PUCL QUYỂN 28 - CHƯƠNG THẦN DỊ
10/11/2015
QUYỂN 28 Quyển này có một chương Thần dị. 20. CHƯƠNG THẦN DỊ 20.1. LỜI DẪN Dùng đạo thuật biến hóa là để chặn tâm khoe khoang, dẹp trừ kiêu mạn, bẻ gãy mũi nhọn hung ác, mở hết rắc rối trần lao. Đến như ngồi xe, mang ấn...

QUYỂN 28
Quyển này có một chương Thần dị.
20. CHƯƠNG THẦN DỊ
Dùng đạo thuật biến hóa là để chặn tâm khoe khoang, dẹp trừ kiêu mạn, bẻ gãy mũi nhọn hung ác, mở hết rắc rối trần lao. Đến như ngồi xe, mang ấn thì mọi người qui phục, đá cao chót vót thì lực sĩ cũng phải nép mình. Nên biết chí trị thì vô tâm, cương nhu do cách giáo hóa. Vì thế, hoặc ẩn trí tuệ, giấu hình hài mà hiện đồng với thế tục; hoặc hiện những việc thần kì, dự đoán trước, hiển điềm tốt xấu; hoặc đã chết mà sống lại, hoặc chôn rồi mà hòm không. Những hành vi linh dị, thần kì như thế, phàm phu thật chẳng biết được nguyên do.
về lí, cốt ở chỗ hợp với chính đạo; về sự, quí ở việc cứu chúng sinh. Cho nên quyền biến hay trái lẽ thường mà hợp đạo, tận dụng nó để thành tựu đạo nghiệp mà thôi. Nhưng những ghi chép đã được lưu truyền từ xưa, về tính chân thật rõ ràng thì không thể cứu xét được. Trong đó, hoặc do pháp thân ứng cảm mà có, hoặc từ ẩn sĩ thoát tục biến hiện. Nhưng có kẻ chỉ cần hơn người ít phần thì liền tỏ ra ngã mạn tự cao. Lại có người dùng y phương mê hoặc, dùng tà đạo loạn thế; hoặc mượn thần dược mà bay cao, nhờ sâm-linh mà trường thọ, cùng với những việc gà gáy trên trời, chó sủa trong mây, hạc-rắn bất tử, rùa sống nghìn năm; đều cho là lạ thường, nhưng đâu thể so với năng lực biến hóa của bậc Thánh.
Phần này, tôi chỉ thuật lại năm ba việc thần dị của hàng thanh văn mà thôi, còn năng lực thần thông tự tại của chư Phật, bồ-tát thì chẳng thể dùng ngôn từ diễn đạt, chẳng thể dùng tâm ý suy lường. Tất cả đều được ghi chép ở các chương, chứ không giới hạn ở đây.
20.2. THẦN THÔNG
Kinh Đại phương đẳng đại tập niệm Phật tam-muội ghi: “Đại Mục-kiền-liên đáp lời ngài A-nan:
- Tôi nhớ về quá khứ, đã từng đem tam thiên đại thiên thế giới bỏ vào miệng mà chúng sinh ở đó không có một niệm kinh sợ và cũng không biết mình đang qua lại.
Lại nhớ về quá khứ, trước đức Thế Tôn, tôi nhiều lần rống tiếng sư tử, đem núi Tu-di bỏ vào miệng, thời gian hơn một kiếp hoặc ít hơn một kiếp.
Lại nhớ về quá khứ ở phương đông, trong tam thiên đại thiên thê giới kia có thành Bảo Môn rộng lớn. Thành này có sáu vạn ức nghìn gia đình. Ở mỗi nhà, tôi đều hiện thân giảng pháp, khiến họ an trụ chính pháp.
Bấy giờ, ngài Xá-lợi-phất cũng nói với A-nan:
- Nhớ thuở xưa, tôi đặt ca-sa trên đất, thượng tọa Mục-kiền-liên thần thông đệ nhất, cũng không thể lấy được, dù chỉ nhấc khỏi mặt đất.
Lại nhớ thuở xưa, trước đức Thế Tôn, tôi rống tiếng sư tử, các ngoại đạo muốn so tài, tôi liền ẩn thân và giảng pháp. Chỉ Thế Tôn và các đại bồ-tát biết chỗ tôi, còn hàng đệ tử thanh văn cho đến ngoại đạo đều hỏi tôi ẩn thân ở đâu. Họ chẳng bao giờ biết chỗ tôi trụ.
Bấy giờ, ngài Đại Ca-diếp nói:
- Tôi nhớ có lần, trước đức Thế Tôn, tôi rống tiếng sư tử, đồng thời thổi một hơi làm nát tất cả ngọn núi quanh các núi Tu-di ở trong tam thiên đại thiên thế giới này, cho đến không còn một mảy bụi nào, mà không làm tổn hại những chúng sinh ở trong đó và họ cũng không biết gì.
Lại có lần, tôi thổi một hơi làm khô cạn tất cả ao hồ, sông biển, cho đến vô lượng nghìn ức na-do-tha vũng nước trong tam thiên đại thiên thế giới này, mà chúng sinh ở trong đó không hay biết gì.
Lại có lần, trong pháp hội, tôi rống tiếng sư tử, thổi ra ngọn lửa dữ đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới, giống như kiếp thiêu, mà cũng không làm tổn hại một chúng sinh nào và chúng sinh ở trong đó cũng không hay biết gì.
Nghe xong, các đại bồ-tát như Di-lặc, Văn-thù v.v... liền hóa ra những hoa thơm chất cao như núi Tu-di, ba lần rải lên ngài Ca-diếp. Các đại bồ-tát lại hóa lọng bảy báu che trên đỉnh đầu ngài Ca-diếp và tất cả đại chúng.
Bấy giờ, ngài Phú-lâu-na nói:
- Tôi nhớ lại thuở xưa, có những chúng sinh cần dùng thần thông để giáo hóa. Tôi liền bắt lấy tam thiên đại thiên thế giới và dùng tay xát vào để khai thị họ, nhưng không có một chúng sinh nào kinh sợ và cũng không hay biết gì; chỉ có những chúng sinh đáng được giáo hóa mới thấy việc này. Tôi lại dùng tay bắt lấy và xoay tròn tam thiên đại thiên thế giới này, không khó khăn gì.
Ở trước Thế Tôn, tôi đưa tất cả nước của sông biển, ao hồ trong tam thiên đại thiên thế giới vào một đốt tay, mà không một chúng sinh nào khởi ý niệm nguồn nước bị tổn giảm.
Vào đầu hôm nọ, tôi dùng thiên nhãn thanh tịnh quán tất cả mối nghi của vô lượng chúng sinh, nên tuy không xuất định mà vẫn thuyết pháp diệt trừ mối nghi, khiến mỗi người tùy cơ đều được lợi ích, không bị chướng ngại. Nhưng mỗi người đều nghĩ: “Tôn giả giảng pháp cho một mình ta”.
Bấy giờ, ngài La-hầu-la nói:
- Nhớ thuở xưa, tôi từng đặt tất cả ngọn núi trong tam thiên đại thiên thế giới này vào một lỗ chân lông mà thân tôi và chúng sinh vẫn bình thường.
Có lúc tôi đặt tất cả ao hồ sông biển trong tam thiên đại thiên thế giới vào lỗ chân lông mà thân tôi và chúng sinh chẳng tổn hại gì, tất cả ao hồ, sông biển vẫn như cũ.
Một thuở nọ, khi tôi nhập định nơi này mà đồng thời hiện thân đến cõi Phật ở phương đông bắc, đỉnh lễ Đức Phật Nan Thắng, rồi trở về thế giới này, tìm hương chiên-đàn đến cúng dường Đức Phật ấy. Mùi hương này lan tỏa và biến hóa ra vô lượng hình loại.
Bấy giờ, ngài Tu-bồ-đề nói:
- Nhớ thuở xưa, khi nhập tam-muội, tôi đặt tam thiên đại thiên thế giới rộng lớn này trên đầu sợi lông, rồi xoay tròn như bánh xe của người thợ gốm, mà không một chúng sinh nào trong đó kinh sợ và cũng không biết mình đang ở đâu.
Lại nhớ quá khứ, trước Như Lai, tôi rống tiếng sư tử: ‘Bạch Đức Thế Tôn! Con có thể thổi nhẹ khiến tam thiên đại thiên thế giới tan nát, mà chúng sinh trong đó không kinh sợ và cũng không có ý niệm mình đang qua lại’.
Lại ở trước Đức Phật, tôi có thể đặt tất cả chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới lên đầu ngón tay, lên đến cõi trời Hữu Đỉnh, rồi trở về mà chúng sinh không có ý niệm mình qua lại.
Lại nhớ thuở trước, khi nhập tam-muội, tôi thấy vô lượng vô biên trăm nghìn thế giới ở mười phương. Mỗi thế giới có sáu vạn Đức Phật mà tôi chưa từng thấy.
Lại có lúc, nhờ định này mà tôi vận thần lực đến bên cạnh Đế Thích ở đỉnh núi Tu-di, lấy một nắm bột hương chiên-đàn đến cúng dường các Đức Phật trong vô lượng thế giới kể trên. Những chúng sinh trong các thế giới đó đều thấy tôi trụ ở Diêm-phù-đề mà cúng dường, phụng thờ các Đức Phật ở vô lượng thế giới”.
20.3. HÀNG PHỤC TÀ ĐẠO
Kinh A-dục vương ghi: “Thưở xưa, vua A-thứ-già rất sùng tín và thường cúng dường Tam bảo, nên các bà-la-môn, ngoại đạo, v.v... đều ganh ghét. Họ nhóm lại, rồi chọn ra năm trăm trưởng lão tinh thông bốn bộ Vệ-đà, thiên văn, địa lí, v.v... để luận bàn. Họ nói:
- Vua A-thứ-già thường cúng dường mọi thứ cho bọn sa-môn trọc đầu. Chúng ta là những trưởng lão mà chưa từng được hỏi han đến. Chúng ta phải tìm cách gì để vua chuyển ý!
Có một bà-la-môn giỏi chú thuật nói:
- Các hiền nhân cứ yên tâm! Bảy ngày sau, tôi sẽ dùng chú thuật hóa làm trời Ma-hê-thủ-la, bay đến cung vua. Các ngài hãy đi sau tôi. Tôi sẽ khiến vua cúng dường mọi thứ cho các ngài!
Đến sáng ngày thứ bảy, bà-la-môn này đọc chú hóa thành trời Ma-hê-thủ-la bay đên cung vua. Các bà-la-môn khác đều đi theo. Khi đến cung vua, họ sai người vào tâu vua:
- Thưa bệ hạ! Trên hư không có trời Ma-hê-thủ-la dẫn theo bốn trăm chín mươi chín bà-la-môn bay đến cung vua. Họ đang đứng ngoài cổng thành và muốn diện kiến.
Vua sai người ra cổng thành đưa họ vào cung và mời ngồi hai bên. Vua nói:
- Mời mọi người ngồi và cùng nhau trao đổi. Thưa trời Ma-ê-thủ-la! Tại sao ngài hạ cố đến đây gặp trẫm, ngài cần gì?
- Chúng tôi cần thức ăn. Trời Ma-hê-thủ-la đáp.
Vua liền ra lịnh dọn năm trăm bàn tiệc. Trời Ma-hê-thủ-la và các bà-la-môn từ chối và nói:
- Từ nhỏ đến lớn, chúng tôi chưa từng ăn những món này.
- Vừa rồi, các ngài chẳng yêu cầu là gì, nên trẫm mới bảo dọn thức ăn như thế, chẳng biết các ngài dùng món gì?
- Thức ăn của chúng tôi là bọn sa-môn trọc đầu.
Vua A-thứ-già liền sai một cận thần:
- Khanh hãy đến chùa Kê-đầu-mạt nói với tôn giả Da-xá là trong cung vua có năm trăm bà-la-môn, trong đó có một người tự xưng là trời Ma-hê-thủ-la. Trẫm không biết là người hay là ác la-sát, xin chỉ cho biết, đồng thời thỉnh a-xà-lê đến đây để đuổi họ đi.
Quan cận thần đó là đệ tử của bà-la-môn tà kiến nên khi đến chỗ tôn giả Da-xá, ông ta không truyền lại đúng lời của vua, mà chỉ nói: ‘Vua muốn dùng sa-môn làm thức ăn’.
Thượng tọa Da-xá liền nói với vị duy-na đánh kiền chùy tập họp chúng tăng và từ biệt đại chúng:
- Ta đã già, vì đại chúng mà gánh vác việc này. Đại chúng ở lại an ổn, cố gắng hộ trì Phật pháp, cho phép ta đi!
Đệ nhị thượng tọa nói:
- Thượng tọa không nên đi! Con không đủ năng lực lãnh đạo. Con xin đi!
Đệ tam thượng tọa nói:
- Đệ nhị thượng tọa không nên đi. Con đúng là người phải đi!
Tiếp tục như thế, cho đến các sa-di, tất cả là mười sáu vạn tám nghìn người. Cuối cùng, một sa-di bảy tuổi đến giữa chúng, quì xuống chắp tay thưa:
- Tất cả đại tăng chẳng cần phải bận tâm. Con nhỏ nhất trong đây, không thể gánh vác việc hộ trì Phật pháp. Xin đại chúng cho phép con đi!
Thượng tọa Da-xá vô cùng vui mừng, xoa đầu sa-di này và nói: “Ông đi là hợp lí”.
Sử giả chẳng đợi sa-di cùng đi mà về trước.
Vua hỏi:
- Có ai đến không?
- Họ liên tiếp nhường nhau và cuối cùng cử sa-di nhỏ nhất đến.
- Các vị lớn xấu hổ, nên mới sai sa-di nhỏ đến đối đáp! Vua nói.
Khi nghe sa-di đến cung, vua ra cổng nghinh đón và mời sa-di ngự trên tòa cao. Các bà-la-môn phẫn nộ:
- Vua A-thứ-già thật chẳng biết phân biệt. Chúng ta là những bậc trưởng lão đức độ, vua không thèm ra nghinh đón, lại ra nghinh đón đứa bé này!
Sa-di hỏi vua:
- Có việc gì đại vương mời chúng tôi đến?
-Trời Ma-hê-thủ-la này muốn ăn thịt a-xà-lê.
Tùy ý a-xà-lê, muốn hay không muốn?
- Tôi còn nhỏ, vả lại từ sáng đến giờ chưa ăn, nên trước tiên đại vương cho tôi ăn, sau đó sẽ để họ ăn thịt tôi.
Vua liền bảo nhà bếp dọn một bàn thức ăn, sa-di ăn hết. Vua lại bảo lần lượt dọn năm trăm bàn, sa-di cũng ăn hết. Vua lại bảo nhà bếp dọn tất cả thức ăn lên, sa-di cũng ăn hết. Vua hòi:
- Ngài dùng no chưa?
- Chưa no, vẫn còn đói lắm!
Đầu bếp tâu vua:
- Tất cả thức ăn đều hết sạch.
Vua nói:
- Tất cả những thứ gạo rang, lương thực khô trong kho đều đem dọn ra hết.
Trong chốc lát, sa-di ăn sạch. Vua hỏi:
- Ngài dùng đủ chưa?
- vẫn chưa no.
- Tất cả thức ăn trong cung đều hết sạch, không còn một món gì cả.
- Xin đại vương tóm lấy tất cả bà-la-môn đem lại đây. Tôi muốn ăn họ.
Chẳng bao lâu, sa-di này ăn hết bốn trăm chín mươi chín bà-la-môn. Thấy vậy, trời Ma-hê-thủ-la vô cùng kinh sợ, bay lên hư không, định tháo chạy. Sa-di liền với tay lên hư không, tóm lấy ông ta, rồi ăn luôn. Vua kinh sợ, thầm nghĩ: ‘Sa-di này ăn hết các bà-la-môn, chẳng phải sẽ ăn luôn ta sao!’. Biết tâm ý của vua, sa-di nói:
- Đại vương là đàn việt của Phật pháp, không bao giờ tôi làm tổn hại, ngài chớ kinh sợ! Đại vương có thể cùng tôi đến chùa Kê-đầu-mạt chăng?
- A-xà-lê muốn đưa trẫm lên trời hay vào lòng đất thì trẫm cũng theo!
Sa-di cùng vua đến chùa Kê-đầu-mạt. Vua thấy thức ăn của chúng tăng là thức ăn mà sáng nay sa-di đã ăn tại hoàng cung. Còn năm trăm bà-la-môn đều xuất gia, đáp ca-sa ngồi ở nhóm phía sau. Người bị sa-di ăn trước nhất thì ngồi hàng trên, người hóa làm trời Ma-hê-thủ-la ngồi hàng sau cùng.
Khi thấy vua và sa-di, năm trăm bà-la-môn này rất xấu hổ vả nói với nhau:
- Chúng ta còn không đủ sức đấu với sa-di này, huống gì cả tăng chúng! Chúng ta giống như con cò đợi ném vào lò lửa, như con muỗi chậm chạp mà đòi thi bay với kim xí điểu, như thỏ con đọ sức với sư tử có uy lực. Tỉ thí như thế, thật chẳng tự biết sức mình!
Năm trăm bà-la-môn khởi tâm hổ thẹn, liền chứng đắc quả Tu-đà-hoàn”.
20.4. MANG THAI
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật nói:
- Vào thời quá khứ lâu xa vô lượng kiếp, trong nước Ba-la-nại có ngọn núi Tiên, có một vị Phạm chí sống trong núi ấy, ông ta thường đại tiểu tiện trên đá. Một lần, có vài giọt tinh theo nước tiểu rơi xuống nơi ấy, một con nai cái đến liếm nước tiểu, liền mang thai. Đủ ngày tháng, con nai đến chỗ Phạm chí và sinh ra một bé gái đoan trang xinh đẹp, nhưng đôi chân giống chân nai. Ông ta nuôi dưỡng bé gái khôn lớn.
Phép của Phạm chí là thờ lửa, không để tắt. Một đêm nọ, cô gái này giữ lửa, vô ý để lửa tắt. Cô ta sợ Phạm chí nổi giận, nên liền chạy nhanh đến nhà một vị Phạm chí khác đang sống cách đó khoảng một câu- lũ để xin lửa. Pham chí này thấy trên mỗi dấu chân của cô gái đều có hoa sen. Ông ta bèn yêu cầu cô gái.
- Cô hãy đi quanh nhà ta bảy vòng, ta mới cho lửa. Lúc đi về, cũng phải đi bảy vòng, nhưng không được đi theo dấu cũ, lại phải theo đường khác về nhà!
Cô gái liền làm theo lời yêu cầu của vị Phạm chí để được lửa đem về.
Bấy giờ vua Phạm-dự đi săn, thấy quanh nhà của vị Phạm chí kia có mười lớp hoa sen, lại thấy hai lối đi có hai hàng hoa sen, cho là việc kỳ lạ, bèn đến hỏi:
- Ở đây hoàn toàn không có ao nước, sao lại có hoa sen tuyệt đẹp này?
Phạm chí kể hết sự việc cho vua. Vua liền lần theo hoa sen tìm đến nhà Phạm chí, yêu cầu cho gặp mặt cô gái. Thấy cô gái xinh đẹp khác thường, nhà vua rất vừa ý, liền xin nạp làm phi. Phạm chí đồng ý. Vua liền lập Lộc Nữ làm đệ nhị phu nhân.
Thời gian sau Lộc Nữ mang thai, cổ vị thầy tướng nói cô sẽ sinh được một nghìn vương tử. Nghe tin này, đại phu nhân sinh tâm ganh ghét, liền bày mưu tính kế, chiêu dụ và ban thưởng tiền của, châu báu cho những tì nữ theo hầu phu nhân Lộc Nữ. Đến ngày khai hoa nở nhụy, Lộc Nữ sinh được một hoa sen nghìn cánh. Trước lúc sinh, đại phu nhân lấy lụa bịt mắt Lộc Nữ, không cho nhìn, rồi đem miếng phổi ngựa hôi thối thay vào đó, đem hoa sen nghìn cánh bỏ vào trong giỏ tre, rồi ném xuống sông. Lát sau trở về, đại phu nhân tháo dải lụa bịt mắt Lộc Nữ và nói:
- Hãy nhìn kỹ vật mà ngươi đã sinh đi! Chỉ là một miếng phổi ngựa hôi thối!
Vua cho người đến hỏi Lộc Nữ đã sinh được vật gì?
Mọi người đáp:
- Chỉ sinh được một miếng phổi ngựa hôi thối!
Lúc đó, đại phu nhân nói với vua:
- Bệ hạ vì quá vui đến nỗi bị mê hoặc, cô ta chỉ là con của loài súc sinh, được tiên nhân nuôi dưỡng, nên nay mới sinh ra một vật dơ uế chẳng lành này!
Nói xong, vua và đại phu nhân liền tước bỏ chức phu nhân của Lộc Nữ và không cho phép gặp vua.
Lúc đó, vua Ô-kì-diên đang cùng phu nhân và thể nữ của mình vui chơi ở vùng hạ lưu, bỗng thấy một đám mây màu vàng từ vùng thượng lưu trôi xuống. Vua liền nghĩ: 'Dưới đám mây này nhất định là thần vật!9. Vua liền sai người đến xem, thì thấy bên dưới tán mây màu vàng có một cái giỏ tre. Vua bèn ra lịnh vớt lên mở ra xem, thấy bên trong có một hoa sen nghìn cánh, mỗi cánh sen có một bé trai, liền đem về nuôi dưỡng. Dần dần những cậu bé lớn khôn và đều rất khỏe mạnh.
Theo lệ, hàng năm vua Ô-kì-diên phải cống nạp cho vua Phạm-dự. Khi vua chuẩn bị các lễ vật cống nạp, định sai người mang đi, thì các người con liền hỏi:
- Phụ vương định làm gì?
- Trẫm cống nạp lễ vật cho vua Phạm-dự. Vua đáp.
- Chỉ cần có một người trong chúng con, phụ vương vẫn có thể chinh phục thiên hạ, khiến họ mang lễ vật đến cống nạp cho mình, huống gì phụ vương có cả nghìn người con, mà phải cống nạp cho họ sao?
Nói vậy, nghìn vương tử liền dẫn quân đi chinh phục các nước, lần lượt đến nước của vua Phạm-dự. Nghe tin, vua liền kêu gọi trong nước những ai cỏ khả năng đánh đuổi được kẻ địch này. Nhưng hoàn toàn không có ai đảm nhận. Lúc đó, Lộc Nữ phu nhân đến nhận lời:
- Thiếp có khả năng dẹp trừ được giặc!
- Làm sao nàng có thể đánh đuổi được họ?
- Chỉ cần làm cho thiếp một cái đài cao trăm trượng, thiếp ngồi lên đó, nhất định thiếp sẽ thu phục được quân giặc!
Nhà vua liền ra lịnh làm một đài cao để Lộc Nữ ngồi trên đó. Bấy giờ, nghìn vương tử kia muốn giương cung bắn, tự nhiên tay họ không cử động được. Lộc Nữ nói:
- Các con không được giương cung bắn cha mẹ! Ta chính là mẹ của các con!
- Lấy gì chứng minh người là mẹ của chúng tôi? Nghìn vương tử hỏi.
- Nếu ta ấn ngực, mà mỗi bên phóng ra năm trăm dòng sữa, mỗi dòng sữa sẽ bay thẳng vào miệng của các con, thì ta chính là mẹ của các con. Nếu không đúng như thế, ta không phải là mẹ của các con!
Nói xong, Lộc Nữ lập tức đưa hai tay ấn ngực mình, mỗi bên phóng ra năm trăm dòng sữa bay thẳng vào miệng của nghìn vị vương tử, còn những quân lính khác đều không nhận được sữa. Nghìn vương tử liền qui hàng, hướng về cha mẹ xin sám hối. Nhân đó, các người con hòa hợp, hai nước không còn oán thù, tự khuyên bảo nhau, mỗi bên năm trăm vương tử phụng dưỡng cha mẹ. Bấy giờ, hai vua chia cõi Diêm-phù-đề mỗi bên nuôi năm trăm vương tử.
Phật dạy:
- Nghìn vị vương tử thuở ấy chính là nghìn vị Phật trong kiếp Hiền. Đại phu nhân có tâm ganh ghét, đố kị thuở đó, nay chính là con rồng Văn Lân mù mắt sau này. Người cha lúc ấy, nay chính là vua Bạch Tịnh. Người mẹ thuở ấy, nay chính là hoàng hậu Ma-gia.
Các thầy tì-kheo bạch Đức Phật:
- Vì nhân duyên gì mà người nữ ấy lại sinh từ loài nai, trên dấu chân mọc hoa sen? Lại do nhân duyên gì mà được làm phu nhân của vua?
Phật kể:
- Trong thời quá khứ, người nữ này sinh trong gia đình nghèo khó, chỉ có hai mẹ con. Một hôm, đang cày ruộng gieo lúa, thấy một vị Bích-chi phật đi khất thực, người mẹ liền nói:
- Mẹ muốn đem phần ăn của mẹ ở nhà dâng cho vị khất sĩ này!
Cô gái nói:
- Con cũng muốn đem phần ăn của con dâng cho ngài luôn!
Thế là người mẹ liền về nhà mang phần cơm của hai mẹ con để dâng cúng vị bích-chi phật. Trong lúc đó, cô gái cắt cỏ làm tòa, hái hoa rải lên trên, rồi thỉnh vị bích-chi phật ngồi. Cô gái lấy làm lạ, vì mẹ đi quá lâu mà chưa đến, liền lên chỗ cao trông ngóng mẹ. Khi thấy mẹ đến, cô gái liền nói:
- Sao mẹ không chạy nhanh đến như nai!
Khi người mẹ đến nơi rồi, cô ta vẫn còn trách mẹ đi chậm, nên giận mà nói:
- Con sinh từ bụng mẹ chẳng bằng sinh từ nai!
Người mẹ liền sớt hai phần thức ăn dâng cúng
vị bích-chi phật, phần còn lại, hai mẹ con cùng ăn.
Khi ăn xong, vị bích-chi-phật ném bát lên hư không, thị hiện mười tám thần biến. Lúc ấy, người mẹ rất vui mừng, phát nguyện: ‘Nguyện con đời sau thường sinh được Thánh tử như vị Thánh ngày nay!’. Do nhân duyên đó, về sau bà sinh được năm trăm người con đều chứng quả Bích-chi phật, một người là mẹ nuôi dưỡng, một người là mẹ sinh thành. Vì đem mẹ so sánh với nai, nên bị sinh vào bụng nai, chân giống chân nai. Nhờ hái hoa rải lên tòa cúng dường vị bích-chi phật nên trong mỗi dấu chân có mọc một hoa sen. Nhờ làm tòa bằng cỏ cho vị bích-chi phật, nên thường được làm phu nhân của vua. Người mẹ đời sau làm vua Phạm-dự; cô gái đời sau làm phu nhân Liên Hoa. Do nghiệp duyên đó, cô gái sẽ làm mẹ của nghìn Đức Phật trong kiếp Hiền, vì sức thệ nguyện mà người mẹ thường làm mẹ của các hiền thánh.
Các thầy tì-kheo nghe xong, hoan hỷ phụng hành”.
Kinh Phân biệt công đức ghi: “Thuở xưa trưởng giả Thiện Thí có người con gái chưa lập gia đình. Một hôm, cô ngồi hơ lửa trong nhà, hơi ấm thấm vào thân, liền mang thai. Cha mẹ kinh ngạc, gạn hỏi nguyên nhân. Cô thưa:
- Con không biết tại sao!
Cha mẹ hỏi nữa, lại dùng roi vọt, nhưng cô cũng đáp y như trước.
Cha mẹ đem việc này tâu lên vua. Nhà vua gạn hỏi, cô cũng đáp như thế. Vua gán cô vào tội chết, cô kêu oán hận và nói:
- Thiên hạ này có vị vua vô đạo, giết oan kẻ vô tội. Nếu tôi gian dối, xin cứ khám nghiệm!
Nghe vậy, vua cho người khám nghiệm. Quả thật đúng như lời cô nói. Sau đó, vua nói với cha mẹ cô:
- Trẫm muốn cưới cô gái này!
- Xin thuận theo ý bệ hạ, nhưng ngài rước con gái hư hỏng này về làm gì?
Sau đó, vua đưa cô vào cung, tùy thời cung cấp đầy đủ. Đến ngày khai hoa nở nhụy, cô sinh một bé trai khôi ngô, tuấn tú. Khi trưởng thành, cậu bé xuất gia, tinh tiến tu học, thông minh tài giỏi. Không bao lâu, cậu đắc quả A-la-hán, rồi trở về độ cha mẹ”.
Kinh Thí dụ ghi: “Có hai vợ chồng nọ không có con. Một hôm, họ cúng tế thiên thần để cầu con nối dõi. Vị thần hứa khả. Người vợ về liền mang thai và sau đó sinh ra bốn vật lạ: cái đấu chiên-đàn chứa đầy gạo, bình cam lộ, túi báu, gậy thần bảy đốt.
Họ than thở:
- Chúng ta cầu con trai, sao lại sinh ra những thứ này!
Họ bèn đến chỗ vị thần cầu xin lần nữa. Vị thần bảo:
- Các ngươi muốn có con, nhưng nó có ích gì?
- Nó sẽ nuôi dưỡng vợ chồng con_ Họ đáp.
- Nay đấu gạo này ăn hoài không hết. Bình cam lộ này uống hoài không cạn, lại còn trị lành trăm bệnh. Túi châu báu kia dùng mãi chẳng vơi. Gậy thần bảy đốt để đề phòng kẻ hung bạo. Con trai của các ngươi có thể làm được việc này chăng?
Nghe xong, họ vô cùng vui mừng, trở về nhà thử nghiệm những vật ấy thì đúng như lời thần nói. Từ đó, họ rất giàu có, của cải không thể tính hết. Nghe tin này, nhà vua sai lính đến chiếm đoạt. Họ cầm gậy bay đến đánh tan quân lính. Họ vô cùng vui mừng và không còn lo lắng gì nữa”.
20.5. NHỮNG CHUYỆN THẦN DỊ
Kinh Thí dụ ghi: “Thuở xưa, có một nhà giàu, gom góp nghìn hộc lúa đem chôn dưới đất. Đến mùa xuân, khí hậu ấm áp, họ đào lên lấy lúa đem gieo thì tất cả lúa thóc không còn, chỉ thấy một con vật lớn bằng con trâu, không có đầu, mắt, tay, chân, giống như một khối thịt vô cảm. Mọi người vô cùng kinh ngạc, khiêng con vật để nơi đất bằng, rồi hỏi:
- Ngươi là loài nào?
Hỏi đến mấy lần, nó vẫn không đáp. Họ liền dùng dùi sắt đâm vào mình nó. Lúc ấy, nó mới chịu lên tiếng:
- Các ông muốn biết, thì hãy đem tôi để bên lề đường, sẽ có người gọi tên tôi.
Mọi người làm theo lời con vật. Nhưng suốt ba ngày vẫn không có ai gọi đến tên nó. Đến ngày thứ tư, bỗng có mấy trăm cỗ xe ngựa màu vàng đi ngang qua, y phục của tùy tùng cũng màu vàng. Họ dừng xe lại và hỏi:
- Giặc lúa, tại sao mi ở đây?
- Tôi ăn lúa của người ta, nên bị đem đến nơi này!
Hai bên nói chuyện rất lâu, rồi đoàn người kia mới từ giã ra đi.
Người chủ hỏi con vật:
- Những người ấy là ai?
- Họ là tinh của vàng, sống dưới gốc cây cách đây hơn ba trăm bước về phía tây. Nơi ấy có một hăm hủ vàng.
Người chủ liền dẫn vài chục người đến gốc cây ấy, đào lên. Quả thật được vàng, họ vui mừng đem xe chở về. Sau đó, người chủ lại cúi đầu thưa với con vật:
- Hôm nay, tôi được vàng là nhờ ơn của thần. Thỉnh thần về nhà để tôi thiết lễ cúng dường.
- Trước kia, tôi ăn lúa của ông mà tôi không nói tên tôi là muốn có số vàng này báo đáp ông. Nay tôi còn phải đem phúc đến khắp thiên hạ, nên không thể ở lại đây được.
Nói xong, con vật biến mất”.
Kinh Thí dụ ghi: “Phía đông nam thành Vương Xá có một hồ nước dơ bẩn, tất cả phân tiểu của người trong thành đều đổ dồn vào đây, nên hôi thối không ai dám đến gần. Có một sinh vật lạ rất lớn, dài mấy trượng, không có chân, thường bơi lội vui đùa trong đó. Thấy lạ, cả mấy nghìn người đến xem. Lúc ấy, ngài A-nan đi khất thực ngang qua cũng ghé mắt nhìn. Sinh vật ấy liền quẫy mình nổi sóng. A-nan trở về thưa Phật, Đức Phật cùng các tì-kheo đến ao ấy. Thấy Phật, mọi người liền nghĩ: ‘Hôm nay Như Lai sẽ kể rõ nghiệp duyên của sinh vật này để giải nghi cho mọi người, chẳng phải thích lắm sao!’
Đức Phật bảo:
- Sau khi Phật Duy-vệ vào niết-bàn, có một vị trụ trì thấy năm trăm tì-kheo đi ngang qua chùa mình. Ông rất vui mừng, thỉnh các tì-kheo ở lại ba tháng để cúng dường. Các tì-kheo nhận lời, ông ta hết lòng cúng dường đầy đủ.
ít lâu sau, lại có năm trăm thương buôn vào biển tìm châu báu trở về. Khi đi ngang qua chùa, thấy các tì-kheo siêng năng tu tập, họ phát tâm cúng dường.
Thế rồi, mỗi người lấy ra một viên ngọc, tổng cộng năm trăm viên gửi cho trụ trì và dặn:
- Xin ngài cúng dường hết số châu này cho chúng tăng! Vị trụ trì nhận lời, nhưng sau đó, khởi lòng tham, muốn chiếm đoạt tất cả số ngọc ấy. Một hôm, chúng tăng hỏi:
- Hôm trước, đoàn khách buôn cúng dường ngọc cho chúng tăng, xin ngài đem ra phân chia cúng dường!
- Số ngọc đó họ cúng dường cho tôi. Nếu các ông muốn lấy thì tôi đem phẩn thí cho. Nếu các ông không đi ngay, tôi sẽ chặt tay chân ném vào hâm phẩn. Vị trụ trì đáp.
Các tì-kheo thương xót vị trụ trì ngu si, nên im lặng bỏ đi.
Vị trụ tri ấy nay chính là con trùng này vậy.
Vì thế, mọi người phải cẩn thận với những lời nguyền rủa ác độc!”.
Luận Trí độ ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, có người đi xa. Một hôm, anh ta dừng chân nghỉ tạm ở một ngôi nhà hoang vắng. Nửa đêm, có một con quỉ vác một thây chết đặt trước mặt anh ta. Lại có một con quỉ khác đuổi theo phẫn nộ quát lớn:
- Thây chết này cùa tôi, ngươi chớ vác đi.
- Của tôi, do tôi vác đến. Con quỉ đến trước nói.
- Thây chết này thật do tôi mang lại.
Thế rồi mỗi con tranh nhau nắm lấy một cánh tay, một cái chân của thây chết. Con quỉ đến trước nói:
- Chỗ này có người, chúng ta nhờ phân xử!
Con quỉ đến sau liền hỏi anh ta:
- Thây chết này do ai vác đến?
Anh ta suy nghĩ: ‘Hai con quỉ này rất khỏe mạnh, dù ta nói thật hay nói dối đều phải chết cả’. Nghĩ xong, anh ta nói thật:
- Thây chết này do quỉ đến trước vác đến.
Nghe vậy, quỉ đến sau nổi giận, bứt lìa hai tay
anh ta rồi ném xuống đất. Con quỉ đến trước thương xót, vội đem cánh tay của thây chết gắn vào. Cứ tiếp tục như thế, cả thân thể: Hai tay, hai chân, đầu, hông, v.v... đều hoàn toàn thay đổi. Sau đó, hai con quỉ ăn hết thây đã hoán đổi, rồi lau miệng bỏ đi. Anh ta thầm nghĩ: “Chính mắt ta thấy thân thể ta bị hai con quỉ ăn sạch. Nay hình hài này của thây chết lắp vào. Vậy ta nhất định có thân hay không có thân?”.
Nghĩ xong, anh ta đến tháp Phật, kể hết câu chuyện vừa rồi cho các tì-kheo. Các tì-kheo dạy:
- Từ xưa đến nay thân này vốn vô ngã, chỉ do bốn đại hòa hợp mà cố chấp là thân ta; giống như thân anh ngày xưa và nay không khác nhau.
Các tì-kheo liền độ anh ta xuất gia và không bao lâu vị này đắc quả A-la-hán”.
Kinh Thiện Tín ghi: “Thuở xưa, cây thần dược Ma-la-đà-kì có năng lực trấn áp vạn độc trong thiên hạ, nhưng không ai dám xử dụng bừa bãi. Khi ấy, có một con rắn
thần rất lớn, dài một trăm hai mươi trượng. Một hôm, nhân lúc đi tìm thức ăn, nó gặp một sinh vật lớn đầu đen, dài năm trượng. Khi vừa muốn cất đầu lên để mổ con vật ấy thì bỗng nhiên rắn ngửi thấy mùi cây thần dược, nó liền quay đầu bỏ chạy, nhưng lại bị chạm vào cây ấy, khiến thân đứt làm hai. Phần đầu còn sống, bỏ chạy, phần đuôi thì thối rửa bốc mùi hôi thối. Các loài trùng độc khác nghe mùi hôi của rắn này, thì tất cả độc khí đều tiêu diệt”.
Luận Đại trí độ ghi: “Ngọc ma-ni minh nguyệt thường ở trong não của rồng, chỉ những chúng sinh nào đầy đủ phúc đức mới có. Ngọc này còn gọi là ngọc Như ý, vì thường sinh ra tất cả vật báu, y phục, thức ăn, tùy ý muốn của chủ nhân. Ai mang viên ngọc này trong người thì chất độc chẳng thể hại, lửa chẳng thể đốt cháy.
Có người cho rằng:
- Khi Đế Thích giao đấu với a-tu-la, những mảnh vỡ của chày kim cang trong tay Đế Thích rơi xuống Diêm-phù-đề biến thành ngọc này.
Có người cho rằng:
- Khi Phật pháp diệt hết, xá-lợi của Đức Phật quá khứ xa xưa biến thành ngọc này làm lợi ích cho chúng sinh”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Trong biển cả có bốn loại ngọc quí sinh ra tất cả của báu khác. Nếu không có bốn loại ngọc này thì tất cả của báu dần dần biến mất. Các loài rồng uy lực nhỏ không thể thấy ngọc quí này, bởi long vương Bà-già-la cất kĩ ngọc này trong kho báu bí mật. Kho này có bốn tên gọi:
1. Chúng Bảo Tích Tụ: Kho cất chứa các châu báu.
2. Vô Tận Bảo Tạng: Kho báu vô tận.
3. Viễn Xí Nhiên: Xa lìa lửa dữ.
4. Nhất Thiết Trang Nghiêm Tụ: Kho chứa tất
cả vật trang nghiêm.
Trong biển cả có bốn thứ báu luôn tỏa ánh sáng rực rỡ:
1. Nhật quang minh.
2. Li nhuận quang minh.
3. Hỏa châu quang minh.
4. Cứu cánh vô dư quang minh.
Nếu trong biển cả không có bốn thứ báu này thì bốn châu thiên hạ, núi Kim Cang Vi cho đến cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng đều chìm đắm. Báu Nhật Tạng Quang Minh có thể biến nước biển thành sữa. Báu Li Nhuận Quang Minh có thể biến sữa này thành bơ. Báu Hỏa Châu Quang Minh cỏ thể đốt cháy bơ này. Báu Cứu Cánh Vô Dư Quang Minh cỏ thể đốt sạch bơ này.
Có bài tụng:
Bậc Thánh thầm cứu giúp
Chẳng nghĩ, cũng chẳng hay
Thần thông che ánh sáng
Hiền ngu khó suy lường
Thiện ác cùng chung ở
Lên xuống đồng một dòng
Gặp việc liền tiễu ngộ
Biết được, thần ẩn tàng
Nơi nhiễm mà chẳng nhiễm
Bặt dứt cả hành nghi
Nếu chẳng nhờ thánh xét
Ai mở pháp nhiệm mầu
Xét bản thân ngu, lười
Ngưỡng mộ bậc đức hạnh
Lưu danh đến vạn đời
Phúc lực trải nghìn năm.
20.6. CẢM ỨNG
20.6.1. Đời Tấn, sa-môn Thích Đàm Thúy: Không rõ người xứ nào, chỉ biết sư xuất gia từ thuở nhỏ, ở chùa Bạch Mã phía bắc Hoàng Hà. Suốt đời, sư ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô, chuyên tâm trì tụng mỗi ngày một biến kinh Pháp Hoa. Sư đã thông đạt yếu chỉ của kinh và cũng giảng giải cho mọi người.
Vào nửa đêm nọ, sư chợt nghe có người gõ cửa và thưa:
- Đệ tử muốn thỉnh pháp sư thuyết pháp trong chín tuần.
Sư từ chối, nhưng họ cố thỉnh, cuối cùng sư bằng lòng và đi theo, nhưng vẫn trong giấc ngủ. Đến khi thức dậy thì thấy mình đã ở nơi miếu thần tại làng Bạch Mã. Từ đó, hằng ngày sư cùng với một đệ tử âm thầm đến đó mà không ai hay biết.
về sau, chư tăng trong chùa đi ngang qua miếu, nhìn thấy có hai tòa cao, sư ngồi tòa phía bắc, đệ tử ngồi phía nam, lại nghe văng vẳng tiếng giảng kinh và hương thơm kỳ lạ. Đạo tục loan truyền khắp nơi, cho là việc thần kì.
Cuối mùa hạ năm đó, vị thần mang đến cúng dường sư một con ngựa trắng, năm con dê trắng, chín mươi xấp lụa. Sư chú nguyện xong, các vị thần biến mất. về sau, không ai biết sư trụ ở đâu!
20.6.2. Đời Tấn, sa-môn Thích Pháp Tướng: Không rõ người xứ nào, chỉ biết sư họ Lương, trụ ở chùa Việt Thành. Trước đây, sư ở trong núi, tu khổ hạnh, mỗi ngày tụng kinh hơn mười vạn chữ, chim thú thường ở bên sư và thuần phục như vật nuôi trong nhà. Bấy giờ, trong miếu thờ trên núi Thái, có một hòm bằng đá lớn chứa đầy báu vật. Một hôm, sư lên núi, ngủ qua đêm bên cạnh miếu, bỗng thấy một người mặc áo đen, đội mão quan võ, bảo sư mở hòm, rồi biến mất. Hòm này nặng hơn nghìn quân, nhưng sư thử nhấc lên thì rất nhẹ nhàng. Thế là sư lấy báu vật trong hòm này bố thí cho những người nghèo khổ.
Niên hiệu Nguyên Hưng cuối cùng (404), đời Tấn, sư thị tịch, thọ tám mươi tuổi.
20.6.3. Đời Tấn, sa-môn Thích Sĩ Hành: Sư họ Chu, người Dĩnh châu, ý chí cao xa, hiểu nhiều, có khí độ, trầm tĩnh, ngay thẳng, chuyên tâm tu hành; vinh nhục chẳng làm sư lay động. Bấy giờ, kinh điển hệ Bát-nhã truyền đến Trung Hoa chưa
đầy đủ, chỉ có kinh Tiểu phẩm Bảt-nhã, nhưng chương cú thiếu sót, nghĩa lí khó hiểu.
Đời Ngụy, niên hiệu Cam Lộ thứ năm (260), sư khởi hành từ Ung châu, đi về phía tây đến nước Vu-điền, trải qua nhiều nước để thỉnh tạng kinh. Tăng chúng các nước Tây Vực phần lớn học Tiểu thừa, nên khi nghe sư muốn thỉnh các bộ kinh Đại thừa, họ kinh ngạc, không cho thỉnh và nói:
- Dân biên địa không biết chính pháp, có thể làm cho nhiều người mê lầm!
- Kinh ghi: “Sau khi Ta diệt độ một nghìn năm, vào thời mạt pháp, kinh điển Đại thừa sẽ lưu truyền về hướng đông”. Nếu các vị nghi chẳng phải lời huyền kí của Đức Phật thì xin lấy lòng chí thành để chứng nghiệm_ Sư giải thích.
Sau đó, sư chất củi, tưới dầu, châm lửa, rồi hai tay nâng kinh, rơi lệ, đỉnh lễ và phát nguyện: “Nếu quà thật Đức Phật đã huyền kí kinh điển Đại thừa sẽ lưu truyền vào Trung Quốc thì xin chư Phật, bồ-tát chứng minh!”.
Thệ nguyện xong, sư cho kinh vào đống lửa đang cháy mạnh. Chẳng bao lâu, đống củi cháy hết, nhưng kinh không cháy, ngay cả bìa vẫn còn nguyên vẹn.
Cả nước vui mừng tôn kính và giữ sư ở lại để cúng dường. Sư sai đệ tử là Pháp Nhiêu chuyển bản Phạn trở về Trần Lưu, nhờ các chùa ở Thương Viên, Tuấn Nghi dịch ra tiếng Trung Quốc. Cư sĩ Trúc Thúc Lan ở Hà Nam hiểu rõ phong tục, thông đạt ý chỉ Phật pháp cùng truyền dịch chín mươi thiên, gồm hai mươi vạn chữ; nay là phẩm đầu của kinh Phóng quang.
Năm tám mươi tuổi, sư thị tịch. Theo di chúc, đại chúng hỏa táng thi thể, nhưng lửa đã tắt hồi lâu mà thi thể sư không tan hoại. Nhân dân trong nước kinh ngạc và nói:
- Nếu ngài thật đã đắc đạo thì xin thi thể tan rã!
Thế là thi thể sư tan rã. Đại chúng thâu xá-lợi, lập tháp tôn thờ.
20.6.4. Đời Tấn, sa-môn Phật-điều: Không biết sư người xứ nào, chỉ biết trụ ở Thường Sơn nhiều năm. Tính tình sư chất phác, không thích nói những lời trau chuốt, vì thế người thời bấy giờ đểu kính trọng.
Ở Thường Sơn, cách ngôi chùa khoảng một trăm dặm, có hai anh em rất tôn sùng Phật pháp. Vợ người anh mắc bịnh nặng, nên đưa đến cạnh chùa, để tiện việc chữa bịnh. Người anh là đệ tử của sư, mỗi sáng thường đến chùa thưa hỏi và tu tập. Vào một ngày nọ, sư đến nhà hai anh em, người em hỏi:
- Bịnh của chị dâu con thế nào? Anh con vẫn an ổn chứ?
- Bịnh chị dâu ông cơ bản có thuyên giảm, còn anh ông vẫn khỏe mạnh. Sư đáp.
Sau khi sư về, người em cưỡi ngựa đến thăm và nói với người anh:
- Sáng nay hòa thượng Phật-điều thăm em.
- Sáng nay, hòa thượng khồng ra khỏi chùa, em gặp hòa thượng sao! Người anh kinh ngạc.
Thế là anh em tranh cãi nhau và đến hỏi sư. Sư mỉm cười, không đáp. Hai anh em lấy làm lạ. Mỗi lần, sư lên núi sâu, hơn một năm rưỡi, chỉ đem theo vài đấu lương khô, khi trở về cũng còn. Một hôm, có người theo sư lên núi, đi được vài mươi dặm thỉ trời sáp tối, tuyết rơi nhiều. Sư vào hang cọp, ngủ qua đêm. Một lúc sau, cọp trở về đành phải ngủ trước hang. Sư nói:
- Ta chiếm chỗ ngươi, thật là xấu hổ!
Nghe vậy, cọp liền cụp tai, đi xuống núi. Những người theo sư vô cùng sợ hãi.
Một hôm, sư dự báo ngày ra đi. Mọi người xa gần đều về thăm, sư nói lời từ biệt:
- Trời đất dù tồn tại lâu dài, nhưng cũng có ngày hủy diệt, huống gì con người mà muốn trường tồn sao! Nếu trừ sạch ba độc, chuyên tâm tu tập pháp chân tịnh, số mạng tuy khác nhau, nhưng vẫn cùng tụ hội.
Đại chúng rơi lệ. Sư trở về phòng tọa thiền, lấy y trùm đầu và an nhiên thị tịch.
Vài năm sau, tám người đệ tử tại gia lên núi phía tây đốn củi, bỗng thấy sư đứng trên đỉnh núi cao, y phục rực rỡ, nét mặt tươi vui. Họ kinh ngạc, vui mừng đến đỉnh lễ và hỏi:
- Hòa thượng còn sống sao?
- Ta vẫn còn sống!
Kế đó, sư hỏi thăm những người quen biết cũ. Hai bên đối đáp hồi lâu, sư mới ra đi. Tám người gác lại công việc, trờ về nhà kể lại vởi những người đồng tu. Mọi người muốn kiểm chứng, bèn đào mộ và mờ quan tài sư, quả nhiên không thấy thi thể của sư đâu cả!
20.6.5. Đời Tấn, sa-môn Kiền-đà-lặc: Không biết sư người xứ nào, chỉ biết từng du hóa mấy năm ở Lạc Dương. Tuy kính phẩm hạnh và đức độ, nhưng không ai biết được sự thần dị của sư.
Một hôm, sư nói với mọi người:
- Trong núi Bàng Si có ngôi chùa cổ, nếu ai trùng tu thì sẽ được phúc báo vô lượng.
Mọi người đồng ý và cùng nhau vào núi. Đến nơi chỉ thấy cây cỏ rậm rạp, chẳng biết nền móng của chùa ở đâu. Sư chi xuống một chỗ và nói: “Đây là nền chùa”. Mọi người thử đào lên thì thấy tảng đá của móng chùa. Sư lại chỉ nền của giảng đường, phòng tăng, giếng, bếp. Mọi người làm theo, quả nhiên đúng như lời sư nói. Sau khi xây xong, vua ban sắc sư làm Tăng chủ. Ngôi chùa này cách Lạc Ấp cả trăm dặm. Mỗi sáng, sư đến Lạc Ấp nghe pháp, dự trai hội, rồi xin một bát dầu trở về chùa. Tuy vậy, nhưng chưa từng về quá buổi trưa.
Có một người mỗi ngày đi vài trăm dặm, muốn kiểm nghiệm sư đi thế nào, mới cùng xuất phát với sư, nhưng người này chạy theo mà không kịp. Sư nhìn lại cười và nói: “ông nắm ca-sa ta thì mới không mệt”. Anh ta liền nắm ca-sa, trong chốc lát đã đến chùa. Anh ta phải nghỉ ngơi mấy ngày rồi mới trở về nhà. Do đó, mọi người mới biết sư là bậc thánh, về sau, chẳng rõ sư thị tịch nơi đâu.
20.6.6. Đời Tấn, cư sĩ Để Thế Thường: ông người Trung sơn, sống trong gia đình rất giàu có. Trong khoảng niên hiệu Thái Khương (280-289), triều đình nhà Tấn cấm nhân dân làm sa-môn. Ông không sợ, âm thầm lập tinh xá trong dinh đê cúng dường sa-môn. Hễ có tăng đến, ông đều tiếp đãi, không hề sợ hãi. Ngài Vu Pháp Lan cũng đã từng trú nơi đây. Một hôm có vị tăng dáng vẻ quê mùa, dung mạo xâu xí, y phục rách rưới, chân dính đầy bùn, đên nhà ông. Ông ra đỉnh lễ đón tiếp, bảo một cô nô bộc rửa chân cho vị tăng, vị tăng ấy nói:
- Thế Thường! Ông hãy rửa chân cho tôi, sao lại bảo nô bộc?
- Thường tôi bị căn bịnh khó chữa trị, nên bảo nô bộc làm thay! Ông đáp.
Vị tăng không chịu. Ông mắng thầm rồi bỏ đi. Tức thời vị tăng hiện thân cao tám thước, dung nghi sáng rực, vọt lên hư không bay đi. Ông vô cùng hối hận, tự trách rồi nhảy vào bùn dơ. Bấy giờ, năm sáu mươi người, gồm cả tăng ni ông tiếp đãi trong nhà và người đi đường đều thấy rõ ràng một vị tăng bay trong hư không cách xa mấy mươi trượng, trong nhà hương thơm lan tỏa, một tháng mới dứt.
20.6.7. Đời Tấn, cư sĩ Trình Đức Độ: Ông người Vũ Xương, cha là Đạo Tuệ làm Thứ sử Quảng châu, còn Độ làm Hành tham quân cho Lâm Xuyên vương.
Khi ông ở Tầm Dương, trong phòng có tổ yến, ban đêm bỗng tự phát sáng, rồi có một đứa bé cao hơn một thước, diện mạo sáng sủa, thân thể sạch đẹp từ trong tổ yến bước ra, đến trước giường ông và nói:
“Hai năm sau, ông sẽ được đạo trường sinh”, rồi biến mất. ông cảm thấy rất kì lạ.
Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười bảy (437), ông theo Lâm Xuyên vương nhận trấn ở Quảnp Lăng, gặp thiền sư Thích Đạo Cung. Nhân đó, ông đến tham học pháp thiền và có giải ngộ.
Mùa xuân, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (439), căn phòng trống ở nhà ông tại Vũ Xương bỗng có mùi thơm ngào ngạt, lan tỏa khắp nơi. Người trong vùng đến xem, ba ngày sau mùi thơm mới hết.
20.6.8. Đời Tề, sa-môn Thích Hoằng Minh: Sư họ Luy, người Sơn Âm, cối Kê, xuất gia từ thuở nhỏ, trụ tại chùa Vân Môn, Sơn Âm. Sư có giới hạnh thanh cao, chuyên tụng kinh Pháp hoa, tu tập thiền định, ngày đêm sáu thời tinh tiến lễ bái, sám hối. Mỗi sáng, cảm được các thiên đồng xuống giúp đỡ, rót nước đầy bình. Một hôm, đang tọa thiền, tụng kinh, thấy một đứa bé đến nghe kinh, sư hỏi:
- Con là ai?
Đứa bé đáp:
- Xưa, con là một sa-di ở đây, vì trộm thức ăn nên phải đọa trong nhà xí. Biết đạo hạnh của ngài, nên con đến nghe kinh. Xin ngài tìm cách giúp con thoát nỗi khổ này! Sư liền thuyết pháp, giáo hóa, đứa bé lãnh ngộ rồi biến mất.
Một hôm, có cọp vào thất sư, nằm phục trước giường nghe kinh. Sư vẫn thản nhiên. Hồi lâu, nó bỏ đi.
về sau, sư đến núi Thạch Lạo ở Vĩnh Hưng nhập định. Lại có sơn tinh11 đến não loạn, sư tóm lấy, dùng dây lưng trói lại. Nó van sư: “Xin ngài tha mạng, sau này con không dám trở lại”. Sư thả nó ra. Từ đó, quỉ biệt tăm.
Vào khoảng niên hiệu Vĩnh Minh thứ tư (486) đời Nam Tề, sư thị tịch tại chùa Bá Lâm, thọ tám mươi bốn tuổi.
20.6.9. Đời Tề, sa-môn Thích Pháp Hiển: Sư người Quảng châu, trụ tại Kinh sơn, Nam Hải. Trước đây, sư trụ chùa Bắc, chùa này lâu đời nên bị hư hoại, sư quyên góp tài vật trùng tu và đổi tên là Diên Tường, về sau, sư vào núi Tạng Vi xây một ngôi chùa. Khi xây xong, có hai đồng tử nắm tay nhau vừa đi vừa ca:
Tạng Vi có đạo đức
Vui mừng không cùng tận.
Ca xong, hai đồng tử biến mất. Cả chùa kinh ngạc, đều cho là thần dị.
Một hôm, sư nhập định, bỗng thấy một người đến nói: “Dây chuông đứt, sao ngài không sớm thay đi!”. Sư kinh ngạc, thức giấc đến xem thì thấy chuông sắp rơi xuống đất. Sư đưa tay đỡ lấy, chuông không bị tổn hại gì. về sau, không biết sư thị tịch ở đâu.
20.6.10. Đời Tùy, Thích Phổ An: Sư họ Quách, người Kinh Dương, phía bắc Ung châu. Sư giữ đúng phép tắc, nghi quĩ, sống một mình nơi rừng vắng, chuyên tâm tu tập thiền định, về già, sư sống nơi đồng hoang hiểm trở, gần gũi hổ, sói. Sư tụng kinh Hoa nghiêm không ngừng nghỉ, tu tập khổ hạnh, quên mình vì chúng sinh, thường du hóa khắp rừng núi, bố thí thân cho cầm thú, nhưng các thú dữ đến ngửi rồi bỏ đi, nên sư vẫn canh cánh bên lòng, hận rằng chẳng trọn tâm nguyện.
Đến khi nhà Chu hủy diệt Phật .pháp, sư cùng hơn ba mươi hai vị tăng đức độ ẩn trốn ở hang Tiên Tử, núi Chung Nam. Sư đi khất thực về cung cấp đầy đủ cho chúng tăng. Tuy tiếng tăm vang khắp, nhưng sư vẫn thoát nạn.
Bấy giờ, pháp sư Ái lánh nạn tại một gia đình giàu có tên là Đỗ Ánh ở Nghĩa Cốc. Người này đào một cái hang để giâu pháp sư. Khi sư được thả về, nhân đi ngang qua, mới vào đỉnh lễ thăm hỏi. Pháp sư nói:
- Ngài thông hiểu Phật pháp, lại có chí khí siêu việt, chẳng sợ quyền thế, khó ai sánh bằng!
- Nay được thoát nạn mới biết là do năng lực kinh Hoa nghiêm. Sư đáp.
Khi Tùy Văn đế lên ngôi (581-604), Phật giáo rất hưng thịnh. Vua ban lệnh khắp nơi tìm những vị tăng còn lại, y như xưa sắp xếp bổ nhiệm. Lúc ấy, hơn ba mươi vị tăng ẩn cư tại hang Tiên Tử vâng lệnh, xuất gia trở lại và đều đến trụ tại Quan tự. Riêng sư vẫn giữ chí nguyện ở lại trong rừng, có lúc vào làng xóm giáo hóa chúng sinh, trọn đời ngủ nghỉ nơi rừng núi, không gần gũi thế tục.
Sau đó, có vị cư sĩ đào một cái hang, kết am tranh cạnh khe suối giữa hai hang Tí Ngọ và Hổ Lâm, rồi thỉnh sư về ở. Nơi nầy, có một tảng đá lớn nằm trên hang, sợ đá rơi xuống làm hư am thất. Hôm mới đến, sư thầm nghĩ: “Xin tảng đá dời đến chỗ khác, nhưng không làm tổn hại đến thất này!”. Bỗng nhiên tảng đá y theo lời sư lăn đến nơi khác, ai nấy đều cho là việc kì lạ. Sư bảo:
- Đó là nhờ năng lực của kinh Hoa nghiêm, không có gỉ phải kinh ngạc!
Bên trái khe Thạch Bích, phía đông của am, có ông Tố Đà, người hung dữ nhất làng. Vì ganh ghét tài đức sư, ông ta thường nghĩ cách mưu hại. Đêm nọ, ông ta cùng ba người bạn mang cung tên, đao kiếm đến định giết sư. Nhưng khi vừa giương cung định bắn, thì mũi tên dính chặt vào dây, tay không buông cung được, hai mắt ông ta trợn ngược, lưỡi cứng đơ, đứng sững suốt đêm, chỉ biết kêu la. Mọi người gần xa nghe được đều chạy đến xem. Dân làng quì lạy cầu xin, sư nói:
- Tôi hoàn toàn không biết, đây là thần lực của kinh Hoa nghiêm. Nếu muốn thoát khỏi nạn này, phải bảo ông ta chí thành sám hối.
Tố Đà làm theo, liền trở lại bình thường.
Lại ở thôn Ngụy, phía tây cùa am, có Trương Huy rất hung dữ, chuyên trộm cướp. Đêm nọ, hắn lén đến thất sư trộm một bình dầu cúng Phật khoảng năm thăng, rồi vác đi. Khi đến cổng chùa t hì đầu óc hắn mờ mịt, thân cứng đơ như bị trói chặt không thể cử động. Sau đó, quyến thuộc và dân làng đến tạ tội. Sư bảo:
- Tôi hoàn toàn không biết, có lẽ là do thần lực kinh Hoa nghiêm. Hãy bảo ông ta sám hối và trả lại dầu
Trương Huy làm theo, liền thoát nạn.
Lại có Trương Khanh đến trộm tiền, giấu trong tay áo mang đi. Khi về đến nhà, ông ta không lấy ra được và cũng không nói được. Mọi người dẫn ông ta đến sám hối, trả tiền cho sư, liền bình thường trở lại.
Ở thôn Trình Quách có cư sĩ Trình Huy Hòa rất kính tin Phật pháp, thường đến am sư để nghe pháp. Sau đó, ông mắc bệnh mà chết, sau hai hôm, gia đình buộc thi thể để nằm trên đất, chuẩn bị tẩm liệm. Lúc này, sư đang trên đường từ huyện Hộ trở về, ngang qua phía tây nam chùa Đức Hạnh, cách thôn của Huy năm dặm vê phía đông. Từ xa sư gọi:
- Trình Huy Hòa! Sao không ra đón ta?
Sư gọi nhiều lần như thế. Người làm ruộng cạnh đó thưa:
- Huy Hòa chết rồi, sao ra đón ngài được!
Sư nói:
- Ông nói dối, ta không tin!
Sư tìm đến thôn của Huy Hòa, nghiêm giọng gọi lớn, tự nhiên Huy Hòa cử động, những người thân đứng cạnh đó liền cắt dây buộc thi thể. Khi vào đến sân, sư lại lớn tiếng gọi tên Hòa, ông ta bèn ngồi dậy bò đến bên sư. Sư bảo dẹp bỏ quan tài, rồi lật úp cái giỏ tre đặt tượng Phật lên, bảo ông nhiễu quanh, trong chốc lát cơ thể bình phục như trước. Nhờ đó ông sống thêm được hai mươi năm.
về sau, ông lại bị bệnh nặng, gia đình lại đến cầu xin sư. Sư nói:
- Ông ấy đi đâu tùy ý, ta không quan tâm!
Ngay lúc đó, Huy Hòạ mạng chung.
Bấy giờ, đạo phong của sư vang khắp, đạo tục đều thấm nhuần ân đức. Nhiều người đến thỉnh cầu sư lập hội bố thí, tất cả đều có cảm ứng.
Tại thôn Bạch phía đông bắc ao Côn Minh, có bà lão bệnh nặng nằm liệt giường, lại câm đã lâu. Bà ra hiệu cho các con là muốn được gặp sư, hiểu ý mẹ các con thỉnh sư đến nhà. Vừa thấy sư, bà lão bất giác bước xuống giường nghinh tiếp thăm hỏi, đi đứng như thường, bệnh cũng lành hẳn.
Bấy giờ danh tiếng sư càng vang xa, nhân dân trong thôn tụ tập, muốn thiết lập đại trai đàn. Trong thôn Đại Vạn, gia đình Điền Di Sinh rất nghèo, lại có bốn người con gái. Người vợ chỉ có một tấm vải thô quấn thân, dài đến gối mà thôi. Còn những cô con gái thì không có mảnh vải che thân, riêng cô gái đầu tên Hoa Nghiêm, năm nay hai mươi tuổi, chỉ có một tấm vải thô dài hai thước, muốn đem cúng dường. Lúc đó sư dẫn mọi người trong thôn lần lượt đến từng nhà, nhưng xót thương hoàn cảnh nghèo túng của gia đình Di Sinh, nên sư không ghé. Hoa Nghiêm suy nghĩ: “Vì nghèo khó, nên không được cúng dường, đời nay nếu không tạo phúc thì đời sau làm sao cứu được!”.
Thế là cô đi khắp nơi xin đồ vật, nhưng không ai cho. về đến nhà cô buồn bã ngửa mặt lên trời than khóc, bỗng cô thấy một nắm rơm dùng để bít lỗ hổng, liền kéo xuống giũ ra được mười mấy hạt thóc, bóc thành gạo. Cô đem tấm vải thô và mười mấy hạt gạo vui vẻ đi cúng dường. Nhưng vì không có y phục, nên cô phải đợi trời tối, mới rón rén đến chỗ cúng dường. Từ xa, cô ném mảnh vải vào trong hội bố thí, còn mười mấy hạt gạo thì kính dâng để nấu cơm, khi ấy cô phát nguyện:
- Đời nay con bần cùng là do nghiệp bỏn xẻn đã gieo từ nhiều đời trước. Nay con quá nghèo, nên bố thí mong đời sau được phúc báo. Khi con bỏ những hạt gạo này vào nồi, nếu thật với tâm chí thành, thoát khỏi kiếp nghèo thì xin cơm biến thành màu vàng. Nếu không cảm ứng thì chỉ có chết, chứ không biết phải làm sao?
Phát nguyện xong, cô gạt lệ trở về.
Thế rồi cả nồi cơm năm thạch ấy đều biến thành màu vàng. Mọi người kinh ngạc, nhưng không ai biết nguyên nhân. Sư quán xét rồi bảo:
- Đó là nhờ nguyện lực của con gái Điền Di Sinh!
Khi trai đàn hoàn mãn, mọi người thu được mười hộc lúa, đều đem giúp gia đình cô.
Sư sắm pháp y cho Hoa Nghiêm, độ xuất gia, rồi đưa cô vào một ngôi chùa tại kinh đô.
Danh tiếng sư lại vang xa, sự thông thấu của sư thật khó kể hết. Tuy sư ẩn cư, nhưng thường cứu giúp mọi người. Mỗi năm hai kì cúng tế, người trong thôn thường giết nhiều súc vật. Sư đi khắp nơi, dùng tiền chuộc mạng, khuyên họ giữ giới sát, do đó rất nhiều thôn ấp không sát sinh cúng tế.
Có lần, người ở ngôi miếu của thôn cạnh am sư, trói ba con heo, chuẩn bị mổ thịt để cúng tế. Nghe tin, sư liền đến xin chuộc lại. Vì muốn giết heo nên họ đòi giá đến mười nghìn đồng. Sư nói:
- Bần đạo chỉ trả ba nghìn, là hơn giá gốc gấp mười lần rồi, các vị có chịu bán không?
Mọi người không đồng ý lại tỏ vẻ giận dữ. Lúc ấy, bỗng nhiên có một đứa bé quấn tấm da dê quanh bụng đến giúp sư. Thấy cảnh tranh cãi như thế, đứa bé xin rượu, vừa uống vừa nhảy múa. Quanh thân đứa bé phát ra ánh sáng rực rỡ, khiến cho mọi người già, trẻ trong miếu đều lóa mắt, chốc lát thì ẩn mất.
Sư liền cầm dao cắt thịt trên đùi mình, rồi nói:
- Thịt này và thịt heo đều là thịt, heo ăn các thứ dơ bẩn mà các ông còn ăn được, huống là người chỉ ăn cơm, lẽ ra thịt người phải quí hơn?
Mọi người nghe vậy đều đồng ý thả heo. Được thoát chết, heo nhiễu quanh sư ba vòng, đưa mũi chạm vào chân sư tỏ lòng cung kính.
Từ đó đến nay, cách kinh đô trong vòng năm mươi dặm về phía tây nam, mọi người không giết heo, gà đê cúng tê. Những việc thiện sư đã làm đêu cảm ứng như thế.
Sư suốt đời chỉ ba y một bát, thích tụng đọc kinh Hoa nghiêm, ngày càng tinh tiến.
Niên hiệu Khai Hoàng thứ tám (588), nhiều lần sư được chiếu của vua vào kinh làm thầy của thái tử. Công chúa lớn xây dựng thiền viện Tĩnh Pháp và thỉnh sư trụ trì. Tuy danh tiếng vang khắp hoàng cung, nhưng sư thường ngủ ở hẻm núi.
Đến ngày mùng năm tháng mười một niên hiệu Đại Nghiệp thứ năm (609), sư an nhiên thị tịch tại thiền viện Tĩnh Pháp, thọ thế tám mươi tuổi.
20.6.11. Đời Tùy, sa-môn Thích Pháp An: Sư họ Bành, người Thuần Cô, An Định, xuất gia từ thưở nhỏ tại tinh xá Cữu Lũng trên núi Thái Bạch13. Sư chuyên tu thiền định, suốt đời thanh bần giản dị.
Khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-600), sư đến Giang Đô muốn yết kiến Tấn vương, nhưng sư vốn thấp bé, xấu xí, lại cười nói tùy tiện, nên lính canh cửa không cho vào. Hôm khác, sư lại đến trước cổng thành, lính canh xua đuổi, nhưng sư không chịu đi, thấy vậy lính gác thử vào tâu. Nghe xong, Tấn vương liền mời sư vào, vừa gặp mà như đã quen biết nhau từ lâu, bèn thỉnh sư đến ở chùa Tuệ Nhật.
Mỗi lần Tấn vương tuần du đều thỉnh sư cùng đi. Một hôm, vua đến núi Thái, gặp lúc hết nước, bốn bề chỉ toàn núi đá nên không cách gì tìm được nước. Sư liền chọc thanh đao vào tảng đá, một dòng nước vọt ra, quần thần lấy nước dâng vua. Thấy vậy vua khen ngợi và hỏi:
- Thần lực gì vậy?
- Thần lực của bệ hạ!_Sư đáp.
Sư lại theo vua đi qua sa mạc, băng sông vượt biển v.v... nhiều lúc lẽ ra gặp biến cố, nhưng sư đã đoán trước, nên tránh được hiểm nguy, không ai bị tổn hại.
Sau đó, sư đến chùa Thần Thông ở Thái sơn. Có một vị tăng ra thỉnh sư và vua vào. Vua liền viết lên vách chùa, nhận làm người hộ trì Phật pháp.
Sư và vua vừa vào hang núi thì thấy một vị tăng mặc y phục thô xấu, cưỡi con la trắng đi đến. Vua hỏi:
- Người này là ai?
- Đó là Lãng Công, vì bệ hạ đến trùng tu chùa này, nên ra nghinh tiếp. Sư đáp.
Sau khi vào chùa, đến giảng đường thấy một vị thần cao lớn dáng vẻ uy nghiêm, tay gác lên si vẫn, nhìn xuống mọi người, vua lại hỏi. Sư đáp:
- Đây là thần núi Thái Bạch, theo bệ hạ đến đây!
Những điều thần dị của sư sau này không thể kể hết.
Khi lên ngôi, Tùy Dạng đế Dương Quảng (604-617) càng kính trọng sư hơn. Uy đức của sư làm cho hàng vương công đại thần đều phải qui phục. Các quan Thường Thị, Tam Vệ phụng sự sư như thần.
Có lần, sư đến núi Ngũ Đài mời các ẩn sĩ trí như: Quánh Trí Biện, Thích Chí công, Trừng công, Bôi Độ nhóm họp tại đạo tràng Tuệ Nhật. Nơi đây luôn có hơn hai nghìn vị tăng tu học mà tứ sự luôn đầy đủ, đó đều nhờ đức hạnh của sư.
Sư lại đến Đông Đô, lập đạo tràng Bảo Dương, chỉ một chúng của sư về đây tu tập.
Niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười một (615), khắp nơi loạn lạc, sư không bịnh mà tịch, thọ chín mươi tám tuổi.
Trước khi thị tịch, sư tâu vua:
- Một trăm ngày sau khi An tôi tịch, trong nội cung sẽ bị hỏa hoạn, bệ hạ nên cẩn thận!
Sau đó quả nhiên như vậy, ngay cả dầu, lương thực mùa đông cũng bị cháy và ban đêm cửa đóng, nên những người trong ba viện đều chết sạch. Nhưng vua không lấy làm lạ.
Sau khi sư thị tịch, mọi người đưa kim quan của sư lên an táng tại núi Thái Bạch.
Khi còn sống, sư hưởng bổng lộc như các quan lại, tuy bên ngoài giống như người thế tục, nhưng bên trong ẩn chứa đức hạnh. Khi ngủ, sư không cần gối, mà đầu vẫn thẳng, đưa cổ ra khỏi giường để nhổ nước dãi. Những điều sư tiết lộ đều có linh nghiệm.
20.6.12. Đời Tùy, Thích Tuệ Khản: Sư họ Dương, người Khúc A, Tấn Lăng, trụ tại chùa Đại Quy Thiện, Tưởng châu. Sư thông hiểu việc ở cõi âm cõi dương, người đời không ai lường được. Sư sùng kính các tôn tượng như kính Phật thật. Mỗi khi thấy tượng đứng thì sư không dám ngồi, thường khuyên mọi người nên tạc tượng Phật ngồi. Sư thường cứu giúp những người gặp nguy hiểm đến tính mạng.
Sau đó, sư đến Lĩnh Nam, hướng tâm về chân đế, tu tập thiền định và có sự chứng ngộ rất sâu. Cuối đời, sư trụ chùa Thê Hà, tâm ý vắng lặng, đến đi tự tại, chẳng câu nệ núi rừng hay thành thị. Sư từng đến Dương Đô tham vấn pháp sư Ti. Pháp sư biết đạo hạnh của sư, nên rất kính trọng và dùng lễ đặc biệt để tiếp đãi. Lúc sắp trở về núi, pháp sư thỉnh sư hiện thần lực, sư nói:
- Có khó gì đâu!
Sư liền duỗi dài cánh tay ra khỏi song cửa, rồi gỡ bỏ tấm biển “Tề Hi Tự” trên điện Phật, cách nơi sư đứng mười trượng, rồi nói với pháp sư:
- Người đời hiểu biết nông cạn, nếu thấy việc này, họ sẽ kinh dị, nên tôi không làm!
Niên hiệu Đại Nghiệp thứ nhất (605), sư viên tịch ở chùa Đại Quy Thiện, thọ tám mươi hai tuổi.
Trước khi viên tịch, từ xa sư ném ba y vào trong điện đường và nói:
- Ba y này trả lại chúng tăng. Nay ta ra đi, đại chúng ở lại an ổn!
Nói xong, sư trở về phòng. Đại chúng kinh ngạc cùng nhau đi theo, đến phòng chỉ thấy một bộ xương trắng đang ngồi kiết già trên giường. Mọi người đến lay động thì phát ra tiếng leng keng như ngọc chạm vào nhau, nhưng vẫn không rã.
20.6.13. Đời Đường, Thích Chuyển Minh: Sư họ Lộc, không rõ người xứ nào, chỉ biết ở chùa Hóa Độ, Tây kinh. Hình tướng sư uy nghi, cao lớn, cử chỉ bình dị, nét mặt không vui cũng không giận. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ tám (612) đời Tùy, bỗng nhiên sư đến Lạc Dương và báo cho mọi người biết sẽ có giặc loạn nổi lên, đến khi kiểm xét lại thì triều đình chẳng nghe chịu theo.
Bấy giờ, đế sinh nghi, nhưng chưa giáng tội, chỉ ra lịnh tạm giam sư. Ban đầu chẳng ai lường được lời tiên đoán của sư.
Đến tháng sáu năm sau, quả nhiên Kiêu Cảm phản nghịch nổi loạn, tung hoành bạo ngược tàn phá khắp kinh đô, giết rất nhiều người. Bấy giờ, vua mới tin lời sư có căn cứ, nên ban lịnh thả sư. Tuy bị bắt giam, nhưng tâm sư vẫn an nhiên. Khi cùng mọi người bàn luận, sư không bao giờ đề cập đến.
Bấy giờ, trên đường đến Yến Sư, đế đi ngang qua Giang Đô. Trong ngục có khoảng năm mươi tử tù đã định giờ khắc hành hình. Sư nghĩ:
- Sáng mai, ta sẽ thả hết những người bị tội chết này!
Thế là sư giả làm người đưa cơm, đến nhà ngục nói với tù nhân:
- Sáng mai, vua xa giá qua nơi đây. Lúc đó, các ông cùng hô to lên: ‘Có giặc đến’. Nếu hỏi nguyên nhân thì các ông nói là tôi bảo làm như thế, thì các ông sẽ thoát chết.
Đến giờ, họ làm đúng như lời sư, vua ra lịnh thả hết tù nhân, nhưng lại bắt sư. Sư cười lớn mà không buồn sợ gì.
Đúng như lời sư tiên đoán, trộm cắp nổi lên khắp nơi, cuộc sống người dân vô cùng khốn khổ.
Niên hiệu Đại Nghiệp cuối cùng (618), sư cũng còn bị giam. Khi Việt vương lên ngôi, mới ra lịnh thả sư. Tuy được đi lại tự do, nhưng sư thường ở trong một viện riêng tại Càn Dương môn và được cung cấp đầy đủ. Sợ sư ẩn thân bỏ đi, nên vua sai cấm vệ quân bí mật bảo vệ.
Mỗi khi Hoàng Thái kiến nghị sách lược cho quốc gia, sư thường tham dự bàn tính mưu kế, khiến Vương Thế Sung càng tin phục hơn, nên luôn canh giữ sư rất nghiêm mật.
Niên hiệu Khai Minh thứ hai (620), tức niên hiệu Vũ Đức thứ ba đời Đường, sư rời khỏi Lạc cung, mà năm lớp lính gác vây quanh không hay biết. Xét thấy nhà Trịnh của Vương Thế Sung sắp bại, nên sư đi về phía tây đến kinh đô.
Thái Vũ hoàng đế trước đây đã nghe những chuyện của sư, biết rõ là thần dị, nên rất kính lễ, ban lịnh thỉnh sư về chùa Hóa Độ và thường mời vào cấm cung, dự đoán những điều kiết hung, Về sau, tất cả đều khế hợp.
Tháng tám năm ấy, sư bỗng biến mất, nhưng y phục, vật dụng đều còn trong phòng. Vua liền hạ lịnh truy bắt, tuy tìm kiếm khắp nơi trong nước, nhưng không thấy.
Có người học đạo đến tham vấn, sư đáp:
- Nên luôn chí tâm kính phụng pháp bình đẳng.
Những quả báo khổ vui ở quá khứ, vị lai của đạo
tục mà sư đã nói được ghi lại đều có linh nghiệm. Sư tu tập đạt đến tổng trì, thương xót chúng tăng mà nói:
- Chẳng bao lâu, chùa này sẽ gặp cảnh máu chảy, các ông nên cẩn thận!
Sau đó, nhân sa-môn Pháp Cai... tự ý độ con cháu của Vương Thế Sung, nên chư tăng trong chùa bị triều đình bắt giam và chém đầu ở kinh đô. Bấy giờ, họ mới hối hận tội lỗi trước đây, nhưng không còn kịp nữa.
20.6.14. Đời Đường, sa-môn Giả Dật: Không biết sư người xứ nào, chỉ biết vào niên hiệu Nhân Thọ thứ nhất (601) đời Tùy, sư du hóa ở An Lục, nói năng, cười đùa lúc ẩn lúc hiện, những lời dự đoán của sư còn đúng hơn sấm kí. Sư thích thay đổi hình tướng, có lúc làm cư sĩ, có lúc làm sa-môn, du hóa không nơi cố định, phân thân đến các huyện, về sau, đến lúc nghiệm lại sự việc thì mọi người mới kính trọng đức độ của sư. Hành vi của sư khác với người thường, nên thường bị những kẻ chẳng biết hổ thẹn sỉ nhục.
Ở chùa Phương Đẳng có sa-môn Tuệ Cảo (547-633) phẩm hạnh, học vấn uyên bác. Nhân đi ngang qua chỗ Tuệ Cảo, sư mới lấy năm mươi trang giấy cúng dường và nói:
- Pháp sư nhờ những trang giấy này mà thoát nạn!
Ngài Tuệ Cảo không hiểu nguyên nhân gì. về sau, có sự tranh tụng, Cảo bị giam. Quan phủ tra xét. Cảo theo lời ghi trên những trang giấy mà trả lời, khi trả lời theo hết năm mươi trang giấy thì sự việc cũng rõ ràng và Cảo thoát nạn. Thật đúng như lời sư đã nói khi xưa!
Một hôm, sư đến một gia đình nọ và nói:
- Nhà ông có con gái, tôi muốn xin cưới!
Gia đình này đồng ý, sư bèn đến chợ thông báo:
- Gia đình ấy gả con cho tôi, nên tôi phải có quà để làm lễ, chuẩn bị nhiều gạo tiền, định ngày kết hôn.
Sư thường đi ngang qua nhà ấy mà nói như vậy. Gia đình họ xấu hổ, mới sai người lén giết sư, đem chôn dưới hầm phân. Ba ngày sau, sư ra chợ kể lại việc bị giết cho mọi người biết.
Niên hiệu Đại Nghiệp thứ hai (606), thiên hạ thái bình, sư cùng đàn trẻ chơi đùa bên dòng sông, có lúc sư cưỡi trên thành cầu, tay múa may và nói: “Bẻ đầu dê, vặn đầu dê”. Thấy thế, mọi người đến xem và cười bỏ đi. Đến khi họ Dương ở Giang Đô gặp nạn thì mọi người mới biết, về sau, không biết sư thị tịch ở đâu!
20.6.15. Đời Đường, sa-môn Thích Pháp Thuận: Sư họ Đỗ, người huyện Vạn Niên, Ung châu. Sư bẩm tính nhu hòa, cần kiệm. Phía đông kinh đô có núi Mã Đầu, vách núi sừng sững, vực sâu thăm thẳm, có thể làm hang động tu tập. Thiền sư Tăng Trân ở chùa Nhân Thánh, vốn là thầy của sư. Trước đây, sư Tăng Trân sáng lập ngôi thất nhỏ và khuyên đạo tục trùng tu. Thiền sư ngồi một chỗ chỉ bày cách thức xây dựng. Bỗng cảm được một con chó màu vàng, chân trắng, thuần phục, chạy thẳng vào trong hang rồi ngậm đẩt chạy ra. Nó cứ ra vào lấy đất rất nhanh như thế mà không biết mệt. Nó chỉ ăn đúng ngọ, giống như tăng.
Do đó, mọi người ở khắp nơi kéo về. Việc này lan đến kinh đô, Tùy Cao đế rất kính trọng, mỗi ngày cúng dường ba thăng gạo. Đến khi thất xây xong thì bỗng nhiên Tăng Trân thị tịch. Thất đó về sau là chùa Nhân Thánh.
Bấy giờ, sư đích thân chứng kiến việc ấy, nên càng qui kính, dốc sức giúp thầy xây dựng và tùy thời hỏi đạo. về sau, sư khuyên mọi người lập trai hội cúng dường khoảng năm trăm vị. Đến giờ thụ trai, người đên dự tăng gâp đôi. Thí chủ sợ thiếu, sư nói:
- Chớ sợ! Phẩm vật cung cấp cho cả nghìn người cũng còn dư.
Trâu ngựa của gia đình Trương Hà Giang, Trương Hoàng Sướng bản tính rất hung ác, mọi người đều sợ, nên bán mà không ai dám mua. Sư dùng lời từ bi khai thị, chúng nghe theo. Từ đó về sau, chúng trở nên thuân thiện, không húc người nữa.
Lại mỗi năm, vào giữa hạ, sư cùng đại chúng vào Li sơn24 an cư. Núi này có nhiều trùng kiến, nên không thể trồng rau quả. Sư sợ tổn hại, nên bảo chúng dời đi nơi khác. Không bao lâu trở lại xem thì khu đất ấy không còn trùng kiến nữa.
Có lần, sư bị bệnh ung nhọt, máu mủ chảy lan ra ngoài. Vì quí kính sư, nên người thì dùng miệng hút máu mủ, người thì dùng vải lau, bịnh liền lành, máu mủ được hút ra tỏa mùi thom ngát không gì sánh bằng, mảnh vải ấy cũng lưu lại hương thơm.
Ở huyện Tam Nguyên, có Điền Tát Đỏa bị điếc bẩm sinh và Trương Tô bị câm. Nghe thế, sư bảo họ đến trò chuyện, bỗng nhiên cả hai nghe và nói được như người bình thường. Từ đó bệnh lành hẳn.
Có vị tăng ở huyện Võ Công bị rồng độc dựa, đại chúng đưa vị tăng đó đến chỗ sư. Sư ngồi trang nghiêm trước mặt vị tăng, rồng độc liền gá vào vị tăng nói:
- Thiền sư đã đến, theo lẽ tôi không nên ở lâu. Thật làm phiền ngài!
Nói xong rồng độc liền thoát khỏi vị tăng ấy.
Vì thế, những người bị các chứng bệnh như ung nhọt, tà ma, v.v... đến nhờ sư chữa trị thì đều lành hẳn.
Sư không dùng chú thuật, chỉ nhờ phúc lực, nhưng những người không biết đều cho là sư có âm đức gia hộ, nên cảm được quỉ thần cung kính. Sư không dùng lời phù phiếm để dạy dỗ mà chỉ thẳng chính lí, luôn lấy sự thuần phác chân thật làm đầu. Hễ sư gặp đền miếu thờ thần cây, ma quỉ đều tự tay đốt phá, ngăn chặn việc tôn thờ đồng cốt. Sư phụng sự chính đạo như thế, nên đạo tục, kẻ sang người hèn đều qui y. Tuy thế, khen chê chẳng làm sư bận lòng, giống như không biết, lại đưa người nói qua việc khác.
Một lần, sư đi về Nam Dã, khi sắp qua Hoàng Cừ thì nước sông dâng cao, không ai dám qua, bờ lại trơn trượt, dù cố leo lên vẫn rơi xuống nước. Bỗng nhiên dòng nước chẻ đôi, lộ con đường khô ráo, sư theo đó qua sông. Sau đó dòng nước trở lại như cũ, môn đồ không biết vì sao! Những cảm ứng thần kì như thế rất nhiều. Tiền bạc và vải vóc thí chủ cúng dường, sư cho phép mọi người dùng chung như vật vô chủ, còn sư chỉ mặc một y phục thô xấu. Tiếng tăm của sư vang khắp nơi, từ triều đình đến thôn dã.
Có lần, vua thỉnh sư vào nội cung, tôn kính đỉnh lễ, tất cả người trong cung đều qui hướng, cầu thụ giới pháp nơi sư.
Niên hiệu Trinh Quán mười bốn (640), một hôm sư không bịnh, bỗng nhiên dặn dò môn đồ: “Pháp tu hành một đời của ta, các ông phải truyền lại cho đồi sau”.
Nói xong, sư nhập định và an nhiên thị tịch tại chùa Nghĩa Thiện ở Nam Giao, thọ tám mươi bốn tuổi.
Lúc sắp thị tịch, bỗng có một cặp chim bay vào phòng, hót lên những tiếng bi thương, thảm thiết. Nhân đó, mọi người đưa thi thể sư đến Bắc Nguyên, Phiền Xuyên, đục hang đá an trí. Đạo tục ở kinh đô đều buồn thương để tang sư. Mọi người kêu khóc bi thương, chấn động cả một vùng.
Trải qua nhiều tháng mà sắc diện của sư càng tươi nhuận hơn. Ba năm sau, thi thể sư khô lại, không tan rã. Từ đó về sau thường có mùi hương lạ tỏa ngát, người đến lễ đều nghe. Môn đồ sợ bị người khác đánh cắp thi thể sư, nên đặt vào trong hòm. Vào những ngày quang đãng, bốn chúng đến cúng dường đầy khắp.
20.6.16. Đời Đường, cư sĩ họ Trương: Ông người huyện Trâu, Duyên châu, từng nhậm chức Huyện úy. Niên hiệu Trinh Quán mười sáu (642), ông muốn lên kinh ứng thí. Trên đường, nhân đi ngang qua Thái sơn, ông ghé qua miếu cầu phúc. Trong miếu có tượng Phủ quân, phu nhân và các người con của họ. Lễ bái xong, ông đến bên cạnh tượng người con thứ tư, thấy tượng này dung mạo tuấn tú. Trong năm người cùng đi, chỉ một mình ông khấn: “Chỉ cần gặp Tứ lang một lần để uống rượu, trao đổi thơ phú thì thỏa mãn một đời, đâu cần làm quan!”.
Ông lại tiếp tục lên đường, được vài dặm thì bỗng có mấy chục người cỡi ngựa, vung roi đi đến. Người hầu nói với ông: “Đây là Tứ lang”. Tứ lang liền nói:
- Vừa rồi, thấy anh ân cần với tôi, nên tôi đến gặp mặt thăm hỏi. Biết anh muốn lên kinh ứng thí. Nhưng năm nay anh chưa được làm quan, lại sợ trên đường đi gặp tai nạn. Vì thế anh chẳng nên đi!
Ông không nghe, chia tay đi tiếp. Đi hơn trăm dặm, ban đêm, ông và những người bạn bị giặc cướp hết những hành lí. Ông liền cầu nguyện: “Tứ lang sao không giúp ta!”. Không lâu, quân lính, xe ngựa của Tứ lang đến, ông kinh ngạc hồi lâu. Tứ lang ra lịnh quân lính truy bắt bọn cướp. Bị đuổi, chúng ngã té, mê ngất và bị dẫn về chỗ cũ. Tứ lang ra lịnh đánh mỗi người vài mươi gậy, khiến tay chân chúng đều bị thương, rồi thả chúng đi. Khi chia tay, Tứ lang chỉ một cây lớn và nói: “Khi trở về, anh đến đây gọi tôi, chúng ta sẽ gặp nhau!”.
Năm ấy, quả nhiên ông không được làm quan. Khi trở về, ông đến bên chỗ hẹn, gọi Tứ lang. Không bao lâu, Tứ lang đến dẫn ông đi và nói: “Mời anh ghé nhà tôi”. Ông thấy lâu đài kì vĩ, cao vút hư không, tường vách nhấp nhô cực kì tráng lệ, lại có thị vệ canh phòng nghiêm mật, giống như cung vua. Ông vào đó không lâu thì Tứ lang nói: “Yết kiến Phủ quân xong thì mới được ngồi”. Tứ lang bèn dẫn ông vào, đi qua hơn mười lớp cửa, mới đến cung điện lớn. Ông lễ bái tham kiến Phủ quân. Thấy Phủ quân rất uy nghiêm, ông sợ hãi, không dám ngước nhìn. Ông lại thấy Phán quan đang phán định hình ngục, tựa như dùng bút đỏ viết chữ rất lớn. Phủ quân bảo lính hầu truyền: - Ông kết giao với con ta, đó là điều rất tốt. Vậy ông nên ở lại đây một hai ngày để yến ẩm với nó, muốn về lúc nào cũng được.
Phủ quân liền sai người đưa ông đến nhà khách, rồi dọn những món sơn hào hải vị, tấu nhạc, ca hát vui chơi.
Ông ngủ chung phòng với Tứ lang. Sáng hôm sau, ông dạo khuôn viên, rồi nhìn qua một phòng, thấy vợ mình bị gông đứng trước các quan ngục. Ông liền trở về điện mà lòng không vui. Tứ lang lấy làm lạ, hỏi nguyên do. Ông kể lại sự việc, Tứ lang kinh ngạc nói: “Tôi không biết chị đã ở đây!” rồi vội đến chỗ pháp ti. Thấy Tứ lang đến, khoảng vài chục người đều chạy xuống bậc tam cấp nghênh đón. Tứ lang gọi một vị ở gần đến và hỏi việc này. Vị này đáp: “Hạ thần không dám trái mệnh, nhưng cần nói cho Lục sự biết”. Tứ lang cho gọi Lục sự. Lục sự đồng ý nói: “Cần phải kẹp án này vào trong các án khác, rồi tìm cách đồng phán định lại mới được!”. Vị Pháp ti đoán: “Người phụ nữ này xét trong một án khác thì có công đức chép kinh, trì trai, nên chưa chết trong lúc này!”. Do đó vợ ông được tha về.
Ông và Tứ lang rơi lệ từ biệt. Tứ lang dặn dò ông: “Chỉ có tạo công đức mới có thể tăng tuổi thọ”.
Trên đường về nhà, ông cỡi ngựa cũ, còn vợ ông thì mượn con ngựa của Tứ lang. Tuy là hồn phách nhưng hành động, cử chỉ vẫn như người sống. Khi còn cách nhà khoảng trăm bước, bỗng vợ ông biến mất. Ông hoảng sợ, chạy vào trong nhà thì thấy mọi người đang khóc, vợ ông cũng đã được tẩm liệm. Ông liền bảo con gái mở nắp quan tài. Vừa mở xong, vợ ông bỗng ngồi dậy, vui vẻ cười và nói: “Chàng đừng ngạc nhiên, vì nhớ các con, nên thiếp chạy về trước!” Bấy giờ, vợ ông đã chết sáu, bảy ngày rồi sống lại.
20.6.17. Tạp sự
Thuật chính kí ghi: “Hoàn Xung làm thứ sử ở Giang châu. Một hôm, ông sai người đi khắp Lô sơn để mong thấy việc linh dị. Khi lên đỉnh núi cao, thấy một cái hồ, chung quanh có những cây dâu và bầy thiên nga trắng. Trong hồ có con cá vẩy đỏ và chiếc thuyền lớn bị hư. Người này quá khát, muốn đến đó uống nước thì thấy cá vẩy đỏ giương vây hướng về mình, nên không dám uống”.
Kinh Thần dị ghi: “Vùng hoang vu ở phương bắc có một cái hồ rộng nghìn dặm, mặt hồ bằng phẳng. Trong hồ có con cá dài bảy, tám thước, giống cá lóc, nhưng mất đỏ, ban đêm hóa làm người. Đâm nó cũng không thủng, nấu nó cũng không chết. Nhưng khi đem nấu chung với mười bốn quả ô mai thì nó sẽ chín, người bịnh tà ăn thì sẽ lành”.
Địa kính đồ ghi: “Hễ báu vật ẩn trong thành quách, đồi gò, tường vách thì cây cối nơi ấy biến đổi, thấy có cây khô bị gãy là dấu hiệu có báu vật gần đó. Nhìn cây khô này hướng đến nơi nào thì nơi ấy có của báu. Hễ có vàng thì vàng thường biến thành bầy rắn. Khi thấy chúng thì phải cởi một chiếc giày, hoặc dép ném vào. Nếu chúng chìm lặn mất nơi nào thỉ nơi đó có kho báu. Nếu không nhớ kho báu ở đâu thì lấy một cái mâm lớn bằng đồng chứa đầy nước, rưới vào chỗ đất nghi ngờ, rồi vừa đi vừa dùng mâm đồng chiếu soi. Nếu thấy ảnh người nơi nào thì dưới nơi đó có kho báu .
Địa kính đồ ghi: “Thấy ngói trên mái nhà không có sương thì dưới đó có kho báu”.
Yến Tử Xuân Thu ghi: “Viên ngọc họ Hòa, khúc gỗ của làng Tỉnh, nhờ thợ giỏi mài giũa, khắc chạm mà thành báu vật của đất nước”.
Thuật dị kí ghi:
- Men theo dòng Trường Giang, đi về phía tây, cách huyện Vu Đô, Nam Khang ba dặm thì đến Mộng Khẩu, ở đó có hang đá. Người xưa tương truyền:
“Một hôm, có con gà thần màu vàng ròng từ trong hang này bước ra, giương cánh, lượn vòng, cất tiếng gáy một hơi dài, vang thấu trời. Thấy có người, nó liền bay vào hang. Nhân đó, người ta gọi hang này là hang Kim Kê.
Có người cày ruộng bên núi này, từ xa thấy con gà ra khỏi hang dạo chơi, một người cao lớn bắn vào nó một viên đạn. Từ xa trông thấy, nó liền bay vào hang. Viên đạn có đường kính sáu thước, rơi xuống lấp cả miệng hang, vẫn còn khe hở, nhưng con người không thể lách vào.
- Lại có người chèo thuyền từ hạ lưu đến huyện này, khi cách bờ chưa đầy vài dặm thì có một người mặc quần áo màu vàng, gánh hai giỏ dưa vàng, xin đi nhờ. Người này lại xin thức ăn, người chèo thuyền liền cho. Khi ăn xong thì thuyền vừa cập bến. Người chèo thuyền xin dưa, người này chẳng những không cho, mà còn nhổ nước bọt lên bàn ăn, rồi đi thẳng lên bờ, người chèo thuyền rất tức giận. Nhưng khi thấy người này đi vào hang đá thì mới biết là thần linh, người chèo thuyền cầm bát cơm lên xem và nhìn lại nước bọt trên bàn thì thấy là vàng ròng.
Ngô lục ghi: “Ở huyện Bắc Cảnh, Nhựt Nam có loài chuột lửa, lông nó dệt làm vải, khi đốt thì vải này đẹp hơn, gọi là vải Hỏa hoán”. Tấn Dương Xuân Thu ghi: “Hữu ti tâu lên, Võ đế vẫn như xưa cho đây là thuật dối người, nên không chấp nhận”.
Sưu thần kí ghi:
- Trên dãy Côn Lôn có núi lửa. Chim thú, cây cỏ đều sinh sống trong lửa. Cho nên vải Hỏa Hoán nếu chẳng phải dệt từ vỏ cây thì cũng từ lông của loài thú sống trong núi này.
-Ngụy Văn đế cho rằng tính của lửa vô cùng nóng, không có sinh khí. Nên soạn luận về vải này rồi cho khắc dựng ngoài cửa tôn miếu. Bấy giờ, sứ Tây Vực dâng ca-sa làm bằng vải Hỏa Hoán. Thế là luận này bị dẹp bỏ.
Địa kính đồ ghi: “Trên núi nào có cây hẹ thì núi này nhất định có vàng”.
Bão Phác Tử ghi: “Cây trong núi nói tiếng người, thật ra chẳng phải do cây nói, mà là tinh của cây, gọi là Vân Dương nói. Buổi tối, ở trong núi mà thấy có ánh sáng, đều do cây khô lâu năm phát ra, đừng kinh ngạc! Buổi trưa, trong núi có người tự xưng là tiên nhân thì đó là cây lâu năm biến ra”.
Tôn Xước nói: “Người sống gần biển và người sống vùng núi bàn luận về thổ sản. Người sống ở biển nói:
- Trong biển có loại cá, đầu cao như Hoa sơn, hớp một cái, sóng dậy vạn khoảnh.
Người sống vùng núi nói:
- Trong rừng có một cây, chu vi ba vạn tầm, cao nghìn dặm, che mát cả mấy quốc gia.
Lại có người khác nói:
- Ở phương đông xa xôi có một người khổng lồ chặt cây này làm roi, nhưng chê roi ngắn không thể đánh được. Lại câu cá này làm món ăn thi cũng chẳng được một miếng”.
Huyền trung kí ghi: “Nhựa cây trăm năm đỏ như máu, tinh của cây nghìn năm biến thành dê đen, tinh của cây vạn năm biến thành con trâu”.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/11/2015
PUCL QUYỂN 40 - CHƯƠNG XÁ LỢI
Quyển này có một chương Xá-lợi. 37. CHƯƠNG XÁ-LỢI 37.1. LỜI DẪN Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 38 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 38 Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt) 35.6. THÁP CỔ Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng! Có những chún...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 37 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP
QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 33 - CHƯƠNG TẠO PHÚC
QUYỂN 33 Quyển này có một chương Tạo phúc. 27. CHƯƠNG TẠO PHÚC 27.1. LỜI DẪN Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả r...
