Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 27 - CHƯƠNG CHÍ THÀNH

09/11/2015

QUYỂN 27 Quyển này có một chương Chí thành. 19. CHƯƠNG CHÍ THÀNH 19.1. LỜI DẪN Lòng chí thành đã cảm thì Phật thánh nhất định ứng hiện; bậc đại sĩ vận tâm thì hợp tất cả căn cơ; tự răn nhắc bản thân, khắc ghi vào tâm ý đ...

PUCL QUYỂN 27 - CHƯƠNG CHÍ THÀNH
Phần 1

QUYỂN 27
Quyển này có một chương Chí thành.
19. CHƯƠNG CHÍ THÀNH

19.1. LỜI DẪN
Lòng chí thành đã cảm thì Phật thánh nhất định ứng hiện; bậc đại sĩ vận tâm thì hợp tất cả căn cơ; tự răn nhắc bản thân, khắc ghi vào tâm ý đến tận vị lai, chẳng để mất. Vì thế mỗi thệ nguyện đều tương ứng với nhẫn trí; mỗi niệm tâm rộng lớn đều xuất phát từ a-duy-việt-trí. Nếu lập hạnh vững chắc hơn tùng duẫn, khởi nguyện kiên cố hơn đá vàng, quên thân mà hộ trì Phật pháp, dốc lòng cứu độ chúng sinh, hoàng đạo để báo đáp bốn ân, bồi đức hầu cứu giúp ba cõi, thì công trùm ba tăng-kì, quả tròn Thập địa.
19.2. TÌM CHÂU BÁU
Kinh Đại Ý ghi:
- Thưở xưa, tại nước Hoan Lạc có cư sĩ Ma-ha-đàn lấy một người vợ tên là Chiên-đà. Vợ chồng sinh được một bé trai khôi ngôi tuấn tú ít ai sánh bằng. Khi mới chào đời, cậu bé phát nguyện: “Tôi sẽ bố thí giúp người nghèo khổ”. Nhân đó, cha mẹ đặt tên cậu bé là Đại Ý. Đến năm mười bảy tuổi, Đại Ý phát tâm ra biển tìm bảo châu minh nguyệt để cứu giúp chúng sinh.
Ra biển, đầu tiên Đại Ý đến thành bằng bạc, được long vương cai quản thành này dâng hạt châu Minh nguyệt. Châu này ở đâu thì những trân bảo trong chu vi hai mươi dặm tự nhiên tìm đến. Đại Ý tiến về phía trước thì gặp thành bằng vàng, được long vương cai quản thành này dâng hạt châu Minh nguyệt. Châu này ở đâu thì những trân bảo trong chu vi bôn mươi dặm tự nhiên tìm đến. Đại Ý đi tiếp, gặp thành bằng thủy tinh, được long vương cai quản thành này dâng hạt châu Minh nguyệt. Châu này ở đâu thì những trân bảo trong chu vi sáu mươi dặm tự nhiên tìm đến. Đại Ý lại đi tiếp thì gặp thành bằng lưu li và cũng được long vương cai quản thành này dâng hạt châu Minh nguyệt. Châu này ở đâu thì những trân bảo trong chu vi tám mươi dặm tự nhiên tìm đến. Long vương phát nguyện: “Sau này ngài đắc đạo, ta nguyện làm đệ tử và sẽ thành tâm cúng dường nhiều hơn hôm nay, giúp tăng trưởng trí tuệ”. Đại Ý nhận minh châu rồi vượt biển trở về đất liền.
Bấy giờ, các vua của thần biển bàn tính: “Trong biển của chúng ta tuy có rất nhiều trân bảo, nhưng không có những hạt châu này”. Thế là vua này lịnh cho thần biển tìm cơ hội chiếm đoạt những minh châu đó. Thần biển hóa làm người đến gặp Đại Ý và hỏi:
- Tôi nghe nói ngài được báu vật quí lạ, ngài có thể cho tôi mượn xem được chăng?
Đại Ý cầm bốn viên minh châu đưa ra, thần biển liền vung tay làm minh châu rơi xuống biển. Đại Y thầm nghĩ: “Long vương có nói rất khó giữ được các hạt minh châu này. Nay ta may mắn mới có được, không lí nào để cho người này cướp đoạt!’.
Đại Ý liền nói với thần biển:
- Ta trải qua bao gian nan nguy hiểm mới được minh châu này, mà nay ngươi cướp lấy. Nếu không trả, ta sẽ tát cạn nước biển để tìm!
- Chí ngài thật cao tột! Nhưng biển sâu ba trăm ba mươi sáu vạn do-tuần, rộng lớn không cùng tận, làm sao ngài tát cạn nổi! Ví như mặt trời không bao giờ rơi xuống đất, cuồng phong không thể bắt trói. Cho dù việc này có xảy ra đi nữa, nhưng không ai có thể tát cạn được biển cả. Thần biển nói.
Đại Ý cười và đáp:
- Ta nhớ trước sau thụ thân, bỏ thân từ vô thỉ đến nay xương chất cao hơn núi Tu-di, máu chảy nhiều hơn nước ngũ hà, mà ta còn muốn đoạn dứt nguồn gốc sinh tử, huống gì biển nhỏ này mà không tát cạn được ư? Thuở xưa, ta cúng dường chư Phật và phát nguyện: “Hôm nay con cúng dường, xin chí nguyện của con dũng mãnh nơi đạo pháp, tiến bước không sợ gian nan; dù phải chuyển dời núi Tu-di, tát cạn nước biển, con cũng không bao giờ thoái chí!”.
Nói xong, Đại Ý liền nhiếp tâm lấy gàu tát nước biển, nhờ lòng chí thành nên được bốn vị thiên vương đến giúp đỡ. Đại Ý tát được hai phần ba nước biển, các thần biển vô cùng sợ hãi, bàn với nhau:
- Nay nếu chúng ta không trả các viên châu lại cho người này thì sẽ lớn chuyện. Nước biển cạn, bùn sẽ nổi lên thì cung điện của chúng ta hư hoại.
Thần biển liền dâng châu báu cho Đại Ý. Đại Ý không nhận và nói:
- Ta không cần những loại này, chỉ muốn được minh châu của ta. Ta không bao giờ tha tội cho các ngươi!
Thần biển biết ý chí của Đại Ý, liền trả lại minh châu. Đại ý trở về nước, tùy ý mở hội bố thí lớn. Từ đó về sau, nơi ấy không còn người đói khát, thiếu thốn, nghèo túng.
Đức Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Đại Ý thuở xưa chính là tiền thân của ta.
A-nan thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Đại Ý tạo công đức gì mà được bốn viên minh châu có nàng lực khiến châu báu tự tìm đến?
Đức Phật bảo A-nan:
- Này A-nan! Vào thời Đức Phật Duy-vệ ở quá khứ, Đại Y xây tháp Đức Phật này bằng bốn báu, cúng dường Tam bảo, giữ gìn trai giới bảy ngày. Khi ấy có năm trăm người cùng lúc xây chùa; hoặc có người treo lụa, thắp đèn, đốt hương, rải hoa cúng dường các tì-kheo tăng, hoặc có người tụng kinh, giảng đạo. Nay họ đều gặp Ta và được độ thoát.
Luật Tăng-kì ghi:
- Thần biển suy nghĩ: “Giả sử trong trăm năm, bà-la-môn này tát biển thì cũng không bao giờ vơi đi một mảy may”.
Nhưng cảm động trước tâm tinh tiến, nên thần biển mới đem trân bảo trả lại cho bà-la-môn.
Thần biển nói kệ cho bà-la-môn:
Sức phương tiện siêng năng Ý chí chẳng mỏi mệt Cảm động tâm tinh tiến Tuy mất, vẫn tìm được ”.
19.3. CẦU HỌC GIỚI PHÁP
Kinh Tạp thí dụ ghi:
Phần 2

- Ngày xưa, có một người tên Tác-bạc. Nghe ở nước ngoài có nhiều của báu quí lạ, anh ta muốn đến đó để sinh sống, nhưng vùng biên giới giữa hai nước có quỉ la-sát, không ai qua lại được. Một hôm, Tác-bạc bỗng thấy cửa tây của chợ có một vị tăng ngồi trên chiếc giường, rao bán năm giới. Tác-bạc hỏi:
- Năm giới như thế nào?
- Năm giới không hình tướng, chỉ cần miệng trao, tâm nhận và giữ gìn thì đời sau được sinh lên cõi trời, hiện đời thì thoát khỏi nạn quỷ la-sát_ Vị tăng đáp.
- Ngài bán bao nhiêu?
- Một nghìn đồng tiền vàng.
Tác-bạc liền thụ năm giới. Sau đó, vị tăng lại dặn:
- Sang bên kia biên giới, nếu gặp la-sát, ông chỉ cần nói: “Tôi là đệ tử năm giới của Đức Phật Thích-ca”, thì thoát nạn.
Không bao lâu, Tác-bạc đến biên giới, thấy một con quỷ la-sát thân cao một trượng ba thước, đầu vàng, mắt đỏ, mình đầy vảy cứng, miệng há rộng như cá ma-kiệt, ngửa lên thì bắt én bay, chân đạp đất thì lún tới gối, miệng phun máu nóng. Cả bọn mấy nghìn la-sát vây bắt Tác-bạc. Tác-bạc liền nói:
- Tôi là đệ tử thụ năm giới của Phật Thích-ca.
Nghe vậy, bọn la-sát vẫn quyết không chịu buông. Tác-bạc liền dùng hai tay đấm la-sát, thì tay dính chặt vào vảy của nó, rút không ra; lại dùng chân đạp đầu, thì chân cũng dính cứng. Thế là cả thân anh ta đều dính chặt vào vảy của nó, chỉ còn lưng cử động được. La-sát nói:
Thân và tay chân ngươi
Đều đã bị dính chặt
Hãy đành chịu chết đi
Vùng vẫy có ích gì!
Tác-bạc vẫn kiên trì, nói với la-sát:
Thân và tay chân tôi Tạm thời bị dính chặt,
Tôi giữ tâm sắt đá
Ắt không bị ngươi hại.
La-sát lại nói với Tác-bạc:
Ta là vua loài quỉ
Có sức mạnh phi thường,
Xưa nay ăn thịt người
Rất nhiều không tính xiết.
Ngươi hãy đành chịu chết
Sao còn tự khoe khoang!
Tác-bạc nổi giận, muốn mắng nhiếc, nhưng suy nghĩ: “Thân này luân hồi trong ba cõi, chưa từng thí cho ai. Nay ta sẽ thí cho quỷ la-sát này một bữa no”. Nghĩ xong, Tác-bạc nói kệ:
Thân ta lắm tanh hôi
Từ lâu muốn bỏ rồi
Nay ngươi bắt được ta
Ta bố thí thân này.
Chí ta cầu Đại thừa
Thành tựu Nhất thiết trí.
La-sát thông minh, hiểu lời Tác-bạc, nên cảm thấy hổ thẹn thả Tác-bạc rồi quỳ xuống, chắp tay sám hối:
Ngài là thầy độ người
Hiếm có trong ba cõi
Chí cầu pháp Đại thừa
Không lâu sẽ thành Phật.
Thế nên, tôi quy y
Thành kính đỉnh lễ ngài.
Sau khi sám hối, la-sát đưa Tác-bạc sang một nước kia, lấy nhiều châu báu, rồi đưa ông ta về nhà. Nhờ huân tu công đức, nên Tác-bạc chứng quả Dự Lưu5.
Cho nên biết, năng lực của giới không thể nghĩ bàn. Vì thế, khuyên các hành giả nghiêm trì giới cấm, lập chí dũng mãnh giống như người này vậy!
19.4. CẦU HỌC NHẪN NHỤC
Luận Đại trí độ ghi:
- Thưở xưa, có một con rồng độc có năng lực phi thường. Khi nó nhìn, hễ người nào yếu thì chết ngay; khi nó phun khí độc, dù người mạnh cũng phải chết. Có lần, rồng thụ giới một ngày, nên ra khỏi hang, vào rừng tư duy. Hồi lâu, rồng mỏi mệt, nên ngủ thiếp đi.
Khi rồng ngủ, thân cuộn tròn như rắn, da nó ánh lên màu bảy báu. Thấy vậy, thợ săn vui mừng và nghĩ: “Đây là bộ da hiếm có, nếu đem lên vua để làm vật trang sức, thì chẳng phải là việc đáng làm sao?”. Nghĩ xong, thợ săn liền lấy gậy đè đầu rồng, rồi lấy dao lột da.
Rồng liền nghĩ: “Sức ta có thể làm nghiêng đổ cả một nước, người bé nhỏ này đâu làm gì được ta! Nhưng nay ta trì giới không nghĩ đến thân, vâng lời Phật mà nhẫn chịu”. Nghĩ rồi, rồng nhắm mắt, nín thở, khởi lòng thương xót thợ săn, nằm yên chịu lột da, không hối hận. Vì vậy, rồng không có da che thân, chỉ còn khối thịt đỏ, đau đớn quằn quại trên đất.
Khi ấy, trời nắng gắt, rồng muốn bò đến sông lớn, nhưng bị các côn trùng rỉa thịt ăn. Vì trì giới, rồng không dám cựa mình. Rồng lại nghĩ: “Nay ta bô thí thân này cho các côn trùng để cầu Phật đạo. Nay ta bố thí thân, thịt này để chúng được no đủ; sau này thành Phật, ta bố thí pháp để chúng được lợi ích”. Đến khi thân khô, rồng mạng chung, sinh lên cõi trời Đao-lợi.
Loài vật còn nghiêm trì cấm giới như thế, đến chết vẫn không phạm, huống gì là con người, đâu được cố phạm!
Luật Ngũ phần ghi:

Phần 3

- Đức Phật dạy: “Vào thời quá khứ, có một con rắn đen cắn con nghé, rồi bò vào hang. Bấy giờ, có một thầy pháp niệm thần chú cổ dương đế rắn bò ra, nhưng không linh nghiệm. Thầy pháp bèn đốt lùa trước con nghé và niệm chú biến thành con ong lửa bay vào hang đốt rắn. Rắn đau đớn chịu không nổi, nên bò ra khỏi hang. Thấy vậy, dê đen dùng sừng hất rắn đến trước thầy pháp. Thầy pháp nói:
- Ngươi hãy hút nọc độc cho con nghé, nếu không, ta sẽ ném ngươi vào lửa!
Nghe vậy, rắn đen nói bài kệ:
Tôi đã phóng độc
Không bao giờ thu lại,
Nếu có phải chết đi
Không bao giờ hối tiếc!
Thế là rắn không chịu thu độc lại, tự gieo mình vào lửa”.
Đức Phật bảo:
- Rắn đen thuở ấy chính là Xá-lợi-phất, trước đây chấp nhận nỗi khổ bị chết mà không thu độc lại, huống gì nay lại lấy thuốc đã vứt bỏ.
19.5. CẦU HỌC TINH TIẾN
Kinh Tạp bảo tạng ghi:
- Đức Phật dạy: “Vào thời quá khứ, vùng biên giới giữa hai nước Ca-thi và Tì-đề-hê có một cánh đồng trống. Nơi ấy, có một ác quỉ Sa-tra-lư thường chận đường, khiến tất cả dân chúng không qua lại được.
Bấy giờ, có vị trưởng đoàn buôn tên là Sư Tử dẫn theo năm trăm thương buôn, muốn đi qua đường này. Mọi người lo sợ không thể qua được, trưởng đoàn nói:
- Chớ sợ, cứ đi theo tôi!
Thế rồi, vị trưởng đoàn đi trước dẫn đường, đến chỗ quỉ và nói:
- Ngươi không nghe danh ta ư?
- Tôi đã nghe danh ông, nên đến đây giao chiến.
- Ngươi có sở trường gì?
Thế là, vị trưởng đoàn và năm trăm thương buôn liền giương cung bắn ác quỉ. Năm trăm mũi tên bắn ra đều rơi vào bụng ác quỉ; lại dùng dao chém, gậy đánh, thì cũng dính vào bụng quỉ. Vị thương chủ xông tới, lấy tay trái đánh, tay trái dính vào; lấy tay phải đánh, tay phải cũng dính vào; dùng chân phải đạp, chân phải cũng dính vào; dùng chân trái đạp, chân trái cũng dính vào; lại dùng đầu húc, đầu cũng bị dính. Khi ấy, ác quỉ nói bài kệ:
Tất cả tay và chân
Cho đến đầu của ngươi
Hết thảy đều bị dính
Người, vật đều dính hết.
Trưởng đoàn đáp lại bằng bài kệ:
Tay, chân và đầu của tôi đây
Cho đến tiền tài và dao gậy
Tất cả vật ấy tuy đã dính
Nhưng sức tinh tiến, thật chẳng hề.
Nếu sức tinh tiến không ngừng nghỉ
Giao chiến với ngươi, quyết chẳng lay.
Ta nay tinh tấn không ngừng nghỉ
Hoàn toàn chẳng chút sợ hãi gì!
Ác quỉ nói:
- Vì ngươi mà nay ta thả năm trăm thương buôn này.
19.6. CẦU HỌC THIỀN ĐỊNH
Luận Tân bà-sa ghi:
- Thấy bồ-tát ngồi nơi cội bồ-đề, thân ngay thẳng, bất động, phát nguyện chứng quả Vô thượng chính giác, ma vương vội rời khỏi cung điện của mình, đến nói với bồ-tát:
- Này người con dòng Sát-đế-lợi, hãy rời khỏi chỗ ngồi này! Nay đúng vào thời ác trược, chúng sinh ngang bướng, nhất định không thể chứng đạo Vô thượng bồ-đề. Ông nên nhận lấy ngôi Chuyển luân vương, ta sẽ dâng cúng bảy báu.
- Lời ngươi vừa nói chỉ dụ được trẻ con. Mặt trời, mặt trăng, ngôi sao có thể rơi xuống; núi, sông, đại địa có thể bay lên hư không, nhưng không thể nào
khiến Ta rời khỏi tòa này khi chưa chứng đạo Bồ-đề. Bồ-tát nói.
Sau đó, ma vương dẫn theo ba mươi sáu câu-chi quân ma. Mỗi con hiện ra hình dáng đáng sợ, cầm các binh khí nhiều màu sắc, đứng đầy chật ba mươi sáu du-thiện-na9 rồi đồng loạt xông tới cội bồ-đề quấy nhiễu bồ-tát, nhưng không được. Bấy giờ, thân tâm bồ-tát bất động, vững hơn núi Tu-di.
19.7. CẦU CHỨNG BỐN QUẢ SA-MÔN
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Phật pháp rộng lớn, cứu độ chúng sinh không cùng tận. Người hết lòng cầu đạo đều chứng quả, cho đến những người cười đùa đối với Phật pháp cũng được phúc báo! Giống như thuở xưa, có vị tì-kheo lớn tuổi, không còn minh mẫn. Một hôm, nghe các tì-kheo trẻ tuổi giảng về bốn quả Sa-môn, vị tì-kheo này cảm thấy vui thích, bảo các tì-kheo trẻ:
- Các ông thông minh, xin cho tôi bốn quả Sa-môn!
- Tôi có bốn quả Sa-môn, nhưng ông phải đãi chúng tôi một bữa ăn ngon, rồi chúng tôi mới cho ông. Các tì-kheo trẻ cười chế giễu và nói.
Nghe vậy, vị tì-kheo già vui mừng, liền sửa soạn nhiều món ăn ngon, rồi mời các tì-kheo trẻ đến cúng dường để cầu xin bốn quả Sa-môn.
Sau khi ăn xong, các tì-kheo trẻ chỉ tay nói đùa với vị tì-kheo lớn tuổi:
- Đại đức! Ông hãy ngồi ở một góc nhà này, chúng tôi sẽ cho ông những quả ấy!

Phần 4

Nghe vậy, vị tì-kheo già vui mừng, vâng lời các tì-kheo trẻ, ngồi vào một góc nhà. Các tì-kheo trẻ liền dùng quả cầu da đánh vào đầu vị tì-kheo già và nói:
- Đây là quả Tu-đà-hoàn!
Nghe xong, tì-kheo già buộc niệm, giữ tâm không tán loạn, chứng được Sơ quả.
Các tì-kheo trẻ vẫn tiếp tục đùa:
- Tuy chúng tôi cho ông quả Tu-đà-hoàn, nhưng ông còn phải trải qua bảy lần sinh, bảy lần chết nữa. Nay ông hãy ngồi sang một góc khác, chúng tôi sẽ cho ông tiếp quả Tư-đà-hàm!
Lúc này, nhờ vừa mới chứng được Sơ quả, đạo tâm càng tăng tiến, vị tì-kheo già liền ngồi sang góc khác. Các tì-kheo trẻ lại dùng quả càu da đánh vào đầu vị ấy và nói:
- Cho ông quả thứ hai đây!
Vị tì-kheo già càng chú tâm buộc niệm hơn, liền chứng được quả Tư-đà-hàm. Các tì-kheo trẻ lại đùa tiếp:
- Nay ông đã được quả Tư-đà-hàm, nhưng vẫn còn phải chịu một lần sinh tử nữa. Ông hãy dời chỗ ngồi sang góc khác, chúng tôi sẽ cho ông quả A-na-hàm!
Vị tì-kheo già nghe theo lời ấy, liền chuyển chỗ ngồi. Các tì-kheo trẻ lại dùng quả cầu da đánh vào đầu tì-kheo già và nói:
- Nay chúng tôi cho ông quả thứ ba đây!
Nghe xong, tì-kheo già vui mừng, càng chú tâm gấp bội, liền chứng quả A-na-hàm.
Các tì-kheo trẻ vẫn tiếp tục đùa:
- Nay ông đã được quả Bất hoàn, nhưng do còn phải thụ thân hữu lậu ở cõi sắc và cõi Vô sắc, phải chịu sự biến đổi và hoại diệt của vô thường, mỗi niệm mỗi niệm đều là khổ đau. Do đó, ông hãy chuyển đến góc khác, chúng tôi sẽ tiếp tục cho ông quả A-la-hán! Vị tì-kheo già liền vâng lời, chuyển đến góc thứ tư. Các tì-kheo trẻ lại dùng quả cầu da, đánh vào đầu vị tì-kheo già và nói:
- Nay chúng tôi cho ông quả thứ tư!
Lúc này, vị tì-kheo già nhất tâm tư duy, liền chứng được quả A-la-hán.
Sau khi chứng được cả bốn quả thánh, vị tì-kheo già vô cùng vui mừng, liền sắm sửa các món ăn ngon, nhiều thứ hương hoa, rồi mời các tì-kheo trẻ đến để báo đáp ân đức và cùng họ luận bàn về công đức vô lậu của các đạo phẩm. Các tì-kheo trẻ há miệng mà chẳng thốt nên lời. Lúc này, vị tì-kheo già mới nói:
- Tôi đã chứng đắc quả A-la-hán rồi!
Nghe vậy, các tì-kheo trẻ đều hối hận, xin sám hối tội lỗi đùa giỡn của mình.
Vì thế, người tu hành phải nên nhớ nghĩ điều lành. Ngay cả đùa giỡn mà vẫn còn giúp người được quả báo chân thật, huống gì là chí tâm!
Người cầu học đạo, quan trọng ở lòng chí thành. Nhờ lòng chí thành cảm ứng với đạo, nên mới chứng đắc đạo quả”.
Kinh Tạp bảo tạng lại ghi: “Như thuở xưa, có một cô gái thông minh, hiểu biết rộng, có lòng kính tin Tam bảo kiên cố, thường theo thứ tự thỉnh tăng đến nhà để cúng dường.
Một hôm, đến lượt một vị tì-kheo lớn tuổi được thỉnh đến nhà cô gái ấy; vì tuổi già, nên các căn chậm chạp, lại thiếu hiểu biết. Sau khi dâng cúng thức ăn và tì-kheo thụ thực xong, cô gái thỉnh vị tì-kheo này thuyết pháp. Lúc ấy, cô ta ngồi một mình trước mặt vị tì-kheo, nhắm mắt yên lặng. Vị tì-kheo tự biết mình không có trí tuệ, chẳng biết thuyết pháp. Nhân lúc cô gái đang nhắm mắt, ông ta liền bỏ về chùa. Nhưng cô gái này vẫn chí tâm tư duy về pháp hữu vi là vô thường, khổ, không, chẳng tự tại10. Nhờ chú tâm quán sát kĩ, cô gái liền chứng đác quả Tu-đà-hoàn.
Sau khi chứng quả, cô gái đến chùa tìm vị tì-kheo già để báo ân. Nhưng vị tì-kheo ấy tự xét mình không có trí tuệ, nên ông ta lánh mặt. Càng hổ thẹn, vị tì-kheo càng ẩn kín hơn. Nhưng cô gái tha thiết cầu gặp, nên vị tì-kheo kia đành phải tiếp chuyện. Bây giờ, cô gái trình bày rõ nhờ ông ta mà cô chứng được đạo quả, nên mang lễ vật đến cúng dường để báo ân. Nghe vậy, vị tì-kheo già vô cùng hổ thẹn, tự nghiêm trách mình, nên cũng chứng đắc quả Tu-đà-hoàn.
Vì thể, người tu hành phải nên hết lòng cầu pháp. Nếu hết lòng, thì nhất định sẽ đạt được điều mình mong cầu!”.
19.8. CỨU NẠN
Kinh Tăng-già-la-sát ghi:
- Thuở xưa, bồ-tát hiện thân làm chim anh vũ thường sống trên cây. Bấy giờ gió thổi, cây cối cọ xát nhau phát ra lửa. Lửa dần dần bốc cháy mạnh, đốt cả vùng núi ấy.
Anh vũ suy nghĩ: “Loài chim bay ngang qua đây, chỉ đậu trên cây giây lát mà còn muốn báo ân, huống gì ta sống ở đây suốt ngày, suốt đêm mà không chịu dập tắt lửa sao?”. Nghĩ xong, anh vũ bay ra biển, dùng đôi cánh lấy nhúng nước đem về rưới lên ngọn lửa, hoặc dùng miệng để phun nước; nó cứ bay đến bay đi như thế mãi. Thấy anh vũ lao nhọc, thiện thần động lòng, liền giúp anh vũ dập tắt lửa.
Luận Đại trí độ ghi: “Ngày xưa, có con chim trĩ11 đang sống trong rừng. Một hôm, khu rừng bỗng nhiên phát hỏa, một mình chim trĩ lao nhọc, bay đến sông lấy nước dập lửa. Nó bôn ba đến đi hết sức vất vả, nhưng không thấy cực khổ. Thấy vậy, trời Đế Thích hỏi:
- Ngươi làm gì vậy?
- Vì thương chúng sinh, nên tôi ra sức cứu khu rừng này. Trước đây, rừng này mát mẻ, che chở chúng tôi lâu nay sống yên ổn, thoải mái. Tôi cùng họ hàng và nhiều loài khác đều nương náu ở đây. Nay tôi còn sức lực, vì sao không chữa cháy? Chim trĩ đáp.
- Ngươi siêng năng như vậy, đến bao giờ mới thôi?
- Đến chết mới thôi!
- Ai làm chứng cho ngươi?
Chim trĩ liền phát nguyện:
- Nếu tôi chí thành, niềm tin không hư dối, xin ngọn lửa này hãy tự tắt.

Phần 5

Chư thiên cõi trời Tịnh Cư biết chim trĩ phát thệ nguyện rộng lớn, nên giúp chim dập tắt lửa. Từ đó về sau, khu rừng này trở nên xanh tốt, không bao giờ còn bị hỏa hoạn nữa”.
Cho nên, kinh ghi: “Người có nguyện lành, nhất định chư thiên ủng hộ”. Lời này đã được chứng nghiệm.
Có bài tụng:
Chí thành như băng tuyết Tháng ngày bức tuổi già Than ôi! Nước trôi nhanh Buồn thay! Người đời chấp.
Hàng năm đều thu hoạch
Cuối đông sợ khô lạnh.
Siêng tu thí, giới, nhẫn
Tinh tiến, thiền định, tuệ.
Kết bạn cùng tiến tu
Tâm khế hợp cảnh Thánh.
Người buôn không sợ chết
La-sát chẳng thể hại.
Tìm châu, tát cạn biển
Thần sợ, vội hiến dâng,
Người phát nguyện cầu đạo
Lập chí được bồ-đề.
19.9. CẢM ỨNG
19.9.1. Lực sĩ Hàm Huyền: Tấn Minh đế ra lịnh xử trảm lực sĩ Hàm Huyền. Khi ra pháp trường, Huyền nói với đao phủ: “Cổ ta nhiều gân, nếu chặt thì nhất định đứt. Nhưng ta sẽ báo thù ông”. Đao phủ không để tâm câu nói này, vung đao chém mấy nhát mới đứt. Sau đó, ông ta thấy Huyền hiện về đội mũ đỏ, y phục đỏ, cầm cung đỏ, lấy mũi tên đỏ bắn. Đao phủ la lớn: “Hàm Huyền giết tôi!”. Không bao lâu, đao phủ qua đời.
19.9.2. Nước Sở, Hùng Cừ: Một đêm nọ, Hùng Cừ đi tuần, gặp một khối đá nằm ngang, tưởng là cọp rình mồi, liền giương cung bắn, mũi tên trúng đích, lút sâu đến đuôi, bước đến nhìn mới biết là tảng đá, lại giương cung bắn một phát nữa thì mũi tên văng ra, tảng đá không có dấu vết gì.
Đời Hán có Lý Quảng làm Thái thú ở Tả Bắc Bình, bắn cọp mà trúng nhầm đá, cũng giống như vậy. Lưu Hướng nói: “Lòng chí thành tột cùng thì vàng đá cũng khai mở, huống gì con người!”.
19.9.3. Nước Sở, vợ chồng Can Tương, Mạc Da. Vua Sở ban lịnh cho ông đúc hai thanh kiếm thư và hùng, nhưng ông đúc đến ba năm mới xong. Vua giận, nên muôn giết ông. Lúc ấy, vợ ông mang thai sắp đến ngày sinh, ông dặn dò:
- Tôi đúc kiếm cho vua, ba năm mới xong, vua tức giận, nên lúc dâng kiếm nhất định giết tôi. Nếu nàng sinh con trai thì nói với nó: “'Con ra khỏi nhà nhìn về ngọn núi phía nam, thấy cây tùng mọc trên đá, cha con giấu cây kiếm phía sau”.
Sau đó, ông dâng thanh thư kiếm lên vua Sở. Vua Sở vô cùng tức giận, sai người xem. Người ấy nói: “Kiếm này có hai thanh là thư và hùng, nay thư đã đến mà sao hùng không đến?”. Vua nổi giận giết ông ta.
Con của Mạc Da tên là Xích. Khi trưởng thành, Xích hỏi mẹ:
- Cha con đâu?
- Cha con đúc kiếm cho vua Sở, nhưng ba năm mới xong. Vua tức giận nên giết. Trước đó, cha con có dặn mẹ nói với con: “Con ra khỏi nhà, nhìn về ngọn núi phía nam, thấy cây tùng mọc trên đá, cha con giấu cây kiếm ở đó”. Người mẹ đáp.
Xích ra khỏi nhà, nhìn về hướng nam, nhưng không thấy ngọn núi nào, chỉ thấy trước nhà có cây trụ tùng kê trên tảng đá. Xích lấy búa chẻ ra thì thấy thanh kiếm. Từ đó, ngày đêm Xích luôn tìm cách báo thù.
Một hôm, vua Sở mộng thấy đứa bé, hai lông mày cách xa nhau đến báo thù. Thức giấc, vua liền ban lịnh thưởng một nghìn đồng vàng cho ai lấy đầu đứa bé ấy. Nghe vậy, Xích chạy vào núi, vừa đi vừa ca thật bi ai. Có một người gặp Xích và hỏi:
-Cháu còn nhỏ, vì sao lại than khóc quá bi thưomg như thế!
- Cháu là con của Can Tương và Mạc Da. Vua Sở giết cha, cháu muốn báo thù. Đứa bé đáp.
- Nghe nói vua Sở thưởng một nghìn đồng tiền vàng cho ai lấy đầu của cháu. Ta đem đầu cháu và kiếm đến dâng vua Sở, nhân cơ hội báo thù cho cháu.
- Tốt lắm!
Thế là Xích tự cắt đầu, hai tay dâng thủ cấp và thanh kiếm cho người ấy, rồi đứng mà chết. Người ấy nói: “Ta nhất định không phụ lòng cháu”.
Bấy giờ, thi thể Xích mới chịu ngã xuống. Thích khách đem thủ cấp đến diện kiến vua Sở. Vua Sở vô cùng vui mừng.
Thích khách tâu:
- Đây chính là cái đầu của dũng sĩ, phải đem nấu trong vạc sôi.
Vua nghe theo. Trải qua ba ngày, ba đêm mà đầu cũng không tan, cứ vọt lên mặt nước sôi, với cặp mắt trợn trừng, tỏ vẻ vô cùng tức giận. Thích khách tâu:
- Đầu của thằng bé chẳng tan. Xin bệ hạ đến xem thì nhất định đầu sẽ tan!
Vua bước đến, thích khách rút kiếm chém, đầu vua rơi vào vạc nước sôi. Thích khách cũng tự cắt đầu mình cho rơi vào vạc. Thế là cả ba cái đầu đều tan rã, không phân biệt được của ai. Mọi người phân nước thịt làm ba phần đem an táng, lập mộ gọi chung là Tam Vương. Mộ này nằm ở ranh giới huyện Nghi Xuân, phủ Nhữ Nam.
19.9.4. Đời Tống, vợ đại phu Hàn Bằng: Đại phu Hàn Bằng cưới được người vợ rất đẹp, nhưng bị Khương vương cướp lấy; ông oán hận thì bị vương bắt làm thành đán12.
Một ngày nọ, vợ lén sai người đưa thư cho ông, trong đó có lời giao ước: “Mưa rơi dầm dề, nước sông ngập sâu, mặt trời đúng ngọ”.
Sau đó, vua bắt được lá thư này và đưa cho cận thần xem, nhưng chẳng ai hiểu gì cả. Có một quan cận thần giải thích: “Mưa rơi dầm dề tức là mùa thu suy nghĩ.

Phần 6

Nước sông ngập sâu tức là không được qua lại. Mặt trời đúng ngọ tức là có ý muốn chết”.
Không lâu sau, ông tự vẫn. Người vợ âm thầm làm mục áo mình. Một hôm, khi lên đài cao với vua, bà nhảy xuống đài; cận thần vội chộp lại, nhưng không nắm được áo. Thế là bà rơi xuống đất chết. Mọi người thấy di thư trong thắt lưng ghi: “Vua thích người sống, thiếp thích người chết. Xin bệ hạ ban cho chôn chung với Bằng!”.
Vua tức giận, không nghe, sai người trong làng đắp hai mộ hướng vào nhau, ra nói: “Vợ chồng các ngươi yêu nhau mãi mãi. Nếu hai mộ này hợp lại thì trẫm cho phép”.
Trải qua một đêm, có cây giao tử13 mọc lên ở hai đầu mộ. Mười ngày sau, cây này đã cao lớn phủ hai ngôi mộ. Thế là ngưởi ta đào hai ngôi mộ hợp táng thành một. Cây ấy rễ đan dưới đất, nhánh xen ở trên; lại có một cặp chim uyên ương thường đậu trên cây này từ sáng đến tối. Chúng kề nhau, kêu lên những tiếng bi thương, cảm động lòng người. Người Tống thương xót đặt tên cho cây này là cây Tương Tư. Ngày nay ở Lạc Dương có thành Hàn Băng và câu ca dao về chuyện này, đến nay vẫn còn lưu truyền.
19.9.5. Đời Tống, cư sĩ Phục Vạn Thọ: Ông là người Bình Xương. Vào niên hiệu Nguyên Gia mười chín (439), ông làm Vệ phủ hành Tham quân ở Quảng Lăng. Một hôm, xong công việc, ông trở về phủ, đến canh bốn mới qua sông. Mặt nước đang êm ả, nhưng khi đến giữa sông, bỗng gió thổi mạnh, trời tối đen, chẳng biết phương hướng. Trước đây, ông rất tôn kính Phật pháp, nên bây giờ chỉ biết chí tâm liên tục niệm danh hiệu bồ-tát Quan Thế Âm.
Trong chốc lát, vài người trên thuyền thấy bờ phía bắc có ánh sáng giống như lửa làng. Mọi người vui mừng nói: “Đây nhất định là ngọn lửa của Âu Dương”. Họ liền quay thuyền về hướng bắc, chưa hết buổi sáng đã cập bờ. Bước lên bờ, mọi người hỏi dân làng, họ nói: “Tối qua ở đây không có nhóm lửa”.
Mọi người mới hiểu đó là nhờ thần lực của Đức Phật, họ bèn thiết trai cúng dường.
19.9.6. Đời Tống, cư sĩ cố Mại: Ông ở quận Ngô, rất kính tin Phật pháp. Ông làm Vệ phủ hành Tham quân. Vào niên hiệu Nguyên Gia mười chín (439), từ kinh đô ông trở về Quảng Lăng. Ông khởi hành từ thành Đầu Thạch, ngược dòng lên phương bắc, đến cửa sông rồi, mà gió vẫn không dừng, nhưng người chèo thuyền vẫn nhổ neo. Khi ra sông, sóng nổi mạnh, lại không có thuyền nào khác. Mọi người lo sợ, không biết tính sao. Lúc ấy, ông tụng kinh Quán Thế Ấm; được khoảng mười bộ thì gió lặng dần, sóng cũng nhẹ bớt. Khi đến giữa dòng thì mọi người ngửi thấy mùi hương kì lạ tỏa ngát rất lâu. Ông rất vui mừng, tiếp tục tụng kinh. Cuối cùng, mọi người được vào bờ an ổn.
19.9.7. Đời Tống, sa-môn Tuệ Hòa: Sư ở chùa Chúng Tạo, kinh đô. Khi nạn Nghĩa Gia đời Tống phát khởi, sư vẫn còn là người thế tục, làm đàn em của Lệ Lưu Hồ. Hồ từng chỉ huy vài chục quân, trong đó có sư, đến dò la tin tức phía đông. Đến Thước Chữ, gặp quân lính triều đình đang tiến lên phía tây, quân của Hồ chạy vào đồng hoang tránh nạn, sư cũng lẩn trốn. Khi đến Tân Lâm, gặp một ông già quê, mặc y phục thô xấu, sư đổi y phục cho ông già và gánh thóc giống như người làm ruộng. Bọn lính đang truy bắt gián điệp, khi thấy sư, chúng nghi ngờ và hỏi. Sư trả lời lộn xộn, nên bị chúng giữ lại tra khảo và ra lịnh lập tức mang đi. Sư liền bỏ chạy, nhưng không thoát. Lúc ấy, sư nhất tâm tụng kinh Quan Thế Ầm. Lúc sắp bi chém, sư càng thành tâm hơm. Khi bọn lính vung đao thì bị trượt ngã. Ba lần chém, ba lần đao gãy. Chúng kinh sợ và tha sư. Sau đó, sư xuất gia và trở thành vị sa-môn tinh tấn.
19.9.8. Đời Tống, cư sĩ Hàn Huy: Chẳng rõ ông người ở đâu, chỉ biết sống ở Chi Giang. Chú ông là Ấu Tông, làm Trung binh phủ Tương châu vào cuối đời Tống. Đến niên hiệu Thăng Minh thứ nhất (477), thứ sử Kinh châu là Thẩm Du Chi đem quân chinh phạt phía đông, trưởng sử phủ Tưomg châu là Dữu Bội Ngọc tụ tập binh lính để cố thủ, nhưng chưa biết trấn giữ nơi nào; vì nghi Ấu Tông hai lòng nên giết chết và tru lục cả vợ con. Hàn Huy là cháu của Tông, nên cũng bị bắt giam vào ngục ở quận. Bấy giờ, toàn thân ông bị gông cùm, xiềng xích. Quan ngục định tra khảo, bắt giết hết thân tộc. Ông hoảng sợ, không biết tính sao, chỉ biết đợi ngày xử trảm mà thôi.
Trước đây, ông tin kính đạo Phật, thường tụng kinh Quan Thế Ầm. Nay ở trong ngục, ông tụng kinh cả ngày đêm đến vài trăm biến. Một hôm, trời vừa sáng thì cái khóa bỗng phát ra tiếng giống như tiếng pháo nổ; nhìn lại thì thấy khóa đã mở. Ông sợ caì ngục nhìn thấy, cho rằng mình tự ý mở khóa đề vượt ngục, nên báo cho họ biết. Cai ngục kinh ngạc, nhưng rồi cũng đóng những lá sắt lại như cũ. Ông tiếp tục tụng kinh.
Ngày hôm sau, khóa lại phát ra tiếng nổ và tự mở giống như hôm trước. Cai ngục kể việc này cho Trưởng sử Bội Ngọc. Ngọc cầm lấy cái khóa xem kĩ, kính phục sự cảm ứng này, liền thả ông ra. Sau đó, ông càng siêng năng tụng kinh và niệm danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm.
19.9.9. Đời Tống, cư sĩ Bành Tử Kiều: Ông người huyện ích Dương, giữ chức Chủ bạ ở huyện nhà, phụng sự thái tử Thẩm Văn Long.
Đến niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (479), ông phạm tội, nên bị giam. Thưở nhỏ, ông đã từng xuất gia, bây giờ, tuy đã hoàn tục, nhưng vẫn thường tụng kinh Quan Thế Âm. Lúc ấy, thái tử Thẩm Văn Long vô cùng phẫn nộ, sai người giam ông vào ngục quyết giết chết. Ông lo sợ, không còn cách nào, chỉ biết chí thành tụng kinh, hơn trăm bộ. Tuy mệt nhưng ông vẫn thức đêm. Trong phòng giam này có khoảng mười tù nhân, họ đều ngủ say, trong đó có huyện lại Đỗ Đạo Vinh ở Tương Tây.
Một đêm nọ, Đạo Vinh nửa tỉnh nửa mê, bỗng thấy có cặp hạc trắng đậu trên tấm bình phong gần Bành Tử Kiều rồi bay đến bên cạnh Bành Tử. Đạo Vinh lại thấy một người dung mạo rất đẹp. Thế là Đạo Vinh liền đứng dậy, thì thấy hai cái cùm đã nằm bên ngoài chân Tử Kiều, vết thương do cùm gây ra vẫn còn nguyên, Đạo Vinh vô cùng kinh ngạc. Vừa lúc ấy thì Tử Kiều cũng thức. Đạo Vinh hỏi ông có nằm mộng không. Ông đáp: “Tôi không mộng!”. Đạo Vinh kể lại sự việc vừa rồi. Tuy ông biết hết, nhưng nghĩ cai ngục sẽ nghi mình muốn làm phản nên mới mở gông cùm, dấu tháo gông vẫn còn rõ ràng. Vì thế, ông lấy gông cùm khóa tay chân và cổ lại. Bốn năm ngày sau, ông mới được tha. Anh bà con của Diễm là Liễn, cũng là bạn thân của ông và Đạo Vinh nghe hai người kể lại sự việc cũng giống như thế.
19.9.10. Nước Triệu, sa-môn Đan Hoặc: Sư tự là Đạo Khai, chẳng rõ người xứ nào. Biệt truyện ghi: “Sư là người Đôn Hoàng, họ Mạnh, xuất gia thuở nhỏ. Vì muốn sống một mình trong hang núi sâu, nên trước tiên sư không ăn cơm. Ba năm đầu, sư chỉ ăn bánh mì. Sau đó, hơn ba mươi năm sư ăn nhựa thông đã tinh luyện. Cuối cùng đến bữa, sư chỉ nuốt một viên đá nhỏ. Sư bỏ rượu thịt, trái cây. Vì sợ phong hàn nên sư chỉ ăn tiêu và gừng; do đó sức khỏe suy yếu, nhưng sắc diện vẫn hồng hào, đi đứng nhẹ nhàng. Thần núi vài lần đến thử, nhưng sư chẳng hề dao động. Các vị tiên cũng thường đến thử, nhưng cũng không được kết quả gì. Mỗi

Phần 7

khi ăn nhầm tỏi, sư nhả ra. Ngày đêm, sư luôn tĩnh tọa không ngủ, lâu ngày, tâm ý càng thêm kiên cố”.
Vào niên hiệu Kiến Võ thứ hai (335), Thạch Hổ đón sư từ Tây Bình đến đất Nghiệp. Mỗi ngày, sư đi bảy trăm dặm. Khi qua Nam An, sư hóa độ một đồng tử mười ba mười bôn tuổi xuất gia làm sa-di. Sa-di này cũng đi nhanh kịp sư. Đến Nghiệp đô, sư trụ ở chùa Chiếu Đức, mặc y phục thô rách, không đủ che thân. Trong phòng, sư làm một gác bằng trúc cao tám, chín thước, đan cỏ làm màn che. Sư ngồi thiền trong đó, bảy năm không dùng ngũ cốc, thường dùng thuốc như nhựa thông, phục linh. Sư giỏi trị bịnh mắt, thường đi khắp nơi hoang vắng, trị bịnh cho bách tính. Vua quan xa gần cúng dường rất nhiều thứ, nhưng vừa nhận xong là sư ban phát hết, không để lại gì cho mình. Cuối đời Thạch Hổ, sư biết trước sắp có loạn, nên cùng đệ tử xuống phương nam đến Hứa Xương.
Niên hiệu Thăng Bình thứ ba (359), sư đến Kiến Nghiệp, rồi đến Phiên Ngung và dừng chân ở núi La Phù, vui sống nơi núi rừng hoang vắng.
Vào tháng bảy năm đó, sư thị tịch. Đệ tử vâng theo lời di chúc, chuyển thi thể sư vào rừng. Đến niên hiệu Hưng Ninh thứ nhất (363), Viên Ngạn Bá ở quận Trần làm thái thú ở Nam Hải cùng với người em là Dĩnh lên núi này dạo chơi. Thấy thi thể sư, họ tôn kính đốt hương đỉnh lễ.
19.9.11. Đời Đường, cư sĩ Đỗng Hùng: Ông người Hà Đông, khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649), đời Đường làm Đại lí tự thừa14. Thưở nhỏ, ông tin kính Phật pháp, ăn chay đã mười năm.
Niên hiệu Trinh Quán thứ mười bốn (640), vì việc Lí tiên đồng nên vua nổi giận, sai thị ngự Vi Tông cấp bách đến thẩm vấn; nhân đó bắt giam vài mươi người, trong đó có ông, Đại lí tự thừa Lý Kính Huyền và Tư trực Vương Hân.
Ở trong ngục, ông chuyên tâm và tụng kinh Phổ môn và niệm Quan Âm, mỗi ngày ba nghìn biến. Vào đêm nọ, trong lúc ngồi tụng kinh, bỗng nhiên cái khóa tự mở và rơi xuống đất. Ông kinh ngạc, nói với Hân và Huyền, cả hai đều thấy cái khóa đang nằm trên đất mà cái vòng khóa cách xa mấy thước. Họ báo cho cai ngục biết, đêm đó giám sát ngự sử Trương Thủ Nhất trực, sai người mở khóa, đốt đuốc thì thấy khóa không mở mà rơi, nên rất kinh ngạc. Sau đó họ khóa lại, lấy giấy niêm phong rồi bỏ đi. Như thường lệ, ông vẫn tụng kinh, đến canh năm, khóa lại tự mở và rơi xuông đất phát ra tiếng. Ông lại nói với Hân, Huyền, v.v... Sáng hôm sau, Huyền nhìn lại thì thấy dấu niêm phong vẫn còn, nhưng khóa lại mở.
Trước đây, Kính Huyền chẳng tin Phật pháp. Vợ ông ta tụng kinh, ông thường nói: “Bà bị thần người Hồ mê hoặc, nên mới tụng kinh này sao?”. Đến khi gặp việc này, Huyền mới thấy tội bất tín Phật khi xưa và mới biết Phật là bậc Đại Thánh.
Bấy giờ, Hân cũng niệm danh hiệu tám vị bồ-tát đủ ba vạn biến. Vào một buổi tối, khóa tự mở và rơi xuống đất giống như trường hợp của Hùng. Việc này mọi người ở trong lẫn ngoài kinh đô đều nghe thấy, không bao lâu, họ được tha.
19.9.12. Đời Đường, sa-môn Đạo Tích: Sư họ Tương Lý, người huyện An Ắp, Hà Đông, tên là Tử Tài, ở chùa Phổ Cứu, Bồ châu. Tổ tiên sư là đại phu Tử Sản nước Trịnh. Thưở xưa, khi Tử Sản chào đời, tay nắm chặt; khi mở ra thì thấy nổi hai chữ Tương Lí trong lòng bàn tay và sau đó đặt hai chữ này làm họ.
Cha của sư tên Tuyên, là người rộng lượng, có chí lớn. Sư hiếu học, hiểu biết rộng và rất hiếu kính cha mẹ, lúc nhỏ đã đọc nhiều sách vở, thần khí trong sáng, thông suốt kinh luận Đại thừa lẫn Tiểu thừa, là bậc thầy của tăng tục, lại giáo hóa cùng khắp, lập tông dạy dỗ, xa gần đều qui hướng.
Sư tránh những việc gây phiền não, thận trọng với điều dễ sinh hiềm nghi. Ni chúng đến qui y, sư hoàn toàn chẳng nhận và thường nói với đại chúng:
- Người nữ làm cho giới pháp ô nhiễm. Trong kinh thường ghi: “Đức Phật độ họ xuất gia nên thời gian chính pháp bị tổn giảm”. Nghe tên mà tâm còn nhiễm ô, huống gì đối diện! Hơn nữa, đạo quí tại chỗ thanh tịnh, rõ ràng, không hỗn tạp, sai lầm. Thế gian trọng việc tránh xa mối hiềm nghi, đó là điều quân tử phải hành trì. Tuy ta chẳng bằng, nhưng cũng xin noi theo phép tắc này. Do đó, khi truyền giới, dạy bảo, không cho người nữ đăng đàn; lúc tham vấn, thưa hỏi cũng chẳng cho họ vào thất”. Như thế, sư rất cương trực, đoan chính, trong sáng, kiên trinh, ý chí cao xa. Những bậc tài trí ở Hà Đông chẳng thể sánh bằng.
Trước đây, vào đầu nhà Tùy, sa-môn Bảo Trừng có đắp tượng Di-lặc cao trăm thước ở chùa Phổ Cứu-công trình mới được một phần vạn mà Trừng đa sớm thị tịch. Những người già trong làng mới thỉnh sư tiếp tục công trình. Sư thầm nghĩ: “Tượng chưa hoàn thành, nay phải khuyến hóa những người giàu sang, cao quí tu tạo”. Thế là công trình này phải trải qua mười năm xây dựng và chạm trổ trang trí mới xong. Bấy giờ, đạo tục vui mừng vì có chỗ nương tựa.
Ngay đêm nhận lời, sư mộng thấy bên sườn núi có hai con sư tử đứng cạnh tượng Di-lặc, liên tục nhả những viên minh châu. Tỉnh giấc, sư thầm nghĩ: “Chúa tể loài thú tự tại đến đây là điềm Phật pháp lưu truyền không bị trở ngại. Bảo châu tự tuôn ra là dụ cho tài thí chẳng cùng tận. Vận tốt đã mở, đây là điềm nhất định thành công”. Thế là sư liền bảo thợ đắp tượng sư tử mà mình mộng thấy ở trước tượng Di-lặc, nay tượng này vẫn còn.
Ngôi chùa Phổ Cứu nằm ở sườn núi, phía nam của Bồ châu, cao vút rất đẹp và hùng vĩ. Phía đông giáp làng mạc; phía nam nhìn ra sông núi. Tượng Phật Di-lặc có ba tầng, hành lang cao vút bao quanh; trên là phòng tăng, dưới là các viện rực rỡ nối nhau; vườn, đá, ruộng, rau vây quanh cao thấp. Có thể nói từ nhỏ mà thành lớn đều nhờ công của sư. Từ không mà thành có đều là sức của sư. Nhưng sư vẫn mặc áo vải thô, ăn uống đạm bạc, xem thường tiền của, quí trọng sinh mạng, luôn cứu giúp, chăm sóc mọi người. Sau sư lui về ở ẩn, sống cảnh thanh nhàn; làm mà không cậy công, ý chí cao thượng, không giao tiếp người đời. Đức hạnh của sư cao vời, không ban ra lịnh mà đại chúng vẫn tự nghiêm; không giao tiếp mà mọi người vẫn tự đến. Bộc xạ Bùi Huyền Tịch được ân sủng làm đến chức Tể tướng, kính phục danh tiếng của sư nên thường ban tặng hương thơm, y phục. Thứ sử Đỗ Sở Dung biết phẩm hạnh và tài năng của sư, nên đến cầu pháp. Năng lực của sư cảm đến mọi người đều giống như thế.
Vào cuối đời Tùy, đất nước loạn lạc, triều đình thối nát, Thông thủ Nghiêu Quân Tố ở Hà Đông trấn thủ Hoang thành, để quân lính tự do làm nhiều điều bạo ngược, đến nỗi mọi người không dám nhìn trộm. Chúng bàn muốn đưa các sa-môn lên thành chống giữ, ai dám can gián thì bị trảm. Đạo tục đều lo buồn, không thể kháng cự. Sư phẫn hận than thở, chẳng màng đến bản thân, nói với những người thân: “Thời thì có thịnh suy, còn pháp thì không thịnh suy. Trời chưa mất, luật pháp vẫn còn! Lại nữa, sa-môn là người xuất thế, đức hạnh vượt thế gian, đâu thể cầm binh khí, mang giáp làm lính chống giữ quân địch!”.
Sư liền dẫn sa-môn Đạo Huyền, Thần Tố, v.v... đến trước Quân Tố, nghiêm mặt can gián:

Phần 8

- Bần đạo có nghe: “Người không sợ chết thì không thể đem cái chết làm cho họ sợ”. Nay ta xem chết cũng như sống, chỉ sợ không được chết! Chết mà có ích thì có thể cam tâm. Xét kĩ, thành còn hay mất là do mưu lược của ngài, thế cuộc thịnh hay suy cũng do vận số của ngài. Há chỉ năm ba người yếu đuối mà có thể cứu được sao? Ngày xưa, nhà Hán kính phục Tứ Hạo mà thiên hạ hưng thịnh, thái bình; nhà Ngụy kính trọng Can Mộc mà cả nước an định. Ngày nay, muốn bắt ép chư tăng vào quân để phục dịch, thật là ngược lẽ trời, lại không hợp thần minh, e rằng sẽ nhận những điềm không may. Bần đạo cả gan bày tỏ tấm lòng của mình, xin ngài suy nghĩ kĩ, không nên tùy tiện, e rằng một khi sụp đổ, mai sau bị thiên hạ chê cười. Bần đạo chỉ theo lời nói của Thánh nhân, hành đạo lễ tụng, vì đất nước mà tu tập phúc thiện, âm thầm làm lợi ích cho bá tính, quỉ thần giúp đỡ, há có thể lấy đầu của bần tăng sao? Nhưng cho đầu cũng chính là bổn nguyện. Nếu ngài nhất định tàn hại sinh mạng, bức ngặt tăng sĩ sung quân thì chẳng biết ngài sống ra sao, chết ra sao nữa!”.
Khi sư nói những lời này, những người bên cạnh đều run sợ. Khi nghe can gián, Thông thủ Nghiêu Quân Tố rất trọng lời nói khí phách của sư, chỉ biết trợn mắt nhìn thẳng và nói: “Thật lạ thay, người này! Sao lại có chí khí hùng tráng như thế!”.
chết cũng như sống, chỉ sợ không được chết! Chết mà có ích thì có thể cam tâm. Xét kĩ, thành còn hay mất là do mưu lược của ngài, thế cuộc thịnh hay suy cũng do vận số của ngài. Há chỉ năm ba người yếu đuối mà có thể cứu được sao? Ngày xưa, nhà Hán kính phục Tứ Hạo mà thiên hạ hưng thịnh, thái bình; nhà Ngụy kính trọng Can Mộc mà cả nước an định. Ngày nay, muốn bắt ép chư tăng vào quân để phục dịch, thật là ngược lẽ trời, lại không hợp thần minh, e rằng sẽ nhận những điềm không may. Bần đạo cả gan bày tỏ tấm lòng của mình, xin ngài suy nghĩ kĩ, không nên tùy tiện, e rằng một khi sụp đổ, mai sau bị thiên hạ chê cười. Bần đạo chỉ theo lời nói của Thánh nhân, hành đạo lễ tụng, vì đất nước mà tu tập phúc thiện, âm thầm làm lợi ích cho bá tính, quỉ thần giúp đỡ, há có thể lấy đầu của bần tăng sao? Nhưng cho đầu cũng chính là bổn nguyện. Nếu ngài nhất định tàn hại sinh mạng, bức ngặt tăng sĩ sung quân thì chẳng biết ngài sống ra sao, chết ra sao nữa!”.
Khi sư nói những lời này, những người bên cạnh đều run sợ. Khi nghe can gián, Thông thủ Nghiêu Quân Tố rất trọng lời nói khí phách của sư, chỉ biết trợn mắt nhìn thẳng và nói: “Thật lạ thay, người này! Sao lại có chí khí hùng tráng như thế!”.
Nhân đó Tố không hỏi tội và thả sư về chùa. Sau đó, Tố hiểu sự việc, đến sư sám hối. Nghiêu Quân Tố giết người bừa bãi, chạy theo tâm ác, lại xem thường, lấn hiếp mọi người; tuy lúc đó được chút an ổn, nhưng đã tạo ra mầm họa. Cuối cùng, Tố bị người trong thành là Tiết Tông sát hại.
Khi xưa tính sư cang cường dũng mãnh, khi ý đã quyết thì chẳng thoái lui, lúc sân hận thì xâm hại người khác. Sau khi xuất gia, sư quở trách tội mình, chặt đứt tâm xưa, tăng trưởng hòa nhẫn. Đến năm sáu mươi tuổi, phẩm hạnh sư càng cao. Thật đúng với câu: “Tập dữ tinh thành”.
Đến ngày mười bảy tháng chín niên hiệu Trinh Quán thứ mười (636), sư thị tịch tại chùa cũ, thọ sáu mươi chín tuổi.
Ban đầu, sư nói mình bị bịnh không thể chữa, tự biết sắp ra đi, mới bảo đệ tử:
- Nay ta đã bảy mươi lăm tuổi, sẽ ra đi năm nay!
- Năm nay thầy mới sáu mươi chín tuổi, sao lại nói lời từ biệt? Đệ tử thưa.
- Sinh tử là lẽ tự nhiên, ta chẳng sợ. Vả lại ta gần bảy mươi. Ngày xưa, khi khai tên họ ở chùa kia, thứ sử đã tăng ta thêm sáu tuổi. Nay là đúng lúc rồi! Vì thế, mạng sống chỉ trong sớm tối, các ông nên nỗ lực cầu đạo, hẵy nhìn việc làm của ta. Các ông không nghe kinh dạy sao? Thế gian mong manh, không bền chắc!
Sau ba ngày, sư thị tịch, bấy giờ chuông đánh không kêu. Thi thể vẫn như lúc còn sống. Mọi người buồn than, kính mộ, thương tiếc một người hiếm thấy trên đời.
19.9.13. Đời Đường, sa-môn Pháp Thành ở chùa Ngộ Chân, núi Chung Nam: Sư họ Phàn, người Vạn Niên, Ung châu, thuở nhỏ xuất gia tại chùa Vương Hiệu, Lam Điền, thờ sa-môn Tăng Hòa làm thầy. Ngài Tăng Hòa cũng được người trong làng tôn kính như bậc thánh. Một đêm, có người đến muốn sát hại sư, nhìn vào phòng thấy có ngọn lửa bốc mạnh lên đến màn, hắn hối hận trở về.
Tính sư thích trong sạch, không ô nhiễm. Có người đùa nghịch, trộm lấy xương dê bỏ vào nước. Sư không hề biết, uống vào liền nôn ra. Tiềm thức nơi sư thầm cảm nhận được như thế. Sư hết lòng giáo hóa, khuyên bảo mọi người, đồng thời hằng ngày tụng kinh Pháp hoa và lấy đó làm thường khóa.
Sư chuyển tâm hành trì Pháp Hoa tam-muội, gội rửa thân tâm, sáng chiều tu tập, lễ bái. Một hôm, mộng thấy bồ-tát Phổ Hiền khuyên sư biên chép kinh Đại giáo. Sư thưa: “Đại giáo là Đại thừa, đó chính là trí tuệ Phật, là đại trí bát-nhã”.
Thế là sư vào tĩnh thất hành đạo, thuê người viết chữ đẹp biên chép tám bộ kinh Bát-nhã, thù lao trọng hậu. Không lâu, hương đài bảo trục trang nghiêm cũng thành tựu. Sư lập Hoa Nghiêm đường trên Hoành Lĩnh, phía nam của chùa. Những kiến trúc được xây dựng khắp hang cùng núi, phía trước là núi non chập chùng; bên phải là hang động sâu thẳm, tuôn nhả khói mây, nhìn xuống rất hùng vĩ. Thật là một kì quan!
Sư dốc sức chí thành biên chép, thụ trì kinh điển. Bấy giờ có học sĩ tài giỏi tên Trương Hiếu Tĩnh, cha của Trương Toàn, là người viết chữ đẹp nổi tiếng, ít ai sánh bằng. Sư mời học sĩ lên núi, truyền trao giới pháp, dạy trì trai, tắm gội sạch sẽ, ngậm nước hương, thay y phục mới. Nhưng Hiếu Tĩnh đi xa để chép kinh, không chịu tiền công một trang năm mươi đồng. Sư bèn trả thù lao gấp bội và bảo viết thật đẹp. Tĩnh được lợi nhiều, nên dốc sức biên chép. Cuối cùng bộ kinh cũng xong.
Sư đặt kinh lên bàn và thường đốt hương cúng dường. Lúc chấm câu, sư chú tâm xem kĩ không sót một chữ. Sư chuyên tâm cứu xét như thế.
Bấy giờ, cảm được chim lạ, hình dáng và màu sắc hiếm thấy bay vào điện đường, lượn quanh nhiều vòng, rồi đáp xuống bàn kinh, lại bay đậu trên lò hương, im lặng đứng nhìn. Sau đó, chim đến gần sư, hồi lâu mới bay đi.
Năm sau, lại có điềm lành, chim bay đến, luợn vòng như trước và kêu những tiếng bi thương.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), sư thuê thợ vẽ một nghìn Đức Phật, chim lại bay đến đậu trên lưng người thợ. Sau đó, sư thiết trai cúng dường ngày hoàn tất. Đúng giờ ngọ, nhưng chim không đến. Sư nhìn lên đỉnh núi và nói: “Chim không đến là do ta chẳng thành cảm. Lẽ nào chê có tạp uế, cúng dường sơ sài, nên không

Phần 9

ứng hiện điềm lành”. Nói xong, bỗng nhiên chim bay đến lượn chung quanh, phát ra âm thanh trầm bổng, đậu vào nồi nước thơm, vỗ đôi cánh, tắm mát, rồi bay đi.
Những điềm lành về sư rất nhiều, khó kể hết. Sư vốn viết chữ đẹp, người trong làng đều biết. Sư cũng viết lời kinh kệ với ngôn từ hay đẹp trên vách núi, đường hiểm để mọi người đọc tụng.
Có lần, sư chép kinh Pháp hoa nơi đất trống. Do công việc, sư đi nơi khác, chưa kịp dọn cất, thì trời bỗng mưa như trút nước, khe suối dâng tràn chảy xiết. Sư vội chạy về thì thấy tất cả kinh sách trên bàn đều khô, còn những vật khác bị nước cuốn mất. Có lần, sư bước trên cây tùng ngã vắt ngang suối, bị trượt chân rơi xuống hố sâu, nhưng nửa chừng bỗng nhiên được nâng cao và đưa lên bờ, không mảy may tổn thương, mới biết thật là nhờ năng lực kinh điển.
Bên cạnh phường Thanh Ni, có một cái khám thờ cổ Phật, do họ Chu chôn giấu, nay vẫn chưa lấy lên được. Một đêm, sư mộng thấy trong khám này có tượng Phật. Tỉnh giấc, sư đến mở khám ra thì quả thật thấy tượng Phật. Trải qua năm tháng, tượng bị tróc sơn, hư hoại, sư liền tu bổ. Đạo tục ca ngợi là việc kì diệu; đây là do sức thần phù trợ, nên sư mới phát hiện được.
Một ngày hạ, niên hiệu Trinh Quán thứ 14 (640), chợt cảm thấy có bệnh, biết sắp thị tịch, sư bèn phát nguyện sinh lên cõi trời Đâu-suất. Sư bảo người đem nước, tắm gội xong, lại sai tu sửa kiệu tang. Sư xem xét, kiểm tra, không cho trang trí lộng lẫy. Quả thật, đến cuối tháng, trời vừa sáng, tự nhiên sư nói: “Ngươi muốn đến thì cứ vào, chẳng cần đàn ca!”. Sư quay lại bảo thị giả:
- Ta nghe nói các hành vô thường, sinh diệt không dừng trụ, nên vãng sinh vào chín phẩm, lời này thật ứng nghiệm. Nay có đồng tử đến đón ta, chờ đã lâu ở bên ngoài, bây giờ ta đi. Các ông ở lại mạnh giỏi, hãy giữ chính giới của Phật, không được thiếu sót, để sau này khỏi hối hận.
Nói xong, miệng sư phóng hào quang, tỏa sáng khắp nhà, lại có mùi hương lạ phảng phất. Sư ngồi ngay thẳng trang nghiêm rồi thị tịch, thọ bảy mươi tám tuổi.
Lúc còn sống, mỗi hạ sư tụng đủ năm trăm biến kinh Pháp hoa. Những ngày khác, sư đọc tụng và kinh hành cũng được hai biến. Nếu có khách đến tiếp chuyện thì sư chi nói với họ những lởi trong kinh điển. Tính ra trong mười năm, sư tụng khoảng một vạn biến.
19.9.14. Đời Đường, ni sư Luyện Hành ở Hà Đông: Vào niên hiệu Vũ Đức (618) đời Đường, ở Hà Đông, tì-kheo-ni hiệu Luyện Hành, tên là Pháp Trí, thường tụng kinh Pháp hoa. Ni sư tìm một người viết chữ thật đẹp, nhờ viết kinh này và trả thù lao rất cao. Đặc biệt, ni sư còn xây một căn phòng trang nghiêm thanh tịnh, bảo người viết kinh này hàng ngày tắm rửa sạch sẽ, đốt hương thơm, xông y phục rồi mới vào phòng. Đồng thời trên vách phòng, ni sư cho đục một cái lỗ, đặt một ống trúc rỗng ruột thông ra bên ngoài, để cho người viết kinh mỗi khi muốn thở ra, liền ngậm ống trúc để đưa khí ra bên ngoài. Trong tám năm, người này mới chép xong trọn bộ bảy quyển. Ni sư hết lòng cung kính tôn thờ bộ kinh này.
Lúc ấy, có vị tăng Pháp Đoan ở Long Môn thường giảng kinh Pháp hoa, thấy bản kinh của ni sư rõ ràng chính xác, nên sai người đến thỉnh. Ni sư cố từ chối, Pháp Đoan giận trách, nên bất đắc dĩ đích thân đem ra. Khi cùng mọi người mở kinh ra đọc, Pháp Đoan chỉ thấy giấy màu vàng, hoàn toàn không có chữ, mở những quyển còn lại, tất cà đều như vậy. Pháp Đoan và mọi người rất hổ thẹn và kinh sợ, liền trả cho ni sư. Ni sư buồn khóc nhận lại kinh, lấy nước thơm rửa hòm đựng kinh, rồi tắm gội sạch sẽ, cung kính đỉnh lễ, nhiễu quanh phật suốt bảy ngày không dừng nghỉ. Sau đó, ni sư mở kinh ra xem, thấy chữ hiện nguyên như cũ
Thế mới biết khi biên chép kinh điển, cần phải chí thành và thanh tịnh. Gần đây việc biên chép kinh điển không có ứng nghiệm là vì không có lòng chí thành

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục