Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 30 - CHƯƠNG TAM BẢO TRỤ TRÌ

10/11/2015

QUYỂN 30 Quyển này có một chương Tam bảo 22. CHƯƠNG TAM BẢO TRỤ TRÌ 22.1. LỜI DẪN Tự thân giáo pháp không thể hoàng truyền, phải nhờ con người mới lưu thông. Vì người có tà chính, nên pháp tùy người mà bị sai lệch. Người...

PUCL QUYỂN 30 - CHƯƠNG TAM BẢO TRỤ TRÌ
Phần 1

QUYỂN 30
Quyển này có một chương Tam bảo
22. CHƯƠNG TAM BẢO TRỤ TRÌ

22.1. LỜI DẪN
Tự thân giáo pháp không thể hoàng truyền, phải nhờ con người mới lưu thông. Vì người có tà chính, nên pháp tùy người mà bị sai lệch. Người muốn làm cho Tam bảo trụ thế dài lâu, thì bên trong phải đầy đủ đức hạnh, am hiểu luật tạng, không sợ gian lao, không thích tiếng khen. Như thế mới khiến cho tăng tục xa gần vui mừng có nơi nương tựa, những người tu hành trong thiên hạ kính mộ chính pháp, tiến tu đạo nghiệp. Tăng tục nương cậy lẫn nhau, khiến cho giáo pháp tồn tại lâu dài. Cho nên luật Tứ phần ghi: “Điều không cần chế thì không chế, điều gì đã chế mà được thi hành, dần dần khiến giáo pháp được tồn tại lâu dài”. Nếu pháp vượt trên thường tình mà lời nói không qui củ thì đồng với thế tục. Như vậy đâu thể làm khuôn mẫu cho mọi người? Nên cần xét lại bản thân. Cho nên luật ghi: “Điều không cần chế mà chế, đã chế mà không thi hành, thì dần dần khiến cho giáo pháp mau chóng hoại diệt”.
Thường thấy tại nhà những vương công quyền quý có nhiều tăng ni chữa bệnh, hoặc có người châm cứu, bốc thuốc, ham cầu danh lợi; hoặc có người đánh bạc, ca hát, vui đùa không giữ oai nghi; hoặc có người tổ chức cưới gả, mai mối nữ nam; hoặc có người ngang nhiên tụ tập ăn thịt uống rượu; hoặc có người y phục trang sức xa hoa, ngựa xe lộng lẫy; hoặc có người bắt tay, vỗ tay giống như người thế tục; hoặc có người kết thân với bạn dữ, cậy nhờ người ác, dẫn đến tiếng xấu khắp nơi, ô nhiễm lòng người, hàng quyền quí đều nghe, vua quan đều biết. Thế là mọi người cho cả tăng đoàn đều như vậy, đều chê bai hết. Thật oan cho người tu hành thanh tịnh!
Không phải tất cả tăng ni không nương vào thánh giáo, mà cũng do người tục không biết các bậc hiền lương. Thật ra chỉ vì một vài phàm tăng mà chê bai cả số đông tăng ni đức hạnh. Hoặc có người siêng năng học hỏi, thông suốt ba tạng; có người giảng đạo, làm lợi ích chúng sinh suốt năm không nghỉ; có người chuyên tâm thiền quán, thường ngồi không nằm; có người siêng năng đọc tụng kinh luận, không hề giải đãi; có người sáu thời lễ sám, ngày đêm hành đạo; có người đắp y, khất thực, đạm bạc vô vi; có người ở nơi rừng sâu hoang vắng tu hạnh Đầu-đà; cỏ người chuyên làm phúc lợi cúng dường Tam bảo; có người kiến lập đạo tràng, giáo hóa kẻ tục vào đạo; có người in kinh, đúc tượng, xây dựng chùa chiền.
Trên đây chỉ lược trình bày, những bậc như thế rất nhiều, làm sao ghi hết! Những bậc danh đức này thường trụ nơi đạo tràng, chuyên tu phúc trí, không lãng phí một khoảnh khắc nào, không rảnh để nhiễm tục duyên. Vì thế, hàng công khanh, quyền quí chẳng biết chẳng hay, nên họ chỉ biết kết thâm tình với bọn xấu, do nhiễm thói quen lâu ngày, nên họ cho sai là phải; dẫu gặp thánh tăng cũng cho là phàm phu, khởi tâm sân hận, ngã mạn, đâu biết cung kính! Lắng tâm suy gẫm việc này, há chẳng oan uổng lắm ư!
22.2. TRỊ PHẠT
Từ khi Phật vào niết-bàn, chính giáo truyền về phía đông. Phật pháp được phó chúc cho quốc vương hộ trì. Nhưng vương pháp lấn ép, khiến Phật pháp ngày càng suy yếu, phép tắc trì phạm cũng dần diệt mất, nếu nghe người nói thì lại bị lăng nhục. Vì tăng tục xấu ác, tâm quấy lâu ngày, giả sử muốn trị phạt, sửa ác thành thiện, thì cậy thế lực quan lại ép uổng người thanh tịnh. Tăng chúng đã không có quyền lực, trái lại còn bị ô nhiễm tịnh tâm, lòng gian tà càng tăng, thật là khó hàng phục, từ đó dẫn đến đại pháp đình trệ, giáo pháp bị suy tàn.
Vì thế kinh Đại tập ghi:
- Đời vị lai, nếu các quốc vương, người thuộc bốn chủng tính vì hộ pháp thì có thể xả bỏ thân mạng. Thà hộ trì một tì-kheo tu tập đúng pháp, chứ không hộ trì vô lượng ác tì-kheo. Khi mạng chung, vị quốc vương đó được sinh về Tịnh độ. Nếu quốc vương ủng hộ các ác tì-kheo thì trong vô lượng kiếp không được làm người. Nếu quốc vương không trị phạt các ác tì-kheo, làm cho Tam bảo bị đoạn diệt, là cướp mất con mắt của chúng sinh, dù công đức vô lượng đời tu tập bố thí, trì giới, trí tuệ thì cũng bị mất hết. Vả lại, tì-kheo phạm tội, cần phải trị tội một tháng, hai tháng làm việc khổ nhọc, hoặc không nói chuyện, không ngồi chung, hoặc trục xuất ra khỏi một nước cho đến bốn nước có Phật pháp lưu hành. Trị tội các ác tì-kheo như thế, các thiện tì-kheo sẽ an lạc thụ pháp, do vậy Phật pháp tồn tại lâu dài, không bị đoạn diệt.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Trái phép vua thì phạm tội Đột-cát-la”.
Kinh Thang Man ghi:
- Thưa Đức Thế Tôn! Người cần chiết phục thì nên chiết phục, người cần nhiếp thụ thì nên nhiếp thụ. Vì sao? Vì chiết phục và nhiếp thụ sẽ khiến cho chính pháp được tồn tại lâu dài, trời người tăng nhiều, ác đạo giảm bớt, giáo pháp của Như Lai cũng được luân chuyển.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Đức Phật dạy: “Thiện nam! Hãy lắng nghe, lắng nghe! Ta sẽ giảng nói nghiệp nhân được thọ mạng dài lâu của Đức Như Lai. Bồ-tát tạo những nghiệp nhân này mà được thọ mạng lâu dài. Đó là: Thương nhớ tât cà chúng sinh giống như con ruột; khởi tâm dại tù, đại bi, đại hỷ, đại xả; thụ giới không sát sinh, dạy chúng sinh tu pháp lành, khuyên họ thụ thận giữ gìn ngũ giới, thập thiện; lại nguyện vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la v.v... để cứu vớt chúng sinh khổ não; giải thoát người chưa được giải thoát, độ người chưa được độ, người chưa vào niết-bàn khiến được vào niết-bàn, an ủi những người còn khổ đau, sợ hãi. Nhờ các nghiệp nhân trên mà bồ-tát có thọ mạng lâu dài, tự tại với tất cả trí tuệ, tùy theo thọ mạng, khi lâm chung được sinh về cõi trời”.
Bồ-tát Ca-diếp thưa Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Trong Phật Pháp, làm sao có thể xem những kẻ phá giới, tạo tội ngũ nghịch, hủy hoại chính pháp như con ruột của mình được?
Phật đáp:
- Này Thiện nam! Ví như đại thần, v.v... phạm phép nước thì vua tùy tội mà giết, không bỏ qua. Như Lai Thế Tôn thì không như thế, đối với người hủy hoại chính pháp, thì Ngài làm những phép yết-ma đuổi đi, yết-ma quở trách, yết-ma gạt bỏ, yết-ma không được gặp, yết-ma cử tội, yết-ma diệt tẫn, yết-ma chưa xả bỏ ác kiến.
Này thiện nam! Như Lai Thế Tôn làm những yết-ma hàng phục người hủy báng chính pháp như thế, là vì muốn chỉ rõ nhừng người tạo ác đều chịu quả báo. Sau khi Ta vào niết-bàn, tùy theo trường hợp mà xử lí. Nếu tì-kheo giữ giới, đầy đủ uy nghi, hộ trì chính pháp, thấy người hủy hoại chính pháp thì đuổi đi, hoặc quở trách, hoặc trừng trị. Ti-kheo đó được vô lượng phúc báu, không thể tính kể. Nếu thiện tì-
Phần 2

kheo thấỵ người hủy hoại chính pháp mà không quở trách, đuổi đi, cử tội, thì đó là kẻ giặc trong Phật pháp; còn nếu đuổi đi, quở trách, cử tội thì tì-kheo đó là đệ tử Thanh văn chân thật của ta.
Kinh ghi:
- Nay Như Lai đem chính pháp vô thượng phó chúc cho các quốc vương, đại thần, tể tướng, tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Các vị nên khích lệ người học, khiến họ tăng trưởng giới-định-tuệ. Nếu người nào không chịu tu học ba pháp nầy mà lại buông lung, phá giới, hủy hoại chính pháp thì quốc vương, đại thần, bốn bộ chúng phải nghiêm trị.
Kinh lại ghi:
- Tì-kheo đã có đầy đủ các vật dụng cung cấp cho thân, lại giữ gìn giới cấm, có thể cất tiếng sư tử giảng rộng diệu pháp là chín thể loại kinh, từ Tu-đa-la đến A-phù-đà-đạt-ma để làm lợi ích, an lạc cho các chúng sinh, thì tì-kheo này nên giảng nói: “Trong kinh Niết-bàn, Đức Phật ngăn cấm các tì-kheo không được nuôi những vật phi pháp như: nô tì, trâu, dê, V.V.... Nếu có tì-kheo nuôi những vật bất tịnh như thế thì phải răn trị. Trước đây, những bộ kinh khác cũng dạy: Nếu tì-kheo nào nuôi các vật phi pháp như thế thì vị quốc vương trị phạt đúng pháp, bắt phải hoàn tục”.
Nghe lời này, có thể những kẻ phá giới sẽ nổi giận, đến hại vị pháp sư ấy. Cho dù bị giết chết, nhưng vị pháp sư này cũng được tôn xưng là bậc trì giới tự lợi, lợi tha. Vì duyên này, Ta cho phép quốc vương, đại thần, tể tướng, ưu-bà-tắc, v.v... hộ trì người nói pháp.
Kinh này lại ghi:
- Khi hộ trì chính pháp, tì-kheo Giác Đức răn dạy các tì-kheo không được phá giới, nuôi vật phi pháp. Nghe tin này, những người phá giới liền đến hại tì-kheo.
Bấy giờ, vua Hữu Đức quyết bỏ mạng để bảo vệ tì-kheo Giác Đức, nên chiến đấu với bọn phá giới và cứu được pháp sư. Từ đó về sau, vua và tì-kheo Giác Đức thường được gặp chư Phật, cho đến cả hai đều thành Phật.
Đức Phật nói: “Vua Hữu Đức thuở đó chính là tiền thân của ta; còn tì-kheo Giác Đức chính là tiền thân Phật Ca-diếp”. Nhờ hộ trì Phật pháp nên cả hai đều thành tựu thân kim cang.
Kinh lại ghi:
- Sau khi Ta vào Niết-bàn, trong đời ác trược, cõi nước hỗn loạn, cướp đoạt lẫn nhau, nhân dân đói khát. Bấy giờ, có nhiều người vì đói khát, nên phát tâm xuất gia; hạng người như thế gọi là hạng người đầu trọc. Thấy có tì-khéo trì giới thanh tịnh, oai nghi đầy đủ, hộ trì chính pháp, bọn này liền xua đuổi hoặc giết hại.
Bồ-tát Ca-diếp thưa Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Nêu vậy, tì-kheo trì giới, hộ trì chính pháp làm thế nào để vào được thôn xóm, thành ấp giáo hoá?
Phật đáp:
- Này thiện nam! Vì thế, nay Ta cho phép tì-kheo trì giới kết bạn với các cư sĩ cầm binh khí. Vì hộ pháp, nên các quốc vương, đại thần, trưởng giả, ưu-bà-tắc, v.v... dù cầm binh khí, ta vẫn gọi họ là người trì giới; nếu cầm binh khí, nhưng chẳng giết hại ai thì gọi là người trì giới bậc nhất.
Trong các kinh, Ta từng nói người phạm bốn tội Ba-la-di cho đến tội Đột-cát-la, v.v... cũng nên nghiêm trị. Nếu chúng sinh không giữ gìn giới cấm thì làm sao thấy Phật tính. Tất cả chúng sinh dù có Phật tính, nhưng nhờ trì giới mới thấy; nhờ thấy Phật tính mới thành tựu Vô thượng Bồ-đề.
Đức Phật nói bài kệ:
Nếu Tì-kheo tu tập
Giới, định và trí tuệ
Phải biết chẳng bao lâu
Chứng đắc Đại niết-bàn.
Kinh Nguyệt Đăng tam-muội, Đức Phật nói kệ:
Dù đọc tất cả kinh
Cậy đa văn, phá giới
Đa văn không thể cứu
Phá giới đọa địa ngục.
Kinh Đại phương quảng thập luân, Đức Phật nói bài kệ:
Nếu quốc vương chân thiện
Quyết hộ trì chính pháp
Khiến ba thừa hưng thạnh
sẽ được biển công đức.
Dù dâng bảy thứ báu
Đầy khắp Diêm-phù-đề
Cúng dường các Đức Phật
Phúc đó còn hạn lượng.
Dù cúng dường tăng phòng
Khắp bốn châu thiên hạ
Việc này được phúc lớn
Không bằng hộ chính pháp.
Giả sử vì chư Phật
Xây chùa tháp khắp nơi
Việc này được phúc lớn
Không bằng hộ chính pháp.
Vì năm mặt trời hiện
Làm khô cạn đại dương
Người hộ pháp của Ta
Làm khô cạn phiền não.
Ví như phong tai khởi

Phần 3

Thổi bay hết núi non
Người hộ trì chính pháp
Cũng diệt các phiền não.
Thí như thủy tai khởi
Nhấn chìm cả đại địa
Người hộ trì chính pháp
Cũng đoạn hết phiền não.
22.3. THẬN TRỌNG TƯ DUY
Muốn thành vị đại lương y hoằng truyền ba tạng, trước hết cần phải hợp cơ, tự trị bệnh của mình, sau trị bệnh cho người. Như thế chính pháp được trường tồn. Chẳng nên vì danh lợi mà đàm luận suông danh giáo4, nếu không tu một hạnh nào thì đồng với kẻ cuồng say.
Cho nên, luận Đại thừa trang nghiêm ghi: “Có hai hạng người say: một, tại gia đầy đủ tài và sắc; hai, xuất gia được ca ngợi. Hạng người thứ nhất phần nhiều là người tại gia giàu sang mà tâm buông lung, gây nhân địa ngục. Hạng thứ hai đa số là người xuất gia tham cầu danh lợi, xem thường bản thân, mong người ca ngợi, khởi lòng kiêu mạn, tâm ý mê mờ, đánh mất Phật tâm, không thấy chính đạo, trôi lăn ba đường”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Phật bảo Ca-diếp:
- Sau khi Ta vào Niết-bàn bảy trăm năm, ma vương Ba-tuần sẽ dần dần hủy hoại chính pháp của ta. Thí như thợ săn mặc pháp phục, ma vương Ba-tuần cũng thế, sẽ hóa làm tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, tu-đà-hoàn, a-la-hán, cho đến Phật. Ma vương hư vọng hóa thân hữu lậu này thành thân vô lậu để hủy hoại chính pháp Ta”.
Kinh này còn ghi: “Nếu tì-kheo vì lợi dưỡng mà thuyết pháp, đệ tử của vị này cũng bắt chước thầy, tham cầu lợi dưỡng, thì cả thầy trò đều phá hoại tăng chúng...
- Nếu tì-kheo nào giữ gìn giới cấm, nhưng vì lợi dưỡng mà cùng qua lại, gần gũi với người phá giới thì cũng gọi là người phá giới, cũng gọi là tạp tăng...
- Lại có hạng người Thường một không phải là hạng nhất-xiển-đề. Tại sao? Vì người đó tu bố thí, trì giới, nên gọi là Thường một...”.
Kinh lại ghi: “Này Thiện nam! Có bốn việc tốt mà phải chịu quả báo:
1. Vì muốn hơn người mà đọc tụng kinh điển.
2. Vì lợi dưỡng mà thụ trì tịnh giới.
3. Vì muốn làm quyến thuộc của người khác mà bố thí.
4. Vì muốn sinh lên cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng mà buộc niệm tư duy”.
Kinh ghi: “Nhất-xiển-đề đoạn dứt các căn lành, chẳng phải là pháp khí. Giả sử họ nghe kinh Đại Niết-bàn trong trăm nghìn vạn năm, cũng không thể phát tâm Bồ-đề. Tại sao? Vì họ không có tâm thiện”.
Kinh ghi: “Nầy Thiện nam! Sau khi Ta vào niết-bàn vô lượng trăm nghìn năm, bậc Thánh tứ quả, cũng đều vào niết-bàn. Sau khi chính pháp diệt, trong thời tượng pháp sẽ có tì-kheo giống như trì luật, nhưng ít đọc tụng kinh, tham cầu ăn uống nuôi dưỡng bản thân, đắp y thô xấu, hình dáng tiều tụy, không có uy đức, tự ý nuôi trâu dê, gánh củi mang cỏ, râu tóc bờm xờm, móng tay dài nhọn. Người này tuy đắp ca-sa, nhưng giông như thợ săn, bước đi chậm rãi như mèo rình chuột, thường nói lời này: ‘Ta đắc A-la-hán! Người này đã bị nhiều bịnh khổ, nằm ngủ trên đống phân, ngoài hiện tướng hiền lành, trong tham lam tật đố, giống như các bà-la-môn tu pháp câm. Người này thật chẳng phải sa-môn mà hiện tướng sa-môn! Người này vô cùng tà kiến, chê bai chính pháp, hủy hoại cấm giới, chính hạnh, uy nghi do đức Như Lai chế ra. Chúng lại nói quả giải thoát vẫn còn xen lẫn pháp bất tịnh, cho đến hủy hoại giáo nghĩa bí mật vi diệu, nói trái kinh luật: ‘Như Lai chấp nhận cho chúng tôi án thịt uống rượu’. Tự nêu ra luận thuyết này, rồi nói đó là Phật thuyết, cùng nhau tranh luận và tự xưng là sa-môn Thích tử.
Này Thiện nam! Khi đó, có các sa-môn tích trữ lúa thóc, thụ nhận cá thịt, tự tay làm thức ăn, cất giữ dầu mỡ, lọng báu, giầy da, gần gũi quốc vương, đại thần, trưởng giả, xem tướng, đoán sao, siêng học y thuật, nuôi dưỡng nô tỳ, cất giữ vàng bạc châu báu, học các nghề họa sĩ, đắp tượng, viết sách, dạy học, trồng trọt, cổ đạo, chú thuật, bào chế thuốc thang, đàn ca, thổi sáo, kĩ nhạc, hương hoa thoa thân, lại thêm cờ bạc.
Nếu tì-kheo nào xa lánh những việc ác này, người ây là đệ tử chân thật của ta. Trái lại, có tì-kheo làm những việc bất tịnh như: gần gũi quốc vuơng, vương tử, đại thân, người nữ, lớn tiếng cười đùa, hoặc im lặng mà nghi ngờ đối với các pháp, hoặc nhiều lời mà lại vọng nói sở trường sở đoản, tốt xấu, thiện bất thiện, thích mặc y phục đẹp, ở trước thí chủ tự ca ngợi bản thân, ra vào, dạo chơi chỗ bất tịnh như: hàng rượu, kĩ viện, cờ bạc. Hạng người như thế, Ta không chấp nhận ở trong chúng tì-kheo, phải khuyên họ bỏ đạo hoàn tục, thí như diệt sạch cỏ dại trong ruộng lúa.
Phải biết các kinh luật đều do Như Lai nói. Người nào thuận theo lời ma thì là quyến thuộc của ma, còn người nào thuận theo lời Phật tức là bồ-tát”.
Kinh Phật tạng ghi: “Tì-kheo phá giới thì trăm nghìn ức vạn kiếp phải cắt thịt mình để trả nợ cho thí chủ, hoặc đọa làm súc sinh, thường mang nhiều chở nặng. Tại sao? Thí như có người cúng dường phẩm vật chỉ bằng một phần nghìn ức sợi tóc, tì-kheo phá giới còn không thể tiêu được, huống gì có thể tiêu hết y phục, thức ăn, giường chiếu, thuốc men!...
- Tì-kheo nào ưa ngắm nhìn phụ nữ, không gần người nam, cho đến ghét người trì giới, gần gũi kẻ phá giới, thường ca ngợi bố thí, không ca ngợi trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, không ca ngợi hạnh tịch diệt, xa Iìa nơi thanh vắng, thường ưa chê bai, luận bàn lỗi người trì giới, không ca ngợi người tu hạnh đầu-đà, hoặc nêu ra một việc, rồi mặc tình buông lời ác, v.v... đều là tì-kheo phá giới”.
Kinh Đại Bát niết-bàn ghi: “Này thiện nam! Khi chính pháp của Như Lai sắp diệt tận, có nhiều tì-kheo gây nghiệp ác, không biết kho tàng bí mật vi diệu của Như Lai, lại buông lung, lười biếng, không đọc tụng, tuyên dương, giảng giải chính pháp của Như Lai. Những kẻ đó thí như bọn giặc si mê vứt bỏ trân bảo mà gánh lấy cỏ khô, nên không hiểu kho tàng bí mật vi diêu của Như Lai. Bởi vậy, trong kinh nói buông lung, không siêng năng là hiểm họa. Thật đáng thương thay! Đời vị lai rất đáng kinh sợ. Khổ thay! Chúng sinh không siêng năng nghe nhận kinh điển Đại thừa Đại niết-bàn này. Chỉ có các bồ-tát ma-ha-tát mới có đủ khả năng hiểu nghĩa chơn thật, không vướng mắc vào văn tự, tùy thuận căn cơ mà giảng nói, không trái với kinh điển.
Lại nữa, này thiện nam! Thí như cô gái chăn bò bán sữa, do tham lợi nhiều, nên cô pha thêm hai phần nước, rồi bán cho một cô gái chăn bò khác. Cô gái này lại pha

Phần 4

thêm hai phần nước, rồi bán cho người cô gái gần thành thị. Cô gái này lại pha thêm hai phần nước nữa, rồi đem bán cho cô gái trong thành. Cô gái này lại pha thêm hai phần nước nữa, rồi đem ra chợ bán. Khi đó có một người cưới vợ cho con trai, nên cần sữa tốt để đãi khách, ra chợ mua. Người bán sữa đòi giá cao. Người này nói:
- Sữa của cô pha nhiều nước, không đáng giá như thế. Hãy nói đúng giá, nay ta cần đãi khách nên mới mua.
Người này đem sữa về nhà nấu cháo, thì hoàn toàn không còn mùi sữa. Tuy vậy vẫn hơn nghìn lần vị đắng, vì vị của sữa là bậc nhất trong các vị.
Này thiện nam! Sau khi Ta vào niết-bàn hơn tám mươi năm, trong thời chính pháp, kinh này lưu truyền rộng rãi nơi Diêm-phù-đề. Khi đó, nhiều ác tì-kheo ăn cắp kinh này, chia thành nhiều phần, làm mất đi sắc hương, mùi vị của chính pháp. Tuy các ác tì-kheo đó vẫn đọc tụng kinh này, nhưng đã làm mất nghĩa lý cốt yếu sâu xa của Như Lai. Họ cho lưu hành ở thế gian, trau chuốt những lời vô nghĩa, đoạn trước đặt ở đoạn sau, đoạn sau đặt ở đoạn trước, đoạn trước, đoạn sau đặt vào giữa, đoạn giữa đặt ra trước sau. Nên biết các ác tì-kheo như thế là bè đảng của ma, cất chứa tất cả các vật bất tịnh, rồi nói rằng đức Như Lai cho phép. Giống như cô gái chăn bò pha thêm nhiều nước vào sứa. Cũng thế, các ác tì-kheo dối cho lời lẽ thế gian là kinh này, khiến nhiều chúng sinh luận bàn không đúng, ghi chép không đúng, thụ nhận không đúng, lại tôn trọng, ngợi khen, cung kính, cúng dường họ. Vì lợi dưỡng, các ác tì-kheo không thể xiển dương rộng rãi kinh này, nếu có lưu truyền cũng không đầy đủ.Tuy không có ý vị gì, nhưng kinh này vẫn hơn kinh khác nghìn lần; giống như cô gái chăn bò nghèo cùng và những người buôn bán nói trên làm cho sữa không có mùi vị, nhưng vân hơn hẳn các vị đắng nghìn lần. Kinh Đại Niết-bàn thuộc kinh điển Đại thừa, vượt trên các kinh Thanh văn, giống như vị sữa bò là bậc nhất trong các vị. Do nghĩa này nên gọi là Đại Niết-bàn”.
22.4. GIẢNG PHÁP VÀ NGHE PHÁP
Kinh Niết-bàn ghi: “Lại nữa, này thiện nam! Nếu đệ tử ta thụ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Niết-bàn này, thì chớ giảng nói không đúng lúc, không đúng nơi, không người thỉnh. Chớ giảng kinh này với tâm xem thường nói mọi lúc mọi nơi, tâm tự ca ngợi bản thân xem thường người khác, tâm muốn diệt trừ Phật pháp hưng thịnh thế pháp.
Này thiện nam! Nếu đệ tử của ta thụ trì kinh này, lại giảng nói không đúng lúc cho đến làm hưng thịnh thế pháp, thì mọi người sẽ xem thường quở trách: “Nếu kinh Đại niết-bàn là kho tàng bí mật của Phật, có uy lực thì sao ông giảng nói không đúng lúc cho đến làm hưng thịnh thế pháp?’. Nếu người trì kinh này nói: ‘Kinh này không có uy lực, đã không có uy lực, dù thụ trì vô ích’, thi người này là ác tri thức của chúng sinh, là quyến thuộc của ma, chẳng phải đệ tử của ta. Vì người này xem thường, hủy báng kinh Niết-bàn, khiến vô lượng chúng sinh đọa vào địa ngục. Nên biết nếu người nào vì lợi dưỡng, vì năm dục, vì tiếng tăm mà thuyết kinh thì đồng với việc kinh doanh, làm cho chính pháp mau chóng hủy diệt”.
Kinh Niết-bàn ghi:
-Tại sao gọi là đem chiên-đàn đổi gỗ tạp? Vì muốn được cúng dường, nên đệ tử của ta đến nhà cư sĩ giảng nói kinh pháp mà họ lơ là, không thích nghe. Cư sĩ ngồi chỗ cao, tì-kheo ngồi nơi thấp, dù đem cao lương mỹ vị cung cấp, nhưng họ vẫn chẳng chịu nghe.
Tại sao gọi là đem vàng đổi đồng thau? Vì đồng thau ví như sắc, thanh, hương, vị, xúc; còn vàng ví như giới cấm. Các đệ tử của ta do vì sắc, v.v... mà phá giới.
Tại sao gọi là đem bạc đổi lấy chì thiếc? Bạc ví như mười pháp thiện, chì thiếc ví như mười pháp ác. Các đệ tử của ta bỏ mười điều thiện, hành theo mười pháp ác.
Tại sao gọi là đem lụa đổi lấy vải thô? Vải thô ví như tâm không biết hổ thẹn. Lụa ví như tâm biết hổ thẹn. Các đệ tử của ta bỏ tâm biết hổ thẹn, quen theo tâm không biết hổ thẹn.
Tại sao gọi là đem cam lộ đổi lấy thuốc độc? Thuốc độc ví như những lợi dưỡng. Cam lộ ví như các pháp vô lậu. Các đệ tử của ta vì lợi dưỡng nên đến nhà cư sĩ, thường ca ngợi bản thân và nói mình đã được pháp vô lậu.
Kinh Pháp hoa ghi:
- Bồ-tát ma-ha-tát không được gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, quan lại, ngoại đạo, Phạm chí Ni-kiền-tử v.v..., không được biên chép văn chương thế tục, ca vịnh sách vở ngoại đạo, cho đến không được phạm Ác luật nghi như: săn thú, bắt cá, v.v..., không được gần gũi người cầu giai vị Thanh văn; đối với thân người nữ, không nên duyên vào tướng phát sinh ý niệm dục mà thuyết pháp, cũng chẳng nên ưa nhìn. Nếu vào nhà cư sĩ thì không được nói chuyện với thiếu nữ nhỏ tuổi, gái trinh, gái góa; lại cũng chẳng gần gũi làm bạn với năm hạng người bất nam, chẳng được một mình vào nhà cư sĩ; nếu có nhân duyên cần vào một mình thì phải một lòng niệm Phật. Nếu nói pháp cho người nữ thì không được cười đùa hở răng, không để lộ hông ngực, cho đến vì Phật pháp mà còn không được gần gũi, huống gì việc khác! Lại chẳng nên nuôi đệ tử nhỏ tuổi, sa-di, trẻ con; cũng chẳng nên cùng thầy với chúng, thường thích ngồi thiền ở nơi hoang vắng để nhiếp tâm.
Kinh Phật tạng ghi:
- Có năm hạng người bất tịnh nói pháp:
1. Tự cho mình biết hết Phật pháp.
2. Nêu ra những ý nghĩa trái nghịch trong kinh.
3. Nghi ngờ, không tin các pháp.
4. Nói theo hiểu biết của mình mà không căn cứ kinh pháp.
5. Vì lợi dưỡng mà nói pháp.
Ta nói người này sẽ đọa địa ngục, không thể đến niết-bàn.
Kinh này còn ghi:
- Từ lâu, Ta siêng năng, khổ nhọc cầu pháp bảo này mà người ác đó không chịu giảng nói, chỉ cho kinh này ngữ nghĩa trái nhau, khởi tâm khen chê, không thuận chính pháp, nuôi dưỡng tâm tự cao, tùy ý giảng nói để mưu cầu lợi dưỡng. Nếu thiện tì-kheo nghe tì-kheo nói pháp xen lẫn giáo nghĩa ngoại đạo thì nên bỏ đi; nếu không bỏ đi thì tì-kheo này chẳng phải là thiện tì-kheo, cũng chẳng gọi là Phật tử. Ta gọi tì-kheo nói pháp như thế là đệ tử của ngoại đạo Ni-kiền-tử, chẳng phải đệ tử Phật, mà thuộc về hạng địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Tại sao? Vì chưa chứng pháp mà ngồi tòa cao, bản thân mình không biết mà dạy người khác, nhất định phảỉ đọa địa ngục.
Lại nữa, vào đời vị lai có những tì-kheo thích đọc kinh sách ngoại đạo, khi nói pháp thì trau chuốt, chinh sửa văn từ để đại chúng vui thích. Bấy giờ, ác ma hùa

Phần 5

vào làm cho mọi người mê muội, chướng ngại thiện pháp. Nếu người nào tham đắm âm thanh, lời nói, văn từ hoa mỹ, hoặc ưa thích kinh sách ngoại đạo thi ác ma mê hoặc khiến cho họ có cảm giác an ổn. Lại như những người mù bỏ tài sản của mình, muốn đến pháp hội nhận bố thí, nhưng bị rơi xuống hố sâu. Những đệ tử của ta cũng vậy, bỏ y phục thô sơ, ăn uống đạm bạc, chạy đến pháp hội đại thí, mong cầu được phẩm vật cúng dường tốt đẹp, vì lợi dưỡng thế gian mà đánh mất đại trí tuệ, nên bị rơi vào hố sâu địa ngục A-tỳ.
Kinh Phật tạng ghi:
- Người bất tịnh thuyết pháp thì phạm rất nhiều tội, cũng gọi là ác tri thức của chúng sinh, là kẻ phỉ báng chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Người bất tịnh nói pháp thì phạm tội nhiều hơn kẻ giết hại chúng sinh trong ba nghìn đại thiên thế giới. Tại sao? Vì người này phá hoại quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác của chư Phật, là kẻ trợ giúp ma sự, khiến cho chúng sinh trăm nghìn đời phải chịu các phiền não. Họ chỉ tạo thêm sự trói buộc mà không giúp mọi người giải thoát. Nên biết người này là ác trí thức của chúng sinh, là kẻ vọng ngữ, hủy báng chư Phật; vì nhân duyên này mà đọa vào đại địa ngục. Do đem các việc tà kiến dạy cho chúng sinh, nên gọi là kẻ ác, tà kiến.
Kinh này lại ghi:
- Này Xá-lợi-phất! Tì-kheo phá giới, dù chì uống một li rượu, mà giảng nói Phật pháp cho các cư sĩ, thì ông nghĩ sao? Người nhiều tham, sân, si, thích đọc kinh sách, tham đắm lợi dưỡng, làm việc bất tịnh, thì có thể tin hiểu các pháp rốt ráo không, không thật có và có thể đắc quả Sa-môn chăng?
Nếu có tì-kheo lớn tuổi đức hạnh, trí tuệ sâu xa là bậc long tượng trong hàng tì-kheo thì vị này mới có thể tin các pháp không, không thật có, vô ngã, vô nhân. Tại sao? Vì vị đó không thích chốn đông người, nói năng ồn náo, ngủ nghỉ, nhiều việc; không thích chỉ huy quân đội, làm việc cho cư sĩ; không làm sứ giả trao đổi văn thư; không hành nghề y, không học các phương thuốc, không buôn bán, không thích luận bàn ngôn ngữ thế gian, chỉ muốn nói pháp xuất thế gian.
Này Xá-lợi-phất! Nay ta nói rõ, nếu thiện tì-kheo muốn được lợi ích bản thân, thì không nên vào chốn đông người, dù chỉ một đêm, ngoại trừ các bậc a-la-hán không còn phiền não và tì-kheo bị bịnh. Tại sao? Vì lúc đó, con người nhiều tham, sân, si, nghi độc hại, thường bị nỗi lo sợ không đủ sống bức bách. Người thiện muốn được lợi ích thì nên ở nơi rừng núi hoang vắng, cho đến lúc mạng chung.
Pháp chân thật này của ta không trụ lâu dài ở thế gian. Tại sao? Vì thiện căn, phúc đức của chúng sinh đã hết và sắp đến đời ác trược.
Kinh Đai tập nguyệt tạng ghi:
- Nếu có chúng sinh chỉ dựa vào việc đọc tụng kinh điển mà mong cầu quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác thì người đó tham đắm thế tục. Người này còn không thể điều phục phiền não nơi tự tâm, thì làm sao có thể điều phục phiền não cho người khác?
Này thiện nam! Người chấp trước việc đọc tụng kinh điển để cầu quả Bồ-đề sẽ sinh tâm đố kị, tham cầu danh lợi, tự cao, tự phụ, xem thường và hủy nhục người khác. Người này còn không thể thành tựu căn lành cõi Dục, huống gì có thể thành tựu được tất cả căn lành ở cõi sắc và cối Vô sắc.
Kinh Ma-ha-diễn đại bảo trang nghiêm ghi:
- Thí như thầy thuốc mang thuốc đi khắp nơi, mà không thể trị bịnh cho bản thân. Cũng thế, người đa văn có bệnh phiền não mà không dứt trừ, không thể tự lợi, thì chỉ vô dụng mà thôi. Thí như người chết đem theo vàng, bạc, chuỗi báu. Cũng thế, người đa văn mà phá giới, lại đắp pháp phục, thụ nhận sự cúng dường thì có ích gì?
Kinh Đại phương quảng thập luân ghi:
- Có những chúng sinh xấu xa, ngu si, ác khẩu, tự cho mình có trí tuệ, thậm chí chẳng lìa tà kiến, vì mong cầu lợi ích bản thân mà tật đố, tham đắm danh tiếng, tự nêu cao mình, xem thường người khác, không thể gìn giữ thân miệng ý luôn nghĩ việc ác mà tự xưng mình là bậc Đại thừa, cũng dạy người khác đọc tụng, ca ngợi bản thân, chê bai người khác. Dù họ ca ngợi Đại thừa mà không chịu điều phục bản thân, lại muốn dạy người khác tu hành Đại Thừa cho đến nói: “Thân người khó được”. Như vậy, người này cũng đánh mất pháp Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa, thường sa vào đường ác. Họ lại không muôn gần gũi những bậc trí tuệ, mà nói: “Ta là Đại thừa cất tiếng sư tử”. Giống như lừa đội lốt sư tử, rồi cho mình là sư tử. Từ xa, người ta tưởng là sư tử thật, nhưng khi vừa phát tiếng thì xa gần đều biết chẳng phải sư tử thật. Những người trông thấy đều mắng trách: “Đây là con lừa xấu ác, chẳng phải sư tử!”.
Người hủy phạm giới cấm, gây các việc ác, dù ở bất cứ nơi nào cũng không thể thành bậc pháp khí. Người này lại nói: “Ta là Đại thừa, có thể diệt trừ đại quân phiền não, trần lao của tất cả chúng sinh, khiến họ an trụ bát chính đạo, vào thành Vô úy”. Làm sao có việc này!
Kinh Phật tạng ghi:
- Vào thời quá khứ có năm tì-kheo làm thầy của mọi người là Phổ Sự, Khổ Ngạn, Tát-hòa-đa, Tương Khứ và Bạt-nan-đà. Phổ Sự hiểu pháp chân thật, nghĩa không, vô sở đắc mà Phật đã dạy. Còn bốn tì-kheo kia đều rơi vào tà đạo, nói có ngã có nhân. Tì-kheo Phổ Sự bị bốn bộ chúng xem thường, không có thế lực, bị nhiều người ghét bỏ. Bốn ác tì-kheo thường dạy mọi người tà kiến, không cung kính nhau, trái nghịch nhau, muốn hủy diệt Phật pháp, cũng làm cho nhiều người sinh nhiều phiền não. Sau khi mạng chung, những kẻ ác này đọa vào địa ngục A-tì, nằm ngửa trên sắt nóng đỏ chín trăm vạn ức năm, nằm úp mặt xuống chín trăm vạn ức năm, nằm nghiêng bên phải, nghiêng bên trái cũng như thế; làm cho thân thể cháy tan rã. Khi hết thọ mạng nơi đây, họ lần lượt sinh vào địa ngục Chích, địa ngục Địa Chích, địa ngục Hoạt, địa ngục Hắc Thằng, thụ khổ bằng thời gian đọa trong địa ngục A-tì, rồi họ trở lại địa ngục A-tì.
Này Xá-lợi-phất! Sáu trăm bốn vạn ức người tại gia, xuất gia, người quen biết, đàn việt, thường gần gũi bốn tì-kheo này, đều cùng sống cùng chết với họ trong các địa ngục, chịu nhiều thống khổ thiêu đốt suốt một đại kiếp. Khi hỏa tai khởi lên, họ sinh qua đại địa ngục ở phương khác. Tại sao? Này Xá-lợi-phất! Vì gây nhiều tội nặng, nên họ phải chịu nhiều tội báo. Ở địa ngục phương khác, họ chịu nhiều thống khổ trong vô số trăm nghìn vạn ức na-do-tha năm. Khi thế giới này hình thành, họ sinh trở lại, do tội chưa hết, nên họ vẫn phải sinh vào đại địa ngục. Trải qua thời gian dài, họ mới sinh làm người, nhưng trong năm trăm đời bị mù. Sau đó, họ mới gặp Phật Nhất Thiết Minh, rồi xuất gia tinh tiến tu tập như cứu lửa cháy trên đầu trong mười vạn ức năm, cũng chưa đắc Thuận nhẫn, huống là đắc đạo quả.
Kinh Niết-bàn ghi: “Tì-kheo Thiện Tinh thuộc lòng mười hai thể loại kinh”.
Luận Trí độ ghi: “Đề-bà-đạt-đa xuất gia học đạo thuộc sáu vạn pháp môn”.

Phần 6

* Lời bàn
Hai người này đều không tu chân thật tính trong phương tiện đạo, không tu bốn niệm xứ v.v... không quán năm ấm vô thường, khổ không, vô ngã, ngã sở, tham chấp ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, lại gây nhiều tội nghịch, chê bai Như Lai. Vì thế, hai người tuy còn sống mà bị rơi vào địa ngục A-tì, chịu khổ vô cùng, khó trình bày hết.
22.5. BỒ-TÁT
Kinh Ca-diếp ghi: “Bấy giờ, Phật bảo Ma-ha Ca-diếp:
- Không lâu nữa, Như Lai sẽ vào Niết-bàn.
- Bạch đức Thế Tôn! Xin Thế Tôn trụ lại thế gian một kiếp, hoặc gần một kiếp để hộ trì chính pháp_ Ca-diếp thưa.
- Giả sử một nghìn Đức Phật ra đời, vận tất cả thần thông, thuyết pháp, giáo hóa, thì người ngu vẫn không thể dứt trừ ác dục. Này Ca Diếp! Vào thời mạt pháp, sau năm trăm năm, sẽ có các chúng sinh đầy đủ căn lành, tâm ý thanh tịnh, có thể báo đáp ân Phật, hộ trì pháp của ta.
- Bạch Đức Thế Tôn! Con tu hành không bao nhiêu, trí tuệ lại cạn cợt, không thể kham nổi trách nhiệm nặng nề, chỉ có bồ-tát mới có thể gánh vác trách nhiệm này. Thí như ông lão một trăm hai mươi tuổi, bịnh nặng, không thể đi đứng, lại không con cái, chỉ sống một mình. Bấy giờ, có một người rất giàu, nhiều tài sản, mang trân bảo đến nói với người bệnh: ‘Tôi có việc phải đến nơi khác, nên đem trân bảo này gởi ông giữ, khi tôi trở về ông hãy trả lại’. Khi người kia đi chẳng bao lâu, bịnh trở nên nguy cấp và ông lão qua đời, nên những trân bảo mà người kia gởi đều mất hết. Người kia trở về, không tìm thấy trân bảo của mình.
Bạch Thế Tôn! Cũng vậy, hàng thanh văn tu hành rất ít, trí tuệ nông cạn, lại không có bạn đồng tu, nên không thể trụ lâu ở thế gian. Nếu giao phó cho họ thì không bao lâu chính pháp sẽ hoại diệt.
Phật ca ngợi Ca-diếp:
- Ta đã rõ biết việc này, nhưng vẫn phó chúc chính pháp cho ông, khiến kẻ ngu si kia nghe được mà sinh tâm hối cải.
- Bạch Đức Thế Tôn! Nay con xin nêu ra thí dụ thứ hai: Ví như có người cường tráng, không bị bịnh khổ, thọ mạng vô lượng trăm nghìn vạn tuổi, sinh vào dòng tộc giàu có, đầy đủ của cải, trân bảo, khéo trì tịnh giới, đại từ đại bi, tâm thường hoan hỉ, làm lợi ích cho nhiều người, giúp họ được an vui. Bấy giờ, có một người mang của báu đến nói: ‘Tôi có việc phải đến nơi khác nên đem của báu này gởi ông giữ. Hoặc mười năm, hoặc hai mươi năm, khi trở về tôi sẽ gặp lại ông’. Sau đó, người giàu cất giữ của báu. Khi người kia trở về, người này giao lại của báu. Bạch Đức Thế Tôn! Cũng vậy, nếu giao phó cho những bồ-tát ma-ha-tát, thì dù trải qua vô lượng nghìn ức na-do-tha kiếp pháp bảo cũng không bao giờ hoại diệt, vì bồ-tát làm lợi ích vô lượng vô biên chúng sinh và làm cho Tam bảo không bị đoạn diệt.
Bạch Đức Thế Tôn! Con không thể giữ gìn chính pháp, chỉ có bồ-tát mới có thể đảm nhận. Như Lai nên phó chúc cho đại bồ-tát Di-lặc đang ở trong pháp hội này. Vào vị lai trong năm trăm năm trước khi chính pháp diệt, pháp của Như Lai kết tập đều được giữ gìn, giảng nói lưu truyền rộng rãi. Tại sao? Vào vị lại, bồ-tát Di-lặc sẽ chứng Vô thượng chính giác. Thí như thái tử lớn của vua sẽ làm vua, như pháp mà trị thế. Cũng thế, bồ-tát Di-lặc tiếp nối kế thừa ngôi vị Pháp Vương, hộ trì chính pháp.
Đức Phật ca ngợi Ca-diếp:
- Thật đúng như lời ông nói!
Đức Phật liền duỗi tay phải, xoa đỉnh bồ-tát Di-lặc và nói:
- Này Di-lặc! Ta phó chúc cho ông, vào thời mạt pháp, trong năm trăm năm trước khi chính pháp diệt, ông sẽ hộ trì Tam bảo, đừng để đoạn diệt.
Khi Như Lai xoa đỉnh bồ-tát Di-lặc, tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách và tràn ngập ánh sáng. Chư thiên cõi Dục cho đến cõi trời A-ca-nị-trá đều chắp tay thưa bồ-tát Di-lặc: ‘Như Lai đem chính pháp giao phó Thánh giả, xin ngài vì lợi ích trời người mà nhận lấy!’.
Từ chỗ ngồi, bồ-tát Di-lặc đứng dậy, bày vai bên phải, gối phải sát đất, chắp tay cung kính thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vì lợi ích tất cả chủng sinh, con còn chấp nhận chịu khổ vô lượng ức kiếp, huống gì Như Lai phó chúc chính pháp, mà con không nhận sao! Bạch Đức Thế Tôn! Vào vị lại, con sẽ thụ trì, giảng nói pháp Vô thượng chính giác mà Đức Như Lai tập hợp trong vô lượng a-tăng kỳ kiếp.
Khi bồ-tát Di-lặc nói lời này, tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách”.
Kinh Đại tập ghi: “Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo thượng thủ Di-lặc và tất cả bồ-tát ma-ha-tát trong hiền Kiếp:
- Này các thiện nam! Thuở xưa, khi hành đạo Bồ-tát, Ta thường cúng dường chư Phật, lấy thiện căn này làm nhân Vô thượng chính giác. Ngày nay, vì thương xót chúng sinh, Ta chia quả báo này làm ba phần: Một phần để tự thụ dụng; phần thứ hai, sau khi diệt độ, Ta cho hàng Thanh văn tu tập thiền định, giải thoát tam-muội kiên cố, khiến họ không thiếu thốn. Phần thứ ba, Ta cho hàng Thanh văn phá giới, nhưng đọc tụng kinh điển và những tì-kheo trong thời chính pháp, tượng pháp, khiến họ không thiếu thốn.
Này Di-lặc! Nay ta lại giao phó hàng thanh văn
có ba nghiệp tương ưng, tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cho đến những người đắp ca-sa phá giới trong thời chính pháp, tượng pháp cho ông, đừng để họ thiếu thốn, cô độc mà chết. Cũng đừng làm cho các chiên-đà-la, quốc vương não hại nhau khiến thân tâm phải khổ não.
Hôm nay, Ta lại giao phó những thí chủ kia cho ông. Ông nên hộ trì, dưỡng dục những người cúng dường cho hàng xuất gia trong giáo pháp của ta, dù là pháp khí hay chẳng phải pháp khí.
Này Di-lặc! Hiện tại, hoặc vị lai, người nào đọc tụng, thụ trì pháp môn này thì trăm nghìn vạn đời được mười công đức thanh tịnh, đó là thân, miệng, ý thanh tịnh, từ lìa sát sinh cho đến lìa tà kiến.
Nếu người nào chí thành lắng nghe pháp môn này thì người ấy trụ nơi chân thật, trong trăm nghìn vạn đời thường được tám công đức thanh tịnh:
1. Trường thọ.
2. Đoan chính.

Phần 7

3. Giàu sang.
4. Danh tiếng.
5. Thường được chư thiên hộ trì.
6. Đầy đủ những vật cần dùng.
7. Dứt sạch nghiệp chướng.
8. Khi mạng chung có chư Phật và đại chúng ở mười phương phóng ánh sáng chiếu vào mắt người đó, khiến thấy cõi lành sể sinh về.
Người đó cũng sẽ được mười ba công đức thanh tịnh:
1. ở trong sinh tử lưu chuyển, không bao giờ khởi ác kiến điên đảo.
2. Không sinh vào cõi nước ô trược, không có Phật.
3. Thường được gặp Phật.
4. Thường được nghe chính pháp.
5. Thường cúng dường chúng tăng.
6. Gặp thiện hữu trí thức.
7. Luôn tương ưng với sáu ba-la-mật.
8. Không rơi vào Tiểu thừa.
9. Thường dùng sức đại từ, đại bi và đại phương tiện để giúp chúng sinh thành tựu căn lành.
10. Thường phát nguyện thù thắng.
11. Không lìa các pháp trên cho đến khi chứng Bồ-đề.
12. Mau chóng đầy đủ sáu ba-la-mật.
13. Chứng đắc Vô thượng chính đẳng chính giác.
Nếu người nào thụ trì, biên chép, giảng nói, tu hành đúng pháp môn Nguyệt Tạng này sẽ được những công đức như trên”.
Kinh Đại Tập ghi: “Bấy giờ, đồng tử Vô Thắng ý thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng sinh ở cõi Phật
phương khác thường nói thế giới Ta-bà tạp uế, nhưng nay con thấy thanh tịnh.
Phật đáp:
- Đúng thế! Đúng thế! Như lời ông nói! Các bồ-tát ở thế giới này hóa thành thân trời, người, súc sinh, dạo trong cõi Diêm-phù-đề giáo hóa các chúng sinh như thế. Nhưng nếu hóa làm trời, người thì dễ điều phục chúng sinh, nếu làm súc sinh thì khó điều phục chúng sinh.
Trong biển phía đông bên ngoài cõi Diêm-phù-đề có núi Hồ bằng lưu ly. Trong núi này có nhiều trân bảo, có hang Chủng Chủng sắc, là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con rắn độc tu Thanh văn từ. Lại có hang Vô Tử, cũng là chỗ cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con ngựa tu Thanh văn từ. Lại có hang Thiện Trụ Xứ cũng là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con dê tu Thanh văn từ. Thần cây trong núi này tên là Vô Thắng, la-sát nữ tên là Thiện Hạnh, mỗi mỗi đều có năm trăm quyến thuộc, cùng cung phụng ba con thú kia.
Trong biển phía nam bên ngoài cõi Diêm-phù-đề có núi pha-lê. Trong núi này có hang Thượng sắc, cũng là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con khỉ tu Thanh vàn từ; có hang Thệ Nguyện, cũng là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con gà tu Thanh văn từ; lại có hang Pháp Lâm, là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, Có một con chó tu Thanh vãn từ. Trong núi có Hòa thần và la-sát nữ Nhãn Kiến, mỗi vị đều có năm trăm quyến thuộc cùng cung phụng ba con chim thú kia.
Trong biển phía tây bên ngoài cõi Diêm-phù-đề có núi Bồ-đề Nguyệt bằng bạc. Trong đó có hang Kim Cương, cũng là nơi cư trú xưa kia của bô-tát, có một con heo tu Thanh văn từ; có hang Hương Công Đức, cũng là nơi cư trú xưa kia của Bồ-tát, có một con chuột tu Thanh văn từ; có hang Cao Công Đức, cũng là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con trâu tu Thanh văn từ. Trong núi có thần gió Động Phong và la-sát nữ Thiên Hộ, mỗi vị có năm trăm quyến thuộc cúng cung phụng ba con thú kia.
Trong biển phía bắc bên ngoài cõi Diêm-phù-đề có núi Công Đức. Trong đó có hang Minh Tinh, cũng là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con sư tử tu Thanh văn từ; lại có hang Tịnh Đạo cũng là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, trong đó có một con thỏ tu Thanh văn từ; lại có hang Hỷ Lạc, cũng là nơi cư trú xưa kia của bồ-tát, có một con rồng tu Thanh văn từ. Trong núi này có thủy thần Thủy Thiên và la-sát nữ Tu Tàm Quý, mỗi vị đều có năm trăm quyết thuộc cùng cung phụng ba con thú kia.
Mười hai con thú này thường qua lại cõi Diêm-phù-đề bất kể ngày đêm. Chúng được trời người cung kính và đã thành tựu công đức. Chúng từng phát nguyện sâu rộng nơi các Đức Phật. Một ngày một đêm, chúng cử một con đi giáo hóa, mười một con còn lại an trụ tu tập lòng từ, giáp vòng thì trở lại từ đầu. Mùng một tháng bảy, chuột du hành trước, dùng Thanh văn thừa giáo hóa tất cả loài chuột, khiến xa lìa ác nghiệp, tu tập thiện nghiệp, cứ xoay vần như thế đến ngày thứ mười hai, sau đó chuột du hành trở lại, như thế cho đến mười hai tháng, mười hai năm để điều phục chúng sinh. Cõi này có nhiều công đức, thậm chí loài súc sinh cũng có thể giáo hóa, giảng nói đạo Vô thượng Bồ-đề. Vì thế, các bồ-tát ở phương khác thường nên cung kính cõi Phật này”.
* Lời bàn
Do lòng từ bi giáo hóa, nên bồ-tát hóa hiện ra các thân người, súc sinh v.v... an trụ nơi thế giới này khiến Phật pháp không bị hủy diệt. Vì thế, con người mới sinh ra tương ứng với bồ-tát trụ trong hang nào, tức thuộc con thú ở đó, nên được chúng bảo hộ, tạo lợi ích. Do đó, Trung Quốc căn cứ theo đây mà lập mười hai thời tương ưng với mười hai con thú lưu truyền trong dân gian, không khác với kinh.
22.6. A-LA-HÁN
Truyện Phó pháp tạng ghi:
- Đức Phật phó chúc chính pháp cho Đại Ca-diếp giừ gìn, không để cho thiên ma, rồng, quỷ thần, kẻ tà kiến, vua quan xem thường, hủy hoại. Sau khi nhận lời, Ca-diếp kết tập ba tạng kinh điển, lưu truyền khắp trời người. Sau đó, Ca-diếp lại phó chúc chính pháp cho A-nan, cứ như thế cho đến tôn giả Sư Tử, tổng cộng hai mươi lăm vị, đều là các bậc thánh đầy đù sáu thần thông ở Diêm-phù-đề. Hiện nay, Đại Ca-diếp đang nhập Diệt tận định ở vách tây núi Linh Thứu. Trải qua năm mươi sáu ức bảy nghìn vạn năm, khi Phật Di-lặc giáng trần thì Đại Ca-diép trao ca-sa của Phật Thích-ca cho Phật Di-lặc, hiển hiện thần biến, rồi vào niết-bàn.

Phần 8

Trong nước Thư-cừ, cách phía nam nước Vu-điền hai nghìn dặm có ba vị a-la-hán nhập định trong một ngọn núi, vô số năm đến nay mà vẫn uy nghiêm như còn sống. Đến ngày mười lăm, các vị tăng nước ngoài vào núi này cạo râu tóc cho ba vị ấy. Trong các kinh luật, có nói việc Đức Phật bảo đại a-la-hán Tân-đầu-lô thường trụ ở thế gian lưu truyền Phật pháp trong ba châu, làm lợi ích cho chúng sinh khiến họ ra khỏi sinh tử.
Luận Nhập Đại thừa ghi:
- Mười sáu vị a-la-hán vô học: Tân-đầu-lô, La-hầu-la v.v... và chín mươi chín ức a-la-hán đều ở trước Phật nhận trách nhiệm giữ gìn Phật pháp.
Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trụ kí ghi:
- Sau khi Đức Bạc-già-phạm vào niết-bàn khoảng tám trăm năm, trong nước Chấp Sư Tử của vua Thắng Quân có a-la-hán Nan-đề-mật-đa-la. Duyên giáo hóa hoàn mãn, trước khi vào Niết-bàn, ngài tập hợp các tì-kheo, tì-kheo ni v.v... và nói: “Đại chúng có nghi ngờ điều gì thì nên hỏi ngay!”. Các tì-kheo nghe bảo, nghẹn ngào rơi lệ, hồi lâu mới hỏi:
- Chúng con chưa rõ chính pháp vô thượng của Phật Thích-ca Mâu-ni tồn tại bao lâu?
- Các ông hãy lắng nghe! Khi xưa, Như Lai đã nói kinh Pháp trụ. Nay tôi xin tóm lược: Trước khi vào Niết-bàn, Đức Phật đem giáo pháp vô thượng phó chúc cho mười sáu vị đại a-la-hán và các hàng quyến thuộc hộ trì, không để cho giáo pháp không bị tiêu diệt. Ngài lại dạy họ làm phúc điền chân thật, để người cúng dường được phúc báo lớn.
Nghe xong, đại chúng vơi bớt buồn thương và thưa:
- Xin tôn giả nêu tên mười sáu vị đại a-la-hán cho chúng con biết!
Ngài Khánh Hữu đáp:
- Vị thứ nhất là tôn giả Tân-độ-la-bạt-la-nọa-xà cùng một nghìn a-la-hán, phần nhiều trụ ở châu Tây Cù-đà-ni.
Vị thứ hai là tôn giả Ca-nặc-ca-phạt-tha cùng với năm trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở nước Ca-thấp-di-la.
Vị thứ ba là tôn giả Ca-nặc-bạt-ly-nọa-xà cùng với sáu trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở Đông Thắng Thân châu.
Vị thứ tư là tôn giả Tô-tần-đà cùng với bảy trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở châu Bắc Câu-lô.
Vị thứ năm là tôn giả Nặc-cự-la cùng với tám trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở châu Nam Thiệm-bộ.
Vị thứ sáu là tôn giả Bạt-đà-la cùng với chín trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở châu Đam-một-la.
Vị thứ bảy là tôn giả Ca-lí-ca cùng với nghìn a-la-hán, phần nhiều trụ ở châu Tăng-già-trà.
Vị thứ tám là tôn giả Phạt-xà- la-phất-đa- la cùng với một nghìn một trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở châu Bát-lạt-noa.
Vị thứ chín là tôn giả Tuất-bác-ca cùng với chín trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở trong núi Hương Túy.
Vị thứ mười là tôn giả Bán-thác-ca cùng với ba nghìn một trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở cõi trời Ba Mươi Ba.
Vi thứ mười một là tôn giả La-hỗ-la cùng với một nghìn một trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở châu Tat-lợi-dương-cù.
Vị thứ mười hai là tôn giả Na-già-tê-na cùng với một nghìn hai trăm vị a-la-hán, phần nhiều trụ ở núi Bán-độ-ba.
Vị thứ mười ba là tôn giả Nhân-yết-đà cùng với một nghìn ba trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở trong núi Quảng Hiếp.
Vị thứ mười bốn là tôn giả Phạt-na-bà-tư với một nghìn bốn trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở trong núi khả Trụ.
Vị thứ mười lăm là tôn giả A-thị-đa cùng với một nghìn năm trăm vị a-la-hán, phần nhiều trụ ở núi Thứu Phong.
Vị thứ mười sáu là tôn giả Chú-đồ-bán-thác-ca cùng với một nghìn sáu trăm a-la-hán, phần nhiều trụ ở trong núi Trì Trục.
Mười sáu vị đại a-la-hán này đều đầy đủ ba minh, sáu thần thông, tám giải thoát v.v..., có vô lượng công đức, lìa ô nhiễm ba cõi, tụng thuộc ba tạng, thông suốt ngoại điển, vâng lời Phật dạy, dùng sức thần thông kéo dài tuổi thọ, hộ trì chính pháp của đức Thế Tôn và làm ruộng phúc chân thật cho thí chủ, giúp họ được phúc báo lớn.
Nếu quốc vương, phụ tướng, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, hoặc người nam, người nữ nào phát lòng thanh tịnh, mở đại hội cúng dường chư tăng khắp nơi, hoặc cứ năm năm một lần mở hội Vô-già. Hoặc như. khi hoàn thành việc xây chùa tạc tượng, in kinh, may cờ v.v... mở đại hội cúng dường, hoặc thỉnh chư tăng đến trú xứ để cúng dường, hoặc đến nơi kinh hành v.v... trong chùa, dâng những tọa cụ, giường chiếu, y phục, thuốc men, đồ ăn, thức uống thượng diệu cúng dường chư tăng. Khi ấy mười sáu vị đại a-la-hán này và các quyến thuộc, tùy thuận từng nơi mà phân nhau đến. Bấy giờ, các ngài hiện ra các hình tướng đồng với phàm tăng, thầm nhận phẩm vật cúng dường để thí chủ được phúc báo thù thắng.
Mười sáu vị đại a-la-hán này hộ trì chính pháp, làm lợi ích chúng sinh, cho đến khi tuổi thọ của con người ở châu Nam Thiệm-bộ cùng tột lâu dài. Đến khi chỉ còn mười tuổi, kiếp đao binh dấy khởi, sát hại lẫn nhau, Phật pháp dần dần tiêu diệt. Sau kiếp đao binh, tuổi thọ con người tăng dần lên đến một trăm. Người ở châu này chán cảnh đao binh, chém giết đau khổ, nên thích tu thiện. Khi ấy, mười sáu vị đại a-la-hán này cùng với các quyến thuộc lại thị hiện trong loài người, xiển dương chính pháp vô thượng, độ vô lượng chúng sinh xuất gia, làm những việc lợi ích. Đến khi tuổi thọ con người ở châu này sáu vạn năm thì chính pháp vô thượng được

Phần 9

lưu hành khắp thế gian, không đoạn dứt. Đến khi tuổi thọ con người bảy vạn năm thì chính pháp vô thượng bị hủy diệt.
Khi ấy, mười sáu vị đại a-la-hán cùng với các quyến thuộc đến nhóm họp ở châu này, vận sức thần thông, dùng bảỵ thứ báu xây tháp cao rộng trang nghiêm, thỉnh tât cả xá-lợi của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tôn thờ trong đó. Họ dâng các thứ hương hoa cúng dường, cung kính, ca ngợi, nhiễu quanh tháp trăm nghìn vòng, chiêm ngưỡng, lễ lạy, rồi bay lên hư không, hướng vê phía tháp mà thưa:
- Kính lễ đức Thích-ca Như Lai ứng Cúng Chính Đẳng Giác! Trước đây, chúng con nhận lời Phật dạy bảo, hộ trì chính pháp, làm lợi ích trời người.
Nay tạng pháp đã diệt, duyên đã tròn đầy, chúng con xin diệt độ.
Nói xong, họ đồng loạt vào niết-bàn Vô dư. Trước hết các ngài nhập định, dùng nguyện lực tự nổi lửa đốt thân, giống như đèn tắt, thi thể không còn.
Bấy giờ, tháp lún sâu vào trong đất đến chạm đến tầng kim cang, chính pháp vô thượng của Phật Thích-ca Mâu-ni hoàn toàn bị hủy diệt trong tam thiên đại thiên thế giới này. Từ đó trở đi, trong cõi Phật này có bảy trăm câu-chi độc giác cùng lúc xuất hiện. Đến khi tuổi thọ của con người tám vạn năm thì các vị độc giác này đều diệt độ.
Sau đó, đức Di-lặc Như Lai, ứng Đẳng Chính Giác xuất hiện thế gian. Bấy giờ, châu Nam Thiệm-bộ rộng rãi trang nghiêm thanh tịnh, giống như kinh đã ghi.
22.7. TĂNG NI
Kinh Tì-ni mẫu ghi:
- Người xuất gia có năm nhân duyên khiến cho chính pháp tồn tại lâu dài:
1. Thường đọc tụng kinh điển, đầy đủ văn cú, trước sau có thứ tự, nghiên cứu rốt ráo nghĩa lí, lại dạy cho đệ tử cùng biết.
2. Thông suốt ba tạng, đầy đủ văn nghĩa, dạy cho bốn chúng nghe những kiến giải của mình, nên dù mạng chung, nhưng chính pháp vẫn nối nhau không dứt.
3. Trong tăng chúng có những vị đại đức, thượng tọa được bốn chúng quý trọng, siêng năng tu tập ba nghiệp, xả bỏ việc đời. Đệ tử của vị ấy cũng như vậy, nối tiếp nhau tu trọn đức hạnh.
4. Các tì-kheo tính tình nhu hòa, lời nói không trái, làm theo việc lành, lánh xa điều ác, vâng theo lời dạy của bậc trí đức tài cao mà tu tập.
5. Các tì-kheo sống hòa thuận, không vì thế lực, lợi dưỡng, bè đảng giúp đỡ mà cùng tranh giành phải trái.
Năm việc này khiến chính pháp mãi mãi lưu truyền ở đời, nên gọi là bậc thượng trong thuyết pháp.
22.8. TRƯỞNG GIẢ THIỆN SINH
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Bấy giờ trong pháp hội, trưởng giả Thiện Sinh thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Lục sư ngoại đạo thường dạy mọi người: ‘Nếu người nào có thể sớm tối kính lễ sáu phương thì tăng tuổi thọ và của cải. Tại sao? Vì phương đông thuộc Đế Thích cai quản, người nào cúng dường thì được Đế Thích hộ trì. Phương nam thuộc vua Diêm-la cai quản, người nào cúng dường thì được Diêm-la hộ trì. Phương tây thuộc thiên tử Bà-lâu-na cai quản, người nào cúng dường thì được hộ trì. Phương bắc thuộc thiên tử Câu-tỳ-la cai quản, người nào cúng dường thì được hộ trì. Phương dưới thuộc Hỏa thiên cai quản, người nào cúng dường thi được hộ trì. Phương trên thuộc Phong thiên cai quản, người nào cúng dường thì được hộ trì. Trong Phật pháp có sáu phương như thế chăng?
Đức Phật đáp: “Này Thiện nam! Trong Phật pháp ta cũng có sáu phương, đó là sáu ba-la-mật:
1. Phương đông tức là đàn-na. Tại sao? Đây là phương mặt trời mọc, biểu thị cho việc xuất hiện nhân duyên của ánh sáng trí tuệ. Phương đông thuộc tâm chúng sinh. Nếu chúng sinh cúng dường đàn-na ba-la-mật thì tăng trưởng thọ mạng và tài sản.
2. Phương nam tức là thi-la. Tại sao? Thi-la là bên phải, nếu người nào cúng dường Thi-la thì cũng tăng trưởng thọ mạng và tài sản.
3. Phương tây tức là sàn-đề. Tại sao? Vì phương tây là phía sau, bỏ tất cả pháp ác lại phía sau. Nếu người nào cúng dường sằn-đề thì cũng tăng trưởng thọ mạng và tài sản.
4. Phương bắc tức là tỳ-lê-da. Tại sao? Vì phương bắc là thắng các pháp ác. Nếu người nào cúng dường thì cũng tăng trưởng thọ mạng và tài sản.
5. Phương dưới tức là thiền định. Tại sao? Vì chính quán thấu suốt ba đường ác. Nếu người nào cúng dường thì cũng tăng trưởng thọ mạng và tài sản.
6. Phương trên tức là bát-nhã. Tại sao? Vì phương trên là vô thượng. Vì vô thượng, nên nếu người nào cúng dường thì tăng trưởng thọ mạng và tài sản.
Này Thiện nam! Sáu phương này đều thuộc tâm chúng sinh chẳng giống như sáu phương mà lục sư ngoại đạo nói. Ai có thể cúng dường sáu phương này? Chi cố bồ-tát mới có thể cúng dường”.
22.9. THIÊN VƯƠNG
Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “Xá-lợi-phất thưa:
-Tại sao Như Lai bảo Đế Thích và bốn thiên vương: ‘Chẳng lâu nữa, Ta sẽ diệt độ. Các ông nên trụ tại cõi này mà hộ trì pháp của ta. Sau khi Ta diệt độ, bốn đại tì-kheo là Ma-ha-ca-diếp, Tân-đầu-lô, Quân-đố-bát-thán, La-hầu-la không vào niết-bàn, vẫn trụ thế mà hoằng dương pháp của ta.
Phật lại bảo:
- Thời tượng pháp, lòng tin của chúng sinh cạn cợt, dù phát lòng tin, nhưng không kiên cố, không thể cảm đến đệ tử chư Phật. Dù họ chuyên ròng tu tập nhiều năm, nhưng cũng không bằng người phát một niệm thiện vào thời Phật còn tại thế. Do đó, khi Phật Di-lặc hạ sinh, mới cho phép các ông vào niết-bàn”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Bấy giờ, Thế Tôn bảo Đế Thích và bốn thiên vương:
- Chẳng lâu nữa Như Lai sẽ vào niết-bàn vô dư. Các ông nên trụ tại cõi này mà hộ trì chính pháp. Sau khi Ta diệt độ, lúc giáo pháp bị hủy diệt hơn một nghìn năm, sẽ có phi pháp xuất hiện ở thế gian, mười điều thiện không còn, trong cõi Diêm-phù-đề có nhiều khổ nạn. Xương đỉnh đầu của Phật, răng Phật, bình bát Phật được tôn thờ ở phương đông”.

Phần 10

Kinh Thắng thiên vương ghi: “Có chúng sinh thấy bồ-tát vừa mới thành đạo, hoặc thấy bồ-tát thành đạo từ lâu, hoặc thấy bốn vị thiên vương trong một thế giới dâng bát cúng Phật, hoặc thấy những vị thiên vương trong hằng hà sa thế giới dâng bát cúng Phật. Này Xá-lợi-phất! Bấy giờ, vì độ chúng sinh nên bồ-tát thụ nhận tất cả các bát, chồng hết vào bàn tay rồi ép lại thành một. Các vị thiên vương đó không thấy nhau, nên đều cho là đức Thế Tôn dùng riêng bát của mình”.
Y bát kỉ ghi: “Khi còn tại thế, Phật Thích-ca dùng bát bằng đá xanh chứa hơn ba thăng. Sau khi Phật niết-bàn, bát này tùy duyên đến với những chúng sinh đủ phúc đức”,
22.10. QUỈ THẦN
Kinh Đại tập ghi:
- Bấy giờ, tất cả chư thiên, rồng, cho đến tất cả ca-trá phú-đan-na v.v... có lòng tin tăng thượng đối với Tam bảo, họ nói với nhau: “Từ nay về sau, tất cả chúng ta nên hộ trì chính pháp. Nếu quốc vương nào trị phạt, đánh đập những người xuất gia thụ trì giới cấm hay không thụ giới cấm, hoặc người thụ rồi lại hủy phạm, không gom chứa giới hạnh, thì chúng ta không hộ trì nữa. Quốc vương này sẽ bỏ bê đất nước; khiến nước ấy xuất hiện những kẻ lừa dối, đấu tranh, dịch bệnh, đói khát, đao binh, mưa gió trái mùa, hạn hán nóng bức, làm tổn hại mùa màng, các đệ tử thanh văn bỏ đến nước khác, làm cho nước đó không còn phúc điền. Nếu quan lại dùng roi đánh đệ tử thanh văn của đức Thế Tôn, hoặc người chỉ đắp ca-sa, mà quốc vương không ngăn cản bảo vệ thì chúng ta cũng nên rời bỏ nưóc đó.
Kinh đại tập ghi
- Bấy giờ, Thế Tôn phó chúc Trung Quốc cho mười bảy vị đại tướng như thiên tử Tì-thủ-yết-ma cho đến đại thiên nữ Song Đồng Mục và năm nghìn quyến thuộc của mỗỉ người:
- Các ông là những bậc hiền thủ, cùng nhau hộ trì Trung Quốc, giúp diệt trừ tất cả sự khổ não, tranh đấu, oán thù, tranh giành, giao chiến nhau, đói khát, dịch bệnh, mưa gió trái thời, lạnh rét, nóng bức. Các ông cũng phải ngăn chặn các ác chúng sinh bất thiện, chấm dứt các tâm sân khuể, thô lỗ, độc ác, khổ não của họ và trừ dẹp tất cả các vật dụng không có ý vị, khiến cho pháp nhãn của ta tồn tại lâu dài, tiếp nối hạt giống Tam bảo, không để đoạn tuyệt.
Có bài tụng:
Bậc Đại Thánh uy nghiêm
Trí giác ngộ tròn sáng
Quán thấy khắp tất cả
Như vang ứng theo tiếng.
Chẳng nhờ tăng trưởng phúc
Đâu biết tâm chí thành!
Đạo lành đáng kính mộ
Dẫn dắt chúng sinh mê
Trăm sông nổi sóng dữ
Đều gom về một vị
Mọi vật có lấy bỏ
Thiện ác có đầy vơi
Tám tà thật bén nhạy
Bốn câu cùng tranh danh
Biết phân biệt đúng sai
Pháp trụ được lâu dài.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục