PUCL QUYỂN 26 - CHƯƠNG TÚC MẠNG
09/11/2015
QUYỂN 26 Quyển này có một chương Túc mạng. 18. CHƯƠNG TÚC MẠNG 18.1. LỜI DẪN Hành nghiệp có sai biệt, do con đường túc duyên chẳng phải một; thọ mạng có dài ngắn, bởi lẽ sáng tối thật chẳng thường hằng. Vì nghiệp nhân có...

QUYỂN 26
Quyển này có một chương Túc mạng.
18. CHƯƠNG TÚC MẠNG
Hành nghiệp có sai biệt, do con đường túc duyên chẳng phải một; thọ mạng có dài ngắn, bởi lẽ sáng tối thật chẳng thường hằng. Vì nghiệp nhân có thiện, có ác nên dẫn đến quả báo có tốt, có xấu. Có người nhớ nhiều kiếp, hoặc có người biết nhiều đời; hoặc nhớ được một đời, hoặc chỉ biết hiện tại. Vì thế tâm phàm thánh rất cách xa, nên túc mạng cũng có lâu xa hay ngắn ngủi. Tuy tâm nương thần, cảm thánh mà tập khí vẫn còn; dù đoạn trừ phiền não, thấy đạo mà vọng tâm cũng chẳng mất. Nếu chưa lên địa vị Thập địa, công hạnh chưa trọn ba a-tăng-kì kiếp thì sao có thể đoạn dứt tập nhân, cảm được quả báo thù thắng này.
18.2. DẪN CHỨNG
18.2.1. Cõi trời
Luận Ti-bà-sa ghi: “Ở cõi trời cũng có Sinh xứ đắc trí1 biết tâm người khác, nhưng vì quá vi tế nên ở đây không bàn đến, trong phần quả báo cõi trời ở trên và quả báo súc sinh, ngạ quỉ ở dưới đã nói đầy đủ”.
Luận Ti-bà-sa lại ghi: “Tại sao? Vì chẳng phải điền khí2, lại có trí nhận biết hình tướng và nghe hiểu lời nói thù thắng mà bị ngăn che; đã có tha tâm thông và nguyện trí mà bị che lấp.
Lời bình: Nên nói rằng: “Sinh xứ đắc trí của chúng sinh trong bốn đường, mỗi mỗi có thể biết được năm đường mà cũng không trái lẽ”.
18.2.2. Cõi ngườỉ
Luận Ti-bà-sa ghi:
- Hỏi: Cõi người cũng có bản tính niệm sinh trí biết được tâm người khác, tại sao chẳng nói đến?
Đáp: Việc nên nói mà chẳng nói, vì đã dư thừa; lại vì quá ít nên chẳng nói ra. Nghĩa là ở trong loài người rất ít người được trí này, nên chẳng nói đến.
Theo luận trên, trí này từ nghiệp chẳng não hại người khác mà có. Nếu chúng sinh nào giữ gìn thân, miệng, ý, chẳng làm tổn hại người khác thì khi trong thai nhất định an ổn, không bị nóng lạnh và khí huyết bất tịnh của người mẹ làm khốn khổ; đến khi chào đời cũng chẳng bị sản môn của người mẹ bức ép, khiến tâm tán loạn. Vì thế mà biết rõ, tỉnh thức, nhớ được việc đời trước. Do trái với nghiệp trên, nên tâm tán loạn, không nhớ biết việc đời trước.
Hỏi: Sinh vào cõi trời biết được đường nào?
Đáp: Theo luận Ti-bà-sa thì chúng sinh cõi trời biết năm đường, cõi người biết bốn đường dưới, ngạ quỉ biết ba đường dưới, súc sinh biết hai đường dưới, địa ngục chỉ biết việc ở địa ngục. Do thù thắng hơn, nên cõi trên biết được các cõi dưới. Do thấp kém hơn nên cõi dưới không biết cõi trên.
Hỏi: Nếu do thấp kém hơn, nên cõi dưới không biết cõi trên, tại sao kinh ghi long vương Thiện Trụ, long vương Y-bát-la biết được tâm niệm của Đế Thích hơn tâm loài người?
Đáp: Theo luận Ti-bà-sa thì những việc này đều do có tín hiệu mà đoán biết, chẳng phải thật biết. Như khi Đế Thích muốn giao chiến với a-tu-la thì xương sống của long vương Thiện Trụ tự nhiên phát ra tiếng. Lúc đó long vương liền nghĩ: ‘‘Nay xương sống của ta phát ra tiếng, nhất định biết chư thiên muốn giao chiến với a-tu-la, họ cần đến ta”. Sau đó, long vương đến bên Đế Thích.
Lại như khi Đế Thích muốn du ngoạn thì trên lưng long vương Y-bát-la tự nhiên hiện hương thủ. Long vương thầm nghĩ: “Nay trên lưng ta hiện hương thủ thì nhất định Đế Thích muốn vui chơi ở vườn hoa, nên cần đến ta”, liền hóa thành con voi có ba mươi hai đầu, cộng với đầu chính thành ba mươi ba. Trên mỗi đầu đều có sáu ngà, trên mỗi ngà có bảy ao báu, trong mỗi ao có bảy hoa sen, mỗi hoa sen có bảy cánh, mỗi cánh có bảy đài báu, mỗi đài có bảy màn trướng báu, trong mỗi màn trướng báu có bảy thiên nữ, mỗi thiên nữ có bảy người hầu, mỗi người hầu có bảy kĩ nữ trỗi nhạc trời.
Sau đó trong chớp mắt, long vương đến trước điện Đế Thích. Đế Thích cùng quyến thuộc bay lên ngự lên đầu chính của long vương. Ba mươi hai quan cận thần cùng quyến thuộc bay lên ngồi trên ba mươi hai đầu còn lại. Long vương bay vút lên; trong chốc lát đến nơi vui chơi.
Lấy việc này để nghiệm biết thì đây là nhờ dự đoán mà biết được, chẳng phải thật biết. Việc này minh chứng cho việc cõi trên biết các cõi dưới mà cõi dưới chẳng biết cõi trên.
Hỏi: Nhưng lí này cũng chưa cùng tận; như con sói biết tâm người nữ, nó giết đứa trẻ rồi bỏ đi. Việc này tức là cõi dưới cũng biết cõi trên. Vậy thì sao nói cõi dưới chẳng biết cõi trên?
Đáp: Đó là căn cứ vào số nhiều mà nói cõi trên biết cõi dưới mà cõi dưới chẳng biết cõi trên, chứ nếu truy tìm việc cõi trên và cõi dưới cùng biết nhau thì chẳng thể nêu ra hết.
Luận Tân Bà-sa ghi: ‘Trong thành Vương Xá có một đồ tể tên Già-trá, là bạn thuở nhỏ của vua Vị Sinh Oán.
Có lần đồ tể nói với thái tử:
- Khi lên ngôi, thái tử sẽ cho tôi thỏa nguyện gì?
- Tùy ý bạn. Thái tử đáp.
về sau, Vị Sinh Oán sát hại vua cha, tự lên ngôi. Già-trá theo vua xin. Vua nói:
- Tùy ý ông.
- Xin đại vương cho tôi tự do sát hại người trong thành Vương Xá. Già-trá thưa.
- Nay tại sao ông cầu xin trẫm làm việc ác như vậy. Há chẳng sợ quả khổ về sau chăng?
- Nghiệp thiện ác đều không có quả báo, sao lại sợ?
-Tại sao ông biết?
- Tôi nhớ sáu đời quá khứ, thường làm đồ tể trong thành Vương Xá này. Kiếp cuối cùng tôi sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba, hưởng nhiều khoái lạc, rồi sinh lại làm người ở thành này, thuở nhỏ làm bạn với đại vương. Cho nên tôi biết chắc chắn không có quả báo.
Nghe xong, vua nghi ngờ, liền đến chỗ Phật trình bày sự việc. Phật nói:
- Việc của Già-trá là thật. Thưở quá khứ, đồ tể này đã từng cúng dường bữa ăn cho một vị Độc giác, nhưng phát tà nguyện: ‘Nguyện đem công đức này khiến tôi hành nghề đồ tể ở thành Vương Xá, rồi được sinh lên cõi trời’. Do nghiệp nhân này nên được quả báo đúng như nguyện. Nay nghiệp này và quả báo đã hết, bảy ngày sau nhất định Già-trá mạng chung và đọa vào địa ngục Kêu Gào để chịu quả báo thống khổ của nghiệp đồ tể. Nhờ nghiệp cúng dường trên mà ông ta biết được bảy đời trước.
Lại có thuyết ghi:
- Cao nhất, có thể nhớ được năm trăm đời. Đó là có một bí-sô nhớ năm trăm đời quá khứ bị đọa làm ngạ quỉ, chịu thống khổ đói khát, khắp người tuôn ra những thứ dơ uế, tâm rất lo sợ, khổ não. Khi hết quả báo, sinh làm người, bí-sô này rất tinh tiến tu hành, trải qua nhiều đời chứng quả Dự Lưu.
Lại có một bí-sô nhớ năm trăm đời bị đọa vào địa ngục, chịu nhiều thống khổ, các lỗ chân lông đều rỉ máu, thân và quần áo vô cùng dơ bẩn. Mỗi ngày đến bên sông tắm rửa và giặt đồ. Mọi người nói: “Anh ta tính lấy nước rửa sạch”.
Luận Tát-bà-đa ghi:
- Hỏi: Nguyện trí và túc mạng trí khác nhau như thế nào?
Đáp: Túc mạng trí chỉ biết quá khứ còn nguyện trí biết cả ba đời. Túc mạng trí biết pháp hữu lậu còn nguyện trí biết pháp hữu lậu lẫn vô lậu. Túc mạng trí biết quá khứ của bản thân, nguyện trí biết quá khứ của bản thân lẫn người khác. Túc mạng trí theo thứ tự lần lượt biết từng đời, nguyện trí trong một niệm biết hơn trăm kiếp.
Sở dĩ thuở xa xưa súc sinh nói được, thời nay súc sinh không nói được là vì vào kiếp sơ, thế gian chỉ có trời người mà chưa có ba đường ác. Đến khi có ba đường ác thì tất cả súc sinh đều từ cõi trời, cõi người thụ sinh vào, do thói quen đời trước gần đời này, nên có thể nói được. Thời nay súc sinh phần nhiều từ ba đường ác sinh lại, nên không thể nói.
Luận Ti-bà-sa ghi:
- Trí sinh xứ tự tính có thể biết túc mạng của bản thân và tâm người khác. Trí này chẳng nhờ tu tập, chỉ do tự tính mà biết. Trí này, chúng sinh năm đường đều có, nhưng mạnh yếu khác nhau. Chúng sinh ở ba đường ác và cõi trời thì trí này mạnh, ở cõi người thì rất yếu. Tại sao? Vì cõi người có trí xem tướng đoán lời và trí phát ra từ việc tu tập thiền định cho đến trí biết tâm người khác, trí biết các pháp. Vì bị các trí này che lấp, tuy có trí sinh xứ tự tính, nhưng tác dụng rất yếu, chẳng hiển lộ.
Luận Tân Ti-bà-sa ghi:
- Nói đến hữu tình thì khi thấy chỗ hẹp lại muốn rộng lớn ra để di chuyển dễ dàng, đó là do nghiệp lực khi trong thai mẹ.
Vì không có nỗi khổ bị bức ép nên có trí này. Hoặc có thuyết cho rằng: Nếu hữu tình nào bố thí thức ăn thượng vị, thỉ được trí này. Nếu những hữu tình không gây đau khổ cho người khác, lại mang lợi ích đến cho họ, thì khi ở trong thai mẹ không bị những bịnh: phong nhiệt, đàm âm, v.v... Sau khi chào đời không bị nỗi khổ ép chặt. Vì thế có thể nhớ những việc ở các đời trước. Nếu những hữu tình khi trụ thai và xuất thai mà chẳng bị các khổ bịnh tật bức ép, có thể nhớ những việc ở các đời trước. Nhưng do người mẹ bịnh hoặc bị nỗi khổ bức ngặt thì họ quên tất cả.
18.2.3. Ngạ quỉ
Ngạ quỉ cũng có sinh xứ đắc trí biết tâm người khác. Tại sao? Thưở xưa có một thiếu nữ bị quỉ dựa, nên thân thể gầy yếu sắp chết. Thầy pháp hỏi quỉ:
- Sao ngươi làm hại thiếu nữ này?
- Vào quá khứ xa xưa trong năm trăm đời, cô ta thường giết tôi nên trong năm trăm đời vừa qua tôi cũng giết cô ta. Oán thù chất chồng đến nay chưa dứt. Nếu cô ta buông xả thì tôi cũng buông.
Thầy pháp mới đến nói với thiếu nữ:
- Nếu cô quí tiếc mạng sống thì hãy bỏ tâm oán thù đi!
- Tôi đã bỏ rồi. Thiếu nữ đáp.
Con quỉ quán thấy thiếu nữ này chẳng bỏ tâm oán thù, chỉ vì sợ mất mạng mà nói dối là đã bỏ, quỉ liền giết cô ta rồi bỏ đi.
18.2.4. Súc sinh
Hỏi: Tại sao biết súc sinh có túc mạng trí?
Đáp:
- Luận Tì-bà-sa ghi: “Thuở xưa có một người mẹ, vì công việc nên đặt một đứa bé xuống đất rồi đến chỗ khác. Bấy giờ có một con sói đến mang đứa bé đi. Thấy vậy, người mẹ nói với con sói:
- Này con sói! Tại sao ngươi mang con ta đi?
- Ngươi là kẻ thù của ta, trong năm trăm đời thường ăn thịt con ta. Nay ta muốn trong năm trăm đời sát hại con ngươi. Đây là oán thù tương báo, lẽ đương nhiên như thế, sao lại sân hận? Nếu ngươi bỏ tâm oán thù thì ta sẽ trả con lại cho ngươi. Con sói đáp. - Ta đã bỏ tâm oán thù.
