PUCL QUYỂN 19 - CHƯƠNG KÍNH TĂNG
06/11/2015
QUYỂN 19 Quyển này có một chương Kính tăng. 8. CHƯƠNG KÍNH TĂNG 8.1. LỜI DẪN Tăng bảo là những bậc trì giới cấm, giữ chân tính, oai nghi thoát tục. Họ cầu xuất thế mà phát tâm, lìa thế gian mà học đạo, không động lòng tr...

QUYỂN 19
Quyển này có một chương Kính tăng.
8. CHƯƠNG KÍNH TĂNG
Nếu muốn đợi Thái công làm tể tướng thì nghìn đời cũng không có Thái công, mong được La-thập làm thầy thì vạn kiếp cũng không có La-thập. Đâu thể thấy một vị tăng lỗi lầm mà chê bai đến Phật tôn quí, thấy một người giới kém mà khinh pháp vô thượng. Chỉ có thê vì đạo bỏ người, vì người không hoằng đạo; chứ không thể vì người bỏ đạo, bởi đạo là thầy cùa người.
Như Phật Thích-ca... chính là Phật bảo; giáo, lí hạnh, quả do kim khẩu Ngài nói ra chính là pháp bảo; các sa-môn chứng quà chính là tăng bảo. Cho nên, chỉ một lần chiêm ngưỡng, một lần lễ lạy Tam bảo thì tiêu sạch muôn phiền não; một lần khen ngợi, một tiếng xưng danh Tam bảo thì tan hết nghìn tai họa.
Tự nghĩ mình phúc mỏng không gặp được chính pháp, song cũng còn may được nương giáo pháp Phật để lại, được hưởng ân trạch của Như Lai. Bấy giờ, tượng Đức Phật được họa vẽ khắc tạo trên vàng, gỗ, đồng, vải, lụa với sắc màu đen, trắng, đỏ, xanh là Phật bảo. Những lời kinh điển ghi chép trên giấy, lụa, tre, vải... là pháp bảo. Người cạo râu tóc, mặc y nhuộm, ôm bình bát là tăng bảo. Ba thể tướng ấy tuy giả, nhưng tiêu biểu cho hình ảnh chân thật. Do đó, tôn kính ba thể ấy thì mãi mãi thoát khỏi cảnh luân hồi; ngược lại, xem thường thì rước lấy khổ báo.
Như tượng gỗ không phải mẹ ruột, nhưng lễ lạy thì tiếng thơm lưu mãi nghìn năm. Phàm tăng dù không phải thánh tăng, mà tôn kính thì phúc đức cũng hơn vạn đời. Nên biết, ngọn gió ấy đã thổi thì xa gần đều noi theo; âm thầm cứu giúp chúng sinh thì công đức chẳng thể lường, nếu có lỗi lầm đối với bậc ấy thì mắc tội rất lớn. Người đã nguyện xuất gia, về lí phải khác thế tục. Như triều Tống lúc đầu không biết, tin theo tà đạo xao động lòng người, đạo tục kinh sợ. Sau tỉnh ngộ, vua hối hận ăn năn, lại đích thân lễ kính.
Nước Tống với vùng Kinh-Man quê mùa hẹp nhỏ, đôi dòng Giang-Hán thác ghềnh, đâu thể so với nước lớn được trị vì bởi Kim luân thánh vương.
Hơn nữa, kinh Lễ ghi: “Người mặc giáp thì không lễ lạy quân vương vì sợ mất khí tiết”. Còn người bỏ đời sống thế tục, thân khoác giáp nhẫn nhục mà quì lạy hàng cư sĩ, theo lí thì không thể chấp nhận được. Tam bảo đều tôn quí như nhau, cần phải kính trọng như nhau, không nên chỉ tuân theo Phật và pháp mà bỏ tăng ni. Vì pháp không tự truyền bá, mà cần phải do người truyền bá. Người có năng lực hoằng pháp thì nên tôn kính như Phật và pháp.
8.2. DẪN CHỨNG
Kinh Phạm võng ghi: “Người xuất gia không được lễ bái vua chúa, cha mẹ, người thân, cũng không kính thờ quỉ thần”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Người xuất gia không lễ lạy người tại gia”.
Luật Tứ phần ghi: “Phật bảo các tì-kheo theo thứ tự vị nhỏ kính lễ vị lớn, không nên lễ lạy cư sĩ tại gia”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Sau khi vua Tịnh Phạn cùng quyến thuộc và trăm quan lần lượt lễ Phật. Đức Phật nói:
- Nay phụ vương nên đinh lễ các tì-kheo như tì-kheo Ưu-ba-li ...
Vua nghe lời Phật, từ tòa đứng dậy lần lượt đỉnh lễ năm trăm vị tì-kheo.
Kinh Tát-già Ni-kiền-tử ghi: “Nếu người phỉ báng pháp Thanh văn, Bích-chi phật và pháp Đại thừa thì phạm tội căn bản”.
Luận Thuận chỉnh lí ghi: “Chư thiên không dám nhận sự lễ lạy của người thụ năm giới. Như vua của các nước cũng không muốn tì-kheo lễ bái, vì sợ tổn công đức và thọ mạng”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Phật bảo Ca-diếp:
- Nếu có người xiển dương và hộ tri Phật pháp thì phải đến thưa hỏi và xả thân mạng mà cúng dường, như ta đã nói trong các kinh Đại thừa:
Là người biết pháp
Tì-kheo lớn nhỏ
Phải nên cúng dường
Cung kính lễ bái
Giống việc thờ lửa
Của bà-la-môn.
Là người biết pháp
Tì-kheo lớn nhỏ
Phải nên cúng dường
Cung kinh lễ bái
Giống như chư thiên
Kính thờ Đế Thích.
Ca-diếp thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Như lời Thế Tôn dạy thì phải nên cúng dường sư trưởng như thế. Nhưng nay con có điều nghi, xin Ngài chỉ dạy: Nếu vị trưởng lão tôn túc hộ trì giới cấm đến tì-kheo trẻ tuổi học hỏi những điều chưa biết, vị ấy có nên kính lễ tì-kheo trẻ không? Nhưng nếu lễ kính thì không gọi là người trì giới. Nếu có tì-kheo trẻ tuổi giữ gìn giới cấm theo học hỏi những điều chưa biết với các tì-kheo lớn tuổi phá giới, thì có phải lễ lạy tì-kheo ấy không? Nhưng mà trong Phật pháp, người trẻ tuổi phải nên cung kính bậc trưởng lão tôn túc nhiều tuổi, vì vị ấy thụ giới cụ túc và thành tựu các uy nghi trước, thế nên phải cung kính cúng dường các vị ấy. Nếu người xuất gia theo học hỏi những điều chưa biết với người tại gia, có nên lễ lạy người tại gia không? Nhưng Phật đã dạy người xuất gia thì không nên lễ kính người tại gia?
Đức Phật bảo Ca Diếp:
- Này thiện nam! Ta nói bài kệ này cho các vị bồ-tát, những người học Đại thừa đời vị lai, chứ chẳng nỏi cho các đệ tử thanh văn!
Này thiện nam! Như trước Ta đã nói, khi chính pháp diệt, chính giới hủy hoại, khi sự phá giới tăng trưởng, phi pháp hưng thịnh, khi tất cả thánh nhân ẩn mất chẳng hiện, khi kẻ tu hành nuôi nô tỳ, chứa các vật bât tịnh, thì sẽ có một người trong bốn hạng người này xuất hiện ở thế gian, cạo bỏ râu tóc, xuất gia tuđao. Người ấy thấy các tì-kheo đều nhận nuôi nô tỳ người sai bảo, vật bât tịnh; chẳng phân biệt được tịnh và bất tịnh, cũng chẳng nhận biết đúng luật hay chẳng phải luật. Người này vì muốn điều phục những tỳ-kheo như vậy, nên cùng chung hòa quang nhưng chẳng đồng trần với họ. Biết rõ hành xứ của mình và hành xứ của Phật. Người ấy tuy thấy những người phạm Ba-la-di nhưng im lặng, chẳng cử tội. Vì sao? Vì ta ra đời là vì muốn kiến lập và hộ trì chính pháp. Vậy nên ta im lặng mà chẳng tra cứu, sửa trị. Này thiện nam! Người như vậy vì bảo vệ giáo pháp, tuy có chỗ phạm nhưng chẳng gọi là phá giới”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Làm thế nào biết được người nào vượt hơn, người nào kém hơn?
- Các tì-kheo nên biết! Có hai hạng: người có lòng tin và người không có lòng tin; người có lòng tin vượt hơn, người không có lòng tin kém hơn. Người có lòng tin lại có hai hạng: Thường đến gặp tì-kheo và không thường đến gặp tì-kheo; người thường đến gặp tì-kheo thì trội hơn, người ít đến gặp tì-kheo chẳng bằng được. Người thường đến gặp tì-kheo lại có hai hạng: Người lễ kính tì-kheo và người không lễ kính tì-kheo; người lễ kính tì-kheo thì trội hơn, người không lễ kính tì-kheo chẳng bằng. Người lễ kính tì-kheo lại có hai hạng: người thưa hỏi kinh điển và người không thưa hỏi; người hỏi kinh thì trội hơn, người không hỏi kinh chẳng bàng”.
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Ngày xưa, có vị quốc vương tuần du, mỗi lần gặp sa-môn, liền vội xuống xe đỉnh lễ. Thấy vậy, một đạo nhân bảo:
- Đại vương hãy thôi, không cần xuống xe!
Nhà vua nói:
- Ta lên đấy chứ, đâu có xuống! Sở dĩ ta nói lên, chứ không xuống, bởi nay lễ đạo nhân, sau khi qua đời, ta sẽ sinh lên trời”.
Luận Thiện kiến ghi: “Vua Thâu-đầu-đàn-na' lễ Phật xong, liền bạch:
- Đến nay, con đã ba lần lễ đức Thế Tôn. Lần thứ nhất, lúc Phật đản sinh, A-di xem tướng rồi bảo: ‘Nếu là tại gia, đứa bé này sẽ làm Chuyển luân thánh vương. Nếu xuất gia học đạo, đứa bé này chắc chắn sẽ thành Phật’. Bấy giờ mặt đất chấn động, con thấy thần lực ấy, liền lạy đức Thế Tôn. Lần thứ hai, con ra khỏi cung dạo xem người cày ruộng. Khi ấy, bồ-tát ngồi ở cội cây Diêm-phù, mặt trời đã xế, nhưng bóng cây không dời, vẫn dừng trên đầu để che bồ-tát. Thấy thần lực ấy, con liền lạy đức Thế Tôn. Lần thứ ba, nay con đón tiếp Thế Tôn đến nước con, Ngài đã bay lên không trung hiện mười tám thứ thần biến, như thần lực vô úy hàng phục ngoại đạo; thấy thế, con liền cúi lạy”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, mỗi lần muốn dạo trong vườn, Thích-đề-hoàn-nhân thường ra lệnh cho người đánh xe chuẩn bị xe nghìn ngựa. Chuẩn bị xong, người đánh xe tâu vua biết. Trời Đế Thích liền bước xuống điện Thường Thắng, hướng về phía đông lễ Phật. Người đánh xe thấy thế, lòng rất kinh ngạc, toàn thân rúng động, chiếc roi ngựa rơi xuống đất. Thấy vậy, Đế Thích liền nói kệ:
Sao ngươi lại hoảng sợ
Rơi roi ngựa xuống đất?
Người đánh xe dùng kệ đáp:
Thưa thiên vương Đế Thích
Phu quân củaXá-chi
Sở dĩ lòng sợ hãi
Rơi roi ngựa xuống đất
Vì thường thấy ĐếThích
Khắp các cõi lớn, nhỏ
Bốn thiên vương hộ đời
Và các trời Đao-lợ
Thảy đều cung kính lễ.
Là Đế Thích thiên vương
Còn bậc tôn quí nào
Tôn quí hơn Đế Thích
Mà ngài hướng về đông
Chắp tay cung kính lễ?
Đế Thích nói kệ đáp:
Đối với tất cả vua
Lớn, nhỏ trong thế gian
Bốn thiên vương hộ thế
Và các trời Đao-lợỉ
Quả ta tôn quí nhất
Tất cả tôn kính ta.
Nhưng thế gian có bậc
Chứng quả Đẳng chính giác
Hiệu là Mãn Đại Sư
Nên ta dập đầu lễ.
Người đánh xe lại thưa:
Hẳn tối thắng trong đời
Mới khiến trời Đế Thích
Chắp tay hướng về đông
Cung kính dập đầu lễ
Nay tôi cũng sẽ lễ,
Bậc mà thiên vương lễ.
Phật bảo các tì-kheo:
- Thiên Đế Thích kia là vua cõi trời, ung dung tự tại mà còn cung kính Phật. Tì-kheo các ông xuất gia học đạo cũng nên cung kính Phật như vậy. Trời Đế Thích kia, chồng của Xá-chi, tự thân cung kính lễ pháp và tăng, cũng khen ngợi người lễ kính pháp và tăng. Các ông đã có lòng chính tín xuất gia học đạo, thì cũng nên kính lễ pháp và tăng, phải khen ngợi người lễ kính pháp và tăng.
Bấy giờ, Đế Thích từ điện Thường Thắng bước xuống, chắp tay hướng về các phương, lễ một cách cung kính. Thấy vậy, người đánh xe sợ hãi, buông chiếc roi ngựa rơi xuống đất, nói kệ:
Tại sao Kiều-thi-ca
Tôn trọng người không nhà?
Giảng nghĩa ấy cho tôi
Tôi khao khát muốn nghe.
Thiên Đế Thích nói kệ đáp:
Ta cung kính người kia
Bậc xuất gia không nhà
Tự tại dạo các phương
Tự tại đến và đi
Mọi đất nước, thành thị
Lòng đều chẳng vướng bận
Không chứa vật nuôi thân
Một đường định vô dục.
Đế thì chảng cầu gì
Chỉ vui thú vô vi
Khi nói toàn tời thiện
Lúc im, tâm vắng lặng.
Các trời, a-tu-la
Thường xuyên chống đổi nhau
Loài người cũng tranh giành
Chống nhau giống như thế.
Chỉ có người xuất gia,
Không màng việc tranh đấu,
Buông bỏ hết dao, gậy
Chẳng hại các chúng sinh
Lìa sắc đẹp, tiền của
Không mê, không phóng túng
Xa rời mọi điều ác,
Nên ta phải kính lễ.
Người đánh xe lại nói kệ:
Bậc thiên vương tôn kính
Chắc là quí trong đời
Nên tôi từ hôm nay,
Sẽ lễ người xuất gia ”
Kinh Phổ-đạt vương ghi: “Bấy giờ vua nước Phù-diên tên là Phô-đạt, thống lãnh bốn phương, cácnước đều phải triều cống. Vua kính phụng Phật pháp chưa từng sơ suất, thường khởi lòng từ thương xót nhân dân không biết Tam bảo. Mỗi lần trai giới, vua thường lên lầu cao đốt hương, cúi đầu chạm đất đỉnh lễ Tam bảo. Thần dân trong nước thấy vua như thế lấy làm lạ, cùng nhau luận bàn: ‘Vua là bậc được muôn dân tôn trọng, xa gần đều kính phục, nói ra mọi người đều nghe, vì sao lại hạ oai phong của mình mà cúi đầu sát đất?’. Quần thần nhiều lần bàn tán, muốn can gián nhưng không dám.
Một hôm, vua sai cận thần chuẩn bị xa giá rồi cùng với mấy nghìn người quan dân rời khỏi cung. Đi chưa xa, chợt thấy một đạo nhân, vua liền xuống xe, bỏ lọng, đứng như quần thần đỉnh lễ vị đạo nhân, rồi thỉnh đạo nhân về cung dâng cúng thức ăn. Chưa kịp đi, quần thần liền ngăn: ‘Đại vương là bậc chí tôn, vì sao ở giữa đường lại lễ lạy sát đất vị đạo nhân ăn xin. Đầu mặt là chỗ tôn quí của con người, bệ hạ còn là chủ của một nước, thì lại càng chẳng đồng với người khác’.
Vua liền sai cận thần tìm đầu của người chết cùng đầu của trâu, ngựa, heo, dê. Người ấy đi khắp nơi tìm kiếm, qua một ngày mới đủ, trở về tâu vua:
- Tâu đại vương! Như lệnh, thần đã tìm đủ đầu của người chết và đầu của lục súc.
Vua bảo:
- Ngươi hãy đem ra chợ bán.
Vị ấy bèn sai người đi bán, những đầu trâu, ngựa, heo, dê... đều có người mua, chỉ có đầu người là chưa bán được.
Vua nói:
- Đắt rẻ gì cũng bán.
Vị thần ấy bèn bảo người đi bán: ‘Nếu đầu người bán không được thì đem cho người ăn xin’. Người kia đem bán suốt ngày vẫn không bán được, người ăn xin cũng không lấy đầu người. Vì thế lâu ngày đầu người trương sình bốc mùi hôi. Vua tức giận mắng những người ngăn vua hành lễ đạo nhân:
- Các khanh trước đây ngăn ta và nói: ‘Đầu người là quí nhất, không thể tự làm nhục mà cúi đầu mặt sát đất lễ lạy đạo nhân’. Nay ta sai sứ bán đầu lục súc thì mọi người đều mua, còn đầu người thì kẻ ăn xin cũng không lấy!
Vua bèn sai cận thần chuẩn bị xe để đến vùng đầm hoang ngoài thành, vua có điều muốn hỏi. Nghe thế, thần dân ai cũng kính sợ. Đến nơi, vua liền hỏi quần thần:
- Các khanh có biết ngày xưa, lúc tiên đế còn sống, có một em bé thường cầm lọng không?
Quần thần đáp:
- Chúng thần có biết người này.
Nay em bé ấy ở đâu?
Quần thần đáp:
- Người ấy đã mất mười bảy năm rồi.
- Đức bé ấy là người thế nào, thiện hay ác?
- Chúng thần thường thấy người ấy hầu hạ tiên vương, trai giới nghiêm cẩn, rất mực thành tín, không nói lời phi pháp.
- Nếu nay thấy y phục của đứa bé ấy lúc còn sống, quí vị có biết không?
- Tuy việc đã lâu, nhưng chúng thần vẫn còn nhớ. Các quan đáp.
- Hãy mau vào kho trong cung lấy y phục của đứa bé đã mât đem ra. Vua bảo.
Lát sau cận thần mang áo đến, vua hỏi:
- Có phải chiếc áo này không?
- Đúng là chiếc áo ấy.
- Nếu nay các ông thấy đứa bé ấy thì có nhận ra không?
Các quan im lặng hồi lâu rồi đáp:
- Chúng thần ngu muội, không thấy, cũng không nhận ra!
Vua định nói nguồn gốc của mình, chợt thấy phía trước có mọt đạo nhân đi đến, vua rất vui mừng, đầu mặt tiếp đất lễ bái đạo nhân. Các quan thấy thế trong lòng không vui. Khi đạo nhân ngồi vào tòa, vua chắptay trình bày sự việc rồi nói: Vì thế nên nay nghiêm túc nêu ra để bày rõ ngọn nguồn, mong đạo nhân vì thần dân nước này khai mở chỗ u tối khiến họ hiểu được chân pháp!’. Đạo nhân liền nói duyên xưa của vua cho thần dân nghe: ‘Vua ngày nay chính là đứa bé mà ngày xưa cầm lọng che tiên đế, thường theo tiên đế trai giới một ngày cũng không phạm. Sau đó, đứa bé qua đời, thần hồn thác sinh làm con tiên đế. Nay có được địa vị tôn quí này chính là nhờ hạnh trai giới xưa’. Lúc ấy các quan đều vui mừng nói:
- Hôm nay may mắn gặp được đạo nhân, xin ngài thương xót nhận chúng tôi làm đệ tử.
Đạo nhân nói:
- Thầy ta hiệu là Phật, thân đầy đủ tướng hảo, đi khắp ba cõi truyền trao chân lí cho chúng sinh. Nay Thế Tôn cách nơi này khoảng sáu nghìn dặm.
Vừa nói xong, đạo nhân bay đến nước Xá-vệ bạch Phật:
- Nhân dân nước ấy rất đáng thương, nay đều thành tâm muốn thấy Phật. Xin Đại Từ khai thị chân đạo.
Phật bèn nhận lời:
- Ngày mai Ta sẽ đến nước Phu-diên.
Hôm sau, Phật đến nước này nói pháp cho vua cùng thần dân:
- Các ông có muốn biết nguồn gốc của vua Phổ-đạt và đạo nhân không?
A-nan đáp:
- Chúng con mong Thế Tôn nói rõ việc ấy.
Phật dạy:
- Vào thời Phật Ma-ha Văn, vua là con của một gia đình giàu có, người cha kính tín cúng dường Tam bảo. Một hôm, người cha bảo con truyền hưong, nhưng người con không chịu trao hương cho người hầu, vì khinh thường người ấy. Do, tội phúc báo ứng nên gặp họa này, tuy tạm làm đứa bé phục dịch, nhưng siêng năng trai giới, kính pháp, nên nay được làm vua. Đạo nhân vốn là người hầu xưa, lúc ấy không được dâng hương, nhưng lòng không giận, lại phát nguyện: ‘Nếu tôi thành đạo sẽ độ người này’. Lời nguyện lành ấy thật đúng, nên nay đến độ vua cùng nhân dân.
Nghe Phật nói về nhân duyên kiếp trước của mình, ý vua thông suốt liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Người dân trong nước nghe kinh đều phát nguyện giữ gìn năm giới cấm, mười điều lành.
Kinh A-dục vương ghi: “Ngày xưa, có lần trông thấy một sa-di bảy tuổi, vua A-thứ-già đưa chú sa-di đến chỗ khuất để đinh lễ, rồi dặn dò:
- Chú đừng nói với mọi người rằng ta lễ chú nhé!
Lúc ấy, trước mặt có một cái bình đựng nước lớn, chú sa-di liền chui vào đó, rồi lại chui ra. Sau đó dặn vua:
- Đại vương đừng nói với ai rằng có sa-di chui vào, chui ra bình nước này nhé!
Nhà vua liền nói:
- Ta sẽ nói cho mọi người biết, không thể giấu được!”.
Vì thế, các kinh đều ghi: “Sa-di tuy còn nhỏ nhưng mọi người cũng không nên xem thường vì có thể độ người. Con vua tuy còn bé, nhưng mọi người cũng không nên xem thường vì có thể giết người. Rồng con tuy còn bé, nhưng mọi người cũng không nên xem thường vì có thể tạo mây mưa sâm chớp. Do đó, chớ thấy bé mà xem thường!”.
Kinh Phó pháp tạng ghi: “Sau khi Phật vào niết-bàn một trăm năm, có vua A-dục kính tin Tam bảo, thường tổ chức đại hội Ban-già-vu-sắt. Đến ngày hội, nhà vua tắm nước thơm, mặc áo mới, lên lầu cao đỉnh lễ bốn phương, từ xa cung thinh chư tăng. Thuận lời thỉnh của vua, có hai mươi vạn thánh tăng bay đến. Lòng tin Tam bảo của vua sâu xa thật khó lường, nhưgặp sa-môn, dù già hay trẻ, dù phàm hay thánh, nhà vua đều đón tiếp, thăm hỏi và cung kính lễ lạy. Bấy giờ, có một vị quan tên Dạ-xa tà kiến sâu nặng, không có lòng kính tin, thấy nhà vua lễ lạy chư tăng, ông ta nói: ‘Nhà vua thật không có trí tuệ, tự hạ thấp tấm thân tôn quí đức độ, lễ lạy trẻ con’. Nghe lời ấy, nhà vua liền ra lệnh cho các quan tìm đầu thú vật đã chết, mỗi vị dâng một đầu thú. Riêng Dạ-xa, vua sai tìm một đầu người. Sau khi mọi người tìm được đầu, vua lại ra lệnh họ mang ra chợ bán. Tất cả các đầu thú đều bán được. Nhưng cái đầu người của Dạ-xa, ai trông thấy cũng ghét bỏ, xem thường,
chẳng chịu mua. Qua mấy ngày sau, cái đầu người ấy sắp thối. Mọi người trông thấy đều mắng chửi Dạ-xa và nói:
- Ông hiện nay không phải là hạng người chiên-đà-la, hoặc dạ-xoa, hay la-sát, tại sao ông lại tìm đầu người để bán?
Sau khi bị mắng chửi, Dạ-xa vào cung tâu:
- Đi bán đầu người, thần bị nhiều người chửi mắng! Không ai muốn nhìn đầu người, huống gì mua.
Nhà vua bảo:
- Nếu không có ai mua, ông hãy cho không đi
Vâng lời vua, Dạ-xa lại đem đầu người ra chợ,
bảo mọi người:
- Người nào không có tiền để mua sắm thi tôi cho không cái đầu này.
Người đi chợ nghe thấy thế, lại càng mắng chửi Dạ-xa thậm tệ hơn, chẳng ai chịu lấy cái đầu. Dạ-xa hổ thẹn, trở về cung vua, chắp tay tâu:
- Cái đầu này thật khó bán. Thần cho không cũng không ai lấy, ngược lại, còn bị mắng chửi!
Nhà vua hỏi Dạ-xa:
- Vật gì quí nhất?
Dạ-xa thưa:
- Người quí nhất.
Nhà vua hỏi:
- Nếu quí, tại sao bán không được?
Dạ-xa đáp:
- Người sống tuy quí, nhưng chết rồi thì rẻ mạt. Nhà vua lại hỏi:
- Nếu ta chết, đầu ta cũng rẻ mạt như thế chăng? Dạ-xa hoảng sợ, không dám trả lời. Nhà vua
liền bảo:
- Ta cho phép, ngươi đừng sợ, phải trả lời thành thật
Sợ hãi, không dám ngửng đầu lên, Dạ-xa đáp:
- Nếu đại vương chết thì đầu ngài cũng rẻ mạt như cái đầu này.
Nhà vua hỏi tiếp:
- Nếu ta chết thì đầu ta cũng giống như cái đầu hèn mạt này. Thế thì, tại sao ngươi ngạc nhiên về việc ta lễ kính chư tăng? Nếu ngươi đúng là bạn tốt của ta,phải nên khuyên ta đem cái đầu mong manh đổi lấy cái đầu bền chắc. Tại sao nay ngươi ngăn cản ta lễ lạy chư tăng?
Nghe vua nói thế, Dạ-xa mới hối hận, tự trách mình, liền bỏ tà kiến, theo chính kiến, qui kính Tam bảo.
Vì nhân duyên ấy, chúng sinh nào được nghe hoặc thấy Tam bảo, phải nên chí tâm cung kính lễ bái”.
Luật Tứ phần ghi: “A-la-hán Tân-đầu-lô vốn là bề tôi của vua Ưu-điền, do tinh cần khổ hạnh, nên vua cho xuất gia và đã đắc quả A-la-hán. Ngài thường trú tại một ngôi chùa cách thành hai mươi dặm. Vua thường xuất thành đến chùa tham lễ ngài, các nịnh thần thấy tôn giả không đứng dậy đón vua, nên khởi ác tâm sàm tấu. Nghe lời nịnh thần, nhà vua định sát hại tôn giả. Lần sau, thấy vua vào cổng, tôn giả bèn xuồng tòa đi bảy bước đón vua. Vua nôi giận nói:
- Vì sao trước đây đại đức không khởi thân đón ta, nay sao lại rời tòa nghinh đón!
Tôn giả đáp:
- Trước đây vua đến bằng tâm tốt nên bần đạo không đứng dậy nghinh đón. Nay ngài ôm lòng ác mà đến, nếu không khởi thân nghinh đón thì sẽ bị giết.
Vua khen:
_ Quí thay! Đệ tử ngu si tin theo lời nịnh thần, không phân biệt phàm thánh
Vua xin sám hối, tuy khỏi được tội địa nguc. Nhưng Tân-đầu-lô huyền kí: “Do muốn tăng khởi thân nghinh tiếp, nên bảy ngày sau bệ hạ phải mất ngôi vua!”. Bảy ngày sau, vua nước láng giềng khởi binh đánh chiếm, vua Ưu-điền bị giam vào ngục mười hai năm.
* Lời bàn
Vì thế cần phải hết sức cung kính, cẩn trọng, không được tự cao mà tổn hại phúc báo sau này. 'Thường thấy người đời khi nhận được một chức vị nhỏ đã mất niềm tin, sinh tâm ngã mạn, mắng chửi tăng ni, tìm nhiều cách hủy nhục. Như trong công đường, mình ngồi trên cao, sai người kéo tăng ni đánh đập, mạ nhục một cách phi lí. Phá bỏ điều thiện, tăng trưởng tội ác không gì hơn việc này. Tuy tăng ni có phạm vương pháp đi nữa cũng phải dùng lí mà xử trị. Tuy thi hành theo quốc pháp, nhưng trong lòng phải biết tự hổ thẹn. Đạo tục đồng là phàm phu ở trong ba cõi, chưa thành bậc thánh, ai không có lỗi!
Người xuất gia, tuy bên trong không có hạnh chân thật, nhưng nay đã cạo bỏ râu tóc, thân mặc pháp phục, khiến cho mọi người nhìn thấy phát khởi tâm thiện, sinh lòng cung kính. Tăng ni phá giới cũng có thể thăng tòa thuyết các pháp làm lợi ích quần sinh. Mọi người nghe thấy, tự phát tâm tu trì lục độ, lại khuyến hóa người khác tu tập. Nhân tu hạnh lành nên đời sau, gần thì được sinh làm trời người, xa thì thành tựụ quả thánh. Khi được quả thánh thì làm lợi ích không cùng. Thí như ban đầu chỉ một ngọn đèn mà sau trăm nghìn đèn tiếp nối sáng mãi không dứt. Pháp vô tận ấy đều do công giáo hóa đầu tiên của vị tăng ni phá giới ấy mà được. Đã thấy được lợi ích lớn lao như thế, nên mỗi người phải thận trọng. Nếu buông lời khi dối người xuât gia, hiện tại chưa thấy mảy may lợi ích nào mà tiếng xấu đã lan truyền khắp nơi, muôn kiếp sau phải chịu khổ báo. Nên kinh nói: “Một niệm ác có thể mở năm cửa bất thiện”, như sau này sẽ nói rõ.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Chiên-đàn-kế-ni-trá, vua nước Nhục-chi nghe danh tiếng của a-la-hán Kì-dạ-đa ở nước Kế-tân, nên cùng các quan đi đến đó diện kiến. Trên đường đi, vua thầm nghĩ: ‘Nay ta là vua của thiên hạ, tất cả nhân dân đều kính phục, nếu chẳng phải bậc có đức thì đâu thể nhận sự cúng dường của ta?’. Thế rồi vua tiếp tục lên đường.
Bấy giờ, có người ở nước này đến báo với tôn giả:
- Vua nước Nhục-chi cùng quần thần từ xa đến gặp ngài, xin ngài hãy chỉnh sửa y phục chuẩn bị tiếp đón.
Tôn giả nói:
- Người xuất gia xem đạo tôn quí vượt thế gian, lấy đức làm đầu, đâu cần chỉnh sửa y phục để nghinh tiếp?
Tôn giả bèn lặng lẽ ngồi yên, không đứng dậy. Vua nước Nhục-chi đi đến chỗ tôn giả. Thấy tôn giả oai đức, lòng càng kính ngưỡng, liền đỉnh lễ rồi đứng qua một bên. Lúc ấy, tôn giả muốn ho, bất giác vua tiến đến cầm ống nhổ. Tôn giả nói với vua:
- Nay bần đạo chưa đủ đức để làm ruộng phúc cho vua, vì sao vua lại hạ mình đến đây?
Vua nước Nhục-chi vô cùng hổ thẹn thầm nghĩ: ‘Trước đây ta chỉ khởi một niệm nhỏ mà ngài đã biết được, nếu chẳng phải là bậc thần đức làm sao được như thế’. Tôn giả bèn lược thuyết giáo pháp: ‘Vua đã đến bằng con đường tốt, thì hãy đi giống như lúc đến’. Vua nghe dạy xong liền trở về nước.
Trên đường trở về, quần thần oán trách: ‘Chúng ta cùng đại vương từ xa đến nước này, hoàn toàn chẳng nghe được lời dạy nào, phải về không’. Vua bảo:
- Vừa rồi tôn giả dạy ta: ‘Vua đã đến bằng con đường tốt, thì hãy đi giống như lúc đến’. Các khanh không hiểu được câu ấy sao? Ngày xưa ta giữ giới, bố thí, tu tạo công đức để gieo nhân làm vua. Nay đã hưởng địa vị ấy thì phải tích tập phúc thiện để đời sau lại được hưởng phúc. Vì thế mà tôn giả dặn ta: ‘Vua đã đến bằng con đường tốt, thì hãy đi giống như lúc đến’.
Quần thần nghe rồi cúi đầu lễ tạ nói:
- Chúng thần ngu muội hiểu sai lời này. Đại vương có thần đức, nên khế hợp với huyền chỉ, nhờ gom chứa công đức, nên hưởng được vương vị.
Nói rồi, quần thần vui mừng lui ra”.
Luật Thập tụng ghi: “Bấy giờ, Thế Tôn nói về nhân duyên bản sinh cho các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ ở gần chân Tuyết sơn có chim chuyết, vượn và voi cùng ở chung. Tuy ở chung nhưng chúng không tôn trọng mà thường khinh chê nhau. Một hôm, cả ba con đều nghĩ: ‘Vì sao chúng ta không cung kính lẫn nhau? Nếu ai sinh trước thì đáng được tôn trọng, cung cấp và vâng lời người ấy’. Thế rồi chim chuyết và vượn hỏi voi:
- Anh nhớ việc gì về quá khứ? Bấy giờ nơi đây có cây tất-bát lớn này không?
- Lúc nhỏ tôi đi, cây này còn rất thấp, chưa đến bụng tôi! Voi đáp.
Voi và chim chuyết hỏi vượn:
- Anh nhớ điều gì?
- Hồi nhỏ ngồi trên đất, tôi cầm lấy đầu cây này đè xuống sát đất.
Voi nói với vượn:
- Thế là anh tuổi lớn hơn tôi, tôi sẽ kính, mong anh nói pháp cho tôi nghe.
Voi và vượn hỏi chim chuyết:
- Còn anh nhớ việc gì?
- Lúc ấy, có cây tất-bát rất lớn, tôi ăn hạt của nó rồi đến đây đại tiện mới mọc ra cây này, đến nay nó đã cao lớn như thế.
Vượn nói với chim chuyết:
- Anh tuổi lớn hơn tôi, tôi sẽ cung cấp cho anh, mong anh nói pháp cho tôi nghe.
Bây giờ voi cung kính và nghe pháp từ vượn, rồi nói cho những con voi khác nghe. Vượn cung kính và nghe pháp từ chim chuyết và nói cho những con vượn khác nghe. Chim chuyết cũng nói pháp cho những chim chuyết khác nghe. Ba con thú ấy trước đây thích giết hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối, sau nhờ răn nhau mà không phạm. Thế rồi khi mạng chung, chúng đều sinh lên cõi trời.
Bấy giờ mọi người thấy chúng tu tập hạnh lành, không xâm phạm vào ngũ cốc của họ, nên họ dặn nhau: ‘Súc sinh còn có thể cung kính lẫn nhau huống gì là chúng ta’. Thế rồi mọi người đều cung kính lẫn nhau và thực hành năm giới, sau khi mạng chung đều được sinh lên trời.
Phật bảo các tì-kheo:
- Lúc ấy, chim chuyết chính là Ta, vượn chính là Xá-lợi-phất, voi chính là Mục-kiền-liên. Súc sinh là loài vô trí mà còn cung kinh lẫn nhau để tự lợi, lợi tha,huống gì các ông, có tín tâm xuất gia sao không tôn kính lẫn nhau.
Thế Tôn liền nói kệ:
Nếu người không kính Phật Và đệ tử của Ngài Hiện đời bị người mắng Đời sau đọa đường ác.
Nếu người kính Đức Phật Và đệ tử của Ngài Đời nay người khen ngợi Đời sau sinh lên trời.
Phật dùng nhiều nhân duyên tán thán pháp cung kính, lại bảo các tì-kheo:
- Từ nay, người thụ đại giới trước, dù chỉ giây lát, cũng được ngồi trước, được dùng nước và thức ăn uống trước”.
8.3. CUNG KÍNH ĐƯỢC LỢI ÍCH
Luận Bảo tính ghi: “Vì Tam bảo có sáu nghĩa nên phải tôn kính:
1. Hiếm có: Giống như vật báu ở đời, người nghèo cũng không thê có được. Tam bảo cũng như thế, chúng sinh phúc mỏng trải qua trăm nghìn vạn đời cũng không gặp được, cho nên gọi là bảo.
2. Lìa cấu bẩn: Giống như vật báu thật ở đời không có tì vết. Tam bảo cũng như thế, do lìa các phiền nào, nên gọi là bảo.
3. Có năng lực: Giống như vật quí giá ở đời có năng lực mạnh xóa nghèo, khử độc. Tam bảo cũng như thế, có năng lực sáu thần thông không thể nghĩ bàn, nên gọi là bảo.
4. Trang nghiêm: Giống như vật quí báu ở đời có thể dùng trang điểm thân, giúp người được xinh đẹp. Tam bảo cũng như thế, giúp trang nghiêm thân thanh tịnh cho hành giả, nên gọi là bảo.
5. Tôn quí nhất: Giống như vật quí báu hơn mọi vật trên đời, Tam bảo cũng như thế, thù thắng hơn tất cả mọi thứ trong đời, nên gọi là bảo.
6. Không biến đổi: Giống như vàng ròng ở đời, dù bị luyện lọc, mài giũa mà vẫn không thay đổi tính chất. Tam bảo cũng như thế, không bị tám ngọn gió thế gian ở đời làm biến đổi, nên gọi là bảo.
Tam bảo còn được tôn kính bởi sáu ý sau:
1. Đức Phật luôn chỉ dạy mọi chúng sinh, pháp là thuốc hay, tăng có thể truyền đạt lời Phật, tất cả đều làm lợi ích cho ta. Vì đền các ơn đó, nên ta phải tôn kính Tam bảo.
2. Trong đời ác mạt pháp, việc truyền pháp không dễ dàng, cần nhờ oai lực Tam bảo gia hộ, nên phải tôn kính.
3. Tam bảo khiến chúng sinh khởi lòng tin và vâng theo, nên phải tôn kính.
4. Tam bảo dạy tăng ni nghi thức cung kính, phụng sự, nên phải tôn kính.
5. Tam bảo khiến mọi người ưa thích cúng dường để chính pháp hiện diện ở đời lâu dài, cho nên phải tôn kính.
6. Tam bảo biểu trưng cho tướng tôn quí, nên phải tôn kính.
Do đó, luận Thành thật ghi: “Tam bảo có tướng tốt lành nhất, cho nên ta đặt ở đầu kinh”.
8.4. PHỈ BÁNG SẼ BỊ TỘI
Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Tất cả người tại gia, không kể sang hay hèn, đều không được đánh đập người làm công và súc vật của Tam bảo, cũng không được nhận lễ lạy của họ. Nếu không, sẽ bị tội”.
Kinh Tát-già Ni-kiền-tử ghi: “Nếu người nào phá chùa, tháp Phật, lấy vật của Tam bảo, hoặc bảo người khác làm các việc ấy, hoặc vui mừng khi thấy người khác làm, hoặc đánh đập, trói, nhốt, bắt hoàn tục, giết sa-môn trì giới hay phá giới đều phạm tội căn bản, chắc chắn sẽ chịu khổ sở trong địa ngục Vô Gián.
Nếu đất nước nào có vị vua làm những việc bất thiện như thế, thì các tiên thánh đều sẽ bộ đi, các thần có thế lực lớn sẽ không bảo vệ nước ấy, các quan tranh giành, khắp nơi binh biến, hạn hán, lụt lội, gió mưa trái thời, nhân dân đói kém, giặc cướp tunghoành, bệnh dịch tràn lan, người chết vô số. Vì không biết đó là do tự mình gây ra, nên vua nước ấy thường oán trách chư thiên”.
Kinh Nhân vương ghi: “Quốc vương và các đại thần tự cậy mình cao quí, nên chế định ra luật lệ để hủy diệt pháp của Ta, như ngăn cấm không cho xuất gia, không cho tạo tượng Phật, đặt chức thống quan để kiểm soát tăng ni, lập sổ ghi chép lý lịch tăng sĩ, bắt tì-kheo đứng dưới đất, người tại gia lại ngồi trên cao. Quôc vương và thái tử ngang ngược lập ra các biện pháp ngăn cấm, không theo lời Phật, phá hoại tăng đoàn, lập các thống quan kiểm soát tăng đoàn, dùng sổ sách quản lý tăng tịch, khống chê, khiến chư tăng chịu nhiều khó khăn, Phật pháp chóng hoại diệt ở thế gian”.
Kinh Đại tập ghi: “Đức Phật dạy:
- Tất cả chúng sinh đời này và đời vị lai phải nên tin sâu Phật, pháp, tăng. Những chúng sinh đó thường được hưởng quả báo tốt đẹp trong cõi trời và người, sẽ sớm được vào thành vô úy. Những chúng sinh làm các việc như thế, dù chỉ cúng dường một người vì Ta xuất gia, hoặc người theo Ta cạo bỏ râu tóc, đắp ca-sa mà không thụ giới, cũng được công đức, cho đến được vào thành vô úy. Vì nhân duyên ấy, Ta nói: ‘Nếu có chúng sinh nào vì Ta xuất gia, cạo bỏ râu tóc, đắp ca-sa, dù không giữ giới cấm, những người đó đều đã được đóng ấn Niết-bàn. Nếu có người dùng các cách sai trái để quấy rối, mắng chửi, chê bai, hoặc dùngtay, dao, gậy đánh đập, trói buộc, chém chặt người xuất gia không giữ giới, hoặc đoạt y bát và các dụng cụ sinh nhai của họ, thì đó là kẻ hủy hoại pháp thân và báo thân của chư Phật ba đời, là kẻ chọc mù mắt tất cả trời, người, muốn phá hoại chính pháp của chư Phật và hủy diệt hạt giống Tam bảo, khiến trời và người không còn được hưởng lợi ích, giúp ba đường ác lớn mạnh khắp nơi. Do đó, kẻ ấy nhất định đọa địa ngục’.
Bấy giờ, vị chúa thế giới Ta-bà là Đại Phạm Thiên vương thưa Phật:
- Nếu có người theo Phật cạo bỏ râu tóc, đắp ca-sa mà không thụ giới cấm hoặc thụ giới rồi vi phạm, bị vua dòng Sát-đế-lợi quấy rối, mắng chửi, đánh đập, bắt trói, thì vị vua ấy bị tội thế nào?
Đức Phật bảo:
- Này, Đại Phạm vương! Nay Ta sẽ nói sơ lược cho ông nghe. Nếu có người làm cho vạn ức thân Phật chảy máu, người ấy bị tội nặng không?
Đại Phạm vương đáp:
- Nếu chi làm thân một Đức Phật chảy máu thì cũng mắc vô lượng tội vô gián, không thể tính được, sẽ đọa đại địa ngục A-tì, huống gì kẻ làm vạn ức thân Đức Phật chảy máu. Ngoài đức Thế Tôn, không ai nói hết được quả báo nghiệp tội của kẻ kia.
Đức Phật dạy:
- Đại Phạm vương! Nếu có kẻ quấy rối, mắng chửi, đánh, trói người đã vì Ta mà cạo bỏ râu tóc, đắp ca-sa, dù không thụ giới cấm hoặc thụ giới rồi vi phạm, kẻ ấy mắc tội còn nặng hơn kẻ làm thân Phật chảy máu. Vì sao? Vì người xuất gia ấy còn có thể chỉ dạy con đường niết-bàn cho trời và người. Người ấy đã ở trong hàng Tam bảo, lòng kính tin sâu chắc hơn tất cả chín mươi lăm phái ngoại đạo. Người ấy chắc hẳn vào niết-bàn nhanh hơn tất cả mọi người tại gia, trừ người tại gia chứng được Pháp nhẫn.
Vì thế, trời và người phải nên cúng dường người ấy, huống gì người thường giữ gìn giới cấm, ba nghiệp tương ưng. Tất cả quốc vương, các quan và đoán sự tăng, nếu thấy người xuất gia theo giáo pháp của Ta phạm tội nặng như sát sinh, trộm cắp, làm hoen ố phạm hạnh, nói dối, hoặc các việc bất thiện khác, hãy trục xuất người ấy khỏi đất nước, không cho làm việc chung với tăng chúng trong chùa, nhưng không đươc đánh đập, chửi mắng, tra khảo. Nếu ai cố ý làm trái, trách phạt người xuất gia ấy thì người này đã lạc mất đường giải thoát, chịu làm hạng thấp kém, xa lìa đường thiện trời người, chắc chắn sẽ vào địa ngục A-tì, huống gì kẻ đánh đập người xuất gia theo Phật và giữ gìn đầy đủ giới cấm”.
Kinh Thập luân ghi: “Đức Phật bảo:
- Này thiện nam! Tăng có bốn hạng: Đệ nhất nghĩa tăng, Thanh tịnh tăng, Á dương tăng và Vô tàm quí tăng.
Đệ nhất nghĩa tăng là Phật, bồ-tát, bích-chi phật và bốn quả sa-môn.
Thanh tịnh tăng là những vị tăng giữ gìn đầy đủ giới cấm.
Á dương tăng là tăng không biết các việc phạm hay không phạm, tội nặng hay tội nhẹ, lỗi nhẹ có thể sám hối. Đó hạng tăng ngu dốt, không có trí tuệ, không gân gũi thiện tri thức, không thường xuyên thưa hỏi nghĩa sâu xa về thiện hay bất thiện
Vô tàm quí tăng là những tăng vì mưu sinh mà vào Phật pháp, hủy hoại pháp, phá hòa hợp tăng, không sợ quả báo đời sau, buông lung lục tình, tham đắm ngũ dục.
Người tại gia phải cung kính bốn hạng tăng này”.
Kinh Đại bi ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Trong pháp của Ta, dẫu là sa-môn đắp ca-sa mà làm hoen ố hạnh sa-môn, hay đắp Y tự xưng là sa-môn, thì một nghìn vị Phật trong kiếp Hiền, đầu tiên là Di-lặc Như Lai, cuối cùng là Lô-già Như Lai vào cõi niết-bàn vô dư rồi, những sa-môn kia lần lượt sẽ được vào niết-bàn không sót một ai. Vì sao? Vì tất cả sa-môn như vậy, dù là người chỉ niệm hiệu Phật mộtlần, hoặc một lần khởi lòng tin, thì công đức ấy đều không mất.
A-nan! Ta dùng Phật trí suy lường biết được hết pháp giới. Tất cả nghiệp thiện đều được quả báo thiện, nghiệp ác đều chịu quả báo ác. Những chúng sinh có tâm thanh tịnh, dù chỉ niệm Nam-mô Phật, nhờ thiện căn này, chắc chắn họ sẽ được gần niết-bàn, huống gì là gặp Phật, gần gũi phụng sự và cúng dường”.
Kinh Thập luân ghi: “Đức Phật dạy:
- Các tì-kheo xuất gia theo Phật pháp, tất cả trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường. Nếu vị ấy giữ gìn giới pháp thì không nên trách phạt, trói buộc, giam cầm, hoặc chặt tay chân, hoặc giết chết. Vì những việc ấy đều không đúng pháp.
Nếu tì-kheo phá giới, không có Phạm hạnh mà nói mình giữ Phạm hạnh, thì giống như cái nhọt vỡ mủ, người ấy đã lạc mất thánh đạo, quả vị chứng ngộ đã bị phiền não hủy hoại, nhưng họ vẫn còn có khả năng chỉ bảo cho tất cả trời, rồng, người và phi nhân v.v... biết kho báu chính pháp. Vì thế, người theo Ta xuất gia, dù giữ giới hoặc phá giới, Ta đều không chấp nhận việc các vua, tể tướng, đại thần trách phạt, trói buộc, giam cầm, đánh đập, chặt tay chân, giết chết, huống gì tì-kheo phá giới vì phạm các lỗi nhỏ về oai nghi. Bởi người ấy dù đã chết, nhưng giới ấy vẫncòn sức mạnh. Cũng như ngưu hoàng trong thân trâu, tuy trâu chết rồi, mà người ta vẫn lấy dùng, hoặc như xạ hương vẫn còn có ích sau khi con hươu xạ đã chết. Tì-kheo phá giới còn có khả năng đem lại lợi ích cho tất cả chúng sinh. Tì-kheo ác hạnh tuy phạm giới cấm, nhưng sức mạnh của giới còn làm được các lợi ích cho vô lượng trời và người. Giống như hương đốt rồi thì tàn rụi, nhưng mùi thơm của nó đã xông ướp vào người khiến người khác cũng thơm, tì-kheo phá giới cũng như vậy, tự thân đọa đường ác, nhưng có thể làm cho chúng sinh tăng trưởng căn lành.
Vì lý do ấy, tất cả người tại gia không nên xúc phạm, khinh rẻ tì-kheo phá giới, mà nên bảo vệ, tôn trọng và cúng dường, không cho phép ai phạt trách, giam cầm, trói buộc, hoặc giết chết vị ấy.
Bấy giờ, Đức Phật nói kệ:
Hoa chiêm-bặc tuy héo vẫn quí hơn hoa khác,
Các tì-kheo phá giới Còn tốt hơn ngoại đạo ”
Trong kinh Đại tập, Đức Phật nói kệ:
Cạo đầu, mặc ca-sa
Giữ giới và phá giới
Trời, người nên cúng dường
Thường giúp không thiếu thốn.
Củng dường người như vậy
Chính là cúng dường Ta.
Nếu vì cung kính pháp
Người cạo đầu qui y
Thân mặc áo ca-sa
Ấy chính là con Ta.
Giả sử phá giới cấm
vẫn trụ địa Bất thoái
Nếu ai đánh người ấy
Tức là đánh đập Ta
Nếu ai chửi người ấy
Tức là chửi mắng Ta.
Tâm người kia muốn tắt
Ngọn đèn lớn chính pháp.
Đánh nhau giành của cải,
Vua chúa cùng nổi giận.
Kinh Thập luân ghi: “Xưa, có vị vua tên Phúc Đức. Một hồm, có một tì-kheo phạm tội bị bắt trói, nhưng nhà vua không muốn giết, bèn sai đưa người ấy đến chỗ một con voi điên. Nó dùng vòi túm hai chân người ấy, định ném xuống đất, nhưng nhìn thấy người ấy mặc áo hoại sắc, nó liền nhẹ nhàng đặt người ấy xuống đất, không dám làm tổn thương. Nó ngồi xuống dùng mũi ngửi chân người ấy và tỏ lòng thương mến.
Này thiện nam! Voi là loài vật, nhưng thấy người mặc áo hoại sắc, nó còn không nảy sinh tâm độc ác làm hại. Đến đời vị lai, nếu vua Chiên-đà-la nào thấy trong pháp của Ta có người xuất gia có thể trở thành pháp khí, song đã không trở thành bậc pháp khí nên hành hạ hoặc giết người ấy, thì sau khi qua đời ông vua ấy chắc chắn bị đọa địa ngục A-tì”.
Có bài tụng:
Kinh hành trong rừng cây
Chỉ kiên cố cầu đạo
Đã có sức thần thông
Chấn tích nương mây bay.
Đã đạt bốn thệ nguyện
Chí đạo không gì hơn
Không tham thọ vô lượng
Nói gì năm ngắn dài.
8.5. CẢM ỨNG
8.5.1. Đời Ngụy, sa-môn Thích Đàm Thủy: Sư sống vào thời Thái Vũ đế (424-451), thường biểu hiện những thần dị. Hơn năm mươi năm, sư chỉ ngồi không nằm, chân không mang dép, nhưng khi đi vào bùn không hề bị bẩn. Bàn chân sư trắng như da mặt, nên người đời gọi sư là “Bạch túc A-luyện”. Khi Hách Liên Xương đánh chiêm Trường An, chúng không tin Phật pháp, sát hại tăng ni, sư cũng bị dao nhọn đâm chém, nhưng chẳng thương tổn. Nhờ sự dị thường này, rất nhiều tăng ni thoát chết. Thái Vũ đế rất kínhtrọng. Sư tịch hơn mười năm mà thân tướng vẫn không biến hoại.
8.5.2. Đời Tây Tấn, sa-môn Đan Đạo Khai: Sư người Đôn Hoàng, sau khi xuất gia ẩn tu chốn núi rừng, ba mươi năm ăn trái tùng, trái bách để tu luyện, về sau sư chỉ nuốt những hòn đá nhỏ. Sư đi như bay, không thích chỗ đông người, ưa nơi vắng lặng, nhiều năm ở núi Bao Phục. Thời Thạch Hổ, sư từ huyện Tây Bình, mỗi ngày vượt bảy trăm dặm đến đất Nghiệp, đi khắp thôn âp hay vùng hoang dã đê cứu các nạn khô. Khi người cúng tiền sư liền phân phát, và chỉ đi bộ mà thôi.
Khi họ Thạch sắp suy tàn, sư cùng đệ tử đến Kiến Nghiệp, vào núi La Phù ở phía nam rồi tịch ở đó. Viên Ngạn Bá và Hưng Ninh Trung từng leo lên núi đỉnh lễ hài cốt của sư.
8.5.3. Đời Tấn, thánh tăng ở Thất lĩnh, Lô sơn: Bảy đỉnh núi ở Lô sơn cùng hợp về phía đông, tạo thành một ngọn hùng vĩ. Vách núi vô cùng hiểm trở chẳng có người lên. Vào khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376-396), thái thú Dự Chương là Phạm Ninh muốn dựng trường học, nên sai người vào núi chặt cây. Ở núi ấy, họ gặp một vị sa-môn bay vọt lên hư không. Khi đến đỉnh, vị ấy xoay người hạ xuống,ngồi trên ngọn núi, lát sau vị ấy biến mất với làn mây. Mấy người hái thuốc cũng nhìn thấy.
Những văn và thi nhân đều có cảm hứng về đề tài này. Sa-môn Thích Đàm-đế trong Lô sơn phú có ghi: “Bậc ứng Chân cỡi mây ngồi trên đỉnh núi, bóng mờ dần rồi mất hẳn cùng mây”.
8.5.4. Đời Tấn, sa-môn Trúc Tăng Lãng: Sư giữ giới hạnh tinh nghiêm, mọi người đều kính phục. Một hôm, nhận lời thỉnh của tín đồ, sư cùng một bạn đạo đến phó trai. Đang đi trên đường, bất chợt sư nói với người bạn: “Thầy hãy quay lại chùa, y và vật hình như có người đánh cắp”. Người ấy quay lại chùa, quả nhiên bị mất trộm.
Vào khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376), sư dựng chùa và tạo một pho tượng ở hang núi Kim Dư, thuộc huyện Phụng Cao. Cuối thời Phù Kiên (394), triều đình bài xích sa-môn. Nhưng vua rất kính sư và đồ chúng của ngài, nên không dám xâm phạm.
Bấỵ giờ, đạo tục đều tin kính sư. Mỗi lần có người đến, sư có thể dự biết trước một ngày chính xác số lượng người đến dự rồi báo cho cho đệ tử chuẩn bị. Khu vực quanh hang trước đó có rất nhiều hổ, thường quấy phá giết hại dân làng. Sau khi lập chùa, chúng trở nên hiền lành như những vật nuôi trong nhà. MộDung Đức cúng dường thuế của hai huyện vào chùa này. Nay người ta gọi hang ấy là hang Lãng Công.
8.5.5. Đời Tấn, Lương Pháp Tướng: Sư người Hà Đông, thường ở núi một mình, siêng năng tu tập khổ hạnh. Nơi sư ở, chim thường đến đậu quanh, thân thiện như gia súc. Ở miếu Thái Sơn có một hộp lớn đựng đầy của báu. Một hôm sư có việc đến ngủ nhờ ở miếu này, thấy một người mặc áo đen, đội mũ quan vỗ, bảo sư mở hòm, nói xong thì biến mất. Nắp hòm ấy bằng đá nặng hơn ba tấn, sư thử nhấc thì mở ra một cách nhẹ nhàng. Thế là sư lấy tiền của ở trong hòm phân phát cho dân nghèo.
Sau, sư qua Giang Nam trụ ở chùa Việt Thành, tính tình sư bỗng nhiên phóng đãng, suốt ngày rong chơi, có lúc tay chân múa may, làm các trò hoạt kê , hoặc lộ bày thân thể, xúc phạm đến quan lại và hàng quyền quí. Trấn bắc tướng quân Tư Mã Điềm ghét sư không giữ hạnh nên mời đến chuốc rượu độc. Sư uống hết ba chung, nhưng thần khí không biến đổi, điềm nhiên như không có việc gỉ xảy ra. Niên hiệu Nguyên Hưng cuối cùng (404) sư tịch, hưởng thọ 89 tuổi.
8.5.6. Đời Tấn, sa-môn Thích Pháp An: Sư là đệ tử cùa ngài Tuệ Viễn ở Lô sơn. Cuối niên hiệu Nghĩa Hi (418), nạn hổ hoảnh hành ờ huyện Nghĩa Hi.
Một thôn trong huyện này có một miếu thần xây dựng nằm bên cội cây lớn có mấy trăm cư dân ở xung quanh, cứ mỗi đêm một hoặc hai người bị hổ giết. Sư đến huyện này, chiều tối thì vào thôn có nạn hổ. Dân vì sợ hổ nên đóng cửa làng rất sớm, vả lại chẳng biết sư nên không cho vào. Sư đi thẳng đến cội cây ấy ngồi thiền suốt đêm. Gần sáng, hổ tha người đi đến bỏ ở phía bắc của cây. Thấy sư, hổ tỏ vẻ vui mừng, đến phủ phục trước mặt. Sư thuyết pháp trao giới, hổ ngồi yên bất động, lát sau thì đi. Đến sáng, dân trong thôn đi tìm người chết. Thấy sư ở đấy, họ vô cùng kinh ngạc, cho rằng là thần nhân, nên không bị hổ làm hại. Từ đó về sau, không còn nạn hổ nữa, mọi người càng thêm kính trọng sư. Quan dân khắp huyện đều phụng thờ Phật pháp.
Sau sư muốn vẽ tượng Phật lên vách núi, nhưng không tìm được không thanh, sư muốn dùng đồng thanh thay thế nhưng không có. Đêm ấy, sư mộng thấy có người đến bên giường nói: “Ở trong đó có hai quả chuông có thể lấy dùng”. Sáng mai sư cho đào thì quả đúng như mộng, thế là tượng được vẽ thành, về sau, pháp sư Tuệ Viễn đúc tượng, sư cúng một quả chuông. Quả còn lại, thái thú Hùng Vô Hoạn mượn xem, nhưng không trả.
8.5.7. Đời Tống, sa-môn Thích Tuệ Viễn: Sư vốn tên là Hoàng Thiên ở chùa Trường Sa thuộc Giang Lăng, đệ tử của thiền sư Tuệ Án.
Tuệ Án nhập định biết Tuệ Viễn kiếp trước là thây của mình, nhưng nay vì sư còn nhỏ nên Tuệ An độ sư làm đệ tử. Sư thường tạm trú tại nhà họ Dưong ở Giang Lăng để thực hành Ban-chu tam-muội. Sư tinh cần thực hành nhiều năm có được khả năng phân thân. Một ngày mười hội, sư đều đến tham dự, Nhưng tại nơi hành Ban-chu, mọi người vẫn thấy sư tu tập như mọi ngày. Sư tự ấn định ngày tịch, quả nhiên đến ngày ấy sư tịch. Sau đó, sư còn hiện hình nói với Đàm Tuần, vị tăng ở chùa Đa Bảo:
- Ngày mười ba tháng hai năm sau tôi sẽ cùng chư thiên đến đón ông, nói xong biến mât.
Đến ngày ấy, Tuần tổ chức pháp hội lớn, thiết trai xả thân. Hôm ấy cảm thấy có chút bệnh, Tuân tự biết mình sẽ xả báo thân. Đến canh ba, nghe trên không trung
có tiếng nhạc và mùi hương lạ. Tuần nói: “Lời hẹn của Viễn công nay đã đến”. Thế rồi Tuần xả báo thân.
8.5.8. Đời Tống, sa-môn Thích Tuệ Toàn: Sư trụ tại Kinh Châu. Trong năm trăm đồ chúng có một người tính hơi thô tháo, nên sư chẳng chú trọng. Một hôm, người ấy tự nói đă đắc quả thứ ba, nhưng vì không hiện tướng nên sư chẳng tin. Sau đó, sư bị bệnh, vị đệ tử ấy ban đêm vào thăm sư mà không cầnmở cửa. Sư kinh ngạc muốn trắc nghiệm, bèn bảo người ấy đêm mai đến.
Hôm sau, sư đóng cửa nhiều lớp, đến nửa đêm người người ấy vẫn vào được và đi thẳng đến giường của sư nói:
- Xà-lê có thể tin rồi chứ?
Lại nói:
- Xà-lê qua đời sẽ sinh vào nhà bà-la-môn.
Sư nói:
- Ta một đời tọa thiền lẽ nào lại sinh vào nhà ấy.
Vị ấy nói:
- Xà-lê không hết lòng tin đạo, chưa chịu buông bỏ thế học, tuy có phúc nghiệp nhưng không thể siêu thoát. Nếu lập hội thù thắng, cúng dường cho một thánh nhân thì có thể thành đạo quả.
Y lời, sư thiết hội. Vị ấy lại nói:
- Thầy có thể cúng dường tăng-già-lê cho người cần dùng, chớ phân biệt lớn nhỏ.
Lễ cúng dường y đã xong, có một sa-di đến sư xin y, sư cho rằng đây là đệ tử của mình nên bảo: “Ta muốn cúng dường thánh tăng, đâu thể cho ngươi!”. Sư chợt nhớ lại lời vị ấy dặn là không phân biệt lớn nhỏ, nên vui mừng cúng dường cho sa-di. Một hôm, gặp vị sa-đi ấy, sư hỏi:
- Hôm trước cho ông chiếc y, mặc có vừa không?
Sa-di đáp:
- Bạch Thầy! Con chẳng những không được y mà còn không được dự hội. Bởi hôm ấy con bận công việc. Thật đáng hổ thẹn!
Nhân đó, sư mới biết là bậc thánh đã hóa làm vị sa-di này.
Vị đệ tử ấy sống rất thọ, khi qua đời không có điều gì lạ, chỉ có hiện tượng xung quanh mộ phát ra ánh sáng trắng. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 20 (443) sư vân còn và trụ ở Tửu Tuyền.
8.5.9. Đời Tề, Thích Tuệ Minh: Sư họ Khương, trụ ở Xích Thành, Thủy Phong. Tổ tiên sư vốn người Khương Cư, nhưng lánh nạn đến Đông Ngô và trụ tại thạch thất ở núi Xích Thành.
Sư chuyên tâm vào tọa thiền, tụng kinh, suốt đời an bần thủ đạo. Một hôm, trong định sư gặp một thân nữ tự xưng là bà già họ Lữ, nói là thường theo hộ vệ sư. Người ta thấy trước thềm nhà sư, có lúc có vượn trắng, nai trắng, hay hổ trắng dạo chơi rất thuần phục, không làm cho người sợ. Cánh Lăng Văn Tuyên vương đời Tề nghe đạo phong của sư, lòng rất kính phục, sai sứ ân cần mời thỉnh, đến lần thứ ba sư mới tạm rời núi đến kinh đô. Văn Tuyên dùng lễ thầy trò tiếp đãi. Sư ở một thời gian ngắn rồi cáo từ về núi. Vương tha thiết giữ lại nhưng không được, cuối cùng cúng dường tài vật rồi tiễn sư về.
Niên hiệu Kiến Vũ cuối (497), sư tịch ở núi, hưởng thọ bảy mươi tuổi.
8.5.10. Đời Tề, sa-môn Viên Thông: Sư ở chùa Đại Trang Nghiêm, đất Nghiệp. Có lần cảm một thần tăng đến nhập chúng an cư mùa hạ để nghe giảng. Ngày mãn hạ, vị ấy đến từ tạ sư rồi mời:
- Tôi ở tại chùa Trúc Lâm, thỉnh sư đến thăm!
Sư hỏi rõ đường, qua năm sau tìm đến. Chùa ấy ở phía đông núi, tây bắc đất Nghiệp. Đến nơi sư được thân tăng nghinh tiếp. Khi cửa mở, sư thấy chính điện và phòng ốc rộng rãi. Qua một đêm đàm đạo, cả hai rất hợp ý. Sư có ý muốn ở lại nơi đây suốt đời. Thần tăng xin phép đại hòa thượng trụ trì, nhưng không được chấp nhận. Sư đành cáo từ trở về. Đi theo con đường cũ được ba dặm, sư quay lại nhìn thì chẳng thây chùa đâu nữa. Sau lại tìm đến, nhưng cũng không biết chỗ ấy ở đâu
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
06/11/2015
PUCL QUYỂN 25 - CHƯƠNG KIẾN GIẢI
QUYỂN 25 Quyển này có một chương Kiến giải. 17. CHƯƠNG KIẾN GIẢI 17.1. LỜI DẪN Tâm thức biến chuyển, đó là lí vô thường; ngộ mê trái nhau, bậc Thánh nào có dấu vết; lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ như vang theo tiếng. Đó chí...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 24 - CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP
QUYỂN 24 Quyển này tiếp theo chương Nghe pháp và giảng pháp. 16. CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP (tt) 16.5. PHÂN BIỆT CHỦNG Khi thăng tòa, trước tiên vị pháp sư phải lễ kính Tam bảo, lắng tâm, quan sát thời cơ và xác định...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ
QUYỂN 23 Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp. 14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn) 14.1. LỜI DẪN Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi;...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO
QUYỂN 22 Quyển này có một chương Nhập đạo. 13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO 13.1. LỜI DẪN Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN
QUYỂN 21 Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian. 10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN 10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo....
06/11/2015
PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ
QUYỂN 20 Quyển này có một chương Kính lễ. 9. CHƯƠNG KÍNH LỄ 9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 18 Quyển này tiếp theo chương Kính pháp. 7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt) 7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉ...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 17 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT - KÍNH PHÁP
QUYỂN 17 Quyển này gồm chương Kính Phật tiếp theo chương Kính pháp. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt) 6.7. PHỔ HIỀN LINH CẢM 6.7.1. Đời Tống, thái hậu Lộ Chiêu: Niên hiệu Đại Minh thứ tư (450), thái hậu Lộ Chiêu tạo tượng bồ-tát...
