PUCL QUYỂN 38 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
16/11/2015
QUYỂN 38 Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt) 35.6. THÁP CỔ Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng! Có những chún...

QUYỂN 38
Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp.
35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt)
Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng!
Có những chúng sinh để chùa tháp cũ hư, điện thờ mục nát, nhà phòng sụp đổ; cửa rơm, vách lá không ngăn được bụi bặm; tường đất, mái tranh chẳng che được móc sương; tường nhà hoang phế, rác rưởi đầy thềm, đường đi không dấu chân người, tăng chúng bỏ lìa, nương nhờ nơi khác, không sửa sang chăm sóc, khiến chùa viện ngày càng suy tàn, tạo tội lỗi không bao giờ dứt. Có những già-lam đêm đêm không có đèn đuốc, ngày ngày chẳng thấy cờ hoa; trên chính điện không tiếng tụng kinh, trong lư hương toàn tro lạnh chẳng tỏa chiên-đàn, khiến ác quỉ lộng hành, thiện thần không bảo vệ. Chùa chiền không bền lâu, chỉ vì tăng sĩ biếng nhác; Phật pháp đã suy vi cũng do cư sĩ không kính thờ. Sự tình như thế mà không lo lắng, còn muốn cầu gì?
Kinh Bảo lương ghi: “Một vị hiền giả có tướng làm vua hiện trên mặt. Một thầy tướng nhìn thấy, liền gả con gái cho vị ấy. về sau, có lần vị ây vào chùa tựa gậy vào vách. Vì sinh lòng kiêu mạn như thế, nên tướng làm vua lặn mất, lại còn bị đọa địa ngục”.
Kinh Tát-già ghi: “Có người sợ chùa tháp và tượng Phật, bồ-tát làm chướng ngại mình, nên bắt dời đi nơi khác. Đó là hạng chúng sinh ác nghịch, đáng bị trị tội nặng”.
Kinh Thập luân ghi: “Người nào phá chùa, giết hại tì-kheo thì khi sắp qua đời, từng lóng xương đau nhức, nhiều ngày không nói được, sau khi chết lại bị đọa địa ngục A-tì, chịu đủ mọi khổ sở”.
Kinh Tam thiên uy nghi ghi: “Khi quét tháp nên chú ý năm việc:
- Không được mang giày dép.
- Khồng được quay lưng về phía Phật.
- Không được bỏ đất tốt trên tháp xuống dưới.
- Không được lấy hoa cũ trên tượng Phật xuống.
- Buổi sáng rửa tay rồi dùng khăn sạch lau tượng Phật.
Lại phải chú ý năm điều khác:
- Phải rưới nước trên đất trước khi quét.
- Phải rưới cho đất thấm đều.
- Phải đợi đất ráo nước.
- Không được quét ngược chiều.
- Không được quét ngược gió.
Cũng có năm điều:
- Không được bỏ đất sạch (trên tháp).
- Phải tự tay nhổ cỏ.
- Phải chuyển đất ở giữa xuống phía dưới.
- Không để sót bốn góc.
- Phải quét sạch phạm vi sáu bước chân trước tháp”.
(Đây là nói người bận công việc, nên hạn chế trong sáu bước chân. Nếu người rảnh việc, nên quét thêm ra thì tốt hơn).
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu có chúng sinh với tâm thanh tịnh cúng dường chư tăng, quét tháp Phật, khi qua đời sẽ sinh vào cõi trời Ý Lạc, thân không có xương thịt, cũng không cáu bẩn, hương thơm tỏa xa một trăm do-tuần, sạch sẽ như gương sáng”.
Kinh Chính pháp niệm cũng ghi: “Nếu có chúng sinh hiểu biết về phúc điền, thấy tháp Phật hoặc tăng phòng bị mưa gió làm hư hỏng, phát tâm tạo phúc đức sửa chữa, tô vá lại hoặc nhờ người sửa sang tháp cũ thì khi qua đời sẽ sinh cõi trời Bạch Thân, được vào rừng lưu li hưởng thú vui ngũ dục với các thiên nữ. Khi hết nghiệp ở cõi trời, người ấy sinh lại làm người có thân thể trắng sạch”.,
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Nếu quét tăng phòng rộng bằng một cõi Diêm-phù-đề, không bằng quét một khoảng rộng bằng bàn tay ở tháp Phật” (luận Thành thật cũng nói như vậy).
Tuyển tập bách duyên kinh ghi: “Quét đất già-lam được năm công đức:
1. Trừ được phiền não trong tâm.
2. Trừ sạch cáu bẩn trên đất.
3. Dẹp được kiêu mạn.
4. Điều phục được tâm.
5. Tăng trưởng công đức, được sinh về cõi lành”.
Kinh Vô cấu thanh tịnh nữ vấn ghi: “Quét tháp được năm công đức:
1. Tự tâm thanh tịnh, người khác trông thấy cũng sinh tâm thanh tịnh.
2. Được người thương mến.
3. Khiến các trời vui vẻ.
4. Gom chứa nghiệp nhân đoan chính.
5. Sau khi qua đời sẽ được sinh vào cõi trời tốt đẹp”.
Kinh Sa-di uy nghi ghi: “Quét tháp có năm nguyên tắc:
- Không được quay lưng về tháp.
2. Không được quét ngược.
3. Phải tưới nước.
4. Không được quét sót.
5. Phải quét từng phần”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi:-“Quét tháp Phật có năm phép tắc: 1. Rưới nước mặt đất.
2. Nhặt bỏ ngói, đá.
3. San quét bằng phẳng mặt đất.
4. Giữ tâm ngay thẳng khi quét.
5. Quét sạch các chỗ dơ.
Sau khi quét sạch sẽ, nếu rải hoa thơm trên đất để cúng dường, sẽ được phúc vô lượng”.
Kinh Hoa nghiêm có bài kệ:
Rải hoa tươi đẹp để trang nghiêm,
Xâu kết hoa thơm thành màn trướng,
Muôn sắc hoa kia tung mọi nẻo
Cúng dường Như Lai khắp mười phương.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Phật còn tại thế, Ngài cùng các tì-kheo đến bờ sông Căng-già, thấy một ngôi tháp bị hư. Các tì“kheo bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Đây là tháp gì mà hư hoại như vậy?
Phật bảo các tì-kheo:
- Trong kiếp Hiền, có vua Phạm-ma-đạt ở nước Ba-la-nại dùng chính pháp giáo hóa nhân dân, nhưng không có con nối dõi. Vua cúng thần để cầu con, nhưng cầu mãi không được.
Bấy giờ, trong đất nước của vua trong một cái hồ kia mọc một cành hoa sen, trên đài hoa có một đồng tử ngồi kiết-già, có ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, miệng tỏa hương thơm hoa Ưu-bát-la, các lỗ chân lông trên thân thoảng hương chiên-đàn. Vua, hoàng hậu và thứ phi thấy vậy, đều rất vui mừng, liền bế về cung
nuôi dưỡng. Đứa trẻ ngày dần lớn khôn, mỗi lúc đứa trẻ bước đi đều có hoa sen đỡ chân. Do có các hương thơm như vậy, nên đặt tên đứa trẻ là Chiên-đàn Hương.
Sau đó Chiên-đàn Hương ngộ được lí vô thường, chứng Bích-chi-phật, bay lên hư không hiện mười tám thân biến, rồi nhập niết-bàn. Vua thâu lấy xá-lợi xây tháp cúng dường. Chính là cái tháp này vậy.
Các tì-tkeo bạch Phật:
- Kiếp trước Chiên-đàn Hương gieo phúc gì mà nay thụ quả báo như vậy?
Phật bảo:
- Vào thời Phật Câu-lâu-tôn ở quá khứ, có một vị trưởng giả ham mê sắc dục. Hôm nọ gặp một dâm nữ, ông sinh tâm tham đắm. Do không có tiền, nên ông vào trong tháp trộm hoá cho dâm nữ, rồi cùng nhau ngủ qua đêm; đến sáng thì toàn thân ông mọc nhiều mụn độc, đau đớn vô cùng. Ông mời thầy thuốc đến chữa trị. Thầy thuốc xem xong và nói:
- Ông chỉ cần thoa Ngưu Đầu chiên-đàn lên các mụn độc thì sẽ lành.
Trưởng giả liền bán hết nhà cửa được sáu mươi vạn tiền vàng, mua sáu lạng Ngưu Đầu chiên-đàn, định bôi lên mụn độc, anh ta chợt nghĩ và nói với thầy thuốc:
- Bệnh của tôi chính là tâm bệnh.
Rồi anh đem hết Ngưu Đầu chiên-đàn nghiền nát, mang đến tháp kia và phát nguyện: ‘Ngày xưa Như Lai tu các hạnh khổ, thệ cứu độ, giải trừ tai nạn cho chúng sinh. Nay thân con đây cũng là một chúng sinh, xin Thế Tôn từ bi thương xót chữa lành bệnh này cho con!’. Nguyện rồi, anh ta lấy bột Ngưu Đầu chiên-đàn thoa lên tháp để bồi thường số hoa đã lấy cắp, chí tâm cúng dường và cầu xin sám hối. Nhờ đó, mụn độc được lành, tất cả lỗ chân lông trên thân đều có hương thơm chiên-đàn. Anh ta nghe được hương thơm ấy, vô cùng vui mừng, lễ bái và phát nguyện rồi đi.
Nhờ công đức này mà không bị đọa vào đường ác, sinh lên cõi trời hay cõi người thường hưởng phúc an vui, mỗi khi đi có hoa sen đỡ chân, lỗ chân lông trên thân thường có hương thơm. Vì thế người trí nên học theo đây”.
Kinh Pháp diệt tận (tiểu bản) ghi: “về sau, khi kiếp Hỏa phát khởi, chỉ những nơi từng làm già-lam là không bị cháy, cho đến chỗ làm thổ đàn của Kim cang giới cũng không bị cháy”.
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Ngày xưa, lúc Phật còn tại thế, một hôm Ngài bảo năm trăm vị a-la-hán:
- Các ông hãy nói xem đời trước mỗi người đã tạo công đức gì mà nay có nhân duyên được gặp Ta và đắc đạo!
Bấy giờ, vị a-la-hán Bà-kiệt-đa-lê từ tòa đứng dậy thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Con nhớ trước đây vô số kiếp có Đức Phật Định Quang ra đời. Sau khi Ngài nhập niết-bàn, mọi người phân chia xá-lợi để xây tháp cúng dường. Vào thời mạt pháp, có một người nghèo không kể sinh nhai, chỉ biết bán củi sinh sống. Một hồm, người ấy đến bên đầm nước tìm củi, trông thấy một ngôi tháp rất đồ sộ, liền đến cạnh tháp chiêm ngưỡng tượng Phật, vui mừng, đỉnh lễ. Ông thấy nơi đây chỉ có chó sói, chim chóc và thú rừng nương náu; cỏ cây, gai góc bần thỉu đầy trong tháp, chẳng có bóng người, không dấu chân đi, không ai cúng dường. Thấy cảnh tượng ấy, lòng ông vô cùng thương cảm, nên dù không hiểu biết Như Lai bậc đại đức, người ấy cũng vui vẻ chặt bỏ cỏ cây, quét dọn đất rác, nhiễu tháp tám vòng, lễ lạy rồi đi. Nhờ công đức đó, sau khi qua đời, người ấy sinh vào cõi trời Quang Âm, ở trong cung điện đồ sộ làm bằng các thứ báu, ánh sáng rực rỡ, đẹp nhất trong các cõi trời. Khi hết tuổi thọ, người ấy trở lại làm Chuyển luân thánh vương một trăm lần, có đủ bảy báu, làm vua bốn thiên hạ. về sau, khi qua đời, người ấy thường sinh vào nhà vua chúa và các dòng họ cao quý, trưởng giả, tiền của vô số, dung mạo xinh đẹp, không ai sánh bằng, người nào trông thấy cũng vui vẻ, mến trọng. Khi người ấy bước đi, đường sá tự nhiên sạch sẽ, trên hư không mưa xuống các thứ hoa.
Ba-kiệt-đa nói:
- Người nghèo ngày xưa kia chính là con hôm nay. Nhờ công đức quét tháp, nên trong một a-tăng-kì và chín mươi kiếp con không bị đọa vào đường ác, dù sinh ở đâu trên trời hay trong cõi người, con tự nhiên được giàu sang, vinh hiển, hưởng hạnh phúc vô cùng. Nay là thân sau cùng, được gặp Phật, con bỏ cảnh giàu sang, xuất gia và chứng quả A-la-hán, có đủ tam minh, lục thông và bát giải thoát.
Nếu có người làm một việc thiện, dù chỉ mảy may cho Phật, pháp, tăng, thì sinh nơi đâu cũng được hưởng phúc báo to lớn vô cùng”.
Kinh Thí dụ ghi: “Vào thời Phật Tì-bà-thi, thái tử Kì-đà cúng dường cho chùa một người hầu nam và một người hầu nữ lo việc quét dọn. Nhờ công đức ấy, đời đời thái tử thường ở trong cung điện bằng bảy báu, hai bên cửa thường tự nhiên có một người nam vàng và một người nữ bạc bưng bát báu đựng đầy bảy báu, lấy dùng không bao giờ hết. Ban đêm thường có hơn năm trăm thiên binh cưỡi ngựa bảo vệ cung điện, không ai dám đến gần; lại có bảy báu của Chuyển luân thánh vương: bánh xe vàng, voi trắng, ngựa xanh, thần châu, ngọc nữ, quan chủ kho tàng, quan chủ binh quyền”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Ngày xưa, ở nước Xá-vệ có vị trưởng giả xây một ngôi tháp. Sau khi qua đời, ông ta sinh lên cõi trời Đao-lợi. Vợ ông ngày đêm thương nhớ chồng, nên luôn luôn buồn rầu, khổ sở. Để đỡ nhớ chồng, bà thường xuyên đến quét dọn, sửa sang ngôi tháp mà chồng đã xây. Bấy giờ, người chồng từ trên trời bay xuống chỗ vợ, thăm hỏi, an ủi:
- Bà nhớ tôi nên buồn rầu chăng?
Người vợ hỏi:
- Ngài là ai?
Người chồng liền đáp:
- Tôi chính là chồng của bà. Nhờ công đức xây chùa tháp nên tôi được sinh lên trời. Vì thấy bà nhớ tôi, thường đến quét dọn, sửa sang ngôi chùa tháp, nên tôi đến đây thăm hỏi.
Người vợ nói:
- Ông hãy đến gần đây!
Người chồng liền bảo:
- Thân thể con người hôi bẩn, nên tôi không thể đến gần được nữa. Nếu bà muốn làm vợ tôi trở lại, thì hãy siêng năng cúng dường Phật, tăng, quét dọn, sửa sang chùa tháp, đồng thời phát nguyện sinh lên cõi trời của tôi. Nếu được sinh lên đấy, tôi sẽ lấy bà làm vợ.
Người vợ làm theo lời chồng, tạo các công đức và phát nguyện sinh lên trời, về sau, bà qua đời, được sinh lên trời, lại kết duyên vợ chồng với người chồng cũ. Lúc ấy hai vợ chồng đưa nhau đến chỗ Phật nghe giảng pháp, cả hai cùng chứng quả Tu-đà-hoàn, rồi trở về cõi trời”.
Luận Phân biệt công đức ghi: “Ngày xưa, trong thành Xá-vệ có vợ chồng nọ rất siêng năng và kính tin Tam bảo, nhưng không có con. Người vợ qua đời sớm, nhờ kính tin Tam bảo nên được sinh lên trời Đao-lợi làm thiên nữ, dung mạo xinh đẹp, không vị trời nào sánh bằng. Thiên nữ ấy nghĩ: ‘Ta rất xinh đẹp, nơi này chẳng có ai đáng làm chồng ta’. Thiên nữ dùng thiên nhãn nhìn thấy người chồng cũ của mình bấy giờ đã xuất gia, già cả, tuy trí kém, nhưng dốc lòng tin, thường siêng năng quét dọn chùa tháp. Thấy vậy, biết ông ấy chắc chắn sẽ được sinh lên trời, thiên nữ liền bay xuống đứng trước, hào quang rực rỡ. Trông thấy thiên nữ, vị tì-kheo hỏi lý do. Thiên nữ đáp:
- Ngày trước tôi là vợ của ngài, nay là thiên nữ. Tôi thấy trên trời không có ai đáng làm chồng tôi, lại thấy ngài tinh tiến tu tập, siêng năng quét dọn chùa tháp, nên biết ngài sẽ sinh lên trời. Tôi mong nếu ngài được sinh lên trời sẽ ở cùng một nơi với tôi và lại làm chồng tôi. Vì thế, nay tôi đến để nói cho ngài biết. Nói xong, thiên nữ trở về trời. Từ đó trở về sau, vị tì-kheo này càng siêng năng quét dọn chùa tháp hơn, tích góp thêm nhiều công đức, về sau được sinh lên cõi trời Đâu-suất. Thiên nữ kia nhớ người chồng xưa, tìm đến nói:
- Phúc báo của ngài tăng thêm nhiều, nên được sinh vào cõi trời Đâu-suất. Từ nay tôi không còn được làm vợ ngài nữa.
Nói xong, thiên nữ bỏ đi. Nghe nói thế, vị tì-kheo lại càng tinh tiến tu tập, nên chứng được quả A-la-hán, đầy đủ sáu thần thông và tám giải thoát”.
Kinh Bách duyên ghi: “Ngày xưa, lúc Phật còn tại thế, trong thành Ca-tỳ-la-vệ có một vị trưởng giả rất giàu, tiền của nhiêu vô cùng. Vợ ông sinh một bé trai khôi ngô tuấn tú, ai thấy cũng quí mến. Khi trưởng thành, bé trai ấy gặp Phật, xin xuất gia tu tập và chứng quả A-la-hán. Bấy giờ, Phật bảo các tì-kheo:
- Trước đây chín mươi mốt kiếp, sau khi Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn, vua Bàn-đầu-mạt-đế thu nhặt xá-lợi, dựng tháp bằng bốn thứ báu để cúng dường, về sau, tháp ấy bị hỏng một ít, có một đứa bé vào trong tháp chơi, thấy chỗ tháp hỏng,
liền vui vẻ khuyến hóa mọi người cùng nhau sửa sang, lại phát nguyện, rồi đi. Nhờ công đức ấy, trong chín mươi mốt kiếp đứa bé không bị đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỉ, luôn được sinh vào cõi người và trời hưởng hạnh phúc, thường được người và trời kính trọng, cho đến hôm nay gặp Ta xuất gia, đắc đạo.
Nghe Đức Phật dạy, mọi người đều vui vẻ vâng lời.
Có bài tụng:
Lưu thân tám vạn tháp,
Báu kết trăm trượng cao.
Phụng hoàng xen linh điểu,
Tay tiên đỡ lộ bàn,
Đẩu củng nâng kèo chạm
Mái tháp giăng lưới châu
Đất báu tựa cát vàng
Chuông gió như chứa âm
Biến hóa nghìn hình chạm
Rực rỡ muôn tượng màu
Ẩn hiện trong khói mây
Thần tiên chợt lai vãng
Sương sớm lưng chừng tháp
Phướn tung chạm mây trời
Nghê bay không dám thở
Côn lượng há ngừa nhìn
Thánh biến vô cùng tận
Cảm phúc thật vô cùng
Nguyện nhờ thuyền từ giúp
Bờ kia đâu còn xa!
35.7. CẢM ỨNG
Khi Như Lai còn tại thế, hằng ngày Ngài đi giáo hóa, khất thực. Một hôm, Ngài gặp một đồng tử đang đùa giỡn lấy đất cát dùng làm bún gạo. Nhờ phúc đời trước, nó gặp được Phật và dâng bún bằng đất cúng dường. Phật cảm kích lòng tốt của nó mà nhận lấy, rồi trét lên vách tinh xá và thụ kí: “Sau khi Ta nhập diệt một trăm năm, đồng tử này sẽ làm vua tên là A-dục”.
Vua A-dục là Thiết Luân vương thống lĩnh cõi Diêm-phù-đề, tất cả quỷ thần đều là quần thần. Vua A-dục sai tất cả quỉ thần ở trên không, dưới đất trong vòng bốn mươi dặm đến mở tám tháp ngày trước, thâu lấy xá-lợi và sai quỷ thần trong một ngày một đêm, cứ tính một ức nhà, dựng một ngôi tháp; tính hết có tám vạn bốn nghìn ngôi tháp. Như ở trên kinh đã nói đủ, đầy không ghi lại nữa.
Nay Thần Châu là cõi nước phương đông. Cho nên ở đất Hán này, căn cứ theo các sách vở mà tìm kiếm thì được hai mươi tháp, đều do vua A-dục xây. Nêu tính luôn số tháp từ khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc đến nay do tăng tục xây dựng có cảm ứng thì đến trăm nghìn ngôi. Vả lại, nay chỉ nói những điềm cảm ứng mà mọi người đều thấy nghe trong hai mươi mốt ngôi tháp của vua A-dục dựng ở cõi này, ở đây chỉ lược thuật hai mươi mốt ngôi, còn nhiều tháp nữa không thể thuật hết. Muốn biết đầy đủ thì xem trong các truyện.
35.7.1. Đời Tây Tấn, tháp ở huyện Mậu, cối Kê: Tháp nay ở huyện Mậu, cách Việt châu về hướng đông ba trăm bảy mươi dặm, hướng đông cách biển bốn mươi dặm, cách trung tâm huyện Mậu về hướng đông nam bảy mươi dặm, phía nam cách thôn Ngô hai mươi lăm dặm.
Theo truyện trước ghi: “Vào niên hiệu Thái Khang thứ hai (281) đời Tấn, có Lưu Tát Hà, người Li Thạch, Tinh châu, sinh ra trong một gia đình nông dân, làm nghề săn bắn. Một hôm Lưu Tát Hà mắc bệnh qua đời, bỗng nhiên sống lại kể đã gặp một vị tăng người Ấn Độ nói với ông: ‘Ngươi có tội nặng đáng lẽ phải vào địa ngục, nhưng vì thương ngươi không hiểu biết nên tha cho trở về. Nay ở cói Kê, Đơn Dương, Tề Thành, Lạc Hạ đều có tháp cổ và tượng Phật bằng đá nổi trên sông do vua A-dục xây. Ngươi nên đến đó chí thành đỉnh lễ, sám hối thì được khỏi tội khổ này.
Sau khi sống lại, Lưu Tát Hà bỏ nghề cũ, xuất gia học đạo, pháp danh Tuệ Đạt. Tuệ Đạt theo lời vị tăng kia dặn đi về hướng nam đến cối Kê tìm kiểm ven biển, khe đầm và khắp núi non, nhưng chẳng thấy nền tháp đâu cả. Tuệ Đạt buồn bực, chán nản, không biết tìm nơi đâu. Đến nửa đêm hôm đó, bỗng sư nghe có tiếng chuông dưới lòng đất, liền đến chỗ ấy chặt cây làm trụ đánh dấu. Khoảng ba ngày sau, bỗng nhiên có tháp báu và xá-lợi từ dưới đất vọt lên. Bảo tháp có màu xanh trông giống tháp đá, nhưng không phải băng đá, cao một thước bốn tâc, vuông bảy tấc, lộ bàn năm tầng giống kiến trúc của nước Vu-điền ở Tây Vực. Bốn mặt của tháp mở cửa sổ, xung quanh đều dát vàng, ở giữa treo khánh đồng. Thường nghe tiếng chuông, nghi là tiếng khánh này. Quanh thân tháp có khắc chạm tượng Phật, bồ-tát, thần Kim cang, thánh tăng V.V.... Tượng rất nhỏ, nhưng nhìn kĩ thì thấy có khoảng trăm nghìn tượng, với đầy đủ mặt, mắt, tay, chân. Tháp này có thể gọi là thánh tích uy linh, chẳng phải trí tuệ của người thường có thể biết được.
Nay tháp này được đặt trong tháp gỗ lớn, vào ngày bát vương mọi người chở tháp ấy đi quanh làng ấp, ai thây cũng lễ bái, niệm Phật và phát tâm lành, trai giới suốt đời. Xá-lợi ấy được an trí ở dưới đáy tháp; bên trái tháp có nhiều dấu tích xưa.
Vùng đất cạnh tháp là huyện Chư Kí, là đất ở kinh đô của nước Việt xưa. Sáp nhập bốn huyện Cú Chương, càn, Mậu, Diệm thành huyện Chư Kí. Cách phía đông bắc một trăm lẻ bảy dặm là Đại bộ. Trong Đại bộ có đô thành nước Việt xưa, chu vi ba dặm.
Địa kí ghi: “Vào thời trung cổ, kinh đô Việt dựng ở đây, nền móng của cung điện đền đài đến nay vẫn còn. Có rất nhiều cây dự chương mọc thành hàng bằng nhau, thẳng tắp bên cạnh các bậc thềm rất đẹp. Vào ngày ba mươi và mùng một mỗi tháng gió mưa làm rung cây phát ra tiếng nghe giống như tiếng khánh đồng. Đến nay bá tính rất cung kính ngôi tháp này”.
35.7.2. Đời Đông Tấn, tháp Trường Can ở Kim Lăng: Sách Dư chí ghi: “Vua A-dục là đệ tử của Phật Thích-ca. Trong một ngày một đêm mà ông có thể sai khiến tất cả quỷ thần trong nước tạo tám vạn bốn nghìn ngôi tháp thờ xá-lợi Phật và đều từ dưới đất vọt lên. Sa-môn Trúc Tuệ Đạt, đời Tấn truyền:
- Phương đông có hai ngôi tháp, một ngôi ở đây và một ngôi ở Bành Thành. Nay ở Trường Can, Mạt Lăng cũng có một ngôi tháp nữa, vậy là có ba ngôi. Nay căn cứ vào thuyết một ức gia đình dựng một ngôi tháp thì ở Đồng Hạ này có nhiều tháp, thật không có gì phải nghi ngờ. Vả lại, hiện tại ở vùng Dương Việt đã có hai tháp, vậy chín châu chắc còn nhiều tháp ẩn tàng!
Cối Kê kí ghi: “Vào thời Đông Tấn, thừa tướng Vương Đạo nói:
- Lúc mới vượt Trường giang lập triều Đông Tấn, một đạo nhân thần khí phi phàm tự nói: ‘Ta từ biển đến đây dựng tháp. Thuở xưa ta đã cùng vua A-dục đến huyện Mậu, đặt xá-lợi Phật ở đây rồi xây tháp trấn giữ. Sau đó, vua A-dục cùng các chân nhân bưng tháp bay lên hư không rồi xuống biển. Các đệ tử đang còn quyến luyến từ biệt, bỗng nhiên tất cả đều rơi xuống hóa thành Ô thạch. Ô thạch giống như hình người. Còn ngôi tháp thì rơi xuống núi Thiết Vi’”.
Thái thú Chử Phủ Quân nghe những người đi biển nói trên đảo cổ đống ô thạch hình đạo nhân có mặc y phục, bèn ra lệnh đào lấy đem về cho ông xem thì thấy hoa văn trên đá có hình dáng giông như ca-sa.
Vào niên hiệu Phổ Thông thứ ba (522), Lương Vũ đế cho sửa sang lại những tháp cũ và xây dựng một ngôi chùa bằng gỗ. Khi chính điện, giảng đường, phòng ốc cất xong, vua đặt tên chùa là A-Dục Vương. Quanh chùa đều là núi xanh và rừng trúc biếc, có xen lẫn hoa cỏ xanh tươi, chim thú bay nhảy vui đùa. Đây quả thật là một cảnh đẹp cho những ai thích an nhàn, nơi đây còn tấm bia ca ngợi cảnh trí và đế cũng có trứ tác bài Lang cố dận tổ.
Trên ngọn núi cách phía đông nam chùa ba dặm có dấu chân phải của Phật, trên đỉnh núi cách phía đông bắc chùa ba dặm có dấu chân trái của Phật. Hai dấu chân ấy in trên đá, nhưng không ai biết dấu nào có trước. Cách phía bắc chùa hai dặm có giếng thánh. Thật ra đó chĩ là một cái hồ sâu. Trong hồ có cá Man li. Người đời thường gọi là cá Bồ-tát, nên nhiều người đến giếng lễ bái, cá nghe tiếng người thì nổi lên.
Đến cuối đời Tùy, có bọn giặc đến giả lễ bái, cá hiện lên, bọn giặc vung đao chém đứt đuôi cá. Từ đó, cá lặn mất dù có gọi cũng không nổi lên. Bấy giờ có người chí tâm cầu thỉnh cá nổi lên để lễ bái, nhưng nó chỉ phun nước mà thôi.
Đến niên hiệu Trinh Quán mười chín (645) đời Đường, pháp sư Mẫn là người đạo cao đức trọng ở vùng Vũ Huyệt đến chiêm bái các thánh tích. Sư thấy cảnh xưa mà lòng vô cùng xúc động.
Sau đó, sư dẫn mấy trăm đồ chúng đến chùa và giảng kinh luận suốt một tháng; quan lại, thứ dân cũng đến chùa nghe rất đông. Một hôm, vào nửa đêm có người thấy hơn trăm vị tăng người Thiên Trúc nhiễu tháp hành đạo. Người ấy kể lại cho mọi người nghe. Các vị tăng trong chùa đều nói: ‘Việc này thường thôi, đâu có gì lạ! Từ trước đến nay, vào bốn ngày lành lớn, mọi người xa gần đến chùa thiết trai gieo phúc, vào lúc nửa đêm thường thấy những vị tăng người Thiên Trúc hành đạo, tụng kinh, tán bái v.v...’.
Niên hiệu Vĩnh Huy thứ nhất (650) đời Đường, xử sĩ Trương Thái Huyền ở cối Kê đến chùa lễ tụng. Sa-môn Trí Duyệt cùng ngủ chung một giường với Thái Huyền. Nửa đêm nghe có tiếng tụng kinh Kim cang bát-nhã, văn tự thật rõ ràng, hai người lắng nghe, thân tâm đều thư thái. Cho đến khi tiếng tụng kinh dứt, thoáng nhìn thì như người thật, nhưng xem kĩ thì thấy không có gì, mới biết là do thần linh trao cho.
Chùa Nhật Nghiêm ở Khúc Trì phía đông nam nội thành Tây Kinh, do Tùy Dạng đế xây dựng. Xưa kia còn làm Tấn vương trấn giữ Hoài Hải, Dạng đế cho rằng ngôi tháp ở kinh đô chưa an trí xá-lợi, nên Dạng đế lấy xá-lợi nơi tháp chùa Trường Can chuyển về kinh, chôn dưới tháp chùa Nhật Nghiêm và dựng bia phía trên.
Bấy giờ, hơn năm mươi đại đức ở Giang Nam nói: “Xá-lợi trong tháp ở kinh đô không phải là xá-lợi trong tháp do vua A-dục xây. Xá-lợi do vua A-dục phân bổ thì còn ở tại chùa Trường Can”. Vì thế kẻ tăng, người tục đều hoài nghi không biết đúng sai.
Đến niên hiệu Vũ Đức thứ bảy (624) đời Đường, chùa Nhật Nghiêm bị tàn phá, tăng chúng li tán khắp nơi, tháp xá-lợi không có người bảo vệ. Bấy giờ, có mười vị đệ tử của luật sư Đạo Tuyên cùng phối hợp với chư tăng chùa Sùng Nghĩa, phường Trường Thọ, phía nam chợ Tây, đào dưới tháp được ba viên xá-lợi, màu trắng sáng, lớn như hạt lúa; một cái móng tay nhỏ có màu vàng nhạt; mấy chục sợi tóc bạc và các vật báu khác như lưu li, các cổ vật, tất cà đều được đựng trong một cái hộp đồng lớn. Xem kĩ thì không thấy có tóc hình xoắn ốc. Lại nghi ngờ móng tay có màu vàng và nhỏ giống như của người thường; móng tay của Phật phải to gấp đôi người thường và có màu đồng đỏ. Nay những thứ đào được không phải như vậy, nên liền đem đến chôn ở dưới tháp, phía tây nam giảng đường của chùa Sùng Nghĩa. Cũng y như trước, tất cả đều được cho vào đựng trong một cái hộp đá lớn. Xưa kia bia được dựng ở trên, nay cũng chôn dưới đất.
Những vị tăng ở Giang Nam đều cho móng tay và tóc này là của Lương Vũ đế. Còn xá-lợi cũng có sự nghi ngờ. Từ đó mà suy thì xá-lợi Phật ở chùa Trường Can có thể đã dời về kinh đô. Nhưng tháp cổ ở Giang Nam vẫn còn những điều thần dị, Những điều được lưu truyền ở chùa Sùng Nghĩa thì chẳng giống như thế. Cho nên nói cả hai thuyết, nhưng về năm tháng thì quá xa xưa, người đời sau không thể biết được nguồn gốc, cho nên phải ghi lại từng chi tiết riêng như thế.
Có ngôi tháp cổ trên vùng đất bằng phảng, phía nam Kì sơn, huyện Phù Phong, Tây Kinh. Vùng này phía nam thì thấp, phía bắc thì cao, nên người trong làng gọi là Phượng Tuyền. Từ thời Chu, Ngụy về trước, ngôi tháp này là chùa A-Dục Vương, có năm trăm tăng chúng an trụ. Đến khi nhà Chu tiêu diệt Phật giáo, chùa bị đập phá chỉ còn lại hai dãy nhà. Đến cuối niên hiệu Đại Nghiệp (617), giặc giã nổi dậy khắp nơi, bá tính cùng nhau xây thành để ngăn giặc.
Đầu đời Đường, do người đông sống hỗn tạp, nên gây ra hỏa hoạn thiêu rụi thành ấy. Tất cả đều không còn, hai dãy nhà kia cũng bị cháy hết.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ năm (631) đời Đường, Thứ sử Kì châu Trương Lượng vốn có lòng tin Tam bảo, đến chùa lễ bái, chỉ thấy nền tháp cũ chứ không có gì che ở trên. Thứ sử tâu vua ban chiếu cho xây dựng đại điện để che nền tháp!’. Vua hạ chiếu hứa khả.
Lại tâu: “Những người già xưa cho rằng tháp này một lần đóng cửa, đến nay đã trải qua ba mươi năm. Nay xin được mở ra để mọi người xem, hầu phát khởi thiện tâm. Vì sợ mở tháp sẽ tụ tập đông người, nên phải bàn tính chứ không dám tự ý mở”.
Vua ban sắc lệnh cho phép mọi người mở tháp.
Sau khi mở, đào sâu xuống hơn một trượng, thấy có hai tấm bia cũ đều được chôn vào thời Chu, Ngụy. Khi đã tìm thấy xá-lợi, liền đem trưng bày cho mọi người chiêm bái. Bấy giờ có một người bị mù lâu năm, hận mắt không nhìn thấy xá-lợi, thì bỗng nhiên mắt sáng. Mỗi ngày có hàng vạn người trong ngoài kinh đô lũ lượt kéo đến tháp xem. Xá-lợi được thỉnh lên cao, mỗi người thấy khác nhau. Có người thấy xá-lợi như ngọc, ánh sáng trắng chiếu suốt trong ngoài; có người thấy màu xanh; có người thấy hình Phật; có người thấy hình bồ-tát, thánh tăng; có người thấy màu đỏ; có người thấy ánh sáng năm màu, hoặc có người không thấy gì hết.
Hỏi: Vì sao có người không thấy gì hết?
Đáp: Vì những người ấy đời trước gây nhiều tội nặng.
Có người hiểu biết bảo nên dốc lòng sám hối. Thế là có người đốt đầu, hoặc đốt tay, hoặc chích máu vẩy lên đất, chí thành, khẩn thiết sám hối, nên thấy được xá-lợi. Những việc như thế rất nhiều không thể chép hết.
Đến tháng chín, niên hiệu Hiển Khánh thứ tư (659) đời Đường, có hai vị tăng là Trí Tông và Tuệ Biện giỏi chú thuật, nên được mời vào trong cung. Khi nói đến việc của tháp vua A-dục, hai vị tâu:
- Vì tháp đã lâu năm, nay cần phải nhờ thí chủ cúng dường tu bổ!
Vua nói:
- Há chẳng phải đồng tử cúng dường đất cho Phật là vua A-dục sao? Như gần đây có tháp thì tháp đó chính là một trong tám vạn bốn ngàn tháp.
Trí Tông nói:
- Chưa rõ thực hư, xin cho đào tìm xá-lợi!
Vua nói:
- Có thể tìm được xá-lợi, đó là nhân lành nhiều đời. Nên đến trước tháp hành đạo bảy ngày cầu thỉnh, khi nào có điểm lành mới được đào tìm xá-lợi.
Vua cấp năm nghìn xâu tiền, năm nghìn tấm lụa để cúng dường. Sáng ngày mùng năm tháng mười, Trí Tông cùng với cấp sử Vương Trường Tín v.v... từ kinh đô khởi hành, đến chiều tối mùng sáu mới đến nơi. Trí Tông liền vào trong tháp một lòng khổ công hành đạo, nhưng qua một thời gian lâu mà vẫn không thấy linh nghiệm.
Đến canh ba ngày mùng mười, Trí Tông lấy lửa than để lên cánh tay đốt hương, kính cẩn nhứt tâm chuyên chú, bỗng nghe dưới pho tượng trong tháp có tiếng rạn nứt, liền lần theo âm thanh ấy đến xem, thì thấy ánh sáng lành rực rỡ từ tháp vọt lên. Dưới chân ba pho tượng đều phóng ánh sáng màu đỏ, trăng, xanh Xoay quanh tượng bay lên cao dần, khi đến đầu cột, hợp thành cái lọng. Trí Tông vô cùng mừng rỡ, định gọi chúng tăng đến xem thì bỗng thấy tăng chúng chắp tay đứng sẵn bên nền trong tháp, họ nói là ở cùng chùa. Trong chốc lát thì ánh sáng dần dần tắt và cái lọng hạ xuống. Khi còn cách đất khoảng ba thước thì không thấy tăng chúng nữa nên mới biết là thánh nhân ẩn thân.
Trong lúc cấp sử Vương Trương Tín v.v... đang cùng nhau xem điềm lành đó, thì có ánh sáng màu hồng rực rỡ phát ra khắp tháp, xoay tròn một hồi lâu mới tắt. Sáng ra, mọi người đến xem chỗ ánh sáng phát ra đó, thấy có một viên xá-lợi, lớn hơn hạt gạo. Xá-lợi phát ra ánh sáng rực rỡ. Tiếp tục tìm họ được bảy viên nữa. Họ đặt tất cả xá-lợi vừa tìm được vào trong bát nước, thì một viên xá-lợi xoay quanh bảy viên kia và tất cả đều phóng ánh sáng chói mắt người. Trí Tông v.v... tâu lại những điềm lành đã cảm ứng lên vua. Vua sai Thường thị Vương Quân Đức v.v... đem ba nghìn tấm lụa làm chi phí tạo hình vua và tượng vua A-dục; số còn dư dùng để tu sửa lại tháp cũ. Nhưng vì vẫn đặt tượng trong tháp, nên mở tháp thỉnh xá-lợi Phật ra ngoàỉ, hầu lưu truyền phúc tuệ.
Vua lại hạ sắc ban cho tăng Trí Tông, Tuệ Biện giữ chức Hồng lô cấp, trụ ở chùa Hội Xương.
Lúc mở tháp tìm xá-lợi có hơn hai mươi người cùng nhau đào tìm. Đến khi tìm được xá-lợi, mọi người đều thấy, chỉ có một người không thây. Người ấy buồn bã, vò đầu bứt tóc khô tâm câu khân, rồi đặt xá-lợi vào lòng bàn tay, tuy có cảm giác hơi nặng nhưng vẫn không thấy. Vì thế mọi người lo sợ không thấy xá-lợi, nên không dám nhìn vào ánh sáng ấy.
Vài ngày trước khi sứ giả mang sắc đến, người ở phường Vân Long phía đông chùa, từ xa nhìn thấy trên tháp có ánh sáng đỏ chiếu khắp gần xa; có người nhìn thấy cái cầu vồng xông thẳng lên trời; có người thây ánh sáng chiếu khắp thành như ban ngày. Sáng hôm sau, họ kể lại việc ấy, chư tăng trong chùa nghe, kinh ngạc và nói: ‘‘Không bao lâu nữa sẽ tìm thấy được xá-lợi. Vì điềm này giống như điềm đã hiện vào niên hiệu Trinh Quán”.
Xá-lợi ấy có hình dạng giống ngón tay út, ban đầu xương dài hai tấc, bên trong rỗng và thẳng, cạnh ngoài cũng vậy; từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài đều sáng sạch, lồng ngón tay vào trong lỗ thì vừa khít. Khi tìm được xá-lợi rồi đội trên đầu để mọi người chiêm ngưỡng. Ngoài ra, ánh sáng còn biến hiện đủ các tướng, không theo một tiêu chuẩn nhất định.
Bấy giờ, tăng tục trong và ngoài kinh thành trong khoảng hai trăm dặm lũ lượt kéo đến tán dương công đức của Phật.
Khi ấy sư Tuệ Mãn trú chùa Từ Ân, kinh đô, vào trong tháp hành đạo. Bỗng sư nhìn thấy trên tảo tỉnh được điêu khắc tinh xảo có cặp mắt long lanh phát ra ánh sáng. Sư liền gọi mọi người đến xem thì ai nấy cũng nhìn thấy như vậy. Mọi người đều kinh sợ, không dám nhìn lâu.
Đến tháng ba niên hiệu Hiển Khánh thứ năm (660) đời Đường, vua hạ chiếu thỉnh xá-lợi đến Đông đô, đưa vào trong cung cúng dường.
Bấy giờ, ở Tây Vực cũng thỉnh xương đỉnh đầu của Phật đến kinh sư. Có người nhìn thấy xương cao năm tấc, rộng khoảng bốn tấc, màu vàng tía. Vua lại cho mời bảy vị tăng ở kinh đô Trường An đến Đông đô Lạc Dương, vào cung hành đạo.
Vua lại ban sắc thỉnh xá-lợi và xương đỉnh đầu cho mọi người chiêm bái và hành đạo. Có vị tăng nói: “Đây là chân thân của Phật, tăng chúng nên đội trên đầu mà cúng dường”. Qua một đêm rồi thỉnh vào cung.
Bấy giờ, hoàng hậu cúng dường tấm chăn và bức rèm, giá trị khoảng bằng một nghìn tấm lụa làm chi phí tạo hòm vàng, quách bạc để an trí xá-lợi. Hai vật ấy được chạm khắc vô cùng tinh xảo.
Đến niên hiệu Long Sóc thứ hai (662) đời Đường, xá-lợi được thỉnh về tháp cũ. Đến ngày mười lăm tháng hai, chư tăng các chùa ở kinh đô cùng với tăng ở chùa có tháp xá-lợi và quan nhân v.v... nhiều vô số kể cùng nhau thỉnh xá-lợi vào thạch thất và bít kín. Đợi ba mươi năm nữa thì tôi chẳng biết được. Mong rằng mai sau mở tháp, khi có hiện điềm lành, giúp ích cho nơi ấy”.
35.7.3. Đời Chu, tháp ở phía nam Kì Sơn, Kì châu: Bằng Huyền Tự người ở thôn Vương Trang, làng Hoa Dương, huyện Kì Sơn, Kì châu, bản tính thô bạo, không kính tin Tam bảo. Mẹ và anh của ông ta theo đoàn rước xá-lợi từ Đông đô về nơi an trí. Huyền Tự ngăn cản không cho, nhưng họ vẫn đến lễ bái xá-lợi rồi trở về nhà.
Huyền Tự nồi giận, nói:
Cái ấy có linh nghiệm gì mà đến lễ bái? Nếu xá-lợi có công đức thì tượng Phật trong nhà ta cũng có công đức!
Thế là ông liền đem tượng ra đốt để xem rốt cuộc có linh nghiệm gì không. Mẹ và anh của ông cố ngăn lại, nhưng không được. Khi tượng cháy hết một nửa, bỗng Huyền Tự ngã lăn ra đất chết giấc. Ba ngày sau ông mới sống lại và nói:
- Tôi thấy mình đến một nơi giống như địa ngục, có con chim lớn bay đến mổ mắt, ngậm lưỡi tôi lôi xuống hầm lửa lờn, lửa thiêu đốt rất khốn khổ, rồi cảm thấy thân thể bứt rứt khó chịu, đưa tay vuốt mặt thì lông mày và tóc liền rụng; nơi nơi đều tối tăm.
Những người thân đứng bên cạnh nhìn, họ đều biết tội đã ứng nghiệm. Mọi người nói:
- Ông tự tạo tội thì tự chịu, không ai có thể thay thế được!
Thần thức của Huyền Tự không giống như người, nên chỉ nói:
- Lửa đốt tâm tôi! Vì nghe lờì của đạo sĩ, nên các ngươi bảo mà tôi không tin, mắc tội hủy báng Phật, nay phải rước họa vào thân. Bị đuổi rượt chạy khắp đông tây, bị đánh đập, la hét kêu gào. Dù chỉ cúi đầu chừng trong khoảng khảy móng tay để sám hối xin tha mạng cũng không được. Vì từ sáng đến tối đều bị rượt đuổi, kêu gào không phút giây nào tạm dừng.
Đến ngày mười ba tháng hai, người thân thương xót thỉnh chúng tăng tụng kinh sám hối, xin tạo tượng Phật và đưa Huyền Tự đến tháp. Lúc đó, pháp sư Hạnh Kiên đang thuyết pháp cho mọi người nghe. Tì" kheo ni Bùi Thượng Cung v.v... cùng với mấy trăm nam nữ và hàng vạn người khác đều thấỵ Huyền Tự năm vóc sát đất ở trước tháp xá-lợi gào khóc, dập đầu chí thành sám hối tội không tin Tam bảo, tội phá hạnh thanh tịnh của tì-kheo ni, tội mắng chửi chúng tăng, trộm thức ăn, trái cây của chúng tăng. Sau khi sám hối rồi, ông ngủ mới được chút an ổn. Nhưng họa lớn chưa trừ, chưa đầy một năm sau ông qua đời.
Xương đỉnh đầu của Phật, nếu dùng trân bảo để đối thì giá trị bằng bốn nghìn tấm lụa. Nên vua y theo số ấy dùng tơ lụa mà đổi lấy. Xương đỉnh đầu hiện nay đang an trí trong tháp để cúng dường. Vậy chỉ có búi tóc và xương đỉnh đầu nhỏ, còn xương đỉnh đầu lớn chưa đến Trung Quốc.
35.7.4. Đời Tùy, tháp chùa Phúc Cảm, ích châu: Tháp Đại Thạch của chùa Phúc Cảm ở phía tây Quách Hạ, ích châu. Tương truyền quỷ thần vâng lệnh vua A-dục lấy những tảng đá lớn ở Tây sơn xây nền tháp và an trí xá-lợi trong ấy, nên gọi là tháp Đại Thạch.
Đời Tùy, Thục vương Tú trấn giữ Tĩnh Lạc nghe được việc đó, cho người đào xuống thì gặp toàn là đá, lần theo một khe hở thì đến một con suối, nhưng không biết nó bắt nguồn từ đâu. Sau đó, gió mưa ầm ầm kéo đến. Bấy giờ, có người đục lấy một miếng đá bên cạnh tháp đem ra ngoài. Đó là một loại ngọc đen, hỏi những người buôn báu vật, họ cho đây chính là ngọc đen thật, hiếm có ở đời. Đầu đời Tùy (581) luật sư Sân thấy dấu tích này, nên dựng một ngôi chùa bằng gỗ chín tầng, đến nay vẫn còn.
Khi ích châu gặp nạn hạn hán hay lũ lụt, đều đến tháp này cầu nguyện thì liền cảm ứng. Vì có những cảm ứng, nên gọi là chùa Phúc Cảm.
Gần đây có người trộm cái linh, vừa mang xuống tầng ba thì bị một vị thần chặn lại, nhấc cây trụ ngắn đè lên bắp đùi tên trộm. Tên trộm bị đè nên kêu la, tăng chúng trong chùa nghe tiếng la chạy đến nhấc cây trụ lên tên trộm mới thoát được.
Đốn niên hiệu Vĩnh Huy thứ nhất (650) đời Đường, cố Vương Nhan Tử là một tên cướp khét tiếng, ban đêm leo lên tướng luân lấy lò hương Bác Sơn, khi đem xuống đến tầng cuối cùng thì bị hai cây cột kẹp hắn lại. Tên trộm tìm cách thoát thân nhưng không được, ngược lại hai cây cột càng lúc càng kẹp chặt hơn. Trong lúc nguy khốn, hắn thấy một vị tăng người Thiên Trúc đến bảo: "Ngươi hãy kêu to ‘cướp’, nếu không la to sẽ bị chết”. Tên cướp liền la lớn mấy tiếng. Khi ấy, tăng chúng trong chùa nghe tiếng la, đến cứu giúp, tên trộm mới thoát ra được.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627) đời Đường, mặt đất chấn động, tháp này bị lắc mạnh, sắp ngã đổ. Khi ấy, vô số người ở Quách Hạ kéo đến tháp. Bỗng họ thấy bốn vị thần thân hình to lớn như ngôi tháp, mỗi vị một mặt tựa lưng vào tháp. Tuy ngôi tháp cũng bị lắc lư nghiêng ngả, nhưng không đổ. Chứng kiến điềm lành đó, tăng tục đều cho là việc chưa từng có.
Cái lộ bàn trên đỉnh tháp nhỏ và thấp, không tương xứng với ngôi tháp. Có một người rất giàu, xưa nay tiêu xài phung phí, nay chứng kiến điềm linh dị ấy, nên bỏ ra ba trăm lượng vàng cùng với những tín sĩ khác làm lại cái lộ bàn. Lộ bàn làm xong, khi tháo khuôn đên phần bát úp, thì hương thơm từ trong đó phun ra như mây bay cuồn cuộn, lan tỏa khắp thành, bảy ngày sau mới dứt.
35.7.5. Đời Tùy, tháp ở huyện Tấn Nguyên, ích châu: Tháp cách ích châu về phía tây nam hơn môt trăm dặm, nay là chùa Đẳng Tuyền, xưa gọi là chùa Đại Thạch. Nguyên nhân có tháp này, về cơ bản cũng giống tháp trước, nhưng hình dáng khác với những tháp cổ khác. Há chẳng phải được quỷ thần, mọi người của vùng ấy ưa thích lắm sao? Ba tháp ở đất Thục đều là tháp đá, còn với những tháp khác thì không định chắc.
Tháp ở huyện Lạc cách ích châu về phía bác một trăm dặm. Hiện tháp nằm trong khuôn viên chùa Bảo Hưng, Quách Hạ, phía bắc thành huyện. Tháp ấy xưa có tên là Đại Thạch, nền móng giống những tháp vừa kể trên.
Đầu đời Tùy có sư Đàm-ma-quật-xoa, người Thiên Trúc đến Đông Hạ đỉnh lễ tháp A-dục vương. Nhân đó đến lễ bái ba tháp ở đất Thục, sư đến chỗ tháp Đại Thạch, huyện Lạc. Sau khi đỉnh lễ tháp xong, sư định đến Thành Đô, đêm hôm đó, sư nghỉ lại trạm Lưỡng Nữ. Đến gần sáng sư nghe chung quanh như có tiếng chân đi.
Sư hỏi:
- Ai đó? Dọa tôi sao?
Trên hư không có tiếng nói:
2 Có mười hai vị thần vương từ Thiên Trúc đến đây để bảo vệ pháp sư. Sáng mai ngài sẽ thấy tháp ở Thành Đô. Nay chúng tôi sắp về Thiên Trúc, nên đến từ biệt pháp sư.
Sư lại hỏi:
- Đã hộ tống tôi một đoạn đường xa, sao không hiện hình?
Các vị thần liền hiện hình. Đàm-ma-quật-xoa là người vẽ giỏi, sư liền vẽ hình từng vị một. Khi sư vẽ xong các vị thần ấy liền biến mất.
Sau khi sư đến Thành Đô đỉnh lễ tháp, Sân luật sư liền y theo những hình mà sư đã vẽ, khắc mười hai pho tượng gỗ rồi an trí dưới tháp, đến nay vẫn còn.
Sa-môn Đạo Trác ở chùa Pháp Thành, Quách Hạ, ích châu, là một danh tăng. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ nhất (605) đời Tùy, sư thấy ngôi tháp ở huyện Lạc không có người trông coi, tu bổ, chỉ còn lại nền móng. Sư liền vận động mọi người xây dựng một ngôi chùa bằng gỗ và trang trí đầy đủ. Tháp ấy được rồng bảo vệ. Rồng sống trong giếng ở góc tây nam và nhiều lần xuất hiện. Gần giếng có ba cái hố, không ai biết sâu hay cạn, có ba con rồng ở trong đó, nên không ai dám đến xem.
Niên hiệu Trinh Quán mười ba (639) đời Đường, ba con rồng giao chiến vớỉ nhau một trận, nổi sấm sét, phun lửa, tuôn nước một hồi lâu mới dừng. Nhưng ngôi tháp vẫn đứng vững không bị hư tổn. Mọi người nhặt được vảy rồng dài khoảng ba thước, màu vàng đỏ rất đẹp.
35.7.6. Tháp chùa Siêu Hóa, Trịnh châu: Tháp cách huyện Mật mười lăm dặm về phía đông nam và cách Trịnh châu hơn một trăm dặm về phía tây nam. Phía đông tháp nhìn ra sông lớn, phía tây hướng về núi Tung, phía nam hướng về núi Quy và phía bắc lại có dòng sông. Chiều đông tây của ngôi chùa dài khoảng năm sáu chục bước, chiều nam bác cũng như vậy. Tháp nằm ở góc đông nam của chùa, phía bắc nối liền với chùa bởi một khu đất vuông vức khoảng mười lăm bước. Nền tháp này nằm trên vùng bùn lầy. Phía tây, phía nam đều có năm sáu mạch suối, mỗi lồ mạch vuông ba thước, nước từ mạch vợt lên, tràn chảy thành dòng. Trên suối ở chỗ bùn lầy được đóng cọc bằng gỗ bách, trên mặt bùn nước theo thứ tự đặt các lớp than đốt, cát, đá vôi, trên cùng lát một tảng đá vuông lớn như chiếc giường tám thước, bốn mặt tảng đá đục một đường rãnh rộng một thước năm tấc, sâu năm tấc, dùng thép gia cố.
Gần đây có một người thử lật tảng đá ấy lên thì thấy phía dưới có đá vôi rồi đến cọc cây bách, họ liền rút lên một cây dài ba trượng, đường kính bốn thước và cây cọc vẫn còn nguyên. Nếu chẳng phải Chuyển luân thánh vương dùng thần lực làm biểu tháp này thì làm sao có thể xây dựng được như vậy? Từ xưa đến nay chưa thấy có loại kiến trúc tương tự như thế. Hiện nay trên nền ấy xây tháp ba tầng. Phía nam tháp có suối lớn nước vọt lên rất mạnh, nhưng hoàn toàn không nghe tiếng nước, há chẳng phải do thần linh hóa hiện ư?
Ngài Đạo Nghiêm ở U châu, họ Lí, hình dáng cao lớn, vốn là một vị tăng từng tu tập tại bốn đạo tràng của Tùy Dạng đế, về sau ông mặc đồ thế tục. Năm nay ông đã một trăm lẻ năm tuổi, một mình ở trong rừng sâu. Mỗi năm ông đến tháp này thành tâm cúng dường bảy ngày. Lấy làm lạ vì suối phun nước mạnh mà không có âm thanh, nên ông sai một người thuộc dân tộc thiểu số giỏi sông nước lặn xuống suối xem, người ấy chỉ thấy trụ đá la liệt, không biết được bờ mé, trên có một ngôi tháp báu cao chừng ba thước đứng lưng chừng. Bốn mặt nước vây quanh, tháp đứng an nhiên, nhưng ông không thể đến chỗ tháp. Xét tìm nguồn gốc chảng ai biết được manh mối. Người đời bảo ràng tháp này do vua A-dục xây dựng. Từ đời Tùy Văn đế đến nay chùa tháp vẫn còn.
35.7.7. Tháp chùa Diệu Lạc, Hoài châu: về phía đông Hoài Châu, cách huyện Vũ Trắc bảy dặm về phía tâỵ, trong chùa Diệu Lạc có ngôi tháp trắng năm tâng, nền tháp hình vuông, mỗi cạnh mười lăm bước. Tháp được xây bàng đá xếp chồng lên nhau. Mỗi tảng đá dài năm thước, rộng ba tấc, phía dưới xếp đá theo hĩnh vảy cá rất tinh xảo. Mọi người thấy đều ngạc nhiên cho là do quỷ thần làm; lại chẳng thể lường được chiều sâu của nền móng. Các người già truyền nhau: “Tháp từ dưới đất vọt lên, phía dưới toàn là nước; chătng ai biết được hư thật thế nào”. Quan Thứ sừ nghi điêu này do chúng tăng dối tạo nên sai người đào một bên tháp, đào đến nguồn suối mà cũng không thấy được đáy của nền tháp.
35.7.8. Tháp ở huyện Lâm Hoàng, Thụy châu: Tháp nằm cách huyện ba mươi dặm về phía tây bắc, vốn có tên là chùa Xá-lợi, hiện nay chư ni ở đó và ngôi tháp vẫn còn. Ba phía đều là sông nước, chỉ mở lối đi ở phía tây. Nền tháp được xây đá từ dưới đáy nước lên, hoa sen nở đầy khắp cả ba phía, dòng nước lặng trong, sâu thẳm, không ai dám lội xuống. Truyền rằng tháp xá-lợi này nằm lưng chừng trong nước.
35.7.9. Tháp gạch ở huyện Lâm Ấp, Tề châu: Tháp này do ngài Chí Công xây, bốn mặt đều có tạc tượng thú bằng đá, dáng vẻ rất đáng sợ. Lúc nhà Chu hủy diệt Phật pháp, triều đình khiến cả trăm người kéo, nhưng không lay động cũng không tổn hại.
35.7.10. Chùa Không Tuệ, ích châu: Chùa nằm phía nam thành này, trong chùa có một cái hang, vị đạo sĩ gần đó biết trong chùa có kho vàng. Ông đến chùa cầu xin thần giữ chùa, thần bảo ông vào hang lấy hai đấu thóc vàng. Theo lời, ông vào hang, nhưng chỉ thấy dưới đất có vô số chum vàng xếp thành từng hàng ngay ngắn, không biết số lượng. Tăng trong chùa phát hiện, nên ông ta không dám xâm phạm.
35.7.11. Tháp cổ ở núi Đàn Đài, Phường châu: Cách Ngọc Hoa cung ở Phường châu khoảng hai mươi dặm về hướng nam là núi Đàn Đài. Trên núi có một ngôi tháp cổ, nền rất rộng lớn, vuông vức, mỗi cạnh bốn mươi ba thước. Tháp chỉ còn một tầng bằng gạch, mở cửa bốn mặt. Cửa lớn bằng đá cao hơn bảy thước, rộng hơn năm thước, gần tháp có rất nhiều gạch vỡ. Các người già kể: “Ngày xưa, Chu Văn vương đến đây săn thú, thấy một vị sa-môn ôm bình bát, cầm tích trượng đứng trên đỉnh núi, vua gọi nhưng ngài không xuống. Vua liền sai lính lên núi tìm bắt, khi sắp đến thì ngài biến mất, ở xa trông thì thấy ngài vẫn còn đứng đó. Vua sai người đào xuống chỗ ngài đứng sâu chừng ba trượng thì nhặt được bình bát và tích trượng. Vua rất quý trọng di vật, liền cho xây tháp gạch cao mười ba tầng ở đó. Sau này những thôn trang lân cận vẫn thường nghe tiếng chuông phát ra từ khu tháp ấy”.
Niên hiệu Long Sóc thứ nhất (661), sư Tuệ Quý ở chùa Từ Ân tại kinh đô nghe được việc này nên tìm đến xem. Đến nơi, sư nghe được tiếng chuông, lòng càng cảm khái với di tích xưa, nên muốn tu sửa ngôi tháp, nhưng lòng còn do dự vì không đủ tiền. Sau đó, cảm được vị thiện thần hộ tháp đến nói:
- Nên tu sửa ngay, không cần phải nghi ngại.
Lần khác ngài cũng cảm được một vị cao tăng đến nói:
- Ta là bồ-tát ở cõi tịnh phương nam đi giáo hóa qua đây. Ngôi tháp này từ xưa đến nay trải qua bốn lần tu tạo, chớ ngại mệt nhọc, dụng công ắt thành. Ông chỉ cần làm cho kiên cố, không cần lộng lẫy và chỉ nên làm ba tầng.
Nghe vậy, sư liền đích thân lo việc xây dựng. Bên cạnh tháp có hơn ba mươi lò gạch cũ còn đầy gạch nung. Lại đi về phía nam của tháp thì gặp một ngôi chùa cổ nằm cạnh con sông. Chùa tựa lưng vào núi cao, mặt nhìn ra dòng sông; là thắng địa u tịch một thời. Trước khi tu sửa tháp, tiếng chuông cứ đúng giờ lại ngân lên. Nhân đó, sư liền cho xây lầu chuông, rồi y theo thời gian ấy mà thỉnh ba hồi dài, giống như các chùa hiện nay thỉnh chuông tập tăng lên chính điện.
Niên hiệu Long Sóc thứ ba (663), người ta khai quật được bài minh cổ ghi: “Niên hiệu Bảo Định (561) đời Chu, tháp bị đổ. Ban đầu, tháp quay mặt về hướng nam, nhìn ra sông Vị”. Lại ghi: “Tháp tồn tại hơn bốn trăm năm mới đổ”.
Xét từ niên hiệu Bảo Định đời Chu đến niên hiệu Khai Hoàng thứ nhât (581) là hai mươi năm. Từ niên hiệu Khai Hoàng đến niên hiệu Long Sóc thứ nhất (661) là tám mươi mốt năm. Lại tính theo bài minh ghi sau bốn trăm năm tháp mới đổ, thì tháp này được xây dựng sau thời nhà Hán (206BCX220). Nhưng không biết người già nói Chu Văn vương là vị hoàng đế đời nào, vì nhà Hậu Chu thì chẳng có vị vua nào có tên thụy là Văn, còn Tiền Chu thì quá xa. Chưa biết các người già ngày xưa lưu truyền thế nào, chỉ biết rằng tháp gạch rât lớn, nhất định chẳng phải là người bình thường xây dựng.
Ở Lô sơn, Giang châu có ba chiếc cầu đá dài mấy mươi trượng, nhưng rộng chưa đến một thước, đứng trên cầu nhìn xuống không thấy đáy.
Khoảng niên hiệu Hàm Khang (335-342) đời Tấn, Dữu Lượng cai quản Giang châu. Một hôm lên núi, ông đi qua khỏi cầu thì thấy một cụ già cao lớn khác thường, lại thấy có tòa nhà cao rộng, cung điện nguy nga, có bảo tháp cao vút, không biết là của ai. Nhìn hồi lâu, ông biết đó không phải là nhà của người phàm, liền lễ bái đi về.
Niên hiệu Trinh Quán hai mươi mốt (647) đời Đường, trụ tây nam của tháp ở chùa Hưng Quốc tại Kinh châu vô cớ phát ra âm thanh, mọi người đến xem thì thấy đầu Phật bằng đồng xuất hiện, từng ngày dần dần lộ ra, trải qua ba đêm mới hiện ra đầy đủ hình một vị Phật đứng, cao khoảng sáu tấc. Mọi người đều lấy làm lạ.
35.7.12. Tháp bên cạnh thành Liêu Đông, nước Cao-li: Các người già kể: “Ngày xưa, ở nước Cao-li có vị vua hiền minh cai trị đất nước. Một hôm, vua tuần du, dàn dần đến thành này, ông thấy đám mây ngũ sắc che phủ một vùng đất, liền đến xem thì thấy trong đám mây ấy có vị tăng đang đứng, tay cầm tích trượng. Vua đến gần thì vị tăng biến mất, đứng xa nhìn thì lại thấy vị tăng xuất hiện. Bên cạnh có tháp ba tầng bằng đất, trên đỉnh tháp có hình giống như cái chảo úp, không biết là gì. Vua đến đó tìm vị tăng thì chỉ thấy đám cỏ hoang, đào sâu xuống đất một trượng
thì nhặt được gậy và giày; tiếp tục đào gặp được tấm bia có khăc chữ Phạn. Có một cận thần biết nói đó là tháp Phật. Vua hỏi kĩ thì vị quan trả lời rằng nước Hán cũng có tháp này và được gọi là Bồ-đồ. Nhân đó vua phát khởi lòng tin liền cho xây tháp gỗ bảy tầng, về sau, Phật pháp được du nhập mới biết cội nguồn việc này. Ngày nay tháp cũ đã hư hoại. Xưa nơi đây là châu Diêm-phù dưới quyền cai trị của vua A-dục, vua cho dựng tháp khắp nơi, nên việc này chẳng có gì lạ.
Nước Nhật nằm ở vùng biển đông trong châu Diêm-phù-đề, cách cối Kê khoảng hơn mười nghìn dặm. Vào niên hiệu Đại Nghiệp thứ nhất (605) đời Tùy, có vị quan tên Hội Thừa đến Trung Hoa học tập, tinh thông các môn tư tưởng học thuật, lịch sử, kỹ thuật... Đến niên hiệu Trinh Quán thứ năm (631) đời Đường, ông cùng bảy vị gồm tăng và tục mới trở về nước.
Trước khi về, những vị đại đức ở kinh đô thường hỏi ông về tình hình Phật pháp ở nước kia. Nhân đó họ cũng hỏi:
- Kinh nói: “Phật nhập niết-bàn một trăm năm, vua A-dục mới ra đời, thâu lấy xá-lợi của tám nước, rồi sai các quỷ thần chia ra, cứ một ức gia đình xây một tháp Phật; đã xây được tám vạn bốn nghìn ngôi tháp khắp châu Diêm-phù”. Nước kia Phật pháp đến muộn, không biết trước đó đã có tháp vua A-dục xây không?
Hội Thừa đáp:
- Văn tự nước tôi không ghi lại, nên không có gì làm căn cứ, nhưng xét về linh tích thì cũng có bằng chứng. Vì người nước tôi khi khai khẩn đất đai thường tìm thấy những ngôi tháp cổ và lộ bàn, cũng có tượng Phật phóng quang, các điềm lành lạ như thế thường ứng hiện. Cho nên biết chác chắn là có tháp của vua A-dục xây.
35.7.13. Những tháp ở các nước khác
35.7.13.1. Tháp ở nước Tân-la
Tây vực chí ghi: “Người nước Tân-la rất sùng kính Phật giáo, tại kinh đô nước này có một ngôi chùa tên Hán Tự. Ngày xưa, sứ giả người Hán đến đây xây một ngôi chùa bằng đá cao một trăm thước, đạo tục đều cung kinh khác thường. Trong chùa ấy có thờ xương đỉnh đầu và tóc Phật; tóc máu xanh hình xoáy ốc. Xương và tóc được an trí trong hộp vàng, trang hoàng bảy báu.
Phía tây bắc kỉnh đô có Vương tự. Trong chùa có thờ chiếc răng của bồ-tát Thích-ca lúc nhỏ. dài một tấc. Phía tây nam kinh đô có chùa Vương Phi. Trong khuôn viên chùa có ngôi tháp đồng, cao một trăm thước, trong tháp có thờ xá-lợi xương. Vào sáu ngày trai, ban đêm tháp thường phóng ánh sáng, chiếu quanh thừa lộ bàn cho đến khi trời sáng".
35.7.13.2. Tháp ở kinh đô cúa vua Ba-tư-nặc
Tây vực chi ghi: "Có ngôi tháp lớn nằm bên bờ biển phía đông cách kinh đô cúa vua Ba-tư-nặc một trăm dặm. Trong ngôi tháp lớn ấy có một ngôi tháp nhỏ, cao một trượng hai thước, được trang hoàng bằng các loại báu. Tháp đó ban đêm thường phóng ánh sáng giống như đống lửa lớn".
Có thuyết nói: "Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn năm trăm năm. bồ-tát Long Thọ xuống biển giáo hóa Long vương. Long vương mang tháp báu này dâng cúng bồ-tát Long Thọ. Ngài Long Thọ nhận rồi, đem về tặng lại cho nước này. Vua liền xây một tháp lớn phủ lên ngôi tháp báu đó. Từ xưa đến nay nếu người nào có cấu nguyện gì đều phải lề lạy, đốt hương, dâng lọng hoa. Lọng hoa ấy tức thời từ đất lớn dần, cao bằng tháp, rồi lên tận hư không, trải qua một đêm thì biến mất, không biết về đâu.
Tây vực chí ghi: "Bồ-tát Long Thọ dựng bảy trăm ngôi tháp trong nước Ba-la-nại. Ngoàỉ ra. cũng có vô lượng tháp do người thường và các bậc thánh xây dựng. Dọc theo bờ sông Thiền-Iiên có xây dựng hơn một nghìn ngôi tháp và cứ năm năm mở đại hội Vô-già một lần".
35.7.13.4. Tháp Tước Li: Tháp Tước Li ở phía đông nam. cách thành Kiền-đà-la, Tây Vực bảy dặm. Khi Đức Phật còn tạỉ thế một hôm Ngài cùng chúng đệ tử du hóa ở vùng đất này. bỗng Ngài chỉ vế hướng đông nói:
- Sau khi Ta nhập niết-bản hai trăm năm, có vua Ca-nị-sắc-ca sẽ xây tháp ở chỗ ấy.
Sau khi Phật nhập niết-bàn hai trăm năm, vua Ca-nị-sắc-ca đi tuần đến phía đông thành, thấy bốn đửa trẻ lấy phân bò xây tháp, cao khoảng ba thước, rồi trong chớp mắt bốn đứa trẻ biến mất Vua lấy làm lạ, nên liền cho xây một ngôi tháp trùm lên tháp đó. Tháp phân bò kia cứ cao dần lên và vượt ra ngoài, cách mặt đất bốn trăm thước. Vua lại mở rộng nền tháp đến hơn ba trăm bộ, rồi dựng một tháp gỗ bằng ngôi tháp ấy. Bên trên có dựng trụ sắt cao ba trăm thước, thừa lộ bàn bằng vàng mười ba lớp, tổng cộng cao bảy trăm thước. Khi ngôi tháp mới dựng xong, cái tháp phân bò vẫn như cũ, nằm ở phía nam cách ngôi tháp lớn ba trăm bộ.
Bấy giờ có một bà-la-môn không tin đó là tháp phân bò, lấy tay ấn vào thì thủng một lỗ. Dù trải qua nhiều năm mà tháp ấy vẫn không bị mục nát. Có người dùng bùn thơm trét lại lỗ thủng đó, nhưng trét bao nhiêu cũng không kín. Nay có cung điện trời trùm trên tháp đó.
Tháp Tước Li từ khi xây xong đến nay, đã bị lửa trời đốt ba lần và được vua tu sửa lại như cũ.
Những người già kể lại: “Tháp ấy bị lửa trời đốt cháy bảy lần thì Phật pháp sẽ bị tiêu diệt. Tượng Phật thờ trong tháp đều bằng vàng, ngọc và biến hóa không lường, khó mà nói được. Khi mặt trời vừa mọc, mở cửa tháp thì thừa lộ bàn bàng vàng sáng rực, khi gió nhẹ thổi đến thì pháp khí vang rền. Cho nên nói, tháp này là bậc nhất ở Tây Vực”.
35.7.13.5. Tháp đá ở phía nam tháp Tước Li: Tháp này nằm ở phía nam cách tháp Tước Li năm mươi bộ. Tháp có hình vuông, cao ba trượng, có rất nhiều điều thần biến và thường vì người đời ứng hiện các điềm lành dữ. Khi chạm tay vào tháp mà chuông vàng vang lên, tức là điềm tốt; nếu điềm xấu, thì dù có lắc mạnh chuông vẫn không kêu.
35.7.13.6. Các tháp ghi trong truyện Luật sư Đạo Tuyên trụ trì cảm ứng ghi: “Luật sư hỏi Tứ Thiên vương:
- Lúc mới thiêu xong, xá-lợi tro của Đức Phật được an trí bao nhiêu tháp? Trời người, rồng, quỷ có được chia không?
Tứ Thiên vương đáp:
- về xá-lợi cốt, loài người được tám phần, trời được ba phần, rồng được mười hai phần. Riêng xá-lợi tro chia làm sáu phần, quỷ được hai phần, a-tu-la được ba phần và Lực Sĩ được một phần. Thế Tôn dạy: ‘Chúng trời, người, rồng, thần chớ tranh giành’.
Lại hỏi:
- Tăng-già-lê, bình bát, tích trượng của đức Thế Tôn an trí ở đâu?
Đáp:
- Tăng-già-lê của đức Thế Tôn trao cho trời Kiên Tật giữ gìn cẩn thận. Bình bát và tích trượng trao cho trời Tần-già, tùy nơi tôn trí mà cúng dường. Tăng-già-lê của đức Thế Tôn đầu tiên an trí ở tinh xá Kì-hoàn khoảng mười hai năm. Bình bát an trí ở núi Linh Thứu khoảng mười lăm năm. Tích trượng an trí trong hang rồng bốn mươi năm.
Hỏi:
- Vì sao phải giữ Tăng-già lê, bình bát, tích trượng lưu lại nhiều năm như thế?
Đáp:
- Đức Phật bảo tôi: ‘Do có tì-kheo ni, nên chính pháp đã tổn giảm. Vào đời mạt pháp nhiều ác tì-kheo chứa vật không đúng pháp, không thụ trì ba y, hủy hoại chính pháp. Vì thế Ta bảo đem Tăng-già-lê an trí ở tăng giới đàn sáu năm, an trí ở ni giới đàn sáu năm để làm cho chính pháp trụ thế lâu dài’.
Hỏi:
- Tại sao phải đặt Tăng-già-lê ở hai nơi?
Đáp:
- Vì thời mạt pháp nhiều ác tì-kheo, tì-kheo ni không thụ trì y, phần nhiều phạm giới cấm, không có oai đức. Cho nên đức Thế Tôn bảo đem Tăng-già-lê an trí ở tăng giới đàn sáu năm là để tạo oai đức, khiến cho hàng trời, người, rồng, thần, quỷ phát tâm cung kính Phật, không chê trách tì-kheo, tì-kheo ni. Lại đem Tăng-già-lê an trí ở ni giới đàn sáu năm, là vì muốn cho ác tì-kheo ni thực hành tám pháp, cúng dường tì-kheo, không khởi ý dâm và giữ gìn tịnh hạnh. Đồng thời, làm cho quỷ thần kính thuận ý Phật, ngày đêm sáu thời đến già-lam ủng hộ ni chúng.
Hỏi:
- Tại sao an trí bình bát của Phật ở núi Linh Thứu?
Đáp:
- Trước khi đức Thế Tôn nhập niết-bàn, Ngài ở trên núi Linh Thứu phân chia ánh sáng của bạch hào ra làm trăm nghìn phần. Ngài giữ lại một phần ánh sáng để ban
cho chúng đệ tử trong thời mạt pháp. Nếu người nào, hoặc trì giới, hoặc phá giới, cho đến trời, rồng, quỷ, thần v.v... ở trong giáo pháp của Như Lai, khởi một niệm thiện thì Ngài đều ban cho ánh sáng này.
Vả lại, lúc đức Thế Tôn mới thành đạo, Tứ thiên vương dâng cúng Phật bát bằng đá và chỉ dành riêng cho Thế Tôn sử dụng, người khác không thể dùng. Sau khi Như Lai diệt độ, bình bát ấy được an trí ở núi Linh Thứu, cùng với ánh sáng bạch hào làm Lợi ích. Vào thời mạt pháp phải tùy bát Phật mà cúng dường thức ăn cho tì-kheo ở các nơi khác và trời rồng... kính thuận ý Phật có lỡ làm những điều phi pháp, cũng không bị lỗi lầm.
- Vì sao phải an trí bình bát ở đây đến mười lăm năm?_Luật sư hỏi.
- An trí bình bát năm năm đầu là vì muốn chỉ bảo các tì-kheo quán chiếu năm ấm, chứng đắc tam-muội. Mười năm sau là muốn khiến họ hiểu rõ các pháp, đắc trăm pháp môn. Từ đó, tùy duyên đem bình bát lưu hành đến các nước, cho đến khi nào chính pháp diệt mới thôi.
- Tại sao phải an trí tích trượng của Phật trong hang rồng bốn mươi năm? Luật sư hỏi.
- Vì che chở các ngoại đạo và hàng phục rồng dữ phiền não, phá các kết sử, khai ngộ pháp luân tứ đế cho hàng Đại thừa. Sau khi Như Lai nhập niết-bàn khoảng bốn mươi năm, la-sát Phi Hành có thể nói Tì-ni tạng và mười hai thể loại kinh. Chúng giả làm các tì-kheo tốt để ăn thịt những người trì giới. Mỗi ngày chúng ăn bốn trăm người. Để đoạn trừ việc ác ấy nên đem tích trượng của Phật trấn ở hang rồng. Lại làm cho chính pháp trụ thế thêm bốn trăm năm, tượng pháp tăng thêm một nghìn năm trăm năm, mạt pháp tăng thêm hai vạn năm.
Bấy giờ Đại Phạm Thiên vương đến chỗ Phât bạch: “Bạch Thế Tôn! Lúc Như Lai mới vượt thành đến nước của vua Bình-sa, Ngài hỏi thăm đường vi thụ thần. Thụ thần thỉnh Phật về cung của ông ta và bạch: ‘Con mang thân thần này đã hai mươi đại kiếp, các Đức Phật thời quá khứ đều đến chỗ này. Trong cung của con có một nghìn ngôi Tứ tháp thờ bốn chiếc răng của các Đức Phật thời quá khứ. Nay con thỉnh Ngài vào đây là vì muốn xin bốn chiếc răng. Vì khi Ngài còn trẻ có thay bốn chiếc răng, xin Phật thương xót ban cho con bốn chiếc răng ấy; con muốn xây tháp cúng dường!’.
Phật nhận lời thụ thần và bảo tôn giả A-nan: ‘Ông vào cung của phụ vương Ta, đến gặp vị quan giữ kho lấy bốn chiếc răng của Ta đem về đây’. Tôn giả A-nan vâng lời Phật đến lấy bốn chiếc răng đem về.
Đức Phật bảo thụ thần: ‘Nay Ta trao cho ông bốn chiếc răng này để cúng dường. Ông cũng nên tạo tháp và biên chép kinh giáo của Ta. Ta sẽ sai bốn đệ tử ở trong tháp nhập Diệt tận định bảo vệ tháp thờ răng ấy’.
Bấy giờ thụ thần đem bảy báu đến chỗ Thế Tôn, vì dùng thần lực nên trong chốc lát đã dựng thành bốn ngôi tháp, cao năm mươi do-tuần. Thụ thần lại dựng lầu gác bằng trân châu và đài bạch ngân. Trong bốn tháp ấy đều dựng tám vạn bốn nghìn đền đài, làu gác. Khi đài gác và tháp đã dựng xong, thụ thần đợi sau khi Ta nhập niết-bàn, Ca-diếp kết tập kinh điển xong, sẽ biên chép đại Tì-ni tạng và an trí trong những ngôi tháp kia. Ta để lại tháp này, ông phải bảo vệ kĩ đừng để hư hoại.
Đến lúc sắp nhập niết-bàn, Ta bảo Văn-thù: ‘Ta đã trải qua ba đại kiếp tu vô lượng hạnh khổ, nay được bốn chiếc răng, đã dựng tháp và an trí rồi. Vào thời mạt pháp, lúc đạo pháp sắp diệt, ông nên dùng bốn chiếc răng này làm lợi ích để khiến cho chính pháp được hưng thịnh’.
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Khi mới thành đạo, Ta liền xuống sông tắm gội. Vì Ta tu khổ hạnh suốt sáu năm, không cắt móng tay, móng chân nên chúng đều dài khoảng bảy tấc. Lúc ấy, Đại Phạm Thiên vương thấy móng tay, chân của Ta dài, cầm dao bảy báu đến cắt móng tay, móng chân cho Ta. Ta đem những móng ấy gửi cho phụ vương và dặn phải giữ kĩ. Sau khi phụ vương Ta thăng hà, lại giao chúng lại cho quan giữ kho. Ông đến gặp người kia nói Ta cần các móng ấy.
Tôn giả A-nan vâng lời đến gặp vị quan kia lấy các móng tay, chân đem về đưa Phật. Đức Phật mở hộp lấy đưa cho đại chúng xem và nói:
- Hai mươi cái móng tay, chân của Ta giống như màu đồng đỏ. Đại chúng trời, người, rồng, thần các vị nên xem thật kĩ, Ta sợ đời sau chúng ma và ngoại đạo đem những móng tương tợ tráo lấy móng thật của Ta. Nếu các ông nghi ngờ, thì nên lấy móng đặt lên trên cái đe sắt rồi dùng chày kim cang đập mạnh, nếu móng không bị vỡ thì chính là móng thật của Ta. Nếu dùng lửa đốt, nung thì móng sẽ biến thành màu vàng, phát ra ánh sáng năm màu chiếu đến trời Hữu Đỉnh. Chúng trời thấy được tướng ấy là thấy móng thật của Ta.
Đức Phật nói với bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và Tứ thiên vương v.v...:
- Từ nay cho đến đời mạt pháp, khắp cõi Diêm-phù-đề có rất nhiều ác tì-kheo không oai đức, không cổ trí tuệ. Một nghìn bốn trăm năm sau, các ông đem mười tháp thờ móng của Ta đi khắp bốn thiên hạ, mỗi nước dừng lại bảy ngày. Cứ như thế lần lượt đi qua hết các nước, rồi trụ ở bãi cát vàng trong hồ A-nậu-đạt, trên đỉnh Hương sơn một nghìn năm trăm năm. Khi giáo pháp của Ta ở tám trăm ức nước trong đại thiên thế giới này vừa lưu hành đến các nước kia, thì bồ-tát Văn-thù-sư-lợi phân thân biến thành quốc vương, bô-tát Kim Cang Tế phân thân biến làm đại thần, bô-tát Kim Cang Tràng phân thân biên làm tì-kheo. Mong ba vị đại sĩ các ông cùng nhau làm cho giáo pháp của Ta lưu thông, đừng sinh lòng mỏi mệt, biếng nhác.
Hỏi: Dấu tích của chùa tháp ở đất Hán như thể nào?
Đáp: Nay chùa tháp ở các nơi phần nhiều đều là những nền móng do các cổ Phật di chúc, còn những nơi do vua A-dục xây tháp đều là phúc địa, không thể xem thường. Hiện có những tháp nổi tiếng như chúng ta vẫn thường nghe nói đến, cũng có những tháp ẩn tàng khắp nơi, không nghe nói đến. Giống như tháp ở Quách Trung, Cam châu, Hà Tây, bên dưới có xá-lợi của Cổ Phật. Hoặc dưới điện Phật ở chùa Linh Nghiêm, Hà châu cũng có xá-lợi của Phật.
Xá-lợi dưới Phật điện chùa ở núi Mạch Tích, Tần châu, do thần núi cất giữ. Chùa này do Chu Mục vương xây dựng, gọi là chùa Linh An. Trải qua bốn mươi năm sẽ có người đào được ‘xá-lợi. Dưới tháp của chùa Trường Ninh, Kinh châu do vua A-dục xây dựng cũng có xá-lợi, đào sâu xuống đất hơn một trượng thì thấy một cái hộp đá có năm lớp đựng xá-lợi xương. Ở ích châu cũng có ba ngôi tháp xá-lợi.
Hỏi: Tháp Trường Can ở Dương Đô và tháp ở huyện Mậu đều do vua A-dục xây, việc đó thế nào?
Đáp: Ngày xưa Lưu Tát Hà được thần linh bảo đến Dương châu leo lên Việt thành nhìn thấy vùng trường can có khí lạ, nhân đó ông làm dấu và đào thấy ngôi tháp. Như trước đã nói.
Luật sư Đạo Tuyên hỏi:
- Đã nói như thế, vậy có trường can, tức là có chùa Phật phải không?
Đáp: Can đây không phải là sát can. Can là lũng, tức thung lũng. Trường can trường lũng. Tháp ở khắp trường lũng nên gọi trường can. Như sách Nho ghi: “Bao quát Can Việt, vì đất Việt có nhiều trường lũng”.
Tháp ở huyện Mậu, Lâm Hải đều là tháp cổ do vua A-dục xây. Đó là tháp thờ những vị Phật ở kiếp Hiền. Trong tháp ấy có xương cánh tay của Phật Ca-diếp, người thường chẳng thấy được. Tháp này từ dưới đất vọt lên để tạo phúc cho thế gian.
Một vị a-la-hán khi sắp đến núi Thiết vi, có để lại một cái tháp nhỏ. Tháp ấy có nhiều thiện thần, thường hiện thành hai con cá và cá Man Li trông giống thiện thần bảo vệ tháp ấy. Bên cạnh ngôi tháp có dấu chân Phật in trên đá, có thuyết nói, đó là nơi ba Đức Phật đạp chân. Vào thời Chu, vùng đất ấy có nhiều người sinh sống, nên mới an trí tháp.
Hỏi: Nếu vậy, vì sao từ đời Chu Mục vương về sau ít thấy văn bản nước này ghi lại việc các vua xây dựng tháp?
Đáp: Lập tháp vì nhân duyên đời trước, phần nhiều là do thần linh xây dựng, ít có người thấy được, nên ít có văn tự lưu truyền. Dương Hùng, Lưu Hướng tìm trong tàng thư thường thấy có kinh Phật, há chẳng phải trước đời Tần đã có rồi sao?
Nay ở phía bắc Vĩnh châu cách Hoành Nhạc về phía nam khoảng sáu trăm dặm có một vùng đất chiều đông tây hơn năm trăm dặm; chiều nam bắc hơn một trăm dặm. Ngày xưa, nơi đây có khoảng mấy mươi vạn gia đình sinh sống. Nay có nhiều cây lớn, có cây đường kín khoảng hai, ba trượng, quanh góc không có cây cỏ; nơi đây có rừng rậm, cảnh trí rất đẹp. Ở giữa có dòng sông lớn chảy về hướng đông đổ ra sông Tương. Lần theo khe suối thì tìm thấy được ngôi tháp.
Phía nam vùng này có hang động, trong hang có một cái ao vuông, bốn mặt đều lát đá, nước sâu, có rồng sinh sống ở đó. Nếu có người nào phạm vào ao thì sấm chớp nổi lên, chấn động cả hang núi. Bên trái có nhiều loại cây rừng như quýt, mơ v.v... được trồng thành hàng. Phía nam ao là một ngôi tháp lớn do vua A-dục xây. Tháp ấy, dưới có thạch họa nâng, trên có lọng đá che phủ, bằng với mặt đất. Trên vách núi phía đông tháp có tấm bia khắc chữ triện, còn đọc được, có thể theo các bậc thang lên sao chép lại, để biết nguyên nhân xây tháp.
Phía nam Hoành sơn, nơi sư Đại Minh xây chùa cũng có ngôi tháp cổ. Chiều nam bắc khuôn viên chùa rộng hơn mười dặm. Nơi nơi đều tạo giảng đường, thất xứ, bát hội, ao hồ, tĩnh viên.
Hỏi:
- Oai lực tự tại của các vị thần rất lớn. Đến như ba tháp ở Thục Xuyên đều có tên là Đại Thạch, dù người ta đã khai quật, nhưng vẫn không tìm được nguồn gốc. Những người già xưa kể lại tháp ở Tần Xuyên, Vũ Công là tháp A-dục. Tháp ấy ba mươi năm xuất hiện một lần, từ niên hiệu Trinh Quán (627-648) đời Đường đến nay đã hai lần xuất hiện, dù hiện điềm phóng ánh sáng lớn, nhưng xá-lợi chỉ bằng xương ngón tay, nằm trong cối đá. Tại sao tôn trí xá-lợi trong một vật lại nhỏ xấu như thế?
Đáp: Loài quỷ thần cũng có nghèo giàu khác nhau, đều do nghiệp đời trước. Loài người không khác, chư thiên cũng vậy. Hễ có món gì thì cúng dường tháp món ấy.
Hỏi: Chùa Trúc Lâm ở cổ Sơn có vào đời nào?
Đáp: Chùa ấy được xây vào thời Phật Ca-diếp. Đến đời Chu Mục vương, chùa được tu sửa. Ngoài việc cho xây lại điện Phật, Chu Mục vương còn cho đắp tượng Phật, đến nay vẫn còn. Sơn thần xin Phật cho năm trăm vị a-la-hán đến trụ. Nay hiện có hai mươi thánh tăng trụ quanh chùa, bên trái hiện có năm vạn vị tiên ngũ thông cúng dường chúng tăng.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/11/2015
PUCL QUYỂN 40 - CHƯƠNG XÁ LỢI
Quyển này có một chương Xá-lợi. 37. CHƯƠNG XÁ-LỢI 37.1. LỜI DẪN Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 37 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP
QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 33 - CHƯƠNG TẠO PHÚC
QUYỂN 33 Quyển này có một chương Tạo phúc. 27. CHƯƠNG TẠO PHÚC 27.1. LỜI DẪN Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả r...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 32 - CHƯƠNG BIẾN HÓA VÀ NGỦ MỘNG
QUYỂN 32 Quyển này có hai chương: Biến hóa và ngủ mộng. 25. CHƯƠNG BIẾN HÓA 25.1. LỜI DẪN Sự vận dụng của thánh nhân dung thông vô ngại, cảm ứng khắp cùng, cho nên không thể dùng một pháp để tìm cầu, không thể dùng một l...