Bấy giờ con sói đứng lên suy nghĩ rồi xét tâm người nữ, mới biết chưa buông bỏ, nên nó nói: ‘Ngươi nói như vậy nhưng trong lòng thì khác’. Dứt lời, nó liền giết đứa bé rồi bỏ đi”.
Đây chính là trí tự biết túc mạng, cũng biết tâm người nữ kia, là bằng chứng xác thật từ loài quỉ đến cõi trời đều biết túc mạng và tâm người khác. Tất cả các kinh luận đều ghi đầy đủ, chẳng cần đề cập thêm; nhưng hai trí này chẳng phải là chủng trí. Bởi hai chủng trí: tha tâm và túc mạng là nhờ thiên định mà có; còn Sinh xứ đắc trí chính là nhờ quả báo mà được và hoạt động trong trạng thái tán tâm, cho nên biết trí này chẳng phải là chủng trí.
18.2.5. Địa ngục
Hỏi: Tại sao chúng sinh trong địa ngục có tự tính túc mạng trí?
Đáp: Kinh Niết-bàn ghi: “Vua Tiên Dự giết năm trăm bà-la-môn nên bị đọa địa ngục. Ở địa ngục, Tiên Dự khởi ba niệm thiện, nên nhớ được việc làm đời trước”.
Luận cũng ghi: “Chúng sinh trong địa ngục cũng có thể biết tâm của ngục tốt”.
18.3. TẬP KHÍ ĐỜI TRƯỚC
Kinh Phật thuyết Sư Tử Nguyệt Phật bản sinh ghi: “Một thời, Đức Phật cùng một nghìn hai trăm năm mươi tì-kheo và một trăm vị bồ-tát nhóm họp tại vườn trúc Ca-lan-đà, thành Vương Xá. Bấy giờ trong chúng có tì-kheo bồ-tát Bà-tu-mật-đa. Sau khi đến vườn Trúc, vị này leo trèo lên cây, miệng phát ra tiếng giống như tiếng khỉ, lại rung ba cái linh làm trò ảo thuật, khiến các trưởng giả và người đi đường kéo đến xem. Thấy mọi người tụ tập, bồ-tát này phóng lên hư không, đứng lên ngọn cây, phát ra tiếng khỉ, khiến tám vạn bốn nghìn con khỉ lông vàng trong núi Kì-xà-quật kéo đến. Bồ-tát lại làm đủ trò biến hóa khiến chúng vui cười. Thấy vậy, mọi người nói:
- Sa-môn Thích tử mà giống như nhà ảo thuật, mê hoặc mọi người; lại cùng với chim thú làm điều không đúng pháp, khiến mọi người mất niềm tin.
Tiếng xấu như thế truyền khắp thành Vương Xá. Có một Phạm chí tâu lên vua Tần-bà-sa-la. Nghe xong, vua chê trách các sa-môn Thích tử, rồi hỏi trưởng giả Ca-lan-đà:
- Các Thích tử này tụ tập bầy khỉ đến vườn của khanh để làm gì? Như Lai biết không?
- Tì-kheo Bà-tu-mật-đa biến hóa nhiều trò, khiến bầy khỉ vui thích, chư thiên tuôn mưa hoa cúng dường, còn để làm gì thì hạ thần không biết.
Thế là vua cùng với tùy tùng đến chỗ Phật. Từ xa thấy toàn thân Thế Tôn như núi vàng tía, phóng ánh sáng rực rỡ khiến chúng hội trở thành màu vàng, tôn giả Bà-tu-mật-đa và tám vạn bốn nghìn con khỉ cũng biến thành màu vàng.
Thấy vua đi ngang qua, bầy khỉ làm đủ các trò, có con hái hoa dâng lên vua. Vua cùng mọi người đến đỉnh lễ Phật và nhiễu bên phải ba vòng, rồi ngồi sang một bên và thưa Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Bầy khỉ này đời trước tạo phúc duyên gì mà nay thân màu vàng. Lại gây tội gì mà nay phải mang thân súc sinh. Tôn giả Bà-tu-mật-đa đời trước nhờ tạo phúc gì mà nay được sinh vào nhà trưởng giả, rồi xuất gia, học đạo; lại gây tội gì mà chẳng giữ giới hạnh, làm bạn với bầy khi này, tiếng ca hát giống như chúng, làm cho ngoại đạo cười chê. Xin Thế Tôn giảng nói để con hiểu rõ!
- Đại vương hãy lắng nghe và suy nghĩ kĩ! Ta sẽ giảng nói cho đại vương rõ! Vào quá khứ vô lượng ức kiếp có Đức Phật Nhiên Đăng ra đời. Sau khi Đức Phật nhập diệt, các tì-kheo vào trong rừng núi vắng vẻ tu tập Phật pháp, giữ gìn giới luật như bảo vệ đôi mắt, nên họ chứng quả A-la-hán. Bấy giờ nơi rừng vắng có một con khỉ đến bên các a-la-hán. Thấy một tì-kheo đang nhập định, nó lấy tấm trải ngồi của vị này giả làm ca-sa đắp lên mình, bày vai phải trông giống như sa-môn, tay cầm lư hưomg nhiễu quanh tì-kheo này. Sau khi xuất định, thấy con khỉ có tâm thiện, tì-kheo khảy móng tay bảo nó:
- Này pháp tử! Nay ngươi hãy phát tâm Vô thượng bồ-đề.
Nghe xong, con khỉ phấn chấn vui mừng, năm vóc gieo xuống đất đỉnh lễ tì-kheo, rồi hái hoa rải lên cúng dường. Tì-kheo liền giảng tam qui cho con khỉ. Con khỉ chắp tay thưa:
- Bạch đại đức! Nay con muốn qui y Phật, pháp, tăng!
Tì-kheo trao tam qui và bảo khỉ sám hối, rồi giảng nói nghiệp tội: “Ta đắc quả A-la-hán có thể giúp chúng sinh diệt trừ vô lượng tội nặng”. Tì-kheo ba lần tha thiết nói như thế để cho khỉ sám hối tội lỗi và tiếp:
- Này pháp tử! Nay ngươi thanh tịnh, nên được goi là bồ-tát. Từ nay đến mạng chung, ngươi hãy thụ năm giới, cầu Vô thượng bồ-đề!
Con khỉ thụ trì và phát nguyện xong. Nó phấn chấn vui mừng, chạy lên núi cao, trèo lên cây và rơi xuống mà chết. Nhờ thụ năm giới, nên nó dứt nghiệp súc sinh, được sinh lên cõi trời Đâu-suất và gặp một bồ-tát Nhất sinh bổ xứ. Bồ-tát giảng nói đạo tâm vô thượng. Sau đó, thiên tử này xuống rừng vắng, dâng hoa trời cúng dường vị a-la-hán đã từng hóa độ mình. Thấy thiên tử, vị a-la-hán mỉm cười và nói: “Này thiên vương! Quả báo thiện ác như bóng theo hình, không bao giờ mất”. Sau đó vị a-la-hán nói bài kệ:
Nghiệp nhân luôn theo thân
Tùy thân đến mọi nẻo
Chẳng mất, có bảo chứng.
Nghiệp như người ôm của.
Nay ông sinh cõi trời
Nhờ lĩnh thụ năm giới,
Đời trước đọa làm khỉ
Do không giữ cấm giới.
Trì giới được sinh thiên
Phá giới đọa Hoạch thang
Ta thấy người trì giới
Ánh sáng trang nghiêm thân
Bảy báu, đài gác đẹp
Được chư thiên hầu hạ
Giường, màn bằng trân bảo
Ma-ni, hoa, chuỗi ngọc.
Gặp bồ-tát Bổ xứ
Hoan hỉ nói pháp mầu.
Ta thấy người phá giới
Đọa lạc vào địa ngục
Trâu cày xới trên lưỡi
Nằm trên giường sắt nóng
Chung quanh tuôn đồng sôi
Thiêu cháy, hủy thân hình.
Hoặc đọa ngục núi Đao
Rừng gươm và Phân nóng
Sông tro cùng Băng lạnh
Nuốt hòn sắt, đồng sôi.
Những việc khổ như thế
Thường trói buộc nơi thân.
Nếu muốn thoát khổ này
Không đọa ba đường ác
Được sinh lên cõi trời
Giải thoát, đắc Niết-bàn
Phải giữ giới thanh tịnh
Bố thí, sống tịnh mạng.
Nói kệ xong, vị a-la-hán im lặng. Thiên tử thưa:
- Bạch đại đức! Khi xưa con gây nghiệp gì mà đọa làm súc sinh? Lại tạo phúc duyên gì mà gặp đại đức, được thoát khỏi loài súc sinh và sinh lên cõi trời?
- Vào thời quá khứ, tại cõi Diêm-phù-đề có Đức Phật Bảo Tuệ ra đời. Sau khi Đức Phật vào niết-bàn, vào đời tượng pháp có tì-kheo Liên Hoa Tạng sống tà mạng, dối trá, chẳng giữ giới hạnh, kết bạn với quốc vương, trưởng giả, cư sĩ. Sau khi mạng chung, tì-kheo này rơi vào địa ngục A-tì, thân trải đầy khắp mười tám ngăn ngục như hoa sen nở, chịu mọi thống khổ trong một kiếp. Sau đó trải qua các địa ngục lớn trong tám vạn bốn nghìn kiếp, rồi sinh vào ngạ quỉ chịu nỗi khổ uống đồng sôi. Trải qua tám vạn bốn nghìn kiếp, người này mới sinh làm súc sinh như: Bò, lạc đà, heo, chó, khỉ; mỗi loài trải qua năm trăm kiếp. Nhờ nhân duyên cúng dường tì-kheo trì giới và phát đại nguyện, nên người này nay được gặp ta và được sinh thiên. Tì-kheo trì giới thuở ấy, nay chính là ta, còn tì-kheo buông lung thuở ấy, nay chính là ông.
Nghe xong, toàn thân thiên tử rúng động, sợ hãi, sám hối tội đời trước, rồi trở về cõi trời.
Đức Phật nói với vua:
- Con khỉ kia tuy là súc sinh, nhưng nhờ gặp vị a-la-hán dạy thụ trì tam qui và năm giới mà vượt thoát được nghiệp cực ác trong nghìn kiếp, sinh lên cõi trời Đâu-suất và gặp bồ-tát Nhất sinh bổ xứ. Từ đây về sau, thiên tử này gặp vô số Đức Phật, tịnh tu Phạm hạnh, đầy đủ ba-la-mật, chứng địa vị Bất thoái, thân cuối cùng sẽ thành Vô thượng bồ-đề kế sau Đức Phật Di-lặc, hiệu là Sư Tử Nguyệt Như Lai.
Đức Phật dạy tiếp:
- Đức Phật Sư Tử Nguyệt chính là tì-kheo Bà-tu-mật-đa đang ngồi trong pháp hội này.
Nghe xong, vua chắp tay, toàn thân toát mồ hôi, tuôn lệ bi thương, hối hận tự trách, bước đến đỉnh lễ chân Bà-tu-mật-đa, sám hối tội lỗi của mình.
Đức Phật nói tiếp:
- Tám vạn bốn nghìn con khỉ màu vàng chính là tám vạn bốn nghìn tì-kheo-ni của hai nước Ba-la-nại và Câu-thiểm-di vào thời Phật Câu-lâu-tần. Lúc ấy, họ tu tập phi pháp, phạm các trọng tội, ngu si vô trí giống như loài khỉ, xem tì-kheo Phạm hạnh như kẻ cướp. Lúc ấy có một a-la-hán tì-kheo-ni tên Thiện An Ổn giảng pháp, nhưng bị các tì-kheo-ni khác khởi tâm sân hận, phỉ báng. Tì-kheo-ni a-la-hán thấy những tì-kheo-ni này không có tâm thiện, nên khởi từ bi, bay lên hư không vận mười tám cách biến hóa. Thấy thế, bọn người ác đều cởi vòng vàng tung lên người vị a-la-hán và phát nguyện: ‘Xin nguyện đời đời, thân con màu vàng và xin sám hối tội ác đã tạo!
Do nghiệp này, nên sau khi mạng chung, họ đọa vào địa ngục A-tì, trải qua chín mươi hai kiếp thì sinh vào loài ngạ quỉ; rồi trải qua năm trăm đời, sinh làm loài khỉ; lại trải qua một nghìn đời làm khỉ thân màu vàng.
Đại vương nên biết! Tám vạn bốn nghìn tì-kheo-ni phạm giới mạ nhục tì-kheo-ni a-la-hán chính là tám vạn bốn nghìn con khỉ màu vàng ở trong hội này.
Người cúng dường các tì-kheo-ni phạm giới thưở ấy chính là đại vương. Nhờ nhân duyên đời trước, nên bầy khỉ cầm hoa, hương cúng dường đại vương. Những người làm nhơ uế tì-kheo-ni thuở xưa, nay chính là Cù-ca-lê và năm trăm thái giám của đại vương. Này đại vương! Ngài phải cẩn thận thân, miệng, ý!
Nghe xong, vua đối trước Phật sám hối, xấu hổ tự trách bản thân, bỗng nhiên vua liễu ngộ và đắc quả A-na-hàm. Tám vạn người đi theo vua xuất gia và sau đó họ đều đắc quả A-la-hán. Hơn một vạn sáu nghìn người và tám vạn thiên tử đều phát tâm Bồ-đề. Tám vạn con khỉ màu vàng xấu hổ, tự trách bản thân, nhiễu quanh Đức Phật nghìn vòng cầu xin sám hối rồi phát tâm Bồ-đề vô thượng. Tùy theo mạng ngắn dài, sau khi mạng chung, bầy khỉ đều lần lượt sinh lên cõi trời Đâu-suất nghe Phật Di-lặc nói pháp và đắc Bất thoái chuyển, trải qua trăm vạn ức na-do-tha a-tăng-kì hằng hà sa kiếp sẽ thành Phật đồng một hiệu Phổ Kim Quang Minh Như Lai, theo thứ tự xuất thế trong kiếp Đại Quang”.
Kinh Xứ xứ ghi: “Phật nói Kiều-phạm-bát-đề đã đắc quả A-la-hán, nhưng khi ăn xong vẫn nhai lại thức ăn. Có một tì-kheo hỏi:
- Bạch Đức Thế Tôn! Tại sao như thế?
- Ông ta từng đọa làm loài trâu bảy trăm đời trong quá khứ. Nay tuy đắc đạo, nhưng tập khí vẫn còn, nên nhai lại thức ăn. Đức Phật đáp”.
Luận Trí độ ghi:
- Hỏi: Tại sao những đời trước tì-kheo này đọa làm trâu?
Đáp: Do đời quá khứ, khi đi qua ruộng người khác, ông ta lấy vài hạt thóc bỏ vào miệng nhai, rồi nhả xuống đất. Vì làm tổn hại lúa của người khác mà nhiều đời đọa làm loài trâu. Do làm trâu nhiều đời, mặc dù đã làm người mà đời này bàn chân tì-kheo này giống như bàn chân trâu và thường nhai lại thức ăn.
18.4. NGŨ THÔNG
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Bấy giờ bồ-tát Diệu Thắng thưa Phật:
-Bạch đức Thế Tôn! Bồ-tát ngũ thông tu tập pháp gì mà được thần thông?
- Trong cõi Dục, người nam, người nữ không cần có nhãn thông, vì vừa sinh ra liền thấy suốt các chúng sinh và thành quách, cây cối thô tế, đẹp xấu trong một Diêm-phù-đề. Có người thấy hai hoặc ba hoặc bốn thiên hạ; hoặc có người không cần nhãn thông, nhĩ thông mà cũng nghe và phân biệt rõ ràng tất cả âm thanh trong một thiên hạ. Hoặc có người chẳng tu học mà biết túc mạng của mình, từ chỗ nào mà sinh về nơi này và biết được tên họ cha mẹ. Hoặc có người chẳng cần tu tập thần thông mà vẫn biết tâm thiện ác và chỗ tái sinh của người khác, biết người này có duyên với chúng sinh hay không có duyên. Hoặc có người chẳng cần tu thần túc thông mà vẫn bay lên hư không chẳng bị trở ngại, đi trên hư không như đi trên đất, đi trên đất như đi trên hư không.
Phật dạy tiếp:
- Này thiện nam, thiện nữ! Người tu tập nhãn thông, đoạn trừ sắc và phiền não, đạt tam không định môn, thấy hoặc nghe âm thanh trong một nghìn, hai nghìn cho đến ba nghìn thiên hạ, hiểu rõ việc thiện ác trong sáu đường. Hoặc có người đoạn trừ thức cấu, trong ngoài đều trong sạch, đạt ý thông, biết được túc mạng, như nơi sinh, cha mẹ, quyến thuộc, đất nước trong một đời, hai đời cho đến a-tăng-kì kiếp của tự thân.
Hoặc có người tu mười thần thông, hiểu biết pháp tính, ghi nhớ chẳng quên, liền biết được tâm niệm, nơi sinh, cha mẹ, quyến thuộc, đất nước, tên tuổi, dòng họ của người khác trong một đời, hai đời cho đến a-tăng-kì kiếp.
Hoặc có người tư duy pháp quán, dùng tâm giữ thân, dùng thân giữ tâm; khi ngủ nghỉ hay tỉnh giấc, tâm như hư không, có thể bay lên một hoặc hai thiên hạ cho đến tam thiên đại thiên thế giới, đi vào đất như đi trong hư không, đi xuyên qua núi sông, tường vách mà không bị chướng ngại.
Hoặc có người sắp thành Phật, dùng sức trí tuệ diệt trừ phiền não chúng sinh, phát nguyện ngồi mãi bên cội bồ-đề cho đến khi thành Phật. Cho nên khi thành Phật, người này được lục thông, thanh tịnh thấu triệt.
Bấy giờ, Thế Tôn nói bài kệ:
Phàm phu được lục thông
Cũng như loài chim bay
Dù bay xa hay gần
Cũng chẳng thoát sinh tử.
Thần thông Phật vô ngại
Chân thật, không cấu uế
Một niệm đến mười phương
Qua lại không mệt mỏi
Thương xót khắp chúng sinh
Thần thông không ngăn ngại
Tiên nhân có ngũ thông
Khi đọa thì mất hết,
Thần thông ta kiên cố
Dẫn đến cửa niết-bàn.
Bấy giờ trong pháp hội, bồ-tát Phổ Quang đến trưóc Phật và thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Lục thông thức và pháp thức là một pháp hay nhiều pháp? Nếu thức là một pháp thì sác thân Như Lai hiện thần túc, ngồi đạo tràng dạo các cõi Phật là do thức dẫn thân hay do thân dẫn thức. Nếu thân dẫn thức thì không có lục thông, nếu thức dẫn thân thì lục thông là một pháp, cho nên không thân không thức. Cúi xin Thế Tôn giảng nghĩa này cho chúng con.
- Ông hỏi về đệ nhất nghĩa hay nghĩa thế tục. Theo thế tục thì thức là nhiều pháp, không có tướng nhất định. Theo đệ nhất nghĩa thì không thân, không thức. Tại sao? Vì tự tính thức rỗng rang vắng lặng, không đến không đi cũng không nhiễm trước, ông hỏi về sắc thân, thì đây là pháp hữu vi do năm ấm tạo thành, chẳng phải pháp tự nhiên, chẳng phải đệ nhất nghĩa.
Nay Ta nói thức tưởng cho ông hiểu. Lục thông của bồ-tát gồm cả thân và thức, chẳng phải thức có trước, thân có sau; chẳng phải thân có trước, thức có sau. Tại sao? Vì pháp tướng tự nhiên, thức chẳng rời thân, thân chẳng lìa thức. Ví như hai con trâu cùng mang một ách cày. Nếu để một con đi trước một con đi sau thì không thể cày được. Hai con đi song song thì mới cày được. Thần túc, đạo quả cũng như thế; thân và thức đồng thời không có trước sau, khoảng giữa. Sắc thân Như Lai có trước, có sau, có khoảng giữa là căn cứ pháp thế gian, chẳng phải đệ nhất nghĩa. Đối với đệ nhất nghĩa, pháp rỗng lặng thì không phân biệt thành nhiều loại sai biệt”.
Có bài tụng:
Đời trước tạo thiện ác
Quả báo có sai khác
Từng làm quỉ hại người,
Hoặc làm sói báo oán,
Đồ tể nhớ nghiệp sát
Tu-mật như khỉ đùa
Nhờ phúc xưa thoát nạn
Nhiều kiếp dạo cõi trời.
Gặp vật khởi tâm tịnh
Mắt thấy thật rỗng rang
Phàm thánh ưa hội lớn
Hiền ngu vui tiếng thơm.
Bốn loài tu nghiệp thiện
Sáu đường cảm thần quang
Khổ vui tuy sai khác
Đồng biết mạng ngắn dài.
18.5. CẢM ỨNG
18.5.1. Đời Tấn, Dương thái phó: Thái phó Dương Hỗ, tự là Thúc Tử, người Thái sơn, là một hiền thần nổi tiếng đời Tây Tấn, danh vang khắp Trung Quốc. Lúc năm tuổi, có lần ông bảo nhũ mẫu mang cho mình chiếc nhẫn thường chơi đùa thuở trước. Nhũ mẫu nói:
- Con vốn không có chiếc nhẫn này, vậy lấy ở đâu ra?
- Khi xưa, lúc con chơi đùa ở tường phía đông, làm rớt chiếc nhẫn ở cây dâu.
- Con tự tìm lấy đi!
- Đây chẳng phải ngôi nhà năm xưa, nên con chẳng biết chỗ nào!
Sau đó, nhân một buổi ra ngoài dạo chơi, ông lần theo con đường đi về hướng đông, nhũ mẫu đi theo. Đến nhà họ Lý, ông đến bên cây dâu ở tường đông thì nhặt được chiếc nhẫn. Chủ nhà họ Lý kinh ngạc nói:
- Ngày xưa, con bác rất thích đùa với chiếc nhẫn này. Lên bảy tuổi thì nó đột nhiên qua đời. Sau khi chết thì chẳng biết chiếc nhẫn ở đâu nữa. Đây chính là chiếc nhẫn của nó, sao cháu lại mang đi?
Ông cầm chiếc nhẫn bỏ chạy. Gia đình họ Lý hỏi nhũ mẫu; nhũ mẫu kể hết sự việc của ông. Gia đình họ Lý buồn vui lẫn lộn, liền muốn xin Hỗ về làm con. Người nhà giải thích mãi, chủ nhà mới thôi.
Khi trưởng thành, ông thường nhức đầu. Thầy thuốc định chữa thì Hỗ nói:
- Khi mới sinh được ba ngày, đầu tôi hướng về phía bắc, bị gió thổi vào đỉnh đầu, rất đau nhức, nhưng chẳng thể nói được. Đến nay bịnh đã lâu rồi, chẳng thể chữa được.
về sau, ông làm Đô đốc ở Kinh châu trấn giữ Tương Dương, thường cúng dường cho chùa Vũ Đang và nhiều tinh xá khác. Có người hỏi nguyên nhân, ông im lặng. Sau đó, nhân buổi sám hối, ông nói về nhân quả:
- Đời trước, tôi gây nhiều tội, nhờ việc xây dựng chùa này mà tôi được cứu. Vì thế tôi hết lòng cúng dường!
18.5.2. Đời Tấn, Vương Luyện: Ông tự là Huyền Minh, người Lang Da, làm chức Thị trung cho triều nhà Tống. Cha ông tên là Mân, tự Lý Diêm làm Trung thư lịnh đời Tấn, quen biết một Phạn tăng. Mỗi khi thấy phong thái của Mân, lòng vị tăng này rất vui kính, nói với những bạn đồng học:
- Đời sau tôi xin được làm con của người này thì mới thỏa nguyện.
Nghe xong, Mân nói đùa:
- Pháp sư tài trí, đức hạnh, xứng đáng làm con của đệ tử đây!
Chẳng bao lâu, sa-môn này mắc bịnh và qua đời. Hơn một năm sau Luyện ra đời, mới lọt lòng đã biết nói và hiểu tiếng nước ngoài, cũng biết được tên gọi và nơi sản xuất các thứ quí giá, đồ đồng, trân bảo ở các nước xa xôi, lại thích thân gần người Tây Vực hơn là người Hán. Mọi người cho rằng đứa bé là sa-môn tái sinh, bèn truy xét thân đời trước, mà đặt tên là A-luyện, và lấy đó làm tên chính.
18.5.3. Đời Tấn, Hướng Tịnh: Ông tự là Phụng Nhân, người Hà Nội, Trung Quốc. Khi ở tại Ngô Hưng, ông mất một đứa con gái mới mấy tuổi. Trước khi mắc bịnh, nó thích chơi đùa con dao nhỏ. Người mẹ giật lấy, nó không cho; hai bên gằng co làm người mẹ đứt tay.
Sau đó bé gái qua đời. Một năm sau, người mẹ lại sinh một bé gái. Khi được bốn tuổi, nó nói với mẹ:
- Dao của con lúc trước ở đâu hả mẹ?
- Mẹ không biết!
- Ngày xưa mẹ con mình giành giựt con dao, mẹ bị đứt tay; sao mẹ nói là không biết?
Người mẹ vô cùng kinh ngạc và kể lại sự việc cho Tịnh. Tịnh hỏi:
- Con dao ngày trước còn không?
- Vì quá thương con gái, nên tôi không thể tìm được!
- Bà hãy tìm vài con dao xếp lại một chỗ và bảo con gái bà tự chọn.
Bấy giờ, cô bé vui mừng, liền nhặt lấy một con dao của nó và nói: “Đây là con dao của con”.
Lúc ấy, cha mẹ và mọi người trong nhà mới biết cô bé này chính là bé gái lúc trước.
18.5.4. Đời Tống, Thích Đàm Đế ở núi Côn Luân: Sư họ Khương, tổ tiên ở nước Khương Cư. Vào đời Hán Linh đế (156-189), gia đình sư dời đến sống ở Trung Quốc, đến cuối đời Hiến đế, đất nước loạn lạc nên phải dời sang Ngô Hưng. Cha của sư tên là Dung làm chức Biệt giá Kí châu. Mẹ sư họ Hoàng, một đêm nọ, bà mộng thấy vị tăng gọi bà là mẹ, rồi gởi lại cây phất trần và hai vật chặn giấy bằng sắt. Thức dậy, bà thấy những vật ấy bên cạnh, nhân đó mang thai sư.
Lúc lên năm tuổi, khi thấy mẹ mang cây phất trần và vật chặn giấy ra, sư bảo:
- Đây là vật của vua Tần tặng con.
Mẹ sư hỏi:
- Con để chồ nào?
- Con không nhớ!
Năm lên mười tuổi, sư xuất gia, học không thầy chỉ do thiên tính mà tự ngộ. Sau đó, sư theo cha đèn Phàn Đặng, gặp sư Tăng Lược người Quan Trung bỗng nhiên sư gọi tên vị tăng ấy. Tăng Lược hỏi:
- Này sa-di! Cớ sao gọi tên của lão tăng?
- Vừa rồi, bất chợt tôi gọi như thế, là vì ngài là sa-di của Đế tôi. Khi xưa, nhân đi hái rau cho chúng tăng, ngài bị heo rừng làm hại, bất giác la lớn_ Sư đáp.
Tăng Lược vốn là đệ tử của pháp sư Hoằng Giác, vì đi hái rau cho chúng tăng mà bị heo rừng làm hại. Nhưng Tăng Lược hoàn toàn không nhớ, nên đến gặp cha sư. Người cha kể lại đầu đuôi câu chuyện, mang vật chặn giấy và phất trần ra, vị tăng hiểu ra, liền bật khóc và bảo:
- Đây chính là vật của tiên sư Hoàng Giác. Tiên sư từng giảng kinh Pháp hoa cho Diêu Trường, lúc đó bần đạo làm đô giảng10 cho tiên sư, chính Diêu Trường đã tặng hai vật này, nay sao lại ở đây?
Tính lại ngày pháp sư Hoàng Giác viên tịch, chính là ngày mẹ sư nằm mộng thấy vị tăng đến gởi hai vật đó. Tăng Lược nhớ lại việc hái rau, lòng càng thương kính.
Sau đó, sư đi du hóa các nơi, đối với kinh sách, sư vừa xem qua liền ghi nhớ rõ. Khi lớn tuổi, sư vào núi Hổ Khâu ở quận Ngô giảng Lễ kí, Chu dịch, Xuân thu; mỗi sách giảng bảy lần; giảng Pháp hoa, Đại phẩm, Duy-ma, mỗi bộ kinh mười lăm lần. Sư lại rất giỏi văn chương, có soạn tập văn gồm mười sáu quyển, lưu hành ở thế gian.
Bản tính sư thích cảnh núi rừng, nên sau đó sư trở lại Ngô Hưng, vào núi Côn Luân ở cố Chương, sống an nhàn thanh đạm hơn hai mươi năm.
Đời Tống, niên hiệu Nguyên Gia cuối cùng (453), sư thị tịch, thọ hơn sáu mươi tuổi.
18.5.5. Đời Nguyên Ngụy, thiền sư Thừa ở Bắc Đại: Sư siêng năng thụ trì kinh Pháp hoa, không bao giờ phế bỏ. Khi mạng chung, thân trung ấm gá vào thai người phụ nữ họ Tiết ở Hà Đông, làm người con thứ năm trong gia đình này. Lúc mới chào đời, đứa bé đã biết nói, kể lại túc nghiệp và nguyện được giải thoát. Người cha làm thứ sử ở Tứ châu. Người con thứ năm theo cha đi trấn nhậm, khi đến chùa Thất Đế ở Trung sơn, gặp một vị tăng và nói: “Ông có nhớ đã từng theo ta qua sông đến Lang sơn chăng? Thừa thiền sư chính là ta đây! Nên mau dẹp bỏ án thờ trong phòng ta!”.
Nghe xong, đệ tử ôm chầm lấy sư khóc thảm thiết. Tất cả tăng, tục đều vô cùng kinh ngạc, cho đó là việc lạ. Cha mẹ luyến tiếc, sợ con xuất gia, liền nhốt vào phòng. Thời gian sau, đứa bé quên việc đời trước, nhưng thường có tâm chán lìa thế gian, thích ở nơi vắng lặng.
18.5.6. Đời Tùy, thứ sử Bác Lăng Thôi Ngạn Vũ ở Ngụy châu: Khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-601), ông làm thứ sử Ngụy châu. Một hôm đi tuần tra trong quận, đến một ấp nọ, ông bỗng thấy lạ, vừa mừng vừa sợ và nói với người tùy tùng:
- Khi xưa, ta từng làm vợ của một người sống tại ấp này, nay vẫn còn nhớ ngôi nhà đó.
Nói xong, ông cỡi ngựa vào một đường hẻm, đi loanh quanh một lúc thì vào một căn nhà. Ông bảo người tùy tùng gõ cửa. Chủ nhà là một ông cụ, bước ra chào và mời vào. Thôi Ngạn Vũ vừa vào nhà, liền lên gian chính và nhìn về bức tường phía đông, cách đất khoảng sáu bảy thước, thấy một chỗ nhô cao, liền nói với chủ nhà:
- Kinh Pháp hoa mà tôi đã tụng trước đây và năm chiếc trâm vàng cất trong hòm được giấu ở bức tường này, ngay chỗ nhô lên cao đó. Trang cuối cùng của quyển bảy trong cuốn kinh ấy bị lửa cháy, nên mỗi khi tụng đến trang cuối của quyển bảy, tôi thường hay quên, không thể nhớ được.
Ông liền sai tùy tùng đục tường, quả nhiên thấy cái hòm kinh và năm chiếc trâm vàng; lật đến trang cuối của quyển thứ bảy thì thật đúng như lời ông nói. Ông cụ bùi ngùi rơi lệ và nói:
Ngạn Vũ lại chỉ vào cây hòe trước sân và nói:
- Khi sắp sinh, tôi đã gỡ búi tóc để trong bộng cây này.
Ông sai người đến tìm, quả nhiên có một búi tóc. Thấy vậy, ông cụ vui buồn lẫn lộn. Ngạn Vũ để lại các đồ vật ấy và ban tặng trọng hậu cho ông cụ, rồi lên đường.
18.5.7. Đời Đường, Thích Đạo Xước: Sư họ Vệ, người Vấn Thủy, Tịnh châu, trụ tại chùa Huyền Trung. Sư sống thanh bần, giản dị, cao nhã, chất phác, có trí tuệ do trời phú. Nhờ đọc lời văn khắc trên đá ngài Đàm Loan để lại mà sư chuyên tâm tu tập Tịnh độ.
Vào ngày mùng tám tháng tư niên hiệu Trinh Quán thứ hai (628), biết mình sắp ra đi, sư thông báo nhóm họp tứ chúng. Nghe tin, mọi người đến chật cả chùa. Lúc bấy giờ, cảm được nhiều điểm linh dị như: ngài Đàm Loan ngự trên thuyền bảy báu, nói: “Việc tu Tịnh độ của ông đã thành tựu, nhưng dư báo chưa hết”; hóa Phật ngự trên hư không và hoa trời tuôn xuống cúng dường, mọi người dùng vạt áo hứng lấy, những bông hoa này trơn láng rất đẹp; hoa sen mọc trên đất khô cằn, trải qua bảy ngày mới tàn. Còn những điềm lành khác chẳng thể ghi hết.
Đến năm bảy mươi tuổi, răng mọc lại như lúc trẻ, không mảy sai khác. Năng lực quả báo mạnh mẽ, nếu
- Khi còn sống, vợ tôi thường tụng kinh này và cài những chiếc trâm vàng đó.
Ngạn Vũ lại chỉ vào cây hòe trước sân và nói:
- Khi sắp sinh, tôi đã gỡ búi tóc để trong bộng cây này.
Ông sai người đến tìm, quả nhiên có một búi tóc. Thấy vậy, ông cụ vui buồn lẫn lộn. Ngạn Vũ để lại các đồ vật ấy và ban tặng trọng hậu cho ông cụ, rồi lên đường.
18.5.7. Đời Đường, Thích Đạo Xước: Sư họ Vệ, người Vấn Thủy, Tịnh châu, trụ tại chùa Huyền Trung. Sư sống thanh bần, giản dị, cao nhã, chất phác, có trí tuệ do trời phú. Nhờ đọc lời văn khắc trên đá ngài Đàm Loan để lại mà sư chuyên tâm tu tập Tịnh độ.
Vào ngày mùng tám tháng tư niên hiệu Trinh Quán thứ hai (628), biết mình sắp ra đi, sư thông báo nhóm họp tứ chúng. Nghe tin, mọi người đến chật cả chùa. Lúc bấy giờ, cảm được nhiều điểm linh dị như: ngài Đàm Loan ngự trên thuyền bảy báu, nói: “Việc tu Tịnh độ của ông đã thành tựu, nhưng dư báo chưa hết”; hóa Phật ngự trên hư không và hoa trời tuôn xuống cúng dường, mọi người dùng vạt áo hứng lấy, những bông hoa này trơn láng rất đẹp; hoa sen mọc trên đất khô cằn, trải qua bảy ngày mới tàn. Còn những điềm lành khác chẳng thể ghi hết.
Đến năm bảy mươi tuổi, răng mọc lại như lúc trẻ, không mảy sai khác. Năng lực quả báo mạnh mẽ, nếu
chẳng phải đức hạnh cảm thông cùng khắp thì đâu có thể hiện những điềm lành như thế.
18.5.8. Đời Đường, Lưu Thiện Kinh: Ông người Thấp Thành, Phần châu, mất mẹ thuở nhỏ, không người nuôi dưỡng. Khi còn sống, mẹ ông thường đọc tụng kinh điển, siêng năng tu tập.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi mốt (647), mẹ qua đời, ông vô cùng đau khổ, gào khóc không ngừng. Năm sau, vào một hôm, lúc mơ màng, ông thấy mẹ về nói:
- Khi còn sống, mẹ tu phúc, nên được thân nam. Nay mẹ tái sinh vào gia đình họ Tống, thôn Thạch Triệu, phía nam huyện này. Nếu con muốn gặp thì hãy đến đó.
Nói xong, bà biến mất. Theo lời mẹ, ông đi tìm, chẳng bao lâu thì đến nhà họ Tống. Ngày hôm đó, nhà họ Tống sinh một bé trai.
Ông cung cấp y phục, vật thực và kể hết đầu đuôi sự việc về đứa bé này cho họ nghe và kính trọng phụng dưỡng như mẹ mình. Ông và sa-môn Thiện Phủ ở Thấp châu quen biết đã lâu, nên kể lại việc này cho sa-môn nghe.
18.5.9. Tăng Huyền Cao ở chùa Trí Lực, huyện Phủ Dương, Tương châu: Sư họ Triệu. Con người anh của sư đời trước là con gia đình họ Mã, cùng thôn. Cuối niên hiệu Trinh Quán (649), người con họ Mã qua đời. Trước khi qua đời, nó mới nói với mẹ:
- Con và nhà Triệu Tông cùng thôn có nhân duyên đời trước. Sau khi mất, con sẽ làm cháu Triệu Tông.
Người mẹ chẳng tin, mới lấy mực đen bôi thành nút ruồi lên hông trái con mình.
Đêm ấy, phu nhân họ Triệu nằm mộng thấy đứa bé này đến và nói: “Cháu sẽ làm con của bà”. Nhân đó, phu nhân mang thai. Đứa bé trong mộng giống như con nhà họ Mã. Sau khi ra đời, đứa bé có nút ruồi bên hông trái. Đến khi ba tuổi, đứa bé tự đến nhà họ Mã và nói: “Đây là nhà cũ của con!”.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/11/2015
PUCL QUYỂN 40 - CHƯƠNG XÁ LỢI
Quyển này có một chương Xá-lợi. 37. CHƯƠNG XÁ-LỢI 37.1. LỜI DẪN Phật đức rộng lớn phủ trùm cả trời người, lí đạo nhiệm mầu vượt hẳn sáu kinh. Trí Phật cao hơn bách gia chư tử, lại kì diệu vượt dấu tích của hữu tình, hơn...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 39 - CHƯƠNG GIÀ LAM
QUYỂN 39 Quyển này có một chương Già-lam. 36. CHƯƠNG GIÀ-LAM 36.1. LỜI DẪN Ngày xưa, Tây Vực lát vàng ở Kì Viên là khởi đầu xây nền phúc; Đông độ tạo dựng chùa tháp là kết cục của việc cầu tịnh nghiệp. Vì thế, bảo tháp ẩ...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 38 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 38 Quyển này tiếp theo chưorng Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP (tt) 35.6. THÁP CỔ Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Xây cái mới không bằng sửa cái cũ, làm phúc không bàng tránh họa!”. Lời này rất đúng! Có những chún...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 37 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP
QUYỂN 37 Quyển này có một chương Kính tháp. 35. CHƯƠNG KÍNH THÁP 35.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Đức Như Lai ứng hiện, thân vi diệu rực rỡ khắp tam thiên; bậc Chính Giác tuy đã nhập diệt, nhưng xá-lợi vẫn lưu truyền tám vạn nơi...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 36 - TREO TRÀNG PHAN, HƯƠNG HOA, TÁN TỤNG
QUYỂN 36 Quyển này gồm hai chương: Treo tràng phan, Hoa hương, Tán tụng. 32. CHƯƠNG TREO TRÀNG PHAN 32.1. LỜI DẪN Đã nhờ sự mà ngộ được lý, thì nhất định phải mượn tướng để đạt đến chân. Đã chiêm ngưỡng Thánh dung, cần p...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 35 - CHƯƠNG PHÁP PHỤC, NHIÊN ĐĂNG
QUYỂN 35 Quyển này gồm hai chương: Pháp phục, Nhiên đăng. 30. CHƯƠNG PHÁP PHỤC 30.1. LỜI DẪN Ca-sa là y phúc điền, kính ca-sa như kính tháp Phật; nê-hoàn-tăng là y che thân, kính nê-hoàn-tăng như kính pháp. Y được gọi là...
16/11/2015
PUCL QUYỂN 34 - CHƯƠNG NHIẾP NIỆM, PHÁT NGUYỆN
QUYỂN 34 Quyển này gồm có hai chương: Nhiếp niệm, Phát nguyện. 28. CHƯƠNG NHIẾP NIỆM - PHÁT NGUYỆN 28.1. LỜI DẪN Nghĩ rằng: Tâm phàm khó cấm ngăn tựa khỉ vượn, luôn rong ruổi giống như voi điên, ba nghiệp dấy động, duyên...
12/11/2015
PUCL QUYỂN 33 - CHƯƠNG TẠO PHÚC
QUYỂN 33 Quyển này có một chương Tạo phúc. 27. CHƯƠNG TẠO PHÚC 27.1. LỜI DẪN Vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là người khởi xướng đúc tượng Phật bằng vàng. Tượng nào cũng tả r...
