Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 17 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT - KÍNH PHÁP

06/11/2015

QUYỂN 17 Quyển này gồm chương Kính Phật tiếp theo chương Kính pháp. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt) 6.7. PHỔ HIỀN LINH CẢM 6.7.1. Đời Tống, thái hậu Lộ Chiêu: Niên hiệu Đại Minh thứ tư (450), thái hậu Lộ Chiêu tạo tượng bồ-tát...

PUCL QUYỂN 17 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT - KÍNH PHÁP
Phần 1

QUYỂN 17
Quyển này gồm chương Kính Phật tiếp theo chương Kính pháp.
6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt)

6.7. PHỔ HIỀN LINH CẢM 6.7.1. Đời Tống, thái hậu Lộ Chiêu: Niên hiệu Đại Minh thứ tư (450), thái hậu Lộ Chiêu tạo tượng bồ-tát Phổ Hiền ngồi trên xe báu voi trắng, an trí ở thiền phòng Trung Hưng. Nhân đó, thái hậu lập hội thuyết pháp tại chùa. Vào ngày mồng tám tháng mười năm ấy, sau khi thụ trai xong, hai trăm vị tăng nhóm họp khai hội thuyết pháp. Vua rất lưu tâm, đích thân đến thăm nhiều lần. Chư tăng trang nghiêm, cấm vệ chỉnh tề. Ngay trong ngày ấy, khi chư tăng được thỉnh đà vào an tọa, lâu sau có một vị tăng nét mặt hoan hỉ, dung mạo phi phàm đến dự hội, ngồi theo thứ tự trong tăng khiến cả chúng hội đều chú ý. Trai chủ nói chuyện với vị tăng ấy một lát thì bất chợt không thấy đâu nữa. Chúng hội đều cho rằng vị ấy là thánh.
6.7.2. Đời Tống, sa-môn Thích Đạo ôn: Khoảng niên hiệu Đại Minh (457-464), pháp sư Đạo Ôn giữ chức Tự thống, trụ tại huyện Mạt Lăng, là người từng diện kiến Hoàng thái hậu. Sư thông minh linh mẫn, tâm thầm hợp với ý thánh, lắng tâm tư duy cảnh tịnh.dốc lòng tham cứu đạo mầu. Vì thế, danh tiếng của sư vang khắp Chấn-đán, việc linh hiển vọng đến trời Tây.
Sư đã nghĩ ra cách đúc tạc để lột tả đuợc nét đẹp của thánh tuợng. Sau đó, sư tạo tuợng Phổ Hiền dung nghi hoàn mĩ, lại dốc hết trân bảo có đuợc trang trí khiến tôn tuợng thật tuyệt diệu. Sau khi đã lập hội thuyết pháp, trai tăng, đến ngày mồng tám tháng ấy, sư mở hội bố thí có hạn gọi là Bạc tố định. Chư tăng được thỉnh thứ tự ngồi vào vị trí, tất cả đầy đủ không thiếu, không dư. Tụng kinh được một nửa, sắp đến giờ ngọ, bỗng thấy một vị tăng lạ ở trong trai đường, cử chỉ đoan nghiêm, khí mạo thanh tú. Đại chúng nhìn chăm chú, nhưng không ai biết.
Trai chủ đến hỏi:
- Thượng nhân tên gì?
- Tôi tên Tuệ Minh.
- Ngài ờ chùa nào?
- Đến từ Thiên An.
Trong lúc hỏi chuyện bất chợt không thấy vi ấy đâu nữa. Toàn thể trai đường đều kinh sợ, cả chúng cung kính cho là điềm lành hạ giáng, linh ứng hiển bày, tử sơn có thất hoa đài chẳng còn xa.
Từng nghe: Lòng thành cảm ứng, có thể khiến cảnh chuyển sao dời; chí tâm khẩn cầu thì đá mờ, suối tuôn. Huống gì đức của vua trùm khắp, công của đế phủ dày, lòng nhân soi thấu trời cao, ân trị sánh cùng đất rộng. Do đó, từ vua cho đến các quan quyết thể hiện triều đại anh minh, nên cảm ứng thánh tăng vào ngôi nhà hiền sĩ.
Đó là điềm nói rằng bệ hạ là bậc tuệ chiếu Trung Hoa, sáng như nhật nguyệt nên lấy Tuệ Minh làm tên người; thừa mệnh trời trị quốc, ân đức trải vô bờ nên lấy Thiên An làm tên chùa. Thế thì nền móng quôc gia bền vững, đạo pháp mới yên định, thiên hạ thái bình, mọi nhà an lạc. Kính ghi vài lời cho quan huyện, để nêu tỏ phúc trời ban.
6.7.3. Đời Tống, sa-môn Thích Đạo Kinh: Sư người Hiếu Tri, Phù Phong, vốn họ Mã, tuổi còn nhỏ mà đã nổi tiếng học giỏi. Tháng chín, niên hiệu Nguyên Gia thứ hai (425), sư vì người mà thiết trai hội Phổ Hiền, thỉnh khoảng bốn mươi đạo tục tham dự. Bảy ngày trôi qua, vào giờ Ngọ chợt có một người mặc quần nhiều nếp, cưỡi ngựa đi đến trước điện đường rồi xuống ngựa lễ Phật. Sư cho là người bình thường, nên không đặc biệt tiếp đãi. Khi người ấy lên ngựa ra roi thì chợt biến mất, lại thấy ánh sáng màu đỏ đầy trời, lát sau mới hết.
Ba năm sau, vào tháng mười hai, tại một nhà Phật tử, sư lại lập trai hội Phổ Hiền. Ngày sắp hoànmãn, có hai vị sa-môn y phục bình thường đến lễ Phật, vì thế mọi người cũng không gia tâm cung kính. Hỏi thăm về trú xứ thì họ đáp ở thôn trước. Bầy giờ, có cư sĩ Trương Đạo biết là bậc dị thường, nên thành tâm kính lễ. Vị sa-môn đi khoảng mấy mươi bước, bất chợt bay thẳng lên hư không, không biết ngài đi đâu.
6.7.4. Đời Tề, sa-môn Thích Phổ Minh: Sư họ Trương, người Lâm Vị, ở chùa Định Lâm Thượng, xuất gia từ thuở nhỏ, bản tính thuần khiết, ăn uống đạm bạc, y phục thô sơ, lấy việc tụng kinh sám hối làm hạnh chính tu hành. Sư thường tụng hai bộ kinh Pháp Hoa và Duy-ma. Khi tụng kinh, có y và tòa ngồi riêng, chưa từng dùng lẫn lộn.
Mỗi khi sư tụng kinh Pháp Hoa đến phẩm Khuyến phát thì thấy đức Phổ Hiền cưỡi voi đứng trước mặt. Khi tụng kinh Duy-ma lại nghe trên không trung có tiếng ca nhạc.
Sư rất giỏi chú thuật, thường dùng trị bệnh cứu người rất linh nghiệm. Vương Đạo Chân là người làng với sư, vợ ông bị bệnh nên mời sư đến tụng chú. Khi sư vào cửa thì người vợ liền ngất. Lát sau, thấy một vật giống như con chồn, thân dài khoảng mấy thước chui ra từ lỗ chó, nhân đó vợ ông lành bệnh.
Có lần sư đến lấy nước ở cạnh miếu, các thầy pháp bảo nhau “thần miếu này thấy ông ấy cũng phải bỏ chạy”
Khoảng niên hiệu Kiến Trung (454-456), đời Tống, sư thị tịch, hưởng thọ tám mươi lăm tuổi. 6.8. QUÁN ÂM LINH CẢM 6.8.1. Đời Tần, thượng thư Từ Nghĩa: ông người Cao Lục, thuở nhỏ đã kính tin Phật pháp, làm quan triều Phù Kiên. Cuối đời Phù Kiên, chiến tranh nổi dậy, quân giặc bắt chôn hai chân và cột tóc ông vào thân cây. Đêm ấy, ông chuyên niệm bồ-tát Quán Thế Âm. Lát sau thì ngủ thiếp đi, ông mộng thấy một người đến nói: “Sự việc rất nguy cấp, sao còn rảnh mà ngủ? ”
Giật mình tỉnh dậy thấy lính canh đều mệt mỏi ngủ hết, ông bèn thử cử động thì tay và tóc đã mở, chân cũng được tự do.
Thế là, ông trốn vào một bụi cỏ nhỏ cách đó hơn trăm bước. Sau đó, ông lại nghe tiếng người đuổi theo, tay cầm đuốc lớn soi tìm. Tuy qua lại bụi cỏ ấy rất nhiều lần, nhưng họ không nhìn thấy ông. Đến sáng, giặc bỏ đi, ông đến ẩn náu tại một ngôi chùa ở đất Nghiệp, nhờ thế mà thoát nạn.
6.8.2. Đời Tần, cư sĩ Tất Lãm: Ông người Đông Bình, thuở nhỏ đã kính tin Phật pháp. Có lần ông theo Mộ Dung Thùy bắc chinh nhưng bị thua, một mình phi ngựa chạy trốn. Quân giặc đuổi theo sắp kịp, ông chỉ tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm liền được thoát thân. Tuy không bị giặc bắt nhưng bị lạc vào rừng sâu, không biết
Phần 2

đường ra, ông !ạỉ chuyên tâm niệmdanh hiệu bồ-tát. Giữa đêm, ông thấy một dạo nhân mang y, cầm tích trượng chỉ con đường tắt nên ông an ổn trở về nhà.
6.8.3. Đời Tấn, Trúc Pháp Nghĩa: Sư ở núi Thủy Ninh, khoảng niên hiệu Hưng Ninh (363-365) xuất gia làm sa-môn. Sư nghiên cứu các kinh nhưng rất giỏi về kinh Pháp hoa, đệ tử theo học có hơn trăm người.
Niên hiệu Hàm An thứ hai (372) sư cảm thấy tâm khí có bệnh, nên thường niệm đức Quán Thế Âm. Một hôm, sư mộng thấy một người đến mổ bụng rửa ruột, khi tỉnh dậy liền lành bệnh.
Phó Lượng thường nói: “Tiên đế đến chơi với sư, nghe sư nói rằng đức Quán Thế Âm thần lực dị thường, lớn nhỏ ai ai cũng đều cung kính”.
6.8.4. Đời Tấn, sa-môn Trúc Pháp Thuần: Sư trụ trì chùa Hiển Nghĩa, Sơn Âm. Niên hiệu Nguyên Hưng (402-404) đời Tấn, sư muốn trùng tu chùa, nên đến Lan Chữ mua vật liệu. Chủ tiệm vật liệu là một phụ nữ, cùng sư đi đến kho chứa vật liệu và hứa cúng một khoản lớn. Hai người cùng lên thuyền. Khi thuyền đi vào hồ rộng, bỗng dưng trời tối mịt, gió lớn thổi đến, sóng cả nổi lên. Thuyền của sư nhỏ, nên nước tràn vào, tính mạng vô cùng nguy cấp. Sư thầm nghĩ: “Vì vô phúc, nên đi đường gặp tai nạn này, lại cùng đi với phụ nữ. Người ấy đang hoảng sợ”. Sư bèn nhât tâm tụng kinh Quán Thế Âm. Lát sau có thuyền lớn đến. Lúc ấy trời đã vào đêm, không còn ai đi vàolúc này, sư thầm nghĩ: “Không thể có thuyền như thế” và nghĩ là do thần lực cảm ứng cùa bồ-tát Quán Âm. Hai người cùng qua thuyền này thi chiếc thuyền nhỏ cũng vừa chìm. Thuyền lớn theo sóng, chốc lát cập bờ.
6.8.5. Đời Tấn, sa-môn Thích Khai Đạt: Niên hiện Long An thứ hai (398), một hôm sư lên đồi hái cam thảo thì bị giặc Khương bắt giữ. Bấy giờ gặp năm đói, người Khương và người Hồ ăn thịt lẫn nhau, giặc nhốt sư trong chuồng, chuẩn bị ăn thịt. Trong chuồng này có hơn mười người, đều bị chúng nấu ăn vào buổi tối, chỉ để mình sư sống sốt dành cho sáng hôm sau.
Từ lúc bị bắt, sư thường thầm tụng kinh Quán ThếÂm, không hề giải đãi. Lúc trời gần sáng, bỗng nhiên có một con hổ lớn, xông thẳng vào giận dữ gầm rú đuổi bắt rợ Khương, chúng đều sợ hãi chạy chốn. Con hổ đến cắn chuồng thành một lỗ nhỏ mà người có thể chui lọt, rồi từ từ bỏ đi. Lúc đầu, sư thấy hổ cắn chuồng nghĩ rằng chắc phải chết, nhưng hổ không vào, sư nghĩ có điều kì lạ, có lẽ đây là sức thần củabồ-tát Quán Thế Âm. Sư ước lượng thời gian, rợ Khương chưa kịp trở về, bèn chui ra khỏi chuồng bỏ trốn. Ban đêm thì sư đi, ban ngày thì ẩn trốn, nhờ thế mà sưthoát chết.
6.8.6. Đời Tấn, Quách Tuyên Chi: Ông là người Thái Nguyên. Niên hiệu Nghĩa Hi thứ tư (408) ông làm tư mã cho thứ sử Lương châu là Dương Tư Bình.
Khi Dương bị ghép vào tội sát hại Phạm Nguyên Chi thì ông và nhiều người... cũng bị bắt giam vào ngục. Tuyên Chi một lòng niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm. Đêm sau, lúc ông vừa chợp mắt thì thấy Bồ-tát phóng ánh sáng chiếu khắp ngục. Tuyên Chi thây thế liền lễ bái, phát nguyện, cầu xin; hồi lâu ánh sáng mới tắt. ít hôm sau Chi được ân xá. Ông liền y theo hình tướng thấy trong ngục mà tạo một pho tượng Quán Thế Âm, lại lập tinh xá tu tập. về sau, ông làm một chức quan nhỏ ở Hành Dương, Linh Lăng cho đến lúc về hưu.
6.8.7. Đời Tấn, Phan Đạo Tú: Ông người quận Ngô, năm hơn hai mươi hai tuổi đầu quân chinh chiến phương Bắc. Vì ít quân nên thất trận, ông bỏ chạy và bị địch bắt. Sau đó, ông phải làm nô lệ cho địch qua nhiều miền đất lạ, tuy lòng muốn trở về nhưng không có cách.
Lúc nhỏ, tin theo Phật pháp, ông thường chí tâm xưng niệm bồ-tát Quán Thế Âm, mỗi khi nằm mộng thường thấy hình tượng ngài. Một hôm, ông bỏ trốn về phương nam, nhưng bị lạc đường, không biết lối ra. Ở trong rừng sâu, ông chợt thấy đức Quán Thế Âm giống như hình tượng ngày nay, nhân đó ông lễ bái. Khi lễ xong thì chẳng thấy ngài đâu nữa, nhưng đã tìm được đường về nước, về sau, ông càng tinh tiến niệm danh hiệu Quán Thế Âm, gần sáu mươi tuổi ông mới mất.
6.8.8. Đời Tấn, Loan Tuân: Không biết người ở đâu, thuở nhỏ ông tin theo Phật pháp, từng làm Huyện lịnh Phúc Phú Bình. Lúc đầu, ông tòng chinh tham gia đánh trận, nhưng bị bất lợi, thuyền gặp lửa cháy, quân giặc vây ép, lại có sóng gió nổi lên, mạng sống rất mong manh. Ông vô cùng sợ hãi, tuy nhiên vẫn còn nhớ niệm Quán Thế Âm. Lát sau, ông thấy giữa dòng sông có một người, một mình đứng thẳng, nước ngập ngang lưng. Trong lòng ông biết sự nguyện cầu của mình có cảm. Khi lửa và giặc đã đến gần, ông lao xuống dòng sông hướng về phía ngài, thân ông đã không chìm mà chân tựa như đạp vào đất, chẳng bao lâu, đại quân kéo đến dùng thuyền vớt những binh sĩ bại trận, nên ông được thoát.
6.8.9. Đời Tấn, sa-môn Thích Pháp Tri: Lúc chưa xuất gia, có lần một mình sư đi đến đầm lớn, bỗng gặp lửa lớn vây quanh, không còn đường chạy, sư bèn chí tâm lễ bái và niệm danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm. Lát sau lửa tắt, cỏ quanh đầm không còn một cọng, chỉ có chỗ sư đứng là không bị cháy. Kể từ hôm ấy, sư càng kính tin Phật pháp, sau đó làm tướng dưới quyền của Diêu Hưng đi đánh giặc. Quân của Diêu Hưng bại trận rơi vào vòng vây của giặc, sư bèn trốn vào bụi gai cao quá đầu gần bên hào nước, lại tha thiết chí thành niệm đức Quán Thế Âm. Người đứng bên kia hào nhìn thấy, đốc thúc hậu quân sang giết sư, nhưng quân đên tìm khắp mà chăng thấy, nhờ vậy mà thoát chết.
6.8.10. Đời Tấn, Nam Cung Tử Ngao: ông người Thị Bình. Khi Bành Thành bị Trường Lạc công con của Khất Phục phá vỡ, mấy nghìn người trong thành đều bị giết. Ông lẽ ra cũng không thoát nạn, nhưng do chí tâm niệm Quán Thế Âm mà khi chém đến ông, các tay đao đồng thời chém xuống, thi người cao kẻ thấp, cảm thấy chân tay rã rời, không cử động theo ý được. Lúc ấy, Trường Lạc công làm giám trảm, chính mắt chứng kiến, lấy làm lạ, bèn hỏi, ông buộc miệng đáp: “Có thể làm yên ngựa!”. Tướng giặc bèn lệnh tha cho ông. Ông cũng chẳng biết vì sao mình lại đáp như vậy. Sau khi thoát chết, ông bèn tạo một tượng đức Quán Thế Âm, an trí trong hộp, khi đi thì đặt trên đầu.
6.8.11. Đời Tấn, sa-môn Thích Đạo Thái: Sư trụ tại tinh xá Hành Đường ở Thường sơn. Trong khoảng niên hiệu Nghĩa Hi (405-418), một đêm, sư mộng thấy một người đến bảo: “Năm 42 tuổi ông sẽ chết”. Đến năm bốn muơi hai tuổi thì sư mang bệnh nặng. Nghĩ mình không qua khỏi, nên sư mang những vật dụng của mình như y, bát ra bố thí làm phúc, lại chí thành niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm, suốt bốn ngày đêm, chuyên cần không xao lãng.
Lúc ấy trước chỗ sư ngồi có một tấm màn che, chợt thấy dưới màn có một đôi chân sắc vàng bước qua cửa vào bên trong, ánh sáng chiếu rực cả phòng. Sư vén màn vội nhìn thì ánh sáng cũng vừa tắt. Kinhngạc vui mừng xen lẫn, nhân đó sư xuất mồ hôi rất nhiều, cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, bệnh đã hết.
6.8.12. Đời Tấn, Tôn Đạo Đức: ông người ích châu, tin thờ các đạo sĩ, tuổi đã hơn năm mươi mà vẫn chưa có con. Nhà ông ở gần tinh xá. Trong khoảng niên hiệu Cảnh Bình (423-424), một hôm, có vị sa-môn bảo: “Muốn có con phải chí tâm lễ bái tụng kinh Quán Thế Ấm, thì điều mong cầu sẽ thành tựu”. Ông bèn bỏ các

Phần 3

đạo sĩ, chí tâm thành khẩn qui y Quán Thế Âm. Trong thời gian ngắn liền ứng mộng, vợ ông có thai, sau đó hạ sinh con trai.
6.8.13. Đời Tấn, Lưu Độ: Ông người Liêu Thành, Bình Nguyên. Nơi đây có hơn một nghìn hộ, tất cả đều kính tín Phật pháp, nên tạo lập hình tượng, cúng dường tăng ni. Lúc Chủ Mộc Vị chiếm cứ nơi đây, trong huyện thường có người bỏ trốn. Chủ Mộc Vị vô cùng phẫn nộ, muốn tiêu diệt cả thành, dọa sẽ tàn sát tất cả. Bấy giờ, với tâm thành kính ông hướng dẫn mọi người qui mạng đức Quán Thế Âm.
Ít lâu sau, Mộc Vị chợt thấy một vật từ trên không trung hạ xuống, nhiễu quanh cột nhà. Ông kinh hãi chăm nhìn, mới biết là kinh Quán ThếÂm.
Lưu Độ liền bảo mọi người tụng, Mộc vô cùng vui mừng mà tha tội chết. Nhờ thế mà tất cả người trong thành đều thoát nạn.
6.8.14. Đời Tấn, Đậu Truyền: Ông người Hà Nội, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Vĩnh Hòa (345-356), quân dưới quyền thứ sử Tinh châu Cao Xương vốn bất hòa với quần của thứ sử Kí châu Doanh Hộ. Đậu Truyền lúc ấy là Quan trưởng trong quân của Cao Xương. Họ sai kị binh tập kích bắt được Đậu Truyền cùng sáu bảy đồng đội giam chung một ngục, gông cùm rất chặt, định ngày giết chết.
Sa-môn Chỉ Đạo Sơn bấy giờ đang ở trong doanh trại của Hộ, trước đây quen biết với Truyền, nghe Truyền bị giam vào ngục nên đến thăm. Hai người cách phòng nói chuyện.
Truyền hỏi:
- 'Nay con bị nạn này, mạng sống tính từng thời khắc, ngài có phương pháp nào giải cửu không?
Sa-mônđáp:
- Nếu có thể chí tâm qui mạng nguyện cầu, nhất định có cảm ứng.
Đậu Truyền trước đây cũng có nghe qua sự linh ứng của đức Quán Thế Âm. Khi nghe Đạo Sơn nhắc đến, ông bèn chuyên tâm niệm danh hiệu Ngài suốt ba ngày đêm và chí thành qui hướng. Một hôm, ông cảm thấy chiếc gông như lỏng ra khác thường, ông thử kéo thì liền thoát.
Truyền lại chí tâm xưng niệm danh hiệu bồ-tát và phát nguyện: “Nay con nhờ Ngài thương xót gia hộ mà thoát khỏi gông cùm, nhưng bạn của con ở lại rất nhiều, con không thể vô tầm bỏ đi một mình. Thần lựccủa Ngài có thể cứu độ rộng khắp, cúi xin cho chúng con đều được thoát nạn”.
Nói xong, ông lại mở gông cho những người khác, tất cả đều rời ra như có người cắt sẵn. Mọi người liền mở cửa chạy trốn, trong lúc cảnh vệ đang tuần tra, nhưng chẳng ai phát hiện. Đoàn người của Đậu Truyền bèn vượt thành chạy một mạch bốn năm dặm thì trời sắp sáng, nên không dám đi tiếp mà cùng ẩn trong một lùm cây.
Lát sau, quân canh phát hiện tù nhân bỏ trốn, bèn huy động binh mã cấp tốc bủa ra bốn hướng tìm bắt. Chúng đốt cỏ, đạp rừng tìm khắp mọi chỗ, nhưng trong phạm vi khoảng một mẫu nơi nhóm Đậu Truyền ẩn trốn thì chẳng có ai đến. Nhờ vậy mà đoàn người được thoát nạn trở về quê nhà. Họ càng thêm kính tin, phụng thờ Phật pháp.
Sa-môn Đạo Sơn sau qua Trường Giang, thuật rõ cho cư sĩ họ Tạ về việc này.
6.8.15. Đời Tấn, sa-môn Trúc Pháp Thuần: Sư xuất gia từ nhỏ, đến trụ ở chùa Hiển Nghĩa, Sơn Âm. Sư là người giới đức tinh nghiêm, chuyên tu khổ hạnh, thích tụng kinh cổDuy-ma
Khoảng niên hiệu Nguyên Hưng (402-404), một hôm sư đến Lan Chừ mua nhà cũ cho chùa. Đến tối trở về, khi ra giữa hồ chợt gặp gió lớn, vì thuyền nhỏ nên sắp chìm. Sư chỉ còn cách nhất tâm nương vào đức Quan Thế Âm, miệng tụng không gián đoạn. Látsau, một chiếc thuyền lớn đến, sư bèn chuyển qua nên thoát nạn. Khi đến bờ nhìn lại thì thuyền không chủ và lát sau cũng biến mất. Đạo tục đều ca ngợi sự cảm ứng này. Sau không biết sư tịch ở đâu.
6.8.16. Đời Tống, Trương Hưng: Ông người Tân Hưng, rất kính tin Phật pháp, từng thụ bát quan trai giới với sa-môn Tăng Dung, Đàm Dực. Một hôm, vợ chồng ông bị giặc bắt nhưng ông chạy trốn được, còn vợ bị giam vào ngục, nhiều ngày chịu sự đánh đập. Một hôm huyện ấy bị hỏa hoạn, tù nhân được giải ra đứng bên đường, gặp lúc sa-môn Tăng Dung và Đàm Dực đi qua. Vợ của ông hớt hãi gọi:
- Xà-lê có cách nào cứu con với!
Tăng Dung nói:
- Bần đạo năng lực yếu không có cách nào để cứu, nên tâm thành niệm danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm, ắt được thoát nạn
Vợ của Trương Hưng nghe lời, đêm ngày niệm danh hiệu Quán Thế Âm. Trải qua hơn mười ngày, một đêm người vợ ông mộng thấy một vị sa-môn chạm chân vào bà và bảo: “Này, dậy đi!”. Người vợ bèn tinh giấc ngồi dậy, gông cùm xiềng xích tự nhiên đều mở, liền chạy ra cửa. Lúc ấy, cửa vẫn còn đóng, canh phòng rất nghiêm ngặt, bà không biết cách nào thoát ra. Lo sợ người phát hiện, bà vội trở lại ngục mang gông như cũ. Lát sau, vừa thiếp ngủ lại mộng thấy vị sa-môn lúc trước đến nói: “Cửa đã mở rồi!”,bà vội chạy ra. Lúc ấy lính canh đều đã ngủ say, trời tối đen như mực, bà lặng lẽ trốn thoát. Đi được mấy dặm chợt gặp một người, bà sợ hãi té xuống, hỏi thăm thì ra là chồng bà. Vừa mừng, vừa tủi, hai vợ chồng tìm đến chỗ Tăng Dực, Tăng Dực che giấu, nhờ đó mà họ thoát nạn. Bấy giờ là năm Nguyên Gia thứ nhất (424).
6.8.17. Đời Ngụy, Thích Đạo Thái: Sư trụ tại tinh xá Hành Đường, Thường Sơn. Một hôm sư mộng thấy có người bảo: “Ông đến năm bốn hai tuổi sẽ mạng chung”. Tỉnh dậy sư rất sợ. Quả thật, đến năm bốn mươi hai tuổi sư bị bệnh, vì lo sợ nên sư bố thí hết tài sản của mình. Có một người bạn bảo sư:
- Tôi nghe nói cúng dường sáu mươi hai ức bồ-tát, xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm phúc đức giống nhau. Vì sao ông không chí tâm qui y ngài? Nếu được vậy nhất định sẽ tăng tuổi thọ!
Sư cảm ngộ, nên bốn ngày bốn đêm tinh tiến niệm danh hiệu không gián đoạn. Một hôm, sư chợt thấy dưới bức màn ở chỗ ngồi có luồng ánh từ ngoài cửa đi vào, rồi thấy bàn chân của đức Quán Thê Âm phóng ánh sáng màu vàng chói sáng. Bồ-tát nói với sư:
- Ngươi niệm Quán Thế Âm ư?_ Sư vén màn nhìn thì chẳng thấy nữa. Vừa mừng vừa tủi, toàn thân toát mồ hôi, sư cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, bệnh đã lành. Nhờ sự gia hộ của bậc thánh, về sau sư sống rất thọ.
6.8.18. Đời Ngụy, Tôn Kính Đức: Vào niên hiệu Thiên Bình (534-538) đời Ngụy, ông tạo tượng Quán Thế Âm rồi tự mình lễ kính cúng dường. Sau ông bị giặc bắt, vì không chịu nổi sự tra tấn, ông nhận càn tội lỗi, do đó bị ghép vào tội tử hình.

Phần 4

Gần đến ngày xử chém, ông mộng thấy một vị sa-môn đến bảo tụng kinh Cứu sinh Quán Thế Âm một nghìn biến thì được thoát.
Từ lúc lính bắt đầu giải đi cho đến pháp trường, vừa đi ông vừa tụng, khi sắp hành hình thì đủ một nghìn biến. Khi đao phủ hạ chém thì đao tự nhiên gãy thành ba đoạn mà ông chẳng hề bị thương. Ba lần đổi đao đều bị gãy như cũ, nhìn lại cổ của tượng thì thấy ba vết dao. Sự việc này được trình lên, thừa tướng Cao Hoan dâng biểu xin vua tha tội chết và lệnh chép kinh này lưu bố khắp nhân gian, chính là kinh Cao vương Quán Thế Ấm lưu truyền ngày nay.
Từ các triều đại như Tấn, Tống, Lương, Trần, Tần, Triệu, cho đến khi phân chia thành mười sáu nước, trong suốt thời gian bốn trăm năm, nhiều người xưng niệm danh hiệu của bồ-tát Quán Thế Âm, Địa Tạng, Phật Di-lặc, A-di-đà. Người xưng niệm được cứu độ rất nhiều không thể kể hết, trong các truyện đã đủ đầy nên chẳng ghi lại ở đây.
6.8.19. Đời Ngụy, Thích Pháp Lực: Sư sống vào cuối thời nhà Ngụy, chẳng rõ quê quán ở đâu, tu hành khổ hạnh, có chí khí, siêng năng, khắc khổ, thường xây dựng chùa tháp. Có lần sư muốn dựng một ngôi tinh xá ở quận Lỗ, nhưng vật liệu chẳng đủ, sư bèn cùng với sa-di Minh Sâm đến Thượng Cốc khuyến cúng một năm sẽ trở về. Một hôm, khi đi qua đầm hoang, sư đang nhắm mắt nghỉ mệt thì chợt gặp lửa cháy mạnh, xe ở dưới gió nên không thể thoát, choàng tỉnh thì lửa đã bén tới. Sư mới niệm chữ ‘Quán’, chưa kịp niệm chữ ‘Thế Âm’, tức thì theo tiếng niệm, gió liền đổi hướng, lửa liền tắt. Sư an ổn về chùa.
6.8.20. Sa-môn Pháp Trí: Khi chưa xuất gia, có lần sư đi vào đầm lớn một mình, gặp lửa dữ bốn bề cùng lúc lan đến. Biết mình chết chắc, sư úp mặt xuống đất, nhất tâm xưng niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm. Lát sau, lấy làm lạ không thấy lửa cháy đến, sư ngước đầu nhìn thì thấy có quanh đầm bị cháy không còn một cọng, chỉ còn lại chỗ sư đứng mà thôi. Nhân đây mà cảm ngộ nên sư bỏ tục xuất gia.
6.8.21. Sa-môn Đạo Tập: Một hôm, sư đi đến Sơn Tây, Thọ Dương thì bị hai tên cướp bắt bắt trói ở gốc cây muốn giết. Sư liều chết, chí thành niệm đức Quán Thế Âm không dừng nghỉ. Tên cướp khua đao chém nhiều lần, nhưng sư chẳng bị thương tổn, chúng sợ hãi bỏ chạy, sư thoát nạn.
6.8.22. Sa-môn Pháp Thiển: Một hôm sư lên núi thì gặp giặc, ý chúng cũng muốn giết, sư bèn niệmQuán Thế Âm. Chúng giương cung bắn, nhưng tên chẳng bay. Biết là thần nhân, chúng sợ hãi hối hận, ném cung bỏ chạy.
Có bài tụng:
Đấng Năng Nhân họ Thích
Quán căn cơ hạ sinh
Tối tôn trong các thánh
Là vua của đế vương
Giáo hóa chúng sinh an
Gội nhuần nước trong mát
Lòng từ dắt hàm linh
Khéo dẫn vào Trung đạo.
Ân trao đuốc tuệ lớn
Soi đêm tối cho con
Tùy cơ duyên biến hóa
Ai biết được tháng năm.
Đoái trông thì xa lắm
Cao tít tận thiên hà
Cứu độ nên hiện hình
Xót thương dừng thần lực.
Ba thừa đã hoằng hóa
Song lâm xả báo thân
Tạm gọi là niết-bàn
Chinh pháp vẫn còn mãi.
7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP
7.1. LỜI DÂN
Từng nghe: Vì tịch diệt bất động, nên không hình tướng, không ngôn từ; nhưng cảm thì liền thông, nên có danh tự, có giáo thuyết. Vì thế, thật dễ vào cõi tam thiên đang hừng hực cháy, nhưng khó được nghe một bài kệ bốn câu. Mong người tu hành trong đêm dài thanh vắng, dưới ánh trăng sáng, một mình lắng tâm, ngâm tụng kinh điển, âm giọng bổng trầm, văn tự rõ ràng, lời hay ý đẹp, âm điệu hài hòa, phù hợp lòng người, giúp sinh tâm thiện, lại cũng đủ khiến cho u linh phấn khởi, tinh thần an ổn. Nếu tụng tập làu thông, thấu suốt văn nghĩa, thiết tha chí thành đọc tụng thì sẽ thầm cảm. Phải thật biết rằng thụ trì một bài kệ sẽ được phúc đức rộng lớn, biên chép một câu kinh sẽ được công đức nhiều đời. Bởi thế, nên Ca-diếp cung kính thụ trì, chẳng tiếc lột da; Tát-đà tâm thành ưa thích, không từ tuôn máu. Đây là cửa đầu của niết-bàn, là đức cuối cùng để nhập đạo.
7.2. NGHE PHÁP
Kinh Phó pháp tạng ghi: “Đức Phật dạy:
- Tất cả chúng sinh muốn thoát khỏi biển cả sinh tử ba cõi, cần phải nhờ thuyền pháp. Pháp là gió mát xua tan hơi nóng phiền não. Pháp là thuốc tốt chữa lành bệnh kết phược. Pháp là thiện tri thức chân thật của chúng sinh, đem lại lợi ích lớn, giúp trừ các đau khổ. Vì sao? Vì tất cả chúng sinh đều có tâm tính bất định, tùy cảnh nhiễm mà tập thành tính. Như gần người thiện thì có tính thiện, ở gần người ác thì có tính ác. Nếu ở gần bạn ác, chúng sinh tạo nghiệp ác sẽ bị lưu chuyển trong sinh tử không có giới hạn. Nếu ở gần bạn tốt, chúng sinh khởi lòng tin kính, nghe và thụ trì diệu pháp, chắc chắn lìa được khổ đau trong ba đường. Do công đức ấy, người này được hưởng niềm vui bậc nhất”.
Xưa kia, con voi trắng của vua nước Hoa Thị có năng lực diệt trừ kẻ thù địch. Nếu ai phạm tội, nhà vua thường cho con voi ấy dẫm chết, về sau, vì chuồng voi bị chảy rụi, nhà vua cho dời nó đến gần một ngôi chùa. Từ đó, con voi thường được nghe các tì-kheo tụng kinh Pháp cú:
Làm lành sinh lên trời

Phần 5

Làm ác đọa địa ngục.
Được nghe pháp, tâm nó trở nên nhu hòa, hiền lành. Nhà vua sai đưa tội nhân đến chỗ nó, nó chỉ lấy mũi ngửi, lây lưỡi liếm, rồi bỏ đi, không chịu giết. Thấy thế, nhà vua hoảng sợ, liền gọi các quan vào triều cùng bàn bạc. Một vị quan hiểu rộng tâu:
- Con voi này ở gần chùa, được nghe diệu pháp nên mới như thế. Nay nên đem buộc nó ở gần lò mổ súc vật.
Nhà vua liền áp dụng theo lời tâu ấy. Con voi trắng nhìn thấy cảnh giết mổ, tâm nó trở nên hung ác, giết hại tàn bạo hơn trước.
Vì thế, nên biết tâm tính tất cả chúng sinh không cố định. Súc sinh còn như thế, nghe pháp thì hiền lành, thấy cảnh giết chóc thì tâm càng trở nên tàn độc, huống gì con người. Do đó, người trí thấy kẻ ác thì nên tránh xa, thấy người thiện thì nên gần gũi, siêng nghe kinh pháp.
Ngày xưa, có một bà-la-môn đem rất nhiều sọ người đến thành Hoa Thị rao bán khắp các đường phố, nhưng rao mãi mà chẳng có ai mua. Bà-la-môn hết sức giận dữ, cao giọng chửi:
- Người trong thành này thật tối tăm, ngu dốt. Nếu không ai đến mua sọ người của ta, thì ta loan truyền tiếng xấu!
Các cư sĩ nam trong thành nghe thấy thế, sợ bị chửi mắng, liền đem tiền đến mua sọ người. Họ dùng đũa đồng xuyên qua tai các sọ người. Nếu cái sọ nào xuyên qua được thì họ trả giá cao, cái nào xuyên được phân nửa thì trả giá thấp hơn, cái nào không xuyên qua được thì không trả tiền.
Người bà-la-môn nói:
- Những sọ người này đều giống nhau, tại sao lại trả giá khác nhau?
Các cư sĩấy đáp;
• Những cái sọ xuyên qua được là sọ của người lúc còn sống đã nghe và thụ trì diệu pháp, có trí tuệ cao xa, nên chúng tôi mua giá cao. Cái sọ nào xuyên qua dược một nửa lỗ sọ người tuy nghe kinh pháp, nhưng chưa hiểu rõ, nên chúng tôi trả giá thấp hơn. Còn cái nào không xỏ qua được đều là sọ của người ngày xưa không nghe kinh pháp, nên chúng tôi không mua.
Bấy giờ, các cư sĩ mang những sọ người ấy ra ngoài thành, xây tháp cúng dường, về sau, khi qua đời, tất cả các cư sĩ nam ấy đều được sinh lên trời. Bởi nhân duyên ấy, nên biết diệu pháp có công đức lớn. Những cư sĩ xây tháp cúng dường sọ của những người nghe pháp còn được sinh lên trời, huống gì người thường chí tâm nghe kinh pháp và cúng dường người cung kính thụ trì kinh. Phúc báo của người ấy thật khó kể xiết, chắc chắn đời vị lai sẽ thành tựu đạo vô thượng. Thế nên, người trí muốn được an lạc cùng tột, phải chí tâm và siêng năng nghe kinh pháp”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Ngày xưa, lúc Phật còn tại thế, trưởng giả Tu-đạt ở nước Xá-vệ rất kính tin Phật pháp, là đân việt cung cấp mọi thứ cần dùng cho chư tăng. Trong nhà ông có hai con chim anh vũ, một con tên Luật-để, con kia tên Xa-luật-đề. Chúng đều thông minh, hiểu tiếng người. Hễ thấy tì-kheo đến nhà, chúng luôn báo trước để người trong nhà ra đón tiếp.
về sau, ngài A-nan đến nhà ông Tu-đạt thấy hai con chim thông minh, bèn giảng cho chúng nghe pháp tứ đê. Nghe pháp xong, chúng bay lên cành cây trước nhà, vui vẻ tụng trì. Đêm ấy, chúng nghỉ trên cây, bị chồn ăn thịt, nhưng nhờ căn lành nghe pháp, chúng được sinh lên trời Tứ Thiên Vương. Khi hết tuổi thọ ở đó, họ sinh vào cõi trời Đao-lợi, hết tuổi thọ ở trời Đao-lợi, lại sinh vào cõi trời Dạ-ma; khi hết tuổi thọ ờ trời Dạ-ma, sinh vào cõi trời Đâu-suất; khi hết tuổi thọ ở trời Đâu-suất, họ sinh vào cõi ười Tha Hóa Tự Tại; khi hết tuổi thọ ở trời Tha Hóa Tự Tại, lại sinh vào cõi trời Hóa Lạc. Rồi lần lượt theo thứ lớp, họ sinh trở xuống đến cõi trời Tứ Thiên Vương; khi tuổi thọ ở trời này hết, họ lại lần lượt sinh trở lên đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Trải qua bảy lần sinh lên và xuống như thế trong sáu cõi trời Dục, họ tự do hưởng sự vui sướng đến hết tuổi thọ, không bị chết yểu. về sau, họ qua đời và sinh vào cõi người, xuất gia tu hành, thành bích-chi phật, một vị tên Đàm-ma, vị kia tên Tu-đàm ma”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Ngày xưa, lúc Phật còn tại thế, có một vị tì-kheo ở trong rừng thường xuyên tụng kinh. Giọng tụng của vị ấy thật thanh thoát. Bấy giờ, có một con chim nghe tụng pháp, sinh lòng kính mến, thường đậu trên cây để lắng nghe. Một hôm, chim bị thợ săn bắn chết. Nhờ căn lành nghe pháp ấy, nó được sinh lên trời Đao-lợi, làm vị thiên tử có dung mạo xinh đẹp, hào quang rực rỡ không ai sánh bằng. Tựbiết túc mạng của mình nhờ nghe tì-kheo tụng kinh pháp nên được sinh vào cõi trời này, vị thiên tử liền đến chỗ tì-kheo kia cung kính lễ lạy, thăm hỏi, dâng hương và hoa thơm cõi trời cúng dường. Vị tì-kheo kia hỏi rõ và biết sự việc, liền bảo vị trời ấy ngồi xuống và giảng cho nghe pháp, khiến vị trời ấy chứng được quả Tu-đà-hoàn.
Loài cầm thú nghe pháp còn được phúc báo vô biên, huống gì người tín tâm nghe pháp, lẽ nào không được quả báo lành!”.
Luật Thiện kiến ghi: “Thuở xưa, lúc còn tại thế, một lần Đức Phật đến bên ao Già-la ở nước Chiêm-ba-la giảng pháp cho mọi người nghe. Khi ấy, có một con cóc ở trong ao nghe tiếng Phật giảng pháp, bèn ra khỏi ao, chui vào bụi cỏ để nghe. Cùng lúc ấy, có một người cầm gậy chăn bò, thấy Đức Phật đang ngồi giảng pháp cũng đến lắng nghe. Khi chống gậy xuống đất, vô tỉnh trúng vào đầu cóc, khiên nó chêt ngay và được sinh lên trời Đao-lợi. Nhờ phúc báo, vị trời ấy được hưởng hạnh phúc cùng với các thiên nữ trong cung điện dài và rộng đến mười hai do-tuần. Vị trời ấy từ cung điện xuống đến chỗ Đức Phật, lạy sát chân Phật. Đức Phật đã biết nhưng vẫn hỏi:
- Ngươi là ai, tại sao có thần thông, tướng hảo và phóng ánh sáng rực rỡ chiếu đến chỗ này, lại bỗng nhiên đến lễ chân Ta?
Vị trời ấy đáp bằng kệ:
Ngày xưa là thân cóc,
Kiếm ăn trong ao nước,
Nghe tiếng Phật giảng pháp,
Con chui vào bụi cỏ.
Có một người chăn bò,
Cầm gậy đến nghe pháp,
Cắm gậy nhầm đầu con,
Con chết, sinh lên trời.
Vị trời nói kệ xong, Đức Phật giảng bài kệ ấy cho tứ chúng nghe. Bấy giờ, tám mươi bốn nghìn người đều kiến đạo, vị trời chứng được quả Tu-đà-hoàn. Tất cả đều vui vẻ lui ra”.

Phần 6

73. CẦU PHÁP
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Ngày xưa, có một phụ nữ thông minh, hiểu biết rộng, tin sâu Tam bảo, thường theo thứ tự thỉnh từng vị tì-kheo đến nhà để cúng dường, về sau, đến lượt vị tì-kheo già đến nhà người phụ nữ ấy. Vị ấy lớn tuổi, căn tính chậm lụt, thiếu hiểu biết. Sau khi vị tì-kheo thụ trai xong, người phụ nữ chỉ tâm cầu được nghe pháp, nên trải thảm ngồi trước mặt vị tì-kheo, nhắm mắt yên lặng. Tự biết mình không biết thuyết pháp, nhân lúc nữ thí chủ đang nhắm mát, vị tì-kheo già vội bỏ về chùa. Nữ thí chù lắng tâm tư duy pháp hữu vi vô thường, khổ,không, vô ngã. Nhờ quán sát sâu, người phụ nữ liền chứng quả Tu-đà-hoàn.
Sau khi chứng quả, người phụ nữ đến chùa tìm vị tì-kheo kia để báo ân. Vị tì-kheo kia tự xét mình không có trí tuệ, nên lại tránh mặt người phụ nữ ấy. Càng hổ thẹn, vị tì-kheo càng ẩn kín, song người phụ nữ thiết tha xin gặp mặt, bất đắc dĩ vị tì-kheo kia đành phải ra gặp. Gặp được vị tì-kheo rồi, người phụ nữ trình bày nhân duyên chứng đạo quả, nên mang lễ vật đến cúng dường để báo ân. Nghe vậy, vị tì-kheo vô cùng hổ thẹn, tự trách mình rất nghiêm và cũng chứng được quả Tu-đà-hoàn.
Vì thế, hành giả phải nên chú tâm, chân thành cầu pháp. Nếu chí tâm thì chắc chắn đạt được điều mong cầu”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Phật nói:
- Nhớ lại, vào thuở quá khứ, Ta là một bà-la-môn tu hanh Bồ-tát ở Tuyết sơn. Bấy giờ, thế gian không có Phật, cũng không có kinh pháp. Lúc ấy, Đế Thích thấỵ bồ-tát một mình ở trong núi tu các hạnh khổ, liền xuống thử. Đế Thích biến thành hình la-sát rất đáng sợ, đứng trước bồ-tát nói nửa bài kệ:
Các hành vô thường
Là pháp sinh diệt.
Nòi kệ xong la-sát nhìn khắp bốn phương. Bồ-tát nghe kệ lòng vui mừng, liền từ chồ ngồi dứng dậy, lấy tay vén tóc, nhìn khắp bốn phương nhưng không thấy người nào khác, chỉ thấy la-sát, liền hỏi:
- Từ đâu đại sĩ có nửa bài kệ ấy? Nghĩa của nửa bài kệ ấy là chính đạo của chư Phật ba đời.
La-sát đáp:
- Ông chẳng nên hỏi, tôi không ăn đã nhiều ngày. Tuy đi khắp nơi để kiếm mà chẳng được. Tôi đói khát khô não, tâm loạn nên nói lời xăng bậy, chứ chăng phải là điều thật tâm tôi biết.
Bồ-tát lại nói:
- Nếu ông vì tôi nói hết bài kệ thì tôi trọn đời sẽ làm đệ tử ông.
La-sát đáp:
- Trí tuệ của ông cao siêu quá, chỉ lo cho mình mà không nghĩ đến tôi. Tôi nay đói khát không thể nói được.
Bồ-tát lại nói:
- Ông ăn gì?
Đáp: Tôi chi ăn thịt người sống và máu nóng của họ.
Bồ-tát nghe thế liền nói:
- Nếu ông nói hết bài kệ tôi sẽ dâng thân mình cho ông.
La-sát bảo:
- Ai tin được lời ông, chi vì tám chữ mả xả thân yêu quí của mình sao?
Bồ-tát nói:
- Nay chư Phật, bồ-tát, Phạm thiên, Đế Thích, bốn vị thiên vương có thể làm chứng cho tôi.
La-sát nghe thế chấp nhận nói kệ. Bồ-tát vui mừng, liền cởi áo da, trải pháp tòa rồi bạch:
- Xin hòa thượng hãy ngồi lên tòa này mà thuyết pháp.
La-sát nói:
Sinh diệt đã diệt
Tịch diệt an lạc.
Nghe kệ xong, bồ-tát tập trung suy niệm, rồi chép bài kệ này lên khắp vách đá và thân cây. Sau đó, bồ-tát leo lên cây cao để gieo thân xuống. Lúc chưa đến mặt đất, từ không trung phát ra vô số âm thanh, la-sát hiện lại thân Đế Thích đỡ lấy bồ-tát đặt chỗ đất bằng, rồi sám hối, đỉnh lễ, từ tạ mà đi. Do bốn câu kệ mà xả thân, nên Ta vượt qua mười hai kiếp, thành đạo Vô thượng trước bồ-tát Di-lặc”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Đức Phật nói:
- Ta nhớ vô lượng na-do-tha kiếp quá khứ, ở Ta-bà thế giới này có Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni xuất thế nói kinh Niết-bàn cho chúng sinh. Lúc ấy, Ta nghe kinh Đại Niết-bàn thông qua một người bạn, trong lòng vui mừng, muốn được cúng dường. Nhưng vì nhà nghèo không có tài vật, nên bán thân lấy tiền; lạido phúc mỏng, nên cũng chẳng ai mua. Trên đường trở về, gặp một người, Ta liền hỏi:
- Tôi muốn bán thân, anh có mua không?
Người ấy đáp:
- Những công việc ở nhà tôi, không ai kham nổi, bởi tôi có một căn bệnh mà lương y bảo hằng ngày phải ăn ba lạng thịt người. Nếu ông hằng ngày có thể lấy thịt của mình cho tôi ba lạng, tôi sẽ trả ông năm đồng tiền vàng.
Ta nghe vậy, lòng vui mừng nói:
- Cho tôi bảy ngày để làm xong việc rồi sẽ gặp ông.
Người ấy nói:
- Cho ông một ngày thôi!
Ta liền lấy tiền đi đến chỗ Phật, đỉnh lễ cúng dường, sau đó thành tâm thụ trì kinh này. Lúc ấy Ta ngu tối chỉ thụ trì một bài kệ:
Như Lai chứng Niết-bàn
Vĩnh viễn đoạn sinh tử
Nếu lòng thành nghe pháp

Phần 7

Được an vui vô lượng.
Ta thụ trì bài kệ xong, liền đến nhà người bệnh. Tuy hằng ngày bị cắt ba lạng thịt, nhưng vì niệm kệ nên ta không thấy đau. Ta cắt thịt đều đặn như vậy trong vòng một tháng thì bệnh của người ấy cũnglành. Lúc ấy, Ta thấy thân mình tự nhiên bình phục như cũ, liền phát tâm bồ-đề, nguyện đời sau, khi thành Phật cũng có hiệu Thích-ca Mâu-ni. Do nhân duyên như thế, nên nay Ta thành Phật cũng có hiệu như vậy”.
Kinh Tập nhất thiết phúc đức tam-muội ghi: “Vào đời rất xa xưa, tiên Tối Thắng sống trong rừng núi, chứng được năm thần thông, thường thực hành tâm từ. Một hôm, vị tiên nghĩ: ‘Không phải chỉ có tâm từ mới cứu giúp chúng sinh, học rộng cũng có khả năng giúp chúng sinh trừ sạch tà kiến, phiền não, phát sinh chính kiến’. Nghĩ xong, vị tiên liền đi khắp các xóm làng, thành thị, tìm cầu thầy giảng pháp.
Bấy giờ, thiên ma đến bảo:
- Ta có một bài kệ do Phật giảng. Nay nếu ông có thê lột da làm giấy, trích máu làm mực, chẻ xương làm bút để chép bài kệ ấy thì ta sẽ nói cho ông nghe.
Nghe xong, vị tiên suy nghĩ: ‘Trong vô số kiếp ta đã thường hoang phí cắt xẻ thân mình cho người khác, chịu khổ vô cùng mà chẳng được lợi ích gì. Nay ta sẻ xả bỏ thân không bền chắc này để đổi lấy pháp bền chắc’. Thế rồi, vị tiên vui vẻ dùng dao lột da làm giấy, chích máu làm mực, chẻ xương làm bút, rồi chắp tay hướng lên trời xin nói cho nghe bài kệ của Phật. Trông thấy thế, thiên ma buồn rầu ủ rũ, ẩn mất. Thấy vậy, vị tiên nói:
- Tôi nay vì pháp không tiếc mạng sống, đã lột da làm giấy, chích máu làm mực, chẻ xương làm bút. Vì chúng sinh, tôi chí thành không giả dối. Có bậc đại từ bi nào trong các thế giới khác có khả năng thuyết pháp, xin hãy hiện trước mặt tôi!
Khi vị tiên nói những lời ấy xong, bỗng trước mặt hiện ra Đức Phật Tịnh Danh Vương ở cõi Phổ Vô Cấu cách cõi Ta-bà ba mươi hai cõi nước về phương đông. Đức Phật phóng hào quang rực rỡ chiếu sáng thân tiên Tối Thắng.
Vị tiên liền hết đau đón, thân thể lành lặn như trước. Đức Phật liền giảng cho tiên Tối Thắng nghe Tập nhất thiết tam-muội. Nghe xong, tiên Tối Thắng liền được Vô ngại biện tài và Đức Phật ấy cũng biến mất. Sau khi được Vô ngại biện tài, tiên Tối Thắng giảng nói diệu pháp khắp nơi cho chúng sinh nghe, khiến vô lượng chúng sinh trụ nơi ba thừa. Một nghìn năm sau, tiên Tối Thắng qua đời và được sinh vào cõi nước Phổ Vô cấu của Đức Phật Tịnh Danh Vương. Nhờ tôn kính pháp nên nay tiên Tối Thắng đã được thành Phật.
Đức Phật bảo ngài Tịnh Uy:
- Tiên Tối Tháng xưa kia chính là Ta.
Vì thế, nên biết, nếu có người thường cung kính cầu pháp, Phật sẽ vì người ấy mà không vào niết-bàn, pháp cũng không hoại diệt. Tuy Đức Phật ở cõi nướckhác, nhưng người ấy vẫn thường được diện kiến Ngài và được nghe chính pháp”.
7.4. ĐƯỢC PHÚC
Kinh Phổ diệu ghi: “Nếu có người nghe kinh điển này mà chắp tay tự qui y thì lìa bỏ được gốc của tám tâm biếng nhác, thành tựu tám công đức:
1. Dung mạo xinh đẹp.
2. Sức lực mạnh mẽ.
3. Quyến thuộc đông đảo.
4. Mau được vô lượng biện tài.
5. Học tập nhanh, được xuất gia.
6. Việc làm thanh tịnh.
7. Đạt được tam-muội.
8. Trí tuệ sáng suốt, hiểu biết tất cả,
Nếu có pháp sư trải tòa đọc tụng kinh này thì được tám điều phúc về tòa ngồi. Đó là:
1. Được tòa trưởng giả.
2. Được tòa chuyển luân vương.
3. Được tòa của thiên đế.
4. Được tòa của trời Tự Tại.
5. Được tòa của a-la-hán.
6. Được tòa của bồ-tát.
7. Được tòa của Như Lai.
8. Được tòa chuyển pháp luân độ thoát tất cả chúng sinh.
Khi pháp sư giảng thuyết pháp này, người nào ca ngợi: “Quí thay!” sẽ được tám hạnh thanh tịnh:
1. Nói và làm hợp nhau, không trái nghịch.
2. Nói lời chân thật, không hư vọng.
3. Tâm thành, không giả dối ở trong chúng hội.
4. Nói điều gì cũng được người tin, không vứt bỏ.
5. Chỉ nói những lời êm dịu, không thô tháo.
6. Giọng nói từ hòa, cảm động người.
7. Thân tâm thuận thời, giọng nói như Phạm âm, mọi người nghe đều lãnh thụ được.
8. Giọng nói giống như giọng Phật, làm cho tâm chúng sinh được an vui.
Nếu người biên chép kinh điển này, sẽ được tám tạng:
1. Được Ý tạng, chưa từng quên sót.
2. Được Tâm tạng, hiểu biết rõ mọi kinh pháp.
3. Được Vãng lai tạng, thông hiểu tất cả kinh pháp của Phật.
4. Được Tổng tri tạng, ghi nhớ tất cả những điều nghe được.
5. Được Biện tài tạng, giảng giải kinh điển cho chúng sinh nghe.

Phần 8

6. Được Thâm pháp tạng, hộ trì chính pháp.
7. Được Đạo ý pháp tạng, chưa từng đoạn dứt giáo pháp của Tam bảo.
8. Được Phụng hành pháp tạng, mau chóng được Vô sinh nhẫn”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Giả sử có người dùng mực nhiều như nước biển, dùng bút chất cao như núi Tu-di để chép ý nghĩa trong một câu của mỗi phẩm, mỗi một pháp môn, mỗi một phương tiện còn không thể hết, huống là toàn bộ kinh”.
Luận Đại thừa trang nghiêm ghi: “Các vị bồ-tát đối với pháp Đại thừa cần có mười chính hạnh:
1. Biên chép.
2. Cúng dường.
3. Lưu truyền.
4. Lắng nghe và thụ trì.
5. Xem đọc.
6. Dạy cho người khác.
7. Tụng làu thông.
8. Giải nói nghĩa lí.
9. Tư duy phân biệt.
10. Tu tập.
Mười chính hạnh này có thể sinh vô lượng công đức”.
Luận Trung biên phân biệt ghi: “Người tu tập Đại thừa có mười việc:
1. Biên chép.
2. Cúng dường.
3. Truyền trao người khác.
4. Nhất tâm lắng nghe người khác đọc tụng.
5. Tự mình đọc tụng.
6. Hiểu rõ tên gọi, ý vị, câu, nghĩa đúng đạo lí.
7. Diễn nói đúng đạo lí các tên gọi, câu, chữ và ý vị.
8. Chính tâm lắng nghe đọc tụng.
9. Ở chỗ vắng như đạo lí mà tư duy ý nghĩa.
10. Đã thấu đạt ý kinh thì không lui sụt”.
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Lại nữa, Xá-lợi tử! Những thiện nam, thiện nữ nào thụ trì kinh này, chú tâm lắng nghe, đọc tụng, hiểu được nghĩa lí, cho đến giảng rộng cho người khác nghe thì được mười công đức ca ngợi:
1. Thành tựu trí tuệ thông mẫn nhanh nhạy.
2. Thành tựu trí tuệ biện luận nhanh chóng.
3. Thành tựu trí tuệ sắc bén mạnh mẽ.
4. Thành tựu trí tuệ ứng đối nhanh chóng
5. Thành tựu trí tuệ rộng lớn.
6. Thành tựu trí tuệ sâu xa.
7. Thành tựu trí tuệ thông đạt.
8. Thành tựu trí tuệ không trụ chấp.
9. Hiện đời thấy đuợc tất cả Nhu Lai, dùng những lời hay để tán thán.
10. Nguời ấy khéo như lí mà thưa hỏi Như Lai, lại có thể như lí mà giải mở các điều nghi.
Xá-lợi tử! Đó gọi là đạt được mười công đức ca ngợi lợi ích.
Lại nữa, Xá-lợi tử! Những thiện nam, thiện nữ ấy, thụ trì đọc tụng, hiểu đuợc nghĩa lí, cho đến diễn nói phân biệt cho người khác nghe thì đuợc mười công đức xung tán lợi ích khác:
1. Thường thích xa lìa bạn ác.
2. Thường ưa thân cận thiện trí thức.
3. Không bị các ma trói buộc.
4. Phá tan quân trận của ma.
5. Luôn quở trách, nhàm lìa tất cả phiền não.
6. Thường buông xả hết thảy tâm hành.
7. Ngược với những pháp hướng về đường ác.
8. Tùy thuận tất cả pháp hướng về con đường niết-bàn.
9. Khéo thuyết tất cả pháp thanh tịnh, vượt qua sinh tử.
10. Khéo học tất cả phép tắc hành trì của bồ-tát”.
Chương Độ vô cực trong Lục độ tập kinh ghi: “Ngày xưa, có một vị tì-kheo tinh tiến thụ trì giáo pháp, thường xuyên tụng kinh Bát-nhã ba-la-mật. Nghe tiếng tụng kinh của vị ấy, người nào cũng vui mừng. Có một đứa bé mới bảy tuổi hằng ngày chăn dê ở ngoài thành, nghe tiếng tụng kinh của tì-kheo ấy từ xa vọng lại, liền đến tinh xá lễ bái và lắng nghe. Đến đoạn nói về sắc và không, đứa bé liền tỏ ngộ. Nó hỏi vi tì-kheo, nhưng vị ấy không trả lời được. Ngược lại, đứa bé còn giảng cho vị tì-kheo ấy nghe nghĩa lí mà trước đó vị ấy chưa từng được nghe. Vị tì-kheo rất ngạc nhiên về trí tuệ phi phàm của đứa bé.
Sau đó đứa bé từ giã vị tì-kheo ra về, khi lùa đàn dê đến chân núi, đứa bé bỗng bị một con cọp ăn thịt. Sau khi qua đời, đứa bé sinh vào một gia đình trường giả. Lúc mang thai, vợ ông trưởng giả tự nhiên đọc tụng thông thuộc kinh Bát-nhã,suốt từsáng đến tối không ngơi nghỉ. Gia đình ông trưởng già ẩy ngạc nhiên, đều cho là bà ta bị ma ám. Bấy giờ, một vị tì-kheo đi ngang qua nghe tiếng tụng kinh, lòng rất vui mừng, bảo ông trưởng giả: Phu nhân không phải bị bệnh ma ám, chỉ là đang đọc một bộ kinh tônquí’. Vợ ông trường giả ra lạy chào vị tì-kheo, đồng thời, giải nói những điều nghi ngờ cho vị ấy. Khi đủ ngày tháng, bà sinh một bé trai, vừa ra đời, đứa bé liên chắp tay, quì thẳng, tụng kinh Bát-nhã Ba-la-mật. Còn vợ trưởng giả, sau khi sinh liền trở lại bình thường như xưa.

Phần 9

Vị tì-kheo bảo bà:
- Đứa bé này là đệ tử chân chính của Phật, bà hãy nuôi nấng và chăm sóc tốt. Sau khi trưởng thành, nó sẽ làm thầy của tất cả mọi người. Chúng ta cũng sẽ theo nó tu học.
Khi lên bảy tuổi, đứa bé đã lĩnh hội đầy đủ đạo pháp, hiểu biết vượt xa mọi người, đạt được trí Bát-nhã ba-la-mật, có thể hiệu đính được tất cả những nhầm lẫn trong kinh sách. Đi đến đâu, đứa bé cũng thường xuyên giáo hóa mọi người. Tất cả năm trăm người già trẻ, gái trai trong nhà ông trưởng giả đều học đạo với đứa bé, tám mươi bốn nghìn người đã phát tâm Vô thượng chính chân đạo ý, năm trăm tì-kheo nghe đứa bé giảng đều được lậu tận ý giải, dốc lòng cầu Đại thừa, được pháp nhãn tịnh.
Đứa bé ấy nay chính là Ta, vị tì-kheo kia chính là Phật Ca-diếp”.
Kinh Xá-lợi-phất xử ghi: “Khi mang thai Xá-lợi-phất, mẹ ông ấy cũng trở nên thông minh”.
Cao tăng truyện ghi: “Khi mang thai Cưu-ma-la-thập, mẹ ngài trở nên thông minh. Trước đó, hàng ngày bà tụng thuộc lòng một nghìn bài kệ, nhưng khi mang thai, hàng ngày bà tụng thuộc được hai nghìn bài kệ. Đầu tiên, bà chứng quả Tu-đà-hoàn, sau đó bà chứng quả Tư-đà-hàm”.
7.5. PHÁP SƯ
Kinh Thắng thiên vương chép: “Nếu nơi nào có pháp sư truyền bá kinh này, thì đó là nơi Như Lai đến. Phải xem vị pháp sư ấy là thiện tri thức, phải tôn trọng vị ấy giống như Phật; phải cung kính vui mừng, tôn trọng ngợi khen”.
Kinh còn ghi: “Dù Ta trụ thế trong một kiếp hay ít hơn một kiếp, cũng không thể nói hết công đức của pháp sư truyền bá kinh này. Mặt đất nơi pháp sư sắp đi qua, thiện nam và thiện nữ nên trích máu tưới lên để ngăn bụi. Cúng dường như thế cũng chưa đáng cho là nhiều, bời pháp của Như Lai thật khó thụ trì”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Giống như chim vua cánh vàng trụ trong hư không, dùng mắt sáng nhìn thấy cung điện của long vương ở biển lớn, rồi dùng sức mạnh quạt cánh rẽ nước, bắt hết những rồng nam rồng nữ mạng tận trong cung điện. Như Lai Ứng Cúng, Đẳng Chính Giác cũng giống như chim vua cánh vàng, an trụ vô ngại trên hư không, dùng mắtthanh tịnh quan sát tất cả chúng sinh trong pháp giới. Nếu người nào thiện căn đã thành thục, Như Lai liền dùng đôi cánh mười lực và chỉ quán quạt mạnh, rẽ nước biển ái sinh tử, giúp những chúng sinh đáng được cứu thoát khỏi biển sinh tử, trừ diệt tất cả vọng tưởng điên đảo và an trí họ nơi hạnh vô ngại của Như Lai”
Kinh Niết-bàn ghi: “Không hề có thiện nam hay thiện nữ nào nghe được kinh này mà còn sinh vào bôn đường ác. Nếu có chúng sinh nghe qua kinh này một lần, thì tất cả tội ác đều trừ sạch, ngay cả nghiệp tội địa ngục Vô Gián”.
Kinh cũng ghi: “Nếu chúng sinh nào nghe được kinh này một lần, trong bảy kiếp sau đó sẽ không đọa vào đường ác. Nếu chúng sinh nào biết được Như Lai thường trụ không biến đổi, hoặc nghe được hai tiếng ‘thường trụ’ một lần, thì sau khi chết được sinh lên trời. Đến lúc giải thoát, chứng biết được Như Lai thường trụ không biến đổi”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Nếu nghe một câu pháp chưa từng được nghe thì quí hơn tất cả châu báu trong cõi tam thiên đại thiên. Bồ-tát ấy được nghe một bài kệ chính pháp mà khởi tưởng là pháp tài vô thượng, thì còn quí hơn cả được ngôi Chuyển luân thánh vương”.
Kinh Pháp hoa ghi: “Nấu thiện nam hay thiện nữ nào thụ trì kinh Pháp hoa này, rồi hoặc đọc, tụng, hoặc giảng giải, hoặc biên chép, người ấy sẽ được tám trăm công đức về mắt, một nghìn hai trăm công đức về tai, tám trăm công đức về mũi, một nghìn hai trăm công đức về lưỡi, tám trăm công đức về thân, một nghìn hai trăm công đức về ý”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Sau khi Ta vào niết-bàn, nếu người nào nghe được kinh điển Đại thừa vi diệu mà sinh lòng kính tin, thì trong trăm nghìn ức kiếp vị lai sẽ không đọa vào đường ác.
Nếu ai đối trước một hằng sa Đức Phật phát tâm kính tín, thì trong đời ác về sau sẽ không phỉ báng mà lại ưa thích kinh này, nhưng không thể giảng nói đầy đủ cho người nghe.
Nếu ai đối trước hai hằng sa Đức Phật phát tâm kính tin, thì trong đời ác về sau sẽ không phỉ báng pháp này, mà lại tin hiểu đúng đắn, ưa thích thụ trì tụng đọc, nhưng cũng không thể giảng nói cho người nghe.
Nếu ai đối trước ba hằng sa Đức Phật phát tâm kính tin, thì trong đời ác về sau sẽ không phỉ báng mà còn biên chép kinh này. Tuy có thể giảng giải cho người khác nghe, nhưng vẫn không hiểu nghĩa lý sâu xa trong kinh.
Nếu ai đổi trước bốn hảng sa Đức Phật phát tâm kính tin, người ấy trong đời ác về sau sẽ không phỉ báng mà còn biên chép, đồng thời có thể giảng được một phần mười sáu nghĩa kinh.
Nếu ai đối trước năm hằng sa Đức Phật phát tâm kính tin, thì trong đời ác về sau sẽ giảng giải được tám phần mười sáu nghĩa kinh.
Nếu ai đổi trước sáu hằng sa Đức Phật phát tâm kính tin, thì đến đời ác về sau sẽ giảng giải được mười hai phần mười sáu phần nghĩa kinh.
Nếu ai đối trước bảy hằng sa Đức Phật phát tâm kính tin, thì đến đời ác về sau sẽ giảng giải được mười bốn phần mười sáu nghĩa kinh.
Nếu ai đối trước tám hằng sa Đức Phật phát tâm kính tin, thì đến đời ác về sau sẽ biên chép, khuyên người thụ trì, tu hành đúng như kinh, hiểu và giảng giải được hết mọi nghĩa lí của kinh này”.
7.6. TỘI PHỈ BÁNG
Nay đời mạt pháp, chính đạo bị người diễn sai, tăng tục dối gạt nhau, truyền bá những điều lầm lẫn, ngược với chân lí. Lại còn tu tập hỗn tạp, không học nội điển, chỉ tin sách thế gian. Dầu có sao chép kinh điển thì lòng họ cũng không tha thiết, không giữ kinh sách thanh tịnh, lại còn làm nhiều việc xằng bậy, ngủ nghỉ chung với kinh sách, hoặc bỏ mặc kinh sách ngoài hiên nhà cho mưa gió, mối mọt hủy hoại mà chẳng sợ tội lỗi, khiến cho kinh điển không còn linh nghiệm, đọc tụng không còn lợi ích cứu khổ nữa. Đóđúng là do người biên chép không thiết tha và cũng do chúng ta quá xem thường kinh điển.
Vì thế, kinh Kính phúc ghi: “Này thiện nam! Đối với pháp kinh sinh, các ông không được đảo lộn, xóa bỏ, hoặc sửa chữa, dù chỉ một chữ. Nếu không, sẽ bị đọa trong đường mê năm trăm đời không được nghe chính pháp”.
Kinh Đại tập ghi: “Nếu có chúng sinh trong đời quá khứ đã tạo các nghiệp ác, hoặc hủy hoại Phật pháp, hoặc phỉ báng bậc thánh, gây chướng ngại cho người thuyết pháp, hoặc tẩy xóa văn tự trong khi sao chép kinh pháp, hoặc phá hoại các pháp

Phần 10

khác, hoặc che giấu kinh khác, do những nghiệp duyên đó, người ấy nay sẽ mắc phải quả báo mù lòa”.
Kinh Đại Bát-nhã, quyển mưòi bốn ghi: “Đức Phật dạy:
- Này các thiện nam, thiện nữ! Khi biên chép kinh Bát-nhã Ba-la-mật sâu xa, nếu vươn vai miệng ngáp, cười đùa vô cớ, xem thường hủy nhục, thân tâm xao động, đảo lộn văn từ, nhầm lẫn nghĩa lí, không đạt chì thú, gặp việc bỏ ngang, không biên chép xong, đó đều là ma sự của bồ-tát”.
Kinh Đại thừa liên hoa tạng ghi: “Người nhận lãnh giới cấm của Phật mà không giữ gìn, về sau lại tựcho mình đúng, không hiểu pháp Đại thừa, lại tự khoe mình lĩnh hội được Phật pháp, thì sẽ chịu khổ không kể xiết trong địa ngục Thiết Thươmg. Khi thoát khỏi địa ngục, người ấy phải làm người ngọng, câm, đui, điếc, không được gặp chính pháp”.
Luận A-nan thỉnh giới ghi: “Tăng ni hoặc cư sĩ nào khi xem đọc kinh, luật, luận mà vừa bước đi, vừa nói chuyện, tay lật kinh quyển thì phạm trọng tội Đột-cát-la, sẽ chịu quả báo làm loài làm hươu nai trong hai ức năm theo thời gian của trời Đao-lợi, thường bị bẻ gãy xương sống, đau đớn không chịu nổi. Người vô tình nói đùa trong lúc cầm sách kinh, luật, luận thì cũng chịu quả báo như trên. Nếu người để kinh và tượng ngoài hiên nhà thì phạm trọng tội Đột-cát-la, sẽ chịu quả báo sinh trong loài súc sinh, làm thân chó lợn, trong hai ức năm theo thời gian trời Đao-lợi. Sau đó, nếu được làm người thì trong một ức năm phải thường làm thuê mướn, lao nhọc, không được tự do”.
Kinh Đại phẩm ghi: “Người hủy báng ba đời chư Phật nhất thiết trí, tạo nghiệp phá pháp, sẽ phải đọa địa ngục lớn trong vô lượng năm. Sau đó thoát khỏi địa ngục lớn này, lại vào địa ngục lớn khác.
Nếu kiếp hỏa ở cõi này dấy lên thì họ sinh vào địa ngục lớn ở phương khác. Ở nơi ấy, họ lại phải vào địa ngục lớn này đên địa ngục lớn khác. Cứ như thế, họ phải vào địa ngục khắp trong mười phương. Nếukiếp hỏa dấy lên ở các nơi kia, họ chết đi, nhưng vì nghiệp duyên phá pháp chưa hết, nên họ phải sinh lại địa ngục ở cõi này, cũng từ địa ngục lớn này đến địa ngục lớn khác chịu vô lượng khổ đau. Khi kiếp hỏa dấy lên ở nơi này, họ lại sinh vào loài súc sinh ở cõi khác trong mười phương, chịu quả báo đau khổ do nghiệp tội phá pháp. Nếu thoát khỏi địa ngục, tội nặng chuyển thành nhẹ, có thể họ được làm người, nhưng sinh trong gia đình mù lòa, gia đình chiên-đà-la, các gia đình hèn hạ chuyên dọn rửa nhà xí, gánh thây người; hoặc sinh làm người một mắt, không mắt, .hoặc bị mù, không có lưỡi, không tai, không tay, sinh nơi không có Phật, không có pháp, không có đệ tử Phật. Vì sao? Vì họ đã gieo trồng, chất chứa nghiệp phá pháp quá sâu dày”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Nếu người không tin kinh điển này, trong hiện đời họ sẽ bị vô lượng bệnh khổ hành hạ, bị nhiều chúng sinh nhục mạ. Sau khi chết, họ trở lại làm người, thì bị mọi người khinh thường, dung mạo xấu xí, vất vả kiếm sống, thường xuyên thiếu thổn, dẫu kiếm được chút vật thực thì cùng là thứ thô dở, hư thối.
Người ấy thường ở trong gia đình nghèo túng, hèn hạ, tà kiến, phỉ báng chính pháp. Lúc sắp chết lại gặp cảnh chiến tranh loạn lạc, bị vua chúa bạo ngược hay kẻ oán thù bức hại; dầu có bạn tốt, cũng khôngđược. Tuy có được chút ít lợi lộc, nhưng cùng thường bị đói khát. Chỉ được nhừng người thấp hèn quan tâm, không được vua chúa và các quan lớn đoái hoài. Giả sử người ấy nói, dù là điều hợp lí chăng nữa, cũng chẳng ai tin theo. Giống như chim gãy cánh không bay được. Người như thế không thể sinh vào cõi trời, cõi người.
Nếu có người tin được kinh điển Đại thừa, dẫu thân thể xấu xí, nhưng nhờ công đức kính tin kinh ấy, nên cũng sẽ trở nên xinh đẹp, dung mạo, nhan sắc và sức khoẻ ngày càng tốt hơn, được mọi người và trời ưa thích gặp gỡ, kính trọng, mến mộ; vua chúa, các quan lớn và gia quyến cung kính tin nghe. Trong các đệ tử thanh văn của Ta, nếu ai muốn thực hiện việc hiếm có bậc nhất, thì phải giảng dạy rộng rãi kinh Đại thừa này cho người đời nghe.
Này thiện nam! Sương mù tuy muốn bền lâu, nhưng không thể tồn tại dưới ánh mặt trời. Khi mặt trời xuất hiện, sương mù sẽ tan. Này thiện nam! Ác nghiệp của chúng sinh cũng như thế, dẫu có sức mạnh trụ ở đời thế nào đi nữa, cũng không thể tồn tại trước mặt trời đại niết-bàn. Khi xuất hiện, mặt trời ấy sẽ tiêu diệt sạch tất cả ác nghiệp”.
Kinh Pháp hoa ghi: “Nay các ông hãy lắng nghe! Dù Phật còn tại thế hay đã diệt độ, những kẻ phỉ báng kinh điển thấy người đọc tụng, hoặc biên chép, thụ trì kinh Đại thừa mà khinh thường, ganh ghét, thù hận,thỉ những kẻ ấy sau khi chết phải đọa địa ngục A-tì trọn một kiếp. Hết một kiếp rồi lại sinh trở lại địa ngục, cứ lần lượt như thế cho đến vô số kiếp. Sau đó, được ra khỏi địa ngục, người ấy sẽ phải đọa làm súc sinh, trong vô số kiếp vừa sinh ra liền bị câm điếc, thiếu các căn.
Xá-lợi-phất! Nếu nói tội của người phỉ báng kinh này thì trọn các kiếp cũng không hết được”.
Có bài tụng:
Giáo pháp truyền ba tạng
Từ bi dạy tâm nhân
Hàm linh đều nhuần thấm
Tùy cơ ngộ đạo mầu.
Sáng rực như nắng hạ
Ấm áp tựa khí xuân
Như cây khô lâu ngày
Ánh sáng chiếu tâm an.
Cuộn lại tức nạp phúc
Mở ra thì tuệ khai
Càng tư duy nghĩa lí
Càng thêm được lợi ích.
Đáng tôn đức Từ Phụ
Mĩ hiệu là Năng nhân
Giáo thuyết Chu Khổng, Lão
Chẳng thể nào sánh bằng!

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục