Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)

06/11/2015

QUYỂN 18 Quyển này tiếp theo chương Kính pháp. 7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt) 7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉ...

PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
Phần 1

QUYỂN 18
Quyển này tiếp theo chương Kính pháp.
7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)

7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉnh được tượng Phật, kinh điển cùng hai ngài Ma-đằng, Trúc Pháp Lan trở về.
Vua hỏi:
- Đấng Pháp Vương xuất thế vì sao không giáo hóa đến nước này?
Ngài Ma-đằng đáp:
- Nước Ca-tì-la-vệ ở Thiên Trúc là trung tâm của tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức mặt trăng, mặt trời. Ba đời chư Phật xuất thế ở đó, cho đến trời, rồng, người, quỉ có hạnh nguyện đều sinh về nước ấy để nhận sự giáo hóa của Phật và họ đều được giác ngộ. Chúng sinh những nơi khác không có duyên cảm Phật, nên Ngài chằng đến. Tuy Phật không đến, nhưng ánh sáng của Ngài chiếu đến; hoặc trong năm trăm năm, hoặc một nghìn năm hoặc hơn một nghìnnăm sau đều có thánh nhân truyền giáo pháp của Phật đến.
Minh đế nghe xong rất vui mừng.
Lại đến đời Hán, ngày mồng một, tháng giêng, niên hiệu Vĩnh Bình mười bốn (72), khi vua lâm triều, sáu trăm chín mươi đạo sĩ của ngũ nhạc dâng biểu xin thách đấu với đạo Phật Tâỵ Vực để phân hơn kém. Vua lệnh cho Thượng thư Tống Tường đưa họ vào rồi bảo:
- Thiết lập ba đàn ở cửa nam Bạch Mã tự, ngày mười lăm tháng này hai bên tập hợp tại đó để thi đấu!
Các đạo sĩ ở ngũ nhạc bát sơn mang theo ba trăm sáu mươi chín quyển kinh đặt ở đàn phía tây. Hai mươi bảy nhà thuộc Bách gia chư tử mang hai trăm ba mươi lăm quyển kinh đặt ở đàn trung ương, thức ăn cúng tế trăm thần an trí ở đàn phía đông. Minh đế thiết cung điện tạm của mình tại phía tây cửa Bạch Mã tự, đồng thời an trí xá-lợi và kinh ở đây.
Chuẩn bị xong, các đạo sĩ dùng củi đốt đàn kinh của mình. Họ khóc lóc và nói:
- Bậc nhân chủ tin theo tà đạo, khiến huyền phong đoạn đứt. Nay chúng con xin đốt kinh điển trên đàn để nghiệm biết giả thật.
Nói xong họ châm lửa đốt, kinh đều cháy sạch. Các đạo sĩ nhìn nhau biến sắc, có người sử dụng các thứ chú thuật như bay lên trời, đi vào lòng đất, nhưng đều không hiệu nghiệm, nên vô cùng xấu hổ. Thái phó Trương Diễn nói:
- Nay chú thuật của các ông không hiệu nghiệm, nên xuống tóc theo Phật pháp của Tây Vực.
Các đạo sĩ im lặng, không đáp. Đạo sĩ ở Nam nhạc như Phí Thúc Tài... uất hận mà chết.
Lúc ấy, xá-lợi của Phật phóng ánh sáng năm màu chiếu lên hư không như chiếc lọng, che ánh sáng mặt trời. Pháp sư Ma-đằng vọt lên không trung, hiện các món thần biến tự tại. Bấy giờ trời mưa hoa báu, hiện điềm chưa từng có. Pháp sư Pháp Lan thuyết pháp cho đại chúng nghe những điều chưa từng nghe.
Bấy giờ, tư không Lưu Tuấn, quan dân ở kinh thành, các cung phi như Ấm phu nhân, các đạo sĩ ở ngũ nhạc như Lã Tuệ Thông... tất cả hơn một nghìn người cầu xuất gia, hoàng đế đều cho phép. Sau đó vua cho xây mười ngôi chùa; trong đó bảy chùa ở ngoài thành dành cho chư tăng, ba chùa ở trong thành dành cho chư ni. Phật pháp bắt đầu được truyền bá rộng rãi. Chùa viện được xây dựng ngày càng nhiều, mãi cho đến nay.
7.7.2. Đời Tấn, một người nữ nói tiếng Thiên Trúc: Cư sĩ Đức Thận tên là Đinh Thừa, người Tế Âm, khoảng niên hiệu Kiến An, làm huyện lệnh Ngưng Âm. Một hôm, có người phụ nữ ở phía bắc huyện ra giếng ngoài để múc nước thì gặp người Thiên Trúc mũi cao, mắt sâu từ phía đông đên bên giếng xin nước, uống xong bất chợt biến mất. Người phụ nữ ấy liền đau bụng, càng lức càng dữ dội, kêu gào khóc lóc. Lát sau, bất chợt bà đứng dậy chỉ trỏ và nói tiếng Thiên Trúc, trong ấp có mấy mươi nhà cùng chứng kiến. Bà ta gọi đem giấy bút đến để viết thư, lại viêt chữ Thiên Trúc, viết theo hàng ngang, có chữgiống như chữ ất hay chữ tị. Viết đầy nămtrang giấy, bà ta ném xuống đất bảo mọi người đọc, nhưng trong ấp không ai đọc được.
Bà bèn chỉ đứa bé khoảng hơn mười tuổi bảo là có thể đọc, đứa bé liền cầm giấy lên đọc, mọi người đều kinh ngạc chẳng biết như thế nào. Bà bảo đứa bé múa, đứa bé liền đưa chân, vẫy tay rất nhịp nhàng. Có người báo với Đức Thận, ông liền cho gọi người phụ nữ và đứa bé ấy đến hỏi. Lúc ấy, cả hai cũng mờ mịt chẳng biết. Ông muốn kiểm nghiệm việc này nên sai sứ mang những tờ giấy ấy đến chùa Hứa Hạ trao cho một vị tăng người Thiên Trúc. Vị tăng vô cùng kinh ngạc nói:
- Kinh Phật bị mất phần giữa, bần đạo thường ưu tư về điều này, nhưng chẳng biết làm sao có được, tuyđọc tụng nhưng không đầy đủ. Đây chính là phần bị mất ấy. Vị tăng bèn giữ lại để sao chép.
7.7.3. Đời Tấn, cư sĩ Chu Mần: ông người Nhữ Nam, làm Hộ quân tướng quân. Gia đình nhiều đời kính tin Phật pháp. Khi gặp loạn Tô Tuấn, nhân sĩ kinh đô li tán khắp nơi. Nhà ông có bộ kinh Đại Bát-nhã được viết trên nửa bức vải lụa trắng dài tám trượng và đặt lẫn lộn với những túi kinh khác. Khi chạy nạn không thể đem kinh đi hết, nên ông rất tiếc, không biết bộ Bát-nhã đặt ở túi nào. Phải đi vội vàng không thể mở túi xem, nên ông bồi hồi than thở. Bỗng nhiên bộ kinh Đại Bát-nhã chợt hiện ra ngoài, ông kinh ngạc vui mừng cầm lấy. Họ Chu cho đây là gia bảo nên giữ gìn đến nay vẫn còn.
Có người nói vợ Chu Tung họ Hồ Mẫu có trọn bộ kinh Đại Bát-nhã viết trên lụa trắng, bề rộng khoảng năm tấc và còn có xá-lợi để trong bình bạc được đặt trong một tráp nhỏ. Gặp loạn Vĩnh Gia, bà ấy chạy giặc về phương nam. Kinh và xá-lợi tự ra khỏi hộp, nhân đó bà ôm trong lòng mà qua Giang Đông.
Có lần nhà bị lửa cháy, bà vội chạy thoát không kịp lấy kinh, đến khi nhà cháy sạch, bà tìm thấy kinh vẫn y như cũ trong đống tro tàn.
Vương Đạo Tử ở cối Kê đến nhà Chu Tung xin cúng dường kinh và xá-lợỉ. về sau, kinh và xá-lợi từng được gửi ở chùa Tân Chử. Lưu Kính Thúc nóiđích thân ông thấy kinh này, chữ như hạt mè lớn, nét rất tinh tế, rõ ràng. Chùa Tân Chử nay là Thiên An. Bản kinh ấy được vị tăng đắc đạo là Thích Tuệ Tắc chép lại.
Có thuyết nói bộ kinh ấy được an trí ở chùa Giản Tĩnh, vị ni trụ trì ở đây thường đọc tụng.
Phần 2

7.7.4. Cư sĩ Đỗng Cát: Ông người Ư Tiềm, ba đời phụng thờ Phật pháp. Đến đời Đỗng Cát lại càng tinh tiến, ông thường ăn chạy giữ giới, tụng kinh Lăng-nghỉêm. Trong thôn có người bệnh nặng, mời ông đến tụng kinh, phần lớn bệnh đều thuyên giảm.
Hà Hoảng người cùng huyện phụng thờ Phật pháp. Niên hiệu Hàm Hòa (326-334), do sơn lam chướng khí, Hoảng bị bệnh nặng. Anh của Hoảng lo sợ bèn đến mời Đỗng Cát tụng kinh. Hai nhà cách nhau sáu bảy mươi dặm, ngăn cách bởi một dòng suối rộng, lại gặp tháng mưa lớn. Lúc anh của Hoảng qua suối thì nước còn chưa dâng cao. Cát hẹn ăn cơm trưa xong sẽ đi, nhưng đến lúc ấy nước suối dâng cao không thể lội qua. Đỗng Cát bồi hồi than thở, ngồi bên bờ hồi lâu muốn bước xuống, nhưng không dám lội qua. Cát có lòng thành tín, nhất định phải đúng thời gian, nên trong lòng cảm khái phát nguyện: “Con cứu người bệnh nặng rất nguy cấp, nguyện không kể đến thân mạng này, cúi xin Như Lai, đại sĩ chứng giám lòng thành của con”. Phát nguyện xong ông bèn cởi áo và túi kinh đội lên đầu rồi lội xuống dòng nước.
Ông ước lượng nước sâu đến cổ, nhưng khi ông lội qua thỉ chỉ ngang đầu gối mà thôi. Ông lên được bờ nhưng mất túi kinh, lòng rất buồn, đi đến nhà Hoảng. Trước bàn thờ Phật, Cát lạy ba lạy sám hối, rơi lệ tự trách, trong chớp mắt lại thấy túi kinh trên tòa cao. Ồng vừa mừng vừa tủi lấy xem, cảm giác như có hơỉ ẩm, nhưng khi mở túi ra thì kinh vẫn khô ráo. Chứng kiến việc này, người trong thôn ấy đều phụng thờ Phật pháp.
Phía bắc chỗ ông ở có một ngọn núi cao, nhiều yêu mị xuất hiện làm hại cư dân. Ông muốn dùng sức kinh giới để hàng phục chúng.
Trong núi ấy có bốn năm mẫu đất, ông tự tay chặt cây rừng làm thành một cốc nhỏ, rồi lập một cái tòa cao, trì tụng kinh Lăng-nghiêm. Khoảng hơn trăm ngày thì không còn nghe việc nhân dân bị yêu mị hại. Sau đó, có mấy người đến gặp. Hai bên đối đáp hồi lâu ông mới thầm nghĩ: “Những vị khách này chẳng phải người Ư Tiềm. Nơi rừng núi sâu vắng này họ đến đây làm gì?”. Nghi là quỉ thần, ông hỏi:
- Các vị phải chăng là quỉ thần ở núi này.
- Vâng, chúng tôi nghe ngài là bậc có đức hạnh, thanh tịnh trang nghiêm nên đến gặp, đồng thời cầu xin một việc, mong được chấp nhận: “Chúng tôi ở núi này đã nhiều đời, nay ngài đã đến ở đây, vì sợ xúc phạm ngài nên lòng chúng tôi thường bất an. Naychúng tôi muốn phân định khu vực, bằng cách khiến chết cây để làm đường ranh.
Ông nói:
- Tôi ưa sự vắng lặng ở đây để đọc tụng kinh điển, không xúc phạm gì ai. Tôi sẽ thuận theo các vị, mong các vị giúp đỡ!
Quỉ đáp:
- Cũng mong rằng ngài không xâm phạm!
Nói xong quỉ thần bỏ đi. Trải qua một đêm, bên ngoài bốn phía mà ông đã phát, cây đều khô chết, giống như lửa đốt cháy. Ông sống đến tám mươi bảy tuổi mới mất.
7.7.5. Cư sĩ Chu Đang: Ông người huyện Diệm, Côi Kê, gia đình nhiều đời thờ phụng Phật pháp. Năm mười sáu tuôi, ông bắt đầu ăn chay, giữ giới và chí thành tụng kinh. Tháng giêng năm ấy sau khi đã trường trai, ông bèn đến chùa Hương Thị thỉnh thầy là Trúc Phật-mật và tăng Chi Pháp Giai đến truyền giới Bát quan trai. Trúc Phật-mật bảo ông trì kinh Tiểu phẩm Bát-nhã và đọc tụng trong ngày trai giới. Đến ngày ba vị tăng đến nhà ông thụ trai, nhưng quên mang theo kinh Tiêu phẩm.
Đến giờ Ngọ, chư tăng thụ trai xong, sắp tụng kinh thì mới nhớ, nên ông rất buồn. Nhà của ông ở thôn Phản Di, cách chùa ba mươi dặm, lại cũng không có người để sai đi lấy. Đến khi niêm hương xong, cảnhà đều tiếc là không có kinh để tụng. Trong lòng sư Phật-mật lại càng bồi hồi bất an. Bỗng lát sau nghe có người gõ cửa nói là đem kinh đến. Đang kinh ngạc vui mừng, mở cửa thấy một thiếu niên lạ mặc áo mỏng. Lại thời gian đi như thế thì người thường không thể làm được. Nghi là bậc thần dị, ông bèn quì xuống nhận kinh và mời ngồi trên, nhưng thiếu niên không chịu và hẹn tối sẽ đến nghe kinh. Khi các sư đã có mặt thì vị thiếu niên bỗng nhiên biến mất, mùi hương lan tỏa khắp nhà. Lát sau nhìn lại, mọi người thấy đó là bộ kinh bí mật.
Đạo tục kinh ngạc vui mừng. Bản kinh này vốn được đặt trong hòm có khóa rất cẩn thận, các sư trở về xem, thì thấy khóa vẫn như cũ. Thế là, sau đó hơn mười nhà trong thôn đều phụng thờ Phật pháp và càng thêm kính mến Đang. Sau đó ông xuất gia, được ban hiệu là Đàm Nghi, tụng thuộc hơn hai mươi vạn lời kinh.
7.7.6. Cư sĩ Tạ Phu: Ông tự là Khánh Tự, người Sơn Âm, Cối Kê. Trấn quân tướng quân Du Chi là anh ruột ông. Lúc nhỏ ông đã có phong thái thanh cao, ẩn dật ở Đông Sơn, lại kính tin và rất siêng nămg tu học Phật pháp. Ông đã tự tay chép kinh nghiêm, cất giữ ở chùa Bạch Mã tại kinh đô.
Một hôm chùa bị hỏa hoạn, tất cả mọi vật đều bị cháy riêng bản kinh chi bị sém ở ngoài biên mà thôi, không bị mất một chữ. Lúc ông qua đời có người bạnnghi ông đã đắc đạo, về sau lại nghe chuyện bản kinh không cháy, người này càng kinh ngạc. Niên hiệu Nguyên Gia thứ tám (432), thành Bồ Phản, tỉnh Hà Đông bị hỏa hoạn, lửa từ đâu bay đến không thể dập tắt. Tất cả cơ quan, nhà dân đều cháy sạch chỉ có các tinh xá, chùa tháp là không hề bị cháy. Trong thành này có những ngôi nhà nhỏ thờ kinh tượng, đa phần cũng không cháy, nếu có cháy thì kinh văn vẫn còn nguyên, giấỵ vẫn trắng như cũ. Cả thành cho là kì diệu, thế là tất cả đều kính tín Phật pháp.
7.7.7. Đời Tấn, sa-môn Thích Tĩnh Tăng: Sư người quận Thục, xuất gia từ nhỏ, tu tập khổ hạnh, được thỉnh làm tự chủ chùa Tam Hiền. Sư chuyên tụng kinh Pháp Hoa và thường ở trong núi, khi đến giờ luôn có con hổ đến trước cửa ngồi nghe, nghe xong thì đi. Về sau, mổi khi sư tán tụng kinh điển lại có bốn người đến hầu. Tuy tuổi đã già suy, nhưng sư vẫn tinh tiến, cho đến khi mất cũng không biếng trễ.
7.7.8. Đời Tấn, sa-môn Chu Sĩ Hành: Vào đời Tiền Ngụy Nguyên đế, niên hiệu Cam Lộ thứ năm, tức đời Tấn, niên hiệu Thái Thủy thứ năm (270), sư giảng kinh Tiểu phẩm Bát-nhã. Hận vì kinh văn chưa đủ, nên vào năm ấy sư sang Tây Vực để tìm nguyên bản, nhưng vua Tây Vực giữ lại không cho sư trở về. Sư cầm kinh đứng trước triều đình nói: “Nếu nhất định không cho đại pháp lưu truyền thì tôi sẽ đốt kinh”. Sư bèn bỏ quyển kinh vào lửa, nhưng kinh không hề cháy, vua quan đều kinh ngạc, liền cho sư mang kinh về Trung Quốc. Đó chính là kinh Phóng quang.
Sư mất vào năm tám mươi tuổi, y pháp làm lễ trà-tì, nhưng thi thể không cháy, đạo tục kinh dị, khấn nguyện: “Nếu ngài thật đắc đạo thì nên để thân thể hủy hoại”, vừa dứt lời thì thân thể tan vụn. Mọi người bèn thâu cốt xây tháp tôn thờ.

Phần 3

7.7.9. Đời Hậu Ngụy, sa-môn Thích Chí Trạm: Sư ở chùa Hàm Thảo, núi Nhân Đầu phía bắc Thái sơn thuộc Tề châu. Sư ít tham gia các việc, tiết giảm lời nói, không làm kinh động các loài chim thú, lại thường đọc tụng kinh Pháp hoa. Mọi người không biết công hạnh của sư, đên lúc sư lâm chung, thân tăng Bảo Chí nói với Lương Vũ đế: “Thánh tăng Tu-đà-hoàn ở chùa Hàm Thảo hôm nay diệt độ”. Sư an nhiên thị tịch, hai tay đều duỗi ra một ngón, có vị Phạm tăng nói: “Đây là bậc Tu-đà-hoàn”.
Sư được an táng trong núi, lâu sau cải táng thì thấy lưỡi của sư không bị hư hoại, mọi người bèn lập tháp phụng thờ. Ngày nay tháp vẫn còn, chim thú không dám đến phá hay làm bẩn tháp sư.
7.7.10. Đời Hậu Ngụy, sa-môn ở chùa Ngũ Hầu: Không ai biết tên, chỉ biết sư ở chùa Ngũ Hầu, thường trì tụng kinh Pháp Hoa. Khi sư mất chỉ chôn tạm ở chân đê, sau đó cải táng thì thấy hài cốt đều khô, chỉ có chiếc lưỡi vẫn còn.
Lại có vị tăng ở Ung châu cũng tụng kinh Pháp hoa, ở ẩn trên núi Bạch Hổ, cảm được đồng tử đến cúng dường. Khi vị này tịch, thi thể được an trí bên sườn núi, mọi bộ phận đều hư hoại, duy chỉ chiếc lưõi vẫn y nguyên.
7.7.11. Đời Bắc Tề, chiếc lưỡi tụng kinh: Vào đời Tề Vũ Thành Để (516-565), một người ở núi Đông Khán, Tinh châu khi đào đất gặp vùng đất màu trắng vàng, xem kĩ thì thấy một cái miệng người, bên trong có chiêc lưỡi màu đỏ hồng. Tâu việc này lên vua, vua hỏi đạo tục. Bấy giờ, sa-môn Pháp Thượng nói: “Người này trì kinh Pháp hoa nên sáu căn bất hoại, khi tụng được một nghìn biến thì điều này ứng nghiệm”.
Thế rồi Pháp Thượng tập hợp những người trì kinh Pháp hoa vây quanh tụng kinh, vừa mới cât tiêng tụng thì chiếc lưỡi ấy cũng lay động. Thấy vậy, mọi người đều kinh hãi, tâu lên vua. Sau đó, chiếc lưỡi được an trí trong hộp đá.
7.7.12. Đời Hậu Ngụy, hoạn quan tụng kinh Hoa nghiêm: Vào khoảng niên hiệu Thái Hòa thứ nhất (477), có viên hoạn quan trong cung ở kinh đô thuộc Bắc Đại. Ông buồn vì thân hình tàn phế, nên xin vua vào núi tu đạo, vua chấp nhận. Vị hoạn quan ấy bèn mang theo kinh Hoa nghiêm, đêm ngày đọc tụng sám hối không ngừng. Đến cuối tháng sáu, chưa hết mùa hạ, tự nhiên râu của ông mọc trở lại, đủ tướng ngườinam. Vị này viết trạng tấu lên, vua càng thêm kính trọng. Thế rồi khắp nước đều tôn kính kinh Hoa nghiêm và xếp kinh vào khóa tụng hằng ngày.
7.7.13. Đời Tống, Thích Tuệ Nghiêm: Sư ở chùa Đông An, kinh đô. Sư có khả năng tư duy biện luận nhạy bén, được đạo tục xem trọng. Sư thường cho rằng văn tự kinh Niết-bàn rườm rà, bèn gia tâm gọt giũa, chú thích được mấy quyển, rồi chép thành hai ba bản gửi cho các bạn đồng tâm ý. Một hôm, sư nằm mộng thấy một người cao hơn hai trượng, dáng mạo khôi ngô, bảo sư: “Kinh Niết-bàn là tông yếu của các tạng, đâu được dùng ý riêng mình mà xem thường thêm bớt!”. Sư rất buồn nhưng vẫn không bỏ, còn cho rằng đã phát tâm nên vẫn muốn truyền cho nhiều người biết. Tối hôm sau, sư vừa nằm xuống lại thấy người hôm qua, dáng vẻ rất giận dữ, nói: “Lỗi mà biết cải đổi thì trở thành không lỗi. Hôm qua tôi đã bảo mà không nghe. Kinh ấy chẳng có lí và hạnh, vả lại họa cũng sắp đến với ông”. Sư giật mình tỉnh giấc hoảng loạn. Trời chưa sáng, sư đã vội viêt thư xin lại những bản kinh đã tặng, sau đó thiêu đốt tất cả.
7.7.14. Đòi Tống, ni Thích Tuệ Thông: Cô ở chùa Giản Tĩnh tại kinh đô, lúc còn nhỏ tuy xuất gia, nhưng niềm tin Phật pháp không sâu. Niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (433) thầy mất, cô bỏ đạo hoàn tục, làm vợ ông Lưomg Tê ở quận Ngụy, sinh được một người con trai. Khi người con được bảy tuổi, giađình vô cùng nghèo túng, không có áo quần để mặc. Lúc cô làm ni có mấy quyển kinh như kinh Vô lượng thọ, kinh Niết-bàn viết trên lụa trắng. Cô bèn phá ra để làm áo cho em bé. Được một năm thì em bé mang bệnh thường hốt hoảng, thân thể lở loét giống như mụn nhọt, lại xuất hiện rất nhiều trùng nhỏ màu trắng, hằng ngày bắt được hơn một thăng. Em bé đau đớn vô cùng, đêm ngày gào khóc, lại thường nghe trên không trung có tiếng nói:
- Phá hủy kinh làm áo, nên chịu quả báo khổ như thế!_ Khoảng một tuần sau thì đứa bé mất.
7.7.15. Đời Tống, Thích Tuệ Hoàn: Sư người Quảng Lăng, xuất gia trụ ở chùa Lô sơn, học thông kinh luật, là người cao khiết, có giới hạnh. Sư thường tụng kinh Pháp hoa, Thập địa, Tư ích, Duy-ma. Mỗi đêm ngâm tụng thường nghe trong bóng tối có tiếng búng ngón tay khen ngợi.
Một hôm, sư đi trên thuyền, gặp sấm sét, sóng gió nổi lên, thuyền sắp lật chìm. Sư liền tụng kinh không ngừng, thì cảm thấy như được ai kéo, phút chốc đến bờ. Thế là sư càng thêm tinh tiến tụng niệm. Niên hiệu Nguyên Gia cuối cùng (453), đời Tống, sư thị tịch, hưởng thọ sáu mươi hai tuổi.
7.7.16. Đời Tề, Thích Tuệ Bảo: Không rõ sư họ gì, tụng làu thông được hai trăm quyển. Những bậc đức cao trọng vọng, trí tuệ thông đạt thời ây cũng biết sư. Vào niên hiệu Vũ Bình thứ ba (573), sư từ Tinh châu qua đất Nghiệp, nhưng vừa đến Ngải châu thì lạc đường. Sư bèn men theo đường mòn đi vào núi thì trời đã tối, nên ngủ lại trong ngôi nhà dưới sườn núi. Nhà ấy giông như có người ở nhưng tìm không thấy, sư ngồi trước nhà nhìn lên cây tùng thấy có treo một chiếc khánh, cách mặt đất khoảng mấy trượng. Canh hai đêm ấy có người mặc thảo y từ bên ngoài đi vào, nói: ‘Trong đây sao lại có mùi thế tục?’. Sư cung kính trình bày và cùng người ấy bàn luận.
Người ấy hỏi:
- Vua đời nay họ gì?
- Họ Cao, nước Tề.
- Ngài trụ ở đây được bao lâu?_ Sư hỏi.
- Từ thời Hậu Hán đến nay.
- Trưởng lão đọc tụng được những kinh nào?
Sư ỷ mình tụng đọc nhiều kinh điển nên có ý tự kiêu.
Sơn tăng đáp:
- Người tu đạo không nên như thế. Ông muốn nghe kinh nào, tôi sẽ tụng cho ông nghe?
Sư đáp:
- Muốn nghe kinh Hoa nghiêm.
Sơn tăng liền tụng kinh Hoa nghiêm, âm thanh hòa nhã trầm bổng, thế gian chẳng thể có. Sơn tăng lạitụng các kinh khác cũng đều như thế. Sư kinh ngạc tán thán:
- Do đâu mà ngài có thể tụng thuộc nhiều kinh văn như thế?

Phần 4

- Ông tụng đọc với tâm hữu thức, còn tôi tụng đọc bằng tâm vô tác. Hễ vô tâm nơi vạn vật thì tự đạt được tất cả.
Sư biết đây là bậc thần dị nên cầu xin ở lại. Sơn tăng nói: “Ở trong nước lợi dưỡng mời gọi, ông làm sao có thê tự an? Vả lại phàm tình chưa dứt thì dù ở đây cũng không ích gì!”.
Đến chiều sơn tăng ra đi, sư tìm theo dấu tích, nhưng không thấy. Sư tự trách mình. Sau đến đất Nghiệp, sư đã kể lại chuyện này.
7.7.17. Cư sĩ Hà Qui: Ông ở quận Nam Hải, Quảng châu. Ngày mười ba tháng mười, niên hiệu Thiên Giám mười bốn (515) ông lên núi Hồ Dực ở Dự Chương hái thuốc. Tuy may mắn chẳng phải là vị quan viên bị phế truất, nhưng ông cũng bắt chước tìm tiên ẩn dật. Thế là ông vào núi, đi được mười dặm, cảm thấy dường như con đường này đã có người đến. Đi thêm một vài đoạn quanh co thì phía trước bị ngăn chặn bởi dòng suối xanh, nước như đứng yên. Bất chợt lại thấy có dòng nước chảy nhẹ, ông định lội qua, nhưng vừa vén quần thi bất giác bỗng thấy một vị trưởng già ở phía tây bảo với ông là đừng lội. Người ấy mặt xanh, đi chân không, khoảng tám chín mươituổi, da mặt nhăn nheo, râu cằm dài năm sáu tấc, râu mép dài mép dài bằng nửa râu cằm, lông mày cụp xuống dài khoảng hai ba tấc, theo gió phất phơ, môi đỏ thắm, giọng nói vang mà trong, móng tay màu vàng cũng dài hai ba tấc. Ông lão mặc áo vải thô, quần niết-bàn tăng màu đỏ, tay cầm một quyển sách ném tới cho Qui. Qui cung kính nhận lấy rồi lễ ba lạy. Ông lão lại bảo Qui trao quyển kinh này cho Kiến An vương và dặn: “Khi vương nhận quyển kinh này nên trai giới hai mươi mốt ngày. Nếu không hiểu phép trai giới thì đến hỏi Phó công ở chùa Hạ Lâm!”.
Pháp sư Phó công là người giới hạnh tinh nghiêm, thanh cao đạm bạc vô vi, không tham dục, đối xử với người giàu kẻ nghèo đều bình đẳng, dùng rau hoắc để no lòng, tham thiền không giải đãi. Vị trường giả dặn dò xong bèn đi, khoảng mười bước bất chợt biến mất. Qui mở sách nhìn thì thấy đề tên là Tuệ Ấn tam-muội kinh. Yếu chỉ của kinh cao tột, lấy pháp thân vô tướng làm thể, lý ngoài bách phi, nghĩa vượt danh tướng, vắng lặng đông pháp tướng, vi diệu ngang chân như. về tuệ chiếu thì lý ấy hoàn toàn như ấn tâm, sâu kín ngưng lặng. Vì thế lấy Tam-muội làm tên kinh.
7.7.18. Đời Chu, kinh Bát-nhã rơi từ không trung xuống: Vũ đê (543-578) phá hủy Phật pháp, đốt kinh điển cháy thành tro. Một năm sau, ông chợt thấy trên hư không có năm sáu vật thể hình như chiếc nấm lớn,bay lên cao hút tầm mắt, rồi hợp thành một theo gió từ từ hạ xuống. Các quan đứng nhìn không biết là vật gì. Khi những vật thể ấy hạ xuống trên một bức tường bằng đất, đến nhìn thì đó là bộ kinh phẩm Bát-nhã, mười ba quyển.
7.7.19. Đời Trần, Nghiêm Cung ở Dương châu: Ông vốn người Tuyền châu. Nhà ông rất giàu, lại là con một, nên ông được cha mẹ cưng chiều, chưa hề trái ý.
Niên hiệu Thái Kiến thứ nhất (569), lúc hai mươi tuổi, một hôm ông xin cha mẹ năm vạn đồng tiền đến Dương châu buôn bán, cha mẹ chấp nhận. Ông chuẩn bị hành lí rồi lên thuyền đi. Khi cách Dương châu mấy mươi dặm, ở giữa dòng sông ông gặp một thuyền chở ba ba mang ra chợ bán. Ông thương ba ba sắp chết bèn hỏi mua: “Tôi hiện có năm vạn đồng tiền, muốn chuộc số ba ba này”. Người chủ vui mừng lấy tiền, giao ba ba rồi đi. Ông thả hết số ba ba xuống sông rồi đi thuyền không đến Dương châu. Người chủ ba ba trước đó đi khoảng hơn mười dặm thì bị chìm thuyền mà chết. Cũng ngày ấy, cha mẹ ông ở nhà thấy có năm mươi người mặc áo đen đến xin ngủ qua đêm và đưa năm vạn tiền nói: “Con của ông bà ở Dương châu gửi tiền này về, xin nhận đúng số này!”.
Người cha kinh hãi, nghĩ con mình đã chết, nên vặn hỏi. Người khách nói: “Con ông không sao cả, chỉ không dùng tiền, nên gửi về nhà mà thôi! . Cha ôngnhận tiền và nhớ đây là tiền trước kia, nhưng hơi bị ướt. Cha ông giữ khách chiêu đãi, khách ở lại, đến sáng hôm sau cáo từ ra đi. Hơn một tháng sau ông trở về nhà, cha mẹ rất vui mừng, lại hỏi nguyên nhân vì sao gửi tiền về nhà. Ông trả lời là không gửi. Cha mẹ ông tả hình trạng khách cùng ngày giờ đến nhà gửi tiền, thì chính là ngày mà ông chuộc ba ba, thế là biết những người khách ấy chính là những con ba ba được chuộc.
Cha con kinh ngạc cảm kích, nhân đó cùng đến Dương châu lập tinh xá, chuyên chép kinh Pháp hoa. Sau đó, gia đình ông dời về Dương châu và ngày càng giàu. Lại xây dựng một ngôi nhà lớn để làm nhà chép kinh, trang nghiêm thanh tịnh, trong nhà thường có mấy mươi người chép kinh được cung cấp đầy đủ. Tăng tục ở Dương châu đều tôn kính gọi ông là Nghiêm Pháp Hoa.
Một hôm, có người thân đến mượn một vạn đồng tiền trong số tiền chép kinh, bất đắc dĩ ông phải cho mượn. Người ấy nhận tiền rồi đi thuyền trở về. Sau đó bỗng nhiên thuyền nghiêng, số tiền đã mượn rơi hết xuống nước, nhưng người không chết. Đúng ngày ấy, ông vào kho tiền thì thấy có một vạn đồng tiền bị ướt, như vừa mới đem dưới nước lên, nên lấy làm lạ.về sau, ông gặp người mượn tiền ấy mới biết đó là số tiền người này rơi.
Lại có một thương nhân đến hồ Cung Đình cúng rượu, thức ăn và những vật thượng hạng cho thần miếu. Đêm ấy, ông ta mộng thấy thần trả lại vật và bảo: “Ông làm ơn đem số tiền này đưa cho Nghiêm Pháp Hoa dùng vào việc chép kinh cho tôi!”. Sáng hôm sau, ông ta thấy những vật đem cúng cho thần ngày qua đang ở trước mặt mình. Cho là kì lạ, ông ta bèn đem đến chỗ Nghiêm Cung và cúng thêm rất nhiều.
Có lần, ông đi chợ mua giấy để chép kinh, nhưng thiếu tiền, chợt có một người mang ba nghìn đồng tiền đến trao cho ông nói: “Giúp ông mua giấy”. Nói xong không thấy người đâu nữa, nhưng tiền vẫn còn đó.
Những điều kì lạ như thế không phải một. Niên hiệu Khai Hoàng cuối cùng (587) Nghiêm Cung mất, con cháu mãi gìn giữ thiện nghiệp của cha ông. Cuối đời Tùy, trộm cướp đến vùng Giang Đô, nhưng chúng qui định không được vào làng của Nghiêm Pháp Hoa. Người trong làng nhờ thế mà được an toàn.
Đến nay, cháu chắt của ông vẫn giữ việc chép kinh, người trong chầu ấp đều thấy, nhân sĩ ở kinh đô đều hay.
7.7.20. Đời Tùy, vị tăng khuyết danh: Niên hiệu Khai Hoàng thứ nhất (581) ở Dương châu có vị tăng không biết là tên gì, vì tụng thuộc lòng kinh Niết-bàn nên có ý khoe khoang tự phụ. Trong thôn ở chân núi thuộc phía đông Kì châu cũng có vị sa-di tụng thuộc lòng kinh Quán Thế Ấm. Sau đó, cả hai đột ngột qua đời. Thân thức của hai người đồng đến chỗ vua Diêm-la. Vị sa-di được vua thiết tòa vàng cao cho ngồi và tỏ lòng cung kính, còn vị tụng kinh Niết-bàn thỉ chỉ cho ngồi tòa bạc và Diêm-la không cung kính bằng.
Sau đó, Diêm vương tra xét lại thì cả hai vẫn còn tuổi thọ, nên đều được trở về. Vị tăng tụng kinh Niết-bàn trong lòng rất hận, bởi cậy mình tụng kinh nhiều, ông hỏi chỗ ở của sa-di, rồi cả hai cáo từ trở vê dương thế.

Phần 5

Sau khi sống lại, vị tăng tụng kinh Niết-bàn tìm đến Kì châu, hỏi rõ nguyên do.
Sa-di nói:
- Khi tụng kinh Quán Thế Âm, tôi đắp y và dùng tòa riêng, đốt hương chú nguyện sau đó mới tụng. Pháp này tôi hành trì không giải đãi, chứ không có thuật gì khác.
Vị tăng tụng kinh Niết-bàn cám ơn nói:
- Tội ta quá nặng, khi tụng kinh Niết-bàn oai nghi không tề chỉnh, thân miệng bất tịnh, chỉ luống suông mà thôi. Người xưa có nói: “Nhiều ác không bằng ít thiện”. Nay mới chứng nghiệm.
Vị tì-kheo tỏ lòng ăn năn, rồi tạ từ trở về.
7.7.21. Đời Tùy, sa-môn Thích Tuệ Ý: Sư ở chùa Cảnh Không, Tương châu, họ Lý, người Lâm Nguyên. Khi Vũ Văn đế phê Phật, sư vào đất Lương, cùng vớiThích Tuệ Mệnh ở núi Tiên Thành đồng theo thầy nghiên cứu tâm yếu, chuyên tu thiền định. Sau, sư đến ở chùa Cảnh Không, trụ tại thiền phòng xưa của thiền sư Thông, tu tập thiền định. Ban đêm, sư không đốt đèn mà phòng thường sáng. Có người trong làng không tin việc này, bèn thỉnh sư đến một biệt viện trong thời gian một trăm ngày để hành đạo.
Mỗi tối ông lén đến dò xét. Cả nhà đều thấy thiền thất sáng rực, liền tin phục, cùng đưa mọi người đến qui y thụ giới. Sư mất vào niên hiệu Khai Hoàng thứ nhất (581). Dự biết trước giờ chết, sư ngồi ngay thẳng mà tịch.
Lại vào khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-600) có thiền sư Pháp Vĩnh, trước khi lâm chung bảy ngày, đêm đêm mọi người thường nghe tiếng nhạc và mùi hương lan tỏa khắp chùa.
Nhân đó sư ngồi yên tịch, nhục thể được để nguyên theo tư thế ngồi thiền, rồi đưa lên an trí trên núi Tán Cái.
Luật sư Toàn cũng ở chùa trên, trước khi tịch, nguyện rằng: “Nguyện lưu thân tướng bảy ngày”. Đến khi sư mất, mọi người lưu thi thể trắc nghiệm. Sau kì hạn thi thể bỗng nhiên biến hoại.
Lại có xà-lê Sầm, họ Dương người Lâm Nguyên cũng ở chùa này. Sư tạo nhà tụng kinh bên dòng suối phía nam núi Tán Cái. Sư thường tụng kinh Kim quang minh cảm được bốn vị thiên vương đến nghe.
Sau đó, sư tụng ba tạng kinh điển mà không hề quên, tính ra tụng hơn ba nghìn quyển. Sư mặc áo vải, khất thực nuôi thân và cũng để dành trong bát đem về cho chuột ở trong phòng. Hơn trăm con chuột bò quanh, tranh nhau đến chỗ sư. Chuột bị bệnh, sư dùng tay sờ vuốt thì bệnh liền hết.
Sư có giao tình nhiều năm với sa-môn Trí Hiểu, cả hai chiêu tập thiền sinh, tự hóa duyên để chu cấp cho người học định. Sư tự biết ngày mất nên vội mời thiền sư Thải đến dặn dò. Sau đó, sư lên điện lễ Phật, tạ từ đại chúng, xin mọi người hoan hỉ. Trong ngày tổ chức đại lễ trai tăng ở chùa Thiền Cư, khi chư tăng sắp về, sư bảo thiền sư Sầm:
- Đến cung trời Đâu-suất để nghe kinh Bát-nhã.
Thiền sư Sầm đáp:
- Nếu đệ đi trước thì sau bảy ngày ta sẽ đến.
Canh ba đêm ấy, sư ngồi yên tịch, canh bốn thần thức sư đến chùa Biến Học, cách chỗ sư bốn mươi dặm. Lúc ấy cả một vùng sáng như ban ngày, sư đến trước giường của thiền sư Thải bảo rằng sáng nay sẽ đi xa nên đến chia tay, không thể ở lâu được. Thiền sư Thải đưa sư ra ba lớp cửa, tạ từ xong, thiền sư vào ngồi trên tòa ở phòng giữa, bất chợt trời trở lại tối. Thiền sư gọi đệ tử đến hỏi: “Có nghe thầy nói chuyện với người không?”. Lại lấy đuốc soi thì ba lớp cửa vẫn đóng, thiên sư mới hiểu ra việc ấy là do thần lực, nên ra vào không ngăn ngại. Thiền sư Thải liền saingười đến chỗ sư hỏi thì quả nhiên sư đã tịch. Bảy ngày sau thiền sư Thải bỗng dưng ngồi thị tịch, xương đầu ngài không có khớp nối. Nên biết phàm thánh chung ở, hoàn toàn chẳng thể phân biệt được.
7.7.22. Đời Tùy, sa-môn Thích Pháp Tạng: Sư ở chùa Bảo Thất, Phu châu, bản tính chất trực, giới hạnh tinh nghiêm. Niên hiệu Khai Hoàng mười ba (593), trong thành Vi Xuyên, huyện Lạc Giao, sư dựng một ngôi chùa lớn, chính điện trang nghiêm, tăng phòng tráng lệ, linh tượng, cờ hoa thiết trí khắp nơi. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ năm (609), sư phụng sắc đưa tất cả những tượng Phật tại các chùa am nhỏ về an trí ở chùa lớn trong châu. Trong số đó nếu tôn tượng nào bị hư hoại, sư liền tu bổ và tạo điện đường để an trí. Sư tạo Nhất thiết kinh, chép được hơn tám trăm quyển. Sợ châu này không có người viết đẹp cũng như giấy bút tốt, nên sư cho thực hiện việc chép kinh tại chùa cổ Nguyệt Ái ở kinh thành.
Tháng hai nhuận, niên hiệu Vũ Đức thứ hai (619), sư bị bệnh hơn hai mươi ngày. Lúc bệnh, sư thấy một người mặc áo xanh rất đẹp, ở trên lầu cao, tay cầm quyển kinh bảo sư: “Từ khi trưởng thành đến nay, tuy ông đã tạo được công đức lớn, tất cả đều tốt đep, nhưng chỉ có phần nhỏ dùng lẫn lộn vật của Tam bao, nên mang tội rất nặng. Trên tay tôi đang cầm quyển kinh Kim cương Bát-nhã, nếu ông có thể tựmình chép một quyển, thì tội sử dụng vật của Tam bảo sẽ tiêu diệt”.
Sư đáp: “Từ khi tạo Đại tạng kinh đến nay, các thầy chép rất nhiều kinh, nhưng chưa chép kinh Kim cương Bát-nhã, nếu lành bệnh thì không dám trái lệnh. Đệ tử chỉ có ba y, bình bát và tăng-kì-chi lộ vai mà thôi, không có vật gì khác, nay xin cúng dường đại đức” .
Thế rồi sư cùng đệ tử chép kinh Kim cương Bát-nhã, được một trăm quyển. Mấy ngày sau, khi sắp lâm chung, sư thấy đức A-di-đà đến rước. Do oai lực của kinh nên sư được vãng sinh, không bị rơi vào ba đường ác.
7.7..23. Đời Tùy, một vị tăng du phương: Khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616), một hôm có vị tăng du phương đến miếu Thái Sơn xin ngủ qua đêm. Người giữ miếu nói:
- Ở đây không có phòng riêng, chỉ có thể tạm nghỉ ở gian bên cửa điện thờ thần, nhưng từ trước đến nay, những người xin ngủ ở đây đều bị chết.
Vị tăng nói:
- Không có vấn đề gì!
Vị giữ miếu bất đắc dĩ phải nghe theo, đặt giường nơi ấy cho vị tăng ngủ. Tối đến, vị tăng ngồi ngay thẳng tụng kinh, chợt nghe trong điện có tiếng ngọc bội va chạm, lát sau thần xuất hiện đỉnh lễ vị tăng. Vị tăng hỏi:
- Nghe nói ở đây có nhiều người ngủ đêm đã chết, phải chăng đàn việt đã hại họ? Xin hãy bảo vệ họ!
Thần đáp:

Phần 6

- Gặp lúc mạng sống của họ sắp hết nên vừa nghe tiếng đệ tử, họ sợ quá mà chết, chẳng phải đệ tử giết họ. Xin thầy hãy yên tâm!
Vị tăng mời thần ngồi và nói chuyện với nhau trong khoảng bữa ăn, bỗng vị tăng hỏi:
- Nghe người ta truyền rằng thần Thái Sơn cai quản ma quỉ, có việc ấy sao?
Thần đáp:
- Đệ tử bạc phúc, thật có việc ấy. Ngài muốn thấy người thân đã mất chăng?
Vị tăng nói:
- Tôi có hai người bạn cùng học đã mất, mong được thấy họ.
Vị thần hỏi tên rồi nói:
- Một người đã sinh lại nhân gian, còn một người đang ở địa ngục. Người ấy phạm tội nặng nên không thể đến đây, thầy có thể đến đó thăm.
Vị khách tăng vui mừng đi theo, không lâu thì đến một nơi có nhiều ngục, lửa cháy đỏ rực. Thần dẫn táng đi vào ngôi nhà, từ xa thấy một người đang bị lửa đốt, kêu gào thống thiết, không thể nói năng, thânhình đã biến dạng không thể nhận ra, máu thịt cháy khét trông rất thương tâm. Vị thần nói:
- Chính là người này, thầy không muốn thấy sao? Khách tăng buồn bã xót thương, xin ra khỏi chỗnày. Lát sau hai người về đến miếu.
Khách tăng lại ngồi nói chuyện với thần, nhân đó hỏi:
- Tôi có thể cứu bạn đồng học được chăng?
Thần nói:
- Cứu được! Nếu thầy có thể vì người ấy chép kinh Pháp hoa thì người ấy thoát tội.
Trời sắp sáng, thần từ tạ khách tăng trở vào điện. Đến sáng người giữ miếu thấy vị tăng không chết nên lấy làm lạ. Vị tăng liền kể nguyên do cho ông nghe.
Sau đó, vị tăng chép một bộ kinh Pháp hoa cho người bạn. Kinh được chép xong và trang hoàng bìa bao xong, vị tăng lại mang đến miếu tá túc. Đêm ây, thần lại xuất hiện, vui mừng lễ bái, hỏi nguyên do đến miếu, vị tăng trình bày rõ. Thần nói:
- Đệ tử biết thầy chép kinh cho bạn, vừa mới chép đề kinh thì người ấy đã được thoát khổ, nay lại sinh vào nhân gian. Nơi đây không thanh tịnh không thể an trí kinh điển, xin thầy mang đến chùa.
Nói chuyện hồi lâu, trời sắp sáng, thần lại từ tạ đi. Vị tăng lại đem kinh an trí ở chùa. Biệt giá Trương Đức Ngôn ở Hàng châu trước nhận chức ở Duyên châu biết rõ về việc này.
7.7.24. Đời Đường, sa-môn Thích Trí Uyển: Sư là người có học thức, tinh thông kinh điển. Đời Tùy, khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616), để chuẩn bị cho giai đoạn Phật pháp bị hủy diệt ở tương lai, sư phát tâm tạo Nhất thiết kinh tạng trên đá. Vì thế sư đến Tây sơn thuộc u châu đục đá làm thất, rồi mài bốn mặt vách để khắc kinh. Sư lại lấy những phiến đá hình vuông mài nhẵn rồi chép kinh an trí trong các thất.
Mỗi một thất sau khi đã chép đầy kinh thì dùng đá chặn cửa và dùng thép gia cố. Bấy giờ, Tùy Dạng đế tuần du ở quận Trác có Nội sử thị lang Tiêu Vũ là em của hoàng hậu đi theo. Tiêu Vũ bẩm tính kính tin Phật pháp, nghe việc này liền thưa với hoàng hậu. Hoàng hậu bèn cúng một nghìn tấm lụa và tài vật khác để giúp sư hoàn thành công việc. Tiêu Vũ cũng cúng năm trăm tấm lụa. Triều đình và người dân nghe như vậy đều tranh nhau cúng dường, nhờ thế mà công việc của sư được hoàn thành.
Vì nhân công đã nhiều, đạo tục kéo đến cúng dường cũng rất đông, nên sư muốn dựng một điện Phật bằng gỗ, cùng nhà ăn và nhà nghỉ ở trước sườn núi. Nhưng khó tìm được ngói gỗ, lại sợ hao phí nhiều tài vật dùng cho việc khắc kinh, nên sư chưa làm. Một hôm, trời mưa lớn, sấm sét chấn động núi rừng, đến sáng thì thấy dưới núi có một đống gỗ tùng và bách mấy nghìn vạn cây bị nước cuốn trôi tấp vào. Rừng ở Sơn Đông rất hiếm gỗ tùng và bách, đạo tục đều kinh ngạc không biết gỗ từ đâu đến. Truy tìm tung tích thì biết đến từ phía tây, do núi sạt lở nên nước đã cuốn cây đến. Thấy vậy, xa gần đều cảm phục, nếu chẳng phải do phúc lực, thì đâu thể cảm được thần trợ giúp. Sư bèn bảo thợ tuyển chọn số gỗ ấy để làm nhà, phần dư đem cho người trong thôn.
Người dân trong thôn vui mừng và tự nguyện giúp sư dựng nhà cửa, chẳng bao lâu thì hoàn thành, đúng như ý nguyện.
Sư đã tạo xong bảy gian thạch kinh. Đến năm Trinh Quán thứ mười ba (639) sư mất, đệ tử kế tục hạnh nguyện này.
Điện trung thừa tướng Lí Huyễn Tưởng, Đại lí thừa Thái Tuyên Minh, đều nói về việc này. Đến niên hiệu Trinh Quán mười chín (645), tác giả theo vua đên Ư châu đích thân hỏi người trong làng, họ đều nói việc ấy có thật.
7.7.25. Đời Đường, Thích Đạo Tích: Sư trụ ở chùa Phúc Thành, ích châu, có lòng từ ái, hay cứu giúp muôn vật, tụng thuộc lòng kinh Niết-bàn. Mỗi khi tụng kinh sư thường tắm gội thay y mới. Tháng năm, niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627) sư tịch, mọi người làm lễ trà-tì, tuy cháy hết, nhưng thi thể khôngtan rã, để hơn trăm ngày, thân vẫn trong tư thế kết già không khác gì trước. Đạo tục đều rất vui mừng.
7.7.26. Đời Đường, Thích Đạo Dụ: Sư đến ẩn cưtại núi Lễ Tuyền, chỉ lấy kinh hoa làm đạonghiệp, sư đã tụng được mấy nghìn biến. Trong khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650), khi lâm bệnh sắp mất, sư nói với bạn là thiền sư Tuệ Khuếch:
- Tuy tôi tụng kinh, nhưng tâm vẫn mong có chứng nghiệm, nếu sinh vào đường lành thì lưỡi không hư hoại. Lúc ấy có thể mai táng tôi. Nếu mười năm sau quật lên mà lưỡi hư hoại thì biết việc tụng kinh không có công đức, nếu lưỡi vẫn như lúc sống thì xây tháp để mọi người phát lòng kính tin._ Nói xong, sư thị tịch.
Mười một năm sau, người bạn quật mộ thì thấy thân đã tan hoại hết, nhưng lưỡi vẫn còn nguyên. Người trong huyện đều kính ngưỡng, bèn an trí chiếc lưỡi trong hộp rồi xây tháp bên bờ Cam Dục.
7.7.27. Đời Đường, Sử Ha Thệ: Ông ở thôn Sử bên bờ nam dòng Phúc Thủy, ngoại ô kinh đô nhà Đường, suốt đời tụng kinh Pháp hoa. Khi được sung vào chức lệnh sử, ông y theo lời kinh dạy: “Khởi tâm thương xót mọi loài” nên hằng ngày đi về, ông chỉ đi bộ chứ không cõi ngựa. Sau, ông bị bệnh và qua đời, lúc ấy tự nhiên có mùi hương bay khắp thôn xóm, đạo tục đều lấy làm lạ, nhưng không biết do duyên gì. Mười năm sau, vợ ông mất, mọi người khai mộ đểhợp táng, thấy lưỡi của ông vẫn tươi nhuận như khi còn sống, bèn thâu lấy an táng nơi cao ráo, để biểu thị cho mọi người biết.

Phần 7

7.7.28. Đời Đường, Lệnh Hồ Nguyên Quĩ: Niên hiệu Trinh Quán thứ năm (632) ông ở Ấp Tây, Long châu. Vốn kính tin Phật pháp, ông muốn chép kinh Pháp hoa, Kim cương Bát-nhã, Niết-bàn... nhưng không thể kiểm xét, nên đến cầu thiền sư Thượng Kháng giúp. Thiền sư bèn thanh tịnh như pháp chép cho ông, sau đó ông mang đến Kì châu trang trí. Kinh được để chung với những sách của Lão Tử. Một hôm, bất chợt nhà bị lửa lan đến thiêu cháy. Vì nhà lợp bằng lá nên trong chốc lát tất cả thành tro.
Bấy giờ, ông đang làm huyện lệnh Bằng Dực. Khi nghe tin này, ông liền trở về. Trong lòng lo buồn, nhưng ông cũng sai gia nhân thử bới tro tìm kinh. Sau khi gặt hết lớp tro bên ngoài thì thấy các kinh vẫn y nguyên, màu vàng không đổi, chỉ bị cháy hòm đựng. Ho lai tìm các kinh của Lão Tử thì thây bị cháy hết. Những người chứng kiến đều cho là kì lạ.
Trong đó, có một quyển kinh Kim cương Bát-nhã, đề kinh bị cháy sém. Hỏi nguyên do thì được biết đề kinh đó là do một vị quan viết chữ đẹp ở trong châu ghi. Người này không ăn chay, tính tình thô tháo không thanh tịnh, cứ như thế mà đến viết đề mục rồi đi, do đó đề mục bị sém đen. Người ấy lúc này vẫn còn và bản kinh linh thụy hiện vẫn được lưu giữ.
7.7.29. Đời Đường, thiền sư Thích Đàm Vận: Sư người Định châu, đến Thấp châu vào năm bảy mươi tuổi. Cuối đời Tùy đất nước loạn lạc, sư ẩn cư ở Thiên sơn phía bắc Li Thạch, thường tụng kinh Pháp hoa. Sư muốn chép kinh này nhưng trải qua nhiều năm mà không có người đồng tâm nguyện. Một hôm, có một người giỏi viết chữ không biết từ đâu đến, ngỏ ý muốn được trai giới thanh tịnh, phát tâm chép kinh cho sư.
Sáng hôm sau, ăn xong người ấy tắm gội, thay áo sạch, thụ tám giới rồi vào tịnh thất, miệng ngậm hương chiên-đàn, đốt hương và treo tràng phan, yên lặng chép kinh, đến tối mới ra khỏi thất. Sáng hôm sau lại như thế, chưa từng tỏ vẻ mệt nhọc.
Đến khi kinh chép xong, lại đúng như pháp dâng lên sư. Tiễn người này ra đến cửa thì không thấy đâu nữa. Kinh được trang hoàng đúng như pháp, sư chí thành thụ trì đọc tụng. Sau đó gói kinh bằng bảy lớp, qua mỗi lớp, sư đều dùng nước thơm rửa tay. Khi gặp giặc Hồ, sư an trí kinh trong hòm và đặt trên vách núi cao. Nhiều năm sau, giặc yên thì tìm không thấy kinh. Sư lo buồn, ra sức tìm kiếm và nhặt được kinh dưới chân núi. Bấy giờ, hòm đựng và vải bọc đã mục nát, nhưng kinh vẫn còn mới như xưa.
7.7.30. Đời Đường, người họ Tuần: Ông sống vào đời Tùy, ở thôn Vương Lí cách huyện Tân Phồn, ích châu về phía tây khoảng bốn mươi dặm. Ông dạyhọc và viết chữ rất đẹp nhưng không chịu viết cho ai. Có người muốn được chữ của ông, nhưng ông không viết, cho đến bức ép cũng không được. Một hôm, ông cầm viết đứng phía đông thôn viết kinh Kim cương Bát-nhã vào bốn phía trong hư không. Qua mấy ngày thì bảo là xong và nói kinh ấy để chư thiên đọc. Mọi người hoàn toàn không biết ông là thần nhân.
Một hôm, trời sấm sét và mưa lớn, những đứa bé chăn trâu tình cờ đứng ở chỗ chép kinh, chúng phát hiện là không bị ướt. Vùng đất khoảng hơn một trượng chỗ ấy cũng khô ráo, người đi qua lại và dân thôn rất lấy làm lạ. về sau, cứ mỗi lần trời mưa các em bé thường tập trung nơi đây để tránh mưa. Đến niên hiệu Vũ Đức (618-126), một vị tăng phong thái khác thường nói với người trong thôn:
- Trên không trung ở vùng đất này có kinh Kim cương Bát-nhã, người trong thôn chớ làm ô uế vùng này. Chư thiên đã dùng lọng che ở trên, không được khinh thường!
Nhân đó, dân thôn rào bốn phía, không cho người và súc vật qua lại. Đến nay, khi trời mưa, vùng đất ấy vẫn còn khô ráo. Mỗi khi đến ngày trai, người trong thôn đến đây cúng dường và thường nghe nhạc trời, âm thanh dìu dặt, vang khắp mọi nơi.
7.731. Đời Đường, phu nhân của Đại Trần công họ Đậu: Bà họ Đậu Lư, chị của Nhuế công Khoan, là người tin vào phúc nghiệp. Có lần, bà tụng kinh Kimcương Bát-nhã nhưng chưa hết quyển, còn lại khoảng một trang mà tụng mãi vẫn không xong. Một hôm, vào lúc trời tối bà bị nhức đầu, thân thể bất an, tối nằm càng đau thêm. Bà tự nghĩ nếu thình lình mà chết thì kinh vẫn chưa tụng xong, nên muốn dậy tụng kinh, nhưng nhà đã tắt đèn. Bà sai người hầu đốt đèn, lát sau người hầu trở về báo rằng trong phủ không có lửa. Bà mở cửa qua phòng gia nhân lấy cũng không có.
Bà vô cùng buồn rầu, bất chợt thấy trong bếp có một ngọn đuốc từ từ di chuyển lên bậc thềm rồi vào nhà, thẳng đến giường của bà. Ngọn đuốc cách đất khoảng ba thước, không có người cầm, ánh sáng như ban ngày. Vừa mừng vừa sợ, đầu cũng bớt nhức, bà bèn lây kinh tụng đọc. Lát sau gia nhân lấy được lửa thì ngọn đuốc kia liền tự tắt. Đêm ấy bà đã tụng hết bộ kinh. Bắt đầu từ đó, hằng ngày bà đều tụng năm biến kinh. Khi Nhuế công sắp chết, phu nhân đến thăm, ông bảo: “Chị nhờ phúc đức tụng kinh sẽ sống lâu trăm tuôi và đời sau sẽ sinh vào đường lành”. Thật vậy, đến năm tám mươi tuổi bà mới mất.
7.7.32. Đời Đường, thiếp của Tô Trường: Trước đây Tô Trường giữ chức Đô thủy sứ giả. Vào khoảng niên hiệu Vũ Đức (618-626), ông nhận chức thứ sử Ba châu, nên mang gia đình đi nhậm chức. Khi đoàn người vượt sông Gia Lăng thì gặp gió lớn, thuyền chìm, hơn sáu mươi nam nữ đều bị chết, chỉ còn sót một người thiếp chuyên tụng kinh Pháp hoa. Lúc nước vào thuyền, người thiếp này đội hòm kinh trênđầu, nguyện cùng chìm với kinh. Nhưng bà đã không chìm mà theo sóng đưa vào bờ. Lên bờ, bà mở hòm kinh ra xem thì thấy kinh không hề bị ướt. Nay bản kinh ấy vẫn còn ở Dương châu. Người thiếp ấy về sau tái giá càng thêm kính tin Phật pháp.
7.7.33. Đời Đường, Tư mã Liễu Kiệm: Vào đời Tùy, niên hiệu Đại nghiệp thứ mười (614), ông làm cung giám ở Kì Dương, Kì châu. Đến niên hiệu Nghĩa Ninh thứ nhất (617), Lý Mật nổi loạn, ông bị bắt giam vào Đại lí tự. Ông thường tụng kinh Kim cương Bát-nhã. Một hôm, còn hai trang ở quyển hạ ông chưa tụng hết, bấy giờ ông bât giác chìm vào giấc ngủ, mộng thấy một vị tăng nói: “Đàn việt nên gấp tụng kinh cho xong thì linh ứng sẽ hiện bày”. Ông tỉnh giấc chuyên cần tụng kinh không biếng trễ. Trải qua hai ngày, đến giờ Ngọ chợt có lệnh tha ông. Thế là người ta đưa ông đến công đường rồi vâng theo sắc chỉ mà phóng thích.
Lại có đêm, ông ở bên ngoài tĩnh phòng tụng kinh, đến canh ba chợt nghe mùi hương lạ, ông hỏi người nhà và tìm khắp, nhưng không biết. Từ đó đêm ngày ông tụng kinh càng thêm tinh tiến. Tính cả cuộc đời, ông tụng hơn năm nghìn biến kinh.
7.7.34. Đời Đường, Triệu Văn Tín ở Toại châu: Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), ông đột ngộtqua đời, ba ngày sau sống lại, tự nói: “Ngày mới chết, tôi cùng với mười người bị xua đến chỗ Diêm vương, trong đó có một vị tăng. Đầu tiên Diêm vương gọi vị tăng đến và hỏi:
- Cả đời, sư tạo được công đức gì?

Phần 8

Vị tăng đáp:
- Một đời bần đạo chỉ tụng kinh Kim cương Bát nhã.
Vua nghe như thế liền giật mình đừng dậy chắp tay khen ngợi:
- Quí thay, quí thay! Nếu thật sư tụng đọc kinh Bát-nhã thì sẽ sinh lên cõi trời, vì sao đến lầm nơi đây? Vua vừa nói xong chợt thấy có chư thiên xuống dân vị tăng lên trời. Sau đó vua bảo đưa tôi vào và hỏi:
- Một đời, ông tu tạo công đức gì?
Tôi thưa:
- Tôi không tu theo kinh Phật, chỉ thích tích tập văn chương của Dữu Tín.
Vua nói:
- Dữu Tín có tội lớn, hiện nay đang chịu khổ. Ngươi có từng quen biết Dữu Tín không?
Tôi đáp:
- Tuy tôi đọc văn chương của ông, nhưng không hề quen biết.
Vua bèn sai người dẫn Dữu Tín ra thì thấy con rùa, một thân mà nhiều đầu. Con rùa đi một lát thì hiện thành hình người đến nói:
- Tôi là Dữu Tín, vì lúc còn sống thích viết văn chương, cho rằng kinh Phật là sách thế tục hỗn tạp, phỉ báng Phật pháp, nói kinh Phật không bằng kinh của Khổng và Lão, nên nay phải thụ khổ báo làm thân rùa.
Ở Toại châu đa phần người dân ưa săn thú bắt cá, khi nghe được việc này, đều bảo nhau dứt bỏ nghiệp sát, thành kính phát nguyện thụ trì kinh Bát-nhã cho đến ngày nay.
7.7,35. Đời Đường, Lưu Bậc: Năm Trinh Quán thứ nhất (627), ông làm huyện thừa huyện Nghi Long Phùng châu. Trước đây khi ông làm huyện úy ở Giang Nam, một hôm có một con chim bay đến đậu trên cây trước nhà ông kêu vang. Người dân địa phương nói: “Đó là tiếng kêu bất tường của loài chim dữ. Nhà bị chim này đến kêu, nhất định chủ sẽ bị chết!”. Ông nghe thế rất lo sợ, thầm nghĩ muốn tạo công đức để trừ họa mà không biết làm điều gì tốt nhất.
Đêm ấy, ông nằm mộng thấy một vị tăng ca ngợi kinh Kim cương Bát-nhã và bảo ông đọc tụng một trăm biến. Tỉnh dậy, ông vâng theo lời dạy trong mộng tụng đù một trăm biến. Một hôm, có ngọn giólớn từ phương đông bắc thổi bạt cội cây có chim dữ đậu, bay vào trong làng. Chỗ cội cây tạo thành một hố rộng một trượng rưỡi. Sau đó, ngọn gió ấy lại thổi đến làm cho cây lớn cây nhỏ đều ngã rạp, nhưng khi gió dừng, cây cối trở lại như cũ. Nên biết thần lực của kinh chẳng thể nghĩ bàn như thế.
7.7.36. Đời Đường, Giả Đạo Tiễn: Ông ở Lạc Dương, là một người học rộng biết nhiều, rất thích xem đọc kinh Phật. Niên hiệu Trinh Quán thứ năm (631) ông làm ti hộ tham quân sự ở Thanh châu. Vì ở cơ quan không có chỗ thích hợp để an trí kinh, nên ông dùng dây buộc hai chân của án sách rồi treo lên trên cao, trên thư án để hơn sáu mươi quyển kinh.
Ông nằm ngồi đều ở dưới án và đọc kinh quên mệt mỏi. Lâu ngày dây mục, một dây đã đứt, nhưng án sách vẫn không rơi, cũng không nghiêng lệch, như thế rất lâu mới có người phát hiện đỡ xuống.
7.7.37. Đời Đường, gia đình ông Lăng Hoài Tố: Ông ở quận Ngô, niên hiệu Trinh Quán thứ mười hai (638) do hỏa hoạn nên nhà ông và tinh xá bên cạnh cháy sạch, chỉ còn lại một hòm kinh Kim cương Bát-nhă ba-la-mật. Hòm và trục kinh đều bị cháy, còn chữ kinh thì không hề bị cháy. Những người nghe thấy ai cũng kinh ngạc ca ngợi. Hoài Tố tức là anh vợtrước của Cao Dưorng Hứa Nhân Tắc. Nhân Tắc chứng kiến việc này và kể lại.

Phần 9

7.7.38. Đời Đường, Tư mã Kiều Khanh: Cuối đời Tùy, ông làm Đại lí tư trực, tại Hà Nội, Trung Quốc, bẩm tính thuần khỉết, nghiêm cẩn, có chí hạnh. Niên hiệu Vĩnh Huy (650-655), ông làm Hộ tào ở Dương châu. Lúc cư tang mẹ, ông quá đau buồn nên trích máu ở ngực để chép kinh Kim cương Bát-nhã một quyển.
Chẳng bao lâu ở nơi căn nhà tranh ấy mọc lên hai cọng cỏ chi, qua chín ngày thì dài được một thước tám, cọng xanh lá hồng. Hằng ngày cỏ ấy tiết ra một thăng nước, nếm thấy vị ngọt như mật, lấy đi lại đầy, ba bốn lần như thế. Kiều Khanh cùng mấy người bạn nói viêc này với các huyện lệnh khác. Thế là khắp nơi từ quan chức, nho sĩ cho đến thứ dân đều biết đến.
7.7.39. Đời Đường, Tôn Thọ: Ông người Bình châu, niên hiệu Hiển Khánh (656-660) ông đang săn bắn ở vùng gần bờ biển thì gặp lửa thiêu đốt tất cả cỏ cây, chỉ có một lùm cây xanh tốt không bị cháy. Nghi trong vùng cỏ ấy có thú, ông bèn lấy lửa đốt, nhưng vẫn không cháy. Lấy làm lạ, ông bèn vào tìm thì thấy một hòm kinh Kim cương Bát-nhã đặt cạnh một vị tăng đã tịch mà nhan sắc vẫn tươi nhuận. Nguyên nhân lửa đốt không cháy chính là đây. Lúc ấy ông mới tin rằng kinh tượng phi phàm, không thể suy lường.
7.7.40. Đời Đường, Lí Kiền Quán: Ông người Lũng Tây, đến ở Trịnh châu. Niên hiệu Hiển Khánh thứ năm (660) đau buồn cư tang cha, ông trích máu viết kinh Kim cương Bát-nhã, Bát-nhã tâm kinh, kinh Tùy nguyện vãng sinh mỗi bộ một quyển. Khi ra ngoài trở về, ông tắm gội rồi mới vào phòng chép kinh.
Sau chợt nghe trong phòng chép kinh có hương thơm xông ngào ngạt, người xung quanh chạy đến xem, ai cũng ca ngợi. Huyện lệnh Lang Dư ở Trung Sơn từng qua Trịnh châu gặp bạn, đã nghe người ấy kể lại việc này.
7.7.41. Đời Đường, bộ kinh ở tinh xá tại Tào châu: Ở một thôn cách huyện Tế Âm về phía tây hai mươi dặm có một tinh xá. Tháng mười, niên hiệu Long Sóc thứ hai (662) lửa từ đồng hoang bỗng nhiên bùng phát rất mạnh, quét ngang qua tinh xá, làm cho phòng tăng, thảo xá đều bị cháy sạch, chỉ còn bộ kinh Kim cương Bát-nhã một quyển vẫn y nguyên.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục