Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN

16/11/2015

QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...

PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
Phần 1

QUYỂN 34
Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện.
28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN

28.1. LỜI DẪN
Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên nghiệp càng tăng. Vì thế Đức Phật lập ra giáo pháp giúp người chế ngự. Kinh ghi: “Phải làm thầy của tâm, chớ để tâm làm thầy. Ba nghiệp thân, khẩu, ý không tạo ác thì thân giới, tâm tuệ vững như núi”.
Kinh lại ghi: “Chuyên tâm ở một chỗ thì việc gì cũng làm xong”. Tâm tính điên đảo mê lâm, do ngã kiến đứng đầu. Phiền não khó điều phục, loạn sử luôn hiện hành, trỗi dậy trong từng sát-na, thật khó nhiếp phục. Chi bằng gửi thân chốn vắng, hàng phục ba độc, thân không buông lung, miệng giữ im lặng, ngủ ít thức nhiều, thường ngồi, bớt ăn, tư duy chính pháp; lại biết chẳng phải có, cũng chẳng phải không, thân thẳng, tâm ngay, chính niệm hiện tiền. Đó gọi là nhiếp niệm.
28.2. DẪN CHỨNG
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông nên tu tập mười pháp, sẽ được thần thông, dứt trừ loạn tưởng, chứng quả Niết-bàn: niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm dừng nghĩ, niệm hơi thở, niệm thân vô thường, niệm sự chết.
Có bài kệ:
Niệm Phật, pháp, thánh chúng,
, Niệm giới, thí và thiên,
Dừng nghĩ và hơi thở,
Sau cùng niệm thân chết.
28.2.1. Niệm Phật: Phải luôn luôn nhớ nghĩ đến Phật. Vì thân tướng của Như Lai công đức viên mãn, trí tuệ vô biên, biết rõ sinh tử qua lại trong các đường. Nay nhờ tu hành một pháp mà đạt đến niết-bàn. Vì thế, người nào luôn nhớ nghĩ đến Phật thì được các công đức.
28.2.2. Niệm pháp: Phải chuyên tâm nhớ nghĩ đến pháp, vì pháp có công năng dứt trừ ái dục, dập tắt trần lao. Đoạn tận gốc tâm khát ái, không còn ham muốn các dục, xa lìa kết phược và các căn bệnh triền cái, như hương thơm trừ các mùi bất tịnh, không còn các niệm mê lầm, loạn tưởng; đồng thời giúp chứng được thần thông, thẳng đến niết-bàn. Vì thế, người nào luôn nhớ nghĩ đến pháp thi sẽ được các công đức.
28.2.3. Niệm tăng: Phải luôn nhớ nghĩ đến tăng. Vì thánh chúng của Đức Như Lai là những bậc đã thành tựu hạnh chân thật, không tà vạy, trên dưới thuận hòa, thành tựu tứ song bát bối, đã dứt trừ loạn tưởng, chứng quả Niết-bàn, đáng được cung kính phụng sự. Vì thế, người nào thường nhớ nghĩ đến tăng thì được các công đức.
28.2.4. Niệm giới: Giới tức là ngăn các hành vi ác. Giới có công năng giúp người tu tập thành tựu đạo nghiệp và được an vui. Giới là chuỗi báu trang sức thân tâm, hiện lộ các vẻ đẹp; giới như bình kiết tường, giúp thoả mãn các ước nguyện; giới có công năng giúp người đoạn trừ loạn tưởng, chứng quả Niêt-bàn. Vì thế, người nào thường niệm giới thì sẽ được các công đức.
28.2.5. Niệm thí: Chuyên tâm nhớ nghĩ đến bố thí, đối với những gì đã thí, không có tâm hối tiếc, không cầu báo đáp, không mong mau được lợi ích. Nếu bị người mắng chửi hay đánh đập, phải khởi tâm từ, không nên sân giận. Luôn luôn khởi tâm bô thí không đề đoạn dứt, thì trừ các loạn tưởng, chứng quả Niết-bàn. Không rời niệm thí, thì được các công đức.
28.2.6. Niệm thiên: Chuyên tâm nghĩ nhớ đến chư thiên, vì thân, khẩu, ý của chư thiên không tạo ác, do tu giới mà cảm được thân phóng ánh sáng chiếu khắp nơi, được quả lành thân trời, dứt trừ các loạn tưởng và chứng quả Niết-bàn. Không rơi niệm thiên thì được các công đức.
28.2.7. Niệm dừng nghĩ: Dứt trừ nghĩ tưởng, tính cẩn thận chu đáo, không nóng nảy vội vàng, tâm ý chuyên nhất, thích sống nơi thanh nhàn, thường tìm phương tiện để nhập tam-muội, không tham cầu được ánh sáng rực rỡ, trừ các loạn tưởng, chứng quả Niết-bàn. Không rời niệm dừng nghĩ thì được các công đức.
28.2.8. Niệm hơi thở: Nên chuyên tâm quán niệm hơi thở, nếu lúc hơi thở dài, thì quán biết ta đang thở hơi dài; lúc hơi thở ngắn, thì cũng nên quán biết ta đang thở hơi ngắn. Nếu hơi thở quá lạnh hay quá nóng, cũng phải quán biết ta đang hít thở hơi lạnh, nóng. Phân biệt hơi thở ra vào dài hay ngắn, trừ các loạn tưởng, chứng quả Niết-bàn. Không rời quán niệm hơi thở, được các công đức.
28.2.9. Niệm thân vô thường: Thân gồm các thứ lông, tóc, móng, răng, da, thịt, gân, xương, mật, gan. phổi, tim, tì, lá lách, ruột già, ruột non, bọng đái, phân tiểu, nước miếng, nước mắt, nước mũi, máu mủ, đầu não v.v... Nên nghĩ những gì là thân? Đó là đất, nước, lửa, gió. Thân do cha mẹ tạo ra, từ đâu mà đến, sáu căn này sau khi mất sẽ sinh về đâu? Quán như thế, dứt trừ loạn tưởng, chứng quả Niết-bàn. Không rời niệm thân thì được các công đức.
28.2.10. Niệm sự chết: Chuyên tâm nhớ nghĩ đến sự chết, chết ở chỗ này, sinh đến nơi kia, qua lại các đường, sinh mạng mất đi, các căn tan hoại, như gỗ mục nát. Mạng căn đoạn dứt, thân tộc chia lìa, không hình, không bóng cũng không tướng mạo. Quán như thế, dứt trừ các loạn tưởng, chứng quả Niết-bàn. Không rời niệm chết thì được các công đức.
Có bài kệ:
Phật pháp và thánh chúng,
Cho đến niệm thân chết,
Tuy cũng đồng là niệm,
Nhưng ý nghĩa khác nhau.
Niệm Phật: Luận Phân biệt công đức ghi: “Niệm Phật là gì? Thân Kim cang của Phật, không còn các lậu; khi đi chân Ngài cách đất bốn tấc, lòng bàn chân có hình bánh xe nghìn căm in trên đất. Các côn trùng dưới thân Ngài được an ổn bảy ngày, nếu chúng mạng chung, đều được sinh lên cõi trời.
Thuở xưa, có một ác tì-kheo, vốn là ngoại đạo, giả trang để phỉ báng Phật. Có lần ông đi theo đoàn, giết những côn trùng, bỏ vào dấu chân Phật, rồi cho là Ngài đã đạp chết. Tuy côn trùng chết, nhưng nhờ nằm trong dấu chân Phật, nên được sống lại.
Lúc Phật vào thành ấp, vừa bước qua cổng thành, trời đất đều chấn động, trăm thứ âm nhạc chẳng trỗi mà tự kêu. Những người đui, điếc, câm, ngọng v.v,.. đều khỏi bệnh. Họ thấy tướng quí và vẻ đẹp của Đức Phật, liền đi theo và đều được độ thoát. Công đức cứu độ của Phật không thể tính kể, tất cả muôn hạnh, cứu độ làm đầu. Đó là nghĩa niệm Phật”.
Niệm pháp: Hỏi: Pháp là đạo vô lậu, vô vi, vô dục. Phật là chủ của các pháp, pháp là chủ các kết sử. Pháp sinh ra các Đức Phật, pháp sinh Phật đạo. Tại sao không niệm pháp trước, niệm Phật sau?
Đáp: Pháp tuy vi diệu, không thể nghĩ bàn, giống như kho báu ẩn kín khắp nơi trong đất, nhưng phải nhờ người thông hiểu chỉ ra, mới cứu giúp được những người nghèo thiếu. Pháp cũng như thế, nghĩa lí sâu xa vi diệu, ngoài Phật không ai có thể thồng suốt được. Do đó, niệm Phật trước, niệm pháp sau.
Niệm tăng: Tăng là các vị đã chứng quả tứ song bát bối không tham lam, tranh cãi việc thế gian, chỉ dạy dẫn dắt trời người, làm ruộng phúc tốt cho chúng sinh.
Thuở xưa, có một tì-kheo kém phúc tên là Phạm-ma-đạt, sống chung với một nghìn hai trăm năm mươi tì-kheo. Bấy giờ, chúng tăng hằng ngày khất thực không được thức ăn, nhưng không biết lỗi của ai. Đức Phật dạy chúng tăng nên chia làm hai bộ. Thế là một bộ thì được thức ăn, một bộ không được thức ăn. Lại chia bộ không được thức ăn thành hai bộ nữa, thì bộ này được thức ăn, bộ kia lại không được. Lần lượt như thế, cho đến còn lại hai người, thì một người được thức ăn, người kia không được. Bấy giờ mới biết tì-kheo Phạm-ma-đạt không có phúc, tuy thức ăn đến bát, cũng tự nhiên biến mất. Đức Phật thương xót, liền tự tay để thức ăn vào bát Phạm-ma-đạt, nhờ phúc lực của Ngài chế ngự, nên thức ăn không biến mất. Đức Phật cũng muốn làm cho tì-kheo này hiện đời được phúc, nên sai hai tì-kheo đã chứng Diệt tận định dùng thức ăn của Phạm-ma-đạt, tức thời Phạm-ma-đạt được phúc.
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc nghe tì-kheo bạc phúc kia được Đức Phật ban thức ăn, liền bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Nay con cũng muốn làm phúc cho vị tì-kheo này.
Nói xong, vua sai người đem gạo đến. Lúc ấy có con quạ sà xuống ngậm lấy một hạt gạo bay đi, thấy thế người ấy liền trách:
Phần 2

- Vua làm phúc cho Phạm-ma-đạt, sao ngươi lại lấy đi?
Nghe xong, quạ liền mang hạt gạo trả về chỗ cũ. Sở dĩ được như vậy là do phúc lực của chúng tăng, chim thú không thể xâm hại. Do đó biết rằng, ruộng phúc tốt đã có thể tự độ, lại còn độ người chứng được đạo Tam thừa.
Niệm giới: Giới gồm có năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới, cho đến năm trăm giới. Tất cả đều có công năng ngăn ngừa lỗi lầm của thân, khẩu, chế ngự lục tình để dứt trừ dục niệm. Trong ngoài thanh tịnh, mới hợp tính chất của giới.
Thuở xưa, có hai vị tì-kheo cùng đến chỗ Đức Phật. Khi đi qua vùng hoang vắng, cả hai đều hết nước uống. Bấy giờ, hai người thấy có một ao nhỏ còn được ít nước, trong đó có rất nhiều sinh vật. Một tì-kheo kiên quyết giữ giới suy nghĩ: ‘Nếu ta uống nước này, ắt sẽ giết hại rất nhiều chúng sinh, thà tổn hại mạng mình mà giừ giới trọn vẹn’. Nghĩ thế, ông không uống nước và qua đời, liền sinh lên cõi trời. Tì-kheo kia nghĩ: ‘Ta phải uống nước để bảo toàn mạng sống, mới được gặp Phật, đâu biết sau khi chết lại sinh vào đường nào?’. Nghĩ xong, ông liền uống nước, làm tổn hại rất nhiều chúng sinh.
Khi đến nơi, tì-kheo kia kêu khóc và bạch Phật:
- Bạn cùng đi với con đã qua đời rồi.
Đức Phật chỉ một vị trời, hỏi tì-kheo:
- Ông biết vị trời này chăng? Đó là bạn của ông đấy! Nhờ công đức giữ giới mà ông ta được sinh lên cõi trời
hôm nay đến đây. Còn ông tuy được gặp Ta, nhưng lại cách Ta rất xa. Người kia tuy đã chết, phưng thường ở bên Ta. Nay ông được gặp Ta, nhưng chỉ thấy được nhục thân của Ta mà thôi, làm sao biết được giới thân chân thật?
Thế nên kinh ghi: “Ba-la-đề-mộc-xoa là thầy của ông, nếu có thể giữ giới, lần lượt tu hành, đó là pháp thân Như Lai thường trụ bất diệt”.
Giới có ba loại: Tục giới, đạo giới và định giới. Trong đó, năm giới, tám giới, mười giới, cụ túc giới là tục giới. Vô lậu tứ đế là đạo giới. Tam-muội thiền tư là định giới. Nếu dùng trí tuệ phòng ngừa, ngăn chặn điều ác để thành tựu đạo vô lậu, mới đúng là đạo giới. Giới Thanh văn dụ như hoa đặt ở đầu gối, vừa động nhẹ liền rơi. Bậc đại sĩ trì giới giống như hoa cài trên tóc, dù đi hay đứng cũng không lay động. Tiểu thừa trì giới chú trọng kiểm thúc bản thân, vừa động thì vượt oai nghi. Đại sĩ trì giới cốt ở tâm, không câu nệ pháp bên ngoài. Phép tắc của Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau, thế nên giữ thân, giữ tâm cũng khác. Trong ngoài tuy khác, nhưng mục đích đều đến niết bàn.
Kinh Phật Bát-nê-hoàn ghi: “Người muốn gần đạo phải có bốn tâm ưa thích, nên ghi nhớ kĩ và tu hành. Môt, luôn ưa thích niệm Phật; hai, luôn ưa thích niêm pháp; ba, luôn ưa thích niệm tăng; bốn, luôn ưa thích niệm giới. Nhớ nghĩ đầy đủ và nhận rõ bốn tâm ưa thích này, lại phải mong cứu độ, cầu giải thoát thân. Nếu được như thế mới chấm dứt ba đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Tuy còn qua lại ở cõi trời người, nhưng không quá bảy đời sẽ vượt qua bể khổ”.
Kinh Tam thiên uy nghi ghi: “Phải ghi nhớ năm điều:
1. Công đức của Phật
2. Kinh và giới luật của Phật
3. Trí tuệ Phật
4. Nghĩ đến ân Phật rất lớn, khó báo đền
5. Nghĩ nhớ Đức Phật tinh tiến tu hành cho đến niết-bàn.
Lại phải ghi nhớ năm điều:
11 Tì-kheo tăng
2. Ân thày
3. Ân cha mẹ
4. Ân bạn đồng học
1.5. Giúp tất cả mọi ngượi được giải thoát, lìa tất cả khổ”.
Kinh Xứ xứ ghi: “Như cát trong biển lớn nhiều không thể tính biết, người tạo nghiệp thiện ác, làm phúc gây họa, từ xưa đến nay cũng không thể kể xiết. Khi qua đời, người làm việc xấu sẽ sinh về đường ác, người làm việc thiện sẽ được sinh về cõi lành. Làm phúc gây họa đều có chỗ sẵn; cũng dự định trước cả quyến thuộc cha mẹ, anh em, vợ con v.v... Khi nào đắc đạo thì mới thoát khỏi, nếu không đắc đạo thì không thể chấm dứt.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông phải nghĩ thân mình là vô thường!
Lúc ấy có một tì-kheo bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Con nghĩ vô thường, như người đời, tuổi thọ ngắn nhất là năm mươi.
Đức Phật bảo:
1 - Ông chớ nói thế!
Lại có tì-kheo bạch Phật:
- Người đời sống đến ba mươi tuổi.
Đức Phật nói:
- Ông chớ nói như vậy!
Có tì-kheo bạch:
- Người đời chỉ sống được mười tuổi.
Đức Phật bảo:
- Ông không nên nói như thế!
Lại có tì-kheo nói:
- Người đời chỉ sống được một tuổi.
Đức Phật cũng nói:
- Không đúng!
Có tì-kheo nói:
- Người đời chỉ sống được một tháng, thậm chí có vị nói mạng sống chỉ trong một ngày hay một giờ.
Đức Phật cũng quở:
- Các ông không nên nói như thế!
Lúc ấy có một tì-kheo bạch Phật:
- Mạng sống con người chỉ trong hơi thở.
Đức Phật bảo:
- Đúng thế! Thở ra mà không hít vào, liền qua đời khác. Mạng người mau chóng, chỉ trong hơi thở!”.
Kinh Tì-ni mẫu ghi: “Lúc thuyết pháp, các tì-kheo nên nhớ quán thân là khổ, không, vô thường, vô ngã, bất tịnh đừng để gián đoạn. Phải luôn ghi nhớ mười hai điều, mới thành tựu thánh pháp. Mười hai điều:
1. Thành tựu chính mình
2. Giúp người khác thành tựu
3. Nguyện được thân người
4. Được sinh vào dòng họ cao quý
5. Tin sâu Phật pháp
6. Sinh ra nơi nào cũng không cần gắng công mà ngộ được các pháp
7. Sinh ra nơi nào cũng đầy đủ các căn
8. Gặp Phật xuất hiện ở đời
9. Nguyện sinh ra nơi nào cũng được giảng thuyết chính pháp
10. Nguyện chính pháp mà mình đã giảng nói, thường trụ thế gian
11. Nguyện chính pháp trụ lâu ở đời, được người tùy thuận tu hành
12. Luôn thương xót các chúng sinh
Đầy đủ mười hai niệm này, chắc chắn sẽ được thánh đạo”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tì-kheo:

Phần 3

- Vào thời quá khứ có một con rùa sống trong đám cỏ bên bờ sông. Lúc ấy một con dã can đói đi tìm thức ăn, từ xa trông thấy rùa liền chạy đến vồ bắt. Rùa thấy dã can đến liền thu đầu, đuôi và bốn chân vào mai. Dã can rình chờ rùa thò đầu, chân ra là bắt ăn. Nhưng đợi mãi mà vẫn không được, dã can đói quá, tức giận bỏ đi.
Này các tì-kheo! Ngày nay các ông cũng phải như vậy. Ma Ba-tuần luôn rình tìm sơ hở của các ông. Chúng đợi mắt các ông đắm sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lười nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên pháp khiến đắm nhiễm sáu trần. Cho nên các ông phải luôn luôn giữ gìn luật nghi của mắt. Khi đã giữ vững luật nghi của mắt rồi, dù mắt nhìn sác hay duyên cảnh đi nữa thì ác ma Ba-tuần cũng không có cơ hội. Tai mũi, lười, thân, ý cũng như vậy. Dù sáu căn kia hoặc mở, hoặc duyên cảnh đi nữa thì chúng cũng không có cơ hội. Giống như con rùa, dã can không thể tìm được cơ hội nào.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Rùa vì sợ dã can
Giấu sáu chi vào mai
Tì-kheo khéo nhiếp tâm
Giấu kín các giác tưởng
Không duyên, không sợ hãi
An tâm, chớ nói năng.
Thế Tôn lại bảo các tì-khẹo:
- Thí như người bắt được sáu con vật trong căn nhà trống. Đầu tiên bắt được chó, liền cột một chỗ; kế đến bắt được chim, rồi bắt được rán độc, dã can, thất" thâu-ma-la và khỉ. Tất cả đều cột lại một chỗ. Trong sáu con vật này, chó muốn vào làng, chim luôn muốn bay lên không, rắn luôn muốn vào hang, dã can muốn đến gò mả, thất-thâu-ma-la muốn vào biển, khỉ muốn vào rừng núi.
Sáu con vật này đều bị cột chung một chỗ, nhưng mỗi con đều muốn trở về nơi an ổn riêng của mình. Chẳng con nào thích ở chỗ bị trói khác. Do đó chúng gắng sức vùng vẫy muốn trở về nơi ấy mà không thể nào thoát được.
Cũng vậy, sáu căn có cảnh giới riêng của chúng, mỗi mỗi tự tìm đến cảnh giới ưa thích của mình mà không ưa cảnh giới khác. Như mắt thường tìm đến sắc đẹp, nếu sắc không đẹp thì sẽ chán. Tai thường tìm âm thanh hay, nếu âm thanh không hay thì sẽ chán. Mũi thường tìm mùi thơm, nếu mùi hôi thì sẽ chán. Lưỡi thường tìm vị ngon, nếu vị không ngon thì sẽ chán. Thân thường tìm chạm vật vừa ý, nếu xúc chạm vật không vừa ý thì sẽ chán. Ý thường tìm đến pháp vừa ý, nếu là pháp không vừa ý thì sẽ chán. Sáu căn này có nhiều hành xứ, nhưng căn này không tìm đến cảnh giới của căn khác. Sáu căn này, chúng có năng lực tự do nhận biết cảnh giới của mình. Như người kia, cột sáu con vật vào cây trụ bền chắc. Cho nên, các tỳ-kheo phải siêng năng tu tập nhiều về thân niệm xứ.
Bấy giờ, Thế Tôn lại bảo các tỳ-kheo:
- Thí như có bốn con rắn hổ hung dữ, nọc độc rất mạnh, nhốt trong một cái tráp. Bấy giờ một người thông minh trí tuệ, chán khổ cầu vui, nhàm sự chết cầu sự sống. Lại có một người khác nói với ngưởí thông minh: ‘Nay anh hãy giữ cái tráp đựng rắn độc này, siêng năng lau chùi, tắm rửa cho chúng, gần gũi, cho chúng ăn uống, ra vào đúng giờ. Nêu để bốn con rắn này chạy thoát, chúng sẽ gây họa, hoặc chúng cắn chết ông, hoặc cắn chết những người xung quanh. Ông hãy đề phòng!’.
Vì sợ bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù cầm dao rượt đuổi, nên người này kinh hãi bỏ chạy. Người kia lại nói:
- Này bạn, bên trong còn có sáu tên giặc đang đuổi theo, rình rập anh. Nếu có cơ hội, chúng sẽ giết. Anh nên đề phòng!
Người kia sợ bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù cầm dao và sáu tên giặc bên trong rượt đuổi, nên chạy trở vào trong xóm vắng. Tại đây anh ta thấy một căn nhà trống, mục nát nguy hiểm kia với những đồ vật xấu xí, dễ đổ vỡ, không có gì chắc thật. Người kia lại nói:
- Này bạn, thôn xóm váng vẻ này sẽ có bọn giặc đến. Chúng sẽ hại anh!
Khi ấy, người này vì sợ bốn con rắn độc, năm tên giặc cầm dao, sáu tên giặc dữ bên trong và một đám giặc trong xóm vắng, nên anh tiếp tục chạy. Chợt gặp mội con sông lớn chắn ngang, nước sâu lại chảy xiết. Anh ta thấy bờ bên này có nhiều cảnh đáng sợ, còn bờ bên kia an ổn, khoái lạc, mát mẻ, không có cảnh đáng sợ. Nhưng không có cầu, thuyền để qua được bờ kia. Anh ta nghĩ: ‘Ta hãy lấy cây và cỏ kết thành một chiếc bè, dùng tay chân làm chèo vượt qua bên kia sông’. Thế là .anh ta gom cây cỏ cạnh bờ sông kết lại thành chiếc bè, dùng tay chân làm chèo cắt dòng sang sông. Người này thoát khỏi bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù cầm dao, sáu tên giặc ác bên trong và bọn giặc nơi xóm vắng. Vượt qua sông sâu, bỏ lại mọi sự sợ hãi ở bờ này, đến được bờ kia, an ổn, khoái lạc.
Này các tỳ-kheo, Ta kể câu chuyện trên là dụ cho các nghĩa:
Cái tráp là dụ cho sắc thân gồm bốn đại thô. Thân bốn đại này, do tinh cha huyết mẹ tạo thành, được nuôi lớn bằng các thức ăn tạp uế, được tắm rửa, đắp y phục. Đó là những pháp mong manh, biến hoại, vô thường.
- Bốn rắn độc là dụ cho bốn đại: Đất, nước, gió, lửa. Nếu địa đại lớn mạnh uy hiếp các đại kia, có thể làm cho thân này chết, hoặc là gần chết. Nước, lửa, gió cũng như vậy. Năm kẻ oán thù cầm dao là dụ cho năm thụ uẩn. Sáu tên giặc ác bên trong là dụ cho sáu ái hỷ. Bọn giặc ở xóm vắng là dụ cho sáu nội nhập. Này thiện nam! Hãy quán sát nhãn nhập xứ là pháp vô thường, biến hoại, hư ngụy. Nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý nhập xứ cũng như vậy.
Bọn giặc nơi xóm vắng là dụ cho sáu nhập xứ bên ngoài. Mắt bị sắc đẹp, xấu làm hại; tai đối tiếng mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân đối xúc, ý đối pháp cũng như vậy.
Dòng nước xiết dụ cho bốn lưu: dục lưu, hữu lưu, kiến lưu và vô minh lưu.
Con sông dụ cho ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
Bờ bên này nhiều sợ hãi dụ cho hữu thân, bờ bên kia mát mẻ, an lạc dụ cho Vô dư niết-bàn, chiếc bè dụ cho Bát chính đạo, dùng tay chân làm chèo cắt dòng sang sông dụ cho tinh tiến dũng mãnh, trụ xứ của bà-la-môn dụ cho Như Lai, ứng Cúng, Đẳng Chính Giác”. Kinh Mộc hoạn tử ghi: “Bấy giờ, trong nước có nạn, vua Ba-lưu-li đến hỏi Phật:
- Nước trẫm nhỏ bé, giặc dã liên miên, giá ngũ cốc tăng, bệnh dịch hoành hành, nhân dân khốn khổ, lòng trẫm không an, còn pháp tạng thì sâu xa, khó có thể tu hành. Xin Phật thương xót chỉ dạy cho trẫm giáo pháp cốt yếu.
Phật bảo vua:
- Nếu người nào muốn diệt trừ phiền não chướng nên lấy hạt mộc hoạn xâu thành chuỗi một trăm lẻ tám hạt, thường mang bên mình, nhất tâm bất loạn, niệm nam-mô Phật-đà, nam-mô đạt-mạ, nam-mô tăng-già; cứ mỗi lần niệm như vậy lần qua một hạt. Cứ như thế, lần lượt vừa niệm vừa lần chuỗi, hoặc niệm mười biến, hai mươi biến, trăm biến, nghìn biến, cho đến trăm nghìn vạn biến. Nếu người nào có thể niệm đủ hai mươi vạn biến, thân tâm không loạn, lìa sự gièm pha; sau khi thân hoại mạng chung được sinh lên tầng trời Diệm-ma, y phục và thức ăn tự nhiên hiện đến, thân tâm luôn an ổn, vui vẻ. Nếu người nào có thể niệm đủ một trăm vạn biến thi sẽ đoạn trừ được một trăm lẻ tám phiền não và chứng quả Vô thượng bồ-dề.
Vua nghe Đức Phật dạy như vậy, vô cùng vui mừng và xin nguyện thụ trì.
Phật nói với vua:
- Có tì-kheo Sa-thăng niệm danh hiệu Tam bảo suốt mười năm, chứng quả Tư-đà-hàm, rồi dần dần tu tập, nay đang là bích-chi-phật ở thế giới Phổ Hương.
Vua nghe Đức Phật nói như thế, càng siêng năng tu tập hơn”.
Kinh Hiền ngụ ghi: “Cư sĩ Cúc-đề ở nước Ba-la-nại có con trai tên là Ưu-bà-cúc-đề. Khi trưởng thành, vì Ưu-bà-cúc-đề quá nghèo, không có gia sản, nên người cha cho ít của cải ra chợ buôn bán. Bấy giờ, có a-la-hán Đa-thế-bệ đến thuyết pháp giáo hóa, dạy buộc niệm, dùng các viên đá đen trắng để tính biết, hễ nghĩ một niệm lành thì hạ xuống một hòn đá trắng, một niệm ác thì hạ xuống một hòn đá đen.
Ưu-bà-cúc-đề vâng theo lời dạy. Hễ ngay lúc niệm thiện, ác khởi lên, liền đặt xuống một hòn đá trắng hoặc hòn đá đen. Ban đầu đen nhiều hơn, trắng rất ít, dần dần đen trắng ngang nhau, ưu-bà-cúc-đề lại nỗ lực tu tập buộc niệm chẳng gián đoạn. ít lâu sau không còn hòn đá đen nào cả, mà chỉ toàn đá trắng, tức thuần là niệm thiện, liền chứng được Sơ quả”.
Kinh Thỉ dụ ghi: “Thuở xưa, có một người không tin kính Phật, nhưng vợ ông thì ngược lại. Một hôm, người vợ, nói với chồng: ‘Mạng người vô thường, phải tu phúc tích đức’. Nhưng người chồng đã không có lòng kính tin, lại lười biếng, người vợ sợ chồng sau này đọa vào địa ngục, nên lại nói:
- Thiếp muốn treo một cái linh trên cửa, để khi chàng ra vào đụng linh, nghe tiếng thì niệm nam-mô Phật.

Phần 4

Người chồng nói:
- Hay lắm!
Người chồng làm như vậy một thời gian dài. Sau khi ông qua đời, bị đọa vào địa ngục. Ngục tốt dùng chĩa ba đâm ông rồi ném vào vạc nước sôi, khi chĩa ba chạm vào vạc phát ra tiếng, ông nghĩ đó là tiếng linh nên niệm ‘Nam-mô Phật’. Quan giữ ngục nghe tiếng niệm Phật, liền nghĩ: ‘Người này phụng thờ Phật, nên tha cho về’. Ông nhờ vậy mà được sinh lại làm người”.
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có năm trăm lái buôn dong thuyền ra biển, gặp lúc cá Ma-kiệt trồi đầu, há miệng muốn ăn thịt chúng sinh. Hôm đó trời có gió nhẹ mà thuyền lao nhanh như tên bắn, thương chủ Tát-bạc nói với mọi người: ‘Thuyền chạy rất nhanh, nên hạ buồm’. Những thương nhân nghe theo, hạ buồm xuống, nhưng thuyền vẫn lướt nhanh, không sao dừng lại được. Thương chủ Tát-bạc hỏi những người trên lầu:
- Các người nhìn thấy những gì?
Họ đáp:
- Chúng tôi nhìn thấy ở trên xuất hiện hai mặt trời, ở giữa có núi màu đen, bên dưới có núi màu trắng.
Thương chủ Tát-bạc kinh hãi nói:
- Đây là con cá lớn, giờ phải làm sao? Nay tôi và các người gặp nạn, nếu vào bụng cá này thì đừng mong sống sót. Các người hằng ngày phụng thờ vị nào thì nên nhất tâm cầu nguyện.
Bấy giờ, mỗi thương buôn một cách nhất tâm quy mạng cầu thoát khỏi tai họa. Nhưng họ càng chí thành cầu nguyện thì thuyền chạy càng nhanh, trong khoảng giây lát nữa là thuyền vào bụng cá. Lúc ấy, thương chủ Tát-bạc nói với mọi người: ‘Tôi thường thờ một vị thần, hiệu là Phật. Các ngươi hãy bỏ vị thần của mình phụng thờ, nhất tâm niệm danh hiệu này. Năm trăm thương buôn đều lớn tiếng niệm ‘Nam-mô Phật. Khi ấy, cá nghe có tiếng niệm Phật liền suy nghĩ: ‘Nay ở thế gian có Phật, ta đâu nỡ làm hại chúng sinh’. Cá liền ngậm miệng lại, dòng nước chảy ngược đẩy thuyền ra xa. Năm trăm thương buôn phát khởi tâm lành và được giải thoát”.
Kinh Đại tập ghi: “Thí như tóc trên đầu sa-môn, không biết mỗi ngày dài bao nhiêu phân. Cũng thế, bồ-tát gây tội đã không hề hay biết còn nói: ‘Tôi không có tội’”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Thế Tôn nói kệ:
Khéo giữ gìn tất cả
Thân, khẩu và ý nghiệp
Bằng các pháp tàm quí
Đó là khéo giữ gìn.
Đức Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Có hai pháp tịnh có thể hộ trì thế gian. Đó là tàm và quý Giả sử thế gian không có hai pháp tịnh này, thì cũng không biết có tôn ti đối với cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, thân quyến, sư trưởng, điên đảo hỗn loạn như hàng súc sinh. Nhờ có hai pháp tịnh tàm và quý cho nên thế gian biết có tôn ti đối với cha mẹ... cho đến sư trưởng, không hỗn loạn như hàng súc sinh.
Bấy giờ Thế Tôn nói-kệ:
Nếu thế gian không có,
Hai pháp tàm và quý;
Vượt trái đạo thanh tịnh,
Hướng sinh, già, bệnh, chết.
Nếu thế gian thành tựu,
Hai pháp tàm và quý;
Đạo thanh tịnh tăng trưởng,
Đóng kín cửa sinh tử
Kinh Duy vô tam-muội ghi: “Phật bảo tôn giả A-nan:
- Thiện nam tử! Người muốn cầu đạo tham thiền, trước hết phải chấm dứt vọng niệm. Người sống ở đời, sở dĩ tu hành không đắc đạo là do họ ngồi thiền mà tâm nhiều tạp niệm. Niệm này qua thì niệm kia đến, một ngày một đêm có đến tám ức bốn nghìn vạn niệm sinh khởi, niệm niệm không dừng. Khởi một niệm thiện cũng được quả báo tốt, khởi một niệm ác sẽ bị quả báo xấu, giống như vàng đáp tiếng, như bóng theo hình. Cho nên thiện ác, tội phúc khác nhau”.
Có bài tụng:
Tịnh niệm trừ vọng niệm
Còn vọng, lí chưa cùng
Cảnh đến ném hư không
Hư không đâu lay động?
Gá thân vào địa ngục
Ngục hết, ảnh không còn
Bốn quả trọn mong cầu
Chỉ Nhất thừa rỗng lặng.
29. CHƯƠNG PHÁT NGUYỆN
29.1. LỜI DẪN
Quả Phật cao xa, muốn lên phải có thềm bậc; mây pháp vòi vọi, muốn đạt phải theo thứ lớp. Vì thế, ban đầu phát tâm chí thành thì phúc lớn sẽ cảm được quả tột cao, lập thệ rộng lớn thì nguyện nhiệm mầu theo mãi đên mai sau. Một niệm dấy lên, tức cảm hoa lành vô số kiếp; nửa khắc cung kính, liền được cam lộ cả đại thiên. Phát đại nguyện chính là nền tảng của Đại thừa, là con đường đưa đến chủng trí.
29.2. DẪ N CHỨNG
29.2.1. Hai mươi bốn nguyện của Phật A-di-đà
Kinh A-di-đà ghi: “Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Lúc Đức Phật A-di-đà còn tu hạnh bồ-tát, Ngài luôn phụng hành hai mươi bốn lời nguyện, xem đây như châu ngọc, luôn quý trọng, giữ gìn và kính thuận theo. Hai mươi bốn lời nguyện:
1. Lúc tôi thành Phật, trong nước của tôi không có địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh và các loại côn trùng nhỏ nhít. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
2. Lúc tôi thành Phật, trong nước của tôi không có người nữ. Nếu người nữ nào muốn sinh về cõi nước của tôi, trước phải biến thành người nam. Vô ương số trời, người, súc sinh khi sinh về nước của tôi đều hóa sinh trong hoa sen ở ao bảy báu. Lớn lên đều làm bồ-tát, a-la-hán, số nhiều vô lượng. Nếu không được như vậy, tôi nguyện mãi mãi không thành Chính giác.
3. Lúc tôi thành Phật, cõi nước của tôi đất bằng bày báu rộng lớn vô cùng, trang nghiêm rực rỡ; nhà cửa, chăn màn, y phục, đồ ăn, thức uống đều có tự nhiên, giống như chỗ ở của trời Tha Hóa Tự Tại. Nếu không được như vậy, tôi nguyện sẽ không thành Chính giác.
4. Lúc tôi thành Phật, danh hiệu của tôi vang khắp vô ương số cõi Phật ở mười phương; mỗi Đức Phật ở ương chúng hội tỉ-kheo nói về công đức lành của cõi nước tôi. Đồng thời, trời, người, súc sinh khi nghe được danh hiệu của tôi thảy đều phát lòng từ, hoan hỉ và nguyện sinh về nước tôi. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
5. Lúc tôi thành Phật, vô ương số trời, người, súc sinh ở khắp mười phương, nếu đời trước làm ác, khi nghe danh hiệu tôi mà muốn sinh về nước tôi, thì liền bỏ tà về chính, tự ăn năn sám hối, vì đạo mà tu thiện, trì kinh, giữ giới, một lòng nguyện sinh về cõi nước của tôi. Khi những chúng sinh ấy qua đời được sinh về nước tôi, nhất định không sinh trở lại ba đường ác. Nếu không được như vây, tôi nguyện không thành Chính giác.
6. Lúc tôi thành Phật, chúng trời người ở vô ương số cõi Phật khắp mười phương, hoặc người nam, hoặc người nữ muốn sinh về cõi nước của tôi, nhờ duyên lành của tôi mà họ làm việc thiện, lập đàn bố thí, nhiễu thắp, đốt hương, rải hoa, thắp đèn, treo phan lọng, cúng dường thức ăn cho sa-môn, xây dựng chùa tháp, đoạn trừ ái dục, trì trai giữ giới thanh tịnh, ngày đêm luôn nghĩ đến tôi, cuối cùng

Phần 5

tất cả được sinh về nước tôi. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
7. Lúc tôi thành Phật, trời người trong vô ương số cõi Phật khắp mười phương, hoặc người nam, hoặc người nữ, có ai tu đạo bồ-tát, thực hành sáu ba-la-mật, hoặc làm sa-môn nghiêm trì giới pháp, đoạn trừ ái dục, trai giới thanh tịnh, một lòng cầu sinh về nước tôi, ngày đêm không dứt, thì lúc người ấy lâm chung, tôi và các vị bồ-tát, a-la-hán cùng đến đón rước, họ liền được sinh về nước tôi và thành bồ-tát A-duy-việt-trí, trí tuệ sáng suốt. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
8. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát trong nước của tôi muốn sinh về nước của Đức Phật ở phương khác đều không phải trải qua các đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh và được thành Phật. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
9. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát, a-la-hán trong nước của tôi dung mạo đoan chính, thông minh, xinh đẹp, đồng một màu, cùng một loại, giống như chư thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại, Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
10. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát, a-la-hán ở trong nước của tôi đều đồng một tâm, biết rõ nhau ý muốn gì, miệng nói gì. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
11. Lúc tôi thành Phật, tất cả các vị bồ-tát, a-la-hán trong nước của tôi, không có tâm dục, không nghĩ đến người nữ, không bao giờ giận hờn, ngu si. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
12. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát, a-la-hán trong nước của tôi đều có tâm kính trọng, thương yêu, không oán ghét nhau. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
13. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát ở nước tôi muốn cúng dường vô ương số chư Phật khắp mười phương thì liền bay đến các cõi Phật ấy. Lúc ấy nhiều loại vật thực tự nhiên hiện ra trước mắt để họ mang đi cúng dường khắp tất cả chư Phật. Đến trước giờ Ngọ ngày hôm sau, họ bay trở về nước của tôi. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
14. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát, a-la-hán ở trong nước tôi, đến giờ ăn, tự nhiên trong bát bảy báu có đủ thức ăn trăm vị, ăn xong tự nhiên biến mất. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
15. Lúc tôi thành Phật, thân các vị bồ-tát trong nước của tôi đều có màu vàng ròng, đủ ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, giống như tướng của Phật. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
16. Lúc tôi thành Phật, tiếng nói của các vị bồ-tát, a-la-hán trong nước của tôi giống như âm vang của ba trăm cái chuông đồng, thuyết kinh, hành đạo giống như Phật. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
17. Lúc tôi thành Phật, khiến cho tôi thấy, nghe thấu suốt, bay đi xa gấp mười lần các Đức Phật khác. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
18. Lúc tôi thành Phật, khiến cho tôi được trí tuệ, thuyết pháp, hành đạo gấp mười lần các Đức Phật khác. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
19. Lúc tôi thành Phật, giả sử trời người, súc sinh ở vô ương số cõi Phật khắp mười phương đều được sinh làm người, chứng quả Bích-chi-phật, A-la-hán, tọa thiền nhứt tâm, đều muốn tính biết tuổi thọ của tôi số bao nhiêu nghìn ức vạn kiếp, cũng không thể biết được. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
20. Lúc tôi thành Phật, giả sử trời người và súc sinh ở trong mỗi mỗi nghìn ức cõi Phật khắp mười phương đều chứng quả Bích-chi-phật, A-la-hán, đều ngồi thiền nhất tâm, cùng muốn đếm biết số bồ-tát a-la-hán trong cõi nước của tôi có bao nhiêu, cũng không thể biết được. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
21. Lúc tôi thành Phật, tuổi thọ của các vị bồ-tát, a-la-hán trong nước của tôi dài vô ương số kiếp. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
22. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát, a-la-hán trong nước của tôi đều có trí tuệ siêu việt, thông minh. Không chỉ biết được các việc thiện ác của mình đã làm trong ức vạn kiếp trước mà họ còn thấy biết rố những việc mà mình đã tạo từ vô thỉ, cũng biết việc quá khứ, hiện tại, vị lai trong mười phương. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
23. Lúc tôi thành Phật, các vị bồ-tát, a-la-hán trong nước của tôi đều được trí tuệ dũng mãnh, đỉnh đầu đều có ánh sáng. Nếu không được như vậy, tôỉ nguyện không thành Chính giác.
24. Lúc tôi thành Phật, trên đỉnh đầu của tôi có ánh sáng rực rỡ hơn ánh sáng của mặt trời, mặt trăng gấp trăm nghìn ức vạn lần; sáng hơn hào quang của các Đức Phật khác và chiếu sáng xa đến vô ương số. Những nơi tối tăm trong thiên hạ đều được chiếu sáng. Chúng trời, người, súc sinh khi thấy ánh sáng của tôi đều khởi lòng từ, làm việc thiện và đêu được sinh về cõì nước của tôi. Nếu không được như vậy, tôi nguyện không thành Chính giác.
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Lúc còn làm bồ-tát, Đức Phật A-di-đà đã phụng hành hai mươi bốn lời nguyện, không phạm đạo pháp, bỏ hêt tài sắc, siêng năng cầu nguyện, chứa nhóm công đức, trải qua vô ương số kiếp, nay đã thành Phật, các nguyện đều thành, không luống uổng công lao”,
29.2.2. Lễ Phật mười phương trừ tai họa
Kinh Phật thuyết diệt thập phương minh ghi: “Bây giờ, có đồng tử dòng họ Thích, tên Diện Thiện Duyệt đến bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Nay cha mẹ con bị phi nhân quấy nhiễu, ngày đêm thức ngủ không được an ổn, ra vào đi lại cũng bị não hại; hoặc gặp phi nhân, trùng độc, gian tà cũng không có cách gì ngăn chặn. Cúi xin Thế Tôn chỉ dạy cho con phương pháp để con tùy thời cứu giúp cha mẹ khỏi bị nhiễu hại!
Phật nói với Diện Thiện Duyệt:
- Ta sẽ nói cho ông biết phương pháp để ngăn chặn.
Phật nói:
- Ở phương đông cách đây hơn tám nghìn na-do-tha cõi Phật, có thế giới Bạt Chúng Trần Lao, Đức Phật giáo chủ cõi ấy hiệu là Đẳng Hành Như Lai hiện đang thuyết pháp. Nếu người nào đi về hướng đông, phải cúi đầu đỉnh lễ, cúng dường Đức Phật ở phương đông. Được như vậy thì không còn sợ hãi, cũng không loài nào dám nhiễu hại, tất cả việc làm đều thành tưu
- Ở phưong nam cách đây hơn mười ức trăm nghìn cõi Phật, có thế giới Tiêu Minh Đẳng Yếu Thoát, Đức Phật giáo chủ cõi ấy hiệu là Sơ Phát Tâm Niệm Li Khủng úy Quy Y Siêu Thủ Như Lai hiện đang thuyết pháp. Nếu người nào đi về hướng nam, phải từ xa cúi đầu đỉnh lễ Đức Phật, một lòng cung kính. Được như vậy sẽ không còn sợ hãi và không gặp hoạn nạn.
- Ở phương tây cách đây hằng hà sa cõi Phật, có thế giới Thiện Tuyển Trạch, Đức Phật giáo chủ cõi ấy là Kim cang Bộ Tích Như Lai hiện đang thuyết pháp. Nếu có người nào muốn đi về hướng tây, trước phải cúi đầu đỉnh lễ, một lòng cung kính Đức Phật kia. Được như vậy sẽ không còn sợ hãi và không gặp hoạn nạn.
- Ở phương bắc cách đây hơn hai vạn cõi Phật, có thế giới Giác Biện, Đức Phật giáo chủ cõi ấy là Bảo Trí Thủ Như Lai hiện đang thuyết pháp. Nếu người nào muốn đi về hướng bắc, trước tiên ở tại nhà cúi đầu đỉnh lễ, cung kính Đức Phật kia rồi đi thì không còn sợ hãi và không gặp hoạn nạn.
- Ở phương đông bắc cách đây trăm vạn ức cõi Phật, có thế giới Trì Sở Niệm, Đức Phật Hoại Ma Mạn Độc Bộ Như Lai hiện đang thuyết pháp nơi ấy. Nếu người nào muốn đi về phương đông bắc, từ xa cung kính đỉnh lê Đức Phật kia, sẽ được an ổn và không còn sợ hãi.
- Ở phương đông nam cách đây hằng hà sa cõi Phật, có thế giới Thường Chiếu Diệu, Đức Phât Sơ Phát Tâm Bất Thối Chuyển Luân Thành Thủ Như Lai hiện đang thuyết pháp nơi ấy. Nếu người nào muốn đi về hướng đông nam, trước phải cung kính đỉnh lễ, năm vóc sát đất, sau đó xuất phát thì không còn sợ hãi.
- Ở phương tây nam cách đây hơn tám vạn cõi Phật, có thế giới Phú Bạch Giao Lộ, Đức Phật Bảo Cái Chiếu Không Như Lai hiện đang thuyết pháp nơi ấy. Nếu người nào muốn đi về hướng tây nam, trước phải đỉnh lễ đức Như Lai ở phương kia rải hoa cúng dường từ xa, quán tâm vô tướng, sau đó xuất phát thì không còn sợ hãi.
- Ở phương tây bắc cách đây hằng hà sa cõi Phật, có thế giới Trụ Thanh Tịnh, Đức Phật Khai Hóa Bồ-tát Như Lai hiện đang thuyết pháp nơi ấy. Nếu người nào muốn đi về hướng tây bắc, trước phải đỉnh lễ Đức Phật kia, sám hối lỗi lầm, tịnh tu Phạm hạnh, sau đó xuất phát thì không còn sợ hãi.

Phần 6

- Ở phương dưới cách đây hơn chín mươi hai cai cõi Phật, có thế giới Niệm Vô Đảo, Đức Phật Niệm Sơ Phát Ý Đoạn Si Bạt Dục Như Lai hiện đang thuyết pháp nơi ấy. Nếu người nào trước lúc ngồi hoặc đêm nằm ngủ luôn nhớ nghĩ đến Đức Phật ấy, hướng về đỉnh lễ, thường phát tâm từ bi cứu độ chúng sinh, sau đó ngồi nằm sẽ không còn sợ hãi.
- Ở phương trên cách đây sáu mươi hằng hà sa cõi Phật, có thế giới Li Khủng Cụ Vô Hữu Xứ Sở, Đức Phật Tiêu Minh Đẳng Siêu Vương Như Lai hiện đang thuyết pháp nơi ấy. Nếu người nào từ chỗ ngồi đứng dậy hướng về Đức Phật kia lễ lạy, cúng dường thì không còn sợ hãi, đi đến đâu cũng được an ổn.
Nếu người nào y theo kinh điển này mà đọc tụng, giảng giải cho người khác nghe một cách trọn vẹn, không thiếu sót thì sở nguyện sớm thành, không còn sợ hãi, nơi quan trường không bị bức ép oan uồng, vào trong quân trận không bị nguy hại, vào lửa lớn thì lửa liền tắt, vào nước lớn không bị chìm; trời, rồng, quỷ, thân và các vị thân bạo ác không dám xúc phạm; thú dữ không dám đến gần; ma quái, quỉ mị không thể quấy nhiễu. Nếu ở một mình nơi vắng vẻ thì được Như Lai bảo vệ.
Khi nghe Đức Phật nói như thế, Đế Thích và đồng tử Diện Thiện Duyệt hoan hỉ đỉnh lễ Phật mà lui ra”.
29.2.3. Đại nguyện của bồ-tát
Luận Bồ-tát địa trì ghi: “Bồ-tát phát nguyện, lược có năm loại:
1. Phát tâm nguyện: Bồ-tát mới phát tâm Vô thượng bồ-đề.
2. Sinh nguyện: Nguyện đời sau vì chúng sinh mà thụ sinh vào đường lành.
3. Cảnh giới nguyện: Nguyện chính quán các pháp có vô lượng cảnh giới thiện căn tư duy.
4. Bình đẳng nguyện: Nguyện đời sau thành tựu tứ nhiếp pháp của bồ-tát.
5. Đại nguyện: Tức là bình đẳng nguyện.
Bồ-tát lại phát mười đại nguyện:
1. Nguyện cúng dường tất cả lên vô lượng Đức Phật.
2. Nguyện hộ trì tất cả chính pháp củạ các Đức Phật.
3. Nguyện thông đạt chính pháp của các Đức Phật.
4. Nguyện sinh lên cõi trời Đâu-suất cho đến bát-niết-bàn.
5. Nguyện thực hành tất cả chính hạnh của bồ-tát.
6. Nguyện giúp tất cả chúng sinh thành tựu Phật đạo.
7. Nguyện có thể thị hiện giáo hóa ở tất cả thế giới.
8. Nguyện tất cả bồ-tát dùng một phương tiện Đại thừa hóa độ.
9. Nguyện tất cả phương tiện chính hạnh không ngăn ngại.
10. Nguyện thành Vô thượng chính giác.
Bồ-tát trụ bậc Sơ địa, hiện tại dùng phương tiện tịnh tín tu hành, đối với việc đời vị lai, phát mười nguyện lớn:
1. Luôn dùng tâm thanh tịnh, phát nguyện cúng dường tất cả các Đức Phật.
2. Thụ trì và gìn giữ chính pháp của các Đức Phật.
3. Khuyến thỉnh các Đức Phật chuyển pháp hi hữu.
4. Thực hành theo chính hạnh của bồ-tát.
5. Thành thục trọn vẹn tất cả thế gian.
6. Đều có năng lực hóa hiện ở tất cả thế giới.
7. Tự làm thanh tịnh cõi Phật.
8. Tất cả bồ-tát cùng dùng một phương tiện Đại thừa giáo hóa.
9. Lợi ích chúng sinh, tất cả đều không luống uổng.
10. Tất cả chúng sinh trong thế giới đều được A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, làm tất cả Phật sự.
Từ mười đại nguyện này có thể sinh ra vô lượng trăm nghìn đại nguyện, không lìa chúng sinh, không lìa thế gian, bồ-tát đời đời thực hành không bao giờ quên những đại nguyên này”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Đức Phật dạy:
- Này các Phật tử! Bồ-tát trụ Hoan hỉ địa lấy mười đại nguyện làm đầu, từ đó phát sinh trăm nghìn vạn ức a-tăng-kì đại nguyện như thế, lại do các pháp không cùng tận mà sinh những nguyện này. Để thực hiện viên mãn những nguyện này, bồ-tát luôn siêng năng, tinh tiến. Mười nguyện:
1- Chúng sinh không cùng tận.
2- Thế giới không cùng tận.
3- Hư không không cùng tận.
4- Pháp giới không cùng tận.
5- Niết-bàn không cùng tận.
6- Phật ra đời không cùng tận.
7- Trí tuệ chư Phật không cùng tận.
8- Tâm sở duyên không cùng tận.
9- Khởi trí không cùng tận.
10- Thế gian chuyển, pháp luân chuyển và khởi trí chuyển không cùng tận.
Nếu chúng sinh không còn, cho đến các chuyển như khởi trí... không còn thì nguyện của tôi mới hết. Nhưng vì chúng sinh, cho đến các chuyển như khởi trí... vô tận, nên các nguyện và căn lành của tôi cũng vô tận”.
Kinh Văn-thù-sư-lợi vấn bồ-đề ghi: “Bấy giờ, thiên tử hỏi Văn-thù-sư-lợi:
- Bồ-tát được bao nhiêu tâm có khả năng gồm thâu nhân quả?
Văn-thù đáp:
- Bồ-tát được bốn tâm gồm thâu nhân quả.Đó là:
1- Sơ phát tâm.
2- Hành đạo tâm.
3- Bất thối tâm.
4- Nhất sinh bổ xứ tâm.
Sơ phát tâm làm nhân duyên cho Hành đạo tâm, Hành đạo tâm làm nhân duyên cho Bất thối tâm, Bất thối tâm làm nhân duyên cho Nhất sinh bổ xứ tâm.
Sơ phát tâm giống như gieo giống xuống ruộng, Hành đạo tâm giống như hạt lúa nảy mầm, Bất thối chuyển tâm giống như hoa quả mới kết, Nhất sinh bổ xứ tâm giống như hoa quả chín.
Sơ phát tâm giống như người thợ đóng xe chuẩn bị gỗ, Hành đạo tâm giống như gọt đẽo gỗ, Bất thối chuyển tâm giống như ráp các chi tiết của xe, Nhất sinh bổ xứ tâm giống như chiếc xe đã ráp xong và vận hành.
Sơ phát tâm giống như mặt trăng mới lên, Hành đạo tâm giống như mặt trăng ngày mùng năm, Bất thối chuyển tâm giống như mặt trăng ngày mùng mười, Nhất sinh bổ xứ tâm giống như mặt trăng ngày mười bốn. Trí tuệ của Như Lai giống nhứ mặt trăng ngày rằm.
Sơ phát tâm có thể vượt qua Thanh văn địa, Hành đạo tâm có thể vượt qua Bích-chi-phật địa, Bất thối chuyển tâm vượt qua Bất định địa, Nhất sinh bổ xứ tâm an trú Định địa.
Sơ phát tâm giống như người bệnh tìm thuốc, Hành đạo tâm giống như người bệnh chọn thuốc, Bất thối chuyển tâm giống như người bệnh uống thuốc, Nhất sinh bổ xứ tâm giống như người bệnh được lành”.
Kinh Đại tập ghi: “Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Lúc bồ-tát mới phát tâm Vô thượng bồ-đề đã biết các chúng sinh có những hạnh nghiệp như thế mà không kinh sợ. Việc ấy thật khó, không thể suy lường được.
Phật hỏi:
- Xá-lợi-phất! Ông nghĩ sao? Sư tử con mới sinh, nghe tiếng rống của sư tử chúa có sợ không?
Xá-lợi-phất thưa:

Phần 7

- Bạch Thế Tôn! Không sợ.
Phật dạy:
- Lúc đại bồ-tát mới phát tâm Vô thượng bồ-đề, nghe những hành nghiệp của chúng sinh, tâm trạng cũng như thế. Xá-lợi-phất! Ông nghĩ sao? Một đốm lửa nhỏ có sợ củi khô không?
Xá-lợi-phất thưa:
- Thưa Thế Tôn! Không sợ.
Phật dạy:
- Bồ-tát mới phát tâm Vô thượng bồ-đề, có được lửa trí tuệ cũng như thế. Xá-lợi-phất! Nay Ta dùng phi dụ để làm thí dụ.
Xá-lợi-phất! Thí như lửa dữ và củi khô giao ước bảy ngày sẽ chiến đấu với nhau. Bấy giờ, cành và lá khô của các loại cây ăn trái nhóm lại cao như núi Tu-di. Bên lửa dữ có một bạn thân hỏi:
- Tại sao anh không chuẩn bị và tìm người giúp đỡ? Bên kia rất nhiều người trợ giúp, còn anh chỉ một mình, làm sao đánh lại?
Lửa dữ đáp:
- Kẻ thù kia tuy nhiều, nhưng sức ta có thể địch được, không cần bạn bè giúp đỡ.
Xá-lợi-phất! Các đại bồ-tát cũng như thế, tuy các phiền não tụ họp, thế lực rất mạnh, nhưng bồ-tát chỉ dùng sức trí tuệ của mình cũng có thể hàng phục chúng. Như viên thuốc A-già-đà có thể giải cực độc; bồ-tát cũng như thế, chỉ dùng ít thuốc trí tuệ có thể giải vô số cực độc phiền não”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Đức Phật bảo các tì kheo:
- Các tì-kheo, Ta nhớ thuở xưa có một người nghèo đi xin ăn để sống. Ông ta từ nơi khác đến thành Ba-la-nại, những người ăn xin ở đây quở mắng và hỏi: ‘Ngươi từ đâu đến đây?’, rồi ngăn cản không cho ông ta xin ăn.
Người nghèo bị ngăn trở, liền nghĩ: ‘Ta không có lỗi với họ, tại sao lại ngăn cản ta. Khi ấy, trong thành có một trưởng giả đánh mất chiếc bát đồng, tìm kiếm khắp nơi nhưng không được. Vì tìm chiếc bát, trưởng giả đi đến một thôn nọ. Lúc đó, người ăn xin nhặt được chiếc bát đồng trong đống rác, treo trên đầu gậy rồi vào thành Ba-la-nại. Ông ta đi từ đường này đến đường khác, từ ngõ này sang ngõ khác, từ hẻm này qua hẻm nọ, từ góc này đến góc kia và rao rằng: ‘Chiếc bát đồng này của ai hãy đến nhận lấy’. Ông ta đi kháp nơi tìm chủ nhân chiếc bát, nhưng không thấy, liền trao bát đồng cho vua Phạm Đức.
về sau, trưởng giả nghe đồn có người nhặt được chiếc bát đồng và mang đến giao cho vua Phạm Đức. Trưởng giả liền đến chỗ vua Phạm Đức thưa:
- Tâu đại vương, chiếc bát mà người ăn xin dâng cho bệ hạ chính là của thần.
Vua sai sứ giả gọi người ăn xin đến bảo:
- Chiếc bát đồng ngươi trao cho ta trước kia, nay trưởng giả nói của ông ta. Vậy việc này thế nào?
Người ăn xin tâu:
- Đúng thế đại vương! Tôi không biết chiếc bát ấy của ai, chỉ nhặt được trong đống rác rồi quảy đi tìm chủ nhân của nó, nhưng không được, bèn dâng lên đại vương, xin ngài tùy ý sử dụng!
Vua Phạm Đức hoan hỉ bảo:
- Này nhân giả, hôm nay ngươi cầu xin điều gì ta sẽ ban cho, còn chiếc bát đồng trả lại trưởng giả.
Người ăn xin tâu:
- Tâu đại vương, nếu hôm nay ngài hoan hỉ cho tôi ước nguyện, thì xin cho tôi được làm vua trong đám ăn xin ở thành Ba-la-nại.
Vua Phạm Đức lại bảo:
- Ngươi cần gì làm vua trong đám ăn xin, hãy xin những gì quí giá hơn, như vàng bạc, thôn ấp trù phú trong nước để làm phong ấp, ta sẽ ban cho.
Người ăn xin lại tâu:
- Nếu đại vương hoan hỉ cho tôi ước nguyện, tôi chỉ xin ngài việc trên.
Vua liền bảo:
- Vậy thì tùy ý ngươi.
Bấy giờ, trong thành Ba-la-nại có năm trăm người ăn xin, ông ta tập họp họ lại bảo:
- Nay ta được vua chỉ định làm chủ các ngươi, các người từ nay phải nghe ta dạy bảo!
Bọn ăn xin hỏi:
- Hôm nay ngài bảo bọn tôi làm việc gì?
Vua ăn mày nới:
- Các ngươi cùng nhau kiệu ta trên vai hoặc cõng trên lưng, số còn lại đi theo bảo vệ ta.
Nghe xong, năm trăm người ăn xin hoặc dùng kiệu khiêng, hoặc cõng mà hành khất khắp nơi. Biết nơi nào tổ chức lễ hội có thức ăn thức uống thì liền đến xin, sau đó họ đem đến một nơi chia nhau ăn. Theo cách ấy, họ sống chung một thời gian dài.
Một hôm, vua ăn xin phát hiện có một người lén ở chỗ vắng ăn viên Hoan hỉ, vua đến đoạt lấy rồi bỏ chạy. Năm trăm kẻ ăn xin liền đuổi theo, đến một nơi rất xa, mọi người đều mệt mỏi nên quay về. Vua ăn xin khỏe mạnh, nên chạy không biết mệt. Khi đã chạy xa liền quay lại nhìn không thấy ai cả, vua vào một khu vườn lấy nước rửa tay rồi ngồi xuống định ăn viên Hoan hỉ, bất chợt sinh lòng hối hận: ‘Ta thật không tốt, tại sao đoạt lấy thức ăn của người kia và lừa dối những người tùy tùng của ta? Thức ăn này nhiều quá ta ăn không hết, nếu thế gian có thánh nhân nào biết ý ta đến đây, ta sẽ chia cho!’.
Khi ấy, có bích-chi-phật Thiện Hiền từ hư không bay đến đứng cách vua hành khất không xa. Thấy bích-chi-phật oai nghi đỉnh đạc, đi đứng khoan thai, cử chỉ hòa nhã, vua ăn xin sinh tâm tịnh tín, thầm nghĩ: ‘Lý do từ trước đến nay ta phải chịu cảnh nghèo thiếu, là vì ta không gặp được bậc có phúc điền để cung kính cúng dường. Nếu xưa kia gặp được bậc có phúc điền ấy thì ngày nay đâu phải chịu khốn khổ, cũng không bị người đe dọa mạng sống. Hôm nay, ta dâng cúng tiên nhân viên Hoan hỉ này, chẳng biết ngài có nhận không! Nếu được ngài nhận, ta nguyện về sau không phải chịu thân phận nghèo nàn khốn khổ nữa’. Nghĩ thế, ông ta đem viên Hoan hỉ dâng cúng tiên nhân.
Bích-chi-phật chỉ biết hiện thần thông giáo hóa chúng sinh, chứ không có cách nào khác. Vì thương xót vua ăn xin, vị bích-chi-phật nhận viên Hoan hỉ rồi bay vút lên hư không biến mất. Vua ăn xin thấy thế, mừng rỡ vô cùng, không thể nén lòng, liền chắp tay lễ bái bích-chi-phật và phát nguyện: ‘Con nguyện đến đời vị lai luôn gặp Thế Tôn, hoặc hơn thế nữa, vừa nghe Thế Tôn nói pháp liền chứng ngộ. Lại nguyện đời vị lai sinh vào nhà thuộc dòng họ quí tộc, có uy đức lớn; được làm vua và không sinh vào nhà nghèo hèn. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp không đọa vào đường ác?.
Phật bảo các tì-kheo:
- Các tì-kheo nên biết, vị vua ăn xin ở thành Ba-la-nại cúng dường viên Hoan hỉ cho bích-chi-phật lúc trước, chính là tì-kheo Bà-đề-lợi-ca. Nhờ nghiệp quả cúng dường ấy, nên nay được sinh vào dòng họ Thích, giàu sang, tiền của sung túc. Vì nguyện xưa mà nay được làm vua, không đọa vào ác đạo và thường sinh vào cõi trời người, hưởng thụ khoái lạc. Và vì nguyện xưa nên gặp được Ta, xuất gia thụ giới cụ túc, đắc quả A-la-hán và được Ta thụ kí.
Tì-kheo Bà-đề-lợi-ca là bậc nhất dòng tộc cao quí trong hàng đệ tử Thanh văn của Ta”.
Có bài tụng:
Người hiền thích thanh cao
Nguyện tu nhân bồ-đề
Cưỡi hạc vượt sông Y
Giục ngựa vượt đất vua
Xưa đã lập nguyện lớn
Cảm được thân Di-đà
Năng Nhân tu bát chính
Vượt qua trước chín đời
Tiếng vang khắp ba cõi
Lòng từ cảm đại thiên
Dứt trừ các vọng tưởng
Phàm thánh đều vui mừng
Chúng sinh cùng qui hướng
Lợi ích mở tâm thần
Nhổ sạch gốc sinh tử
Đâu giống đạo Lão Trang?

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục