Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 31 - CHƯƠNG ẨN TÍCH, YÊU QUÁI

10/11/2015

QUYỂN 31 Quyển này gồm hai chương: Ẩn tích, Yêu quái. 23. CHƯƠNG ẨN TÍCH 23.1. LỜI DẪN Từng nghe: Thánh hiền xuất thế, hiện thân khắp muôn nơi, những chỗ các Ngài dừng trụ đều được lợi ích. Kẻ phàm tục xem trọng điều kiế...

PUCL QUYỂN 31 - CHƯƠNG ẨN TÍCH, YÊU QUÁI
Phần 1

QUYỂN 31
Quyển này gồm hai chương: Ẩn tích, Yêu quái.
23. CHƯƠNG ẨN TÍCH

23.1. LỜI DẪN
Từng nghe: Thánh hiền xuất thế, hiện thân khắp muôn nơi, những chỗ các Ngài dừng trụ đều được lợi ích. Kẻ phàm tục xem trọng điều kiết hung, bậc thượng trí an nhiên với thiện ác. Chính tâm mà đợi thì lượng đồng với trời. Thuở xưa, đời Tấn Vũ đế có ngài Kì-vực người Thiên Trúc; đầu đời Tống Vũ đế có ngài Bôi Độ ở Bành Thành, đều hiện điềm lành để thức tỉnh kẻ phàm ngu.
Vào niên hiệu Vĩnh Minh thứ nhất (483) đời Tề, có sa-môn Bảo Chí xuất hiện. Sư như người cuồng, thân thể nhơ bẩn, nhưng đoán việc quá khứ, tương lai rất linh nghiệm. Vì thế từng cử chỉ, lời nói của sư đều được ghi lại ti mỉ. Quan dân tranh nhau kéo đến chỗ sư đông như hội. Tuy thân ở tại nhân gian, nhưng tâm tiêu dao nơi tịch cảnh. Sư không bị nước nhận chìm, lửa đốt không cháy, rắn độc không thể làm hại, hổ không thể làm tổn thương; dù đóng chín lớp cửa cùng không ngăn trở được sư. về Phật đạo thì từ bậc Thanh văn trở lên; với thần tiên thì ngang bằng độn tiên, cao sĩ. Gặp đời có người làm thiện thì hiện tướng thiện để độ họ, gặp đời có người làm ác thì hiện tướng ác để điều phục họ. Có thể nói sáng tỏ như nhật nguyệt mà lại ẩn tàng như vàng trong quặng, chỉ người có phúc lớn mới gặp những bậc ấy.
23.2. DẪN CHỨNG
Kinh Sinh ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ xa xưa cách đây vô số kiếp, trong gia đình nọ có hai chị em một trai một gái, người chị có một người con trai. Người con này cùng với cậu mình chuyên lo việc cung cấp vải lụa quí cho quan phủ. Họ thấy trong kho có nhiều bảo vật quý giá, nên bàn với nhau: ‘Chúng ta dệt vải khổ nhọc mà vẫn nghèo, nay trong kho tài vật nhiều vô số, saọ chúng ta không lấy để thoát khỏi cảnh túng thiếu’. Đợi đêm xuống, mọi người ngủ hết, hai cậu cháu đào một đường hầm lấy trộm vô số tài vật.
Sáng hôm sau, người giữ kho phát hiện tài vật trong kho bị mất, liền tâu với vua. Vua gọi người giữ kho lại dặn: ‘Chớ để việc này truyền ra ngoài, bởi kẻ trộm cho rằng vua không biết, nhất định bọn chúng sẽ lại đến trộm nữa. Các nguơi phải canh phòng cẩn mật đợi chúng đến bắt trói, chớ để họ trốn thoát’. Người giữ kho vâng lệnh, canh phòng cẩn mật hơn.
Không bao lâu, hai cậu cháu kia trở lại kho để trộm vật. Người cháu nói với cậu: ‘Tuổi cậu đã cao, thân thể gầy ốm, sức lực suy yếu, nếu bị bắt khó bề thoát được, cháu sức khỏe dồi dào sẽ cứu cậu!’.
Bàn xong, người cậu chui vào đường hầm. Vừa mới chui vào thì bị người giữ kho bắt và la lớn báo cho những người khác đến bắt tiếp đứa cháu, nhưng họ không bắt được. Đứa cháu sợ sáng ngày mọi người sẽ biết, nên chặt lấy đầu cậu, chạy ra khỏi đường hầm trở về. Sáng hôm sau, người giữ kho tâu hết sự việc với vua. Vua bảo đem thi thể người ấy đặt ở ngã tư đường, nếu người nào đến đó khóc lóc, lấy thi thể thì chính là tên đầu sỏ.
Người kia vâng lệnh vua đem thi thể của người cậu đặt ở ngã tư đường, canh giữ cẩn mật suốt nhiều ngày. Một hôm, bỗng đâu xuất hiện vô số người ngựa, nghèn cả đường đi. Người cháu nhân lúc náo loạn, chở hai xe củi đổ lên thi thể người cậu.
Người canh giữ lại đem việc ấy tâu lên vua. Vua ra lệnh phải dò xét kĩ, nếu có người nào đốt lửa thì bất trói giải về. Bấy giờ, người cháu dạy những đứa trẻ câm đuốc nhảy múa, vui đùa; nhân lúc mọi người tụ tập đông đúc, lộn xộn, người cháu phóng lửa, củi bốc cháy dữ dội. Người giữ không biết ai làm về tâu vua. Vua nói:
- Nếu thiêu rồi thì cần phải canh phòng nghiêm ngặt hơn, người đến lấy tro cốt chắc chắn là thủ phạm.
Nhưng người cháu cũng đã đoán biết điều đó, nên nấu một loại rượu ngon rồi bán cho những người canh gác. Vì bị đói khát nhiều ngàỵ, nên khi thấy rượu, những người canh gác tha hồ uống. Đến lúc tất cả đều say, lăn ra ngủ, người cháu lấy bình đựng rượu hốt hết tro cốt rồi bỏ đi mà những người kia không hề hay biết.
Sáng hôm sau, họ về tâu vua. Vua nói:
- Bấy lâu nay chúng ta canh phòng cẩn mật mà vẫn không băt được tên trộm. Tên trộm này thật khôn lanh, chúng ta phải bày cách khác!
Vua liền ra lệnh chọn một mỹ nữ, trang sức các loại châu ngọc quý giá và cho ở trong một căn phòng bên bờ sông lớn. Đồng thời bố trí nhiều người canh giữ nghiêm mật. Tên trộm vì ham lợi và ham sắc nhất định sẽ đến. Nhân đó, vua dặn mỹ nữ: ‘Khi hắn đến, cô hãy ôm chặt và la lớn cho mọi người đến bắt’.
Chẳng bao lâu sau, vào một đêm nọ, người cháu lần đến bên sông, thả một gốc cây cho trôi xuôi theo dòng nước và kêu la lớn rồi trốn mất. Những người canh gác sợ hãi vội vã chạy ra xem, nhưng không thấy người mà chi thấy một gốc cây. Người cháu làm như vậy liên tiếp nhiều lần, làm cho những người canh gác mất cảnh giác.
Một hôm, đợi những người canh gác đã ngủ say, người cháu bám vào gôc cây đến phòng của cô gái.
Cô gái liền nắm áo người cháu. Người cháu nói với cô gái:
- Đừng nắm áo, hãy nắm cánh tay của tôi.
Vốn khôn lanh, nên người cháu đã chuẩn bị sẵn một cánh tay của người chết và đưa cho cô gái. Cô gái buông áo chụp nắm lấy cánh tay và la lớn lên, nhưng đã chậm. Khi những người canh gác thức dậy thì người cháu đã chạy thoát rồi. Sáng hôm sau, mọi người về tâu vua. Vua nói: ‘Người này mưu mẹo có một không hai. Chúng ta lâu nay cố bắt, nhưng vẫn không bắt được, giờ phải làm sao?’.
Cô gái mang thai, đủ mười tháng thì sinh một bé trai rất dễ thương. Vua sai nhũ mẫu bế đi khắp trong nước và dặn hễ thấy ai đến hôn nó thì bắt trói giải về. Nhũ mẫu bồng đứa bé đi cả ngày, nhưng không có ai đến hôn. Bây giờ, người cháu giả làm người bán bánh đứng bên lò. Đứa bé đói quá khóc thét lên, người nhũ mẫu bồng đến mua bánh cho nó ăn. Người cháu thấy con liền đến hôn. Người nhũ mẫu về tâu với vua. Vua nói:
- Sao không bắt trói người đó lại?
Người nhũ mẫu tâu:
- Đứa bé đói quá mới khóc, người kia đưa bánh, nhân đó hôn nó, nên không biết hắn là tên trộm, mà làm sao biết được hắn.
Vua lại sai người nhũ mẫu bồng đứa trẻ tiếp tục dạo quanh và dặn hễ thấy người nào đến gần nó thì bắt trói giải về. Người cháu lại giả làm người bán rượu ngon, mời gọi, khuyến dụ nhũ mẫu và những người theo canh phòng uống say và ngủ
Phần 2

mê. Người cháu liền bồng đứa bé đem đi mất. Khi tỉnh dậy họ thấy mất đứa bé, liền về tâu với vua. Vua mắng:
- Bọn ngươi là một lũ ngu, vì ham uống rượu, không những không bắt được trộm mà còn để mất đứa bé!
Người cháu trộm được con, liền bồng trốn sang nước khác. Người cháu trước vào yết kiến cảm tạ quốc vương nước này. Trong khi đối đáp, anh ta chứng kinh dẫn nghĩa, vua rất hoan hỉ. Vua liền ban bổng lộc, phong làm quan lớn và nói với anh ta:
- Người trong nước trẫm không ai có mưu trí bằng ngươi. Tất cả con gái của các vị đại thần hoặc con gái của trẫm, tùy ý ngươi muốn chọn ai ta cũng chấp nhận.
Người cháu tâu:
- Thần không dám! Nếu bệ hạ thương thì cho thần cầu hôn với công chúa của nước thần. Vua nói:
- Tốt lắm! Trẫm chiều theo ý của khanh.
Vua liền nhận người cháu làm con và sai sứ sang cầu hôn với công chúa nước kia. Vua nước kia chấp nhận lời cầu hôn, nhưng lại dặn sứ giả:
• Muốn đón con gái của ta thì phải bảo thái tử của ngưoi chuẩn bị năm trăm xe ngựa, trang hoàng lộng lầy sang đây.
Bấy giờ, người cháu biết mình là tặc thần, nên rất lo sợ và nghĩ: ‘Nếu mình đến, vua nước kia sẽ nhận ra và chắc chắn bị bắt’. Nghĩ vậy, liền tâu với vua: ‘Nếu bệ hạ sai thần đi thì xin hãy cho chuẩn bị người, ngựa, y phục, yên cương đều đồng một loại, thần mới dám đi rước dâu’. Vua nghe theo, nên ra lệnh cho hai trăm năm mươi người cưỡi ngựa đi trước, hai trăm năm mươi người cưỡi ngựa đi sau, người cháu đi giữa và ngồi mãi trên ngựa không xuống. Vị vua nước kia đích thân ra đón. Sau nhiều lần quan sát kĩ, vua vào giữa đám người ngựa kéo người cháu ra ngoài và hỏi:
- Có phải ngươi là người mà ta nhiều lần tìm cách bắt không bắt được đó sao?
Người cháu củi đầu đáp:
- Chính là tôi.
Vua nói:
- Ngươi thông minh, thiên hạ có một không hai. Nay ta cho ngươi toàn sở nguyện, cưới con gái ta làm vợ.
Đức Phật bảo các vị tì-kheo:
- Người cháu thuở xưa chính là Ta, vị vua nước kia chính là Xố-lợi-phất, người cậu nay chính là Điều-dạt, vua cha của công chúa chính là vua Thâu-đầu-đàn. nhũ mẫu chính là Ma-da phu nhân, vợ của người cháu chính là Câu-di, đứa bé trai là La-vân.
Nghe Đức Phật dạy, mọi người đều vui mừng tin nhận”.
Luận Trí độ ghi: “Bồ-tát tư duy, quán sát các tướng không, vô thường, nên dù có ngũ dục tuyệt hảo cũng không sinh phiền não, giống như một vị quan lớn che giấu tội lỗi mình, không để ai biết. Vua nói với người ấy:
- Ngươi phải đem một con dê không có mỡ đến đây. Nếu không tìm được, trẫm sẽ trị tội ngươi!
Vị đại thần kia có trí, ông cột một con dê lớn, cho ăn cỏ, ngũ cốc, chăm sóc kĩ, mỗi ngày ba lần, ông dẫn con sói đến, làm cho con dê sợ hãi. Vì thế, mặc dù được dưỡng nuôi mập mạp, nhưng con dê không có mỡ. Sau đó, vị đại thần dẫn con dê đến cho vua. Vua sai người xẻ thịt, thì quả nhiên con dê mập mà không có mỡ. Vua hỏi:
- Vì sao ngươi làm được như vậy? Vị đặi thần liền kể lại việc trên.
Bồ-tát cũng như thể, hằng ngày thấy con sói vô thường, khổ, không, sinh sợ hãi, nên mỡ phiền não tan biến, chỉ còn lại toàn thịt công đức”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Trong nước Ma-kiệt có một trưởng giả sinh được một bé trai tướng mạo khôi ngô, rất đáng yêu. Ngày sinh đứa bé, trong kho bỗng nhiên xuất hiện một con voi vàng. Cha mẹ đứa bé vô cùng vui mừng và nhân điềm lành đó mà đặt tên đứa bé là Tượng Hộ.
Đứa bé ngày một lớn thì con voi kia cũng lớn theo. Đến khi đứa bé biết đi thì con voi kia cũng biết đi; khi ra, lúc vào thường không rời nhau. Nếu Tượng Hộ không cần thì voi ở trong kho. Voi đại tiểu tiện ra toàn là vàng. Vì thế nên kho tàng ngày càng đầy ắp của cải.
Khi trưởng thành, Tượng Hộ thường cưỡi voi dạo khắp đó đây, nhanh chậm tùy ý, rất hợp ý người. Vua A-xà-thế hay tin muốn tận mắt chứng kiến. Cha con Tượng Hộ cưỡi voi đến cổng, vua cho phép cưỡi voi vào cung. Cha con Tượng Hộ cưỡi voi vào và bước xuống lễ vua. Vua rất vui, bảo ngồi, ban cho thức ăn rồi cùng nhau bàn luận. Không lâu sau, hai cha con Tượng Hộ cáo từ vua trở về. Vua bảo Tượng Hộ: ‘Để voi lại, chớ cưỡi về!’. Tượng Hộ vui vẻ tuần lệnh vua để voi vàng ở lại, rồi đi bộ ra khỏi cung. Nhưng chẳng mấy chốc, voi vàng chui xuống đất rồi vọt lên ở ngoài cửa cung. Tượng Hộ được lại voi vàng và cưỡi về nhà. Tượng Hộ sợ vua hại mình, nên theo Phật xuất gia, tu tập và chứng quả A-la-hán.
Tượng Hộ thường cùng với các tì-kheo ở trong rừng thiền quán và con voi vàng kia luôn xuất hiện ở trước mặt Tượng Hộ.
Người ở nước Xá-vệ nghe nói có con voi vàng, nên tranh nhau kéo đến xem, gây ồn náo làm trở ngại việc tu tập. Các vị tì-kheo bạch Phật. Phật bảo Tượng Hộ:
- Vì con voi vàng mà gây ra ồn náo, ông bảo nó đi nơi khác.
Tượng Hộ nghe lời Phật dạy, bảo voi vàng đi chỗ khác, nhưng nó không chịu đi. Phật lại bảo Tượng Hộ:
- Ông nên nói với nó: ‘Nay thọ mệnh của ta đã hết, không cần đến ngươi nữa!’. Ông nói ba lần như vậy voi vàng sẽ bỏ đi.
Tượng Hộ vâng lời Phật dạy đến nói với voi vàng, ngay lập tức voi vàng chui vào lòng đất biến mất.
Đức Phật bảo các thầy tì-kheo:
- Do đâu Tượng Hộ có quả báo như thế? Đó là vào thời Đức Phật Ca-diếp ở quá khứ, bấy giờ con người thọ hai vạn tuổi. Sau khi Đức Phật kia nhập niết-bàn, mọi người cùng nhau xây tháp phụng thờ. Bấy giờ, trong chúng có một vị bồ-tát vốn từ trời Đâu-suất giáng xuông, gá thai vào con voi. Lúc ấy, thân voi bị một vết trầy nhỏ, có một người thấy vậy liền chữa trị cho voi và nguyện rằng: ‘Nguyện cho tôi

Phần 3

đời sau sinh ra vào nơi tôn quí, của cải tiêu dùng không thiếu’. Người kia sau khi mệnh chung được sinh lên trời. Khi tuổi thọ cõi trời hết, thường sinh vào nơi tôn quí ở nhân gian và luôn có voi vàng theo bảo vệ.
Người chữa trị vết thương cho voi thuở trước nay chính là Tượng Hộ. Do chữa trị cho voi, nên nay được phúc báo tự nhiên đầy đủ vật dụng. Vì có tâm kính trọng, tôn phụng Tam bảo, cho nên nay gặp Ta tu hành chửng quả”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, có vua Nan-đà thông minh, biết rộng, học hiểu tất cả mọi điều. Vua cho rằng với sự hiểu biết của mình thì không ai bằng, tất cả quần thần cũng không có ai là đối thủ. Bấy giờ, các vị đại thần tâu: ‘Có tì-kheo Na-già-tư-na thông minh không ai bằng, hiện đang ở trong núi’. Vua muốn thử tì-kheo liền sai một người mang một bình đầy sữa đặc. Ý vua cho rằng sự hiểu biết của mình đã tột đỉnh, không ai hơn. Tì-kheo Na-già-tư-na nhận bình sữa đặc liền hiểu được ý vua.
Na-già-tư-na thâu lấy năm trăm cây kim của chúng đệ tử rồi găm vào bình sữa đặc, nhưng sữa vẫn không tràn, rồi sư đưa sứ giả mang về trao cho vua. Vua nhận lại bình sữa hiểu được ý của tì-kheo Na-già-tư-na. Vua liền sai sứ đến mời tì-kheo Na-già-tư-na vào cung. Tì-kheo theo lệnh vua vào cung thì được vua ban cho thức ăn dở. Tì-kheo Na-già-tư-na dùng năm ba muỗng rồi không ăn nữa và nói đã no đủ. Ngay lập tức vua lại đem thức ăn ngon ra mời, Na-già-tư-na lại ăn tiếp. Vua hỏi:
- Vừa rồi ông mới nói đã ăn no đủ sao giờ lại ăn tiếp?
Na-già-tư-na đáp:
- Vừa rồi tôi nói no thức ăn dở, chứ chưa no thức ăn ngon. Như nay trong đại điện này, bệ hạ hãy cho tụ tập tất cả mọi người.
Nhà vua liền lệnh cho mọi người tụ tập đầy cả đại điện, không còn chỗ nào trống. Kế đó vua lên điện, mọi người đều sợ hãi nép mình nhường lối, do đó trong đại điện dần dần hiện ra khoảng trống, dung chứa thêm nhiều người.
Tì-kheo Na-già-tư-na liền nói với vua:
- Thức ăn dở ví như dân, thức ăn ngon dụ như vua. Dân thấy vua, ai dám không tránh đường.
Vua lại hỏi:
- Xuất gia, tại gia, người nào đắc đạo?
Tì-kheo Na-già-tư-na đáp:
- Cả hai đều đắc đạo.
Vua lại hỏi:
- Nếu cả hai đều đắc đạo thì cần gì xuất gia? Tì-kheo Na-già-tư-na đáp:
- Ví như có một nơi cách đây hơn ba nghìn dặm, nếu sai một người trẻ trung, khỏe mạnh, cưỡi ngựa tốt, mang đủ lương thực, cầm binh khí, người đó đi mau đến nơi không?
Vua đáp:
- Mau đến.
Tì-kheo Na-già-tư-na hỏi:
- Nếu sai một người già, cưỡi một con ngựa gầy, lại chẳng mang theo lương thực, người ấy có thể đi đến nơi không?
Vua đáp:
- Giả sử mang theo lương thực, sợ còn không đi đến nơi được, huống chi không có lương thực.
Tì-kheo Na-già-tư-na nói:
- Người xuất gia đắc đạo dụ như người thanh niên trai trẻ, còn người tại gia đắc đạo giống như người già.
Vua lại hỏi:
- Mặt trời trên không trung chỉ có một, vì sao mùa hạ thì nóng, mùa đông lạnh, mùa hạ ngày dài, mùa đông ngày ngắn?
Tì-kheo Na-già-tư-na đáp:
- Vì ở núi Tu-di có đường trên và đường dưới. Mặt trời vào mùa hạ đi qua đường trên. Vì đường dài đi chậm, ánh sáng chiếu vào kim sơn nên ngày dài và nóng. Vào mùa hạ mặt trời đi qua đường dưới. Vì đường ngắn, đi nhanh, ánh sáng chiếu vào nước biển, nên ngày ngắn và lạnh.
Có bài tụng:
Ẩn trốn, giỏi biến hóa
Khéo đùa thầm duổi rong
Hay thay! Bậc nhân trí
Quan bắt, liền đổi thay
Dê mập không có mỡ
Tượng Hộ được voi theo
Phúc đến do tám cảm
Minh vận khế hợp nhau
Tĩnh thì luôn lặng lẽ
Động thì hiện thần quang
Vĩnh viễn ngự phương xa
Nối tiếp mãi thường tồn
Lại trở về bản nguyên
Ánh sáng tắt, ánh rời
Ẩn hiện thật khó lường
Chân ngụy cũng khó biết.
233. CẢM ỨNG

Phần 4

233.1. Đời Tây Tấn, sa-môn Lưu Tát Hà: Vào đời Tây Tấn ở phía tây chùa An Nhân, thành Từ Châu có ngôi miếu thờ sư Lưu Tát Hà. Ngày xưa, vào cuối đời Tây Tấn (265-316), làng này vốn là quận Văn Thành, chính là nơi Tấn Văn Công (- 628 BC) lánh nạn. Miếu này được trang hoàng lộng lẫy, tráng lệ. Cách phía đông nam của Từ Châu không xa, trên vùng đất cao, bằng phẳng có một người tên là Lưu Tát Hà sinh sổng. Lúc còn ở đời, ông cũng như những người phàm tục khác, thường sát sinh, hại vật, chẳng tuân thủ pháp luật. Sau đó, Hà mắc bệnh qua đời. Nhưng mấy ngày sau, ông sống lại và nói với mọi người:
- Ở trong cõi âm, tôi gặp bồ-tát Quán Thế Âm. Bồ-tát nói với tôi: “Tội ông rất nặng đáng phải chịu khổ, nhưng niệm tình ông không biết nên nay tha cho về. Ở Lạc Dương, Tề Thành, Đơn Dương, Cối Kê đều có bảo tháp do vua A-dục xây, ông đến đó lễ bái sẽ khỏi những tội trước”.
Từ khi sống lại, Hà không dám làm việc xấu nữa. Bấy giờ tại địa phương đó không có Phật giáo, họ nghe ở thành Từ Châu có việc này, liền đến hỏi rõ. Nhân đó, Hà tìm cách giảng giải, dẫn dụ cho họ biết về nhân phong. Người Kê Hồ một lòng tin nhận và làm theo lời Hà chỉ bảo. Mỗi năm vào ngày mùng tám tháng tư, họ tụ tập tại vùng đất bằng phẳng, mỗi người đều mang đến rượu bánh và các vật để tịnh cúng. Họ cùng nhau uống rượu và ca hát, vui chơi từ sáng đến trưa, đây cũng là nghi thức tịnh cúng. Qua giờ Ngọ mãi đến sáng hôm sau, họ cùng nhau tán dương Đức Phật và ca vịnh Tam bảo.
Sau đó, Hà xuất gia, pháp danh là Tuệ Đạt, mọi người kính trọng sư như kính Phật. Sư hiện nhiều điều kì dị để làm tàng trưởng lòng tin của mọi người. Ban ngày sư thăng tòa thuyết pháp cho mọi người nghe; ban đêm sư chui vào trong tổ kén để giấu mình. Sáng dậy ra khỏi kén, không bao giờ sư ở trong phòng, nên người đời gọi sư là Tô Hà Thánh. Hai chữ Tô Hà là từ để gọi kén tằm của người Kê Hồ. Vì thế, ngày nay theo phong tục, những ngôi Phật đường ở nơi kia đều có thờ tượng của sư và tôn là Hồ Sư Phật.
Nay ngôi miếu bên cạnh chùa An Nhân có thờ tượng của sư rất trang nghiêm, nhân dân trong làng đều đến cầu nguyện, cúng hương hoa nhiều vô kể.
Mỗi năm vào tháng giêng, mọi người rước tượng đi quanh thôn làng, di chuyển nhẹ nhàng, không tốn nhiều sức người. Tượng muốn sang thôn khác thì chỉ cần hai người khiêng là được, nếu các đường lằn trên trán tượng giãn ra, nét mặt tươi vui thì năm đó thôn ấy gặp nhiều điều lành. Nếu tượng không muốn sang thôn khác thì dù mười người khiêng vẫn không nổi. Còn các nếp nhăn trên trán tượng thâu lại, nét mặt buồn thảm thì năm đó thôn ấy gặp nhiều tai ương. Cho nên, từ xưa đến nay mọi người thường lấy việc này đê nghiệm biết các việc trong thôn và cũng cho là bồ-tát Quán Thế Âm hóa thân để giáo hóa mọi người, nên sư còn có tên Tuệ Đạt.
Sư có soạn quyển kinh bằng tiếng Kê Hồ, được lưu hành ở đời, đọc thì tự hiểu. Vì thế, người dân tám châu Từ, Thấp, Lam, Thạch, Đan, Diên, Tuy, Ngần ở hai bên bờ Hoàng Hà thảy đều kính phụng, hễ làm việc gì cũng ỵ theo lời trong kinh ghi. Ngày nay ở các vùng đồng bằng đều có dựng tháp bằng đất, trên tháp có treo một tô kén phỏng theo tổ kén sư Tuệ Đạt đã trú ngụ.
Ở quê hương, Hà truyền bá Phật pháp hoàn mãn, liền đến Đơn Dương lễ bái các tháp, lại đến quận Phiên Hỏa, Lương Châu, hướng về Ngự Cốc đỉnh lễ, nơi tượng Phật sẽ xuất hiện. Sau đó, sư đến vùng Sa Tích, quận Tửu Tuyền ở Túc Châu vả thị tịch ở đó. Nhục thân của sư nát vụn giống như hạt quỳ, có lỗ ở giữa, xâu dây qua được. Cho nên ngày nay thôn này, người nào gặp tai ương, đến Sa Tích tìm hạt ấy, nếu tìm được thì điều xấu tiêu trừ, còn tìm không đươc thì tai họa đến.
Một hôm, có người tìm không được liền đến lấy một hạt bên trái trên tượng Quan Âm, nhưng giữ đến tối thì biến mât. Sáng hôm sau người đó đi tìm thì thây hạt quỳ ở trên tay của tượng. Vì thế, nhân dân ở địa phương này rất quý hạt quỳ.
23.3.2. Đời Tây Tấn, sa-môn Bôi Độ: Sư sống vào đời Tây Tấn, không rõ tên họ và quê quán, chỉ biết sư xuất hiện ở Kí Châu lúc đã bảy mươi tuổi. Dáng mạo sư giống như người thế tục, nên người thời bấy giờ không kính trọng. Có lần sư ngủ nhờ trong một nhà kia, thấy có pho tượng vàng, sáng dậy, sư lấy tượng mang đi. Chủ nhà thúc ngựa đuổi theo, sư đi rất chậm, nhưng ngựa đuổi theo không kịp. Đên Hoàng Hà, sư ngồi trên một cái bát nhỏ vượt qua bờ bên kia, do đó mà sư có tên Bôi Độ. về sau, người ta thấy sư thường xuất hiện trên đường ở Bành Thành, không ai biết được sư ở đâu. Sư luôn mang một cây gậy và cái giỏ tre theo bên mình. Vào những buổi sáng trời có tuyết, sư đập tan băng, lấy nước để tắm gội, nhưng màu da vẫn tươi nhuận.
Đến niên hiệu Nghĩa Hi (405-419), sư lại đến Quảng Lăng, thứ sử Lưu Phiền người nước Bái, từ trước đã nghe danh tiếng sư, nên cho người thỉnh đến. Thứ sử thấy sư mang theo giỏ tre, liền sai người đem lại cho ông xem, nhưng giỏ tre nặng quá, không thể xách nổi. Lưu Phiền đích thân đến xem thi chỉ thấy có một chiếc y bá nạp cũ rách. Sư từ biệt thứ sử, một tay xách giỏ tre như nhấc cộng lông.
Vào niên hiệu Vĩnh Gia (307-313), sư thị tịch. Ngài Cưu-ma-la-thập nghe sư ở Bành Thành, liền than rằng: “Tôi với ông ấy từ biệt đã mấy trăm năm”. Bấy giờ, mọi người mới biết Cưu-ma-la-thập cũng là bậc thánh.
23.3.3. Đời Tây Tấn, sa-môn Phật Đồ Trừng: Sư người Tây Vực, dung mạo giống như người trăm tuổi, bên hông trái có một lỗ tròn lớn khoảng bốn, năm tấc Tàu, sư lấy bông bít lại. Đến ngày trai giới, sư ra bờ sông kéo ruột, dạ dày ra tẩy rửa sạch sẽ rồi nhét vào lỗ ấy. Ban đêm sư tháo bông ra cho ánh sáng chiếu khắp phòng để đọc sách. Dù chưa đọc qua các sách, nhưng khi biện luận với các học sĩ, sư nói rất trôi chảy, khiên mọi người đều nể phục.
Vào khoảng niên hiệu Vĩnh Gia (307-313), sư đến Lạc Dương. Bấy giờ, Thạch Lặc đang đóng quân ở Hà Bắc, thường lấy việc sát hại để ra uy, vì thế mà kẻ tăng, người tục bị giết rất nhiều. Một hôm sư đến quân doanh của Thạch Lặc và dự đoán việc thắng bại, nên Thạch Lặc rất kính trọng sư. Nhân đó, sư giáo hóa khiến Thạch Lặc theo Phật, bớt bạo ngược, giảm hình phạt. Cho nên ở Trung Châu, mười người thì hết tám chín người được miễn tội.
Thạch Lặc kết oán và đánh nhau với Lưu Diệu. Thạch Lặc hỏi sư. Sư nói: “Sẽ bắt sống ông ta, không có gì phải lo!”. Sư dùng dầu vừng xoa lên lòng bàn tay rồi đưa cho Thạch Lặc xem, thấy trong đó Lưu Diệu bị bắt và trói tay ngược ra sau bằng sợi dây màu hồng. Sau đó, quả nhiên bắt được Lưu Diệu, giống như đã thấy trong lòng bàn tay của sư.
Đến ngày mùng tám tháng tư, niên hiệu Kiến Bình thứ tư (333) nhà Hậu Triệu, Thạch Lặc đến chùa làm lễ tắm Phật, bỗng có một luồng gió nhẹ thổi đến, khiến cái linh phát ra tiếng. Thạch Lặc quay qua hỏi mọi người:
- Có ai hiểu được tiếng linh này không?
Phật Đồ Trừng nói:
- Tiếng linh báo hiệu năm nay trong nước có đại tang.

Phần 5

Đến tháng bảy năm đó thì Thạch Lặc thăng hà, Thạch Hổ lên nối ngôi và kính sư còn hơn Thạch Lặc. Thạch Hổ ban cho sư xe ngựa để ra vào hoàng cung. Việc cảm ứng của sư rất nhiều, nhưng ở đây chỉ nêu sơ lược, không tiện thuật hết.
Những năm cuối đời của Thạch Hổ, một hôm, sư nói với đệ tử: “Sắp xảy ra họa, nhưng lúc đó ta đã qua đời rồi”.
Đên năm Mậu Thân, thái tử giết em của mình. Thạch Hổ nổi giận giết thái tử, vợ con và cả gia quyến đến mấy trăm người. Năm sau, Thạch Hổ thăng hà, Nhiễm Mẫn làm loạn.
Phật Đồ Trừng được an táng ở phía tây đất Nghiệp. Có người nói rằng: Ngày Phật Đồ Trừng thị tịch, có một thưorng buôn gặp sư ở trên sa mạc. Nghe vậy, Thạch Hổ cho mở quan tài ra xem thì chỉ thấy có y và bát.
Lúc Phật Đồ Trừng ở Trung Nguyên, tuy đất nước loạn lạc mà sư giáo hóa thuận lợi, thế mới biết đức của sư thật cao tột. Vả lại, nếu chẳng phải bậc chí thánh thì làm sao có thể cứu chúng sinh thoát cảnh lầm than. Sư tạo hơn chín trăm tám mươi ngôi chùa. Kẻ tăng, người tục được sư tế độ khắp thiên hạ.
23.3.4. Đời Tây Tấn, sa-môn Thích Đạo Tiến: vào thời Tây Tấn, ở Nghiệp Trung có sư Đạo Tiến đệ tử của ngài Phật Đồ Trừng, học thông nội, ngoại điển, nên Thạch Hổ rất kính trọng. Có lần sư nói về việc của những người ở ẩn, Thạch Hổ nói với Đạo Tiến:
- Có một người tên Dương Kha là dân của trẫm, trẫm cho mời hơn mười năm nay, nhưng ông ta không chịu vào triều, nên trẫm đến xem thế nào, không ngờ ông ta tỏ thái độ cao ngạo, cứ nằm im không chịu ngồi dậy. Trẫm đây tuy không có đức, nhưng làm vua một nước, xa giá đến đâu thì rung chuyển đất trời; tuy không thể khiến gỗ đá cúi đầu, nhưng kẻ thất phu đâu thể ngạo mạn. Thuở xưa, Thái công đến nước Tề, trước hết là giết các hoa sĩ; Thái công là bậc hiền triết há có sai lầm sao?”.
Đạo Tiến đáp:
- Thuở xưa vua Thuấn khen ngợi Bồ Y, vua Vũ tìm đến chỗ Bá Thành Tử Cao, Ngụy Văn hầu kính trọng Đoàn Can Mộc, Hán khen ngợi Chu Đảng, Quản Ninh không theo Tào Thị, Hoàng Phủ không phục nhà Tấn. Hai vị thánh, bốn vị vua đều khen ngợi khí tiết của những người ấy. Đó là những bậc thánh, vua muốn khuyến khích mọi người nỗ lực mong cầu, tiến tu để đức tính ngày càng thanh cao. Mong bệ hạ noi theo đức của vua Thuấn, vua Vũ; chớ học theo cách dụng cực hình của Thái công. Mỗi lời nói, hành động của vua đều viết thành sách, lẽ nào bệ hạ làm cho sử nước Triệu mất đi truyện tích của những ẩn sĩ!
Thạch Hổ nghe sư nói như vậy rất vui, liền ra lệnh tha cho Dương Kha trở về và sai mười nhà cung cấp các thứ đầy đủ.
Đạo Tiến trở về thuật lại cho Phật Đồ Trừng nghe. Phật Đồ Trừng mỉm cười, nói:
- Ông nói hay lắm! Nhưng mạng sống của Dương Kha ngắn ngủi.
về sau, Tần châu có binh loạn, đệ tử của Dương Kha dắt trâu đưa Kha chạy về hướng tây, nhưng bị quân lính đuổi theo giết chết. Một ngày kia, Thạch Hổ nằm ngủ, mộng thấy một đàn dê chở cá từ hướng đông bắc đến. Tỉnh dậy, ông đem việc ấy hỏi ngài Phật Đồ Trừng. Ngài Phật Đồ Trừng nói:
- Đó là điềm xấu. Lẽ nào Tiển Ti lại chiếm Trung Nguyên sao?
Sau đó, quả nhiên họ Mộ Dung đánh chiếm Trung Nguyên.
23.3.5. Đời Tống, sa-môn Thích Đàm Thỉ: Sư người ở Quan Trung, Trường An, từ khi xuất gia thường biểu hiện những điều kì dị.
Niên hiệu Thái Nguyên cuối cùng (397) đời vua Hiếu Vũ nhà Tấn, sư mang mấy chục bộ kinh, luật sang Liêu Đông giáo hóa, truyền dạy giáo pháp Tam thừa và truyền tam quy, ngũ giới. Có lẽ đây là lần đầu tiên ở Cao-cú-li biết đến đạo Phật.
Niên hiệu Nghĩa Hi thứ nhất(405), sư trở về Quan Trung giảng đạo ở vùng Tam Phụ. Bàn chân của sư rất trắng, dù đi trong bùn hay lội nước cũng không thấm ướt, vì thế mọi người thường gọi sư là Bạch Túc hòa thượng.
Bấy giờ, ở Trường An có một người tên Vương Hồ, chú của ông ta qua đời đã mấy năm. Bỗng một hôm Vương Hồ thấy chú mình hiện về, dẫn ông dạo khắp các cảnh địa ngục, chỉ cho xem các quả báo. Khi Vương Hồ từ giã trở vê dương gian, người chú nói với Vương Hồ: - Đã biết nhân quả của mình thì phải phụng thờ Bạch Túc hòa thượng.
Vương Hồ nghe lời chú dặn, sáng dậy, ông ta đi tìm hỏi khắp chúng tăng, nhưng chỉ thấy một mình sư Đàm Thỉ bàn chân rất trắng, nhân đó Vương Hồ phụng thờ sư.
Cuối đời Tấn, rợ Hung Nô phương bắc do Hách Liên Bột Bột dẫn đầu, đánh chiếm Trường An, giết chết rất nhiều người, ngài Đàm Thỉ cũng bị bắt, nhưng đao kiếm chém không bị tổn thương. Hách Liên Bột Bột thấy vây khâm phục, tha sư và không sát hại sa-môn. Nhân đó, sư ẩn trong núi sâu tu hạnh đầu-đà. về sau, Thác Bạt Đảo lại đánh chiếm Trường An, làm bá chủ vùng Quan Trung, Lạc Dương. Lúc bấy giờ, Bác Lăng Thôi Hạo tu theo Tả đạo rất ghét Phật giáo. Sau đó, Hạo được Thác Bạt Đảo phong cho chức Phụ tướng và được Bạt Đảo rất tin dùng. Nhân đó, ông ta liền nói với Thiên sư Khấu Khiêm Chi:
- Bạt Đảo tin theo Phật giáo đã không lợi ích cho đời mà còn làm tổn hại đến lợi ích nhân dân! Chúng ta nên khuyên Đảo phế bỏ Phật giáo.
Quả nhiên, Đảo bị những lời sàm tấu của họ làm mê hoặc. Đến niên hiệu Thái Bình thứ bảy (449), vua ra lệnh hủy diệt Phật giáo. Ông cho các quân lính đi khắp nơi đốt chùa, hủy tháp, bắt ép tất cả tăng ni trong nước hoàn tục. Nếu người nào bỏ trốn thì cho người đuổi theo bắt chém đầu. Vì thế, cả nước không còn hình bóng sa-môn. Lúc đó, sư Đàm Thỉ ở trong chốn thâm sơn cùng cốc, nên quân lính không tìm đến được.
Đến niên hiệu Thái Bình cuối cùng, sư Đàm Thỉ biết đã đến lúc giáo hóa Bạt Đảo, nên vào ngày đầu năm, sư chống tích trượng vào hoàng cung. Quan giữ cửa vào tâu:
- Có một đạo nhân bàn chân rất trắng đang đi vào cung.
Bạt Đảo ra lệnh y theo quân pháp mà trị. Đao phủ chém nhiều lần, nhưng sư không bị tổn thương. Quân lính liền vào tâu, Bạt Đảo giận dữ rút kiếm bén đang đeo bên minh chém sư, nhưng cũng chẳng hề gì, chỉ chỗ lưỡi kiếm chém trúng có một đường lằn nhỏ như sợi chỉ.
Bấy giờ, ở khu vườn phía bắc có một chuồng hổ Bạt Đảo sai người đem sư đến cho hổ ăn, nhưng khi bỏ sư vào chuồng thì hổ nép mình không dám lại gần. Vua liền ra lệnh thử đem Thiên sư đến gần chuồng thì hổ gào rống dữ dội. Lúc đó, Bạt Đảo mới biết Phật giáo cao tột, Hoàng Lão không thể sánh được. Thấy vậy, Bạt Đảo

Phần 6

liền thỉnh sư Đàm Thỉ lên điện, đỉnh lễ dưới chân sư, sám hối những lỗi lầm của mình. Nhân đó, sư nói pháp nhân quả cho Bạt Đảo nghe. Bạt Đảo rất hổ thẹn và vô cùng sợ hãi. Về sau vua mắc bệnh hủi. Thôi Hạo, Khấu Khiêm Chi cũng phát bệnh dữ. Bạt Đảo cho rằng, lỗi lầm của ông là do hai người này xúi giục, nên ra lệnh giết hết dòng họ của hai người kia. Đồng thời, Bạt Đảo ban lệnh trong nước phục hưng lại Phật giáo. Không bao lâu sau thì Bạt Đảo thăng hà. Sau khi Bạt Đảo thăng hà, cháu là Tuân lên nối ngôi, hết lòng hoàng dương Phật pháp, làm cho hưng thịnh. Sau này, không ai biết sư tịch ở đâu.
23.3.6. Đời Tống, sa-môn Thích Pháp Lãng: Sư người Cao Xương, lúc tuổi còn nhỏ đã chuyên tâm trì giới, siêng tu khổ hạnh và thường hiện những điều kì dị. Sư ẩn giấu thần đức của mình, nên không ai biết sư chứng đến quả vị nào. Sa-môn Thích Pháp Tiến, thầy của sư cũng là bậc đạo cao đức trọng. Có lần ngài Pháp Tiến nhập thất tọa thiền, bỗng thấy Pháp Lãng ở trước mặt. Sư hỏi Pháp Lãng:
- Ông vào đây bằng cách nào?
Pháp Lãng đáp:
- Con theo lỗ khóa mà vào.
Một hôm có tăng phương xa đến chùa, đúng Ngọ xin thụ thực. Pháp Tiến liền cho người chuẩn bị cơm, nhưng chỉ nghe tiếng bát, muỗng mà không thấy người.
Thuở xưa, tại Lô sơn sư Tuệ Viễn từng trao cho Pháp Tiến một chiếc ca-sa. Pháp Tiến lấy đó cúng dường chúng tăng. Pháp Lãng nói: “Chúng tăng đã đi, hôm sau sẽ lấy”. Sau đó, có người nấu bếp đến chỗ sư Pháp Tiên lấy y, Pháp Tiến liền trao cho người đó. Sau hỏi lại những người nấu bếp thì tất cả đều nói không lấy. Từ đó, mới biết là bậc thánh nhân hiện thân đến lấy.
Đến đời Ngụy hủy diệt Phật giáo. Pháp Lãng lần đến nước Quy Tư. Khi ấy vua Quy Tư và Đại thiền sư nước kia có nguyện ước: “Nếu có người nào đắc đạo nên nói cho ta biết, trẫm sẽ cúng dường người ấy”. Khi sư đến, có người vào tâu vua . Vua tiếp đãi sư như tiếp đãi một vị thánh.
về sau, sư Pháp Lãng tịch tại nước Quy Tư. Ngày thiêu nhục thân của sư, có hai dòng nước từ hai vai vọt thằng lên trời, mọi người đều cho là việc hiếm có, rồi họ thâu lấy tro cốt xây tháp phụng thờ. về sau có người từ Tây Vực đến Trung Quốc kể lại việc này.
23.3.7. Đời Tống, sa-môn Thích Thiệu Thạc: Sư người nước Khang Cư, trụ tại chùa Thông Linh, núi Dân, hình dáng giống như người cuồng, nhưng rất sùng kính Phật pháp. Vào đời Tống, sư xuất gia học đạo, tự xưng là Thạc Công. Sư đến đi không kể ngày đêm. Sư đến ngủ nhà người nào, ngủ trên đất thì nhà đó sẽ có người chết. Sư đến nhà nào xin một tấm chiếu thì nhà đó sẽ có trẻ nhỏ chết. Người bấy giờ đều cho đó là điềm dự báo.
Mỗi năm, đến ngày mùng tám tháng tư, kinh thành tổ chức lễ rước tượng, sư ở trong đám đông làm dáng giống sư tử. Ngày ấy, người trong quận, huyện đều thấy thế, nên họ mới biết do sư hóa thân. Thứ sử Tiêu Tuệ Khai và Lưu Mạnh Minh v.v... đều tôn thờ sư.
Vào một buổi sáng, sư bỗng bịt khăn vải đến nhà Mạnh Minh, chẳng bao lâu Mạnh Minh qua đời. Quan trưởng sử của Mạnh Minh là Thẩm Trọng Ngọc muốn sửa đổi cách trị phạt thành những hình phạt nhẹ hơn. Sư nói với Ngọc: “Trời đất oán thán bi thưomg cũng do những hình phạt đó mà có, nếu bỏ các cực hình sẽ được chức thứ sử!”. Ngọc tin và làm theo. Đến khi Mạnh Minh qua đời, Trọng Ngọc được làm thứ sử.
Đến ngày mùng một tháng chín, niên hiệu Nguyên Huy thứ nhât (473), sư tịch ở chùa Thông Linh núi Ngâ Mi. Trước khi thị tịch, sư nói VớI đạo nhân Pháp Tiến:
- Sau khi tôi chết hãy mang giày cho tôi, rồi đem để ngoài đất trống.
Pháp Tiến không làm theo, đem nhục thân sư an trí trong chùa. Nhưng hai ngày sau thì không thấy nhục thân của sư nữa. Sau đó không lâu, có người từ huyện Bì đến nói với sư Pháp Tiến:
- Hôm qua tôi gặp sư Thạc Công ở trong chợ, chân mang một chiếc giày và nói đùa rằng: ‘Tiểu tử không cẩn thận nên làm mất chiêc giày của tôi’”.
Pháp Tiến kinh hãi gọi sa-di đến hỏi, sa-di nói:
- Lúc sắp đưa nhục thân đi, vì sợ nên con buộc chiêc giày bên chân phải không chặt, có lẽ vì thế mà bị rơi mất.
Hành tung của sư rất kì dị, không sao lường được.
23.3.8. Đời Tống, sa-môn Thích Tuệ An: Sư ở chùa Tì Bà, Giang Lăng, không biết người xứ nào. Sư xuất gia năm mười tám tuổi, phong thái và diện mạo của sư rất tầm thường, nên mội người đều khinh rẻ. Lúc làm sa-di, một hôm, sau khi chúng tăng ngồi thứ tự, liền sai sư rỏt nước. Sư cầm cái bình rỗng rót nước từ bậc thượng đến bậc hạ mà nước vẫn không hết. Chúng tăng thấy vậy đều cho là kì dị. Đến khi sư thụ giới Cụ túc lại hiện nhiều việc linh dị.
Vào đêm ba mươi mỗi tháng, sư cùng bạn đồng học là Huệ Tế lên điện làm lễ bố-tát. Cửa điện chưa mở, sư liền kéo tay Huệ Tế chỉ vào cái lỗ hổng trên vách điện và nói:
- Tôi vào, ra từ lỗ hổng ấy. Huệ Tế vô cùng sợ hãi, không dám nói lời nào.
Sau này, có lần sư cùng Huệ Tế đến bên ngôi tháp và nói:
- Tôi sắp đi xa, nay từ biệt ông_ Sư nói dứt lời, bỗng chốc thấy chư thiên trỗi nhạc, rải hương thơm khắp không trung. Lúc ấy, Huệ Tế sợ hãi, không nói được lời nào. Tuệ An lại dặn:
- Những việc làm kì dị của tôi từ trước đến nay, ông chớ nói cho người khác biết, nếu nói sẽ chuốc họa. Nhưng ở Tây Nam có một vị cư sĩ mới phát tâm bồ-tát, ông có thể kể hết cho người ấy biết!
Nói rồi, sư từ giã Huệ Tế theo khách buôn xuôi dòng sông Tương mà đi. Trên đường đi, sư bị bệnh kiết lị rất nặng, sư nói với chủ thuyền:
- Mạng bần đạo sắp hết, hãy khiêng tôi đặt bên bờ sông, không cần quan tài. Tôi chết rồi để cho côn trùng, chim, thú ăn.
Khách buôn làm theo lời sư dặn, khiêng đặt nằm bên bờ sông. Đêm đến họ thấy thân sư phát ra lửa lớn. Khách buôn thấy lạ và sợ hãi, họ đến xem thì thấy sư đã qua đời.
Khách buôn tiếp tục lên đường đến Tương Đông và thây sư đã đến đó trước rồi, nhưng trong chốc lát họ không thấy sư nữa.

Phần 7

Sau đó, Huệ Tế đến chùa Trắc Dĩ gặp ẩn sĩ Lưu Cầu và thuật lại hết việc của sư Tuệ An. Lưu cầu đứng dậy từ xa vọng lễ sư Tuệ An và nói: “Đó là bậc đắc đạo đã nhập Hỏa quang tam-muội”.
23.3.9. Văn Tuyên đế Cao Dương triều Bắc Tề: Ông là con thứ hai của thừa tướng Cao Hoan đời Nguyên Ngụy (386-534). Trừng cấp là anh họ của ông, tính tình bạo ngược nên bị nô bộc giết hại, Cao Dương thế chức của người anh và sau đó làm tướng quốc.
Khi nhà Ngụy sắp suy tàn, Cao Dương lập đàn Nam giao và bói được một quẻ Đại tráng đại kiết hán văn. Ông liền cho đúc một tượng Phật vàng, chỉ rót vàng một lần là thành. Vua Ngụy lấy tượng đó, lập chiếu chỉ truyền ngôi cho ông. Ông nhận và lập ra nhà Tề. Những việc làm của ông không ai biết là ngu hay trí. Sau đó, ông giao việc triều chính lại cho quan bộc xạ Dương Tôn Ngạn. Cao Dương cho xây chùa khắp nơi, tăng ni ở các châu nhiều vô kể. Vào mùa hạ, mùa đông ông luôn bố thí, cúng dường không dứt.
Bấy giờ, thiền sư Trù nói với Cao Dương:
- Thí chủ bị la-sát khống chế, đến bên dòng nước sẽ thấy.
Cao Dương đến bên dòng nước thì thấy bầy la-sát theo sau ông. Từ đó, ông không ăn thịt, cấm săn bắn, bãi bỏ chức quan coi việc đánh bắt và giết mổ súc vật; không cho mang ngũ tân vào chợ. Cao Dương thường ngồi thiền suốt ngày, lễ Phật, đi nhiễu nhanh như gió. Khi ông thụ giới với Chiêu huyền Đại thống Pháp Thượng, ông cúi đầu xuống đất, rồi bảo Pháp Thượng đạp lên tóc mà truyền giới cho ông.
Trước đó, vua ở Tấn Dương, sai sứ cưỡi lạc đà và dặn:
- Ngươi đến chùa lấy hòm kinh.
Sứ giả hỏi:
- Hòm kinh ở đâu?
Vua chỉ chỗ cho sứ giả biết. Sứ giả nhận nhiệm vụ, vừa cưỡi lạc đà ra khỏi thành thì bỗng nhiên cảm thấy như đang nằm mộng. Trong mộng thấy mình đi đến một ngọn núi, giữa lưng chừng núi có một ngôi chùa. Từ xa sứ giả nghe tiếng các sa-di hỏi vọng lại: “Cao Dương sai ngươi cưỡi lạc đà đên đây phải không?”. Rồi họ dẫn sứ giả đến gặp một vị lão tăng. Sứ gia đỉnh lễ lão tăng xong, lão tăng hỏi sứ giả:
- Cao Dương làm vua thế nào?
Sử giả đáp:
- Rất sáng suốt.
Lão tăng hỏi:
- Ngươi đến đây làm gì?
Sử giả đáp:
- Lấy hòm kinh.
Lão tăng nói:
- Cao Dương ở chùa lười biếng tụng kinh, ngươi về bảo ông ta đi từ phía bắc sang phía đông ta sẽ đưa kinh cho.
Sứ già trở về tâu lại với Cao Dương. Trước hết Cao Dương đến chùa Mộc Tỉnh ở Cốc Khẩu. Có một người si làm công quả cho chùa, người này bị câm, nhưng bỗng nhiên nói với Cao Dương: “Ông đi theo tôi!”. Tối hôm đó, người si kia qua đời, Cao Dương cũng thăng hà ở Tấn Dương.
23.3.10. Đời Tê, sa-môn Thích Tăng Tuệ: Sư họ Lưu, không rõ người ở đâu. Sư ở Kinh Châu mấy chục năm. Bấy giờ, có Nam Dương Lưu cầu sống ở chùa Trắc Dĩ xin theo học. Người thời bấy giờ biết sư đã năm, sáu mươi tuổi, nhưng vẫn không thấy già. Sư có cử chỉ khinh suất, không có phép tắc. Mỗi khi sư đến nhà người bệnh, nếu sư giận dữ thì người đó sẽ chết, còn sư vui vẻ thì người đó lành bệnh. Người thời ấy cho đó là điềm dự báo. Vì thế, dù là người chưa quen biết, nhưng khi gặp, sư cũng biết rõ người thân của họ và đem những ý tồn vong nói cho họ biết.
Có lần, sư đến bờ sông nhờ người lái đò đưa sang sông; người lái đò cho là thuyền nhỏ, chưa đưa qua kịp thì bỗng chốc đã thấy sư ở bờ bên kia rồi. Mọi người đều cho là kì dị.
Bấy giờ, có Chân Điềm ở Trung Sơn, Xa Đàm ở Nam Bình thỉnh sư thụ trai cùng một ngày, sư nhận lời và đều đến cả hai nhà. về sau, hai nhà kiểm chứng lại, mới biết sư phân thân.
Vào khoảng niên hiệu Vĩnh Minh (483-484), nhà Tề, thái tử Văn Tuệ nhà Tề thỉnh sư xuống kinh đô. Sư theo lời thỉnh, trên đường đi ghé thăm ngài Bảo Chí. Bảo Chí vỗ vào lưng và nói “Xích Long Tử”, chứ không nói gì khác nữa.
Sau đó, sư Tăng Tuệ trở về Kinh châu gặp Trấn tây Trưởng sử Lưu Cảnh Nhuy, bỗng sư khóc lớn và ngã vào người ông ta. Mấy ngày sau, quả nhiên Cảnh Nhuy bị quan Thứ sử hại chết. Sau đó, sư lại đến phía nam thành Tương châu và nói: “Dưới lòng đất có tấm bia!”. Mọi người đào thử, quả nhiên có hai tấm bia.
về sau không biết sư tịch ở đâu. Nhưng có thuyết cho rằng, khoảng niên hiệu Vĩnh Nguyên (499-500), sư tịch ở chùa Trường Sa thuộc Giang Lăng.
23.3.11. Đời Lương, sa-môn Thích Bảo Chí: Sư họ Chu, người Kim Thành27, xuất gia từ nhỏ, ở chùa Đông Lâm tại kinh sư. Sư thờ sa-môn Tăng Kiệm làm hòa thượng, tu học pháp thiền.
Đến niên hiệu Thái Thỉ thứ nhất (465) nhà Tống, sư có những biểu hiện kỳ lạ, đi lại không cố định, ăn uống chẳng đúng thời, để tóc dài mấy tấc, thường cầm tích trượng đi chân không vào làng xóm, đầu trượng thường treo một cái dao và chiếc gương, có khi treo một hai tấm lụa.
Đến niên hiệu Kiến Nguyên (479) nhà Tề, người ta thấy sư có những biểu hiện kì lạ. Mấy ngày liền sư không ăn mà vẫn không lộ vẻ đói khát. Sư nói chuyện, lúc đầu mọi người nghe khó hiểu, nhưng sau nghiệm lại thây rất đúng. Thỉnh thoảng sư làm thi phú, lời như sâm ký, rất được mọi người ở kinh đô kính phụng. Vũ đế nhà Tề cho rằng sư mê hoặc nhân dân, nên bắt sư nhốt vào ngục tại Kiến Khang. Thế nhưng, sáng sớm hôm sau mọi người lại thấy sư đi vào chợ. Quân lính trở về nhà giam kiểm tra thì thấy sư vẫn còn ở đó. Sư nói với quan canh gác:
- Ngoài cửa có hai xe mang thức ăn đến, bát vàng đựng đầy cơm. Ông hãy ra nhận đi!

Phần 8

Lát sau, quả nhiên thái tử Văn Tuệ nhà Tề và Cánh Lăng vương Tiêu Tử Lương mang thức ăn đến. Huyện lệnh Kiến Khang Là Văn Hiển tâu việc này lên vua. Vũ đế liền thỉnh sư vào cung, cho trú tại hậu đường.
Lần nọ, buổi yến tiệc trong cung đã tàn, sư cũng theo mọi người ra ngoài. Lúc ấy, trên núi Cảnh Dương, cũng có một Bảo Chí và bảy vị tăng. Vua tức giận cho người kiểm tra nơi ở của sư, một viên quan đến tâu:
- Sư Bảo Chí thoa mực đen lên thân và đã bỏ đi lâu rồi!
Bấy giờ, có Tăng chính Pháp Hiến muốn cúng dường sư một pháp y, nên đã sai người đên chùa Long Quang và Kế Tân thỉnh sư, nhưng tăng chúng nơi đây đều bảo sư đã đi từ sáng sớm. Lại cho người đến nhà Quảng Hầu bá, nơi mà sư thường lui tới để tìm. Nhưng Hầu bá nói: “Hôm qua, sư Bảo Chí có đến đây hành đạo sáng sớm nay vẫn chưa dậy”.
Người hầu trở về trình lại với Pháp Hiến, mới biết sư đã phân thân ngủ ở ba nơi.
Vào những ngày đông giá rét, sư luôn mặc áo bày vai. Sa-môn Bảo Lượng muốn cúng dường chiếc y bá nạp, nhưng chưa kịp thưa thì sư đã đến lấy. Có lần sư đến nhà một người nọ xin cá sống, người nấu bày biện xong, sư ăn vào nôn ra, cá sống bơi trong chậu như cũ. Sau đó, sư cho Vũ đế mượn thần lực nhìn thấy Cao đế chịu cực hình đao bén ở địa ngục. Từ đó về sau, Vũ đế vĩnh viễn không dùng đến dao.
Khi Vệ úy nước Tề là Hô Hài bị bệnh, ông ta cho người đến thỉnh sư. Sư ghi hai chữ “Hồ khuất” và bảo: “Sáng mai ta đến!”.
Thế nhưng sư không đến, ngay hôm đó Hồ Hài qua đời. Mọi người chở thi thể về nhà. Sư lại bảo: “Hồ khuất nghĩa là sáng hôm sau xuât hiện tử thi”.
Thái úỵ nhà Tề là Tư mã Ân Tề Chi theo Trần Hiển Đạt trấn giữ Giang châu, ông ta đến từ biệt sư. Sư vẽ lên giấy một cây cổ thụ, trên đó có con quạ, rồi dặn: “Lúc nào gặp nguy hiểm, ông hãy trèo lên cây này”.
Không lâu sau, Hiển Đạt tạo phản, bảo Tề Chi ở lại trấn giữ Giang châu. Đến khi thất bại, Tề Chi bỏ chạy đến Lô sơn, khi kị binh đuổi theo đến gần, Tề Chi thấy trong rừng có một cội cây, trên đó có con quạ giống như bức tranh sư đã vẽ, nên tức tốc trèo lên, nhưng quạ vẫn không bay. Bọn lính đuổi đến, thấy quạ đậu trên cây, cho là không có người, bèn quay trở về. Tề Chi nhờ đó thoát chết.
Truân kị Tang Yển nhà Tề có ý tạo phản, đến chỗ sư, từ xa trông thấy, sư vừa bỏ chạy và nói lớn: “Có ý tạo phản, bao vây đài thành, sẽ bị chém đầu mổ bụng!”.
Khoảng mười ngày sau, âm mưu phản nghịch của Tang Yển bị bại lộ. Ông ta trốn chạy đến Chu Phương thì bị bắt, đem chém đầu mổ bụng, như lời sư tiên đoán.
Trung Liệt vương ở Bà Dương đất Lương, thường thỉnh sư đến nhà. Bỗng nhiên, sư bảo tìm gấp một cây gai, rồi đem đặt trên cửa, chẳng ai hiểu được lí do. Không lâu sau, quả nhiên Liệt vương nhậm chức thứ sử Kinh châu. Những lời tiên đoán của sư linh nghiệm như thế rất nhiều. Sư thường đến ở chùa Hưng Hoàng và Tịnh Danh.
Trước thời Tề, triều đình cấm sư Bảo Chí ra vào cung, đến lúc Vũ đế lên ngôi thì rất sùng kính sư. Khi lên ngôi, Vũ đế liền ban chiếu thư:
- Chí Công, thân tuy giống phàm, nhưng tâm chí thoát tục, nước chẳng thể thấm ướt, lửa không thể thiêu cháy; rắn, hổ không thể làm hại; nói về Phật lý thì từ Thanh văn trở lên; bàn về thần bí còn cao hơn cả đạo sĩ. Há lại đem những điều thường tình của kẻ thế tục để vô cớ ước thúc ư? Sao lại cạn cợt đến như thế? Từ nay về sau, sư tùy ý ra vào, không ai được ngăn cấm!”. Từ đó, sư tự do ra vào cấm cung.
Mùa đông niên hiệu Thiên Giám thứ năm (506), trong nước bị hạn hán, tất cả quan dân dốc lòng cúng tế, nhưng trời vẫn không mưa. Thấy thế, sư liền tâu lên vua:
- Chí Công tôi bệnh mà chữa không bớt, đến xin các quan chữa trị. Nếu quan không tâu lên vua, e rằng các quan sẽ bị trừng phạt nặng. Xin bệ hạ cho người tụng kinh Thắng Man ở điện Hoa Quang để cầu mưa.
Vũ đế liền thỉnh sa-môn Pháp Vân tụng kinh Thăng Man. Tụng xong, quả nhiên đêm đó trời mưa rất lớn. Sư lại nói: “Phải đặt một con dao lên trên bát nước!”. Lát sau, mưa càng lúc càng lớn, khắp nơi thảy đều thấm ướt.
Vua thường hỏi sư:
- Đệ tử chưa trừ được phiền não, lấy gì để trị?
Sư đáp:
- Mười hai. Người trí dùng mười hai này làm mười hai nhân duyên trị phiền não.
Vua lại hỏi:
- Ý nghĩa của mười hai thế nào?
Sư đáp:
- Ý nghĩa ở trong văn tự và thời gian, người trí lấy đó làm mười hai thời tu tập.
Vua lại hỏi:
- Đệ tử bao giờ mới được tịnh tâm tu tập?
Sư đáp:
- An lạc là cấm. Người trí lấy đó tu tập, cấm tức là chỉ. Khi đạt đến an lạc chính là chỉ.
Sau này, khi ngài Pháp Vân đang giảng kinh Pháp hoa ở Hoa Lâm, đến câu “Hắc phong xuy kì thuyền phưởng”, Bảo Chí Mền hỏi:
- Gió có hay không?
Pháp Vân đáp:
- Theo tục đế thì có, đệ nhất nghĩa đế thì không.
Bảo Chí hỏi đến ba bốn lần như thế.
Pháp Vân cười nói:
- Nếu nói thể là giả hữu thì gió được nói ở đây cũng không thể giải thích được và cũng rất khó giải thích.
Lời lẽ của sư Bảo Chí sâu kín đại khái cũng như thế.

Phần 9

Bấy giờ, cả nhà ông Trần Chính Lỗ phụng sự sư rất trọng hậu. Có lần, sư cho họ thấy thân thật của mình, có hào quang như tượng Bồ-tát. Sư nổi tiếng hiển thị những điềm kì dị đã hơn bốn mươi năm. Được mọi người phụng sự cúng dường rất nhiều.
Mùa đông niên hiệu Thiên Giám thứ 13 (514), tại hậu đường ở Đài thành, sư bảo với mọi người:
- Bồ-tát sắp đi rồi!
Chưa đến mười ngày sau, sư không bệnh mà an nhiên thị tịch. Thi hài tỏa hương, diện mạo tươi tỉnh. Lúc sắp viên tịch, sư đốt một cây đuốc trao cho xá nhân Ngô Khánh. Ngô Khánh liền trình lên vua. Vũ đế than: “Đại sư không còn ở đây nữa rồi, trao cây đuốc này hàm ý là sư đem hậu sự phó chúc cho ta ư!”.
Nhân đó, vua cử hành tang lễ rất long trọng, thi thể sư được an táng trên gò Độc Long, Chung sơn. Bên mộ sư, vua cho dựng chùa Khai Thiện, đồng thời sắc lệnh cho Lục Thùy khắc một bài minh trên mộ và Vương Duẩn khắc văn trên cổng chùa.
Khắp nơi truyền tả di tượng của sư để tôn thờ.
Lúc mới xuất hiện, sư đã hơn năm, sáu mươi tuổi, đến khi tịch vẫn không thấy già, nên không ai biết chắc sư bao nhiêu tuổi.
Bấy giờ, có Từ Tiệp Đạo sống tại Đài Bắc, Cửu Nhật thuộc kinh đô nói:
- Sư Bảo Chí cỏ người cậu nhỏ hơn sư bốn tuổi, nên tính lúc sư Bào Chí thị tịch là chín mươi bảy tuổi.
233.12. Đời Ngô, cư sĩ Từ Quang: Từ Quang thường làm huyền thuật. Có lần ông trồng lúa, táo, quýt và dẻ trong chợ, rồi lập tức hái ăn, cùng lúc ấy những người buôn bán những loại này trong chợ đều bị hao tổn. Ông dự đoán trời mưa, nắng rất hiệu nghiệm.
Ông thường vén áo, đi qua lại khạc nhổ trước cửa nhà của tướng quân Tôn Lâm. Có người hỏi nguyên nhân. Ông đáp:
- Máu chảy làm ngập đường, hôi tanh không chịu nổi.
Tôn Lâm nghe ông nói vậy, liền nổi giận bắt ông và chém đầu, quả thật đầu không có máu.
Sau đó, Tôn Lâm phế Ấu đế lập Cảnh đế. Khi làm lễ lập Đế ở Tưởng Lăng, bỗng có một cơn gió lốc lớn từ trên không trung đổ ập xuống xe Tôn Lâm. Xe bị nghiêng đổ, Tôn Lâm ngoái lại nhìn thì thấy Từ Quang ở trên cây tùng, vỗ tay cười nhạo. Tôn Lâm hỏi mọi người chung quanh nhưng không ai thấy. Từ đó, ông rất ghét Từ Quang. Không lâu sau, Cảnh đế trong một ngày giết Tôn Lâm cùng ba anh em của ông.
23.3.13. Tạp truyện
23.3.13.1. Đời Chu, Lão Tử: Ông sống vào đời Chu, họ Lý, tên Đam, tự Bá Dương, là bậc hiền triết ở làng Khúc Nhân, xã Lại, huyện Khổ, nước Sở. Mẹ ông cảm một ngôi sao báng mà mang thai. Tuy ông nhận linh khí cùa trời, nhưng vì sinh vào nhà họ Lý nên lấy họ Lý.
Có thuyết nói Lão Từ sinh ra trước trời đất. Có thuyết lại nói ông là hồn của trời, thuộc về tinh linh. Có thuyết lại nói mẹ ông mang thai bảy mươi năm mới sinh ra ông. Lúc sinh, mẹ ông phải mổ nách bên trái mới đưa ông ra được. Vì mới sinh ra đầu đã bạc trắng, nên đặt tên là Lão Tử. Có thuyết lại nói mẹ ông không có chồng, nên Lão Tử mang họ mẹ. Có thuyết lại nói mẹ ông vừa đến bên cây Lý thì sinh ông, vừa lọt lòng, ông chỉ cây Lý và nói: “Đây là họ của tôi!”. Có thuyết lại nói Lão Tử muốn đi về phía tây để xuất quan, quan giữ ải tên là Hỉ biết ông là người phi thường, nên theo ông hỏi đạo thuật. Lão Tử sợ hãi lè lưỡi rất dài giống như vành tai, do đó có tên Lão Đam. Những thuyết vừa nói trên đều không đúng.
Theo bộ Cừu biến và Tiên sinh thập nhị hóa kinh ghi: “Khi Lão Tử chưa ra khỏi ải thì đã có tên Đam rồi. Vả lại, Lão Tử nhiều lần thay đổi danh tự, chứ không phải chỉ có tên Đam”. Sở dĩ như thế là vì các kinh Cửu cung tam ngũ và kinh Nguyên thần ghi: “Con người sống trên đời đều gặp những vận ách. Khi vận đến, người ta lại đổi tên và tự khác để phù hợp vận khí mà vượt qua ách nạn, kéo dài tuổi thọ”. Đời nay những người có đạo đức cùng làm như thế. Hơn nữa, Lẵo Tủ sống vào thời nhà Chu, hơn hai trăm tuổi. Trong thời gian hơn hai trăm năm đó, vận ách không phải chi có một, vì thế tên tự của ông cũng rất nhiều.
23-3.13.2. Đời Ân. Bành Tổ: Ông sống vào đời An, hủy Khanh, là cháu bốn đời của vua Chuyên Húc. Đến cuối nhà Ân ông đả bảy trăm sáu mươi bảy tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Lúc nhỏ ôngng thích sống an nhàn, không đoái hoài đến việc đời, cũng không mưu cầu công danh phú quí, không trang sức xa hoa mà chỉ lo việc dưỡng sinh, tu thân.
Vua nghe ông sống thọ, phong cho chức Đại phu, nhưng ông cáo bệnh, sống an nhàn không tham dự chính sự.
Ông rất giỏi thuật bổ đạo38 và chỉ uống nước quế, bột gạo, nhung nai, nên dung mạo luôn như trẻ nhỏ. Ông thường nín thở từ sáng sớm cho đến trưa mới gượng ngồi, chà mắt, xoa bóp thân thể, liếm môi, nuốt nước miếng, hít vào, thở ra mấy chục lần, rồi đứng dậy đi và cười nói.
Nếu thân thể mỏi mệt bất an, ông liền đạo dẫn, bế khí để trị bệnh, khiến cho thân tâm yên ổn; đầu, mặt, cửu khiếu, ngũ tạng, tứ chi cho đến lông tóc đều được bình thường, cũng biết được chân khí vận hành trong cơ thể, bắt đầu từ mũi miệng, chạy xuống mười ngón tay.
Vua thường đến vấn an sức khỏe ông và ban cho vô số vật quý giá. Bành Tổ thụ nhận, nhưng sau đó ban phát cho người nghèo, chẳng giữ lại món gì.
Bấy giờ, có một thể nữ cũng đắc đạo tiên chút ít, biết phương pháp dưỡng sinh, đã hai trăm lẻ bảy tuổi mà nhìn như con gái mười lăm, mười sáu. Vua rất sủng ái cô, nên cho ở cạnh cung, lại còn xây dựng lầu hoa, gác tía trang trí bằng vàng, ngọc và cấp cho xe ngựa đến hỏi đạo với Bành Tổ. Thể nữ học hết tất cả pháp cốt yếu của Bành Tổ rồi dạy lại cho vua. Vua thực hành thấy có hiệu nghiệm và định giết ông ta. Bành Tổ biết được nên bỏ đi, không ai biết ông đi đâu.
Hơn bảy mươi năm sau, đệ tử gặp ồng ở phía tây sa mạc.
Mặc dù vua không thường xuyên thực hành thuật của Bành Tổ, nhưng vẫn thọ được một trăm lẻ ba tuổi, khí lực cường tráng như người năm mươi tuổi. Sau đó, vua tham dâm với một người con gái đẹp nước Vân, nên mất đạo và tử vong. Thế gian truyền nhau rằng: “Sờ dĩ đạo thuật cùa Bành Tổ không được dạy cho người là vì vua cấm”. Lúc Bành Tổ rời khỏi nước Ân, ông đã bảy trăm tuổi, nhưng vẫn chưa chết.

Phần 10

23.3.13.3. Vợ hại chồng: Vào đời Hán, ở Lạc Dương có một hang rất sâu, không thể lường được đáy. Bấy giờ, có người vợ muốn hại chồng, nên nói: “Thiếp chưa thấy hang động ấy”. Người chồng liền đưa vợ đến xem, nhân đó người vợ đẩy chồng xuống hang. Sau hồi lâu, biết chồng đã rơi xuống đáy hang, người vợ trở về mang phẩm vật ném xuống hang để cúng tá chồng.
Người chông bị rơi từ trên đinh núi xuống, nằm mê man không biết gì; một hồi lâu mới tỉnh lại, ông ta nhặt được thức ăn và ăn, nhờ đó sức khỏe dần dần hồi phục trở lại. Ông quanh quẩn tìm lối ra, nhưng tìm mãi chỉ thấy một cái hang, ông bò theo đường hang gập ghềnh, hiểm trở, đi được mấy chục dặm thi lòng hang rộng thoáng, mặt đất bằng phẳng và có vài tia sáng nhỏ. Ông đi tiếp hơn một trăm dặm nữa, có cảm giác như chân giẫm lên bụi và nghe có hương thơm của gạo, ông ăn thử, cảm thấy thơm ngon, liền nhặt lấy làm lương thực đi đường.
Ông tiếp tục đi xa mãi, không biết bao nhiêu dặm thì đến một nơi sáng sủa rộng lớn, đồng thời lúc đó lương thực cũng vừa hết. Ông lại vào một đô thành, cung điện trang hoàng rất tráng lệ; lâu đài, phòng ốc đều trang trí bằng vàng ròng. Tuy không có mặt trời, mặt trăng nhưng sáng hơn cả hai tinh tú ấy. Còn người ở đây thân cao ba trượng, mặc áo lông chim, tấu một điệu nhạc chưa từng được nghe ở thế gian. Ông liền đến xin giúp đỡ. Có một người cao lớn chỉ ông đi lên phía trước. Ông lần lượt đi qua chín nơi như vậy; cuối cùng đến một nơi toàn là cảnh đói khát khổ sở. Bấy giờ, người cao lớn kia chỉ con dê đứng bên gốc cây thông lớn cả trăm vi giữa sân và bảo ông quì xuống vuốt râu dê. Ông vuốt lần đầu được một viên ngọc, người kia nhặt lấy, vuốt lần thứ hai được một viên ngọc, người kia cũng lấy, vuốt lần thứ ba được một viên ngọc, người kia bảo ông nuốt. Vừa nuốt xong, ông hết đói khát. Ông hỏi tên chín nơi tráng lệ kia và xin ở lại. Người kia nói:
- Lệnh vua không cho ở lại, ông nên quay về hỏi Trương Hoa, sẽ biết được con người ở đây.
Sau đó, ông lần theo đường hang ra đến Giao Châu, rồi trở về Lạc Dương hỏi Trương Hoa về các vật ông nhặt được. Trương Hoa nói: “Chất như bụi là long diên ở dưới Hoàng hà, bùn là bùn dưới Côn sơn, chín nơi ông đi qua là nơi cùa Địa tiên, gọi là Cửu quán đại phu, con dê chính là si long. Nếu nuốt viên ngọc đầu tiên sẽ được tuổi thọ bằng trời đất, nuốt viên thứ hai là kéo dài tuổi thọ, nuốt viên thứ ba chỉ trừ đói khát mà thôi.
Khi ông trở về nhân gian thì trải qua bảy, tám năm.
23.3.13.4. Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời Hán: Niên hiệu Vĩnh Bình thứ năm (62), đời Hán, ở huyện Diệm có Lưu Thần, Nguyễn Triệu cùng lên núi Thiên Thai, bị lạc không biết đường về. Trải qua mười ba ngày, lương thực đã hết, hai người đói khát sắp chết. Từ xa, họ nhìn thấy trên đỉnh núi có cây đào rất nhiều trái, nhưng không có đường đi lên; họ bèn bám vào những sợi dây mà leo lên đỉnh. Mỗi người ăn vài ba trái thì hết đói khát và thân thể lại khỏe mạnh. Họ lại xuống núi, cầm bát định múc nước rửa tay, súc miệng thì thấy lá Vu thiến tươi xanh và một cái bát có cơm trộn mè từ trong núi trôi ra rồi cả hai đều chìm xuống nước.
Hai người đi ngược dòng khoảng hai ba dặm thì qua khỏi dãy núi, họ thấy một khe suối lớn, bên khe có hai cô gái đẹp tuyệt trần. Thấy Lưu Thần, Nguyễn Triệu cầm bát đến, hai cô cười nói:
- Hai chàng Lưu, Nguyễn mang cái bát mà chúng ta vừa đánh mất đến đây!
Lưu Thần, Nguyễn Triệu hoàn toàn không quen biết họ, nhưng nghe hai cô gọi họ tên mình giống như đã quen từ lâu. Khi họ gặp nhau đều hỏi:
- Sao đến muộn vậy?
Nhân đó hai cô gái mời Lưu, Nguyễn về nhà. Nhà họ đều lợp ngói bằng đồng, ở bên dưới tường phía nam và đông đều có một cái giường lớn, giăng màn lụa hồng. Mỗi góc màn có treo linh vàng, bạc xen lẫn nhau, đầu giường có mười tì nữ đứng hầu. Hai cô gái bảo các tì nữ:
- Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi đường núi đá gập ghềnh, cực nhọc đến đây. Mặc dù ăn được quả tiên, nhưng sức khỏe vẫn còn yếu, các ngươi mau làm thức ăn.
Họ ăn cơm trộn mè với thịt dê, thịt bò khô rất ngon. Ăn xong, uống rượu, có một đoàn thiếu nữ đến, mỗi cô bưng mười lăm trái đào và cười nói: “Chúc mừng phu quân các cô đến!”. Rồi họ mời Lưu Thần, Nguyễn Triệu uống rượu, ca hát vui chơi. Đến chiêu tối, hai cô gái bảo hai chàng vào giường ngủ. Sau đó, hai cô gái đến tâm sự, giọng nói thanh tao, êm ái khiến hai chàng quên mọi phiền muộn.
Lưu Thần, Nguyễn Triệu ở đó bỗng chốc đã được nửa năm. Bấy giờ, tiết trời vào xuân, cây cỏ xanh tươi, chim hót líu lo, khiến hai chàng buồn bã nhớ quê, tha thiết xin trở về. Cô gái hỏi:
- Oan khiên chàng tạo ra, chàng làm thế nào?
Cô gái liền gọi ba, bốn chục người nữ đến tấu nhạc, cùng tiễn đưa Lưu Thần, Nguyễn Triệu trở về. Khi hai người về đến quê, những người thân ngày xưa không còn, làng xóm, nhà cửa đổi khác, không quen biết một ai. Họ hỏi thăm thì gặp được đứa cháu bảy đời của mình.
Truyền thuyết kể lại rằng: “Vào thời xưa, có hai người vào núi, bị lạc không biết đường về. Đến niên hiệu Thái Nguyên thứ tám (383), đời Tấn, hai người lại ra đi, nhưng không biết về đâu”.
23.3.13.5. Đời Hán, Hoàng Nguyên ở Thái sơn: Một hôm khi trời vừa sáng, ông mở cửa thì thấy một con chó lông xanh nằm ngoài cửa canh giữ, giống như chó thuần dưỡng trong nhà. Hôm nọ, ông lấy dây buộc chó theo dân làng đi săn. Đến lúc mặt trời lặn, Ông thấy một con nai, liền thả chó đuổi theo. Thấy chó chạy rất chậm, ông dốc hết đuổi theo mà vẫn không kịp. Được vài dặm thì đến một cái hang, ông đi vào hơn một trăm bước, đến chồ đất trống bằng phẳng, cây hòe, cây liễu trồng thành hàng, có tường bao quanh. Hoàng Nguyên theo chó đi vào cửa và thấy một dãy phòng khoảng mấy chục gian, đều của phụ nữ. Cô nào cũng đẹp, áo quần rực rỡ, có cô gảy đàn, có cô đánh cờ. Ông đến dãy phòng phía bắc thấy ba căn, có hai người canh gác, giống như đang dò xét điều gì. Họ nhìn ông cười và nói:
- Người được chó xanh dẫn đến chắc là chồng của Diệu Âm.
Một người giữ ông lại, còn người kia vào nhà. Lát sau có bốn người nữ đi ra, trong đó một người tự xưng là Thái Chân phu nhân nói với Hoàng Nguyên:
- Có một người con gái đã đến tuổi cài trâm, số trời đã định kết nghĩa vợ chồng với ông.
Đến tối, họ dẫn Hoàng Nguyên vào bên trong. Trong đó, có một ngôi nhà hướng về nam. Phía trước có một cái ao, trong ao có một cái đài, bốn góc đài có một cái hang đường kính dài một thước. Trong hang lại có ánh sáng, giường chiếu, màn che. Diệu Âm nhan sắc tuyệt trần, người hầu cũng đẹp không kém. Sau khi chào hỏi xong, họ vào phòng ngủ như gặp lại người xưa. Trải qua vài ngày, Hoàng Nguyên muốn trở về báo cho gia đình biết. Diệu Âm nói:

Phần 11

- Người và thần hai đường khác nhau, vốn không thể gán bó lâu dài!
Sáng hôm sau, Hoàng Nguyên từ biệt Diệu Âm trở về. Diệu Âm đưa tiễn buồn khóc, nước mát đầm đìa và nói:
- Từ nay về sau chúng ta không bao giờ gặp lại, sẽ rất nhớ thương. Nếu còn nhớ nhau thì đến ngày mùng một tháng ba mỗi năm nên tu trai giới.
Diệu Âm nói xong, bốn người tì nữ đưa Hoàng Nguyên ra cửa, đi nửa ngày thì ông về đến nhà.
Ông nhớ thương Diệu Âm vô cùng. Mỗi khi đến kì hạn, ông thường thấy có người kéo xe, che màn báu bay phảng phất trên hư không.
23.3.13.6. Đời Tấn, Ngô Mãnh: Thuật dị kí ghi: “Ở Lô sơn có cầu Tam Thanh bắc ngang khe núi. cầu dài mấy chục trượng, rộng chưa được một thước. Từ cầu nhìn xuống thấy mù mịt như không có đáy. Vào khoảng niên hiệu Hàm Khang (335-343), thứ sử Giang châu là Dữu Lượng đón Ngô Mãnh. Ngô Mãnh dân theo một người đệ tử lên núi tham quan, nhân đó ghé xem cầu đá. Lúc hai thầy trò đến xem, gặp một ông lão ngồi bên cây quế, lấy chén ngọc hứng cam lồ rồi trao cho Ngô Mãnh. Mãnh đưa hết cho đệ tử, rồi dẫn đệ tử đến một nơi toàn là đài cao, nhà rộng, cung vàng, điện ngọc, ánh sáng của ngọc chiếu rực rỡ làm hoa mắt; các đồ vật bàng ngọc ngà, châu báu nhiều không thể tính kể. Hai thầy trò Ngô Mãnh gặp mấy người, ai nấy đều nói chuyện với Mãnh giống như đã quen biết từ lâu, họ bày tiệc rượu uống suốt ngày”.
233.13.7. Độc Giác: Thuật dị kí ghi: “Ông ở quận Giang, đất Ấp, sống khoảng mấy trăm tuổi, không ai biết tên họ của ông. Vì trên đỉnh đầu của ông mọc một cái sừng nên gọi là Độc Giác. Có lúc ông đi nhiều năm, hoặc nhiều tuần không nói một lời, đến lúc nói thì ý nghĩa sâu xa không ai có thể hiểu được.
Đến nơi đâu, ông đều lấy đức phục người và giảng đạo. Một hôm, ông từ biệt người thân, nhảy xuống con sông trước nhà và biến thành cá chép, nhưng cái sừng vẫn còn ở sau đầu. Sau đó ông thường trở về nhà, hình dáng giống như lúc còn sống và cùng ăn tiệc, uống rượu với con cháu vài ngày rồi ra đi”.
23.3.13.8. Tốt Thường Sinh ở Cốc Thành: Không biết người ở đâu, ông chết mấy lần nhưng đều sống lại, người thời bấy giờ không cho như thế. Sau đó, có nạn đại hồng thủy xuất hiện hại chết rất nhiều người, ông thường xuất hiện trên núi Khuyết Môn la lớn:
- Tốt Thường Sinh ở đây! Mưa năm ngày nhất định sẽ dứt!
Khi trời tạnh mưa, mọi người lên núi tìm ông, nhưng chỉ thấy y phục, cây gậy và dây đai da. Mấy chục năm sau, người ta thấy ông chết ở trước cổng chợ Hoa Âm.
23.3.13.9. Cầm Cao: Ông người nước Triệu, vì giỏi đánh đàn nên được làm xá nhân cho Khang Vương. Ông từng học theo thuật của Quyên Tử và Bành Tổ. Sau đó, ông đến ở quận Đãng, Kí châu hơn hai trăm năm. Một đêm nọ, ông nhảy xuống sông Nãng bắt một con rồng đưa cho các đệ tử và hẹn rằng: “Đến ngày hẹn, tất cả nên trai giới và dựng một cái miếu bên sông đợi ta”.
Quả nhiên, vào ngày đó họ thấy ông cưỡi trên con cá chép hồng xuất hiện, vào ngồi trong miếu. Sáng hôm sau, hàng vạn người trong quận Đãng kéo đến xem. Ông ở trong miếu một tháng rồi lại nhảy xuống sông.
23.3.13.10. Quán Tiên: Ông sống vào đời Tống, làm nghề câu cá, sống bên sông Tuy hơn một trăm năm. Mỗi khi ông câu được cá, hoặc thả lại, hoặc bán, hoặc để ăn. Ông thường đội mũ và mang đai, thích trồng cây vải và ăn hoa, quả của nó.
Tống Cảnh công đến hỏi đạo, nhưng ông không dạy; vì thế Cảnh Công giết chết ông. Mấy chục năm sau, có người thấy ông ngồi trên cổng thành nhà Tống gảy đàn, mấy chục ngày mới đi. Người đời Tống đều thờ cúng ông.
24. CHƯƠNG YÊU QUÁI
24.1. LỜI DẪN
Yêu quái, Can bảo kí ghi: “Yêu quái là do tinh khí nương vào vật mà biến hiện”. Bên trong khí động thì bên ngoài vật biến. Hình-thần, khí-chất là tác dụng của trong và ngoài thân. Nó có gốc. từ ngũ hành và thông với ngũ sự. Tuy tăng giảm, lên xuống, biến hóa vô cùng, nhưng những biểu hiện lành dữ đều có thể suy xét được. Dù vậy, đây chỉ là sự hiểu biết hạn hẹp của thế tục, chứ chưa đạt được lý nhân quả của bậc đại thánh. Nay xét những điều biến dị này chính là bàn đến các nghiệp đời trước của chúng sinh. Do nhân cảm quả báo hiện tại mà duyên phát sinh. Nhân và duyên tụ hội là lẽ đương nhiên của muôn vật. Vì thế, có những biểu hiện như vậy cũng không có gì lạ.
24.2. Dẫn chứng
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bấy giờ, Phật bảo các tì-kheo:
- Ta nhớ thuở xưa có con ngựa chúa rất đẹp tên Kê-thi, thân trắng sạch như ngọc kha, như bạch ngân, như trăng tròn, như hoa cư-đà; đầu nó màu tía xanh, phi nhanh như gió, tiếng hí như trống trời. Vào một ngày kia, ở cõi Diêm-phù-đề có năm trăm thương nhân muốn vào biển lớn. Họ chuẩn bị đầy đủ hành lí, lương thực, rồi đến bờ biển cúng tế thần biển, trang bị thuyền bè và mướn năm người thuyền trưởng ra biển tìm châu báu.
Đoàn thuyền đang trên biển, bỗng gặp bão lớn thổi thuyền của họ đến nước La-sát, có nhiều nữ la-sát. Khi sắp cập bờ thì bị một cơn lốc phá vỡ thuyền, các thương nhân gắng sức bơi vào bờ.
Các nữ la-sát nghe ngoài biển có thuyền bị vỡ liền đến cứu vớt. Trong chốc lát họ cứu được năm trăm thương nhân, rồi dẫn về cùng nhau vui vẻ hưởng thụ ngũ dục, sinh con đẻ cái. Sau đó, các nữ la-sát đưa những thương nhân đến sống trong tòa thành bằng sắt. Sau khi đã đưa những thương nhân này vào thiết thành rồi, nữ la-sát hiện lại nguyên hình, xinh đẹp tuyệt trần, nhưng không sánh bằng tiên nữ. Chúng dùng nước hương cõi trời tắm gội, dùng hương bột xoa thân, mặc y phục đẹp, trang sức bằng chuỗi ngọc, đầu đội mũ bằng hoa trời tuyệt đẹp, trên hoa treo các linh báu, vội vàng đến chỗ các thương nhân bị nạn khác và nói:
- Này các thánh tử! Chớ sợ hãi, chớ sầu não, hãy đưa tay đây!
Khi ấy các thương nhân rất sợ chết và tưởng là người nữ thật, nên đưa tay cho chúng. Nữ la-sát vớt các thương nhân lên bờ, rồi dịu dàng hỏi:
- Các người từ đâu đến? Hãy ở lại làm chồng chúng tôi, thương xót chúng tôi mà làm chủ chúng tôi.
Chúng tôi không có người thân để nương tựa. Hãy giải trừ lo âu, phiền muộn và làm gia trưởng của chúng tôi, chúng tôi sẽ cung phụng, hầu hạ đầy đủ.
Bấy giờ, các thương nhân đều sinh lòng thương cảm, khóc nức nở, thở dài và an ủi nhau, rồi họ bằng lòng đến thành La-sát. Trên đường đi, họ đến một nơi đất trống bằng phăng, cây cối, hoa quả, cành lá sum suê và có nhiều loài chim tụ tập trên

Phần 12

cây. Trong hồ có các loại hoa phủ đầy và chim nô đùa, người thấy đều ưa thích, nên làm họ vơi bớt buồn phiền phần nào.
Thành la-sát ấy có bốn bức tường trắng sạch như ngọc kha, núi băng. Nếu nhìn từ xa sẽ thấy thành kia giống như đám mây trắng từ đất mọc lên. Thành đó trang hoàng như trong kinh đã trình bày đầy đủ.
Bấy giờ, các nữ la-sát dẫn các thương nhân đến thành kia rồi, bảo họ cởi y phục cũ, tắm gội bằng nước thơm, mời ngồi trên tòa đẹp, vui hưởng ngũ dục, trỗi ngũ âm cho họ thưởng thức. Trải qua một thời gian dài, các thương nhân thụ hưởng khoái lạc thỏa thích, sau đó nữ la-sát nói với họ:
- Quí thay thánh tử! Các người không được đi ra cửa thành phía nam để đến nơi kia!
Trong số thương nhân, có một vị trí tuệ siêu việt, thông minh lanh lợi, sinh nghi ngờ, ông ta nghĩ: ‘Tại sao các nữ la-sát không cho chúng ta đi ra cửa thành phía nam. Đợi lúc họ ngủ say, ta sẽ tìm đến chỗ cấm đó, lần lượt xem xét sự việc lành dữ thế nào’. Thế là, thương chủ đợi các nữ la-sát ngủ say, liền nhẹ nhàng ngồi dậy, cầm một cây dao bén ra khỏi nhà, cẩn thận đi về phía trước, đến chỗ đất hẹp, không cây cỏ, có một con đường nhỏ nguy hiểm rất đáng sợ, lại nghe có tiếng người gào khóc giống như tiếng kêu la thống khổ trong địa ngục Kêu Gào. Nghe tiếng ấy, ông vô cùng sợ hãi, đứng im hồi lâu, khí lực định tĩnh, rồi dần dần tiến vào con đường đó. Đi chưa bao xa thì ông thấy một tòa thiết thành. Thành ây cao vút, là nơi phát ra âm thanh ấy. Đấn thành đó rồi, ông đi quanh mà không thấy cửa; đi qua phía bắc thấy một cây hợp hoan mọc gân thành. Cây đó cao lớn vượt quá thành, thương chủ liền leo lên cây quan sát. Ông thấy trong thành có hơn một trăm người chết, có người chết rồi, bị ăn một nửa thân, hoặc có người bị xé nửa thân mà chưa chết, có người ngồi đói khát khổ sở, có người gầy ốm chỉ còn gân và xương, cặp mắt sâu hõm như sao đáy giếng, nằm mê sảng trên đất, đầu tóc rối bời, bụi đất lấm thân, vô cùng yếu ớt, ăn thịt lẫn nhau. Vì thế nên họ kêu la như chốn Diêm-la. Thấy các chúng sinh chịu những thống khổ như thế, thương chủ vô cùng kinh hãi, liền lấy tay rung cành cây hợp hoan, một cành rung thì các cành khác cùng phát ra âm thanh.
Bấy giờ, các người chịu khổ nghe âm thanh đó, họ ngước nhìn lên thành, thấy thương chủ ở trên cây hợp hoan, liền hỏi:
- Ngài là ai? Là trời, rồng, dạ-xoa, Đế Thích, Đại Phạm vương v.v..., thấy chúng tôi gặp ách nạn, ngằi thương xót đến đây cứu khổ chúng tôi sao?
Bấy giò, bọn họ chắp tay đinh lễ, buồn khóc nức nở, rồi ngước mặt lên thưa:
- Quí thay nhân giả! Xin ngài giúp chúng tôi trở về với người thân!
Thương chủ nghe rồi, buồn rầu thương xót và bảo họ:
- Các vị nên biết, ta không phải là trời, rồng, cũng chẳng phải Đại Phạm Thiên, chúng tôi từ cõi Diêm-phù-đề đến đây, vì mưu sinh, vì tìm tài vật mà ra biển lớn. Chúng tôi sắp vào đất liền, bỗng bị một trận cuồng phong phá vỡ thuyền, được các phụ nữ đến cứu vớt. Từ đó đến nay, thường cùng họ hưởng thụ hoan lạc, chúng tôi làm sao có thể cứu khổ các vị!
Thương chủ lại hỏi họ:
- Tại sao các vị phải ở đây chịu khổ thế này?
Họ đáp:
- Quí thay thiện nhân! Chúng tôi cũng như thế, cùng đi với tôi có năm trăm người, thuyền sắp vào đến bờ, bị cuồng phong phá vỡ, cũng gặp nữ la-sát cứu vớt, rồi cùng họ hưởng thụ ngũ dục. Họ đưa chúng tôi đến ở trong thiết thành. Từ khi vào thành đến nay, họ đã ăn hết hai trăm năm mươi người, nay chì còn hai trăm năm mươi người thôi. Chúng tôi cùng chung sống với họ và sinh con cái. Các nữ la-sát nói năng ngọt ngào, âm thanh êm dịu, nhưng rất tham ăn thịt, con trai con gái sinh ra chúng đều ăn hết. Các ngài cẩn thận chớ cùng họ hưởng thụ hoan lạc, vì sao? Vì chúng rất đáng sợ, không thật lòng.
Thương chủ lại hỏi:
- Các vị có cách gì để thoát nạn này không?
Họ đáp:
- Có một cách.
Thương chủ hỏi:
- Cách gì? Các vị hãy nói cho tôi biết.
Họ đáp:
- Ngày rằm tháng tư là ngày hội vui chơi lớn, lúc mặt trời, mặt trăng hợp với sao Mão, có ngựa chúa tên Kê-thi, thân hình rất đẹp, nhìn mãi không chán, trắng như ngọc, đầu màu tía xanh, phi nhanh như gió, tiếng hí như trống vang, nơi nào nó đến liền có gạo trắng thơm ngon, không có thóc. Nó chỉ ăn gạo này, ăn xong, nó ra bờ biển nằm lộ nửa thân và nói bằng tiếng người rằng: ‘Ai muốn qua biển khổ này, ta sẽ đưa qua bờ kia an ổn?’. Nó nói ba lần như thế. Nếu các ngài gặp con ngựa này sẽ được thoát nạn, chỉ có cách này thôi, ngoài ra không còn cách nào khác. Các ngài muốn thoát nạn thì chớ tiết lộ chuyện này.
Thương chủ hỏi:
- Các vị đã từng thấy ngựa chúa này chưa? Nếu các vị thấy sao không đến gần, sao ngựa chúa không cứu các vị? Các vị nghe việc này từ đâu?
Họ đáp:
- Tôi nghe những lời ấy từ trên hư không. Nghe xong, có người tin lần theo con đường đến chỗ ngựa chúa. Tuy đến đó mà không nghe theo lời nó, nên phải quay trở lại. Chúng tôi vì thương yêu nữ la-sát nên nay chịu tai ách như vậy.
Thương chủ nói:
- Từ trước đến nay các người có đến chỗ ngựa chúa kia chưa?
Họ đáp:
- Chúng tôi muốn lên thành thì thành càng cao thêm, đào đường hầm để ra thì đất lấp đầy trở lại. Chúng tôi ở đây không mong gì thoát được, chúng tôi sẽ bị nữ la-sát ăn thịt, làm sao gặp được người thân! Các ngài chớ buông lung, hãy nhanh chóng trở về quê nhà gặp lại cha mẹ họ hàng. Mong các ngài phải đồng lòng cầu thoát nạn! Chúng tôi ở ấp ấy, thành ấy, xứ ấy. Nếu các ngài đến nơi ấy hãy vì chúng tôi mà gởi lời thăm hỏi cha mẹ bà con, bạn bè, người quen và dặn dò: ‘Sau này các người chớ ra biển lớn, vi sao? Vì trong biển lớn kia có những điều đáng sợ. Các người ở quê nhà tùy thuận làm việc mưu sinh để không xa cách cha mẹ, vợ con, quyến thuộc khỏi phải chia li; lại nên bố thí, tạo nhiều phúc nghiệp, nghiêm trì trai giới là tốt nhất’.

Phần 13

Nghe họ nói vậy, thương chủ rất kinh hãi, liền từ cây họp hoan xuống. Những người kia gào khóc: ‘Than ôi khổ quá! Cõi Diêm-phù-đề làm sao gặp lại?
Nếu chúng tôi biết trước có ách nạn này, thà ở nhà ăn phân bò để sống, chứ không vì tìm tài bảo mà đến nơi này!’.
Bấy giờ, thương chủ trở về lại chỗ cũ, thấy mọi người và các nữ la-sát vẫn còn ngủ say, thương chủ cũng nằm xuống ngủ lại. Đến lúc trời sáng ông suy nghĩ: ‘Ta làm sao cho các thương nhân biết việc này, nếu ta nói ra cho họ biết tức là tiết lộ. Nếu việc này tiết lộ bị nữ la-sát biết, sẽ đưa chúng ta đến nơi hiểm nạn. Ta phải giấu kín, chờ đến tháng tư đúng ngày vui lớn, ngựa chúa xuất hiện mới nên nói cho mọi người biêt. Vì sao? Ngày xưa có kệ:
Những điều gì mình biết Khinh suất nói thật ra Sự việc bị tiết lộ Nghe rồi lại truyền nhau Bọn oán thù nghe được Liền bị khổ não lớn,
Cho nên người có trí Phải im lặng giữ kín.
Đến ngày vui lớn ấy, thương chủ mới bảo các thương nhân:
- Hôm nay các ông chớ buông lung, tham luyến ái dục, hoặc thích phụ nữ, ham ăn uống và tiền của. Nay ta rất thương xót các ông và có điều bí mật muốn nói.
Nghe thương chủ nói, các thương nhân như sư tử
- trong núi rừng bỗng nhiên gầm rống. Các cầm thú ờ
- bên kia núi nghe tiếng rống ấy rất sợ hãi. Họ bảo nhau:
- Hôm nay chúng ta cũng chưa thoát khỏi hiểm nạn biển lớn, phải thận trọng!
Các thương nhân chờ đến nửa đêm, khi tất cả các nữ la-sát ngủ say, họ lén ra khỏi giường cùng đến điểm hẹn, thưa với thương chủ:
- Quí thay thương chủ! Ngài thấy nghe những gì, xin nói cho chúng tôi biết!
Bấy giờ, thương chủ nói với mọi người những việc mình thấy nghe trước kia. Các thương nhân nghe xong, buồn rầu thưa với thương chủ:
- Hay lắm thương chủ! Chúng ta hãy đến ngay chỗ ngựa chúa, cầu mong chúng ta an ổn về được quê nhà ở Diêm-phù-đề.
Lúc đó, các thương nhân và thương chủ cùng đến chỗ ngựa chúa Kê-thi.
Bấy giờ, ngựa chúa đến bờ biển để lộ nửa thân mình và nói tiếng người:
- Ai muốn qua biển, ta sẽ đưa qua đến bờ kia an ổn! Ngựa chúa nói ba lần như thế.
Nghe ngựa chúa nói thế, các thương nhân vô cùng vui mừng, chắp tay đỉnh lễ ngựa chúa và nói:
- Quí thay ngựa chúa! Chúng tôi muốn qua, xin ngài cứu giúp, đưa chúng tôi sang bờ kia!
Ngựa chúa bảo các thương nhân:
- Các ngươi nên biết, những nữ la-sát không lâu nữa sẽ đến đây, đem con cái đến trước các ngươi, khóc lóc rất bi ai khổ sở. Lúc đó, các ngươi chớ sinh tâm luyến ái đắm nhiễm. Nếu các ngươi khởi tưởng như vậy, cho dù cỡi lên lưng ta cũng sẽ rơi xuống biển, bị la-sát ăn thịt. Còn nếu các ngươi nghĩ những thứ đó không liên quan đến mình, nó không phải con cái mình, thì dù các ngươi chỉ nắm một sợi lông của ta cũng sẽ được qua bờ kia an ổn.
Ngựa chúa bảo các thương nhân:
- Các ngươi hãy cưỡi lên lưng ta hoặc nắm lấy chân ta!
Các thương nhân hoặc cưỡi trên lưng, hoặc nắm chân, ngựa chúa cõng các thương nhân, miệng thốt ra những âm thanh xót thương, bay lên hư không đi nhanh như gió.
Khi ấy, các nữ la-sát nghe âm thanh đầy bi thương của ngựa chúa và tiếng bay trên hư không nhanh như gió, họ chợt tỉnh giấc vội vã đi tìm các thương nhân mà chẳng thấy. Họ tìm kiếm khắp nơi, chợt từ xa nhìn thấy các thương nhân cưỡi ngựa chúa, lướt trên hư không. Nữ la-sát cấp tốc mang con cái đuổi theo đến bờ biển đau khổ khóc lốc, kể lể thảm thiết.
- Các thánh tử, hôm nay lìa bỏ chúng tôi định đi đâu, khiến chúng tôi không có chủ, các vị là chủ của chúng tôi. Trước đây các vị rơi xuống biển đang kinh hãi, chúng tôi đã cứu vớt, chỉ mong các vị làm chồng chúng tôi. Hôm nay các vị phản bội chúng tôi, định đi đâu? Các vị vô ân vô nghĩa bỏ chúng tôi mà đi. Nếu chúng tôi có phạm lỗi gì, nay xin tạ lỗi, từ nay trở đi chúng tôi không làm điều ác nữa. Nếu các vị không cần chúng tôi nữa thì con cái đây các vị hãy mang đi!
Mặc cho các nữ la-sát khóc than, ngựa chúa Kê-thi vẫn thản nhiên mang năm trăm thương nhân vượt biển an ổn đến Diêm-phù-đề.
Các tì-kheo, ý các ông thế nào? Ngựa chúa Kê-thi khi ấy, nay chính là Ta, thương chủ thông minh trong năm trăm người chính là Xá-lợi-phất, năm trăm thương nhân chính là năm trăm đệ tử của San-xà-da Ba-li-bà-xà-ca.
Lúc đó, Ta giúp năm trăm thương nhân bị rơi vào taỵ nữ la-sát thoát khỏi khổ ách, vượt qua biển lớn, đến bờ kia. Ngày nay lại đến chỗ San-xà-da tà kiến, Xá-lợi-phất giáo hóa họ rồi đưa đến chỗ Ta. Bọn họ ở trong tà kiến mênh mông được Ta giáo hóa vượt qua biển sinh tử. Vì vậy, các ông nên tôn trọng cung kính Đức Phật”.
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Ngày xưa có năm vị đạo nhân cùng đi trên đường. Gặp trời đổ tuyết, họ ghé vào một ngôi miếu để tá túc. Miếu đó có đặt tượng quỉ thần do nhân dân nước đó thờ cúng. Lúc ấy, bốn vị nói:
- Tối nay trời quá lạnh, chúng ta hãy đốt tượng gỗ để sưởi ấm!
Một người trong số đó nói:
- Đây là tượng thờ, không thể phá! Họ liền thôi.
Trong ngôi miếu này có quỉ ăn thịt người, chúng bảo nhau:
- Ta chỉ ăn thịt của người sợ ta thôi, bốn người kia hung dữ, không thể đụng vào họ được.
Tối đến người không dám phá tượng nghe quỉ bàn nhau như thế, ông ngồi dậy bảo bốn người kia:
- Sao các ông không phá tượng nhúm lửa?
Mọi người liền lấy lửa đốt tượng, quỉ sợ bỏ chạy. Phàm người học đạo cũng như thế, cần phải cứng rắn, không nên yếu đuối để quỉ thừa dịp hại người”.
Kinh Duy-ma ghi: “Lúc sợ hãi, hàng phi nhân dễ thừa cơ làm hại”.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo bồ-tát Trí Tịnh rằng:

Phần 14

- Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ dùng phương tiện khéo léo sinh vào nhà thấp hèn, là muốn thị hiện diệt trừ vô minh kết. Bồ-tát ở trong thai mười tháng, đến ngày sinh ra không có tay chân, cha mẹ thấy vậy cho là quỉ, nên lén mang ra bỏ ngoài đồng trống không cho ai biết. Mấy ngày sau, người mẹ lại có thai, đủ mười tháng sinh ra một bé trai, tướng mạo đoan chính, trên đời hiếm có, ngày sinh ra thì tối chết. Cha mẹ đấm ngực hướng lên trời gào khóc:
- Thần cây, thần núi! Sao các ngài không thương chúng tôi, lần trước sinh một đứa con thì không có tay chân, mang bỏ ngoài đồng trống. Nay sinh được bé trai khôi ngô tuấn tú, tuy không sánh bằng thiên thần, nhưng sáng vừa sinh ra thì tối lại chết. Tâm can chúng tôi đau buốt, phải làm sao đây?
Vài tháng sau, người mẹ lại mang thai, đủ mười tháng sinh một bé trai, ba đầu, tám chân, bốn mắt, tám tay, tướng mạo vô cùng khủng khiếp. Cha mẹ, bà con muốn bỏ đi, bồ-tát thị hiện phương tiện, khiến họ không thể bỏ đi được. Cha mẹ hỏi:
- Ngươi là trời rồng, là quỉ thần ư?
Bấy giờ, đứa bé liền nói kệ thưa cha mẹ:
Chẳng phải trời, dạ-xoa
Tu-la, ca-lâu-la
Vì mẹ, trừ ngu ám
Nên sinh vào nhà này
Trước không có tay chân
Cũng chính là thân con
Sáng sinh rồi tối chết
Bát trụ Vô thượng tôn
Nay con thụ thân này
Ba đầu, tám tay chân
Tại sao bỏ con đi?
Thẳng đến cửa địa ngục
Thiêu đốt hết căn lành
Cầu diệt cũng rất khó!
Nay con lại thụ thân
Hiện tướng mạo đoan chính
Giữ giới không hủy phạm
Sinh vào nhà cha mẹ
Trước sau bỏ thân mạng
Số đó như bụi trần.
Bệnh chúng sinh rất nhiều
Cho uống thuốc cam lộ
Giúp đưa vào đạo pháp
Không để vào lối tà
Chư thiên hưởng phúc lạc
Thuốc cam lộ trị bệnh
Không trái lời Phật dạy
Vui giải thoát, niết-bàn ”,
Có bài tụng:
Tìm báu vỡ thuyền bè
Trôi dạt mong người cứu
Giả gần tìm nhiều cách
Yêu quái mê lòng người
Giả cứu vớt hiểm nạn
Dối nói lời yêu mến
Nếu chẳng nhờ ngựa chúa
Làm sao thoát khổ nguy?
24.3. CẢM ỨNG
24.3.1. Lưu Lung ở Đông Dương thấy máu yêu quái: Dương Lưu Lung, tự Đạo Hoằng, người Cô Thục, liên tiếp ba bốn đêm, ông thấy ngoài cửa nhà mình xuất hiện mấy đấu máu, không biết từ đâu mang đến. Sau đó, ông được phong làm Chiết xung tướng quân, dẫn quân chinh phạt phương bắc. sắp lên đường, trong nhà cơm đã nấu đều biến thành côn trùng; đem hấp, rang cũng đều biến thành côn trùng, lửa cháy càng mạnh thì côn trùng càng lớn. Sau đó, Lưu Lung tiến quân chinh phạt phương bắc, quân bại trận ở Đàn Khâu và bị Từ Long giêt.
24.3.2. Rồng yêu quái thời Lỗ Chiêu công: Lỗ Chiêu Công năm thứ mười chín (524 BC), có hai con rồng đấu nhau ở trong đầm Vị Uyên50 ngoài cửa Trịnh Trì.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Lòng dân không an, nên có rồng yêu quái đấu nhau trong nước vậy”.
24.3.3. Rồng yêu quái thời Hán Tuệ đế: Vào ngày mười lăm tháng giêng năm thứ hai (193. BC), đời Hán Tuệ đế có hai con rồng xuất hiện, một ở phía đông cung Lan Lăng và một con nằm trong giếng ở Ôn Lăng.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Người có đức mà bị hại, nên yêu long xuất hiện ở trong giếng; hành hình bạo ác nên hắc long từ giếng bay lên”.
24.3.4. Rắn yêu quái thời Hán Vũ đế: Vào tháng mười, niên hiệu Thái Thỉ thứ tư (92BC) đời Hán Vũ đế, tại nước Triệu có rắn từ ngoài thành bò vào cắn nhau với rắn trong thành. Có rắn chết bên cạnh miếu của Hiếu Văn. Hai năm sau, vào mùa thu xảy ra việc Vệ thái tử bị trùng độc hại, Giang Sung nước Triệu khởi binh.
24.3.5. Rắn yêu quái thời Hán Hoàn đế: Khi Hán Hoàn đế lên ngôi, bỗng có con rắn lớn xuất hiện trên điện Đức Dương ở thành Lạc Dương. Quan quản lí chợ là Thuần Vu Dực nói: “Rắn mà có vảy là điềm chiến tranh sắp xảy ra”.

Phần 15

24.3.6. Cá yêu quái xuất hiện vào năm Thái Khang đời Tấn: Vào khoảng niên hiệu Thái Khang (280-290), thời Tấn, có hai con cá chép xuất hiện trên nóc vũ khố. Trong phủ quân đội và vũ khố mà có loài mai vảy, đó cũng là biểu trưng cho binh khí. Cá thì cực âm, nóc nhà là thái dương. Cá xuất hiện trên nóc nhà, biểu hiện chí âm, là họa của chiến tranh phạm vào thái dương. Năm thứ nhất, Tuệ đế giết Dương Tuấn là cha cứa thái hậu ngay trước cửa cung, đồng thời phế hậu xuống làm dân thường. Sau đó, bà chết trong lãnh cung. Cuối niên hiệu Nguyên Khang, Giả hậu chuyên chế giết thái tử, sau đó hậu cũng bị phế. Khoảng thời gian mười năm mà nạn mẫu hậu xảy ra mấy lần. Cũng từ đó tạo thành họa hoạn.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Cá yêu quái không sống dưới nước mà nhảy lên đường, là điềm sắp có việc binh biến”.
24.3.7. Chuột yêu quái thời Hán Thành đế: Tháng chín niên hiệu Kiến Thỉ thứ tư (28BC), đời Hán Thành đế, ở phía nam thành Trường An có con chuột tha những lá cây bách khô đến làm ổ trên cây bách trong nghĩa địa và trên cây du. Vì thế, trên cây bách có nhiều ổ chuột. Trong ổ đỏ không có chuột, nhưng có khoảng vài thăng phân khô. Bấy giờ, các vị đại thần bàn nhau và cho rằng sẽ có hỏa hoạn xảy ra.
Chuột là loài vật nhỏ bé chuyên trộm vật, ban đêm ra kiếm thức ăn, ban ngày ẩn núp. Nay đang giữa ban ngày mà nó bỏ hang leo lên cây. Đây là điềm người thấp hèn sẽ được vinh hiển. Loại cây này cũng được trồng trong vườn của Vệ Tư hậu. Sau đó, Triệu hậu từ địa vị thấp hèn lên đến địa vị tôn quý, ngang hang với Vệ Tư hậu. Triệu hậu không có con nên bị giết hại. Năm sau, có người đốt ổ chuột, đó chính là điềm giết con.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Đại thần mà gian trá, lừa dối vua nên có điềm chuột yêu quái làm ổ”.
24.3.8. Chó yêu quái thời Hán Cảnh đế: Cảnh đế năm thứ ba (155BC), thời Hán, ở Hàm Đan có con chó đùa giỡn với lợn nhà. Bấy giờ, Triệu vương cùng với sáu nước làm phản, Triệu vương âm thầm cấu kết với quân Hung nô để tiếp viện.
Ngũ Hành chí cho rằng Triệu vương mê muội như loài lợn. ông ta kết giao với giặc Hung nô, giống như lợn chơi với chó.
24.3.9. Yêu mị thời Hán Chương đế: Thọ Quang hầu sống vào thời Hán Chương đế, có năng lực khắc chế yêu ma quỉ quái, khiến chúng tự trói và hiện nguyên hình. Bấy giờ, trong huyện đó có một người phụ nữ bị qui làm bệnh. Thọ Quang hầu đến khắc chế quỉ, thì thấy có một con rắn lớn vài trượng chết bên gốc cây ở ngoài cửa thành. Cây ấy có tinh, người nghỉ dưới gốc cây thì bị chết, chim đậu bị rơi. Thọ Quang hầu đến khắc vào cây, sang mùa hạ nóng bức, cây bị khô, rụng hết lá và thấy một con rắn lớn dài bảy tám trượng chết treo trên cây. Chương đế nghe được việc này, liền hỏi Thọ Quang hầu:
- Có việc này không?
-Có!
Chương đế hỏi:
- Trong cung có yêu quái, cứ sau nửa đêm thường thấy vài người mặc áo đỏ, tóc tai rối bời, cầm lửa đi theo trẫm, khanh có thể khắc chế được chăng?
Hầu nói:
- Thần có thể làm được, chỉ là tiểu quái mà thôi!
Chương đế liền sai người giả làm y như vậy. Thọ Quang hầu khắc chế ba người, cả ba đều lập tức chết lăn trên đất. Chương đế kinh hãi nói:
- Chẳng phải yêu quái, trẫm thử khanh mà thôi!
Chương đế liền sai người khiêng ba xác chết đi.
24.3.10. Giả Nghị thấy đại bàng yêu quái: Giả Nghị làm thái phó cho Trường Sa vương. Vào ngày Canh Tý tháng tư, có một con chim đại bàng bay vào đứng bên góc nhà ông, một hồi lâu mới bay đi. Giả Nghị mở sách ra xem, trong sách nói: “Chim hoang bay vào nhà, người chủ sẽ đi xa”. Giả Nghị lo lắng, nên có làm bài phú Bàng ô, quan niệm chết sống như nhau, họa phúc cũng thế, hầu phó thác số mệnh và kiên định ý chí.
24.3.11. Miếu yêu quái ở thành An Dương: Phía nam thành An Dương có một ngôi miếu, nếu ai ngủ qua đêm ở đó sẽ bị hại chết. Hôm nọ, có một thư sinh đến xin tá túc. Người giữ miếu nói:
- Chớ ngủ ở đây! Từ trước đến nay, những người ngủ qua đêm ở đây không ai sống sót cả.
Thư sinh nói:
- Không sao, tôi sẽ tự lo liệu! Thư sinh vào trong miếu, ngồi ngay thẳng đọc sách một hồi lâu mới ngủ. Nửa đêm cỏ một người mặc áo đen đến đứng ngoài cửa hỏi người chủ miếu:
- Trong miếu có người ư?
Chủ miếu đáp:
- Có một thư sinh đang đọc sách rất lâu vừa mới nghỉ, hình như chưa ngủ.
Người kia nói khẽ, thở dài rồi bỏ đi.
Một lát sau, lại có một người trùm khăn đội mũ, mặc áo đỏ đến gọi chủ miếu hỏi:
- Trong miếu có người sao?
Chủ miếu đáp như trước. Ông ta nói khẽ, thở dài rồi bỏ đi.
Thế là thư sinh được an ổn. Sau đó, thư sinh đến ngay chỗ những người lúc trước đã gọi mình, làm bộ hỏi người giữ miếu:
- Trong miếu có người ư?
Chủ miếu cũng đáp giống như trước.
Thư sinh lại hỏi:
- Người mặc áo đen đến đây là ai?
Đáp:
- Heo mẹ ở gian phía bắc.
Hỏi:
- Người trùm khăn đội mũ, mặc đồ đỏ đến đây là ai?
Đáp:

Phần 16

- Gà cha ở gian phía bắc.
Hỏi:
- Ông là ai?
Đáp:
- Tôi là rết già.
Rồi thư sinh quay về im lặng đọc sách đến sáng, không dám nằm ngủ. Sáng sớm dân trong làng đến miếu xem và kinh ngạc hỏi:
- Làm sao ông sống sót?
Thư sinh đáp:
- Mọi người mang hộp tơ đến đây rồi cùng tôi bắt yêu quái. Họ bèn đào ngay chỗ mà thư sinh khi đêm đã đối đáp, quả nhiên bắt được con rết lớn như cá tì bà, phun độc xa vài thước; ở gian nhà phía tây bắt được con gà trống và gian phía bắc bắt được con heo. Họ giết được ba con vật đó thì miếu dữ được an ổn, hoàn toàn không còn tai họa.
24.3.12. Rắn yêu quái ở quận Mân Trung, Đông Việt: Quận Mân Trung ở Đông Việt có một ngọn núi cao vài chục dặm, phía bắc chân núi có một cái vũng nước. Trong đó có một con rắn dài bảy tám trượng, nằm cuộn tròn một trượng, mọi người trong quận vô cùng lo sợ.
Bấy giờ, gia đình của Đô úy và Trưởng sử thành Đông Trị có rất nhiều người chết, họ đem trâu, dê cúng tế mà vẫn không trừ được họa. Rắn thường cho người mộng thấy, hoặc bảo cúng tế quỉ thần, hoặc nói muốn được ăn đồng nữ mười hai, mười ba tuổi. Đô úy cùng Trưởng sử đều lo sợ, bệnh cứ lan truyền mãi. Họ cùng nhau tìm con gái của nô bộc và con gái nhà có tội mang cho rắn ăn.
Đến tháng tám, buổi sáng cúng tế, người ta đặt cô gái ở miệng hang, đến tối rắn ra ăn. Nhiều năm như thế, tất cả đã ăn hết chín người nữ. Một lần, gần đến ngày mà tìm khắp nơi không có người nữ để cúng tế. Bấy giờ, ở huyện Tương Lạc, nhà họ Lý sinh sáu người con gái; đứa nhỏ nhất tên Kí, nghe tin liền xin đi, cha mẹ không cho. Kí nói:
- Cha mẹ không có phúc, chỉ sinh sáu người nữ, không được một người nam, tuy có cũng như không. Người nữ không có công báo hiếu và giúp đỡ cha mẹ, đã không thể cung phụng cơm áo mà còn hao phí tiên của, sống chẳng lợi ích gì, không bằng chết sớm thì hơn! Bán thân mình cũng được một ít tiền để cung phụng cha mẹ, há không tốt sao?
Cha mẹ thương xót không cho Kí đi, nhưng Kí âm thầm bỏ đi không ai ngăn cấm được. Kí đến một nhà giàu kia xin cây kiếm tốt và con chó bắt rắn.
Đến tháng tám, Kí vào ngồi trong miếu, ôm kiếm bên mình và đăt theo con chó. Kí chuẩn bị một ít cơm gạo rang trộn mật đặt trên miệng hang. Đến tối, rắn bò ra, đầu nó lớn như cái vựa, mắt tròn lớn như tấm gương hai thước. Khi nghe hương thơm của bánh tỏa ra, rắn bò đến ăn. Kỉ liến thả chó đến cắn và từ phía sau chém, rắn quá đau đớn, vọt ra đến giữa sân thì chết. Kí vào trong hang xem thì thấy đầu lâu của chín người nữ kia, liền đưa ra ngoài và nói lớn:
- Mọi người quá yếu hèn, nên bị rắn ăn, thật là đáng thương!
Nói xong, Kí thong thả trở về. Việt vương nghe được việc này, liền cưới Kí làm hậu, phong cho cha nàng làm Huyện lệnh Tương Lạc, mẹ và dì đều được ban thưởng. Từ đó, Đông Trị không còn ỵêu ma quỉ quái nữa. Đến nay dân chúng vẫn còn đồn đại việc này.
24.3.13. Chuột yêu quái ờ nhà Vương Chu Nam tại Trung Sơn: Vào khoảng niên hiệu Chính Thi (244-249) Vương Chu Nam ờ Trung Sơn làm quan trưởng Tương Ẩp, ông thấy một con chuột từ trong hang chạy ra, đứng ngay sảnh đường và nói:
- Chu Nam! Ngày đó tháng đó ông sẽ chết!
Chu Nam vội chạy đến, không lên tiếng, chuột liền chui vào hang. Sau đó, đến thời hạn, chuột mặc áo đỏ, vấn khăn đội mũ lại chạy ra và nói:
- Chu Nam! Đúng giờ Ngọ hôm nay ông sẽ chết!
Chu Nam vẫn không nói gì, chuột lại chui vào
hang. Trong chốc lát, nó vài lần chạy ra rồi lại chui vào, và cũng nói như trước. Đên giờ ngọ chuột lại nói:
- Chu Nam! Ông không lên tiếng, tôi còn biết nói gì?
Chuột nói xong, lăn ra đất chết, áo quần, khăn mũ đều biến mất. Chu Nam vội đến xem thì thấy như chuột bình thường.
24.3.14. Cây yêu quái trong ruộng của Trưomg Di ở Quế Dương: Thái thú Giang Hạ Trương Di tự Thăng Cao, quê ở Hà Lăng. Giữa ruộng của ông có một cây lớn hơn mười ôm, nhánh lá sum suê che kín sáu mẫu, không thể trồng lúa được. Thăng Cao sai người chặt bỏ, mới chặt vài búa, có một dòng máu từ cây chảy ra, người kia sợ hãi trở về thưa với Thăng Cao. Thăng Cao tức giận nói:
- Cây lâu năm nhựa nó màu đỏ, cỏ gì đâu mà lạ?
Thăng Cao đến chặt thì máu chảy ra rất nhiều, ông lại chặt cành. Ở đó có một cái hang, trong hang có ông lão tóc bạc cao bôn năm thước bước ra, đên chỗ Thăng Cao. Thăng Cao dùng dao chém ông chết. Bốn năm ông lão như thế đều bị Thăng Cao chém chết. Mọi người xung quanh đều kinh hãi cúi mặt xuống đất, thần sắc của Thăng Cao vẫn nghiễm nhiên, không có gì biên đổi. Mọi người từ từ nhìn lên, thây những ông già đó giống người mà chẳng phải người, giông thú mà chẳng phải thú. Đây là loài yêu tinh quỉ mị của cây, đá sao? Chặt cây xong, năm đó Thăng Cao được làm Tích tư không Ngự sử và Thứ sử Duyện châu.
24.3.15* Ngôi đình yêu quái của Tống Đại Hiền ở Nam Dương: Tại Tây Ngạc có một ngôi đình, người nào nghỉ qua đêm trong đó đều bị hại. Đại Hiền có chính đạo. nên không hề gì. Một hôm, ông lên lầu của ngôi đình này ngồi gảy đàn, không bố trí binh mã. Đến nửa đêm, có một con quỉ bước lên cầu thang nóỉ chuyện với Đại Hiền. Nó trừng mắt nghiến răng, dáng vẽ rất hung dữ, Đại Hiền vẫn ngồi yên gảy đàn bình thường. Quỉ bỏ đi vào chợ lấy một cái đầu người chết rồi quay trở lại nói với Đại Hiền:
- Có thể nấu chín cái này rồi ăn chăng?
Nói dứt lời, nó ném đầu người đến trước mặt Đại Hiền. Đại Hiền nói:
- Rất đẹp. Tối nay ta ngủ mà không có gối, gặp cái này đúng lúc quá!
Quỉ lại bỏ đi, một hồi lâu rồi trở lại hỏi:
- Có thể bắt tay chăng?

Phần 17

Đại Hiền nói:
- Được!
Nói chưa dứt lời, Đại Hiền liền dùng tay nắm hông quỉ, quỉ chỉ kịp la lên: “Chết chết!”. Đại Hiền liền giết con quỉ, sáng mai ra xem chính là con chồn. Từ đó, người nghỉ lại trong đình không bị hại nữa.
24.3.16. Đời Ngô, yêu quái hiện trong đô đình ở Lư Lăng: Vào thời Ngô, ma quỷ thường xuất hiện tại một căn phòng trong nhà nghỉ ở quận Lư Lăng, người ngủ lại qua đêm ở đó đều bị hại chết. Vì thế, từ đó về sau các sứ thần không ai dám nghỉ nơi đây.
Bấy giờ, có Thang Ưng ở Đơn Dương rất giỏi võ, can đảm được cử đi sứ đên quận Lô Lăng và nghỉ lại trong căn phòng đó. Quan sở tại thưa với Thang Ưng không nên, nhưng Thang Ưng không nghe.
Thang ưng bảo tùy tùng ra ngoài ngủ, chỉ cầm theo một thanh dao lớn; nàm đến khoảng canh ba, bỗng có người gõ cửa.
Thang Ưng hỏi:
- Ai đó?
Người kia đáp:
- Bộ quận đến báo tin!
Thang Ưng bảo vào, sau khi đã báo tin, người kia liền đi. Một lát sau, lại có người gõ cửa như trước.
Thang Ưng hỏi:
- Ai đó?
Người kia đáp:
- Phủ quân báo tin!
Thang Ưng lại bảo vào, thì thấy một người mặc đồ đen bỏ đi. Thang Ưng cho là người, không chút nghi ngờ. Nhưng chẳng mấy chốc lại có tiếng gõ cửa và nói Bộ quận và Phủ quân đến; lúc này Thang Ưng mới nghi: “Giờ này là nửa đêm, hơn nữa Bộ quận và Phủ quân không thể đến cùng lúc”. Thang Ưng biết chắc đó là ma quỷ, nên cầm thanh đao tiến đến gần chúng, thấy có hai người mặc y phục chỉnh tề, cùng tiến đến chỗ ngồi. Người xưng Phủ quân cùng nói chuyện với Thang Ưng. Đang lúc nói chuyện, Bộ quận bỗng nhảy đến lưng Thang Ưng. Thang Ưng quay người lấy dao chém trúng Bộ quận. Phủ quân vội đứng dậy chạy ra ngoài. Thang Ưng cầm đao đuổi theo đến chân tường phía sau nhà thì bắt kịp và chém mấy dao, rồi ông trở về nằm ngủ lại. Sáng ngày ông dẫn người đến tìm, nhưng chi thấy vết máu. Họ lần theo vết máu, tìm được hai xác chết kia. Người xưng là Phủ quân chỉnh là hồ tinh, người xưng là Bộ quận chính là li tinh. Từ đó về sau, vĩnh viễn không còn yêu quái.
24.3.17. Ông lão ở quận Đông: Khoảng niên hiệu Kiến An (196-198), có yêu quái xuất hiện trong một gia đình ở quận Đông. Cái bồn của nhà ấy tự nhiên phát ra tiếng kêu lớn giống như có người trong đó. Mâm thức ăn trên bàn để phía trước, bỗng nhiên không còn, gà đẻ trứng cũng mất. Suốt mấy năm như thế, thật đáng ghét.
Bấy giờ, người nhà làm nhiều thức ăn, đậy kín đặt trong phòng và núp sau cánh cửa quan sát, quả nhiên yêu quái lại đến và phát ra tiếng kêu như trước. Người nhà liền đóng cửa, lục soát khắp căn phòng, nhưng không thấy gì, nên dùng gậy đập xuống đất một hồi lâu thì nghe ở góc phòng có tiếng người kêu: “Thôi, thôi! Chết mất!”. Mọi người mở cửa thì thấy một ông lão hơn trăm tuổi, nói không ra lời, tướng mạo như thú vật. Mọi người dò hỏi ở mấy làng trên, mới tìm được người nhà của ông ta. Họ nói ông bỏ nhà đi đã hơn mười năm, nay gặp lại ông vui mừng khôn xiết.
Năm sau, ông lại bỏ đi. Bấy giờ, nghe có người nói ở quận Trần Lưu lại có yêu quái giống như vậy. Người thời bấy giờ cho là chính ông lão này gây ra.
24.3.18. Đời Tấn, hồ li làm người cha: Vào đời Tấn, một gia đình ở Ngô Hưng sinh được hai người con trai. Một hôm, hai người con đang làm ruộng, bỗng người cha đến la mắng, đánh đập họ. Hai người con về thưa với mẹ. Người vợ hỏi chồng, ông vô cùng kinh hãi. Vì thế, họ biết đó là quỷ mị. Người cha bảo hai con giết con quỷ đó. Quỷ nghe vậy trốn mất không quay trờ lại. Người cha sợ con bị quỷ hại, nên ra đồng xem thử, hai người con tưởng là quỷ nên giết cha và đem chôn. Bấy giờ, quỷ quay trở lại giả làm người cha và nói với người nhà là hai con đã giết được yêu quái. Chiều tối hai người con trở về và cả nhà cùng nhau ăn mừng.
Nhiều năm trôi qua, họ sống với nhau mà không hê biết gì cả. Một hôm, có vị sư đi ngang nhà ấy và nói với hai người con:
- Cha các người có tà khí nặng.
Hai người con thưa lại với cha. Người cha vô cùng tức giận. Hai người con ra kể lại, vị sư bảo hai người con hãy mau đi khỏi đây. Rồi vị sư vừa bước vào nhà vừa lên tiếng, thì người cha kia biến thành con hồ li, chui núp nơi gầm giường và bị bắt. Nhờ đó, hai người con mới biết người bị giết trước kia chính là cha mình. Họ cải táng và chôn cất lại đàng hoàng. Sau đó, một người hối hận tự sát, người kia vì phẫn uất quá độ cũng qua đời.
243.19. Đời Tấn, yêu quái ở điện Ô Sào tại Nam Kinh: Vào đời Tấn, ở chùa Nam Kinh có bài kí ghi:
- Chùa Ba Đê ở Thanh Lăng, Tân Lâm, huyện Mạt Lăng do Giản Văn đế khởi xây vào niên hiệu Hàm An thứ hai (372), đời Tấn, chùa vốn có tên là Tân Lâm. Bấy giờ, ở chùa Ô Giang, quận Lịch Dương có vị ni tên Đạo Dung, tu hành khổ hạnh, dự đoán được việc họa, phúc, người thời bấy giờ gọi là Thánh Ma.
Niên hiệu Hàm An thứ nhất (371), có quạ đến làm ổ trong cung vua. Giản Văn đế lệnh cho thầy bói đoán quẻ, quẻ ghi: “Ở phía tây nam kinh đô có một vị ni có khả năng hàng phục được yêu quái này”. Văn đế liền sai sứ đến chùa Ô Giang mời Thánh Ma vào cung để hỏi việc lành dữ này. Thánh Ma nói: ‘Tu đức có thể trừ được tai họa, trì trai có thể chuyển được ma chướng’. Nghe vậy, Văn đế liền cho lập trai đàn bảy ngày và siêng năng lễ sám. Pháp sự chưa hoàn tất, bỗng có bầy quạ từ đâu đến mang ổ bay đi, trong chốc lát thì không còn nữa. Văn đế thấy thế, niềm tin càng sâu sắc, nhân đó vua cho xây dựng chùa này để cúng dường ni sư.
24.3.20. Đời Tấn, hồ li hóa làm phụ nữ: Vào thời Hải Tây công, đời Tấn, có một người nghèo khốn, khi mẹ chết không có tiền để lo việc chôn cất. Do đó, anh đem quan tài của mẹ vào chôn trong núi sâu. Để tỏ lòng hiếu thảo, anh ta ở bên mộ làm một đôi guốc gỗ dâng mẹ, làm suốt ngày đêm không nghỉ. Hôm nọ, lúc trời vừa tối, bỗng có một phụ nữ bồng con đến xin ngủ nhờ. Đêm đã khuya dần mà anh ta vẫn chưa làm xong đôi guốc. Người phụ nữ muốn ngủ, nên anh cho hai mẹ con họ

Phần 18

ngủ bên đống lửa. Khi hai mẹ con người kia ngủ say thì biến thành con chồn ôm một con gà đen. Anh ta liền giết chết và ném xác xuống cái hố phía sau.
Sáng hôm sau, có một người thanh niên đến hỏi kĩ:
- Tối qua cỏ người đến đây xin ngủ nhờ, nay họ ở đâu?
Anh ta nói:
- Chỉ có một con chồn, tôi đã giết nó rồi.
Người ấy hỏi:
- Anh đã giết oan vợ tôi, sao còn nói giết chồn. Chồn ấy giờ ở đâu?
Rồi họ cùng nhau đến hố xem thì thấy con chồn đã biên thành người phụ nữ. Người thanh niên kia liền trói anh ta giải đến quan phủ để đòi đền mạng. Quan phủ xử anh ta tội chết. Anh ta thưa với quan huyện:
- Người này thật là ma quỷ, chỉ cần đem chó săn đến là biết được sự thật thôi!
Người thanh niên kia lại đến thúc giục quan huyện lệnh xử từ anh ta. Bấy giờ, quan huyện lệnh hỏi người thợ săn:
- Yêu ma có thoát được chó săn không?
Người thợ săn nói:
. Yêu ma vốn sợ chó và cũng không thể trốn thoát được.
Quan huyện lệnh liền cho đem chó săn đến người thanh niên kia lập tức biến thành con chồn và bị bắn chết tại chỗ, phụ nữ kia cùng biến thành chồn.
24.3.21. Đời Tấn, hồ li hóa làm người nữ và sinh yêu quái: Khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376-397) đời Tấn, có Thuần Vu Căng ở trước chùa Ngõa Quan, tuổi trẻ, tính tình chân thật, ngay thẳng. Một hôm anh đưa khách đến phía nam thành Thạch Đầu thì gặp một người nữ rất đẹp, lòng ông rất vui thích. Nhân đó chuyện trò han hỏi tâm đầu ý hợp, họ cùng đến góc thành phía bắc vui chơi rồi chia tay. Đúng hẹn, họ lại gặp nhau và Căng muốn cưới cô ta làm vợ. Cô gái nói:
- Thiếp được làm vợ chàng dù chết cũng mãn nguyện, nhưng thiếp còn có cha mẹ và nhiều anh em, nên cân phải hỏi chàng!
Căng liền sai tì nữ đến xin cha mẹ cô gái kia hỏi cưới và họ đã nhận lời. Người nữ ấy sai tì nữ lấy một trăm cân bạc, một trăm tấm lụa giúp Căng làm lễ thành hôn.
Một thời gian lâu, họ có với nhau hai người con. Căng được bí thư giám Minh Quả tập họp sai dịch đến mời. Họ chuẩn bị ngựa xe, hộ tống trước sau và thổi kèn đánh trống vang trời đến đón Căng. Đoàn rước đi được vài ngày thì có một người thợ săn đến tìm Căng và mấy chục con chó săn của ông ta xông thẳng đến cắn vợ con của Căng. Lập tức vợ con của Căng đều biến thành chồn’, vàng bạc, lụa là đều biến thành cỏ và xương người chết.
24.3.22. Đời Tống, con gái Trương Xuân: khoảng niên hiệu Vĩnh Sơ (420-423), lúc Trương Xuân làm thái thú Vũ Xương, có người gả chồng cho con gái, nhưng chưa kịp lên xe hoa bỗng nhiên phát điên, chạy ra ngoài đánh người và la hét:
- Không muốn lấy chồng, lo gia đình!
Thầy bói cho là yêu quái, nên người ta ném cô gái xuống sông.
24.3.23. Đời Tống, quỉ mị trong nhà Lương Đạo Tu: Lương Thanh, tự Đạo Tu, quê ở An Định, sống trong một ngôi nhà cổ của Hoàn Từ Châu ở phường Hữu Thượng, Dương châu.
Tháng hai, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười bốn (437), trong nhà xuất hiện vài luồng ánh sáng lạ và nghe có tiêng chẻ tre, Lương Thanh liền sai tì nữ Tùng La đến xem. Tì nữ gặp một người và hỏi thăm lai lịch, người kia nói:
- Tôi là Hoa Phù Dung, ở cung Thái vi tử, được Lục Giáp chí tôn sai xuống trần, do gặp nơi ở xưa, nên nán lại mà chưa đi!
Bấy giờ, có một kẻ thân người, đầu chim, giương mắt ném phân dơ vào Thanh. Lương Thanh dùng cung bắn theo, tiếng dây cung vừa buông nó biến mất liền. Những mùi tên Lương Thanh bắn ra đều dính màu đỏ.
Lại thấy một con vật hình dạng nhu con khỉ treo trên cây. Lương Thanh sai người đâm thì có một cái bắp chân rơi xuống đất, rồi biến mất. Vài ngày sau, có một người què chân đến nhà tì nữ xin cơm. Tì nữ chỉ cho người ấy một vắt cơm, bỗng vắt cơm tăng lên hai thăng.
Vài ngày sau, lại có một bầy quỉ đến, tướng mạo xấu xí, hung dữ vô cùng. Chúng kéo đi, chăn màn, quần áo quét đất bụi bay mù mịt suốt mấy ngày không dứt. Tì nữ đi hái cúc, trên đường gặp một con qui mặc áo vấn khăn, cưỡi ngựa, có vài chục người theo bảo vệ. Quỉ nói với tì nữ:
- Tôì là tiên nhân trên trời, đừng gọi là quỉ.
Tì nữ hỏi:
- Tại sao ông thường ném đồ dơ?
Quỉ đáp:
- Phân dơ là điềm của tiền tài. Ném vào là điềm tiền tài đến nhanh.
Bỗng chốc Lương Thanh được làm Vũ tướng quân và Thái thú quận Bắc Lỗ. Lương Thanh ghét loài quỉ từ lâu, nên cho mời đạo nhân Ba-la-điệp người nước ngoài đọc thần chú. Các loài quỉ sợ hãi, hoặc leo qua tường, chui vào hang bò chạy, kêu lên như tiếng chim. Bấy giờ, tại đô thành này không còn quỉ nữa.
Lương Thanh ở quận Bắc Lỗ chưa được bao lâu, một hôm vào nửa đêm, Tùng La lại thấy vài vạn người cầm vũ khí uy phong. Trong đó có một người vấn khăn đưa cho Tùng La một bức thư khoảng mười bảy chữ, nét bút đẹp hơn cả Hi Hiến54. Người kia lại ngâm:
Bước lên lầu Khổng Tước Xa nghe tiếng phượng hoàng Trèo lên đỉnh Sô sơn Lờ mờ thấy Lương, Lỗ.
Bấy giờ, chú của con quỉ chết. Lễ tang của loài quỉ cũng có khóc than và phúng viếng chẳng khác gì người đời. Con quỉ truyền mệnh lệnh đã từng đến xin Tùng La một phong thư, và ghi: “Thư của tử tội Cố Khổng Tu” dùng phúng điếu người chết. Văn từ rất bi thương, trình bày rất thứ tự. Lại nói: “Gần đây ông qua phương tây, gặp một vị sa-môn tự xưng là Đại-ma-sát và hỏi thăm tin tức của vua. Sa-môn liền đưa ông năm viên hương mang về trao cho vua”. Lương Thanh trước kia phụng mệnh đi sứ ở Đôn Hoàng nhớ có gặp vị tăng này. Trong nhà của Lương Thanh có một người tì nữ sinh ở đây.

Phần 19

Vợ của Vương Sính ở Lang Da là con gái họ Tạ ở quận Trần sinh một bé trai, lúc nhỏ tên là Nô Tử. Trải qua nhiều năm, Vương lấy tì nữ Chiêu Lợi của vợ làm thiếp.
Vào niên hiệu Nguyên Gia thứ tám (431) Tạ thị bị bệnh chêt, Vương Sính xây một ngôi mộ lớn tại cối Kê, lại xây một mộ giả tại sườn núi phía đông Kiến Khang, hành tế lễ rất qua loa, thình linh nhập bàn thờ. Tạ thị bỗng từ trên hư không hạ xuống đất giận dữ hỏi:
- Tại sao không làm bài ca điếu tế, để cho tôi phải cô tịch lên đường?
Vương Sính nói:
- Vì không phải chôn cất vĩnh cửu, cho nên không làm đủ nghi thức.
Vào thời Chu, Trọng Ni nói với Quì Hoàn Tử rằng: “Khâu tôi nghe yêu quái của cây đá là Võng lượng và Quì (Vi Chiêu chú thích răng: Gô đá là núi. Loài Quì một chân, người nước Việt gọi là Sơn tích, hoặc gọi là Độc túc. Võng lượng là tinh của núi non, thích học tiếng người, nhưng mê hoặc lòng người). Hai chuyện trên trích từ Quốc ngữ.
Sừ kỉ ghi: “Tần Thỉ Hoàng nói: ‘Quỉ trong núi chẳng qua chỉ biết trước được một năm”’.
24.3.24. Người giống yêu quái: Kinh Thần dị ghi: “Trong núi sầu ở Tây Phương có một người cao hơn một thước, thân trần đi bắt tôm cua sinh sống, tính tình chẳng sợ ai. Nếu người nào ngủ qua đêm, ông ta vui mừng lấy lửa của người đó nướng tôm, cua. Rình xem lúc không có người thì lén trộm muối để ăn cua, tự gọi là Sơn Tích. Từ này là tự xưng. Mọi người thường lấy trúc bỏ vào lửa đốt khiến khói bay ngùn ngụt, làm cho loài yêu tinh trong núi kinh hãi. Nếu người nào xúc phạm thì bị hành nóng lạnh” (loại này tuy hình người, nhưng cũng là yêu ma quỉ quái. Ở trong núi rừng đều có loài này).
24.3.25. Đời Tống, người họ Vương gặp cây gỗ yêu quái: Vào niên hiệu Nguyên Gia thứ nhất (424), đời Tống, người họ Vương ở Phú Dương đặt cái lồng bắt cua trong một con rạch. Đến sáng ông tới xem, thấy có một khúc cây dài hơn hai thước trong lồng, khiến lồng mở toang, cua bò ra hết. Ồng sửa cái lồng và lấy khúc cây bỏ lên bờ. Sáng hôm sau, ông đến xem lại thấy thân cây ấy nằm trong đó, cái lồng vẫn mở ra như ừước. Vương lại sửa và lấy cây ra. Sáng mai đến xem, Vương vẫn thấy như trước. Vương nghi cây này là yêu quái, nên bỏ vào một giỏ tre, buộc miệng mang về nhà định dùng búa chặt. Nhưng trên đường về, cách nhà khoảng ba dặm, nghe có tiêng động trong lồng tre, ông ngoái nhìn thì thấy trên khúc cây kia biến thành một vật mặt người thân khỉ, một tay, một chân, nói với Vương rằng:
- Tính tôi thích cua, suốt ngày xuống nước phá cái lồng cua của ông để vào ăn cua. Tôi phụ ông như vậy mà thôi! Mong ông tha thứ, mở giỏ cho tôi ra! Tôi là thần núi, sẽ khiến rất nhiều cua vào lồng của ông.
Vương nói:
- Ông hại tôi trước sau chẳng phải một lần, thật đảng phải chết.
Khúc cây cứ xin tha thứ mãi. Vương quay đầu đi không chấp nhận.
Khúc cây hỏi:
- Ông tên họ là gì? Tôi muốn biết tên họ của ông Nó cứ hỏi nhiều lần như thế, Vương vẫn không trả lời.
về đến gần nhà, nó hỏi:
- Đã không thả tôi ra, lại không nói tên họ cho tôi biêt, phải tính sao đây? Chắc phải chết.
về đến nhà, Vương đốt lửa thiêu nó. Từ đó trở về sau không còn quỉ mị nữa. Người dân trong nước cho rằng, yêu tinh trong chốn núi rừng mà biết tên họ thì có thể làm hại người đó. Sở dĩ, nó luôn miệng hỏi tên họ của Vương là muốn hại ông để thoát thân.
24.3.26. Đời Đường, Trương Lượng có tích lịch yêu quái: Theo Minh báo kí, ngày xưa, Trương Lượng làm đô đốc u châu, ông đến chùa Trí Tuyền lễ Phật, thấy một pho tượng lớn, đầy đủ tướng hảọ, liền đến cúng dường. Một hôm bỗng có sấm sét nổi lên, các trụ trong nhà nghiêng ngã, có cây gỗ đập vào trán của Trương Lượng, nhưng bị thương không nặng. Khi ông đến chùa lễ bái thì thấy trên trán của pho tượng kia có một vết thủng.
Vào khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650), quanh cổ của pho tượng kia bỗng nhiên có vết sẹo nhỏ như sợi chì. Người thời bây giờ đều cho đó là điềm không tốt. Không lâu sau, quả thật Trương Lượng phạm tội và bị giết, vết đó đến nay vẫn còn.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục