PUCL QUYỂN 25 - CHƯƠNG KIẾN GIẢI
06/11/2015
QUYỂN 25 Quyển này có một chương Kiến giải. 17. CHƯƠNG KIẾN GIẢI 17.1. LỜI DẪN Tâm thức biến chuyển, đó là lí vô thường; ngộ mê trái nhau, bậc Thánh nào có dấu vết; lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ như vang theo tiếng. Đó chí...

QUYỂN 25
Quyển này có một chương Kiến giải.
17. CHƯƠNG KIẾN GIẢI
Tâm thức biến chuyển, đó là lí vô thường; ngộ mê trái nhau, bậc Thánh nào có dấu vết; lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ như vang theo tiếng. Đó chính là vắng lặng chẳng động, do cơ cảm mà ứng thông. Ngộ đạo rồi duyên căn cơ, sau đó mới giáo hóa. Vì thế văn tự được sử dụng cùng khắp vũ trụ, bậc thánh hóa hiện khắp nơi, bao trùm pháp giới. Nếu chẳng phải là bậc Chí thánh đầy đủ lục thông thì ai có thể giáo hóa chúng sinh trong năm đường?
17.2. DẪN CHỨNG
Luận Phân biệt công đức ghi:
- Sở dĩ Như Lai giảng nói những pháp đệ nhất cho bốn chúng xuất gia là vì vào đời vị lai, bốn chúng tính có kiến giải khác nhau về giáo pháp. Họ cùng nhau tranh luận thị phi, cho mình là cao quí, mọi người đều thấp kém. Những kẻ như thế rất nhiều, chẳng thể tính hết. Đức Phật đề phòng những việc chưa xảy ra mà mở ra con đường trọn vẹn cho mỗi người. Giống như ánh sáng mặt trời là bậc nhất trongtất cả ánh sáng. Mặt trăng là bậc nhất trong tất cả tinh tú. Biển cả là bậc nhất trong tất cả dòng sông. Ma Ba-tuần là bậc nhất trong chư thiên sáu cõi trời Dục. Tịnh Cư thiên là bậc nhất trong mười tám cõi trời Sắc. Tăng chúng xuất gia theo Phật là bậc nhất trong những người xuất gia theo chín mươi sáu ngoại đạo. Phật đạo là bậc nhất trong chín mươi sáu ngoại đạo.
Giống như năm trăm đệ tử thanh văn, mỗi vị có sở ngộ khác nhau, chẳng thể trình bày hết.
Người thứ nhất, tì-kheo Câu-lân là người đầu tiên được Phật giáo hóa truyền pháp theo cách “Thiện lai”, nên xưng là đệ nhất.
Người thứ hai, tì-kheo Kiều-phạm-bát-đề khéo giữ cơ hiềm, ẩn thân ở cõi trời, nên gọi là đệ nhất. Vì thế luận Công đức ghi: “Tì-kheo Ngưu Cước vì hai việc nên không thể ở thế gian: Một là bàn chân tì-kheo này giống như móng trâu, hai là khi ăn no thì nhai lại. Nếu ngoại đạo thấy tì-kheo này, sẽ cho rằng các sa-môn ăn uống không chừng mực mà hủy báng. Vì thế Phật bảo tì-kheo này lên giảng đường Thiện Pháp ở cõi trời Đao-Lợi tọa thiền.
Tì-kheo Thiện Giác được chúng tăng sai làm sứ giả thường lên cõi trời. Sau khi Phật niết-bàn, Ca-diếp đánh kiền chùy vân tập đại chúng và bảo A-na-luật xem khắp thê gian có vị nào chưa đến. A-na-luật liền nhìn khắp thế gian thấy tất cả đều vân tập chỉ có tì-kheo Kiều-phạm còn ở cõi trời. Ca-diếp bảo Thiện Giác mời Kiều-phạm trở về chúng hội. Thiện Giác đến giảng đường Thiện Pháp ở cõi trời Ba Mươi Ba thấy Kiều-phạm-ba-đề đang nhập Diệt tận định. Thiện Giác khảy móng tay và nói:
- Thế Tôn đã vào niết-bàn mười bốn ngày rồi. Ca-diếp vân tập đại chúng và sai tôi báo tin để ngài trở về thế gian, đến nơi đại chúng nhóm họp.
- Thế gian trống rỗng, tôi chẳng thể trở về, chỉ muốn vào Niết-bàn! Kiều-phạm đáp.
Thế là Kiều-phạm-ba-đề nhờ Thiện Giác đem y bát về trao lại tăng chúng, rồi vào niết-bàn. Vì nhân duyên ông khéo hộ cơ hiềm, ẩn thân ở cõi trời nên gọi là đệ nhất”.
Người thứ ba, luận ghi:
- Sở dĩ Ưu-lưu-tì Ca-diếp được tôn xưng đệ nhất, bởi từ đời trước đến nay ba anh em Ca-diếp luôn có một nghìn đệ tử. nay được Phật hóa độ nên tất cả đều đắc A-la-hán. Từ đây hình thành tăng đoàn, tứ sự cúng dường cũng nhờ dó má hưng khởi để hộ trì tăng chúng. Vì thế Ưu-lưu-tì Ca-diếp dược gọi tả đệ nhất trong việc cúng dường.
Người thứ tư, luận ghi:
- Xá-lợi-phất được tôn xưng là đệ nhất trí tuệ, bởi Thế Tôn nói: “Về trí tuệ rộng lớn của Thân Tử, thì dù dùng núi Tu-di làm nghiên mực, dùng nước bốn biển làm mực, dùng tre trong bốn thiên hạ làm bút, tất cả người trong bốn thiên hạ biên chép cũng chẳng diễn tả hết, huống gì phàm phu, dù có chứng ngũ thông cũng đâu thể suy lường được trí tuệ này?”. Vì thế Xá-lợi-phất được tôn xưng là trí tuệ đệ nhất.
Người thứ năm, luận ghi:
- Đại Mục-kiền-liên được tôn xưng là đệ nhất thần túc. Thế Tôn nói: “Thuở xưa, khi tam tai hoành hành, nhân dân rất đói khát, Đại Mục-kiền-liên muốn lật đại địa lấy những thực phẩm trong lòng đất cung cấp cho người dân; Phật không cho, sợ tổn hại chúng sinh. Ông muốn một tay nắm giữ tất cả chúng sinh, một tay lật đại địa; Phật cũng không cho”. Vì thế Đại Mục-kiền-liên được tôn xưng là đệ nhất thần túc.
Kinh Mật-tích kim cương lực sĩ ghi:
- Mục-liên vâng lời dạy của Phật, vận thần thông bay qua phương tây đến thế giới Quang Minh Tràng của Phật Quang Minh Vương để nghe Phật giảngpháp. Ngài thấy thân Phật cao bốn mươi dặm, thân các bồ-tát cao hai mươi dặm, bình bát của các bồ-tát cao một dặm. Ngài đi trên miệng bát. Bấy giờ, các bồ-tát thưa Phật ấy rằng:
- Bạch Đại Thánh! Con trùng này từ đâu đến mà mặc pháp phục sa-môn và đi trên miệng bát.
-Này các tì-kheo! Chớ nên xem thường hiền sĩ này. Tại sao? Đây là trường lão Đại Mục-kiền-liên, đệ tử thần túc đệ nhất của Phật Thích-ca Văn. Phật Quang Minh Vương đáp.
Phật Quang Minh nói với Mục-kiền-liên: “Các bồ-tát và thanh văn ở cõi ta thấy ông bé nhỏ nên xem thường. Nhân giả hãy nương uy đức Phật Thích-ca Văn mà hiển bày thần túc”.
Mục-liên đỉnh lễ chân Phật, nhiễu quanh bảy vòng, vọt lên hư không biến hiện nhiều cách, rồi trở về đứng trước Phật. Các bồ-tát ca ngợi là việc chưa từng có. Đức Phật nói với Mục-liên:
- Nhân giả muốn biết âm thanh của Phật Thích-ca Văn vang xa bao nhiêu, nên đến cõi này ư? Nhân giả chẳng nên thử làm gì, vì âm thanh của Như Lai không xa cũng không gần, vang xa vô lượng, chẳng có giới hạn, chảng thể ví dụ được!
Phật lại bảo:
- Thần lực của ông đâu đủ để đến thế giới này được. Đó là nhờ vào uy đức của Phật Thích-ca văn.
Ông hãy hướng về đỉnh lễ Phật Thích-ca Văn thì ông mới trở về thế giới Ta-bà được. Nếu ông vận thần thông, dù trải suốt một kiếp cũng chẳng trở về được!
Mục-liên hướng về hướng đông quì xuống, gối phải chấm đất, đỉnh lễ Phật Thích-ca Văn, rồi chắp tay qui hướng; trong chớp mắt liền trở về cõi này. Vì thế nên biết Mục-kiền-liên là bậc thần túc đệ nhất.
Người thứ sáu, luận ghi:
- A-na-luật được tôn xưng là thiên nhãn đệ nhất. Bởi một hôm đang nói pháp cho đại chúng, thấy A-na-luật ngồi ngủ gục, Phật bảo: “Như Lai đang nói pháp, sao ông lại ngủ? Người ngủ thì tâm ý mờ mịt chẳng khác gì kẻ chết”. A-na-luật xấu hổ, tự khắc ghi vào tâm, phát nguyện: “Từ đây về sau con không dám ngủ nữa”.
Vì mãi không ngủ nên ông bị mù. Tại sao? Sáu căn đều có sáu thức ăn, trong đó mắt cần hai loại thức ăn: nhìn sắc và ngủ nghỉ. Năm căn còn lại cũng có hai loại thức ăn. Nếu được ăn thì sáu căn mới tồn tại. Vì thế, mắt không được ăn nên bị mù. Phật bảo Kì-vực chữa mẳt cho ông. Kì-vực nói: “Ngài không ngủ thì không thể chữa lành”. Vì mù, ông chẳng thấy đường lại đang lúc năm trăm huynh đệ đều đi giáo hóa khắp nơi, A-na-luật nhờ người xỏ kim rồi mò mẫm vá lại y phục. Khi chỉ hết, ông ta lại nhờ người xỏ nữa, nhưng không có ai giúp. Ông hô lên: “Ai cầu phúc, hãy xỏkim giúp tôi!”. Bỗng nhiên Thế Tôn đến trước ông ta nói:
- Ta xỏ kim cho ông.
- Ai thế?_A-na-luật hỏi.
- Ta là Phật!
- Phật đã đầy đủ phúc đức, sao lại muốn cầu phúc đức nữa?
- Đâu thể nhàm chán phúc đức được!
A-na-luật thầm nghĩ: “Phật còn cầu phúc đức, huống gì phàm phu?”. Quá xúc động, ông ta liền nhìn về phía Phật. Do chí thành nên ông liền đắc thiên nhãn; ông lại tiếp tục tư duy nên đắc A-la-hán. Đã chứng A-la-hán thì đầy đủ tam nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn và tuệ nhãn. Dùng cả tam nhãn để nhìn thì loạn, bởi nhục nhãn và thiên nhãn tranh nhau làm cho thấy cảnh tinh, thô lẫn lộn, nên A-na-luật chỉ dùng thiên nhãn quán thấy tất cả cảnh trong Đại thiên thế giới. Vì thế A-na-luật được tôn xưng là thiên nhãn đệ nhất.
Người thứ bảy, luận ghi:
- Ca-chiên-diên được tôn xưng là người khéo phân biệt giải nghĩa đệ nhất. Khi sắp biên tập tạng pháp, Ca-chiên-diên thầm nghĩ: “Mọi người đến hỏi sẽ rất ồn ào làm cho mình chẳng tư duy chuyên chú, nên ẩn thân xuống lòng đất”.
Khi biên tập xong, ông trình lên Phật. Phật khen: “Tốt lắm!” và cho phép biên tập văn bản của ông vàxếp thành một tạng. Nghĩa lí trong đó vi diệu, dùng để hàng phục ngoại đạo, nên gọi là đệ nhất. Lại nữa, Phật khen: “Nhân giả là người biện tài, phân tích, giải nghĩa đệ nhất”.
Người thứ tám, luận ghi:
- Tôn giả Bà-câu-la được tôn xưng là người có thọ mạng vô cùng lâu dài. Vì thuở xưa, tôn giả từng cúng dường sáu vạn Đức Phật và luôn tu từ bi, không hề khởi mảy may tâm sát hại, ngay cả côn trùng nhỏ bé.
Đức Phật bảo A-nan:
- Như ngày nay, vì tùy thuận thế gian và để thích ứng với chúng sinh mà không hiện những tướng khác lạ, nên Ta chỉ sống tám mươi tuổi. Nhờ phúc đức quá khứ tu tập từ bi, nên Bà-câu-la sống đến một trăm sáu mươi tuổi.
Thuở xưa, khi Phật Tì-bà-thi ra đời, có một trưởng giả chính trực, trong sạch, bẩm tính hiền lương, khiêm tốn. Một hôm, ông ta thỉnh Đức Phật và tăng chúng đến nhà để cúng dường trong chín mươi ngày. Có một tì-kheo đến xin thuốc. Trưởng giả hỏi:
- Ngài bịnh gì?
- Tôi bị nhức đầu. Tì-kheo đáp
- Bịnh này nhất định là do lồng ngực có nước, khiến khí bốc lên đầu.
Trưởng giả dâng tì-kheo trái ha-lê-lặc, nhờ đó bịnh lành. Do phúc đức này, trong chín mươi mốt kiếp, trưởng giả không bịnh.
A-nan hỏi Bà-câu-la:
-Tại sao ngài không thuyết pháp, hay vì ngài không có trí tuệ tứ biện?
- Tôi có trí tứ biện bén nhạy, nhưng chỉ thích yên tĩnh, không thích ồn ào. Bà-câu-la đáp.
Vì thế Bà-câu-la được tôn xưng là người có thọ mạng rất lâu dài và xét việc đệ nhất.
Người thứ chín, luận ghi:
- Tôn giả Ưu-ba-li được tôn xưng là người trí luật đệ nhất. Bởi khi chưa xuất gia, tôn giả là thợ hớt tóc, đã cạo tóc xuất gia cho năm trăm vương tử dòng họ Thích. Lưỡi dao của ông không nặng, không nhẹ, vừa vặn đúng cách, cạo rất sạch gọn. Sau đó, Đức Phật bảo Ưu-ba-li: “Thiện lai tì-kheo!”. Ông ta liền trở thành sa-môn. Đức Phật trao giới, ông ta liền đắc A-la-hán. Kế đó Đức Phật trao giới cho năm trăm vương tử họ Thích và cử Ưu-ba-li làm thượng tọa. Các vương tử thưa:
- Người này là nô bộc của chúng con, làm sao chúng con đỉnh lễ được?
- Chẳng phải như thế! Pháp Phật không có sang hèn, ai xuất gia trước thì làm anh.
Nghe lời Phật dạy, họ lìa tâm ngã mạn, nối tiếp đỉnh lễ tôn giả. Bấy giờ mặt đất chấn động mạnh. Trên hư không, chư thiên ca ngợi: “Hay thay, hay thay! Hôm nay, các vương tử họ Thích hàng phục được tâm cống cao. Tâm này khó thắng, nên mặt đất chấn động”. Lúc năm trăm vương tử vào đạo, cũng có chín vạn chín nghìn người xuất gia. Sau khi thụ giới, ngài Ưu-ba-li không hề phạm giới nhỏ nào. Vì thế tôn xưng ngài là người trì luật đệ nhất.
Một hôm, tại tinh xá Kì Viên có một tì-kheo mắc bịnh đã sáu năm. Tôn giả Ưu-ba-li đến thăm và hỏi:
- Thầy đau chỗ nào? cần những thứ gì?
- Những thứ tôi cần trái lời Phật dạy nên không dám nói.
- Ông cứ nói, không hề gì!
- Tôi nghĩ chỉ có năm thăng rượu thì sẽ lành bịnh.
- Ông hãy đợi! Tôi sẽ hỏi Phật.
Tôn giả liền đến thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Có tì-kheo bịnh, cần rượu làm thuốc, con không biết có thể uống được chăng?
- Ta chế luật, ngoại trừ người bịnh. Phật đáp.
Ưu-ba-li liền trở về xin rượu cho tì-kheo bịnh
làm thuốc. Uống xong, tì-kheo liền lành bịnh. Ưu-ba-li lại thuyết pháp, ông ta liền chứng A-la-hán. Đức Phật ca ngợi Ưu-ba-li: “ông hỏi Ta việc này, giúp tì-kheo kia lành bịnh, lại độ cho đắc đạo. Nếu tì-kheokia không được độ sẽ đọa vào ba đường ác, không có ngày ra. Vì các tì-kheo đời sau mà Ta lập giới cấm, ông lại khiến mọi người biết nặng nhẹ để cứu họ thoát khỏi hiểm nguy. Ông chính là người trì giới. Nay Ta đem giới luật trao ông, chớ đánh mất; cũng chẳng thể nói cho sa-di và cư sĩ!”. Vì thế tôn giả được tôn xưng là người trì giới đệ nhất.
Người thứ mười, luận ghi:
- Tì-kheo Nan-đà được tôn xưng là đoan chính đệ nhất. Các tì-kheo đều có tướng quí, Xá-lợi-phất có bảy tướng quí, Mục-kiên-liên có năm tướng quí, A-nan có hai mươi tướng quí, riêng Nan-đà có ba mươi tướng quí. Thân Nan-đà màu vàng, A-nan màu bạc. Y phục Nan-đà rực rỡ, mang đôi dép đan bằng sợi vàng, ôm bát lưu li vào thành khất thực. Ai cũng vui mừng khi thấy Nan-đà. Ngoại trừ Như Lai, không ai đủ tướng quí như Nan-đà, cho nên tôn giả được tôn xưng là người đoan chính đệ nhất.
Một hôm đến thỉnh Phật, Nại nữ nhìn ra ngoài thấy Nan-đà, cô sinh lòng yêu mến sâu nặng, liền ra đỉnh lễ Nan-đà và xoa chân tôn giả. Tuy thấy người đẹp, nhưng lòng tôn giả vẫn vắng lặng, chẳng khởi tình ý. Nếu nam nữ xúc chạm thần thể thì tuôn chất bất tịnh. Nại nữ không đạt ý nguyện, nhưng nghi Nan-đà khởi tâm dục.
Biết được suy nghĩ này, Đức Phật bảo Nại nữ: “Cô chớ nghi ngờ! Bảy ngày sau, Nan-đà sẽ đắc A-la-hán”. Theo lời này mà biết tâm Nan-đà không động, nên tôn giả được tôn xưng là người đoan chính đệ nhất.
Người thứ mười một, luận ghi:
- Tì-kheo Bà-đà được tôn xưng là người đệ nhất về khả năng giải thích những điều nghi ngờ của người khác. Ba đời chư Phật đều nêu ra tám vạn bốn nghìn pháp hành. Chúng sinh muốn đắc đạo, chẳng nhất định phải tu tập tất cả hạnh; tùy sở ngộ mà lấy một hạnh nào đó làm tôn chỉ. Tại sao? Vì kết sử của chúng sinh chẳng đồng; bịnh tật có nặng nhẹ, cấu nhiễm có dày mỏng. Vì thế Như Lai lập nhiều phương tiện giáo hóa, có khi một loại thuốc trị nhiều bịnh, có khi nhiều loại thuốc chỉ trị được một thứ bịnh, cũng như lục độ gom hết vạn hạnh. Một hạnh làm chủ thì các hạnh tùy thuận theo, một hạnh chẳng chuyên thì các bịnh liền khởi. Tùy bịnh mà cho thuốc.
Nếu chấp thường thì lấy vô thường để đối trị. Nếu tâm chấp có thì lấy tâm không để đối trị. Lúc vô thường thống lãnh thì vạn hạnh đều vô thường. Cũng như thiết lập tám vạn hạnh thì tám vạn hạnh đều bị thiết lập. Cũng như trong tám loại âm thanh của Phật, một âm thanh gồm thâu tám tiêng vang, một tiếng vang gồm thâu trăm giáo, một giáo gồm thâu trăm nghĩa, mỗi mỗi gồm thâu lẫn nhau thành nghìn vạn ức, một âm thanh đáp vạn ức. Sự biến chuyển như thế,lược nói tổng quát các hạnh cũng như thế. Tì-kheo này dùng phương pháp lược nói làm chính, nên được tôn xưng là người đệ nhất về khả năng giải thích những điều nghi ngờ của người khác.
Người thứ mười hai, luận ghi:
- Thiên Tu-bồ-đề được tôn xưng là người đắp y tốt đệ nhất. Trong năm trăm đệ tử của Đức Phật có hai vị Tu-bồ-đề: một vị thuộc giòng dõi vua chúa, một vị thuộc gia đình trưởng giả. Thiên Tu-bồ-đề xuất thân từ giòng dõi vua chúa. Sở dĩ nói Thiên là vì trong năm trăm đời tôn giả thường sinh vào cõi trời Hóa Ứng Thanh. Đời này tôn giả hạ sinh cõi người, trong dòng họ vua, có phúc thụ dụng vật tự nhiên, chưa từng thiếu thốn.
Khi trở về nước, Đức Phật dạy: “ông phải thúc liễm thân tâm, điều tiết ăn uống, đắp y thô sơ, ăn uống đạm bạc, chiếu cỏ làm giường, dù tôt hay xấu cũng xem như thuốc”.
Nghe lời dạy nghiêm khắc cùa Đức Phật, tôn giả suy nghĩ đến cảnh sống xa hoa, phóng túng, tự do tùy ý, nên thoái tâm, muốn hoàn tục. Một hôm, nhân Đức Phật nhận lời thỉnh đến cung vua Ba-tư-nặc, tôn giả liền đến từ tạ Đức Phật để về nhà. A-nan nói:
- Ông hãy nghỉ lại một đêm
- Phòng ốc của đạo nhân như vậy, sao tôi có thể nghỉ ngơi được! Tôi đến nhà cư sĩ nghỉ nhờ qua đêm, rồi mai sẽ về nhà. Thiên Tu-bồ-đề nói.
- Cứ ở đây! Tôi sẽ kiếm phòng đầy đủ tiện nghi.
A-nan đưa tôn giả vào cung, chọn lấy một phòng đầy đủ tiện nghi: Tọa cụ, phướn lọng, hương thơm, dầu đốt, v.v.... Tôn giả nghỉ lại một đêm, vì vừa ý nên tôn giả đắc định, tư duy bốn đế, vào cuối đêm đắc A-la-hán. A-nan thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Thiên Tu-bồ-đề đã đắc A-la-hán, bay lên hư không.
- Y có hai loại: có thể gần gũi và không thể gần gũi. Nếu đắp y tốt mà có ích cho đạo tâm thì đây là y
có thể gần gũi. Nếu tổn đạo tâm thì là y không thể gần gũi. Này A-nan! Vì thế có khi nhờ y tốt mà đắc đạo, có khi nhờ y thô xấu chắp vá mà đắc đạo. Chỗ ngộ nơi tâm, chẳng câu nệ hình tướng bên ngoài. Vì thế Thiên Tu-bồ-đề được tôn xưng là người đắp y tốt đệ nhất.
Người thứ mười ba, luận ghi:
- La-vân được tôn xưng là người trì giới kiên cố đệ nhất. Có người nói: “La-vân thích nói dối, hay tức giận. La-vân thường hận Đức Phật đã bỏ ngôi Chuyển luân thánh vương, xuất gia làm sa-môn, khât thực khắp nơi, chảng biết xẩu hổ. Vì chê trách Như Lai nên ông nói dối. Khi có người hỏi Như Lai ở đâu, nếu Như Lai đang ở Kì viên thì La-vân đáp là đang ở Trú Ám viên; ngược lại nếu Như Lai đang ở Trú Ámviên thì đáp là đang ở Kì viên. Nói dối nhiều lần gạt người đến gặp Như Lai”.
A-nan thưa Phật: “La-vân nói dối!”. Đức Phật cho gọi La-vân đến bảo:
- Ông có nói dối chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Vâng có!_ La-vân đáp.
- Ta bỏ ngôi Chuyển luân thánh vương, vì ngôi vị này chẳng thể nương tựa, sẽ trở về vô thường. Ngay cả ngôi vị Đế Thích, Phạm vương còn chẳng thể giữ được, huống gì Chuyển luân thánh vương mà đáng nương tựa sao? Từ xưa đến nay, Ta
bỏ vô lượng ngôi vua, chẳng thể tính kể, không chỉ ngày nay ông mới hận Ta đâu! Ông hãy đem nước lại đây.
La-vân liền dâng một bát nước đầy lên Phật. Phật cầm bát nước lên và hỏi:
-Ông thấy bát nước này chăng?_ La-vân đáp.
-Con thấy.
-Bát nước đầy này không đổ ra ngoài giọt nào, dụ như người trì giới miên mật, không hề sai phạm.
Đức Phật lại đổ hết nửa bát nước, rồi hỏi La-vân:
-Ông thấy bát nước này chăng?
-Bạch đức Thế Tôn! Con thấy! La-vân đáp.
-Bát nước này đã vơi đi phân nửa, dụ như người giữ giới không hoàn mãn.
Đức Phật lại đổ hết bát nước rồi hỏi La-vân:
-Ông thấy bát không này chăng?
-Bạch đức Thế Tôn! Con thấy! La-vân đáp.
-Bát không này dụ cho người phạm tất cả giới.
Đức Phật lật úp bát này xuống đất và nói:
-Ông thấy bát này chăng?
-Bạch đức Thế Tôn! Con thấy! La-vân đáp.
-Người phạm giới phải đọa địa ngục, dụ như bát úp xuống đất.
Từ đó về sau, La-vân kiểm thúc thân tâm, chưa từng tái phạm mảy may, cho nên tôn giả được tôn xưng là trì giới đệ nhất.
La-vân cũng là người tu tập hạnh nhẫn đệ nhất. Một hôm Xá-lợi-phất dẫn La-vân vào thành Vương Xá khất thực. Thấy La-vân đi sau, một bà-la-môn khởi tâm ác đánh vào đầu La-vân, khiển máu chảy xuống mặt. La-vân sinh ý xấu, tìm cách báo thù. Biết tâm niệm ấy, sau khi lau hết máu cho La-vân, Xá-lợi-phất nói: “Ông hãy nghĩ đến cha của ông. Thuở xưa, khi làm vua, có người đến xin đôi mắt, vua liền móc mắt cho người ấy. Có người chặt tay, chặt chân, vua cũng không hối hận. Khi làm voi, đã tự nhổ ngà cho người cũng chẳng biết mệt mỏi. Nay tại sao ông khởi niệm ác?”.
Nghe xong, La-vân liền tự trách: “Nay tại sao ta có ý ác với bà-la-môn kia!”, liền tu hạnh nhẫn như đất, chẳng khởi một mảy may tâm ác.
Sau khi mạng chung, bà-la-môn đánh vào đầu La-vân đọa vào địa ngục Vô Trạch. Vì thế, La-vân được tôn xưng là người trì giới, tu tập hạnh nhẫn đệ nhất.
Người thứ mười bốn, luận ghi:
- Tì-kheo Bát-đà là người đần độn nhưng biến hình đệ nhất. Đức Phật dạy tôn giả đọc tụng hai chữ “chổi quét” thì tôn giả nhớ chữ chổi quên chữ quét, nhớ chữ quét thì quên chữ chổi. Trong sáu năm chuyên tâm đọc tụng hai chữ ấy, tâm ý của tôn giả tỏ ngộ, rồi thầm nghĩ: “Chổi là chổi, quét là diệt trừ. Chổi dụ bát chính đạo, phẩn là dụ ba độc dơ bẩn. Dùng chổi Bát chính đạo quét ba độc dơ bẩn. Nghĩa chổi quét chỉ vậy thôi sao?”. Thế rồi tôn giả tư duy sâu lí này, bỗng nhiên khai ngộ, đắc quả A-la-hán.
Lại có một bà-la-môn tên là Phạm Thiên cũng còn gọi là Thế Điển.Vì ông thông hiểu nhiều sách vở, đồ thư, sấm kí và thiên văn địa lí, cho nên gọi là Thế Điển. Ông cho mình là người đức cao, mời tôn giả Bát-đà luận nghị:
-Ngài cùng tôi luận bàn được chăng?
-Tôi còn có thể luận bàn với ông nội của ông, huống gì người mù, không mắt như ông! Tôn giả đáp.
- Mù và không mắt có gì khác nhau?
Bát-đà không đáp được, liền bay lên hư không cách đất bốn trượng chín thước, ngồi kết-già. Đà-la-môn liền khởi tâm tôn kính. Bấy giờ Xả-lợi-phất biết
tôn giả không đáp được, nên dùng thần thông để đáp; nếu không đến hàng phục thì chẳng thể hóa độ được bà-la-môn này, liền hóa thành tôn giả Bát-đà và bảo Bát-đà ẩn thân. Xá-lợi-phất nói:
-Ông là trời hay người.
-Tôi là người. Bà-la-môn đáp.
-Là người nam chăng?
-Tôi là người nam.
-Người nam và người có gì khác nhau?
-Không khác.
-Người là tên chung. Nam là căn cứ hình tướng, sao lại không khác. Vừa rồi ông nói người mù, nghĩa là không thấy quả báo thiện ác đời nay, đời sau. Còn người không có mắt là người không có con mắt trí tuệ để đoạn trừ phiền não.
Nghe xong, bà-la-môn tỏ ngộ, liền đắc Pháp nhãn tịnh. Vì thế nói Bát-đà là người biến hình đệ nhất.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Vào ngày rằm, Thế Tôn thuyết giới, các tì-kheo cùng năm trăm a-la-hán từ Kì-hoàn xuống hồ A-nậu-đạt. Khi ấy, long vương đến đinh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi sang một bên thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Con quán đại chúng đều là không, không thật có. Hôm nay ngài Xá-lợi-phất không có trong hội này.
Phật bảo Mục-kiền-liên:
- Ông mau đến chỗ Xá-lợi-phất bảo là Ta cho gọi đến.
Vâng lời, Mục-kiền-liên đến thành Xá-vệ báo Xá-lợi-phất:
- Phật gọi ngài đến! Long vương A-nậu-đạt muốn diện kiến ngài.
Xá-lợi-phất liền cởi dây đai tăng-kì-chi đặt trước mặt Mục-kiền-liên và nói:
- Ngài có thần túc, thử nhấc đai này buộc lên cây Diêm-phù-đề xem!
Mục-kiền-liên cầm đai, nhưng không nhấc nổi, dùng hết sức khiến mặt đất chấn động. Xả-lợi-phất di chuyển Mục-kiền-liên qua châu Đông Phất-vu-đãi lại lấy đai quấn quanh núi Tu-di; Mục-kiền-liên liền nhầc đai lên làm chân động núi Tu-di. Xá-lợi-phât lại lấy đai này buộc vào tòa Như Lai; Mục-kiền-liên không thể làm lay động nổi, nên buông đai và trở về pháp hội. Từ xa thấy Xá-lợi-phất đã đến trước, ngồi kết-già chính niệm trước mặt, Mục-kiền-liên thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Con đã mất thần thông rồi chăng? Tại sao ngài Xá-lợi-phất đi sau mà đến trước.
- Ông không mất, vì Xá-lợi-phất có đại tri tuệ.
Trở về thành Xá vệ, Đức Phật bảo Mục kiền liên:
- Trong chúng đây có nhiều người không cung kính khi ông nói Xá-lợi-phất có thần túc hơn ông. Ông nên hiển bày uy lực trước đại chúng.
- Bạch đức Thế Tôn! Con xin vâng lời!
Từ chỗ ngồi, Mục-kiền-Liên đúng dậy vận thần thông bay lên đỉnh núi Tu-di, một chân đạp đỉnh núi khiến đại địa chấn động sáu cách; chân còn lại đặt lêncõi Phạm thiên. Bấy giờ các tì-kheo ca ngợi là việc chưa từng có. Mục-kiền-liên nói bài kệ, sáu mươi tì-kheo được lậu tận ý giải”.
Kinh Văn-thù-sư-lợi bát-niết-bàn ghi: “Đức Phật bảo bồ-tát Bạt-đà-la:
- Văn-thù-sư-lợi có đại từ bi, sinh trong gia đình bà-la-môn Phạm-đức, tại thôn Đa-la, nước này. Khi sinh ông, phòng ốc trong nhà thay đổi hình dáng giống như hoa sen. Ông ra đời từ hông phải người mẹ, thân màu vàng tía, vừa sinh ra liền biết nói giống như vị trời, đồng thời có bảy lọng báu che trên đầu. Các luận sư của chín mươi lăm phái ngoại đạo không thể đối luận hơn ông, nên chỉ theo Phật xuất gia học đạo và chứng tam-muội Thủ-lăng-nghiêm. Bốn trăm năm mươi năm sau khi Như Lai niết-bàn, Văn-thù-sư-lợi vào Tuyết sơn, giảng nói mười hai thể loại kinh cho năm trăm vị tiên khiến họ đạt giai vị Bất thoái chuyển. Sau đó, Văn-thù trở về cố hương, ngồi kết-già bên cây ni-câu-luật-đà nơi đồng vắng, nhập tam-muội Thủ-lăng-nghiêm. Các lỗ chân lông phát ánh sáng vàng chiếu khắp mười phương thế giới, hóa độ những người có duyên. Khi ấy màu thân của Văn-thù-sư-lợi như núi vàng ròng, cao một trượng sáu, vầng hàoquang tròn tỏa đúng một tầm. Trong vầng hào quang này có năm trăm hóa Phật; mỗi hóa Phật có năm hóa bồ-tát theo hầu.
Đức Phật lại bảo Bạt-đà-ba-la:
- Văn-thù-sư-lợi đây có vô lượng thần thông biến hóa, chẳng thể diễn tả hết. Nếu có chúng sinh nào chỉ nghe danh hiệu Văn-thù-sư-lợi thì sẽ diệt trừ nghiệp tội trong mười hai ức kiếp sinh tử; nếu lễ bái, cúng dường thì đời đời thường sinh trong nhà của chư Phật. Nếu người nào chưa được diện kiến ngài, thì nên đọc tụng, thụ trì Thủ-lăng-nghiêm và xưng niệm danh hiệu Văn-thù-sư-lợi từ một ngày đến bảy ngày, Văn-thù-sư-lợi nhất định sẽ đến chỗ người đó. Người nào còn nghiệp chướng đời trước thì sẽ gặp Văn-thù trong mộng. Người gặp Văn-thù trong mộng, nếu hiện đời cầu Thanh văn thừa thì sẽ đắc quả Tu-đà-hoàn cho đến A-na-hàm; nếu xuất gia thì sau một ngày một đêm sẽ đắc quả A-la-hán; nếu có lòng tin kiên cố kinh điển Phương đẳng thì sẽ trở thành Pháp vương tử, nhập định giảng nói pháp thâm diệu; nêu loạn tâm thì trong mộng, bồ-tát sẽ giảng nói thật nghĩa khiến lòng tin của họ kiên cố nơi đạo Vô thượng và đác Bất thoái chuyển.
Sau khi Ta diệt độ, chúng sinh nào nghe danh hiệu hoặc thấy hình tượng Văn-thù-sư~lợi thỉ trong trăm nghìn đời không đọa vào đường ác. Nếu người nào thụ trì, đọc tụng kinh này hoậc niệm danh hiệu Văn-thù-sư-lợi, dù phạm tội nặng cung chảng đọa vàođịa ngục A-tì chịu khổ lửa dữ thiêu đốt, thường sinh vào thế giới thanh tịnh ở phương khác, gặp Phật, nghe pháp và chứng Vô sinh nhẫn”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Khi Đức Phật trú tại núi Thứu Đầu, thành Vương Xá, tể tướng của vua Ba-la-ma-đạt nước Ba-la-nại sinh một bé trai đầy đủ tướng quí, vẻ đẹp, thân màu vàng tía, khôi ngô đĩnh đạc. Tể tướng vô cùng vui mừng. Bản chất phu nhân không lương thiện, nhưng từ khi mang thai lại thương xót người nghèo khổ, từ bi cứu giúp thứ dân, tâm bình đẳng bảo hộ mọi người. Tể tướng mời thầy đến xem tướng đứa bé. Xem xong, thầy tướng vui mừng và đặt tên là Di-lặc. Đứa bé này rất tuyệt mĩ, nổi tiếng cả nước. Nhà vua lo sợ bị mất ngôi, thầm nghĩ: ‘Bây giờ đứa bé còn nhỏ, ta phải tính kế diệt trừ’, liền lịnh cho tể tướng:
- Trẫm nghe khanh có đứa con dung mạo kì đặc. Khanh dẫn nó lại đây để trẫm gặp.
Tể tướng và người nhà biết mưu đồ nhà vua, lòng vô cùng lo sợ (kinh khác thì ghi tể tướng biết mưu kế liền đáp: “Gần đây quaNam Thiên Trúc sống bên gia đình vợ, nướcấy rồi”).
Đứa bé ấy có người cậu tên Ba-bà-lê làm quốc sư nước Ba-bà-phú-la. Ông này thông minh, học rộng, tài trí hơn người, luôn có năm trăm đệ tử di theo học tập.
Tể tướng rất thương yêu con, sợ bị hại, thầm tính kế sai người dùng xe voi đưa đi nước ngoài, đến ở nhờ nhà người cậu. Người cậu thấy Di-lặc có tướng quí nên hết lòng yêu thương nuôi dưỡng và rất xem trọng. Khi lớn lên, được cậu chỉ dạy, một ngày Di-lặc tiếp thu kiến thức hơn người khác học cả năm. Chưa đầy một năm, Di-lặc đã thông suốt các loại kinh thư.
Thấy cháu mình trong thời gian ngắn đã thông suốt mọi kinh sách, nên Bà-ba-lê muốn lập đại hội để biểu dương tài năng của cháu. Thế là ông sai một đệ tử đến nước Ba-la-nại báo tin cho tể tướng biết sức học của Di-lặc và cần một số châu báu để thiết lập đại hội. Trên đường về, nghe nói đức hạnh vô lượng của Đức Phật, người này ngưỡng mộ muốn đến gặp. Trên đường đi, anh ta bị cọp ăn, nhờ tâm lành nên sinh lên cõi trời Tứ thiên vương. Thế là Ba-bà-lê phải dốc hết tài sản thiết lập đại hội mời tất cả bà-la-môn nhóm họp. Sau khi thụ thực xong, ông còn cúng dường cho mỗi người năm trăm tiền vàng, thế là gia sản đã hết sạch. Lúc ấy, bà-la-môn Lao-độ-sai đến sau, không còn thức ăn, nhưng muốn được năm trăm tiền vàng nên nói: “Nghe ông lập hội thí mà sao không có gì cả? Nếu ông cự tuyệt, không chu cấp cho ta thì bảy ngày sau đầu ông vỡ thành bảy mảnh”.
Nghe vậy, Ba-bà-lê lo sợ mà nghĩ: “Thế gian này có tà chú và cổ đạo hại người. Ta không thể xem thường việc này. Thật đáng sợ!”
Người đệ tử ở trên cõi trời, thấy thầy mình buồn khổ, không chỗ nương tựa, liền hiện xuống hỏi thầy: “Tại sao thầy buồn khổ?”.
Bà-ba-lê kể lại câu chuyện. Vị trời thưa:
- Lao-độ-sai chưa biết pháp tối thượng, ngu si ác tà muốn hại người, không có khả năng gì mà thầy lại lo sợ như thế! Nay chỉ có Đức Phật hiểu rõ pháp tối thượng là bậc Pháp Vương vô thượng, xứng đáng để thầy qui y.
- Đức Phật là ai?_ Ba-bà-lê hỏi.
Vị trời liền giảng nói công đức, trí tuệ chẳng thể tính lường của Đức Phật và hiện đang ở núi Thứu Đầu, thành Vương Xá.
Nghe lời ca ngợi về đức hạnh của Phật, Ba-bà-lê thầm nghĩ: “Nhất định có Phật, vì trong sách của đạo ta có ghi: ‘Khi sao Phất xuất hiện, trời đất chấn động thì thánh nhân ra đời’, nay đã có những điềm này”.
Nghĩ thế, ông liền bảo Di-lặc cùng mười lăm người: “Các con hãy đến đó xem tướng quí và vẻ đẹp của ông ta, rồi trong tâm thầm hỏi: ‘Thầy chúng ta là Ba-bà-lê có bao nhiêu tướng tốt, được bao nhiêu tuổi, có bao nhiêu đệ tử?’. Nếu ông ta biết
thì nhất định đó là Phật. Nếu các con quyết định làm đệ tử ông ta thì sai một người trở về báo tin cho ta hay!”.
Khi đến gần núi Thứu Đầu, thành Vương Xá, từ xa thấy hào quang chiếu sáng diệu kì, các tướng rựcrỡ, Di-lặc và mọi người vô cùng vui mừng, trong tâm thâm hỏi những điều mà thầy đã dạy. Đức Phật cũng từ xa đáp đúng từng suy nghĩ của họ. Họ vô cùng kính ngưỡng, đến đỉnh lễ chân Phật. Sau đó Đức Phật giảng pháp. Mười lăm người đắc Pháp nhãn tịnh, cầu xin xuất gia. Đức Phật nói: “Thiện lai tì-kheo!”, râu tóc của họ tự rụng, pháp y tự nhiên đắp trên thân. Phật lại thuyết pháp; nghe xong, họ chứng A-la-hán. Trong mười sáu người đi, một người tên Tân-kì-kí là con của người chị Ba-bà-lê, mọi người cử anh ta trở về báo tin.
Tân-kì-kí về nước, đến chỗ thầy Ba-bà-lê thưa đầy đủ những điều mình đã thấy nghe. Ba-bà-lê vô cùng vui mừng đứng dậy, quì xuống chắp tay hướng về thành Vương Xá chí thành thưa Phật: “Xin Ngài từ bi hạ cố đến tiếp độ con”, rồi đỉnh lễ.
Từ xa, biết tâm nguyện của ông ta, trong chớp mắt, Đức Phật hiện đến trước mặt ông ta.
Ngẩng đầu lên thấy Đức Phật, ông ta vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Đức Phật giảng pháp. Nghe xong, ông ta chứng A-na-hàm. Bấy giờ Đức Phật trở về núi Linh Thứu (chỉ có ngài Di-lặc không cầu chứng quả Thanh văn, vì ngài phát đại nguyện đạt quả Bồ-đề).
Đức Phật báo các tì-kheo:
- Vào tương lai. cõi Diêm-phù-đề mặt đất vuông vức, bằng phẳng, rộng lớn, không có núi sông, đất sinh ra những thứ cỏ mềm mại giống như y phục trời.
Khi đó, nhân dân sống đến tám vạn bốn nghìn tuổi, thân cao tám trượng, đoan chính thù thắng, tính tình nhu hòa; tất cả đều tu thập thiện. Thuở ấy, Chuyển luân thánh vương Thắng-già ra đời. Trong nước có gia đình bà-la-môn kia sinh một cậu con trai, đặt tên Di-lặc. Cậu bé có thân hình vàng tía, đủ ba mươi hai tướng quí và các vẻ đẹp, phát ánh sáng rực rỡ. Khi trưởng thành, Di-lặc xuất gia học đạo, thành bậc Tối Chính Giác, rồi chuyển bánh xe pháp. Hội thứ nhất, ngài độ chín mươi ba ức chúng sinh; hội thứ hai độ chín mươi mốt ức; hội lớn thứ ba độ chín mươi ức. Những người được độ trong ba hội thuyết pháp kia đều là những chúng sinh từng gieo trồng phúc đức trong giáo pháp của ta.
A-nan thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng rõ từ nhân duyên nào mà gọi tên là Di-lặc.
- Này A-nan! Vào quá khứ lâu xa, Di-lặc đã tu tập Từ tam-muội, tâm định nhu hòa, lại không có tâm hại chúng sinh, cho nên có tên là Di-lặc. Đức Phật đáp.
(Tiếng Phạn: Di-lặc. Trung Quốc dịch là Từ
Thị. Nên Di-lặc cũng là họ. Các kinh khác ghi: "Quá khứ đã có Đức Phật hiệu là Di-lặc ra đời. Ngài gặp Đức Phật này và phát nguyện về sau thành Phật cũng lấy hiệu Di-lặc". Tên A-dật-đa, Trung Quốc dịch là Vô Năng Thắng vì trí tuệ hơn người).
Có bài tụng:
Người hiền tu Phật pháp
Dứt khổ được thăng cao.
Thầy giỏi, trò tự phát
Ánh sáng chiếu hữu duyên,
Ứng biến đều sai khác
Kinh Phật đồng linh thiên
Thừa càn nhờ cửu ngũ
Danh vang khắp tam thiên
Trống pháp truyền đạo lớn
Rồng hiện ứng trời người
Trí lặng chân vi diệu
Âm giọng thấu trời cao
Đỉnh đặc ba mươi tướng
Chiếu rực Hoa lâm viên.
17.3. CẢM ỨNG
17.3.1. Đời Tần, Cưu-ma-la-thập (344-413) ở Trường An: Cưu-ma-la-thập, Trung Quốc dịch là Đông Thọ. Sư người Thiên Trúc, giòng họ nhiều đời làm Tướng quốc. Ông nội của sư tên là Đạt-đa, là người phi thường, xuất chúng, nổi danh cả nước. Cha sư tên là Cưu-ma-la-viêm thông minh, có đạo đức, chí tiết cao thượng. Được thừa kế địa vị Tưởng quốc,nhưng ông từ chối rồi xuất gia. Sau đó ông đến Thông Lãnh.
Nghe ông từ bỏ vinh hoa nên vua nước Qui-tư rất kính ngưỡng, đích thân đến thỉnh ông làm Quốc sư. Vua có em gái, tuổi vừa đôi mươi, tài trí thông minh, mọi việc xem qua liền đều biết, nghe qua liền thuộc, trên thân lại có nốt ruồi son là tướng sinh con có trí tuệ. Vương gia các nước đến cầu hôn, nhưng vua không ưng thuận. Vừa thấy La-viêm thì vua đã muốn tác hợp, nên ép ông lấy em gái mình.
Khi mang thai sư, người mẹ bỗng có trí tuệ hơn bội phần. Nghe chùa Tước-lê nổi tiếng có nhiều bậc danh đức lại có vị tăng đắc đạo, bà cùng các ni sư đức hạnh và những người nữ trong vương gia cung thỉnh tăng chúng vào cung thụ trai thuyết pháp. Nghe xong, bà bỗng thông suốt ngôn ngữ Thiên Trúc, những lời lẽ gạn hỏi hàm nghĩa thật sâu xa; mọi người đều ca ngợi. A-la-hán Đạt-ma-cù-sa tiên đoán: “Bà nhât định đã mang thai đứa con trí tuệ”, rồi dẫn chứng việc khi ngài Xá-lơi-phất còn trong thai. Sau khi sư ra đời, bà quên lời tiên đoán đó, muôn xuất gia nhưng La-viêm không cho. Sau đó bà sinh thêm một đứa con trai tên Phất-sa-đề-bà.
Thời gian sau, nhân ra khỏi thành du ngoạn, thấy xương khô ngổn ngang khắp ngôi mộ, bà tư duy về gốc khô và quyêt định xin xuất gia; phát nguyện: “Nếu không được xuất gia thi không ăn uống gì cả”.
Đến ngày thứ sáu thì khí lực của bà suy kiệt, xem chừng mạng sống chẳng giữ đến sáng mai, La-viêm lo sợ nên cho phép. Vì chưa xuống tóc nên bà cũng không chịu ăn uống; La-viêm liền bảo người cạo tóc, bà mới chịu ăn uống. Sáng hôm sau, bà thụ giới, tu học thiền định, tinh tiến không ngừng và đắc Sơ quả.
Khi lên bảy tuổi, sư cũng xuất gia, theo thầy học kinh, mỗi ngày tụng thuộc một nghìn bài kệ, mỗi bài có ba mươi hai chữ, tổng cộng ba vạn hai nghìn lời. Khi tụng xong A-tì-đàm, thầy giải thích nghĩa lí. Sư liền thông suốt tất cả lí sâu xa.
Bấy giờ mẹ sư nghe nhân dân nước Qui-tư cho rằng mình là con gái mà được hưởng quá nhiều lợi dưỡng, nên bà dẫn sư đến nơi khác.
Năm chín tuổi, sư theo mẹ vượt sông Tân-đầu đến nước Kế-tân gặp một pháp sư danh đức là Bàn-đầu-đạt-đa, là em họ của vua nước này. Ngài Bàn-đầu rất tinh thâm giáo lí, tâm lượng rộng lớn, tài giỏi, học rộng, thông suốt tam tạng cửu bộ, từ sáng đến trưa chép cả nghìn bài kệ; từ trưa đến chiều thì tụng thuộc cả nghìn bài kệ, nổi tiếng khắp các nước, xa gần đều tôn kính. Sư đến đỉnh lễ và theo ngài học Tạp tạng Trung A-hàm và Trường A-hàm gồm bốn trăm vạn lời. Bàn-đầu thường khen sư tài trí xuất chúng. Danh tiếng sư đến tai vua. Vua liền thỉnh vào cung, vân tậpngoại đạo, luận sư cùng nhau vấn nạn. Lúc đầu, ngoại đạo xem thường sư còn nhỏ tuổi, nên cao ngạo. Nhân cơ hội này, sư chiết phục họ. Họ xấu hổ, nuốt hận không nói được lời nào. Vua càng tôn kính sư, hằng ngày dùng lễ tiếp thượng khách nước ngoài gồm thịt ngỗng khô một con, ba thăng lúa, ba thăng bột mì, sáu thăng tô mà cung đãi sư. Vua cử năm vị tì-kheo và mười vị sa-di chăm sóc, tưới cây, quét dọn ngôi chùa mà sư đang trú ngụ. Những vị này hầu hạ sư giống như đệ tử hầu hạ thầy.
Năm mười hai tuổi, sư được mẹ đưa về nước Qui-tư. Các nước mời giữ tước vị cao nhưng sư từ chối. Sau đó bà dẫn sư đến Bắc Sơn, nước Nhục-chi. Tại đó, có một vị a-la-hán thấy sư khác thường, nên đến khuyên bà: “Bà hãy thường xuyên bảo hộ sa-di này. Đến năm ba mươi lăm tuổi, nếu không phá giới thì vị này sẽ làm hưng thạnh Phật pháp, độ vô số người, không khác gì Ưu-ba-quật-đa, nếu phá giới thì chi là pháp sư tài giỏi, xuất chúng mà thôi”.
Đến nước Sa-lặc, sư đội bình bát Phật và thầm nghĩ: “Bình bát rất lớn, sao lại nhẹ vậy!”. Bình bát liền trở nên nặng khiến sư không thể đội được nữa. Sư la lớn và hạ bát xuống. Thấy vậy, bà hỏi nguyên nhân. Sư đáp: “Tâm con phân biệt nên bát có nhẹ có nặng!”. Sư dừng lại nước này một năm. Mùa đông năm ấy, sư tụng làu thông các bộ luận A-tì-đàm. Những phẩm Thập môn, Tu trí không người chỉ dạy nhưng sư vẫnthấu đạt hết nghĩa lí nhiệm mầu, lại thông suốt Lục túc luận2.
Bấy giờ tam tạng sa-môn Hỉ Kiến nói với vua nước Sa-lặc: “Không nên xem thường sa-di này. Bệ hạ hãy thỉnh vị này khai diễn pháp môn, sẽ có hai lợi ích: một là những sa-môn trong nước sẽ hổ thẹn vì họ không bằng, nhất định sẽ cố gắng; hai là vua nước Qui-tư nhất định cho rằng: ‘La-thập được sinh ra ở nước ta mà được vua nước Sa-lặc tôn trọng thì cũng chính là tôn trọng ta!’. Nhất định vua sẽ cho người đến đây giao hảo”. Vua Sa-lặc chấp nhận, liền mở đại hội, thỉnh ngài La-thập thăng tòa thuyết kinh Chuyển pháp luân. Quả thật, vua nước Qui-tư sai sứ thần đến kết giao.
Sau thời thuyết pháp, lúc rảnh rỗi, ngài La-thập nghiên cứu những kinh sách ngoại đạo, nghiên cứu luận Vi-đàn-xá-đa3, rất giỏi văn từ, soạn thuật, vấn đáp; xem bốn bộ Vệ-đà và các luận ngũ minh; thông suốt âm dương, thiên văn; tinh thông cát hung, dự đoán rất phù hợp. Bản tính sư khoáng đạt. Ban đầu sư học Tiểu thừa, sau học Phương đẳng rồi than: “Xưa ta học Tiểu thừa giống như người không biết vàng cho đồng thau là quí”. Nhân đó sư nghiên cứu yếu nghĩavà học thông suốt Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận.
Không bao lâu, sư theo mẹ trở về nước Ôn-túc, ở biên giới phía bắc nước Qui-tư. Lúc đó, có một đạo sĩ thần thông xuất chúng, tiếng tăm vang các nước, đánh trống lớn phát thệ: “Ai luận bàn hơn ta, xin dâng thủ cấp để hậu tạ”. Sư dùng nghĩa Nhị đế kiểm xét, khiến đạo sĩ dứt trừ mê muội. Đạo sĩ đỉnh lễ, qui y sư. Thế là, thanh danh ngài vang khắp vùng Thông Tả đến vùng Hà ngoại.
Vua Qui-tư đích thân đến Ôn-túc nghinh đón sư trở về nước. Tại quê nhà, sư giảng nhiều bộ kinh, các lãnh đạo giới học thuật ở bốn phương không ai thắng nổi.
Bấy giờ mẹ sư là ni sư A-kiệt-da-mạt-đế từng xem qua rất nhiều kinh, đặc biệt thiền yếu sâu xa và đã chứng quả thứ hai. Khi nghe pháp, bà vui mừng hớn hở, liền thiết lập đại hội thỉnh sư khai thị các kinh Phương đẳng sâu xa. Sư bèn phân tích, giảng giải về yếu nghĩa các pháp đều là không, vô ngã. Năm ấm, mười tám giới đều giả danh, chăng thật. Bấy giờ đại chủng đều buồn bã xót xa, ân hận vì tỏ ngộ muộn màng.
Năm hai mươi tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở hoàng cung, theo tam tạng Tì-ma-la-xoa học luật Thập tụng. Sau đó không lâu, trước khi từ giã đến nước Thiên Trúc, bà tâu với vua Bạch Thuần:
- Nước nhà sắp suy, mẹ con muội phải đi đây!
Sau khi đến Thiên Trúc, bà chứng quả thứ ba.
Trước khi lâm chung, bà nói với sư:
- Giáo nghĩa Phương đẳng sâu xa nên xiển dương mạnh ở Trung Quốc, chỉ có con mới đủ năng lực, nhưng không có lợi cho bản thân. Ý con thế nào?
-Đạo Bồ-tát là lợi người quên mình. Nếu Đại thừa chắc chắn được lưu truyền giúp mọi người khai ngộ thì dù con có chịu những thống khổ trong lò than, vạc dầu cũng không ân hận._ Sư đáp.
Thế rồi, sư trụ tại chùa Tân, nước Qui-tư. Sau đó, trong cố cung cạnh chùa, đầu tiên sư tìm được kinh Phóng quang Bát-nhã. Sư mở ra đọc thì bị ma đến che hết chữ, chỉ thấy giấy trắng. Sư biết, liền phát nguyện kiên cố. Ma bỏ đi, chữ hiện ra. Nhân đó sư học thuộc, lại nghe trên hư không có tiếng vọng xuống:
- Ngài là người trí, cần gì đọc kinh này?
- Ngươi là tiểu ma. Hãy biến đi mau! Tâm ta vững chác như đất, không thể lay chuyển_ Sư đáp.
Ở đây ba năm, sư học thuộc nhiều kinh luận Đại thừa và thông suốt yếu chẻ sâu xa, bí mật Vua nước Qui-tư sai người làm tòa sư tử bảng vảng, trải thảm gấm nước Đại Tần, thỉnh sư thăng tòa thuyết pháp.
Sau đó, sư tâu vua:
- Thầy ta là Bàn-đầu-đạt-đa còn chưa ngộ Đại thừa, ta muốn đích thân đến hóa độ, nên không thể ở lại đây!
Chẳng bao lâu, đại sư Bàn-đầu-đạt-đa từ xa đến. Vua nói:
- Tại sao đại sư từ xa xôi hạ cố đến đây?
- Vì nghe đệ tử ta chứng ngộ Đại thừa, cũng nghe đại vương xiển dương, ca ngợi đạo Phật, nên ta từ phương xa vượt nhiều nguy hiểm đến đây._ Đạt-đa đáp.
Gặp lại thầy, sư rất vui mừng, thỏa mãn tâm nguyện và giảng kinh Đức nữ vấn, nội dung nói về nhân duyên là không, là giả; những nghĩa mà trước kia mình và thầy không tin.
- Con thấy Đại thừa có gì khác lạ mà mến mộ?_ Thầy hỏi sư.
- Đại thừa thâm diệu, thanh thịnh, nói rõ các pháp đều không. Tiểu thừa chấp trước, nhỏ hẹp, thường kẹt vào danh tướng.
- Con nói tất cả pháp đều không. Thật đáng sợ! Sao dám bỏ cỏ mà chuộng không? Giống như thuở xưa có kẻ cuồng bảo người thợ dệt cho anh ta những sợi tơ vô cùng nhỏ. Anh thợ gia công dệt những sợi tơ nhỏ như vi trần. Kẻ cuồng túc giận cho là sợi tơ cònthô lớn. Anh thợ phẫn nộ mới chỉ lên hư không và nói:
- Đây là sợi tơ mỏng.
- Sao tôi không thấy?
- Sợi tơ này rất nhỏ, những thợ giỏi của tôi còn không thấy, huống gì người khác!
Kẻ cuồng rất vui mừng, trả tiền công cho anh thợ; anh thợ cũng giả bộ trao sợi tơ cho kẻ cuồng. Cả hai đều được trọng thưởng mà thật thì không có vật nào cả. Pháp không mà con nói cũng như thế?
Sư liền dùng những dẫn chứng liên quan để trình bày, thiết tha giảng nói nhiều lần; hơn một tháng, Đạt-đa mới tin phục rồi than thở:
- Làm thầy mà không thông đạt, trái lại phải nhờ đệ tử khai tâm ý; bằng chứng là đây!
Thế là Bàn-đầu-đạt-đa đỉnh lễ sư tôn làm thầy và nói:
- Hòa thượng là thầy Đại thừa của ta. Ta là thầy Tiểu thừa của hòa thượng.
Các nước Tây Vực đều kính phục trí tuệ siêu phàm của ngài La-thập. Mỗi lần giảng kinh, các vua đều quỳ bên tòa để ngài bước lên người họ mà thăng tòa. Ngài đã truyền bá giáo nghĩa Đại thừa khắp Tây Vực, danh truyền đến Đông Xuyên.
Lúc đó, Phù Kiên tiếm xưng đế hiệu ở Quan Trung. Một hôm, Tiền Bộ vương ở nước ngoài và em vua nước Qui-tư cùng đến triều, tâu với Phù Kiên rằng:
- Vùng Tây Vực có nhiều của báu lạ, xin đem binh đến an định để thu phục về nước ta!
Tháng giêng năm Đinh Sửu, niên hiệu Kiến Nguyên thứ 13 (377) đời Phù Kiên, quan Thái sử tâu vua:
- Có ngôi sao xuất hiện ở địa phận nước ta, sẽ cỏ bậc đại đức trí tuệ đến giúp nước.
- Trẫm nghe Tây Vực có Cưu-ma-la-thập, Tương Dương có sa-môn Đạo An, phải chăng là những vị này? Vua Phù Kiên nói và liền sai sứ đi tìm.
Đến tháng hai niên hiệu Kiến Nguyên mười bảy
(381) , Thiện Bộ vương và Tiền Bộ vương, v.v... lại thuyết phục Phù Kiên đem quân chinh phạt phương tây.
Tháng chín niên hiệu Kiến Nguyên mười tám
(382) , Phù Kiên sai Phiêu kị tướng quân Lã Quang và Lăng Giang tướng quân Khương Phi cùng Tiền Bộ vương, Xa Sư vương v.v... dẫn bảy vạn quân tiến về phía tây đánh nước Qui-tư và Ô-kỳ.
Khi sắp xuất quân, trong bữa tiệc tiễn chân tại cung Kiến Chương, Phù Kiên nói với Lã Quang:
- Đế vương thuận theo trời mà trị nước, lấy việc thương yêu bá tính như con làm gốc, chỉ vì mong cầu người đạt đạo, đâu phải tham đất đai của người mà đi chinh phạt! Trẫm nghe Tây Vực có Cưu-ma-la-thập hiểu sâu pháp tướng, rất giỏi qui luật âm dương, là tông tượng cho người học đời sau. Trẫm rất muốn có được người này. Bởi bậc hiền triêt là của báu của đất nước. Nếu chiếm được nước Qui-tư, khanh hãy nhanh chóng rước La-thập về đây!
Khi quân Lã Quang chưa đến, sư nói với vua nước Qui-tư là Bạch Thuần:
- Vận nước đang suy, sẽ có nước giàu mạnh xâm chiếm. Chiều tối nay, có người từ phương đông đến, đại vương nên kính thuận theo, chớ kháng cự với đội quân của họ!
Vua Bạch Thuần không nghe theo mà giao chiến với Lã Quang. Lã Quang đánh bại Qui-tư, giết Thuần, lập em Thuần lên ngôi.
Lã Quang bắt được ngài La-thập, nhưng chưa biết trí lượng của ngài, thấy còn trẻ, cho là người tầm thường nên đùa với ngài. Trên đường trở về, Lã Quang đóng quân ở chân núi. Khi tướng sĩ đã nghỉ ngơi, sư can gián:
- Không thể đóng quân nơi này! Nếu đóng, ắt bị khốn đốn, nên dời quán đến vùng cao kia!
Lã Quang không nghe. Đến đêm, quả thật trời mưa rất lớn, nước lũ dâng lên mấy trượng, làm chết vài nghìn người. Lã Quang mới thầm xem trọng sư.
Sau đó, Sư nói với Quang:
- Đây là vùng đất chết, không nên ở lâu. Tính theo vận số của ngài, nên mau chóng trở về; giữa đường nhất định gặp vùng đất tốt thì có thể dừng chân. Lã Quang nghe theo.
Khi đến Lương châu thì được tin Phù Kiên bị Diêu Trường giết hại. Tất cà binh tướng của Lã Quang đều cử hành lễ tang tại phía nam thành Đại Lâm. Sau đó, Lã Quang tự xưnậ vương, lập quốc, lên ngôi lấy niên hiệu Đại An, chiếm cứ một vùng Quan Ngoại rộng lớn.
Vào tháng giêng niên hiệu Đại An thứ hai (387), Cô Tang có gió lớn. Sư đoán: “Cơn gió này bất tường, sẽ có kẻ gian phản nghịch; nhưng chẳng nhọc, đánh dẹp sẽ tự yên ổn!”, về sau, mọi người mới thấy lời tiên đoán của sư là đúng. Sư dừng chân ở Lương châu nhiều năm, nhưng cha con Lã Quang không có tâm hoàng đạo, nên sư không có cơ hội thuyết giảng những nghĩa lý thâm diệu, còn Phù Kiên thì đã băng, không thể gặp mặt. Đến lúc Diêu Trường tiếm vị ở Quan Trung, vì đã nghe danh tiếng của sư, chí thành mời thỉnh. Cha con Lã Quang biết sư đa mưu túc trí, sợ bày kế cho Diêu Trường nên không cho sư vào Quan Trung. Đến khi Diêu Trường băng, con là Diêu Hưng lên ngôi, mới sai người khẩn thỉnh ngài.
Tháng ba, niên hiệu Hoàng Thi thứ ba (401), trước sân miếu29 mọc lên cây Liên lý, cây hành trong vườn Tiêu Dao biến thành cỏ thơm. Mọi người cho là điềm lành sẽ có bậc hiền trí vào nước. Tháng năm, Diêu Hưng sai Lũng Tây công Thạc Đức đem quân sang phía tây đánh Lã Long. Quân Lã Long đại bại. Đến tháng chín, Lã Long dâng biểu qui hàng, Diêu Hưng mới đón được ngài La-thập vào Quan Trung.
Đến ngày hai mươi tháng mười hai năm đó, ngài La-thập đến Trường An. Diêu Hưng tiếp đãi ngài như Quốc sư và rất tôn kính. Khi luận đàm đối đáp thì vua giữ sư lại suốt ngày; khi nghiên cứu nghĩa lí sâu xa thì cả năm mà không mỏi mệt. Từ khi Phật pháp truyền qua phương đông, bắt đầu từ Hán Minh đế, trải qua đời Ngụy, đời Tấn, kinh luận dần dần thêm nhiều, nhưng những bản kinh đó Chi Trúc dịch
thường kẹt vào văn từ, cách xa nghĩa lí. Khi còn nhỏ, Diêu Hưng đã tôn sùng Tam bảo, luôn để tâm vào việc giảng kinh thuyết pháp. Nhân dịp sư đến, Diêu Hưng thinh ngài trụ ở Tây. Minh các và vườn Tiêu Dao dịch kinh. Sư thuộc lòng rất nhiều kinh và nghiên cứu rất tường tận nên khi chuyển qua tiếng Trung Quốc, văn từ rất lưu loát. Do xem qua những bản kinh Cựu dịch, thấynghĩa lí có nhiều chỗ sai lầm, người dịch đánh mất ý chỉ, không tương ứng với bản Phạn, nên Diêu Hưng cử hơn tám trăm vị sa-môn: Tăng Lược, Tăng Thiên, Pháp Khâm, Đạo Lưu, Đạo Hằng, Đạo Tiêu, Tăng Duệ, Tăng Khải v.v... theo sư học tập. Sau đó Diêu Hưng thỉnh sư dịch lại kinh Đại phẩm. Bấy giờ, ngài La-thập cầm bản kinh chữ Phạn dịch ra văn Hán, Diêu Hưng cầm bản Cựu dịch đối chiếu, thì thấy bản kinh mới dịch văn từ đã khác biệt, mà nghĩa lí lại càng viên mãn. Mọi người đều kính phục, vui mừng, ca ngợi.
Diêu Hưng cho rằng lý đạo Phật sâu xa, về hạnh chỉ thuần là thiện, đúng là bến bờ đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ, là phép tắc to lớn để trị thiên hạ; cho nên chuyên ý nơi chín kinh, dốc lòng trong mười hai thể loại, rồi trước tác luận Thông tam thế để chỉ rõ lý nhân quả. Các vương gia, công hầu trở xuống đều khâm phục và ca ngợi. Đại tướng quân Thường Sơn công là Diêu Hiển và Tả tướng quân An Thành Hầu là Diêu Tung cũng đều tin sâu duyên nghiệp, nhiều lần thỉnh sư đến Đại tự ở Trường An giảng thuyết những bộ kinh mới dịch. Sau đó sư tiếp tục dịch hơn ba trăm chín mươi bộ kinh luận Tiểu thừa và Đại thừa. Tất cả đều nêu rõ nguồn tâm và phát huy nghĩa lí sâu mầu.
Bấy giờ những nghĩa sĩ bốn phương đều vân tập, đại nghiệp rộng lớn lâu bền ngày nay mới được thấy. Những đạo tục tài đức khắp nơi như Thích Tuệ Viễn, v.v... thông suốt các kinh, là rường cột của Phậtpháp, nhưng do cách Phật đã lâu, những nghi vấn chưa giải quyết được, cũng gởi thư đến tham vấn. Phàm yết kiến quốc vương nhất định có lời tán dương đức hạnh; thấy tượng Phật thì dùng ca tụng làm quí. Những bài kệ tụng trong kinh đều theo phép tắc đó, nhưng khi dịch sang ngôn ngữ Trung Quôc thì mất vẻ hoa mỹ; tuy được đại ý nhưng đánh mất văn phong. Giống như nhai cơm rồi đem cho người, chẳng những mất mùi vị mà còn làm người nôn mửa.
Sư từng làm bài tụng tặng sa-môn Pháp Hòa:
Núi tâm nuôi đức sáng
Thấm nhuần vạn do-tuần
Chim loan đậu ngô đồng
Tiếng trong thấu trời xanh.
Sư làm mười bài kệ, ngôn từ đều giống như thế. Sư rất mến mộ Đại thừa, quyết chí xiển dương, thường than: “Nếu ta hạ bút viết luận Đại thừa tuy chẳng thể so sánh với Ca-chiên-diên tử, nhưng tại nước Tần, ít người có kiến thức sâu xa, nên gác bút ở đây, biết bàn luận điều gì?”. Sư đành xót xa không soạn luận.
Sư vì vua Diêu Hưng mà trước tác luận Thật tướng hai quyển và chú giải kinh Duy-ma, xuất ngôn thành văn, không cần sửa bỏ, ngôn từ giản lược mà hoa mĩ, hàm chứa ý chỉ sâu xa. Sư là người có tâm trong sáng, tài năng xuất chúng, lại tùy cơ lĩnh hội, không ai sánh bằng. Sư có bản tính thật thà nhân hậu,thương xót mọi loài, hết lòng dạy người không biết mệt mỏi. Diêu Hưng từng nói: “Đại sư thông minh xuất chúng, thế gian chẳng có người thứ hai. Nếu mai sau thị tịch, e rằng không người thừa kế Phật pháp!”.
Bấy giờ nghe sư ở Trường An, tì-kheo Bôi Độ tại Bành Thành mới than: “Ta và người này vui đùa, xa cách hơn ba trăm năm rồi, biệt tăm chưa từng gặp lại, đợi gặp nhau ở kiếp sau!”.
Trước khi mạng chung, sư biết thân tứ đại không khỏe nên phát nguyện:
- Nguyện những kinh luận ta phiên dịch được lưu truyền đời sau, mọi người hãy cùng nhau hoằng dương. Nay trước đại chúng, ta phát nguyện chí thành: “Nếu những bản dịch của ta không sai ý chỉ của Đức Phật thì sau khi hỏa táng, lưỡi ta không bị thiêu cháy”. Đến ngày hai mươi tháng tám niên hiệu Hoằng Thi thứ mười một (409) đời Diêu Tần, nhằm niên hiệu Nghĩa Hi thứ năm đời Tấn, sư thị tịch tại vườn Tiêu Dao ở Trường An. Mọi người y theo cách thức nước ngoài mà hỏa táng. Sau khi trà tì, thi thể cháy hết, nhưng lưỡi còn nguyên.
17.3.2. Đời Tống, Thích Pháp Hiển ở chùa Tân, Giang Lăng: Sư họ Cung, người xứ Vũ Dương, Bình Dương. Sư rất thông minh, sống đúng oai nghi phép tắc của sa-môn. Sư thường cảm khái bởi việc kinh luật có chỗ thiếu sót, sai lầm, nên có ý muốn tìm cầu chính bản.
Niên hiệu Long An thứ ba (399) đời Đông Tấn, sư cùng với những bạn đồng học như: Tuệ Cành, Đạo Chinh, Tuệ ứng, Tuệ Ngôi v.v... phát tâm đi từ Trường An đến Tây Vực. Khi qua sa mạc, nơi không có chim bay, thú chạy, cả một vùng mênh mông, không biết đang ở đâu, chỉ nhìn mặt trời để định phương hướng, theo xương người rơi vãi để lần theo đường đi. ở đây thường có gió nóng và ác ma, ai gặp thì nhất định phải chết. Sư tùy duyên phó thác cho số mạng mà vượt qua hiểm nạn. Không bao lâu, sư đến ngọn Thông Lãnh. Mùa đông, mùa hạ ở đây đều có tuyết, lại có rồng dữ phun gió độc, tuôn mưa cát đá. Đường núi cheo leo hiểm trở, vách núi dựng đứng cao chót vót, xưa người ta đục núi để thông đường, lại tạo các bậc đá để đi. Sư vượt qua hơn bảy trăm chỗ như thế, lại căng dây vượt qua mười con sông, nơi mà Trương Mạch, Cam Phụ nhà Hán chưa bước chân đến. Sau đó, họ qua Tuyết sơn, gặp gió lạnh nổi lên dữ dội. Tuệ Cảnh bị lạnh cóng không thể bước đi dược, nên nói với sư: “Tôi đành chịu chết. Ngài cứ đi tiếp, chớ để chúng ta cùng chết ở đây!”. Dứt lời, Tuệ Cảnh qua đời.
Sư ôm người Cảnh và khóc: “ý nguyện chưa thành mà ông đã ra đi, là sao?”. Thế là một mình sư tiếp tục vượt qua núi hiểm trở này. Trải qua hơn bốn mươi nước, khi sắp đến Thiên Trúc, còn cách thànhVương Xá hơn ba mươi dặm, thấy một ngôi chùa, sư tá túc qua đêm nơi đó. Sáng hôm sau, sư muốn đến núi Kì-xà-quật, nhưng chư tăng trong chùa ngăn:
- Đường đến đó rất nguy hiểm lại có nhiều sư tử hung dữ, từng ăn thịt người. Ngài làm sao đến đó được?
- Tôi từ xa lặn lội mấy vạn dặm đến đây, nguyện được vào Linh Thứu. Cái chết không hẹn trước, mạng người chi trong hơi thở, đã đến được đây rồi, há lại bỏ đi tâm thành bấy lâu nay sao? Vì thế, dù có nguy hiểm gian nan đến đâu tôi cũng không sợ_ Sư đáp.
Mọi người không ngăn được sư, bèn sai hai vị tăng dẫn đường. Khi đến núi thì mặt trời sắp lặn, sư muốn nghỉ qua đêm ở đó. Hai vị tăng thấy nguy hiểm, sợ hãi nên xin phép trở về trước. Ở lại một mình trong núi, sư đốt hương lễ bái, vô cùng cảm động trước dấu tích xưa giống như thấy được dung nhan của Đức Phật. Đêm đến, có ba con sư tử rất hung dữ đến ngồi trước mặt sư, liếm môi, vẫy đuôi. Sư vẫn tụng kinh không dừng, nhất tâm niệm Phật. Sư tử cúi đầu, cụp đuôi, nằm phục bên chân sư. Sư lấy tay vuốt đầu nó và nói:
- Nếu ngươi muốn hại ta thì đợi ta tụng kinh xong, còn như muốn thử ta thì nên lui ra!
Một lát sau, chúng bỏ đi.
Sáng hôm sau, sư quay trở về thì chung quanh bít bùng, cây cối chằng chịt, chỉ còn một lối nhỏ. Sư theo đó, đi chưa được một dặm, bỗng gặp một vị đạo nhân khoảng chín mươi tuổi, hình dáng và y phục mộc mạc thô sơ, nhưng thần khí siêu tuyệt, khác hẳn người thường. Tuy biết vị này cốt cách phi phàm, nhưng sư không biết đó là bậc thánh. Sau gặp một vị tăng trẻ, sư hỏi:
- Trưởng lão lúc nãy tôi gặp là ai?
- Đó là đầu-đà Ca-diếp, đệ tử ưu tú của Đức Phật_ Vị tăng đáp.
Nghe vậy, sư vô cùng hối tiếc, vội quay lại thì thấy khối đá chắn ngang cửa thất, nên không thể vào được. Sư đành gạt lệ quay về. Khi sư đến nước Ca-thi, nước này có con rồng tai trắng, nó từng giao ước với chúng tăng là giúp đất nước mùa màng bội thu, rất linh nghiệm. Vì thế các sa-môn lập phòng xá và tổ chức trai hội cầu phúc cho nó. Mỗi năm, sau mùa an cư, nó hóa thành con rắn nhỏ tai trắng. Đại chúng đều biết đó là rồng, nên đặt nó vào trong cái chậu đầy sữa lạc. Từ thượng tọa đến hạ tọa đi ngang qua cúi đầu như đang hỏi thăm. Đợi tất cả đại chúng qua hết, nó mới chịu biến mẩt. Mỗi năm nó ra khỏi phòng một lần. Sư cũng thấy việc này.
Sau đó sư đến chùa Thiên Vương phía nam tháp vua A-dục, ấp Ba-liên-phất, nước Ma-kiết-đề thuộc Trung Thiên Trúc thỉnh được bộ luật Ma-ha tăng-kì- Bần đạo xả thân đến nơi nguy hiểm khó trở về. Với chí nguyện hoằng dương Phật pháp, khi nào chưa thực hiện xong thì không thể dừng lâu ở bất cứ nơi đâu.
Thế là sư đi về hướng nam đến kinh đô. Tại chùa Đạo Tràng, sư cùng với thiền sư Phật-đà-bạt-đà dịch kinh luật luận, tổng cộng hơn trăm vạn lời. Bộ kinh Đại Nê-hoàn do sư dịch được lưu hành rộng rãi, mọi người đều biết đến.
Có một gia đình không rõ họ tên, ở gần cửa Chu Tước, nhiều đời tin kính Phật pháp. Họ chép kinh Nê-hoàn này và đọc tụng cúng dường. Nhưng vì không có nhà cất kinh riêng nên để chung với sách thế tục. Một hôm, ngôi nhà đó cháy, tất cả tài sản đều thành tro, chỉ có bộ kinh Nê-hoàn vẫn còn nguyên vẹn. Sự việc này lan truyền khắp kinh đô, mọi người đều ca ngợi là thần diệu.
Về sau, sư đến Kinh châu và viên tịch ở chùa Tân, thọ 86 tuổi. Đại chúng rơi lệ thương tiếc. Các nước mà sư đã đi qua đều có ghi ở Đại truyện.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
06/11/2015
PUCL QUYỂN 24 - CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP
QUYỂN 24 Quyển này tiếp theo chương Nghe pháp và giảng pháp. 16. CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP (tt) 16.5. PHÂN BIỆT CHỦNG Khi thăng tòa, trước tiên vị pháp sư phải lễ kính Tam bảo, lắng tâm, quan sát thời cơ và xác định...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ
QUYỂN 23 Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp. 14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn) 14.1. LỜI DẪN Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi;...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO
QUYỂN 22 Quyển này có một chương Nhập đạo. 13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO 13.1. LỜI DẪN Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN
QUYỂN 21 Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian. 10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN 10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo....
06/11/2015
PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ
QUYỂN 20 Quyển này có một chương Kính lễ. 9. CHƯƠNG KÍNH LỄ 9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 19 - CHƯƠNG KÍNH TĂNG
QUYỂN 19 Quyển này có một chương Kính tăng. 8. CHƯƠNG KÍNH TĂNG 8.1. LỜI DẪN Tăng bảo là những bậc trì giới cấm, giữ chân tính, oai nghi thoát tục. Họ cầu xuất thế mà phát tâm, lìa thế gian mà học đạo, không động lòng tr...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 18 Quyển này tiếp theo chương Kính pháp. 7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt) 7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉ...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 17 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT - KÍNH PHÁP
QUYỂN 17 Quyển này gồm chương Kính Phật tiếp theo chương Kính pháp. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt) 6.7. PHỔ HIỀN LINH CẢM 6.7.1. Đời Tống, thái hậu Lộ Chiêu: Niên hiệu Đại Minh thứ tư (450), thái hậu Lộ Chiêu tạo tượng bồ-tát...
