PUCL QUYỂN 24 - CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP
06/11/2015
QUYỂN 24 Quyển này tiếp theo chương Nghe pháp và giảng pháp. 16. CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP (tt) 16.5. PHÂN BIỆT CHỦNG Khi thăng tòa, trước tiên vị pháp sư phải lễ kính Tam bảo, lắng tâm, quan sát thời cơ và xác định...

QUYỂN 24
Quyển này tiếp theo chương Nghe pháp và giảng pháp.
16. CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP (tt)
Nếu người nói tôn trọng pháp, ngưởi nghe cũng có lòng sùng kính, chí tâm lắng nghe, không khinh thường; đó là thanh tịnh giảng pháp. Vì thế kính A-hàm có bài kệ:
Người nghe chăm chú như khát nước
Ngôn từ, nghĩa lí khắc vào tâm
Lòng phấn chấn, buồn vui lẫn lộn
Thuyết cho người này chẳng luống công.
Luật Ngũ phần ghi:
- Khởi tâm trừ tham dục, tâm không tự xem thường mình, tâm không xem thường người khác, tâm từ, tâm hỉ, tầm muốn làm lợi ích cho người, tâm bất động, thì dù chỉ giảng nói một bài kệ bốn câu khiến người nghe hiểu đúng như thật, người này được an vui lâu dài, lợi ích vô lượng.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Nếu có người thụ trì, đọc tụng, ghi chép những giảng dạy kinh Phật không đúng thời, không đúng chỗ, không người thỉnh mà thuyết, có tâm khinh thường pháp, chê người, khen mình, giảng pháp khắp mọi chỗ. Đó là hủy diệt Phật pháp và làm cho vô số người sau khi chết phải đọa địa ngục, thì đó là ác tri thức của chúng sinh.
Luật Thập tụng ghi:
- Có năm hạng người sau đây hỏi pháp thì không nên giảng: một là người hỏi thử, hai là người không nghi, ba là người không vì hối hận vê tội lỗi đã tạo, bốn là người hỏi không lắng nghe, năm là người hỏi vặn.
- Nếu người thật có lòng tốt, không có những ý nói trên, chỉ vì muốn khởi tâm thiện, trừ bỏ tâm ác, thìpháp sư nên tùy căn cơ mà dùng phương tiện và hoan hỉ giảng nói cho họ nghe. Nếu pháp sư hiểu chưa thấu đáo hoặc còn nghi ngờ, thì không được giảng nói cho họ, vì sợ rằng người giảng mắc lỗi truyền dạy sai lầm, khiến cả hai đều mắc tội.
Kinh Bách dụ và luận A-tì-đàm ghi:
- Hỏi đáp có bốn loại phân biệt luận:
1. Quyết định đáp: Như cho rằng: “Tất cả mọi người hiện hữu đều phải chết”.
2. Phân biệt đáp luận: Như nói: “Có tử ắt có sinh, dứt ái thì không sinh, có ái ắt có sinh”.
3. Phản vấn đáp luận: Như có người hỏi: “Loài người là tối thắng phải không?”. Người kia hỏi ngược lại: “Ông hỏi là đối với ba ác đạo hay đối với chư thiên? Nấu hỏi về ba ác đạo thì loài người thật sự là tối thắng, nếu hỏi về chư thiên thì con người nhất định không bằng”.
4. Trí đáp luận: Như có người hỏi về các nghĩa: “Mười bốn nạn, hoặc hỏi thế giới và chúng sinh hữu biên hay vô biên, có bắt đầu và kết thúc hay là không?” thì người đáp không cần trả lời.
Các ngoại đạo ngu si, tự cho là có trí tuệ, chẳng thông suốt bốn loại luận môn, chỉ sử dụng một môn Phân biệt luận.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi:
- Đức Phật dạy: “Người trụ đúng pháp thì có khả năng tự lợi lẫn lợi tha. Người trụ không đúng pháp thì không thể tự lợi và lợi tha. Người trụ đúng pháp có tám trí:
1. Pháp trí.
2. Nghĩa trí.
3. Thời trí.
4. Tri túc trí.
5. Tự tha trí.
6. Chúng trí.
7. Căn trí.
8. Thượng hạ trí.
Người có đầy đủ tám trí này, hễ nói điều gì thì đều có đủ mười sáu yếu tố:
1. Hợp thời.
2. Chí thành.
3. Có thứ tự.
4. Hòa hợp.
5. Thuận nghĩa lí.
6. Vui vẻ.
7. Thuận ý người.
8. Không xem thường mọi người.
9. Không trách mắng mọi người.
10. Đúng pháp.
11. Tự lợi và lợi tha.
12. Không tán loạn.
13. Hợp nghĩa.
14. Chân chính.
15. Không kiêu ngạo.
16. Không cầu phúc báo đời sau.
Mọi người nên nghe theo lời giảng của những người có đầy đủ mười sáu yếu tố trên”.
Kinh ưu-bà-tắc lại ghi: “Khi người nghe pháp, phải có mười sáu yếu tố:
1. Đúng lúc.
2. Ưa thích.
3. Chí tâm.
4. Cung kính.
5. Không vạch tìm lỗi pháp.
6. Không vì bàn luận.
7. Không vì hiếu thắng.
8. Không xem thường pháp sư
9. Không xem thường pháp.
10. Không tự khinh mình.
11. Muốn xa lìa ngũ cái2.
12. Vì muốn thụ trì và đọc tụng.
13. Vì dẹp trừ ngũ dục.
14. Để lòng tin kiên cố.
15. Để biết mà dạy bảo chúng sinh.
16. Để dứt trừ sự ngu dốt.
Này thiện nam! Người đủ tám trí thì có khả năng nói và nghe pháp, đồng thời có thể làm lợi mình và lợi người.
Lại có hai hạng người giảng pháp: chẳng thanh tịnh và thanh tịnh. Người chẳng thanh tịnh có năm mục đích khi giảng pháp:
1. Vì lợi dưỡng.
2. Vì muốn được báo đền.
3. Vì muốn hơn người khác.
4. Vì muốn quả báo thế gian.
5. Vì còn nghi ngờ.
Người thanh tịnh có năm mục đích khi giảng pháp:
1. Trước bố thí thức ăn, sau mới giảng pháp.
2. Vì muốn hoàng dương Tam bảo.
3. Vì muốn mình và người nghe đoạn trừ phiền não.
4. Vì muốn người nghe phân biệt tà chính.
5. Vì muốn người nghe được lợi ích tối thắng.
Này thiện nam! Người giảng pháp bất tịnh gọi là cấu uế, là bán pháp, cũng gọi là bỉ ổi, là nói pháp sai lầm, mất trí. Người giảng pháp thanh tịnh thì ngược lại”.
Kinh Phápcú thí dụ có bài kệ:
Tuy tụng đến nghìn chương
Mà câu nghĩa không đúng
Không bằng biết nghĩa chính
Nghe rồi tâm thanh tịnh.
Tuy tụng đến nghìn lời
Vô nghĩa có ích gì
Không bằng nghe một nghĩa
Làm theo được giải thoát.
Tuy thường tụng kinh điển
Không hiểu, có ích gì
Chẳng bằng hiểu một câu
- Khi pháp sư sắp giảng pháp, nếu người thụpháp muốn trì chú không gián đoạn, thì trước tiên phải ngồi ngay thẳng tụng chú: Đát-điệt-tha a-ca-na a-ca-giới-ca-na ca-na-ca na-na-ca ca-ca-na-ca a-ca-ca-na-ca-ca-na-a-ca-na-ca-ca-na-dạ-tha-bà-tị-sát-đế dạ-tha-già-già-na đa-tha-bà-tị-sát-đế đa-tha-ma-ca-xá na-ca-xá na-ca-na-ca-ca-xá
Bấy giờ đại chúng trong pháp hội liền thành tựu phương tiện gia hộ của thần chú này. Lúc đó tâm pháp sư chẳng loạn động, nói pháp không gián đoạn, diệt trừ dục chấp, đồng thời khiến đại chúng không bị các la-sát nữ làm chướng ngại; pháp sư cần gì đều được đáp ứng.
16.6. TIỆM VÀ ĐỐN
Kinh Bách dụ ghi:
- Xưa kia, tại một ngôi làng cách kinh thành nước nọ năm do-tuần có một nguồn nước rất ngon ngọt. Nhà vua ra lệnh cho dân làng hàng ngày phải dâng nước lên vua. Mọi người trong làng rất vất vả việc ấy, nên đều muốn bỏ làng ra đi. Bấy giờ, trưởng làng bảo mọi người:
- Dân làng đừng bỏ đi! Tôi sẽ tâu vua xin sửa khoảng cách năm do-tuần thành ba do-tuần, để mọi người mang nước đi lại gần hơn, bớt mệt nhọc hơn.
Ông ta liền vào cung tâu và nhà vua liền ra lệnh sửa thành ba do-tuần. Khi nghe tin này, dân làng rất vui mừng. Sau đó, có người bảo: “Con đường này cũng vẫn năm do-tuần, đâu có khác gì”. Tuy nghe lời này, nhưng vì quá tin vào lời của vua, nên họ vẫn không chịu bỏ đi.
Người đời cũng như thế, khi tu hành chính pháp để vượt khỏi năm đường, hướng đến thành Niết-bàn, họ thường mệt mỏi, muốn bỏ việc tu tập, dừng nơi bờ sinh tử,
không tiến tu nữa. Đức Như Lai Pháp Vương có nhiều phương tiện, tùy căn cơ chúng sinh mà chia một thừa thành ba thừa để giảng dạy. Người căn cơ Tiểu thừa nghe pháp ấy rất vui mừng, cho là dễ thực hành, liền tu thiện, thăng trường đạo đức để vượt thoát sinh tử. về sau, họ nghe người khác nói không có ba thừa, chỉ có một thừa. Nhưng vì tin lời Phật giảng trước đó, nên họ không chịu bỏ quan niệm cũ. Như thế, họ cũng giống như những người trong làng kia.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Này Phật từ! Ví như mặt trời mọc, trước hết chiếu đến tất cả những ngọn núi chúa, rồi chiếu nhừng ngọn núi lớn; kế đến chiếu đến các núi báu kim cương, sau đó mới chiếu khắp mặt đất. Ánh sáng mặt trời không nghĩ: ‘Trước tiên, ta phải chiếu hết các ngọn núi chúa, rồi sau dó dần dần mới chiếu khắp mặt đất'. Nhưng bởi núi và mặt đất cao thấp khác nhau, nên có sự chiếu sáng trước và sau. Đúc Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chính Giác cũng như thế, thành tựu mặt trời trí tuệ vô lượng vô biênpháp giới, thường phóng vô lượng ánh sáng tri tuệ vô ngại, đầu tiên chiếu đến các ngọn núi chúa lá các Bồ-tát. Kế đó chiếu đến hàng duyên giác, rồi đến thanh văn; sau đó chiếu đến các chúng sinh có căn lành kiên cố, tùy tâm ưa thích mà nhận sự giáo hóa. Sau là chiếu đến tất cả chúng sinh, ngay cả chúng sinh tà định. Tất cả đều là nhân duyên lợi ích cho chúng sinh đời vị lai. Tuy vậy mặt trời trí tuệ Như Lai không nghĩ: ‘Trước tiên, ta sẽ chiếu hết đến bồ-tát v.v.. cho đến chúng sinh tà định’ mà bình đẳng phóng ánh sang trí tuệ rực rỡ chiếu khắp tất cả.
Này Phật tử! Giống như mặt trời, mặt trăng chiếu khắp nơi, ngay cả núi sâu cùng cốc. Cũng thế. mặt trời trí tuệ cùa Như Lai chiếu khắp tất cả. Nhưng: vì sự mong cầu cũng như căn lành cùa chúng sinh không giống nhau nên họ thấy ánh sáng trí tuệ của Như Lai khác nhau”.
16.7. PHÁP THÍ
Luận Thập trụ Tì-bà-sa ghi:
- Nếu bồ-tát muốn bố thi pháp cho chúng sinh thì nên y theo kinh Quyết định vương Đại thừa mà ca ngợi công đức pháp sư và tùy thuận tu học theo pháp nghĩa mà pháp sư đã nói. Nghĩa là pháp sư nên làm bốn việc:
1. Học rộng hiểu nhiều, nắm rõ tất cả ngôn từ, chương cú.
2. Quyết định biết rõ tướng sinh diệt của các pháp thế gian và xuất thế gian.
3. Đạt thiền định, trí tuệ thuận theo kinh pháp, không còn tranh luận.
4. Tu tập đúng lời nói, không thêm không bớt.
Kinh Chính pháp niệm ghi:
- Nếu có chúng sinh chân chính tu tập nghiệp thiện, nói một bài kệ cho người tà kiến nghe, khiến họ khởi lòng tin sâu nơi Phật thì khi qua đời người này sẽ sinh vào cõi trời ứng Thanh hưởng thụ mọi niềm vui. Sau đó người ấy lại tùy nghiệp mà lưu chuyển. Nếu người nào thuyết pháp vì tiền của, không vì lòng từ bi muốn làm lợi ích cho chúng sinh, nhận tiền để uống rượu hoặc ăn uổng chung với phụ nữ; điều này cũng giống như kỹ nữ bán thân lấy tiền, pháp thí này rất ít phúc báo, chỉ được sinh lên trời làm loài chim thông minh biết nói kệ. Đó là pháp thí bậc hạ.
Thế nào là pháp thí bậc trung? Đó là thuyết pháp vì danh tiếng, vì muốn hơn người, vì muôn hơn các đại pháp sư khác, hoặc thuyết pháp với tâm ganh tị. Loại pháp thí như thế cũng được phúc báo nhỏ, chỉ được sinh lên trời hưởng quả báo bậc trung, hoặc sinh làm người.
Thế nào tà pháp thí bậc thượng? Đó là thuyết pháp với tâm thanh tịnh, vì muốn tăng trưởng trí tuệ cho chúng sinh, vì muốn giúp cho chúng sinh tà kiến an trụ trong chính pháp, không vì lợi dưỡng. Loại pháp thí này lợi mình lẫn lợi người, là cao thượng nhất, được phúc báo vô tận, cho đến chứng đắc Niết-bàn.
Kinh Ca-diếp ghi:
“Bấy giờ, Đức Phật nói kệ:
Đem tất cả châu bàu
Đầy tam thiên thế giới
Bố thí cho chúng sinh
Chỉ được ít cộng đức.
Nếu giảng một bài kệ
Được công đức rất nhiều.
Đem những món vui chơi
Đầy ba cõi bố thí
Không bằng nói bài kệ
Được công đức thù thắng.
Công đức này hơn kia
Giúp người lìa khổ đau ■
Hoặc đem nhiều châu báu
Đầy khắp hà sa cõi
Cúng dường các Đức Phật
Đâu bằng dùng pháp thí.
Thi bàu, tuy phúc nhiều
Sao bằng dùng pháp thí.
Một kệ còn như thế
Huống gì thí nhiều kệ?
Luận Thập trụ tì-bà-sa ghi:
- Người tại gia nên thực hành tài thí, người xuất gia nên thực hành pháp thí. Tại sao? Vì người tại gia bố thí pháp không thuận lợi bằng người xuất gia, bởi lòng tin của người nghe pháp đối với người tại gia cạn mỏng hơn đối với người xuất gia. Người tại gia chỉ có nhiều tiền của. còn người xuất gia thì đọc tụng thông suốt kinh điển và giảng giải giữa đại chúng mà không sợ sệt. Hơn nữa, người tại gia cũng không làm cho người nghe khởi tâm cung kính bằng người xuất gia. Người tại gia cũng thâu phục lòng người không bằng người xuất gia.
- Như bài kệ:
Trước tu tập chính pháp
Sau truyền dạy mọi người
Mới nói được lời này:
Ông nên làm theo tôi.
Mình tạo việc bất thiện
Sao dạy người tu thiện?
Bản thân chẳng tịch diệt
Đâu thể dạy người tịch diệt?
Ngoài ra, nếu người xuất gia thực hành tài thí thì trở ngại các thiện hạnh khác, lại phải lìa xa nơi thanh tịnh để vào xóm làng cùng làm việc với người tại gia và chuyện trò nhiều thì sẽ sinh phiền não, suy giảm các pháp như lục độ v.v..., thậm chí lại còn tham đắm ngũ dục, xả giới hoàn tục, đó gọi là chết; hoặc có thể phạm giới, dễ sinh tội nặng; đó cũng gọi là chết, giống như các phiền não khổ đau v.v... Vì thế, đối với người xuất gia nên ca ngợi pháp thí, đối với người tại gia nên ca ngợi tài thí.
Kinh Kim quang minh ghi: “Người thuyết pháp có năm lợi ích:
1. Pháp thí được lợi mình lẫn lợi người, tài thí không được như thế.
2. Pháp thí có thể giúp chúng sinh ra khỏi ba cõi, tài thí không giúp chúng sinh ra khỏi cõi Dục.
3. Pháp thí có lợi ích cho pháp thân, tài thí nuôi dưỡng sắc thân.
4. Pháp thí tăng trưởng phúc báo không cùng tận, tài thí chắc chắn có lúc cạn sạch.
5. Pháp thí có khả năng dứt trừ vô minh, tài thí chỉ hàng phục lòng tham.
Do đó, tài thí không băng pháp thí. Nhưng pháp thí, cũng có thứ bậc. Nếu giấu kín sự hiểu biết, không nói cho người khác biết, vì sợ hơn mình, đời vị lai thường không được nghe pháp”.
Luận Đại trí độ ghi:
- Người tham tiếc pháp thì thường sinh ở biên địa hoặc ở nơi không có Phật pháp; vì làm chướng ngại sự hiểu biết của người khác. Người như vậy thì thua cả kẻ bán pháp.
Luận Thành thật ghi:
- Nếu ai giảng pháp thì gọi là lợi tha. Người này tuy chẳng tu tập đúng pháp, nhưng vì giảng nói cho người khác nên cũng được lợi ích.
Pháp thí có ba bậc:
- Pháp thí bậc hạ: Giảng nói về bố thí mà không đề cập trí tuệ.
- Pháp thí bậc trung: Giảng nói về trì giới.
- Pháp thí bậc thượng: Giảng nói về trí tuệ, dạy người quán lí đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng, ra khỏi sinh tử, về sau sẽ thành tựu quả Bồ-đề, hưởng vui niết-bàn. Dù chỉ nói pháp Tiểu thừa giáo hóa một người, dạy họ quán chúng sinh không thật có; tin hiểu và tu tập theo đó, tuy họ chưa đắc đạo nhưng người thuyết được công đức cũng hơn người giáo hóa tất cả chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề tu tập mười điều thiện; vì người tin hiểu tu tập thánh đạo thì gieo nhân xuất li nên nhất định đắc Niết-bàn. Kinh Chư pháp dũng vương ghi:
Giả sự tất cả chúng sinh dưới nước, trên cạn.trên hư không trong cõi Diêm-phù-đề đều được thân người; người chỉ dạy tất cả họ tu tập ngũ giới hay thập thiện, thì công đức của người này không bằng công đức của người giáo hóa một người khởi lòng tin vá tu hành theo kinh này.
Luận Thập trụ tì-bà-sa ghi: “Bồ-tát nên xa lìa bốn pháp có thề làm mất trí tuệ:
1 .Không kính trọng pháp và người thuyêt pháp.
2. Giấu kín và tham tiếc pháp yếu.
3. Gây chướng ngại muốn phá hoại tâm của người ưa thích nghe chính pháp.
4. Kiêu ngạo, tự cao, xem thường người khác. Bồ-tát phải nên thường xuyên tu tập bốn pháp giúp đạt trí tuệ:
1. Cung kính pháp và người thuyết pháp.
2. Giảng nói cho người khác nghe pháp đúng như mình đã được nghe và đọc tụng với tâm thanhtịnh, không cầu lợi dưỡng.
3.Biết rằng nhờ học rộng mà phát sinh trí tuệ, cho nên siêng năng cầu học không ngừng, giống như cứu lửa cháy đầu.
4. Thụ trì không quên những pháp đã được ghe, quí ở chỗ làm đúng theo nói, không quí lời suông”
16.8. BÁO ÂN
Kinh Thiện cung kính ghi: “Đức Phật bảo A-nan: - Nếu được nghe pháp sư giảng một bài kệ bốn câu hoặc được sao chép kinh thì dù trong nhiều kiếp làm nhừng việc như: Vai , lưng cõng, đầu đội hòa thượng, a-xà-lê ấy, hoặc cúng dường pháp sư đủ các loại nhạc cụ, v.v... cũng chưa báo đáp hết được ân của thầy. Nếu trong đời vị lai người ấy khởi tâm bất kính, thường nói. lỗi cùa pháp sư, Ta nói người ấy ngu si và sẽ chịu nhiều đau khổ cùng tột, chắc chắn đọa vào đường ác. Vì thế, này A-nan! Ta dạy nếu các ông khởi tâm cung kính tôn trọng pháp sư thì sẽ đẳc pháp cao quí, đó cũng là cung kính pháp sâu xa của Tam bảo”.
Kinh Phạm võng ghi:
- Nếu Phật tử trông thấy pháp sư Đại thừa có hạnh giải tương ưng, từ ngoài xa trăm dặm, nghìn dặm, hoặc các nhà trong thành thị thì phải đón tiêp, tiễn đưa, lễ lạy và cúng dường vị ấy. Hàng ngày ba thời dâng cúng các món ăn uống ngon quí đáng giá ba lượng vàng, đồng thời phải sửa soạn giường ghế để nghi ngơi, cung cấp mọi thứ cần dùng cho pháp sư. Người ấy lại phải hàng ngày ba thời lễ lạy, thưa thinh pháp sư thuyết pháp, không được giận hờn, hay buồn phiền pháp sư, phải quên mình để cầu pháp. Nếu không như thế thì sẽ phạm tội khinh cấu.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi:
- Nếu ưu-bà-tắc nào đã thụ trì sáu giới trọng mà không đến giảng đường để nghe pháp trong vòng bốn mưoị dặm, thì phạm tội thất ý.
Kinh Đợi phương đẳng đà-na-li ghi:
- Phật bảo A-nan: “Nếu có người bị cha mẹ, vợ con không cho đến đạo tràng, người ấy phải đốt các thứ hương, quì thẳng chắp tay thưa cha mẹ, v.v...: ‘Nay con muốn đến đạo tràng, xin cha mẹ thương xót cho phép'. Đồng thời người ấy cũng nên khuyên giải và tùy thời nói pháp cho cha mẹ. Phải thưa thỉnh ba lần, nếu gia
đình không cho phép thì người ấy phải ở nhà, yên lặng suy niệm và tụng trì kinh điển”.
Kinh Chinh pháp niệm ghi:
- Nếu ai cúng dường vị pháp sư thuyết pháp thì phải biết người ấy đã cúng dường Thế Tôn hiện tại. Do cúng dường mà những ước nguvện đều thành tựu, cho đến được quả Vô thượng bồ-đề. Tại sao? Vì nhờ nghe pháp nên tâm được điều phục; nhờ tâm được điều phục nên dứt trừ được vô tri tối tăm lưu chuyển trong sinh tử. Nếu không nghe pháp thì không có cách gìđiều phục được tâm.
Kinh Thắng tư duy ghi:
- Không dấy nghiệp tội, không tạo nghiệp phúc, không khởi nghiệp bất động, đó là cúng dường Phật.
Kinh Hoa thù ghi:
- Nêu dâng hương, hoa, y phục, thức ăn, thuốc thang, v.v... cúng dường chư Phật thì không gọi làchân chính cúng dường. Thường tu học theo pháp vi diệu mà Như Lai chứng được khi ngồi ở đạo tràng mới gọi là chân chính cúng dường. Vì thế Đức Phật nói bài kệ:
Nếu dùnghoa, hương thoa
Thức ân, thuốc, y phục
Dâng cúng các Đức Phật
Chẳng gọi chân cúng dường.
Nếu tu học diệu pháp
Mà Như Lai chứng được
Khi ngồi ở đạo tràng
Mới là chân cúng dường.
Luận Thập trụ Tì-bà-sa ghi:
- Đức Phật bảo A-nan: “Trời mưa hương và hoa không gọi là cung kính cúng dường Như Lai. Nếu tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nhất tâm không buông lung, gần gũi và tu tập Phật pháp, đó là chân chính cúng dường”.
Kinh Bảo vân ghi:
Không nên dâng tài thí cúng dường Phật. Tại sao? Vì pháp thân Như Lai không cần tài thí. Chỉ nên dùng pháp thí để cúng dường Phật, như thế mới đầy đủ Phật đạo, vì đó là cách cúng dường bậc nhất.
Kinh thiện cung kính ghi
- Đức Phật dạy: “Nấu có ti-kheo nhiều tuổi hạ mà không thông hiếu pháp cú thì phải nên nương học người khác, Tại sao? Vì bản thân còn không hiểu đạo pháp, huống gì muốn làm thầy người khác. Giả sử có vị ti-kheo trăm tuổi hạ, nhưng không hiểu được các việc sâu kín của sa-môn, không thông hiểu luật, giới, pháp, cũng nên bảo vị ấy nương học tì-kheo khác.
Nếu tì-kheo thụ pháp với một vị thầy, khi ở bên thầy phải có tâm tôn quí, kính trọng thầy. Khi muốn thụ pháp, lúc ở trước thầy, không được cười đùa, không được hở răng, không đứng tréo chân, không nhỉn xuống chân, không được động chân, không được rung chân. Thầy không hỏi thì không được tự ý nói. thầy sai bào gì thì không được từ chối. Không được nhìn chăm chăm vào thầy, phải cách xa thầy ba khuỷu tay. Thầy bào ngồi thì ngồi, không được trái lời. Phải khởi tâm từ đối với thầy. Nếu có nghi gì thì nên thưa hỏi; nếu thầy đồng ý thì mới xin thầy chỉ dạy. Hàng ngày phải ba thời thưa hỏi về các việc nên làm hay không nên làm. Nếu không như thế thì vị thầy nên trị tội đúng như pháp.
Nếu người học đến tham vấn mà không gặp thầy thì người học phải để lại hòn đất hoặc nhánh cây, hoặc cọng cỏ làm dấu. Khi thấy thầy trong thất, ngườihọc phải chí tâm đi nhiễu quanh thất ba vòng, rồi đỉnh lễ thầy, sau đó mới trở về. Nếu không gặp thầy, mình phải ngưng hết các việc, không được làm gì cả, chỉ trừ việc tiểu và đại tiện. Khi ở chỗ thầy, đệ tử không được nói năng thô tháo, dù thầy có quở mắng cùng không được phản ứng. Đệ tử phải trải sẵn chỗ ngồi, giường ngủ của thầy và thường dọn dẹp cho sạch bụi bân, kiến, muỗi, v.v...
Thời gian thầy ngồi, hoặc nằm nghỉ cho đến lúc đứng dậy, đệ tử phải đọc tụng kinh điển. Khi mặt trời mọc, đệ tử liền đến chỗ thầy, khéo léo báo cho thầy biết đã đến giờ và luôn ở bên cạnh thầy thưa hỏi: ‘Thầy có cần việc gì, xin để con phục vụ?’. Ngoài ra, khi ở trước mặt thầy, đệ tử không được khạc nhổ, xì mũi. Vì cung kính thầy, khi đi trong chùa, đệ tử không phủ ca-sa che hai vai, không được trùm đầu. Khi trời nóng bức, hàng ngày đệ tử phải ba thời quạt thầy, ba lần lấy nước cho thầy tắm rửa, cũng lại phải ba thời dâng nước mát cho thầy uống. Thầy có việc, đệ tử phải hết sức lo giúp đỡ”.
Đức Phật bảo A-nan:
• Đời vị lai có tì-kheo nào không cung kính thầy, nói lời của sư trưởng, người ấy không phải là bộc tu-đà-hoàn, cũng không phải là phàm phu, mà là ké ngu, cần phải trị phạt. Nếu thầy thực sự có lỗi, đệ lừ cũng không được nói, huống gì thầy không có lỗi. Nếu tì-kheo nào không cung kính thầy, Ta nói người ấy sẽđọa tiểu địa ngục Tiêu Phác. Chúng sinh ở đó có bốn đầu, toán thân như đống lửa lớn, cháy dữ dội không ngừng, càng lúc càng mạnh. Trong địa ngục ấy còn có loài trùng độc Câu Chủy thường ăn lưỡi người.
Khỉ thoát khỏi địa ngục, người ấy sẽ sinh vào loài súc sinh. Đó đều do đời trước mắng chửi thầy. Do tội lỗi về lưỡi, nên bấy giờ con vật ấy thường ăn phân, uống nước tiểu.
Sau khi bỏ thân súc sinh, người ấy được sinh làm người, nhưng thường ở biên địa có đầy dẫy ác pháp; lơi xấu xí, không đầy đủ các căn, thường bị khinh rẻ, phỉ báng, nhục mạ, xa lìa Phật Thế Tôn, không có trí tuệ. Sau khi chết, người ấy lại bị đọa lại địa ngục, chịu vô lượng vô biên thống khổ.
16.9. LỢI ÍCH
Kinh Chính pháp niệm ghi:
- Nếu thuyết pháp mà có mười điều kiện thì mang lại nhiều lợi ích:
1. Thời gian, nơi chốn thích hợp.
2. Dẫn giải, phân tích dễ hiểu.
3. Đúng chính pháp.
4. Chẳng vì lợi dưỡng.
5. Vì điều phục tâm.
6. Tùy thuận đại chúng mà giảng pháp.
7. Giảng bố thì thì được phúc báo.
8. Giảng pháp sinh tử có nhiều chướng ngại.
9. Chư thiên hết phúc cũng phái đọa lạc.
10. Nói tất cả đều có nghiệp quả.
Nêu pháp sư có mười điều kiện này thì khiến người nghe được nhiều công đức, lợi ích an lạc cho đến đắc Niết-bàn. Người nghe pháp được những công đức: thành tựu thâm tâm, tín căn thanh tịnh, lòng tin Tam bảo hoàn toàn thanh tịnh. Vì muốn nghe pháp mà đến pháp hội thì mỗi bước đều được phúc báo sinh về cỗi Đại Phạm thiên.
Kinh Đại bồ-tát tạng ghi:
- Khởi tâm ưa thích các bồ-tát giống như đại sư; yêu mến chính pháp, yêu mến Như Lai giống như bản thân; ưa thích đại sư đáng tôn trọng như cha mẹ; thưomg yêu chúng sinh như con một; tôn kính yêu mến giáo thụ a-xà-lê như đôi mắt; yêu mến những chính hạnh giống như tai, mắt, thân, đầu; yêu kính ba-la-mật giống như tay chân; yêu mến pháp sư giống như trân bảo; ưa thích chính pháp giống như thuốc hay; yêu mến người cử tội và người chính ức niệm như thầy thuốc giỏi.
Kinh Tăng-già-trá ghi: “Bấy giờ bồ-tát Nhất Thiết Dũng thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu có chúng sinh nào nghe pháp này thì thọ mạng của người ấy bao nhiêu kiếp?
- Thọ mạng đủ tám mươi kiếp_ Đức Phật đáp.
- Thời gian một kiếp là bao nhiêu?
- Ví như hạt mè chất đầy thành lớn chu vi mười hai do-tuần, cao ba do-tuần; qui định cứ hơn trăm năm có người đến lấy đi một hạt. Thời gian một kiếp nhiều hơn thời gian lấy hết hạt mè trong thành. Lại như núi lớn chu vì hai mươi lăm do-tuần, cao mười hai do-tuần; qui định cứ hơn trăm năm có người đến dùng lụa mỏng phẩy lên núi một cái; thời gian một kiếp nhiều hơn thời gian phẩy mòn núi này.
- Bạch đức Thế Tôn! Người một lần phát nguyện còn được phúc đức, thọ mạng tám mươi kiếp; huống gì người thường tu tập các hạnh”.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Không hề có việc lìa bốn pháp sau đây mà chứng Niết-bàn:
1. Gần gũi thiện tri thức.
2. Chuyên tâm nghe pháp.
3. Buộc niệm tư duy.
4. Tu hành đúng pháp.
Cho nên nghe pháp là nhân duyên đến gần đại bát-niết-bàn. Tại sao? Vì khai thông pháp nhẫn. Ở thế gian có ba hạng người: Một là người không có mắt (dụ cho phàm phu), hai là người có một mắt (dụ cho hàng thanh văn), ba là người đủ hai mắt (dụ cho các bồ-tát). Người không có măt là người không nghe pháp. Người có một mắt là người tuy tạm thời nghepháp, nhưng tâm không trụ nơi pháp. Người có hai mắt là người chuyên tâm nghe pháp và thực hành đúng pháp.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi:
- Thuở xưa, Đức Phật thuyết pháp cho trời người tại tinh xá cấp Cô Độc thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc có cô công chúa Kim Cương chưa lập gia đình. Phụ hoàng và mẫu hậu thương yêu, nên xây cho cô một biệt cung tráng lệ và cung cấp năm trăm kĩ nữ ngày đêm hầu hạ để vui lòng.
Trong số tì nữ, có một cô lớn tuổi tên là Độ Thắng thường ra chợ mua son phấn, hương hoa. Một hôm đang lúc đi chợ, cô ta chợt thấy vô số trai gái mang hương hoa ra khỏi thành đến chỗ Đức Phật. Cô ngạc nhiên hỏi người đi đường:
- Các vị đi đâu?
Mọi người đều đáp:
- Hiện nay có Đức Phật xuất hiện ở đời. Ngài là đấng Chí tôn của ba cõi, cứu độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử, chứng đắc Niết-bàn, vì thế chúng tôi phải đến đỉnh lễ.
Nghe thế, Độ Thắng rất vui mừng thầm nghĩ: “Ta già rồi mà còn được gặp Đức Phật, thật là phúc của đời trước!”. Cô liền dành lại một phần tiền mua hương để mua những bông hoa tươi đẹp, rồi theo mọi người đến chỗ Đức Phật. Đến nơi, cô ta đinh lễ Đức Phật rồi rải hoa, đốt hương và nhất tâm nghe pháp. Sau đó, Độ Thắng trở lại chợ mua hương mang về.
Nhờ công đức nghe pháp và phúc báo đời trước, nên hương tỏa mùi thơm ngào ngạt và cân lượng gấp bội lúc trước.
Giận vì cô ta về trễ, công chúa gạn hỏi. Độ Thắng giữ đạo nên liền thuật lại sự tình:
- Thưa công chúa! Thế gian có bậc Thánh tôn kính nhất trong ba cõi, gióng trống pháp vô thượng chấn động tam thiên thế giới. Người đến nghe pháp đông không tính kể. Quả thật, tì nữ cũng theo họ đến đó nghe pháp nên về trễ.
Nghe nói đến pháp nghĩa thậm thâm vi diệu của đức Thế Tôn, chẳng phải thế gian này ai cũng nghe được, công chúa Kim Cương và các thể nữ chợt sợ hãi, tự than: “Chúng ta mang tội gì mà lại không được nghe?”, rồi bảo Độ Thắng:
- Cô hãy thử giảng nói lại.
- Dạ, tì nữ hèn mọn, miệng bất tịnh không dám giảng nói. Độ Thắng thưa.
Sau đó, Độ Thắng đến chỗ Phật hỏi nghi thức thuyết pháp. Phật dạy: “Về nghi thức, trước tiên lập một tòa cao rồi mới thăng tòa thuyết pháp”.
Độ Thắng nhận lời giáo huấn của Đức Phật, về trình bày tường tận, cả nảm trăm thể nữ đều rất hoan hì. Mọi người cởi bỏ y phục gom lại chất thành một cái tòa cao.
Tắm gội xong, nương uy thần của Đức Phật, Độ Thắng theo lời thỉnh mà thuyết pháp khiến công chúaKim Cương và hơn năm trăm thế nữ dứt trừ mối nghi và việc ácliền chứng quá Tu-tu-đà-hoàn
Độ Thắng thuyết pháp rất hay, mọi người chú tâm lắng nghe; bỗng lửa bốc cháy thiêu chết Kim Cương và năm trăm thể nữ. Tất cả đều được sinh lên cõi trời. Vua dẫn người đến cứu hỏa thì thấy công chúa đã chết, nên chỉ biết nhắt lấy thi hài đem an táng. Sau đó, vua đến đỉnh lễ Đức Phật rồi chắp tay thưa
- Bạch đức Thế Tôn! Đứa con gái của trẫm Kim Cương cùng năm trăm thể nữ bất hạnh bị lửa thiêu chết. Trẫm vừa an táng xong. Không biết do tội gì mà họ gặp phải tai nạn này? Cúi mong Đức Thế Tôn chỉ dạy
Đức Phật dạy:
- Vào đời quá khứ, ở thành Ba-la-nại có vợ một trưởng giả nọ dẫn theo năm trăm thể nữ ra ngoái thành cúng tế. Cách thức cúng tế của bà vô cúng kỳ là và rất khắc nghiệt: Người mang họ khác không được đến gần, chẳng cần hỏi quen lạ, hễ có ai đến là bà ném ngay vào trong lửa. Thời bấy giờ có một vị Bích Chi Phật tên là Ca-la sống trong núi, mỗi sáng sớm suống núi khất thực đến chiều tối mới
- Hôm đó, Ca-la đi khất thực đến chỗ cúng tế, bà vợ trưởng giả nổi cơn thịnh nộ sai thể nữ bắt lấy Ca-la ném thẳng vào trong lửa khiến toàn thân Ca-la cháy rụi.
Khi ấy, Ca-la bén hiện thần thông bay lên hư không, đám thể nữ hoảng sợ, khóc lóc hối lỗi, quỳ thẳng ngẩng đầu bày tỏ; “Chúng con thân nữ ngu xuẩn chẳng biết bậc Chí chân, dại dột xem thường, mạo phạm đến thần linh. Chúng con tự nghĩ tội ác trong quá khứ chất chồng như núi; nay xin quy y Thánh đức để tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề này”.
Nghe xong, Ca-la liền đáp xuống và nhập Niết-bàn. Các thể nữ này xây tháp cúng dường xá-lợi
Đức Phật nói bài kệ:
Ngu xuẩn làm điểu ác
Không tự biết lỗi lầm
Họa theo đốt thân thể
Tội báo rất nặng nề.
Kẻ ngu mong cầu gì
Không cho là đau khổ
Khi rơi vào hiểm nguy
Mới hay là việc ác.
Đức Phật dạy tiếp:
- Đại vương biết chăng! Vợ trưởng giả thuở xưa, nay chinh lá công chúa Kim Cương, năm trăm thế nữ thuở ấy chính lá năm trăm tì nữ như Độ Thắng v.v...
Tội phúc đeo đuổi dù trải qua thời gian lâu xa cũng chẳng mất, thiện ác theo người như bóng theo hình.
Nghe xong, quốc vương và tất cà đại thẩn đều chứng đăc Đạo tích.
Kinh A-dục vương ghi:
- Ngày xưa, vua A-thứ-già thỉnh một đạo nhân thuyêt pháp. Nhà vua dùng rèm chắn ngang để ngăn cách đạo nhân và người nữ nghe pháp. Bấy giờ, pháp sư thường giảng bố thí, giới luật và việc sinh lên trời.
Có một người nữ trái lệnh vua, vén rèm đến gần pháp sư, thưa hỏi:
- Bên cội bồ-đề, khi giác ngộ các pháp, Đức Như Lai Đại Giác đã chứng ngộ các pháp bố thí và giới luật chăng? Hay Ngài còn chứng ngộ các pháp khác nữa?
- Đức Phật biết tất cả pháp hữu lậu đều là khổ, giống như sắt bị nung chảy. Nỗi khổ ấy do tập sinh ra, cũng như cây độc. Phải tu tập bát chính đạo để diệt khổ đế và tập đế. Pháp sư đáp.
Nghe xong, người ấy chứng quả Tu-đà-hoàn, liền lấy dao kề vào cổ mình, rồi đến tâu vua:
- Nay tiện nữ đã phạm tội nặng. Xin đại vương dùng phép nước trị tội!
- Ngươi phạm tội gì? Vua hỏi.
- Tiện nữ vi phạm lệnh cấm của đại vương, đến gần chỗ pháp sư. Giống như con bò khát nước khôngsợ chết, tiện dân thật sự khao khát Phật pháp; vì thế, mạo hiểm đến bên pháp sư nghe pháp.
- Khi nghe pháp, ngươi lĩnh hội được những gì?
- Tiện nữ lĩnh hội được bốn chân đế, hiểu được ấm, nhập, giới và các đại đều là vô ngã và chứng được Pháp nhãn.
Nghe thế, vua phấn khởi vui mừng, liền lễ lạy và ra lệnh:
- Từ nay về sau, trẫm cho phép người thích nghe pháp được đối diện pháp sư mà lĩnh thụ.
Vua lại khen:
- Lạ thay! Trong cung của trẫm vừa xuất hiện Nhân bảo.
Vì nhân duyên ấy, nên biết việc nghe pháp có lợi ích lớn.
Kinh Tạp bảo tạng ghi:
- Vua nước Bát-già-la hiến vua Ba-tư-nặc năm trăm chim nhạn trắng. Nhà vua sai người đưa số chim ấy đến tinh xá Kì-hoàn. Cứ đến giờ ăn, thấy chư tăng bày thức ăn, năm trăm chim nhạn liền bay đến đậu trước mặt chư tăng. Khi ấy, Đức Phật dùng một âm ngữ thuyết pháp mà loài nào cũng đều hiểu cả. Nghe Phật giảng pháp, bầy nhạn rất vui mừng, cùng hòa giọng hót vang, rồi bay về ao nước, về sau, khi lôngcánh đầy đủ, chúng bay đến nơi khác, bị thợ săn giăng lưới bắt giết hết. Khi bị bắt, một con nhạn cất tiếng thì ca bầy hòa theo hót vang những âm thanh mà chúng thường hót lúc nghe pháp. Nhờ tâm thiện ấy, bầy nhạn được sinh lên cõi trời Đao-lợi.
Khi sinh lên trời, các vị ấy thường nhớ nghĩ ba điều: nhớ nghĩ mình vốn từ đâu đến, nơi mình sẽ sinh về, đời trước đă tạo nghiệp gì để nay được sinh lên trời. Khi ấy, năm trăm vị thiên tử suy nghĩ thấy đời trước mình chẳng tu được nghiệp thiện gì ngoài việc nghe Phật giảng pháp. Nghĩ xong, họ liền cùng xuống cõi Diêm-phù-đề, đến chỗ Đức Phật nghe pháp và tất cả đều chứng quả Tu-đà-hoàn.
Thời ấy, vua Ba-tư-nặc thường đến chỗ Đức Phật, cũng thường trông thấy năm trăm con chim nhạn xếp hàng đậu trước Đức Phật. Hôm ấy không trông thấy bầy chim, vua liền hỏi Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Hôm nay bầy nhạn đã bay đi đâu?
- Bầy nhạn đã bay đi nơi khác, bị thợ săn giết hết, chúng được sinh lên trời, nay chính là năm trăm thiên tử tuấn tú đội mũ trời đang ở đây. Nhờ nghe pháp, họ đều chứng quả Tu-đà-hoàn. Đức Phật đáp.
- Vì nhân duyên gì mà năm trăm thiên tử đời trước đọa làm súc sinh, đến khi qua đời được sinh lên cõi trời và hôm nay chứng được đạo quả?
- Thuở xưa, vào thời Phật Ca-diếp, có năm trăm thiếu nữ cùng thụ giới, vì lòng tin không bền chắc nênđã phạm giới, họ bị đọa làm những con nhện ấy, Nhờ nhân duyên thụ giới đời trước, bầy nhện được nghe Ta thuyết pháp mà sinh lên cõi trời. Khi làm thiến tử, họ nhờ nhân duyên xuống đây nghe Ta giảng pháp mà chứng đạo.
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi:
- Ngày xưa, có một vị sa-môn tụng kinh suốt ngày đêm. Có một con chó thường nằm dưới gầm giường lắng lòng nghe kinh, quên cả ăn uống. Cứ như thế trong nhiều năm, sau khi chết, con chó được sinh làm thiếu nữ trong thành Xá-vệ. Lớn lên, trông thấy một vị sa-môn khất thực, cô ta liền dâng thửc ăn cúng dường, về sau, cô gái xuất gia làm tì-kheo-ni và chứng quả A-la-hán.
Có bài tụng:
Vương đạo trị bên ngoài
Thần đạo che phục tâm
Đế vương thông chính pháp
Đúng là bậc tôn sư.
Kính vâng theo đạo Phật
Đứccả thật sáng ngời.
Thầy thuyết, trò lĩnh thụ
Nghiệp lành tăng trường nhiều
Tỏ ngộ lý bốn đế
Vui đạt được ba minh.
Tuyên dương lời Phật dạy
Khai ngộ tâm chúng sinh
Không hữu đều hiển lộ
Thông suốt cửa nhiệm mầu.
Bỏ việc chẳng thể bỏ
Chi đạo thật vô bờ.
16.10. CẢM ỨNG
16.10.1. Đời Tống, sa-môn Trúc Đạo Sinh ở chùa Long Quang, Truờng An: Sư họ Ngụy, người Cự Lộc, xuất gia thuở nhỏ. Sư rất thông minh, bén nhạy, có trí tuệ phi phàm. Năm mười lăm tuổi, sư thăng tòa giảng pháp, luận biện trôi chảy khiến đạo tục đều kính phục. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư hiểu biết Phật pháp càng sâu, trí tuệ càng minh mẫn, tâm ý vắng lặng.
Ban đầu, sư vào Lô sơn ẩn tu bảy năm để mong đạt chí nguyện. Sư thường cho tuệ giải là căn bản vào đạo, nên luôn nghiên cứu các bộ kinh luận; cầu thầy học đạo, dù xa vạn dặm vẫn không quản cực nhọc.
Sau đó, sư cùng Tuệ Duệ, Tuệ Nghiêm đến Trường An theo ngài La-thập tu học. Các vị tăng ở Quan Trung đều khen sư có sức tỏ ngộ siêu việt. Sau đó, sư trở về chùa Thanh Viên , Thái tổ Văn hoàng đế nhà Tống rất kính trọng sư. Có lần, Thái tổ thiếthội, đích thân cùng với mọi người ngồi trên chiếu tre. Do chuẩn bị thức ăn quá lâu, mọi người sợ trời xế chiều. Vua bảo:
- Mới trưa mà.
- Bầu trời trong sáng, thiên tử nói mới trưa, nhất định là trưa!_ Sư nói.
Nói xong, sư lấy bát cùng mọi người dùng cơm. Họ đều khen lời nói của sư rất thích hợp.
Sau đó, sư xem đọc cứu xét hai đế chân tục, nghiên cứu kĩ nhân quả, mới lập ra thuyết Thiện bất thụ báo và Đốn ngộ thành Phật, lại trước tác luận Nhị đế, luận Phật tính đương hữu, luận Pháp thân sắc, luận Phật vô tịnh độ, luận ứng hữu duyên cao siêu hơn thuyết Diệu hữu sâu xa của các sư xưa. Nhưng những người chấp văn tự đó kị, nên phát sinh ra những lời thị phi.
Lại trước đây kinh Niết-bàn sáu quyển đến kinh thành, sư phân tích nghĩa lí, thâm nhập lẽ sâu xa kinh này rồi nói: “Nhất-xiển-để đều có thể thành Phật”. Bấy giờ đại bản kinh Niết-bàn chưa truyền vào Trung Quốc, chỉ một mình sư phát hiện, lại trái với những điều mà mọi người biết. Thế là những người cựu học cho lời này là tà thuyết. Họ vô cùng tức giận, nêu ra trước đại chúng đòi quyết định đuổi sư.
Giữa đại chúng, sư trang nghiêm phát thệ: “Nếu lời của tôi không khế hợp với nghĩa kinh, thi tôi xin đời này sẽ chịu ác báo bịnh hủi. Nếu khế hợp với thật tướng thì nguyện tôi sẽ ngồi trên tòa sư tử mà bỏ thân này”.
Nói rồi sư phất áo bỏ đi, vào núi Hổ Khâu quận Ngô. Trong mười ngày, vài trăm người đến tham học. Mùa hạ năm ấy, sét đánh Phật điện chùa Thanh Viên, mọi người chợt thấy một con rồng bay lên trời, bóng hiện ở bức tường phía tây, nhân đó đổi tên chùa là Long Quang. Khi ấy, mọi người than ràng:
- Rồng bay rồi, sư nhất định sẽ đi.
Không lâu, sư trở về Lô sơn, ẩn tu trong hang núi, chúng tăng nơi đây đều kính phục.
Sau đó, đại bản kinh Niết-bàn đến Nam kinh, quả đúng trong kinh có thuyết: “Xiển-đề đều có Phật tính”, rất trùng hợp với lời của sư. Sau khi tìm thấy bộ kinh này, sư liền thăng tòa giảng thuyết.
Tháng mười một, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười một (434) đời Tống, sư thăng tòa thuyết giảng kinh Niết-bàn ở tinh xá Lô Sơn. Thần sắc sư thật sáng rỡ, đức âm lưu xuất. Sư giảng nói vài lượt mà đã đạt đến cùng tận nghĩa lí vi diệu. Tất cả đại chúng đều vui mừng lĩnh ngộ. Lúc giảng vừa xong, bỗng mọi người thấy cây phất trần tự nhiên rời khỏi tay. Sư an nhiên thi tịch trên pháp tòa, nhan sắc như đang ngồi nhập định, Đạo tục thở than, xa gần đều rơi lệ.
Bấy giờ chư tông nơi kinh thành hổ thẹn và tín phục, kéo nhau đến đưa tiễn. Trí tuệ của sư suy xét anh minh nên mới có điềm lành như thế. Mọi người an tống sư trên gò cao ở Lô sơn.
Khi còn sống, sư cùng các vị đồng tu: Tăng Duệ, Tuệ Nghiêm, Tuệ Quản đều nổi tiếng, nên được mọi người ca ngợi:
Sinh, Duệ phát thiên chân
Nghiêm, Quán tư duy kĩ
Giáo nghĩa gắng tiến tu
Khẩu Uyên chuyên im lặng.
Chỉ sư và Tăng Duệ được gọi là thiên chân, nên được xem là bậc xuất chúng.
Trước đây tại Quan Trung, ngài Tăng Triệu chú giải kinh Duy-ma, nên mọi người đều lãnh hội được ý nghĩa. Sau sư lại phát triển yếu chỉ sâu xa, nêu lên điểm mới mẻ kỳ đặc cùng soạn nghĩa sớ các kinh; mọi người đều cho là của báu. Vương Vi so sánh sư với Quách Lâm Tông, nên viết truyện kí về sư để tuyên dương đức hạnh.
Bấy giờ mọi người cho rằng sư nêu ra thuyết “Nhất xiển đế thành Phật” là có căn cứ. Các thuyếtĐốn ngộ thành Phật, chẳng thụ báo, v.v... cũng có phép tắc và kinh điển y cứ.
Có lần, Tống Thái tổ thuật lại nghĩa lý đốn ngộ của sư. Các sa-môn Tăng Bật, v.v... gạn hỏi. Đế nói: “Nếu người đã mất sống lại thì đâu bị các ông bức ép”. Sa-môn Bảo Lâm ở chùa Long Quang trước kia thụ học ở Trường An, sau thuật lại những giáo thuyết của sư; người thời ấy gọi sa-môn này là Thệ Huyền.
Sư trước tác Niết-bàn kí và chú giải Dị tông luận và Hịch ma văn, v.v... Đệ tử của Bảo Lâm là Pháp Bảo cũng học thông nội điển lẫn ngoại điển, trước tác luận Kim cang hậu tăm, v.v... để thuật lại các yếu nghĩa của sư. Gần đây ở chùa Long Quang có sư Thích Tuệ Sinh sống đạm bạc, thông hiểu kinh luận, giỏi chữ thảo, chữ lệ. Vì sư và Tuệ Sinh cùng ở một chùa nên mọi người gọi hai ngài là Đại tiểu nhị Sinh.
16.10.2. Đời Tống, cư sĩ Phí Sùng Tiên: Cư sĩ người Ngô Hưng, thuở nhỏ đã tin Phật pháp. Năm hơn ba mươi tuổi, cư sĩ càng tín phụng và siêng năng tu tập hơn. Đến niên hiệu Thái Thỉ thứ ba (467), cư sĩ thụ giới Bồ-tát và ở nhờ nhà Tạ Tuệ Viễn hai mươi bốn ngày để hành trì trai giới và tu tập. Ngày đêm ông siêng năng, không buông lung. Mỗi lần nghe kinh, cư sĩ thường đặt lư hương trước mặt. Đầu đêm thứ ba, cư sĩ thấy từ xa có một người mặc y phục và dung mạo khác thường đến lấy lư hương mang đi; nhưng khi nhìn xuống thì thấy lò hương vẫn còn; lại quan sát kĩ thì thây người này rõ ràng đã mang đi. Cư sĩ mới biếtđây là điều thần dị. Ông thầm nghĩ: “Y phục mới giặt thi rõ là sạch sẽ, chỉ cạnh chỗ ngồi có bỉnh nhổ”. Cư sĩ sai người mang đi, thì lại thấy vị thần này đặt lư lại trước mặt; khi chưa mang đến chỗ ngồi thì thấy hai cối lư hương, vừa đến thì hợp thành một; chăng lẽ cái lư mà vị thần mang đi là bóng của lư hương?
Ông lại nghe người nói: “Chùa Phúc Viễn có ni sư Tăng Khâm tinh tiến tu tập, đắc đạo”.
Cư sĩ vui mừng, mong được gặp mặt; tuy chưa đến đó được, nhưng vẫn rất chí thành qui hướng. Có lần ông thụ trai ở nhà người khác. Canh ba đêm ấy, cư sĩ bỗng thấy một ni sư dung mạo đoan nghiêm, đắp ca-sa vải thô màu đất đứng trước trai tòa, trong khoảng bữa ăn rồi biến mất. Sau đó, cư sĩ yết kiến ni sư thì thấy dung mạo, pháp phục của ni sư giống như người đứng trước song cửa đêm hôm nọ.
16.10.3. Đời Nguyên Ngụy, sa-môn Lặc-na: Lặc-na, Trung Quốc dịch Thật Ý. Sư người Tây Vực, không rõ họ gì, tinh thông tam tạng, rất giỏi môn tổng trì. Vào niên hiệu Vĩnh Bình thứ nhất (508) đời Nguyên Ngụy, sư đến Trung Quốc. Hoàng đế Tuyên Vũ thường thỉnh sư giảng kinh Hoa nghiêm. Sư đã phân tích giảng giải, khai phát được nghĩa lý sâu mầu.
Một hôm sư ở trên pháp tòa, bỗng có một người dung mạo giống như Thái quan cầm hốt và lệnh đến thưa:
- Tôi vâng mệnh của Đế Thích đến đây cung thỉnh pháp sư giảng kinh Hoa nghiêm.
- Pháp hội này chưa xong, xin ngài đợi ta giảng xong rồi sẽ đến! Nhưng chỉ có mình ta thì đậu thành tựu được pháp sự; phải có thêm các vị đô giảng, niệm hương, duy-na, xướng tụng; ngài nên thỉnh ngay hôm nay. Sư đáp.
Sứ giả vâng lời, thỉnh những vị tăng ấy. Chẳng bao lâu, thời pháp vừa xong, lại thấy sứ giả ấy đến thưa:“Vâng lệnh Đế Thích, tôi đến thỉnh pháp sư!”. Sư liền mỉm cười vui vẻ, nói lời từ biệt đại chúng và an nhiên thị tịch ngay trên pháp tòa. Đồng thời, bốn vị đô giảng, duy-na, v.v... cũng thị tịch theo. Nghe việc kì lạ này, đạo tục cả nước đều ca ngợi.
16.10.4. Đời Tề, sa-môn Tăng Phạm (476-555) chùa Đông Đại Giác ở đất Nghiệp: Sư họ Lý, người làng Bình (Hà Bắc), thông hiểu các sách, nên người đương thời gọi là Phủ Khố. Tuy sư xuất gia vào tuổi xế chiều, nhưng thông suốt kinh luận, ngôn hạnh tương ưng, nhiều lần cảm hiện điềm lành. Có lần, vào mùa đông, thứ sử Đỗ Bật ở Giao châu đến chùa Hiện Nghĩa ở huyện Nghiệp thỉnh sư giảng kinh Hoa nghiêm. Khi giảng đến Địa thứ sáu, bỗng có con chimnhạn từ phía đông của tháp bay vào giảng đường, đậu đối diện pháp tòa, nằm im nghe pháp. Nghe giảng xong, nó từ từ theo phía tây của tháp bay ra rồi biến mất.
Vào mùa hạ, sư cũng giảng kinh ở chùa này, có một con chim sẻ bay đến đậu phía tây nam pháp tòa, nằm im nghe pháp suốt ba tháng hạ.
Lần khác sư giảng kinh ở Tế châu, có con chim cú bay đến nghe pháp. Nghe xong, nó bay đi.
Một lần nọ, có một vị tăng sân hận đến hủy báng; “Này Già-đẩu! Ông mà biết gì!”. Ngay đêm ấy, có vị thần cầm roi đến đánh người này gần chết.
Nếu chẳng phải đạo thấm nhuần đến cõi u minh thì làm sao cảm ứng đến như thế!
Vào ngày mùng hai tháng ba niên hiệu Thiên Bảo thứ sáu (555), sư thị tịch tại chùa Đại Giác, thọ tám mươi lăm tuổi.
16.10.5. Đời Tùy, Thích Đàm Diên (516-588) ở chùa Diên Hưng, kinh thành: Sư họ Vương, người Tang Tuyền, Bồ châu, thuộc dòng dõi nhiều đời hào quí, làm quan hai triều Tề và Chu. Sư rất thích đọc sách nên mọi người trong làng rất ca ngợi. Sư tỏ ngộ yếu chỉ sâu mầu, muốn soạn Niết-bàn đại sớ, nhưng e rằng còn vướng phàm tình, nên ngày đêm chí thành câu nguyện, mong ứng hiện điềm lành. Một tối nọ, sưmộng thấy có người mặc áo tráng, cỡi ngựa trắng mà bờm và đuôi chạm đất. Người này trao cho sư ý chỉ cùa kinh. Sư nắm bờm ngựa và cùng vị này luận bàn.
Sau khi thức giấc, sư thầm nghĩ: “Đây nhất định là điềm lành bồ-tát Mã Minh dạy ta nghĩa lí. Nắm bờm tức là biết tông chi, có thể quán chiếu thấu suốt các pháp”. Tuy cảm được điềm lành này nhưng cũng sợ không hợp với lí, sư liền cầm kinh sớ này đến trước tháp thờ xá-lợi chùa Nhân Thọ ở Trần châu, đốt hương phát nguyện: “Con đem lòng phàm đo lường tâm thánh; giải thích đã xong, đầy đủ như Biệt quyển. Nếu yếu chỉ thầm hợp ý Phật thì nguyện hiển thị linh ứng. Nếu không có cơ cảm thì con nguyện không lưu truyền”.
Vừa dứt lời, quyển Niết-bàn đại sớ phát ánh sáng suốt đêm. Mọi người đều ca ngợi. Xá-lợi trong tháp lại phát ánh sáng suốt ba ngày ba đêm; trên thấu đến trời cao; dưới chiếu sáng sông núi. Mọi người trong vùng thấy ánh sáng này đều đến
yết kiến, lễ bái. Đã cảm điềm lành như thế, nên mọi người đều kính phục truyền trao sớ nàỵ. Vua quan đều kính trọng bậc có đức hạnh hiếm thấy này.
Ngày mười ba tháng tám niên hiệu Khai Hoàng thứ tám (588) đời Tùy, sư thị tịch tại chùa Diên Hưng, thọ bẩy mươi ba tuổi.
16.10.6. Đời Tùy, Thích Tuệ Viễn (523-592) chùa Tịnh Ảnh: Sư họ Lý, người Đôn Hoảng, về sausư sống ở Cao Đô, Thượng Đảng. Sư thấu đạt Tam tạng, thông suốt cửu lưu, thông minh, đầy đủ uy nghi, sống đời đạm bạc. Sư chuyên lấy giáo hóa làm sự nghiệp, thiên hạ đều qui hướng.
Trước đây, khi ở Thanh Hóa, sư nuôi một con ngỗng. Nó chỉ thích nghe sư giảng. Niên hiệu Khai Hoàng thứ bảy (587), vua ra sắc lịnh mời sư vào cung. Con ngỗng trú ở hiên chùa, ngày đêm kêu thảm thiết khiến đại chúng xót thương mới gởi cho sứ giả đưa nó đến chùa Tịnh Ảnh ở kinh thành. Vừa đến cổng chùa, sứ giả thả nó ra. Nó kêu lên và chạy thẳng vào phòng sư. Cũng y như xưa, nó thuần phục nghe giảng, không sợ nóng lạnh. Khi nghe tiếng chuông vân tập, chẳng quản sớm tối, nó chạy vào giảng đường, nằm im nghe pháp. Khi pháp hội kết thúc, nó bước ra khỏi giảng đường lượn quanh và kêu to. Vào những ngày bồ-tát, khi nghe tiếng chuông vân tập, nó không bao giờ vào giảng đường, mọi người đều lấy làm lạ. Những lúc bình thường, sư giảng pháp, nó im lặng lắng nghe đúng pháp; nếu có những lời dư thừa thì nó kêu lên rồi bỏ di. Thế mới biết, đạo do người truyền, cảm hiện chim linh.
Người chưa ngộ pháp mà vội thăng tòa giảng thuyết thì nhất dịnh đọa vào địa ngục, đây cũng là ýthú khác thời; không nên đổ đồng rồi bác bỏ hết. Trong khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-600), sư thị tịch tại chùa Tịnh Ảnh.
16.10.7. Đời Tùy, Thích Pháp Nhan, đạo tràng Chân Tịnh, Tây Kinh: Sư họ Trương, cư ngụ tại Minh châu, có chí nguyện hoằng dương đạo pháp. Sư thông minh xuất chúng, tinh thông tam tạng, nổi tiếng về luận Đại trí độ. Sư đến khắp các pháp hội, nhưng không có ai dám đối luận với sư.
Niên hiệu Khai Hoàng thứ 16 (596), vua ban lịnh thỉnh sư làm Đại luận chúng chủ, trụ ở chùa Chân Tịch, siêng năng chỉ dạy mọi người. Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-604), sư xây bảo tháp, vua ban lịnh nhờ sư đưa xá-lợi đến Nhữ châu. Bốn năm sau, vua lại ban lịnh thỉnh sư đưa xá-lợi đến chùa Thiện Ứng ở Ngân châu. Khi đào nền xây tháp, sâu hơn một trượng thì thấy cát vàng; đãi ra thì được hai thăng vàng ròng sáng rực.
Lại cảm đến trâu vàng đến tháp quì hai chân trước lễ hai lạy rồi quay lại lễ toàn cảnh một lạỵ. Đến lúc thỉnh xá-lợi nhập tháp, ba vạn người đều thấy trên trời có mây năm màu dài hơn mười trượng, rộng ba bốn trượng hiện ngay trên tháp; mây trắng vây quanh, giống như dải lụa thêu hiện trên hư không, từ giờ ngọđến giờ mùi mới mất. Sau đó mây năm màu từ bốn phương tụ lại, giống như điềm lành trước.
Lại cảm được con hạc đen năm đầu từ hướng tây bắc bay đến lượn vòng trên tháp và bay đi rồi trở lại tháp, bốn lần như vậy.
Lại cảm được con hạc trắng lượn vòng trên hư không thật lâu rồi mới bay đi.
Lại cảm được rắn năm màu dài khoảng ba thước, nằm khoanh tròn quanh hòm đá, đầu hướng về xá-lợi. Những điềm như thế thật kì lạ, nhưng chẳng làm mọi người sợ hãi.
Bấy giờ thứ sử Trịnh Thiện Quả dâng biểu tâu lên vua: “Thần nghe, người nào kính trời, dưỡng vật thì càn tượng làm sáng tỏ năng lực của người đó; thuận đất nuôi dân thì khôn nguyên bày cái đức của người đó. Vì thế Đào Đường rèn thân, chẳng dám buông lung, mà khí lành hiện rõ. Hạ Hậu bình định đất nước thành công, nên được ban Huyền Oa. Thế mới biết thiên thời và nhân gian có ảnh hưởng rất lớn.
Kính nghĩ: Bệ hạ nắm vững vận nước, được chính thức nhường ngôi, thụ nhận mệnh trời lên ngôi thiên tử. Từ đó khiến đất nước thanh bình, chỉ một thánh giáo. Bệ hạ có lòng bao dung rộng lớn, từ bi vô biên. Trời Phật xét soi ban điềm lành ấy. Sáu chỗ xây tháp đều có cát lạ; ánh sáng rực rỡ giống như vàng ròng; trâu vàng lễ bái, xưa chưa từng có; mây giăng năm màu, ngày nay mới hiện. Lại cảm đến rắn nhiều màu quấn quanh bảo tháp. Hạc đen, hạc trắng bay lượn trên bầu trời. Tuy Huỳnh đế có điềm lành cũng chỉ truyền trong sách xưa; Hán đế được mộng lành cũng chỉ ghi chép nơi sách vở. Nếu chẳng có đức làm hưng thịnh Tam bảo, đạo đứng đầu trăm vương, thì đâu có cảm nhiều điềm lành, hiện bao cảnh linh dị như thế!”.
Đế vô cùng vui mừng, ghi vào biệt kí. Vào niên hiệu Đại Nghiệp (607) thứ ba, sư thị tịch tại chùa Chân Tịnh, thọ sáu mươi tuổi.
16.10.8. Đời Đường, Thích Đạo Tông ở chùa Thắng Quang, Tây kinh: Sư họ Tôn, người Tức Mặc, Lai châu, thấu suốt tam tạng, rất tinh thông luận Đạitri độ. Mỗi lần giảng luận này, trời tuôn mưa hoa quanh bên ngoài rồi bay vào lơ lửng trong giảng đường thật lâu mới bay đi. Chúng hội kinh ngạc vê điềm lành hiếm thấy này. Vào niên hiệu Vũ Đức thứ sáu (623), sư thị tịch tại chùa Thắng Quang, thọ bảy mươi mốt tuổi.
16.10.9. Đời Đường, Thích Đạo Tốn (556-630) ở chùa Nhân Thọ, Bồ châu: Sư họ Trương, người Ngụy Hương, Hà Đông. Sư có chí khí cao xa, tính ưa đạm bạc, ít ham muốn, rất giỏi thời cơ, tinh thông phương dược. Tuy thông đạt các kinh điển, nhưng sư chi chuyên tâm vào kinh Niết-bàn, Nhiếp luận. Mùa đông niên hiệu Trinh Quán thứ hai (628), có người thỉnh sư giảng kinh Niểt-bàn. Biết mình sắp mạng chung, sư quyết không nhận lời. Người ấy không biết nên kính trọng mời sư. Bất đắc dĩ, sư đành nhận lời thăng tòa giảng pháp. Mở lởi, sư buồn than nói với bốn chúng:
- Đời nay chúng ta cách bậc Thánh quá xa, những lời nhiệm mầu ẩn mất. Những lời nói của kẻ phàm phu chẳng đáng làm mô phạm. Đại chúng chỉ nên lầy lòng tin qui hướng thì tự có chỗ tỏ ngộ. Pháp hội hôm nay, bần đạo giảng thuyết sẽ ngừng sau bài kệ "Vân hà”. Chỉ vì pháp thế gian như vậy, không bao lâu sẽ hủy hoại, thời gian đã gấp rút, mong đại chúng siêng tu.
Thể là sư y văn giải thích, vừa đến đầu bài kệ ấy, sư cảm thấy có quên sót, liền xuống tòa.
Tháng mười hai năm ấy, sư không bịnh mà thị tịch, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Đại chúng đưa nhục thân sư đến khe Tí Ngọ, phía bắc Nam sơn, Kinh đô. Người dân địa phương khóc lóc bi thương như mất cha mẹ. Đêm ấy tuyết rơi khắp một vùng, chu vi ba bốn dặm. Mọi người quét dọn đường sá rồi đưa nhục thân sư an trí trên đinh núi. Chiều tối, quanh nhục thân sư bỗng mọc lên khoảng năm trăm cây, cao chừng hai thước, nở những bông hoa lạ xanh tươi giống như hoa ở xứ lạnh, nhưng dáng vẻ rất đặc biệt. Đại chúng buồn vui lẫn lộn làm huyên náo cả núi. Mọi người hái hoa mang về kinh đô, chỉ cho các bậc trưởng lão xem, rồi mới đặt vào bình nước.
Đến tháng năm năm sau mà hoa vẫn không úa héo. Nếu chẳng phải do phúc đức cao dày nhiều đời gia hộ thì sao thầm cảm được điềm lành như thế.
Có một người ở Tấn châu rất thích đi săn, hoàn toàn không kính tin Tam bảo. Sau nghe những điềm lành của sư, anh ta mới đến núi tìm thì chỉ thấy một khoảng đất trống. Anh ta ân hận, buồn khóc: “Lúc còn sống thì ta không được mở tín tâm; khi chết lại chẳng gặp điềm lành; lẽ nào một mình ta không cảm? Nhất định có thần linh, xin được hiển điềm lành!”. Vừa dứt lời, bỗng từ dưới đất mọc lên hoa kì lạ cao đến hai thước. Vui mùng vì điềm này nên anh ta phát tâm vô cùng kiên cố.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
06/11/2015
PUCL QUYỂN 25 - CHƯƠNG KIẾN GIẢI
QUYỂN 25 Quyển này có một chương Kiến giải. 17. CHƯƠNG KIẾN GIẢI 17.1. LỜI DẪN Tâm thức biến chuyển, đó là lí vô thường; ngộ mê trái nhau, bậc Thánh nào có dấu vết; lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ như vang theo tiếng. Đó chí...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ
QUYỂN 23 Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp. 14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn) 14.1. LỜI DẪN Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi;...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO
QUYỂN 22 Quyển này có một chương Nhập đạo. 13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO 13.1. LỜI DẪN Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN
QUYỂN 21 Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian. 10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN 10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo....
06/11/2015
PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ
QUYỂN 20 Quyển này có một chương Kính lễ. 9. CHƯƠNG KÍNH LỄ 9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 19 - CHƯƠNG KÍNH TĂNG
QUYỂN 19 Quyển này có một chương Kính tăng. 8. CHƯƠNG KÍNH TĂNG 8.1. LỜI DẪN Tăng bảo là những bậc trì giới cấm, giữ chân tính, oai nghi thoát tục. Họ cầu xuất thế mà phát tâm, lìa thế gian mà học đạo, không động lòng tr...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 18 Quyển này tiếp theo chương Kính pháp. 7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt) 7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉ...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 17 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT - KÍNH PHÁP
QUYỂN 17 Quyển này gồm chương Kính Phật tiếp theo chương Kính pháp. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt) 6.7. PHỔ HIỀN LINH CẢM 6.7.1. Đời Tống, thái hậu Lộ Chiêu: Niên hiệu Đại Minh thứ tư (450), thái hậu Lộ Chiêu tạo tượng bồ-tát...
