn sinh nghi và rình xem thì thây tì-kheo ni ấy thoát hết y phục, dùng dao mổ bụng moi hết tạng phủ ra ngoài, cắt đầu, thân, tay, chân và róc hết thịt. Hoàn Ôn thấy vậy, sợ hãi chạy về phòng. Bỗng chốc, tì-kheo ni ra khỏi phòng tắm, thân hình vẫn nguyên vẹn như cũ. Hoàn Ôn hỏi thật, tì-kheo ni đáp:
- Nếu người nào hại vua, thì thân thể người ấy cũng sẽ bị như vậy.
Lúc ấy, Hoàn ôn đang âm mưu muốn chiếm đoạt ngôi vua, nghe tì-kheo ni nói vậy, vô cùng sợ hãi. Vì vậy, Hoàn ôn trọn đời giữ đạo quân thần. Sau đó tì-kheo ni từ giã, không ai biết đi đâu.
27.9.2. Đời Tùy, sa-môn Thích Tuệ Đạt: Sư họ Vương, người Tương Dương, trú tại chùa Bộc Bố, núi Thiên Thai. Sư xuất gia từ nhỏ, chuyên sửa sang chùa tháp. Sư thường lên núi, xuống biển, hoặc đi khắp làng xóm, hễ thấy nơi nào phong cảnh đẹp, địa thế tốt, sư đều dốc lòng xây dựng chùa tháp để có nơi chúng tăng an tập.
Khoảng niên hiệu Nhân Thọ (601-604), sư xây dựng tháp gỗ bảy tầng ở chùa Bạch Tháp, Dương châu. Khi chuẩn bị đầy đủ vật liệu, sư giao lại cho đệ tử xây dựng, còn mình đến các quận Bà Dương, Dự Chương quan sát xem xét các nơi cần tu tạo và nguyện cùng chúng sinh tạo phúc. Vì thế, sư đến bất cứ thôn ấp nào, nếu thấy có chùa chiền, thiền viện, bảo tháp, tượng Phật hư hoại, bất luận bằng vàng, gỗ, đất, đá, sư đều tu bổ.
Lúc về già, sư nhận lời thỉnh cầu của sa-môn Tuệ Vân lên núi Lô xây dựng chùa Tây Lâm, gồm bảy gian trùng các, diềm mái nhiều lớp, cảnh chùa huy hoàng tráng lệ. Lúc bắt đầu xây dựng, dự định làm bằng gỗ Hoàng Nam, nhưng tìm khắp trong vùng không có, nên mọi người định đổi làm bằng gỗ khác. Sư Tuệ Đạt nói:
- Lòng thành ở tại đây, sao lại tìm cầu nơi khác? Nếu lòng chí thành ắt sẽ có linh ứng, cây tùng biến thành cây Hoàng Nam. Nếu không có cảm ứng thì việc xây dựng này không có ngày hoàn thành.
Nghe sư nói, mọi người sợ hãi, đi khắp nơi tìm kiếm. Họ tìm thấy trong hang sâu ở vùng núi Hạ Sào toàn là cây Nam. Nhưng hang đó lại ẩm ướt, sâu thẳm, không có đường chuyển gỗ ra. Sư đến bên vách núi, bỗng thấy một chỗ trống có ánh sáng phát ra, nhìn vào bên trong thấy có con đường rộng khoảng hơn năm thước, hai bên là vách núi cao ngất trời. Sư cùng mọi người kéo những cây Nam dọc theo núi đá ra đến bờ sông. Trên đường đưa gỗ về, bị nước xoáy phá bè hư hỏng, nhưng về đến núi Lô không mất một cây gỗ nào. Trùng các nhờ vậy mà được xây cất rộng lớn, huy hoàng hơn trước.
Sau đó, ngôi trùng các tự nhiên nghiêng về hướng nam ba thước, những người thợ tìm đủ mọi cách chinh thẳng, nhưng không được, phía nam trùng các có suối Thạch Môn. Bỗng một hôm, có luồng gió mạnh thổi từ hướng bắc vào làm cho trùng các ngay thẳng. Ngôi gác này đến nay vẫn còn.
Sư thân hình thô xấu, áo quần đơn sơ, không ai muốn nhìn. Tính sư trầm mặc, không quan tâm việc chung quanh, tựa như không có gì đáng nói, nhưng bất cứ việc gì có sư chi đạo thì đều thành tựu. Đây chính là người không bị loạn động trước những biến chuyển, đổi thay.
Đến ngày ba mươi tháng bảy, niên hiệu Đại Nghiệp thứ sáu (610), bịnh cũ bộc phát, sư nằm nghiêng bảy ngày, có hương thơm lạ bay vào phòng, vây quanh sư như mây. Các tôn tượng trong trùng các đều toát mồ hôi chảy dài xuống đất. Mọi người thấy điềm như vậy, biết sư sắp thị tịch. Các vị quan trong vùng thấy việc ứng nghiệm đó liền tâu về triều. Tâm trí của sư rất minh mẫn, nhưng vì còn dư nghiệp nên mới nằm bảy ngày. Sau đó, sư an nhiên thị tịch, thọ 87 tuổi.
27.9.3, Đời Đường, sa-môn Thích Trụ Lực: Sư họ Chử, người ở huyện Dương Địch, Hà Nam, trú tại chùa Trường Lạc, khí độ cao siêu, tâm trí tỏ ngộ, danh cao vọng trọng, nổi tiếng trong giới tăng tục. Sư cùng bốn bộ chúng và các vương công xây dựng một tòa lầu cao và hai tòa trái phải ở chùa Trường Lạc. Công trình được chạm trổ rất công phu và hoa mĩ, chỉ làm một năm là hoàn thành. Ba trăm tăng trong chùa đều rất hoan hỉ.
Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười (614), sư dốc hết tài sản mua gỗ chiên-đàn tạc tượng Phật Thích-ca và hai vị bồ-tát. Các tượng đã tạc xong, đều được an trí trong lầu các.
Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười bốn (618), nhà Tùy bị tiêu diệt, tăng tục li tán khắp nơi, thân thể ốm gầy, nằm khắp đầu đường xó chợ. Sư thệ nguyện hi sinh thân mạng để bảo vệ chùa. Các loài chồn thỏ trú trong chùa trờ thành bạn của sư. Hàng ngày sư chỉ ăn đậu, uổng nước trong, trải qua hai năm như vậy. Dù tuổi cao, nhưng tinh thần minh mẫn và sức lực rất cường tráng. Khi chùa bị sụp đổ, lửa cháy
bao quanh, miệng sư tụng niệm, tay không ngừng dập lửa, bọn giặc thấy vậy xót thương, thay tâm đổi tính giúp sư tu sửa.
Khi vua Đường lên ngôi và xiển dương chính pháp, những vị tăng ngày xưa còn sống sót mới trở về chùa. Tuy nhà cửa trong ấp đều bị thiêu cháy, nhưng ngôi chùa này vẫn còn.
Niên hiệu Võ Đức thứ sáu (623), tướng giặc là Phụ Công Hữu đóng quân ở vùng Giang Biểu, dựa vào địa hình hiểm trở, chuẩn bị binh lương, âm mưu tạo phản. Ông ra lệnh dời tất cả chùa quán sang Giang Nam.
Sư nhiều lần gửi thư thỉnh nguyện thiêu thân trước lầu các để giữ lại ngôi chùa. Công Hữu giả dạng tôn kính, nhưng lòng muốn phá dẹp hết, nên bao nhiêu lần nhận được thư của sư, ông ta đều bác bỏ. Biết vậy, sư nói với chúng đệ tử:
- Tôi từ vô lượng kiếp đến nay gom chứa tham ái, không thể bỏ thân mạng để báo đáp ân đức Phật pháp, nay một lòng muốn chết ở trước cửa Phật, chứ không nỡ thấy tượng bị dời sang Giang Nam. Các người hãy chất củi khô để tôi tự thiêu cúng dường. Sau khi tôi chết rồi, tượng sẽ bị dời sang Giang Nam. Các người nhớ lấy các vật dụng của tôi như y, bát v.v... cúng dường tôn tượng. Còn các việc như lễ tang, cúng tế cũng phải thay đổi.
Dặn dò xong, sư dùng nước hương tắm gội sạch sẽ, ngồi kiết-già, xoay mặt về hướng tây, tay châm lửa tự thiêu. Lúc ấy, nhằm ngày mùng tám tháng mười, niên hiệu Võ Đức thứ sáu (623), sư thọ tám mươi tuổi.
Lửa tắt, mọi người thấy sư vẫn ngồi chắp tay, an nhiên bất động. Họ đem thi thể sư thiêu một lần nữa mới phân hóa.
Lúc sư mới thiêu, bỗng có bầy chim khách bay đến kêu rất ai oán, thống thiết, chúng bay quanh sư bảy vòng, rồi bay đi.
Sau khi sư thị tịch, quả nhiên tượng Phật bị dời sang Giang Nam, nhưng điện, đường, phòng xá không bị thiêu đốt, còn pháp bảo, tăng chúng đều đúng như sư dự đoán trước.
Hàng đệ tử như Tuệ An, Trí Trách vì nghĩa thầy trò nặng, ân cậu cháu sâu dày, nên dựng bia lớn trong chùa, đông cung thái tử Ngu Thế Nam soạn văn. Sau đó, tượng Phật lại được thỉnh về chùa, đến nay vẫn còn.
27.9.4. Đời Đường, sa-môn Thích Chí Siêu: Sư họ Điền, người Phùng Dực, Đồng châu, trú ở chùa Quang Nghiêm, Phần châu. Sư siêng năng, cần mẫn hơn người, khí độ thanh nhã, cao thượng.
Niên hiệu Võ Đức thứ bảy (624), sư đến trú ở núi Bão Phúc, Phần châu. Ở đây có một trăm vị tăng, nhưng tài sản chung chỉ có sáu thạch lúa mì, chứa trong một kho. Mỗi ngày xay năm thăng để nấu cơm cho tăng chúng. Từ mùa xuân đến mùa hạ, tính ra chi dụng rất nhiều, nhưng lạ thay khi kiểm tra lại kho thì thấy chỉ giảm hai thạch. Thế mới biết việc này thật mầu nhiệm đáng suy nghĩ.
Sư nhiều lần cảm được những dị tăng từ hư không bay xuống đạo tràng. Tuy không hỏi han đàm luận, nhưng qua dung mạo của họ thì có thể nghiệm biết. Vì thế, mọi người quì xuống cầu mong được chỉ dạy. Ngoài ra, các ngài còn xuất hiện mỗi khi có tiếng chuông tập chúng, lại luôn có dòng nước từ trong đá phun ra để mọi người tùy ý sử dụng. Những điềm linh hiển được cảm ứng rất nhiều, tất cả đều nhờ phúc đức của sư.
Ngày mười một tháng ba, niên hiệu Trinh Quán thứ mười lăm (631), bỗng nhiên sư phát bệnh và tịch tại một ngôi chùa trong thành, thọ bảy mươi mốt tuổi.
27.9.5. Đời Đường, sa-môn Thích Tuệ Chấn: Sư họ Bàng, thân cao tám thước, trú ở chùa Thông Tuyền, Tử châu. Nghe pháp sư Hạo giảng Tam luận, sư lãnh ngộ được huyền chỉ. Hàng năm vào tháng giêng, sư thường xem đọc tạng kinh và cúng dường ca-sa cho một nghìn vị tăng. Sư còn giảng giải Tam luận, có hơn trăm vị tăng đến nghe.
Một hôm, sư đang giảng pháp thì bị ngất, trong lúc đó sư thấy một người đến nói:
- Ngài nên tạo một tượng Phật lớn ở trên đỉnh núi phía tây!
Sau khi tỉnh lại, xuống tòa, sư bảo mọi người xem xét xung quanh, thấy một gò đất cao, hai bên có suối nước, có thể dựng tượng. Sư liền cho thợ tạc một tượng Phật ngồi, cao một trăm ba mươi thước. Đến niên hiệu Trinh Quán thứ tám (634), thì tượng hoàn thành. Ba vạn tăng tục từ khắp nơi về dự lễ khánh thành tôn tượng. Ngày khánh thành, miệng pho tượng phóng ánh sáng, kẻ xa người gần đều trông thấy.
Trước kia, sư có con ngựa một ngày chạy năm trăm dặm, từng xông pha nơi trận mạc, những con ngựa khảc đều chết, chỉ mình nó sống sót được trở về. Đến tháng bảy niên hiệu Trinh Quán thứ mười bốn (640) bỗng nhiên nó hí vang và bỏ ăn ba ngày. Sư nghe được việc ấy, toàn thân rúng động. Bấy giờ, có một dị tăng tên Thập Lực nói với sư:
- Ngựa từ biệt chủ, chủ nên đi trước. Vào giờ ngọ, ngày mười lăm tháng giêng năm sau sư sẽ nhập niết-bàn. Pháp sư nên dốc hết tài vật, không để lại đời sau, chẳng ích lợi gì cho bản thân.
Nói dứt lời, vị ấy biến mất, không ai biết đi đâu. Sư nghe theo, trước tiên tạo tạng kinh, thỉnh chúng tăng chuyên đọc, mở pháp hội bổ thí lớn để cầu phúc, người đến đều được cung cấp đầy đủ.
Vào đầu xuân năm đó, sắp đến ngày thị tịch, sư thinh chúng tăng tụng kinh, hành đạo suốt hai mươi mốt ngày, thân thuộc nội ngoại cũng đều có mặt. Đến ngày mùng tám hương thơm tự nhiên lan tỏa khắp chùa, đạo tục khăp vùng đều nghe. Đến ngày mười lăm hương vẫn còn. Từ sáng đến giữa trưa tất cả cây cối, mặt đất trong chùa đều mọc hoa sen. Mọi người thấy điềm lạ nên biết sư sắp lìa đời. Sư nói:
- Tướng lành đã hiện, không thể chậm trễ!
Sư cúng dường thức ăn sớm cho mọi người. Đợi mọi người ăn xong, sư cầm lò hương nhiễu quanh tượng Phật Tì-lô-xá-na ba vòng, rồi trở lại quỳ trước Phật, chính niệm. Bấy giở, đại chúng đã nhóm họp đầy đủ ở điện Phật, nhưng không ai biết sư đã thị tịch. Lúc ấy sư sáu mươi sáu tuổi.
Tang lễ đã hoàn mãn mà hương thơm vẫn còn. Ba người anh em của sư, mỗi người bỏ ra năm mươi vạn tiền để cúng dường chúng tăng ở mộ của sư và bố thí cho những người nghèo cùng cô độc. Họ lại dựng một tháp đá cao năm trượng, trong đó tạo một cái khám để đặt chiếc giường dây, an trí thi thể của sư lên đó, trải qua hơn một trăm ngày mà thi thể không tan rã. Tăng lẫn tục hơn vạn người thương tiếc khóc than không dứt.
27.9.6. Đời Đường, sa-môn Tuệ Vân: Sư họ Vương, người Thái Nguyên, trú tại chùa Hoằng Phúc, Trường An. Viễn tổ của sư vì lánh nạn, nên đến ở tại vùng Cửu Giang. Năm hai mươi tuổi, vì mộ đạo nên sư đến chùa Đại Lâm, núi Khuông, lễ ngài Trí Hà xuất gia.
Năm sư hai mươi lăm tuổi, cũng là lúc thiền sư Đạt đang xây dựng chùa chiền khắp vùng Giang Hoài. Sư thấy chùa tháp bị sụp đổ, hủy hoại nên mời thiền sư Đạt đến tu bổ.
Đến những năm cuối đời Tùy, loạn lạc khắp nơi. Lúc ấy, Lâm Sĩ Hoàng tụ tập quân binh ở Dự Chương tự xưng là Sở đế. Thượng thư lệnh Hồ Tú Tài ở Bà Dương đích thân lãnh binh chiếm cứ Cửu Giang.
Vì cảm mộ Phật pháp, ông phát tâm muốn đúc tượng bồ-tát Văn-thù tại chùa Đông Lâm, núi Lô. ông biết sư là bậc kì tài xuất chúng, nên thỉnh sư trông coi việc đúc tượng. Tượng đúc xong, tôn nghi đầy đủ, nhưng ở cổ và hông có lỗ hổng. Mọi người không biết nguyên nhân gì.
Năm ấy Tú Tài tạo chiếu chỉ giả và bị truy đuổi. Bấy giờ có một số vàng đúc tượng khoảng một trăm hai mươi lượng được đựng trong hộp trúc. Sư thấy giặc giã nổi lên khắp nơi, không thể bảo vệ nên gửi cho Tú Tài. Sư còn trao cho Tú Tài một xâu chuỗi đồng mà sư thường tụng niệm để làm tin. Khi đi đến đình Cung, quân sĩ xuống cầu chúc. Vì thấy thuận gió, nên Tú Tài giương buồm đi trước. Trên đường đi, gặp phải sóng nên thuyền bị chìm, tài vật đều bị mất hết, chỉ có người được vào bờ. Họ không tiếc gì, chỉ tiếc số vàng đúc tượng bị mất. Họ buồn rầu uất ức đến bên bờ sông khóc than không dứt. Họ tự trách: “Thệ nguyện không thành là vì nghiệp còn sâu nặng”. Đang khóc than, bỗng chốc hộp đựng vàng và xâu chuỗi đồng lúc chìm lúc nổi nối tiếp theo sóng ngược dòng hướng vào bờ, đến chỗ Tú Tài. Tú Tài được lại số vàng, khiến mọi người vui mừng không xiết. Tính từ nơi bị chìm đến chỗ vàng xuất hiện hơn ba mươi dặm. Quân lính, nhân dân thấy số vàng nặng mà có thể nổi và trôi ngược sóng vào bờ, đều lấy làm lạ và cho là điêu kì dị. Đên khi Tú Tài gặp họa bị đâm ở cổ và hông, giống như lỗ hổng trên tượng.
Trước khi đi dẹp giặc, Tú Tài đem tượng vàng gửi cho người chú mang đi lánh nạn, nhưng trên đường đi bị giặc cướp lấy mất. ông tìm đủ mọi cách nhưng không thể lấy lại. Bỗng có người trong quân giặc đến trộm vàng ném vào, sáng ra ông hoàn toàn không biết mình đang mang số vàng ấy. Khi biết, ông liền giao số vàng ấy cho sư. Sư đem số vàng ấy đúc thành tượng Phật, tướng hảo trang nghiêm, ánh sáng vòi vọi. Nay tượng ấy vẫn còn an trí ở Sơn các.
Lúc bắt đầu đúc tượng, có người tên Lý Tứ Giới âm thầm phát nguyện: “Đến ngày rót vàng, tôi sẽ đốt cánh tay”. Vì sư làm khuôn xong sớm hơn dự định, nên ngày rót vàng, người họ Lý không biết. Đến khi đúc tượng xong, ông nằm mộng thấy tượng nhắc: “Ông đã phát nguyện đốt cánh tay sao không giữ lời?”. Người họ Lý tỉnh giấc mới biết tượng đã đúc thành. Ồng liền đến trước tượng lấy dao chặt đứt cánh tay, rồi lấy sáp, vải quấn quanh đốt cúng dường. Bấy giờ có hương trời tỏa ngát, tượng vàng phóng quang; những điềm linh dị rất nhiều, không thể kể hết.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), sư có việc phải vào kinh đô và gặp được luật sư Thủ. Vì nể phục sự am tường luật học và đức độ cao vời của luật sư thủ, nên sư dâng sớ xin vua ở lại chùa Hoằng Phúc.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi (646), vì nhở quê, sư trở về trụ tại ngôi chùa cũ ở Cửu Giang và tịch tại đó. Đến nay nhục thân của sư vẫn còn.
27.9.7. Sa-môn Thích Đạo Anh: Sư họ Trần, người Y Thị, Bồ châu, trú tại chùa Phổ Tế ở châu này. Năm mười tám tuổi được người chú là luật sư Hưu khuyên nên phát tâm xuất gia. Cha mẹ quá thương yêu ép cưới vợ, nhưng sư quyết cắt ái từ thân như cởi bỏ giầy dép. Lúc ở thế tục, sư không đắm nhiễm sắc thanh; khi xuất gia sư thông hiểu kinh, luận. Có lần Sư nói: “Phải thông đạt pháp tướng, phải liễu ngộ tâm mê!.
Niên hiệu Khai Hoàng thứ mười chín (599), sư đến chùa Bách Thê, núi Thái Hành, huyện Giải tu học pháp Chỉ quản và hoát nhiên tỏ ngộ lí nhân không và pháp không, liễu đạt tâm tính, sống nơi rừng vắng mà đúc chiếu soi khắp thiên hạ. Từ đó, sư lo việc phục dịch cho tăng, dùng sự tướng để kiểm xét tâm.
Sau đò, sư đến kinh đô, trụ ở chùa Thắng Quang và theo học luận Nhiếp đại thừa nơi thiền sư Đàm Thiên. Có năm trăm người học, nhưng chỉ mình sư Đạo Anh là siêu xuất. Thiền sư khen:
- 'Người học rất đông, tuy ai cũng thông văn, hiểu nghĩa, nhưng người nắm được yếu chỉ bộ luận thì chỉ minh Đạo Anh!
Sư thường thực hành theo kinh Hoa nghiêm phát nguyện cúng dường chúng tăng, nhờ sự mà tỏ lý và điều phục tâm hành. Từ đó, sư chẳng câu nệ oai nghi, phép tắc, y phục, uống ăn, nên thường bị mọi người xem thường. Tuy vậy ngoài thời gian phục vụ cho tăng, sư siêng năng tham thiền, tụng niệm, tham cứu cùng tận lí tính, do đó mắt tâm sáng tỏ.
Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ chín (613), lúc sư giữ chức tri sự trong chùa. Bấy giờ, có một người đời tranh chấp đất chùa, Sư không muốn lợi tức của tăng bị hao tổn, mà tranh với người cũng không lợi ích gì, nên sư khổ nhọc hết lòng khuyên can mà người kia không nghe. Vì thế, Sư nói với người kia: “Tôi chết cho ông hài lòng”. Nói xong, sư ngã lăn trên đất tắt thở như người chết thật. Thấy thế họ vẫn không tin, mà còn nói: “Đạo nhân này nhiều gian trá, hãy lấy kim chích vào thân mới biết được thật, giả”. Họ dùng kim chích vào thân sư, thi thể đổi sắc, nhưng thân tâm vẫn bất động. Đến lúc thi thể sắp trương sình và thối rửa, có người trí đứng bên cạnh khuyên họ sám hối và họ hứa không dám tranh giành nữa. Ngay lập tức, sư ngồi dậy cười nói như bình thường.
Có lần sư đán hồ Long Đài, xem đàn cá đang bơi và nói: “Ta cùng ngươi bơi thi coi ai thắng?”. Nói xong, sư liền cởi áo nhảy xuống nước, đệ tử đứng giữ áo. Trải qua sáu đêm, sư lên bờ và nói: “Tuy ở dưới nước, nhưng bụi đất làm lấm thân ta, chẳng biết gì đến nước cả”.
Lần nọ, gặp mùa đông giá rét, tuyết phủ dày đặc, sư tự nói: “Chỗ bằng phẳng, sạch sẽ như vậy, sao không ngủ một giấc!”. Nói xong, sư liền cởi áo nằm trên tuyết suốt ba đêm, sau đó ngồi dậy cười nói: “Hình như lửa đốt cháy ta!”.
Cứ như thế, tùy theo sự việc mà sư dùng pháp đối trị, thong dong tự tại, không có gì khó. Bởi vì, yếu chỉ Duy thức cốt thấu suốt thức tâm, chứ vật chất bên ngoài sao ngăn ngại được!
Về già, sư trở lại chùa Phổ Tế, Bồ châu. Sư xây ba gian nhà nhỏ ở một nơi sâu kín trong ngọn núi phía đông huyện Hạ, không màng đến việc thế tục. Tuy vậy, tăng tục khắp nơi cùng tụ hội về đây rất đông.
Ban ngày, sư sách tấn chúng tăng làm việc, ban đêm giảng thuyết và thiền quán. Tuy sư làm những việc nặng nhọc, nhưng không tỏ vẻ mệt mỏi. Sư thường y cứ theo luận Nhiếp Đại thừa và luận Khởi tín để tự giúp ngộ tâm. Một hôm, sư đang giảng về luận Khởi tín đến câu: “Tâm chân như môn”, bỗng
nhiên im lặng. Mọi người ngạc nhiên, đến xem thử thì thấy sư đã tắt thở, toàn thân lạnh giá, mới biết sư đang nhập định Diệt tưởng, nên không lấy làm lạ. Trải qua nhiều đêm sư mới xuất định, thân sắc vẫn tươi nhuận, giống như chứng Sơ thiền.
Bấy giờ, ở Hà Đông có sa-môn Đạo Tốn là bậc danh tăng, đức cao vọng trọng, vốn là đồng học, cùng nghiên cứu tâm yếu, kết bạn thâm giao. Ban đầu, Đạo Tốn lãnh chúng giảng dạy ở huyện Hạ rất hưng thạnh. Đạo Tốn thị tịch, cách chỗ ở của Đạo Anh khoảng một trăm năm mươi dặm, đệ tử chưa kịp báo tin, nhưng đêm đó Đạo Anh đã biết và nói với mọi người:
- Tốn công đã thị tịch, chúng ta phải đến tiễn đưa!
Mọi người hỏi nguyên nhân của Đạo Tốn thị tịch. Sư nói:
- Đây là việc thường tình của thế gian, do tâm chuyển biến, chẳng có gì lạ!
Trên đường đi, sư gặp người đến báo tin, nhân đó hỏi đầu đuôi sự việc thì hoàn toàn giống như sư đã nói.
Trước khi thị tịch, sư nhóm chúng bảo:
- Hôm nay hãy lo liệu lương thực đầy đủ, sợ ngày mai sẽ có đông người đến, sử dụng rất nhiều.
Đích thân sư đứng ra thúc giục mọi người khẩn trương làm việc. Mọi người chỉ biết làm theo chứ không lường được ý sư, làm đến tối thì hoàn tất. Sau khi làm xong, sư tắm gội sạch sẽ, khoác đại y rồi trở lại chỗ thường ngồi và bảo mọi người:
- Các người hãy gọi tôi là thiền sư Anh. Tướng cùa thiền sư không thể trái với thế tục.
Sư lại hỏi đệ từ Chí Bầu: “Ông biết Đạo Anh còn bao nhiêu hơi thở không?”. Chí Bầu y theo sự mà đáp lại. Sư nói: “Đúng như vậy!”. Nhân đó, sư giảng pháp yếu: “Vô thường là thường ư? Đừng tự xem thường mình, chớ để một đời luống uổng trôi qua, mà không lợi ích gì”.
Rồi sư bảo mọi người tụng bài kệ Hiền Thủ trong kinh Hoa nghiêm, khi mọi người tụng đến câu: “Đến lúc lâm chung, nên nghĩ đến cõi lành”, thì minh tướng xuất hiện, sư nói: “Xả bỏ thân cũ”, rồi sư an nhiên thị tịch. Mọi người thấy sư bỗng nhiên ngồi yên bất động, liền sờ thử thì toàn thân lạnh ngắt. Theo kinh mà phán định: “Dầu là phàm phu thì nhất định cũng được sinh về cõi lành, huống gì sư hiện điềm lành như vậy, đâu giống phàm tăng?”. Lúc ấy nhằm tháng chín, niên hiệu Trinh Quán thứ bảy (633), thọ 77 tuổi.
Hôm trước khi thị tịch, mọi người hỏi hậu sự, sư đáp:
- Phật đã dạy rõ, cứ y theo đó mà làm, thì không phiền lụy.
Khi sư sắp thị tịch, có đàn chim khoảng vài nghìn con bay đến đậu quanh phòng và kêu thảm thiết, xúc động lòng người. Chí Bầu đứng hầu bên cạnh, thấy hai đứa trẻ mặc y phục xanh mang hoa đi vào, lại có đám mây màu tía giống như ánh sáng từ trong thân sư phát ra, bay lên không xoay quanh nóc nhà, đến sáng sương kết tụ trong khoảng chu vi hai mươi dặm. Người vật đều phát sáng, suốt ba ngày mới hết.
Người dân ở vùng Nhất Xuyên, Bồ Tấn được sư giáo hóa thuở trước, biết tin họ đau buồn, kéo nhau đến viếng như viếng tang ông bà, cha mẹ mình.
Sư thị tịch cảm đến con trâu của một vị tăng rống vang đến mấy dặm, nước mắt đầm đìa, nghẹn ngào không chịu ăn cỏ, uống nước.
Sư tịch được bảy ngày, sắp làm lễ nhập liệm thì tăng tục tranh nhau làm. Vì lúc bình sinh, sư không thích ồn ào, chỉ cầu đức hạnh. Nên họ lập thêm mộ ở phía nam lăng Diên Niên, thuộc đông thành Hạ Ngu, phía nam tràng viên của sư để an táng. Nhưng họ vừa bổ nhát cuốc đầu tiên thì đất chấn động mạnh, mỗi người nắm lấy cỏ để tự giữ mình, ai nấy đều sợ bị ngã. Quanh đó mười lăm dặm cũng bị chấn động mạnh, mọi người rất sợ hãi.
Lại có hai đường cầu vồng xuyên qua kim quan, chim trắng hai đầu bay lượn quanh phía trên mộ huyệt, cất tiếng kêu ảo não tỏ vẻ tiếc thương rồi bay xa.
Sư giáo hóa mọi người và vật, kẻ mất người còn đều có lợi ích. Nếu không ngang với giai vị Chủng tính thì đâu cảm được điềm lành này! Sư không màng đến danh lợi, ở đời thật có người như vậy sao?
27.9.8. Đời Đường, sa-môn Thích Xoa Đức: Sư người huyện Lễ Tuyền, trú tại chùa Lương Sơn, Ưng châu; thân hình to lớn, mi dài, mặt xương. Sư sống đạm bạc, mặc áo vải thô, thích đi khắp nơi khuyến hóa mọi người làm việc thiện.
Sư đoán việc tương lai rất đúng; năm nào có thiên tai, khí độc, dịch bệnh thì sư khuyên mọi người thờ kính Tam bảo, hoặc lễ Phật, thiết trai cúng dường, hoặc niệm danh hiệu Phật, tụng kinh. Những người làm theo lời sư khuyên đều qua khỏi tai nạn, còn những người không tin thì gặp tai họa. Sư dự đoán những điềm chính xác như thấy trước mắt.
Có lần, gặp lúc trời hạn hán, mọi người lo sợ hỏi sư. Sư huơ tay nói, ngày đó trời sẽ mưa, nhưng chỉ mưa ở những nơi đó, chỗ kia. Đến lúc trời mưa, thật đúng như sư đã nói. Hoặc sư dự đoán côn trùng phá mùa màng, bạo loạn gây hại, phạm vi rộng hẹp đều đúng; hoặc dự đoán mưa lụt ảnh hưởng xa gần, ngập chìm sâu cạn đều đúng, giống như vật cực nhỏ hiện trong gương sáng.
Sư giữ lòng trong sạch, nghiêm cẩn, không quá nghiêm ngặt về điều khoản giới luật, nếu không đủ sức hành trì thì không cho thụ giới pháp.
Lúc trẻ, sư xuất gia chỉ thụ mười giới, nhưng vẫn hành trì các thiên, tụ và giới tướng khác.
Những năm cuối đời, sư xây hồ A-nậu-đạt ở phía nam núi Cửu Tuân, đục đá làm bát ở bên hồ dùng để cứu chúng sinh.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ mười hai (638), sư tịch tại một tinh xá trong núi. Mọi người thương tiếc cùng nhau dựng bạch tháp trên đỉnh núi thờ sư.
27,9.9. Đời Đường, sa-môn Thích Thông Đạt: Sư người Kinh Dương, Ung châu, trú tại chùa Luật Tạng ở kinh đô Trường An. Năm ba mươi tuổi xuất gia, không ở nơi nào cố định.
Có lần sư vào núi Thái Bạch, nhưng không mang theo lương thực, đói lại ăn rau rừng, khát thì uống nước suối, nghỉ nơi gốc cây, ngồi thì thiền quán. Trải qua năm năm tu tập siêng năng như thế, không bao giờ gián đoạn. Nhân lấy cây đập những hòn đất, đất tan thì hình tướng mất, do thấy sự biến diệt này, sư hoát nhiên đại ngộ, thấy được bản tâm.
Khi về già, sư trụ ở chùa Luật Tạng, có lúc đi khắp nơi nghe kinh Đại thừa, tâm lượng phóng khoáng. Hằng ngày chỉ mặc một bộ y phục, quấn một chiếc khăn, đắp y bá nạp, một đôi giày cỏ mang suốt ba mươi năm; chưa từng dùng đến lụa quý và những đồ trang sức khác. Dù mùa đông hay mùa hạ, sư cũng chỉ như thế, chẳng đoái hoài đến nóng lạnh. Sư thường lên pháp tòa giảng giải ý nghĩa Phật pháp.
Thời ấy, có quan Tả bộc xạ Phòng Huyền Linh nghe sư có nhiều điềm linh dị, liền thỉnh về nhà cung phụng, kính trọng như cha. Nhưng sư đã thể ngộ được đạo, nên không câu nệ hình thức, nói năng không chọn lời, tâm ý phóng khoáng. Huyền Linh chỉ từ phong thái và tâm lượng của sư mà tiếp đãi, chứ không quan tâm đến lời nói và hình tướng. Sư được quí trọng như thế, nên quan dân đều rất tôn kính. Sư không ăn ngũ cốc, chỉ ăn rau củ. Dầu được rau hao, rau điếu cũng ăn và xem như cao lương mĩ vị, hoặc được quả đào, quả mận, sư ăn luôn cả vỏ lẫn hạt, không cho là kham khổ. Mọi người thấy lạ hỏị tại sao ăn uống kham khổ như vậy, sư đáp: “Vật của tín thí thật khó tiêu!”.
Từ niên hiệu Trinh Quán (627-650) trở về sau, sư biểu hiện nhiều điều linh dị. Như khi đến nhà ai, sư vui vẻ thì nhà ấy gặp điềm lành, nếu sắc mặt lộ vẻ sầu thảm thì gặp điềm dữ. Khi thì xin tài vật, lúc lại đòi sức người, phải đúng số lượng sư yêu cầu, nếu trái lời thì sẽ hao tổn nhiều hơn.
Hôm nọ, có một người cưỡi lừa tham quan chùa, sư liền đến xin lừa, người kia tiếc không cho, lập tức con lừa ngã lăn ra chết. Vì thế, từ thành thị đến thôn quê, từ giàu sang đến nghèo hèn đều tôn kính sư. Bởi phúc họa đều từ một lời nói của sư. Mỗi khi sư thuyết giảng, luôn khuyên mọi người lìa tâm chấp trước. Những tài vật có được, sư đều vì thí chủ xây dựng chùa tháp.
Đại tướng quân Tiết Vạn Quân vừa nghe sư có những biệt tài kì lạ, liền thỉnh về nhà cúng dường hơn một trăm ngày. Sư luôn giữ phép tắc của tăng, bỗng một đêm nọ sư đòi ăn. Lúc đầu tướng quân không cho, nhưng sư cố xin mãi, ông đành dâng lên, sư liền ăn. Từ đó về sau, hành động của sư thay đổi hẳn. Luôn hiển hiện những điều linh ứng, làm những việc tựa như tà vạy. Có lần sư vào phòng nữ nhân ngủ nghỉ, anh em của tướng quân tính tình thô bạo, không hiểu được mật hạnh của sư, nổi giận đánh sắp chết, sư ngẩng đầu lên nói:
- Các người đánh tôi thân thể tan nát, máu chảy làm ô uế, phải nấu nước nóng tắm cho tôi!
Tướng quân sai người nấu nước, đợi nước sôi, sư cởi bỏ y phục nhảy vào vạc, thân thể không hề bị phỏng mà giống như vào hồ nước lạnh. Những người đứng gần đó thấy vậy vô cùng sợ hãi. Sư còn thúc giục họ cho thêm củi vào. Lúc ấy, cả nhà tướng quân đêu kinh sợ, dâng cho sư gian phòng ngủ ấy. Vì thế, từ đó về sau, nếu có người nào bệnh sư đều bảo nấu nước sôi, sư tắm trước rồi bảo người bệnh tắm thì bệnh đều lành.
Sư từng thiếu một thí chủ hơn một trăm xâu tiền, khi có đủ tiền nhưng không có người mang đi trả. Sư bèn mang tiền ra trước cổng chùa, tìm người gởi tiền, kẻ nhiều người ít, mang đến chợ Tây trả cho thí chủ, đại chúng can ngăn nhưng sư vẫn gởi. Sau đó kiểm lại không thiếu một đồng. Vì đức hạnh của sư sâu dày, nên mọi người đều tin tưởng tuyệt đối.
Bấy giờ, gặp lúc gạo thóc khan hiếm mà sư thiết đại trai hội, mời hết chư tăng khắp các tự viện trong vùng. Sáng hôm sau, đến giờ thụ trai chư tăng đến cả nghìn vị, mà hoàn toàn chưa có phẩm vật cúng dường. Chư tăng chê trách sư, lại xấu hổ với khách mời. Sư nói:
- Có người hứa mang phẩm vật cúng dường thì chẳng dối đâu!
Lúc ấy sợ quá giờ thụ trai, tăng ni định ra về, chợt thấy rất nhiều xe nối tiếp nhau chở thức ăn thơm ngon đến. Thế là tăng ni thụ dụng no đủ mà vẫn còn dư, bèn sung vào kho của chùa, lại cứu được rất nhiều người. Thụ trai xong, người và xe đều biến mất. Mọi người không rõ nhừng xe chở thức ăn từ đâu đến. Bởi vì phàm thánh khó phân biệt, tâm thầm cảm nên thần linh ứng hiện cúng dường, quan lại thứ dân đều tận mắt chứng kiến.
27.9.10. Đời Đường, Thượng trụ quốc Vương Hoài Trí: ông người Phường châu, mất vào niên hiệu Hiển Khánh thứ nhất (656), mẹ của ông là Ton thị và em là Hoài Thiện, Hoài Biểu lúc ấy đều còn sống.
Đến tháng sáu, niên hiệu Hiển Khánh thứ tư (659), có một người không rõ họ tên ở Cao Lăng, Ưng châu, chết đã bảy ngày, trên lưng đã thối rửa, bỗng nhiên sống lại, kể:
- Tôi đã gặp Hoài Trí ở âm phủ, Hoài Trí bảo tôi cầm bút và đọc cho tôi viết thư, sau đó nói: “Ngươi chết là hợp thời, nhưng nay ta phương tiện thả cho ngươi về nhà. Ngươi giúp ta đem lá thư này đến Phường châu tìm người nhà của ta thông báo cho mẹ và hai em ta biết: ‘Hoài Trí nay đã làm Lục sự tham quân ở Thái Sơn, mong mẹ và mọi người khỏe mạnh! Nhưng nhà mình từng mượn gỗ của chùa làm cửa, đây là vật công đức, xin sớm trả lại cho chùa. Hoài Thiện sắp chết, không còn bao lâu nữa, phải mau mau khắc kinh, tạc tượng để trợ phúc. Nếu không làm như vậy, e không có cách nào cứu nó được!’”,
Sau khi người ấy sống lại, vội vàng đem thư đến nhà Hoài Trí và thuật lại việc của Hoài Trí, không sót một câu. Ba ngày sau, Hoài Thiện phát bệnh nặng và chết. Tất cà tăng tục trong châu nghe được việc ấy, đều lo tạo công đức. Huân vệ Hầu Trí Thuần ở Phu châu đã thuật lại việc này.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/11/2015
PUCL QUYỂN 40 - CHƯƠNG XÁ LỢI
Quyển này có một chương Xá-lợi. 37. CHƯƠNG XÁ-LỢI 37.1. LỜI DẪN Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 38 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 38 Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt) 35.6. THÁP CỔ Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng! Có những chún...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 37 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP
QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 32 - CHƯƠNG BIẾN HÓA VÀ NGỦ MỘNG
QUYỂN 32 Quyển này có hai chương: Biến hóa và ngủ mộng. 25. CHƯƠNG BIẾN HÓA 25.1. LỜI DẪN Sự vận dụng của thánh nhân dung thông vô ngại, cảm ứng khắp cùng, cho nên không thể dùng một pháp để tìm cầu, không thể dùng một l...
