Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ

06/11/2015

QUYỂN 20 Quyển này có một chương Kính lễ. 9. CHƯƠNG KÍNH LỄ 9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò...

PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ
Phần 1

QUYỂN 20
Quyển này có một chương Kính lễ.
9. CHƯƠNG KÍNH LỄ

9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò tuy khác đường nhưng cùng đích đến, đạo đời tuy khác lối vẫn chung hướng về. Vì thế tạc tượng biểu thị chân hình để giáo hóa thế tục, nương ngón tay chỉ mặt trăng là phép thường của đạo xuất thế. Chỉ vì chúng sinh vọng chấp ngã nhân, trôi theo dòng kiêu mạn, tùy nghiệp nổi chìm không nghĩ đến việc đổi thay. Bởi do nhiều kiếp mê mờ, không biết Tam tôn, ngu si ương nganh ít gặp thập thánh. Vì thế mạng như đèn trước gió, thật khó giữ gìn; thân giống điện chớp đâu thể bền lâu. Huống gì năm trược giao tranh, bốn rắn bức bách, có thể an nhẫn nhìn ngắm những cảnh hư huyễn này sao?
Vì thế, bậc Đại thánh thương xót tùy nghi giáo hóa dẫn dụ. Điều thiết yếu trong việc hành trì khônggì hơn pháp sám hối, cho nên luận Thập Trụ của ngài Long Thọ ghi: “Ngày đêm có sáu thời, bồ-tát lễ bái mười phương chư Phật, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng. Bồ-tát muốn đạt đến giai vị A-duy-việt-trí, y vào đây tu hành mau chứng quả Bất thoái. Như niệm Phật Thiện Đức ở phương đông... do bản nguyện của các Đức Phật trong mười phương mà chúng sinh trồng căn lành nơi Đức Phật quá khứ, nay nghe danh hiệu Đức Phật mà kính tin thụ trì, liền được tâm bồ-đề bất thoái. Lại có người ngu si thường nghe tiếng ác, nay chợt nghe niệm ‘Nam-mô Phật’, lòng kinh ngạc vui mừng, tội diệt phúc sinh”.
Vì thế kinh ghi: “Kính lễ Đức Phật này có thể trừ trăm vạn tội nặng sinh tử”; hay nói: “Có thể trừ nghìn kiếp tội nặng sinh tử”. Nếu không nương vào thềm thang này để chuyển hóa tâm phàm thì người mang trọng tội phải nhiều kiếp thụ khổ. Như khi nghe danh hiệu Phật thì vui mừng tự nghĩ: “Ta có tội gì mà không thấy chân dung Đức Phật?”, thế rồi lệ rơi đầm đìa. Lại một lòng chắp tay suy nghĩ: “Ta làm được điều thiện gì mà được nghe danh hiệu Phật?”, vậy nên vui mừng, lòng thêm cung kính, chiêm ngưỡng hình dung Đức Phật không nhàm chán. Do sự vui mừng, xúc động ấy mà niềm tin ngày càng tăng. Ý đã thông, tâm không còn phiền lụy thì không những kính lễ lại còn quay về nương tựa Phật.
Gần đây thường thấy có những đạo tục nghe xướng danh hiệu Phật, dù thân lễ bái, nhưng tâm duyên ngoại cảnh, giữa chừng phạm lỗi mà không biết xét mình sám hối, không kính tin, không hổ thẹn. Lại có kẻ xuất gia, tại gia ở chỗ vắng lễ Phật, hoặc cao hoặc thấp, thân tâm lười biếng, không hề kinh sợ, tội bất kính như thế ngày càng tăng.
Có kẻ xuất gia, tại gia lễ bái đại chúng, nghìn tăng vạn tục lớn tiếng xướng tụng, hành lễ vội vàng, thân không sát đất, tâm không cung kính, giống như nhà binh điểm lính, chỉ ghi tên suông, khác nào giã gạo đưa lên đưa xuống, nhọc công vô ích.
Sơ lược những hành vi như thế đều là tội lỗi, bởi cầu danh lợi mà không giữ lòng cung kính. Nên biết, nương vào niềm tin mới thể nhập Phật pháp, phát sinh trí tuệ. Đã không có lòng tin thì biết nương vào đâu?
Từ đây trở xuống lược nêu năm phần. Tất cả đều nương vào thánh giáo mà phân biệt thật giả. Xin hãy bỏ vọng về chân thì công phu mới thành tựu viên mãn.
9.2. CÔNG NĂNG
Kính nghĩ: Đấng Đại giác là bậc thánh có lòng từ cùng tột. Chúng sinh do nhân xưa gặp hội lớn, nay chí thành cơ cảm thì Phật ứng hiện đúng thời. Ai nghe danh hiệu Ngài mà khởi lòng cung kính thì thắng nghiệp nảy sinh trong phút chốc, chuyên tâm quántưởng tượng Ngài thì thành tựu diệu quả mãi muôn kiếp.
Vì thế, danh hiệu của năm mươi ba Đức Phật làm lợi ích chúng sinh quá khứ như số vi trần; hào quang của ba nghìn Như Lai cứu độ muôn loài thời mạt pháp như hằng sa số. Hai mươi lăm danh hiệu Phật nhằm cứu khổ ách cho chúng sinh, dù phúc có bảy báu trong cõi Ta-bà không sánh bằng phúc lễ Phật một lạy. Tuy nhân duyên chắp tay tựa như xa vời mà sẽ dần dần đạt phúc báo Thụ vương. Như vậy, lễ bái xưng tán há uổng công, thành tâm qui kính thầm tăng phúc lợi.
Luận Trí độ ghi: “Nếu bồ-tát chưa vào Pháp vị mà xa lìa Phật pháp, thì sẽ tổn hoại thiện căn, ở chốn phiền não cũng không thể tự độ, thì làm sao có thể độ người? Cho nên, không thể xa lìa chư Phật, như em bé không thể xa mẹ, đi xa không thể thiếu lương thực. Như lúc nóng thì cần gió mát, khi lạnh cần hơi ấm; như vượt sông không thể bỏ thuyền chắc, bệnh khổ không thể lìa thầy thuốc giỏi. Thế nên, bồ-tát thường không lìa Phật. Vì sao? Vì cha mẹ, bạn bè, cho đến trời người, vua quan v.v... không thể giúp ta vượt qua bể khổ, chỉ có đức Thế Tôn mới giúp ta thoát khổ”.
Kinh Dược Vương Dược Thượng ghi: “Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo đại chúng:
- Vô số kiếp xa xưa, trong thời mạt pháp của Đức Phật Diệu Quang, Ta xuất gia học đạo, nghe danh hiệu năm mươi ba vị Phật. Nghe rồi, Ta chắp tay, trong lòng vui mừng, lại dạy người khác nghe và thụ trì. Người khác nghe rồi, tiếp nối truyền dạy cho đến ba nghìn người.
Ba nghìn người này cùng xưng danh hiệu Phật, chí tâm lễ kính, do công đức nhân duyên này, liền diệt được vô số ức kiếp tội sinh tử. Một nghìn người thứ nhất, đầu tiên là Phật Hoa Quang đến cuối cùng là Phật Tì-Xá thành Phật ở kiếp Trang Nghiêm, tức là nghìn vị Phật quá khứ. Nghìn người thứ hai, từ Phật Câu-lâu-tôn đến Đức Phật cuối cùng là Phật Lâu-chí thành Phật ở Hiền kiếp. Một nghìn người thứ ba, từ Phật Nhật Quang đến Đức Phật sau cùng là Phật Tu Di Tướng thành Phật ở kiếp Tinh Tú. Chư Phật hiện tại trong mười phương như Phật Thiện Đức v.v...cũng được nghe danh hiệu năm mươi ba vị Phật này, nên các vị ấy đều thành Phật ở trong mười phương thế giới. Nếu có thiện nam tín nữ nào và những chúng sinh khác được nghe danh hiệu của năm mươi ba vị Phật này, thì trăm nghìn vạn ức a-tăng-kì kiếp, chúng sinh ấy không đọa vào đường ác. Lại người nào thường nghe danh hiệu năm mươi ba vị Phật này, đời đời sinh ra nơi nào cùng được gặp chư Phật trong mười phương. Nếu người nào tha thiết kính lễ năm mươi ba vị Phật này, ngoại trừ bốn tội nặng, năm tội nghịch và tội hủy báng kinh điển Phương đẳng, còn tất cả tội khác đều trừ sạch. Vì đây là bản nguyện của chư Phật, trừ diệt được các tội ấy trong từng niệm”.
Kinh Quyết định tì-nighi: “Nếu tha thiết kính lễ ba mươi lăm vị Phật, thì công đức của người này vô lượng, vô biên”.
Kinh Phật danh ghi: “Nếu thiện nam, tín nữ nghe danh hiệu hai mươi lăm vị Phật này, thành tâm thụ trì, đọc tụng, cung kính, lễ bái thì không đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, trừ được sân hận, ngu si, diệt được trăm kiếp tội nặng, thường sinh vào cõi Phật thanh tịnh ở mười phương. Giả sử có người dùng bảy báu đầy
Phần 2

khắptrong ba nghìn đại thiên thế giới, trong một trăm năm thường đem bố thí, cũng không bằng công đức của người tụng trì, lễ bái danh hiệu hai mươi lăm vị Phật, nghìn phân không bằng một phân, cho đến tính đếm, thí dụ cũng không thể biết. Vì sao? Vì thiện căn của chúng sinh cạn mỏng, nên không nghe được những danh hiệu Phật này. Nếu thiện nam, tín nữ nào được nghe danh hiệu hai mươi lăm vị Phật này, nên biết người ấy chẳng phải gieo trồng các căn lành ở một Đức Phật hay mười Đức Phật, mà đã gieo trồng căn lành ở trăm nghìn vạn Đức Phật. Người ấy cũng thành Phật nhanh hơn bốn mươi tám kiếp. Nếu có người không tin công đức nghe danh hiệu của hai mươi lăm Đức Phật, thì người ấy sẽ đọa A-tì địa ngục một trăm kiếp.
Này Xá-lợi-phất! Nếu có tì-kheo, tì-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di muốn sám hối tội lỗi, nên tắm gội sạch sẽ, đắp y sạch mới, quét dọn nhà cửa, bày tòa cao đẹp, an trí tượng Phật, treo hai mươi lăm tấm phan, cúng dường hoa hương, đọc tụng danh hiệu hai mươi lăm vị Phật này, ngày đêm sáu thời sám hối đủ hai mươi lăm ngày, sẽ diệt được bốn tội nặng hay tám tội nặng. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di ni cũng thực hành như thế”.
Kinh Văn-thù vấn có bài kệ tán thán Phật:
Con lạy hết thảy Phật
Bậc Điều Ngự vô thượng
Sắc thân và pháp thân
Con cũng lễ tháp Phật
Nơi sinh, nơi thành đạo
Nơi thuyết pháp, niết-bàn
Nơi đi, đứng, nằm, ngồi
Con kính lễ hết thảy.
Chư Phật khó nghĩ bàn
Diệu pháp cũng như thế
Người tin và quả báo
Cũng không thể nghĩ bàn.
Người tụng bài kệ này
Để tán thản Như Lai
Trong trăm nghìn ức kiếp
Không đọa các đường ác.
Kinh Bồ-tảt bản hạnh ghi: “Giả sử giáo hóa nhiều người thành bích-chi phật, lại có người một trăm năm cúng dường tứ sự cho các bích-chi phật ấy, công đức của người này rất nhiều, nhưng không bằng người với tâm vui mừng nói bài kệ bốn câu ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai”
Kinh Thiện Sinh ghi: “Phúc đem của cải trong bốn thiên hạ cúng dường Như Lai, bằng phúc đem tâm kính trọng ca ngợi Như Lai”.
Kinh Đại Bi ghi: “Nhờ thiện căn một lần xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật’ mà thâm nhập cảnh giới niết-bàn, không thể cùng tận”.
* Lời bàn
Đã biết kinh dạy công đức lễ Phật không thể nghĩ bàn, thì hành giả luôn nên cung kính lễ bái, chớ buông lung. Vì sợ vô thường đến bất chợt thì không còn cơ hội để chiêm ngưỡng lễ bái, ví như chuột đã vào đường cùng, thì chẳng có lối ra. Cho nên trong kinh, đức Thế Tôn nói kệ:
Mạng như đèn trước gió
Không biết lúc nào tắt
Ngày nay đến ngày mai
Bỗng nhiên chết dễ dàng
Mờ mịt đi theo nghiệp
Không biết sinh đường nào.
Kinh Thượng sinh ghi: “Nếu người kính lễ Đức Phật Di-lặc, sẽ trừ được trăm ức tội sinh tử, cho đến đời sau được thấy Phật ở cõi Long Hoa”. Kinh lại ghi: “Sau khi Ta diệt độ, bốn chúng, tám bộ nghe danh hiệu Ta rồi chí thành lễ bái thì sau khi mạng chung sinh về cõi trời Đâu-suất. Nếu người phạm các giới cấm và tạo những nghiệp ác, nghe danh hiệu đại bi của bồ-tát mà cung kính lễ bái, thành tâm sám hối thì tất cả nghiệp ác liền tiêu sạch. Nếu ai quy y bồ-tát Di-lặc, thì người này được bất thoái chuyển. Khi bồ-tát thành Phật, người ấy thấy hào quang của Phật, liên được thụ kí”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Lễ Phật có năm công đức:
1. Đoan chính, do thấy tướng hảo của Phật sinh tâm tôn kính.
2. Được tiếng vang, do khi thấy Phật, ba lần xưng niệm “nam-mô Như Lai Chí Chân Đẳng Chính Giác”.
3. Giàu có, vì tùy sức cúng dường đầy đủ hoa, hương và đèn.
4. Sinh vào nhà tôn quý, do khi thấy Phật, tâm không nhiễm trước, lại quỳ gối bên hữu sát đất, chắp tay lễ bái.
5. Sau khi chết sinh lên cõi trời, do công đức niệm Phật”.
Kinh Kim cương tam-muội ghi: “Nếu có người vừa nghe trí tuệ thù thắng của Phật, lắng lòng tùy hỉ, không khởi tâm phỉ báng, thì trăm nghìn kiếp không đọa vào đường ác, sinh ra gặp Phật; cho đến niệm pháp thân Phật cũng được vô biên công đức”.
Kinh Phổ Hiền ghi: Nếu có người ngày đêm lễ bái Phật mười phương, tụng kinh Đại thừa, quán xét ‘Đệ nhất nghĩa không’ sâu xa vi diệu, thì trong khoảnh khắc trừ diệt trăm vạn ức na-do-tha hằng hà sa kiếp tội sinh tử. Người tu tập pháp này đúng là Phật tử, từ Phật sinh, được các Đức Phật và bồ-tát trong mười phương làm hòa thượng. Người này đầy đủ giới Bồ-tát, không cần yết-ma mà tự nhiên thành tựu, xứng đáng được tất cả trời người cúng dường”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Nếu người ở trong Phật pháp cúng dường một cây nhang, một ngọn đèn, cho đến dâng một cành hoa, thì sẽ đươc sinh vào nước Bất Động. Người khéo giữ vật của Phật và tăng, quét đất của Phật và tăng, xem tượng tháp như ngón tay cái, thường sinh tâm vui mừng, cũng được sinh vào nước Bất Động. Cõi nước ấy trang nghiêm thanh tịnh, không bị nạn tam tai”.

Phần 3

9.3. KÍNH LỄ HẾT THẢY
Kính nghĩ: Pháp thân vô tướng, ứng hiện khắp mười phương. Mười phương là bốn phương chính,bốn phương phụ và hai phương trên dưới. Nhà Nho chỉ căn cứ vào châu này, cho rằng ngoài châu này còn có châu khác thì xưa nay chưa từng nghe nói. Nếu căn cứ vào nội điển thì thế gian này bao la không bờ mé, ngang thì xuyên suốt mười phương, rộng thì trải khắp các cõi. Nay Phật giáo nói cõi Ta-bà gồm trăm ức mặt trời, mặt trăng, bốn lớp Vi Luân hình thành một đại thiên thế giới, là một cõi Phật. Đây là căn cứ vào thế giới do Hóa Phật Thích-ca Như Lai làm giáo chủ.
Kinh Hoa nghiêm nói: “Cõi nước do báo thân Lô-xá-na Như Lai làm giáo chủ còn lớn hơn số này, cùng tận mười phương thế giới, hàng phàm phu chẳng thể suy lường”.
Kinh Phạm võng nói kệ:
Nay Ta, Lô-xá-na
Ngồi nơi tòa liên hoa
Trên nghìn cánh vây quanh
Lại hiện nghìn Thích-ca
Một hoa trăm ức cõi
Mỗi cõi một Thích-ca
Đều ngồi cội bồ-đề
Cùng lúc thành Phật đạo
Kinh ghi: Nghìn hoa, nghìn Đức Phật tức là nói một cánh hoa tượng trưng cho một hoa, nên một hoa có nghìn cánh thì có nghìn Phật xuất hiện.
Kinh Phổ Hiền quán ghi: “Quốc độ mà Phật Tì-lô-giá-na làm giáo chủ là khắp tất cả mọi nơi. Trụ xứ của Đức Phật ấy gọi là Thường Tịch Quang”. Căn cứ theo đây để nói trụ mà vô trụ. Vì dẫn dắt phàm tâm khiến họ quy ngưỡng nên nói trụ, nhưng luận về lí tột cùng thì đâu có trụ xứ. Như vậy, các Đức Phật trong vô lượng thế giới ở mười phươmg lúc nào cũng giáo hóa chúng sinh. Quá khứ, hiện tại, vị lai là căn cứ vào sự sinh diệt thế gian, căn cứ vào sự giáo hóa mà nói. Nếu y vào Thật giáo, thì sự giáo hóa của bậc thánh thường hằng và cùng khắp, công đức bao trùm pháp giới, đâu hạn cuộc trong một cõi? Vì thế không thể dùng giới hạn ba đời để luận bàn. Nay y cứ vào một đời Đức Phật Thích-ca thị hiện hóa độ mà phương tiện nói tám tướng thành đạo, như thụ thai... để dẫn dắt những chúng sinh căn cơ cạn mỏng, dần dần thông suốt đại giáo. Cho dù cha mẹ, thân tộc, các bậc tôn quí vẫn phải kính lễ Như Lai, huống là hạng phàm phu hạ liệt mà không cung kính sao?
Kinh Phật thuyết thập nhị Phật danh thần chủ trừ chướng diệt tội ghi: “Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo bồ-tát Di Lặc:
- Về phương đông cách đây mười bất khả thuyết Phật sát ức trăm nghìn vi trân cõi có quốc độ Giải Thoát Chủ. Cõi ấy có Đức Phật Hư Không Công Đức Thanh Tịnh Vi Trần Đẳng Mục Đoan Chính Công Đức Tướng Quang Minh Hoa Ba-đầu-ma Lưu LiQuang Bảo Thể Hương Tối Thượng Hương Cúng Dường Ngật Chủng Chủng Trang Nghiêm Đỉnh Kế Vô Lượng Vô Biên Nhật Nguyệt Quang Minh Nguyện Lực Trang Nghiêm Biến Hóa Trang Nghiêm Pháp Giới Xuất Sinh Vô Chướng Ngại Vương Như Lai. Nếu có ai phạm bốn tội nặng năm tội nghịch, phỉ báng Tam bảo, phạm bốn Ba-la-di thì phải chịu tội trải qua số kiếp bằng số hạt bụi do cõi Diêm-phù-đề nghiền nát mà thành. Nhưng nếu người ấy niệm danh hiệu Đức Phật này, hoặc lễ bái thì hết thảy tội đều tiêu trừ. Huống gì người ngày đêm thụ trì, đọc tụng, nghĩ nhớ không quên! Công đức của người này không thê nghĩ bàn.
Thế giới của Đức Phật này có bồ-tát Vô Tỉ Vô Chướng Ngại Vương. Như Lai thụ kí cho bồ-tát thành Phật hiệu là Hào Tướng Nhật Nguyệt Quang Minh Diêm Bảo Liên Hoa Kiên Như Kim Cang Thân Như Tì-lô-giá-na Vô Chướng Ngại Nhãn Viên Mãn Thập Phương Phóng Quang Chiếu Nhất Thiết Phật Sát Tướng Vương Như Lai.
Phương đông của nước ấy lại có Phật Nhất Thiết Trang Nghiêm Vô Cấu Quang.
Phương nam có Phật Biện Tài Anh Lạc Tư Niệm.
Phương tây có Phật Vô cấu Nguyệt Tướng Vương Danh Xưng.
Phương bắc có Phật Hoa Trang Nghiêm Tác Quang Minh.
Phương đông nam có Phật Tác Đăng Minh.
Phương tây nam có Phật Bảo Thượng Tướng Danh Xưng.
Phương tây bắc có Phật Vô úy Quang.
Phương đông bắc có Phật Vô úy Vô Khiếp Mao Khổng Bất Thụ Danh Xưng.
Phương dưới có Phật Sư Tử Phấn Tấn Căn.
Phương trên có Phật Kim Quang Uy Vương Tương Tự.
Bấy giờ, Đức Phật bảo bồ-tát Di Lặc:
- Nếu có thiện nam tín nữ nào niệm danh hiệu mười hai vị Phật này, suốt mười ngày sám hối tất cả các tội, lại tùy hỉ với những công đức của tất cả chúng sinh, khuyến thỉnh tất cả chư Phật trụ đời lâu dài, rồi đem các căn lành này hồi hướng cho chúng sinh trong pháp giới thì người ấy diệt được tất cả các tội, hết thảy nghiệp chướng đều được thanh tịnh, thành tựu trọn vẹn việc trang nghiêm tất cả cõi Phật, đầy đủ sự vô úy, đầy đủ thân tướng, đầy đủ các bồ-tát quyến thuộc vây quanh, trọn vẹn vô lượng tam-muội, đầy đủ các vật như ý trang nghiêm cõi Phật, tu hạnh Bồ-tát được quả báo đoan chính, đáng ưa.
Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Nếu có những thiện nam
Hoặc là hàng thiện nữ
Trì danh hiệu Phật ấy
Đời đời khi sinh ra
Được mọi người kính mến
Ánh sáng, uy lực lớn
Tôn quý trong loài người
về sau được thành Phật

Phần 4

Kinh Thi-ca-la-việt lục hướng bái ghi: “Khi Phật tại thế, hằng ngày trưởng giả Thi-la-việt dậy sớm, rửa mặt, thay y phục, lạy khắp sáu phương, mỗi phương bốn lạy. Một hôm, Phật vào thành Vương Xá, trưởng giả đã thấy Ngài từ xa. Khi đến nhà, Phật hỏi:
- Tại sao ông lạy sáu phương, đây là pháp gì? Trưởng giả đáp:
- Bạch Đức Thế Tôn! Khi còn sống, cha con bảo làm như thế, không biết là pháp gì?
Phật dạy:
- Điều cha ông dạy, không phải dùng thân để lễ bái.
Trưởng giả liền quì thưa:
- Xin đức Thế Tôn giải thích cho con ý nghĩa lạy sáu phương.
Đức Phật dạy:
- Ngươi hãy láng nghe! Nếu trưởng giả thông tuệ, thường giữ bốn giới, đời này được mọi ngườicung kính, đời sau sinh lên cõi trời. Bốn giới là không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và nói hai lưỡi. Đồng thời chế ngự tâm tham sân si. Người không thể chế ngự được bốn giới này thi tiếng xấu ngày càng lớn, giống như cuối tháng ánh trăng mờ tối. Người chế ngự được tâm ác, như trăng đầu tháng, ánh sáng yếu, nhưng dần đến ngày rằm thì ánh trăng tròn đầy.
Ngài lại nói:
- Lạy phương đông, biểu thị con phụng thờ cha mẹ, phải đủ năm điều:
1. Nghĩ đến việc quản lí phát triển gia nghiệp.
2. Thức dậy sớm sai kẻ hầu lo cơm nước.
3. Không làm cha mẹ buồn phiền.
4. Nhớ ân sâu nặng của cha mẹ.
5. Khi cha mẹ đau ốm nên lo lắng tìm thầy chữa trị.
Cha mẹ đối với con cũng có năm điều:

1. Dạy con bỏ ác làm lành.
2. Dạy con tính toán sổ sách.
3. Dạy con trì kinh, giữ giới.
4. Cưới vợ cho con.
5. Giao tàỉ sản cho con.
Lạy phương nam, biểu thị đệ tử phụng sự sư trưởng phải đủ năm điều:
1. Cung kính thưa hỏi.
2. Nhớ ân nặng của sư trưởng.
3. Vâng lời sư trưởng dạy.
4. Luôn nhớ đến lời dạy ấy.
5. Theo sau thầy và ca ngợi thầy.
Thầy dạy đệ tử cũng có năm điều:
1. Dạy cho đệ tử mau thông hiểu, ghi nhớ không quên.
2. Muốn vượt hơn đệ tử của người khác.
3. Dạy đệ tử những điều đã biết không để quên.
4. Giải đáp hết những nghi ngờ cho đệ tử.
5. Mong đệ tử có trí tuệ hơn thầy.
Lạy phương tây, biểu thị vợ phụng sự chồng phải đủ năm điều:
1. Chồng đi xa về phải đứng dậy nghinh đón.
2. Khi chồng vắng nhà, phải nấu cơm, quét dọn sạch sẽ, đợi chồng về.
3. Không được sinh tâm dâm loạn, khi chồng la rầy không được nói lại hay biểu hiện thái độ bất bình.
4. Làm theo lời chồng răn nhắc, có vật gì không được giấu kín.
5. Chồng ngủ nên đắp chăn cho chồng, rồi mới nằm.
Chồng đối với vợ cũng có năm điều:
1. Ra vào đều phải tôn trọng vợ.
2. Tùy thời cung cấp y phục thức ăn.
3. Cung cấp cho vợ vàng bạc và đồ trang sức khác.
4. Của cải trong nhà đều giao phó cho vợ.
5. Không được ngoại tình, nuôi hầu thiếp bên ngoài.
Lễ phương bắc, biểu thị cho việc cư xử với bà con và bạn bè phải có năm điều:
1. Thấy họ làm ác, liền đưa đến chỗ vắng can ngăn khuyên bảo.
2. Họ có việc gấp, nên đến nhanh giúp đỡ.
3. Nếu có việc riêng tư gửi gắm, không được nói với người khác biết.
4. Kính trọng lẫn nhau.
5. Có vật quý nên phân chia.
Lễ phương dưới, biểu thị chủ đối đãi với người giúp việc phải có năm điều:
1. Phải đúng thời cung cấp y phục và thức ăn.
2. Khi họ bệnh, phải mời thầy thuốc chữa trị.
3. Không được vô cớ đánh họ.
4. Họ có của cải riêng, không được đoạt lấy.
5. Phân phát tài vật cho họ phải công bằng. Người hầu thờ chủ cũng phải có năm việc:
1. Thức dậy sớm, chớ để chủ gọi.
2. Phải chuyên tâm làm việc.

Phần 5

3. Nên quí tiếc đồ vật của chủ, không được vất bỏ hoặc cho người khác.
4. Khi chủ đi xa hay lúc trở về đều phải nghinh đón.
5. Nên ca ngợi điều tốt, không được rêu rao điều xấu của chủ.
Lạy phương trên, biểu thị người phụng sự sa-môn phải đủ năm việc:
1. Hướng đến vị sa-môn với lòng lành.
2. Chọn lời hay để đàm luận.
3. Thân phải phụng sự cung kính .
4. Mến mộ sa-môn.
5. Nếu gặp sa-môn kiệt xuất, nên cung kính phụng sự, hỏi pháp xuất thế.
Sa-môn đối đãi với mọi người cũng có sáu việc:
1. Dạy người bố thí, không được tham tiếc.
2. Dạy người trì giới, không được phạm giới.
3. Dạy người nhẫn nhục, không được sân nhuế.
4. Dạy người tinh tiến, không được giải đãi.
5. Dạy người nhất tâm, không được vọng tưởng.
6. Dạy người sáng suốt, không nên ngu si.
Thực hành như thế, chính là điều cha ông khi còn sống dạy lạy sáu phương. Được như vậy thì lo gì không giàu sang. Trưởng giả Ca-la-việt nghe xong, xin lãnh thụ năm giới, lễ Phật rồi lui ra”.
9.4. TÊN GỌI
Đạo và tục trái nhau, danh với thật đối lập. Người đạt được chi thú này là thể hội lí sâu mầu. Vì sao? Như ở thế gian, không cho gọi tên của ông nội, nhưng trong Phật pháp thì được xưng niệm danh hiệu chư Phật. Người nào tán thán, lễ bái đều được vồ lượng phúc. Bởi vì chư Phật Như Lai thương xót chúng sinh vô hạn, thị hiện ở đời chỉ vì mục đích cứu độ họ. Người nào có tâm khát ngưỡng mong cầu thì đều được lợi ích. Miệng xưng tán, tâm tưởng nhớ, thân lễ bái, ba nghiệp cung kính thì ba độc lắng trong, dần dần nhổ cội gốc các hữu, thoát sự trói buộc của ba cõi. Vì có công năng lớn như thế nên gọi là được phúc.
Người thế tục thường trái với điều trên, lại chỉ tránh tên húy một đời, còn tổ tiên xa xưa và cháu chắt đời sau thì biết đâu mà tránh! Với minh chứng này, Nho gia nên suy xét. Nay y theo danh hiệu các Đức Phật trong luận để giải thích và loại suy. Vì mỗi Phậthiệu có một năng lực thù thắng riêng. Nay nói sơ lược để định nghĩa chung cho các danh hiệu Phật khác. Như Ấn Độ gọi là Thích-ca, Trung Hoa dịch là Năng Nhân, lẽ nào có một Đức Phật chẳng phải là Năng Nhân?
Lại như Ân Độ gọi là A-di-đà, Trung Hoa dịch là Vô Lượng Thọ, lẽ nào có một Đức Phật chẳng trường thọ? Như phương đông có Phật Thiện Đức, cho đến phương dưới có Phật Quảng Chúng Đức, há có một Đức Phật chẳng phải là Thiện Đức, Quảng Chúng Đức? Vì thế, danh hiệu Phật thì có thể giống hoặc khác, nhưng công năng, lực dụng thì giống nhau. Nếu ai một lòng nhớ nghĩ danh hiệu Phật, mắt chiêm ngưỡng kim dung Đức Phật, thành tâm kính lễ thì được vô lượng phúc.
Luận Thập trụ Tì-bà-sa có bài kệ tán thán Phật:
Nếu có người được nghe
Danh hiệu của chư Phật
Liền được vô lượng phúc
Như nói với Bảo Nguyệt
Con kính lễ chư Phật
Hiện tại ở mười phương
Có người xưng danh hiệu
Liền được bất thoái chuyển.
* Lời bàn
Nhất thiết cung kính: nhất là đến khắp; thiết là cùng tận; cung là thân nghiêm túc, chiêm ngưỡng; kính là tâm không nghĩ gì khác. Nếu không xướng niệm danh hiệu Đức Phật, sợ rằng tâm tán loạn, nếu luôn dốc lòng cung kính thì chính quán hiện tiền.
Kính lễ thường trụ Tam bảo: như kinh Niết-Bàn ghi: “Nếu có người nghe hai chữ thường trụ, thì người này đời đời không đọa đường ác”. Vì pháp thân tịch lặng bất biến nên gọi là thường; báo thân tiếp nối không ngừng nên gọi là thường; hóa thân tác dụng không dứt nên gọi là bất biến. Vả lại, Phật thể chỉ một, nhưng tùy nghĩa mà nói có ba, nên Đức Phật Thích-ca nói: “Thân của ta đây chính là pháp thân”. Tức do pháp thân giữ gìn. Như các linh tượng bằng đất, nếu thành tâm kính lễ thì được phúc vô lượng. Nếu khinh thường, hủy báng thì tai ương khônglường.
Sau khi xướng niệm và kính lễ thì dâng cúng hương hoa, vận tâm rộng lớn thực hiện các Phật sự. Dù có Phật hay không có Phật, thường dâng hoa hương, y phục, thức uống ăn, âm nhạc v.v... cùng chúng sinh khởi tâm bình đẳng cúng dường không dừng nghỉ.
Vì thế, kinh Hoa nghiêm ghi: “Như các bồ-tát cúng dường là tùy tâm hiện tướng, như thấy núi lớn mây lớn, sông lớn, lửa lớn liền cho là núi hương, mây thơm, nước tám công đức, bảy hoa tịnh diệu, khởi tâm tác ý thì tất cả đều thành vật cúng dường. Cho đến vườn hoa, cây trái, đều như thế mà cúng dường”.
Lễ Phật là lễ bất cứ Đức Phật nào, hoặc chư Phật mười phương, hoặc lễ hai mươi lăm vị Phật, hoặc lễ ba mươi lăm vị Phật, năm mươi ba vị Phật, nghìn Phật kiếp Hiền, một vạn năm trăm nghìn Phật.
Ý nghĩa xưng danh thì như trước đã nêu đầy đủ.
Sám hối: đó là sám hối tất cả những tội hoặc nhẹ, hoặc nặng, tự làm hay bảo người làm, hoặc thấy người làm mà vui theo, mỗi mỗi đều phải vạch trân. Ăn năn những lỗi đã phạm, trong lòng hổ thẹn, buồn bã, nước mắt tuôn trào. Nếu không được bậc Đại thánh chỉ bày pháp sám thì nhất định mang tội lớn mà chết, vĩnh viễn chịu khổ đau. Phương pháp thực hành, sẽ trình bày đầy đủ trong thiên Sám hối.
Khuyến thỉnh: Chư Phật quán sát chúng sinh không phân biệt lớn nhỏ. Hành giả chí thành cầu nguyện các Ngài không xả thân, mà trụ nhiều kiếp độ thoát chúng sinh.
Tùy hỷ: Khi thấy người khác làm phúc, lòng vui mừng.

Phần 6

Hồi hướng: Xoay các phúc đức hướng về đạo vô thượng.
Phát nguyện: Nguyện là động lực dẫn dắt, hạnh là hành động thực hiện. Nếu có nguyện mà không có hạnh thì thành nguyện suông. Nếu có hạnh mà không có nguyện thì hạnh đơn độc. Do có hạnh nên nguyện không luống suông, hạnh nguyện giúp nhau mới thành tựu thật quả. Thế nên trong sám hối cũng bao hàm cả nguyện. Nguyện đời này trở về sau không rơi vào ác đạo. Đây là trình bày chung, khi gặp việc thì căn cứ theo qui tắc này mà thực hành.
9.5. HỘI THÔNG
*Lời bàn
Ở đây nói về oai dung tướng trạng, tuy có trung quốc, biên địa, thời gian và phong tục phép tắc khác nhau, tùy theo mỗi nước áp dụng, nhưng đều lấy sự cung kính làm gốc. Điều đó, nếu là kẻ sơ tâm chẳng học thì không hiểu, nên phải phân tích kĩ để họ hiểu được những điều chưa nghe, còn những bậc hạnh đức thuần thục thì ở đây không dám đề cập đến.
Sự cung kính ở Tây Trúc chẳng đồng với Trung Hoa. Tây Trúc lạy ít mà đi nhiều lại nhiều, cho việc hở vai, lộ chân là cung kính. Trung Hoa lấy việc ăn mặc tề chỉnh gọi là cung kính. Cách thức biểu lộ thành
kính, ở đạo và tục khác nhau, tùy theo địa phương mà sai biệt.
Vả lại, phải biết thể hiện oai nghi trong lúc cấp thiêt và hòa hoãn. Nếu thong dong lễ lạy thì ba nghiệp phải cẩn trọng. Nếu thời gian cấp bách thì phải biết loại bỏ các nghi thức. Đó là hành tàng hợp đạo, cơ trí nhanh nhạy, nhưng cũng đủ tỏ lòng cung kính trung thực, đây kia hiểu ý.
Kinh Xuất diệu ghi: “Có oai nghi của người cư sĩ, có oai nghi của người xuất gia, có oai nghi của Đại thừa, có oai nghi của Tiểu thừa. Thiện hạnh này là nền tảng để đến đạo, nên được sinh cõi thiện”. Từ các đoạn văn trên chứng minh mà biết rằng giữ gìn oai nghi là bước đầu nhập đạo, không thê bỏ qua. Thế nên tôi dẫn lời này để chỉ bày cho người sau.
Như ở thế gian, bộ Chu lễ nêu chín loại lễ bái, xuất phát từ quan Thái Chúc. Tuy đây chẳng phải là nội giáo, nhưng lễ cốt ở chỗ thuận tục, nên cần phải nêu lên.
Thứ nhất ‘Khể thủ bái’: cách các quan bái vua. ‘Khể’ tức là ‘kê’, là cúi đầu sát đất, dừng trong giây lát.
Thứ hai ‘Đốn thủ bái’: dùng cho người ngang hàng như các chư hầu bái nhau, là cúi thấp đầu mà không chạm đất.
Thứ ba ‘Không thủ bái’, còn gọi là ‘bái thủ’, cách lễ bái của quân vương đáp lễ hạ thần. Nghĩa là cúi đầu chạm tay.
Thứ tư ‘Chấn động bái’: là cách lễ bái biểu hiện sự kính trọng đến độ toàn thân rúng động run sợ.
Thứ năm ‘Cát bái’: nghĩa là trước bái, sau đó quì gối cúi đầu để trán chạm đất, giống như cách lạy lúc tang cha mẹ, nhưng không dùng gậy. Cát bái chính là hung bái của nhà Ân. Nhà Chu cho cách này cho là ‘cát bái’ bởi gần giống với ‘đốn thủ bái’.
Thứ sáu ‘Hung bái’: Cách lễ này dùng trong ba năm chịu tang, tức trước tiên trán chạm đất, sau đó thực hành đốn thủ bái.
Thứ bảy ‘Kì bái’: Nay gọi là Nhã bái tức quì một chân, giông như thời này bái vong linh. Có thuyết nói rằng ‘Kì bái’ là chỉ bái một bái, dùng để đáp lại cấp dưới.
Thứ tám: ‘Bao bái’: Bao nghĩa là báo. Báo bái tức là lạy hai lần. Có thuyết nói Bao bái như bái giữ lễ ngày nay. Nghĩa là dùng để bái thần hay người đã mất.
Thứ chín: ‘Túc bái’: nghĩa là chỉ hạ bàn tay, như chắp tay vái chào thời này, cũng chỉ cho lối bái của phụ nữ. Túc bái thực hiện một lần hoặc đến ba lần.
Không thủ và kì bái thì chỉ một lần, còn các loại bái khác thì thực hiện hai lần.
Ở trên là ghi lại chính văn của cách lễ thế tục. Trịnh Huyền (tự Khang Thành) đã y vào từng loại mà giải thích như thế. Nay y cứ vào Phật pháp lấy lễ kính làm đầu, đại khái có hai loại là thân lễ và tâm lễ. Phật pháp lấy tâm làm gốc, thân là ngọn, cho nên tôn giả Tu-bồ-đề ở trong thất tư duy đã đến chỗ Phật hay chưa, thì được Như Lai tán thán là đang lễ pháp thân Phật. Tì-kheo-ni Liên Hoa sắc đích thân đến bảo tòa, Như Lai chê là lễ bái hóa thân.
Nên biết dù ở nơi vắng lặng tư duy thì niệm niệm cũng hợp đạo. Dù thấy hình giáp mặt nhưng tâm luôn luôn hướng nơi tục, thì cách xa đạo. Năng sở chưa dứt, tưởng và kiến đồng sinh, ngã điên đảo hiện tiền tức là chướng đạo. Cho nên, căn cứ vào đó mà Phật phân ra thân lễ và tâm lễ. Nếu có thể ngay nơi sắc mà duyên không, quán cảnh do tâm tạo, thì biết tất cả tập khởi đều là pháp nhiễm tịnh. Biết rõ vọng niệm chưa thể lắng trong, nhưng khi vọng tưởng điên đảo đã không, thì duyên niệm ngay đó bặt dứt. Nay ở phàm vị mà gắng sức chế ngự, được như thế thì niệm niệm tự nhiên dần thanh tịnh. Nên luôn khởi hai pháp quán, không nên thực hành đơn lẻ. Nghĩa là biết trần không phải thật cảnh thì dần lìa tục, biết thức chẳng phải là thật tâm thì dần hướng đến chân tâm. Như thế tinhtiến tu tập, lâu ngày không gián đoạn, tâm đần dần sáng tỏ, trải qua ba kì kiếp sẽ thành tựu.
Kinh Đại bi ghi: “Phật bảo A-nan:
- Nam-mô Phật, đó là tiếng xác định danh hiệu chư Phật Thế Tôn. Vì thế nên niệm nam-mô Phật.
Quá khứ có một vị chủ buôn, dẫn các khách buôn vượt biển thì bị cá ma-kiệt nuốt thuyền. Nhờ ba lần xưng niệm ‘nam-mô Phật’ mà họ thoát nạn. Cá nghe danh hiệu Phật liền khởi tâm lành, nên sau khi mạng chung được sinh làm người rồi xuất gia và đắc đạo. Huống gì người được nghe danh hiệu Phật, được nghe chính pháp, lại còn đích thân trồng các căn lành nơi Đức Phật mà không được lợi ích sao?”.
Luật Thập tụng ghi: “Phật bảo Ưu-ba-li xưng ‘hòa-nam’ đó là miệng nói, nếu cúi mình gọi là tâm tịnh. Tì-kheo hành lễ, nên từ tòa đứng dậy, lộ vai bên mặt, cởi giày, gối phải quì xuống đất, hai tay chạm chân của bậc thượng tọa mà lễ”.
* Lời bàn
‘Hòa-nam’ là tiếng Phạn, nếu gọi là na-mô hay bà-nam thì đều không chính xác. Chính âm nên đọc là ‘bàn-đàm’, Trung Quốc dịch là ‘ngã lễ’, hay ‘qui lễ’. Qui là thật tâm của ngã, lễ là tôn chỉ của kỉnh. Hoặc nói qui mạng là để thay thế từ nam-mô. Lý sự phù hợp, bày tỏ trọn vẹn tâm thành kính. Người đời trọng ‘nam-mô’ mà khinh ‘kính lễ’ là do không hiểu rõ sựchuyển dịch từ ngữ Phạn-Hán. Huống gì không hề biết ý nghĩa của từ ‘hòa-nam chư Phật’ thì càng xót thương, đáng bị chê cười.

Phần 7

Lại nữa, từ nam-mô, luận Thiện Kiến dịch là ‘qui mệnh giác’ cũng gọi là ‘lễ đại thọ’. Hòa-nam, trong bộ Thiêt yêu luật nghi dịch là ‘cung kính’, luận Thiện
Kiên dịch là ‘độ ngã’. Căn cứ vào đây mà nói thì nghĩa của từ ‘cung kính’, ‘độ ngã’ dùng chung cho cả phàm thánh, đâu phải hòa-nam chỉ thiên về kính lễ tôn sư? Đó cũng là từ mà biểu thị các bậc thánh nghĩ đến việc cứu độ chúng sinh. Kinh còn nói, khi đi đến chỗ Phật, nên niệm nam-mô Vô Sở Trước, Chí Chân, Đẳng Chính Giác. Đó gọi là khẩu nghiệp ca ngợi công đức của Như Lai.
9.6. TRẢI TÒA
* Lời bàn
Kính tìm kinh luật không có nơi nào nói về việc trải tọa cụ, chỉ nói về việc cởi giày và lễ lạy. Nay căn cứ vào việc sinh hoạt hằng ngày nên cần phải bàn về tọa cụ.
Luật Tứ phần ghi: “Tọa cụ là vật bảo vệ thân, bảo vệ y và mền chiếu của tăng, nên cho phép chứa”.
Đã là vật bảo vệ thân, vậy thì phải biết cách trải. Lại công dụng của tọa cụ vốn để lót lúc ngồi, vì thế trong lúc lễ bái không dùng đến. Khi Như Lai định ngồỉ thì tự tay trải tọa cụ. Căn cứ nào đây thì tì-kheo phải tự mình trải ngồi, không được để người khác trải chomình. Nay thấy chư tăng Tây Trúc đến lễ Phật thì vén quần, đầu gối chống đất, quì xuống, miệng đọc kệ tán thán, sau đó mới đỉnh lễ. Cách thức ấy được truyền lại đến nay.
Sự cung kính có thể y cứ vào đó. Thời nay, tăng ni đến trước Phật, đều sai thị giả trải tọa cụ, đó là tăng thêm tâm kiêu mạn, chưa phải là cung kính tột bực. Lại khi đã đến trước Phật còn đứng chờ thị giả trải chiếu rồi mới lễ lạy, như thế cũng không được. Lại ở trên sàng tòa mà lễ lạy, đó cũng là bất kính. Như thấy bậc tôn trưởng phải liền bái lạy, đâu được tìm chiếu trải? Như người thấy vua liền phải cung kính lễ bái, đâu được ngồi trên sàng tòa? Vua là phàm tôn mà còn không dám cao ngạo như thế, huống gì Pháp Vương là bậc đại thánh, thì càng không thể sánh? Tuy chỉ là việc kính lễ, nhưng cũng tỏ rõ tâm ngã mạn, biếng nhác. Thế nên kinh Tam thiên oai nghi ghi: “Không được ngồi trên tòa mà lễ Phật”.
9.7. PHÉP TẮC KÍNH LỄ
* Lòi bàn
Phần này có năm nghi thức:
9.7.1. Tháo giày: Đây là nghi thức tôn kính nhất. Như nghi lễ quần thần yết triều, lúc trăm quan ở sân điện thì chưa phải tháo giày, lúc lên điện thì giày dép, đao kiếm đều phải bỏ lại. Đây là phép tắc thời xưa, chứ chẳng phải lễ nghi mới có ngày nay. Khí hậu ở Thiên Trúc thường nóng ẩm, nên người ta thườngmang giày da. Nếu gặp bậc tôn kính thì tháo ra để lạy chào; còn các nước có khí hậu lạnh, tùy thời được mang. Nhưng lúc hành lễ, người xuất gia thường tháo giày để tỏ lòng tôn kính, còn hàng bạch y cho mang giày là biểu lộ lòng cung kính. Vào chùa không cần tháo giầy, nhưng nếu lên chính điện thì phải tháo.
9.7.2. Lộ vai phải: Luật ghi: “Để lộ vai phải, hoặc lộ một vai, hoặc lộ một cánh tay”. Lộ vai phải là biểu thị trong lúc học sẽ tiện cho việc chấp tác; như người đời mặc áo tay phải ngắn là để tiện làm việc.
Nay sa-môn để lộ một vai, nhưng bên trong có áo hậu, nên chẳng phải pháp lộ vai phải.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Ngoại đạo đen toàn thân, sa-môn chỉ đen vai phải, nên không giống nhau. Trong luật thì ba y đắp cả hai vai, như gặp trưởng lão liền trịch y bày vai. Thiết nghĩ đã dùng áo hậu che thân, còn gọi là bày vai, sao mà buồn cười thế? Nên biết để vai trần là phép kính bậc nhất. Song khi hành sự phải biết lúc nào cần để lộ vai. Như ở trước Phật và thầy tổ lễ lạy sám hối, để tỏ cung kính, đều phải hành theo pháp bày vai phải như trước đã nói. Nếu đến chừa khác hoặc đi trên đường thì phải dùng y che vai, không được lộ thân. Khí hậu ở Tây Trúc nóng ẩm, mọi người cùng thực hành pháp này không có gì lạ. Trung Quốc thời tiết lạnh, nếu hành pháp này thường bị người chê cười. Vì thế, luật Ngũ phần ghi: 'Tuy tanói như thế, nhưng ở những nơi không thanh tịnh, chẳng giữ phép này cũng không có tội”.
9.7.3. Cung kính: Luật ghi: “Nên nhất tâm chắp tay cúng dường Đức Phật Thích-ca”. Hoặc cho rằng người cung tay bạch Phật, cũng là chỉnh đốn dung nghi thể hiện lòng cung kính. Nhưng khó giữ được tâm an định, vì vậy đặt ra chắp tay để dễ được nhất tâm.
Người lễ Phật ngày nay, phần nhiều các ngón tay chụm mà lòng tay không khép, hoặc lòng tay khép mà ngón tay lại mở. Đó là do tâm xem thường và ý tán loạn vậy. Thà các ngón tay mở mà lòng tay khép, chứ không được để ngón tay khép mà lòng tay hở. vốn muốn đến cầu phúc, trái lại chuốc tội khinh mạn. Đã biết phép chắp tay nhất tâm thì nên năm vóc sát đất mà lạy. Luận Địa trì ghi: “Khi lạy năm vóc phải sát đất”.
- Kinh A-hàm ghi: “Hai khuỷu tay, hai đầu gối và đâu gọi là ngũ luân, luân là tướng viên mãn, năm chỗ tròn đầy, có thể khiến cho trên dưới xoay chuyển mà phúc sinh, nhiều lần xoay chuyển gọi là luân. Tăng Tây Trúc lễ bái thường co chân, đầu gối chấm đất, sau đỏ khuỷu tay chạm đất, ngửa hai bàn tay như đỡ chân. Nếu bậc tôn đức đang ngồi kết già, không ngồi duỗi chân thì tùy việc mà hành lễ, hai tay không cần phải chạm chân”.
Thấy người ngày nay lễ, hai tay áp xuống đất, hai chân đỡ phía sau và đầu không chạm đất, đây là khinh mạn thất lễ. Đã biết lễ nghi năm vóc sát đất, thì nên biết cách quỳ gối phải của người Ấn Độ. Trong các kinh thấy nói nhiều đến Hồ quỳ, đây là nghi thức tôn kính ở Thiên Trúc, không có gì lạ. Đó là cách gối phải, trái thay đổi nhau quỳ, cũng là cách thức khi có việc phụng thỉnh chư Phật và sám hối.
9.7.4. Cách lễ: Thanh luận ghi: “Bàn-na-mị, Trung Quốc dịch là lễ”.
Luận Trí độ ghi: “Có ba cách lễ:
- Miệng xưng ‘kính lễ’ là lễ bậc hạ.
- Quỳ gối, nhưng đầu không sát đất là lễ bậc trung.
- Đầu sát đất là lễ bậc thượng.
Bậc hạ là xá lạy, bậc trung là quỳ lạy, bậc thượng là cúi đầu lạy sát đất.
Có ba trường hợp bồ-tát lễ Phật:
- Sám hối.
- Tùy hỷ hồi hướng.
- Thỉnh Phật.
Hỏi: Lễ chi là thân nghiệp mà cũng gồm cả ba nghiệp ư?

Phần 8

Đáp: Lễ thông cả ba nghiệp: Năm vóc sát đất là để trừ nghiệp bất thiện của thân; xưng dương danh hiệu, tán thán công đức Phật là để trừ nghiệp bất thiệncủa miệng; tâm thường nhớ nghĩ đến Phật như gương soi trước mắt, là để trừ nghiệp bất thiện của ý.
Đối với Phật nhãn nên cần phải thân lễ, với thiên nhĩ cần phải miệng xướng, với tha tâm cần phải ý niệm. Nhờ khẩu nghiệp xướng tụng nên thành tựu văn tuệ, nhờ ý nghiệp nhớ nghĩ nên thành tựu tư tuệ, nhờ thân nghiệp lễ lạy nên thành tựu tu tuệ. Nhờ thân nghiệp lễ nên thành tựu giới học, nhờ ý nghiệp nhớ nghĩ nên thành tựu định học, nhờ khẩu nghiệp xướng tụng nên thành tựu tuệ học. Những điều nói ở trên là theo từng môn đắp đổi nhau để làm rõ nghĩa. Nếu nói chung thì tam học gồm thâu cả ba nghiệp.
9.7.5. Cách lễ đúng và sai: Pháp lễ này bắt nguồn từ đầu đời Tề. Tam tạng Lặc-na người Tây Trúc thấy tính tình phàm dân sống tại biên địa thô lỗ, không biết lễ nghi. Trong lòng trào dâng nỗi xót thương, ngài mới dịch bảy cách lễ. Văn nghĩa tuy rộng, nhưng cũng nêu ra những điều trọng yếu từ thô đến tế. Thô là sai, tế là đúng, nên có bảy bậc, nhưng cốt yếu là ba bậc sau.
9.7.5.I. Tâm ngã mạn lễ: Ỷ vào ngôi thứ mà tâm không cung kính, tự cho là đức hạnh cao quý, không ai có thể làm thầy mình, hỏi người dưới thì xấu hổ, nên không có nơi để thinh giảo. Không biết phép tắc nên dù có đỉnh lễ, nhưng tâm chạy theo ngoại cảnh, lên xuống như giã gạo, không lợi ích gì. Chỉ thân hình lễ bái, nhưng tâm không an trú thì đường đạo mongmanh, luống uổng một kiếp người, nhọc công vô ích. Bề ngoài trông như cung kính, nhưng bên trong lại tăng ngã mạn, giống như người gỗ không chút dụng tâm, năm chi chẳng đủ, ba nghiệp tán loạn.
9.7.5.2. Xướng hòa cầu danh lễ: Tuy chẳng cống cao ngã mạn, nhưng tâm không thanh tịnh, tạm có được oai nghi bên ngoài, nhưng thân tâm giả cung kính. Thấy người thì thân vội vàng hành lễ, người đi rồi thì thân lười tâm chán. Cách lễ này tợ như có chút kính thuận, nhưng phúc đó rất ít, bởi miệng xưng tụng mà tâm tán loạn, chẳng phải chân thật cúng dường.
9.7.5.3. Thân tâm cung kính lễ: Nghe xướng danh hiệu Phật, liền quán tưởng thân Phật như ở trước mắt, đầy đủ tướng hảo, trang nghiêm rực rỡ. Tâm quán thành tựu thì cảm được Phật đưa tay xoa đầu trừ tội nghiệp cho mình. Thế rồi, thân tâm cung kính không có niệm khác, cung kính cúng dường, lòng không bao giờ nhàm hán. Tâm tưởng thấy Phật hiện tiền rõ ràng. Người này sẽ dẫn dắt làm lợi ích hết thảy trời người, tối thượng, tối tôn. Tuy công đức rất lớn, nhưng chưa phải là bậc trí, về sau sẽ lui sụt.
9.7.5.4. Phát trí thanh tịnh lễ: Do đạt cảnh giới Phật, cảnh giới mà trí tuệ sáng tỏ, thấu rõ pháp giới vốn không ngăn ngại. Bởi ta từ vô thỉ thuận theo thế tục nên không có mà tưởng thành có, chẳng ngại mà cho là ngại. Nay đạt tự tâm rỗng rang vô ngại, nên lễ Phật theo hiện lượng của tâm, lễ một Đức Phật chínhlà lễ hết thảy chư Phật, lễ hết thảy chư Phật cũng là lễ một Đức Phật.
Vì Pháp thân Phật thể dụng dung thông, nên lễ một lạy thì cùng khắp pháp giới, cho đến cúng dường hoa hương... cũng giống như thế. Kính lễ pháp và tăng cũng như vậy, tuy ba tướng khác nhau, nhưng lí tính không khác. Cho nên ba thừa tuy khác tên gọi mà thể giải thoát chỉ một. Nên biết lễ một Phật là lễ cả chư Phật, lễ tất cả Phật là lễ một Phật. Đã có thể thông đạt Tam bảo như thế thì hết thảy bốn loài chúng sinh trong sáu đường, ba cõi đều khởi tưởng là Phật mà cúng dường lễ bái. Bấy giờ, thân tâm tự thanh tịnh, mênh mông không chướng ngại, nhớ tưởng cảnh giới chư Phật thì tâm dần sáng tỏ, mỗi lạy đều tối thắng, thì tịnh nghiệp vô cùng, phúc báo vô hạn.
9.7.5.5. Biến nhập pháp giới lễ: Hành giả quán tưởng các pháp thân tâm từ xưa đến nay không lìa pháp giới, không ngoài thân chư Phật, cũng không ở trong thân chư Phật, không ờ ngoài ta, cũng không ở trong ta, tự tính bình đẳng, vốn không tăng giảm. Nay lễ một Phật là lễ khắp chư Phật và tất cả thánh giả ở giai vị vô lậu ba thừa. Thần ta đã cùng khắp thì Phật cũng cùng khăp. Cho đến cảnh giới hữu vô trong pháp giới, vật cúng dường trang nghiêm cho y báo, chính báo đều đầy đủ, không cầu tài thí mà tùy duyên đầy khắp; không lìa pháp giới mà tùy tâm vô ngại, tất cả đều dâng cúng, tùy hỷ đỉnh lễ. Như trong một phòng treo trăm nghìn chiếc gương, nếu có người đến thì tấtcả các gương đều ảnh hiện. Thân Phật thanh tịnh sáng hơn gương ấy. Nếu có vật đưa vào phòng thì không gương nào không chiếu, không ảnh nào không hiện. Đó chính là gom thân khác về làm tổng, nhập vào thân khác để làm biệt. Một thân đã như vậy, thân của hết thảy phàm thánh trong pháp giới và các vật cúng dường, đều giúp tùy hỷ cúng dường khắp cả. Người có trí tuệ thì thấy, người không có trí tuệ thì chẳng thấy. Như thế thực hành theo pháp Biến nhập pháp giới lễ này thì được lợi ích rất lớn.
Luận Địa trì ghi: “Cúng dường có hai pháp: hiện tiền cúng dường và không hiện tiền cúng dường. Không hiện tiền cúng dường thù thắng hơn hiện tiền cúng dường, bởi khó thành tựu hơn. Khi quán được thân ta trong thân Phật, thì làm sao có thể điên đảo tạo nghiệp xấu ác mà chẳng hổ thẹn? Đức dụng và danh hiệu chư Phật đều tương đồng, nên tùỵ ý xưng niệm một danh hiệu Phật nào, thì bao hàm tất cả danh hiệu khác. Như chuyên tâm xưng danh hiệu đức Thích-ca, tức là xưng niệm đầy đủ hết thảy danh hiệu chư Phật. Thích-ca là âm Tây Trúc, Trung Quốc dịch là Năng Nhân. Như vậy, lẽ nào có một Phật không phải là Năng Nhân? Tây Trúc gọi A-di-đà, Trung Quốc dịch Vô Lượng Thọ, vậy có một Phật không trường thọ ư? Ẩn Độ gọi Di-lặc, Trung Quốc dịch Từ Thị, chẳng lẽ có một Phật không có tâm từ sao?”.
Luận Trì Độ ghi: “Năng lực thù thắng của một vị Phật, giống như tất cả Đức Phật, năng lực thù thắngcủa tất cả Đức Phật giống như một Đức Phật. Già sử hết thảy Đức Phật không hóa độ chúng sinh, chỉ một vị Phật hóa độ chúng sinh, thì công ấy qui vê pháp giới, đức dụng cùng khắp mọi nơi.
9.7.5.6. Chính quán tu thành lễ: Đây là nói tự thể và tự thân Phật, không chạy theo cảnh khác, thân Phật khác. Vì sao? Vì hết thảy chúng sinh tự có bản giác Phật tính bình đẳng, tùy thuận Pháp giới duyên khởi mà rực sáng. Chỉ vì mê muội nên chỉ kính thân Phật bên ngoài, còn Phật tính nơi tự thân, mê lầm cho là ác. Mê muội như thế thì dù tu hạnh này cũng bị sai lạc. Nếu thấy thân mình cực ác không có Phật tính, thì dù có tôn kính thân Phật bên ngoài cũng là vô ích.
Chúng sinh mê mờ, tuy có khởi chút thiện tâm, nhưng cũng chỉ biết đem những vật cúng dường khắp pháp giới để cúng dường thân Phật bên ngoài, mà từ xưa đến nay chưa từng dâng một ngọn đèn, một nén hương, một lạy, một bữa ăn cúng dường tự tính Phật nơi thân. Nếu có thể xoay lại soi chiếu bản giác thì nhất định có ngày giải thoát.
Kinh Duy-ma ghi: “Như quán thật tướng của thân, quán Phật cũng như vậy”. Lại nói: “Không quán Phật, không quán pháp, không quán tăng, vì thấy thân mình, thân khác đồng một pháp tính bình đẳng. Tâm mình thanh tịnh, chính là tự tính trụ nơi Phật tính, tùy theo khả năng tu tập mà làm cho sáng tỏ . Đó là nêura nghĩa Phật tính viên mãn trong ba a-tăng-kỳ, là thành tựu quả Phật.

Phần 9

Nếu luận theo việc thành tựu pháp này thì chi có bậc Đại thánh, còn hàng phàm phu tuy chưa đốn tu, nhưng cũng cần phải hiểu rõ. Như người đi đường xa phải nhờ sức mình, muốn thấy Phật tính phải quán Phật nơi tự thân. Quán pháp và tăng cũng thế, không khác. Đây gọi là chính quán lễ.
9.7.5.5. Thật tướng bình đẳng lễ: Đại ý cũng như trên, nhưng trên còn có lễ có quán, có mình có người sai khác. Còn cách lễ ở đây thì không phân biệt ta và người, phàm thánh không hai, thể dụng dung thông, như như bình đẳng, xưa nay không khác. Như thấy Phật đáng tôn đáng kính, tức cũng sẽ thấy chúng sinh thật hèn thật kém, nếu khởi tâm này thì lại thành thiên chấp.
Kinh Bảt-nhã ghi: “Pháp này bình đẳng, không cao thấp, gọi A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Vì thật tướng lìa niệm, không thể dùng tâm nắm giữ, không thể từ tướng mà suy cầu, không thể dùng lễ để kính, không thể dùng khinh mạn mà chê bai, dẹp cao thấp, lìa quý hèn; tịnh loạn vốn một nguồn, kính khinh cùng một mối, trụ tâm như thế gọi là Bình đẳng lễ”.
Văn-thù lễ văn ghi: “Không sinh không diệt, nên kính lễ mà không thấy đối tượng để lễ. Lễ như thế e ràng phàm phu nhận thức nông cạn nghe rồi liền phỉ báng. Bậc thượng trí, bên trong hành bình đẳng, bênngoài thuận kính tu; nội ngoại xứng hợp, gọi là bình đẳng lễ”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thế Tôn nói kệ:
Nếu người muốn lễ Phật
Quá khứ cùng vị lai
Dạy ngay trong hiện tại
Hãy quán các pháp không.
Nếu người muốn đỉnh lễ
Quá khứ cùng vị lai
Hiện tại các Đức Phật
Nên quán về vô ngã.
Thiện nghiệp lễ bậc nhất
Không có gì sánh bằng
Không vô, giải thoát môn
Đây là nghĩa lễ Phật.
Nếu người muốn lễ Phật
Vị lai và quá khứ
Nên quán pháp không vô
Đây là nghĩa lễ Phật.
Có bài tụng:
Cúi đầu lễ Tam bảo
Qui mạng khắp mười phương
Chiêm ngưỡng cùng tôn kính
Tăng phúc trừ tai ương.
Căn cơ tuy sai khác
Phật bình đẳng bảo ban
U hiển đồng khai phát
Ứng hóa khắp muôn phương.
Tuy sinh ở cõi này
Phó cảm khắp mọi nơi
Vui mừng quản lễ Phật
Phúc đức càng tăng trưởng.
Pháp tỉnh vốn không hai
Dầu ngăn cách, ngại gì
Vận tâm thành cung kính
Một lễ biến khôn lường.
9.8. CẢM ỨNG
Đời Đường, Lý Sơn Long: Niên hiệu Vũ Đức (618-626) Tẩ giám môn hiệu úy Phùng dực Lý Sơn Long bị bạo bệnh qua đời, nhưng tim ông vẫn còn ấm, người nhà chưa nỡ tẩm liệm. Bảy ngày sau ông sống lại, tự kể:
- Lúc đầu sứ giả U minh bắt dẫn đến một dinh thự uy nghi rộng lớn, trong sân có vài nghìn tù nhân, hoặcbị xiềng xích, hoặc bị gông cùm, tất cả đều đứng quay mặt về hướng bắc. Sứ giả dẫn đến công đường, tôi thấy một vị quan ngồi trên tòa cao, giống như vua có thị vệ đừng hầu, tôi hỏi sứ giả:
- Đây là vị quan nào?
- Là Diêm vương!
Tôi tiến đến dưới thềm, vua hỏi:
- Ngươi lúc còn sống đã làm phúc nghiệp gì?
- Người làng mỗi khi thiết trai mở hội tuyên giảng Phật pháp, tôi thường chung góp cúng dường._Tôi đáp.
Lại hỏi:
- Tự thân ngươi làm được nghiệp thiện gì?
- Tôi đã tụng hai quyển kinh Pháp Hoa.
Vua nói:
- Hay lắm, ông hãy lên đây!
Tôi bước lên thì thấy phía đông bắc sảnh đường có một tòa cao như tòa giảng pháp. Diêm vương chỉ tòa rồi nói:
- Ông hãy lên tòa đó tụng kinh!

Phần 10

Tôi theo lời đến bên tòa, vua liền đứng dậy nói: “Thỉnh pháp sư lên tòa”. Tôi lên tòa, Diêm vương ngồi hướng về phía tôi. Tôi mở kinh và tụng: “Diệu pháp liên hoa kinh, phẩm Tựa thứ nhất. Vua nói:
- Thỉnh pháp sư xuống tòa!
Tôi liền xuống tòa và lại đứng dưới thềm, quay đầu nhìn thấy trong sân không còn một bóng người. Diêm vương bảo tôi:
- Phúc tụng kinh của ông không chỉ làm lợi cho mình mà còn khiến cho các tù nhân nghe kinh đều được giải thoát. Há chẳng phải tốt lắm sao? Nay ta tha ông về.
Tôi lễ tạ từ biệt, vừa đi được mấy mươi bước thì vua gọi lại và bảo sứ giả:
- Hãy đưa người này đi tham quan các ngục. Sứ giả đưa tôi đi về phía đông, hơn trăm bước thì thấy một tòa thành bằng sắt rộng lớn, bên trên có mái che. Bên hông tường thành có nhiều cửa sổ, hoặc lớn như cái bồn, hoặc nhỏ như cái chén, các nam nữ bay vào bên trong mà không thấy trở ra. Tôi thấy lạ nên hỏi, sứ giả nói:
- Đây là địa ngục lớn, bên trong có rất nhiều nguc nhỏ, giam tù nhân theo từng tội khác nhau, những người này theo nghiệp đã tạo mà đến địa ngục thụ tội. Nghe nói, tôi vừa thương xót, vừa lo sợ, buộc miệng xưng niệm ‘nam-mô Phật’ rồi bảo sứ giả đưa ra. Khi đến cửa, thấy một vạc nước lớn đang sôi sùng sục, cạnh đó có hai người đang ngủ. Tôi hỏi, họ đáp:
- Tội báo của chúng tôi phải vào trong vạc nước sôi này, nhưng nhờ hiền giả xưng ‘nam-mô Phật’, nên các tội nhân trong ngục đều được nghỉ một ngày, mệt quá nên chúng tôi nằm ngủ.
Tôi lại xưng ‘nam-mô Phật’. Sứ giả nói với tôi:
- Quan nơi đây luôn thay đổi. Nay ông được Diêm vương phóng thích, nên xin Diêm vương cấp giấy chứng nhận. Nếu không, sợ các quan khác không biết, họ lại truy bắt ông.
Tôi liền quay lại chỗ Diêm vương xin giấy. Vua sai đem giấy và viết một hàng chữ xong đưa cho sứ giả và bảo:
- Đi lấy lời phê của quan cai quản năm đường.
Sứ giả tuân lệnh đưa tôi qua hai phủ nữa, sảnh đường và thị vệ cũng giống như trước. Vị sứ giả được Diêm vương sai đều lấy lời phê của các Minh quan, mỗi vị cũng viết vào đó một dòng, xong đưa lại cho tôi. Khi tôi ra đến cửa thì gặp ba người, họ đồng nói:
- Vương thả ông, ít nhiều nên cho chúng tôi thứ gì chứ?
Tôi chưa kịp nói, sứ giả đã bảo:
- Diêm vương thả ông, không phải do ba người này. Nhưng ba người này trước là sứ giả bắt ông, một người chủ quản về dây, đã dùng dây trói ông; một người chủ quản về gậy, đã dừng gậy đánh vào đầu ông và một người chủ quản về bao, đã dùng bao chặn hơithở của ông. Nay họ thấy vua tha cho ông nên đến xin vậy. Tôi nghe thế, hốt hoảng lo sợ tạ lỗi, nói:
- Vì mê mờ nên không nhận ra các vị, tôi về nhà sẽ chuẩn bị đầy đủ đồ vật, nhưng không biết đưa đến đâu. Ba người nói:
- Hãy đem đến bên cội cây ở bờ sông mà đốt.
Tôi đáp: Vâng!
Sử giả đưa về nhà, tôi thấy người nhà đang khóc chuẩn bị đồ tẩm liệm. Thần thức tôi nhập xác thì liền sống lại.
Hôm sau, tôi cắt giấy làm tiền bạc, cùng vải vóc, rượu và thức ăn, tự mình đem đến bên sông cúng tế. Bỗng thấy ba người đến cảm tạ, họ nói:
- Đa tạ ông đã giữ lời đem đồ vật đến tặng.
Nói xong không thấy họ nữa. Tôi về đến chùa kể lại sự việc cho vị trụ trì nghe.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục