Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO

06/11/2015

QUYỂN 22 Quyển này có một chương Nhập đạo. 13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO 13.1. LỜI DẪN Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến...

PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO
Phần 1

QUYỂN 22
Quyển này có một chương Nhập đạo.
13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO

13.1. LỜI DẪN
Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến phép tắc lễ nghi. Người xuất gia cắt ái từ thân, từ bỏ vinh hoa quyền thế, tiết chế vị ngon, dùng món đạm bạc, tu tập khổ hạnh. Vải thô che thân, không cần trang sức những thứ quí báu, miễn sao an thân, không cần danh lợi; chế phục tam độc, rời xa bát âm; giữ gìn ba vạn uy nghi, năm trăm giới tướng; động tĩnh hợp thời và có phép tắc; thông suốt tám vạn pháp môn, mười hai thể loại kinh; tùy căn cơ giảng thuyết đúng thời làm lợi ích cho chúng sinh. Có thể cho là đáng làm bậc mô phạm của trời người, là con thuyền đưa người vào đạo. 13.2 VUI THÍCH VÀ NHÀM CHÁN Như kinh Văn-thù vấnghi: “Đức Phật dạy:
- Này Văn-thù-sư-lợi! Tất cả các công đức đều không bằng công đức của người xuất gia. Vì sao? Vì người tại gia có vô số lỗi lầm, còn người xuất gia có vô lượng công đức. Người tại gia có chướng ngại, người xuất gia không có chướng ngại. Người tại gia hành nhiều pháp ác, người xuất gia lìa các pháp ác. Người tại gia ở chốn trần lao nhiễm ô, người xuất gia không ở chốn trần lao nhiễm ô. Người tại gia chìm đắm trong bùn lầy tham dục, người xuất gia ra khỏi bùn lầy tham dục. Người tại gia theo phép tắc của người ngu, người xuất gia xa lìa phép tắc của người ngu. Người tại gia sống theo tà mạng, người xuất gia sống đúng chính mạng. Người tại gia ở nơi lo âu buồn bã, người xuất gia ở noi an lạc vui vẻ. Người tại gia ở nơi trói buộc, người xuất gia ở nơi giải thoát. Người tại gia ở nơi có sự tổn hại, người xuất gia ở nơi không có tổn hại. Người tại gia có nỗi khổ tham lợi, người xuất gia không có nỗi khổ tham lợi. Người tại gia ở nơi ồn náo, người xuất gia ở nơi vắng lặng. Người tại gia ở nơi thấp hèn, người xuất gia ở nơi cao quý.
Lại nữa, người tại gia bị phiền não thiêu đốt, người xuất gia dập tắt lửa phiền não. Người tại giathường bị người khác sai khiến, người xuất gia luôn tự tại. Người tại gia lấy khổ làm vui, người xuất gia lấy việc lìa khổ làm vui. Người tại gia tăng trưởng phiền não, người xuất gia thường diệt trừ phiền não. Người tại gia thành tựu pháp nhỏ, người xuất gia thành tựu pháp lớn. Người tại gia không có pháp yếu, người xuất gia có pháp yếu. Người tại gia bị hàng tam thừa chê trách, người xuất gia được hàng tam thừa khen ngợi. Người tại gia sống không biết đủ, người xuất gia sống thường biết đủ. Người tại gia bị ma vương luyến nhớ, người xuất gia làm ma vương sợ hãi. Người tại gia phần nhiều buông lung, người xuất gia không buông lung. Người tại gia làm nô bộc cho người, người xuất gia luôn làm ông chủ. Người tại gia ở nơi tối tăm, người xuất gia ở nơi sáng tỏ. Người tại gia tăng trưởng kiêu mạn, người xuất gia diệt trừ kiêu mạn. Người tại gia được ít phúc báo, người xuất gia được nhiều phúc báo. Người tại gia tâm tà vạy, người xuất gia tâm ngay thẳng. Người tại gia thường lo lắng đau khổ, người xuất gia trong lòng vui vẻ. Người tại gia theo phép dối gạt, người xuất gia hành pháp chân thật. Người tại gia nhiều tán loạn, người xuất gia không tán loạn. Người tại gia ở nơi lưu chuyển, người xuất gia không ở nơi lưu chuyển, đời tại gia như thuốc độc, hạnh xuất gia như cam lộ. Người tại gia không biết tư duy, người xuất gia biết tư duy. Người tại gia không nơi nương tựa, người xuất gia có nơi nươngtựa. Người tại gia nhiều giận hờn, người xuất gia thường thực hành từ bi. Người tại gia có gánh nặng, người xuất gia buông bỏ gánh nặng. Người tại gia có lỗi lầm, người xuất gia không có lỗi lầm. Người tại gia mãi chịu sinh tử, người xuất gia có lúc đoạn dứt sinh tử. Người tại gia lấy tài vật làm của báu, người xuất gia lấy công đức làm của báu. Người tại gia thuận dòng sinh tử, người xuất gia ngược dòng sinh tử. Người tại gia như ở trong biển lớn phiền não, người xuất gia như cưỡi con thuyền lớn. Người tại gia bị phiền não trói buộc, người xuất gia giải thoát phiền não. Người tại gia nhận sự dạy dỗ của vua, người xuất gia được Phật giáo hóa. Người tại gia dễ tìm bạn, người xuất gia khó kết bạn. Người tại gia hay gây tổn hại, người xuất gia hay giúp đỡ. Người tại gia tăng trưởng phiền não, người xuất gia xa lìa phiền não. Người tại gia như ở trong rừng gai, người xuất gia như đã ra khỏi rừng gai.
Này Văn-thù! Dù dùng ngôn từ đầy khắp hư không cũng chẳng thể nào ca ngợi công đức của người xuất gia và chê trách lỗi lầm của người tại gia”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Người tại gia bị bức ngạt như ở trong tù ngục, tất cả phiền não nhân đó sinh ra. Người xuất gia thong dong như ở nơi trống vắng, tất cả pháp lành nhờ đó tăng trưởng. Người tại gia, trong nhà thì lo nghĩ vợ con, ngoài xã hội thì bị vua sai khiến phục dịch. Nếu là người giàu sang cao quý thì buông lung phỏng đãng; nếu là người nghèo khổ thấp hèn thì đói rách chán nản. Tất cả họ đều bị việc công, việc tư quấy nhiễu, ngày đêm lo lắng, bận rộn muôn nghìn, đâu rảnh mà tu!”.
Kinh Úc-già trưởng giả ghi: “Người tại gia rất nhiều phiền não, nào là bị tình thương yêu của cha mẹ, vợ con trói buộc, thường suy nghĩ tham cầu tiền của, sắc đẹp không biết chán; cầu được rồi lại lo giữ gìn, nên tăng thêm nhiều lo âu. Vì thế họ mãi lưu chuyển trong sáu đường, xa lìa Phật pháp.
Nên khởi tưởng quyến thuộc như là oan gia, ác tri thức, nên nhàm chán đời sống tại gia, phát tâm xuất gia. Không có người tại gia nào tu tập đạo Vô thượng bồ-đề, tất cả đều nhờ xuất gia mới chứng quả Vô thượng. Tại gia tràn cấu ô nhiễm, xuất gia tốt đẹp vi diệu; tại gia bị trói buộc, xuất gia được giải thoát; tại gia nhiều khổ, xuất gia an vui; tại gia thấp hèn, xuất gia tôn quí; tại gia làm nô bộc, xuất gia làm chủ; tại gia làm theo ý người, xuất gia sống đời tự tại; tại gia nhiều lo buồn, xuất gia không lo buồn; tại gia có gánh nặng, xuất gia buông gánh nặng xuống; tại gia nhiều việc, xuất gia thong dong”.
Kinh Xuất gia công đức ghi: “Nếu cho phép tớ gái, tôi trai, hoặc thứ dân xuất gia thì được công đức vô lượng. Nếu có người suốt một trăm năm cúng dường các vị a-la-hán trong khắp bốn thiên hạ, không bằng cúng dường cho một người vì niết-bàn mà một ngày một đêm xuât gia thụ giới. Lại nữa, nếu có người xây tháp bảy báu cao đến cõi trời Ba Mươi Ba thì công đức ấy cũng không bằng công đức của người xuất gia”.
Kinh Bản duyên ghi: “Nếu một ngày một đêm xuất gia thì trong hai mươi kiếp không rơi vào ba đường ác”.
Luật Tăng-kỳ ghi: “Một ngày một đêm xuất gia tu Phạm hạnh thì sáu trăm sáu nghìn sáu mươi năm xa lìa cảnh khổ trong ba đường ác”.
Kinh Xuất gia công đức cũng ghi; “Nếu có ai làm khó, ngăn cản, bức ép không cho người xuất gia, thì người này đã đoạn mất hạt giống Phật, sẽ phải chịu vô số điều ác, đời hiện tại phải mắc bệnh cùi hủi, sau khi chết rơi vào địa ngục Hắc Ám, không có ngày ra”.
Kinh Ca-diếp ghi: “Bấy giờ, nghe dạy công đức xuất gia rất sâu rộng, vua và thái tử đều phát tâm xuất gia. Sau đó, tất cả nhân dân trong bốn thiên hạ cũng đều phát
Phần 2

tâm cầu xin xuất gia. Sau khi xuất gia, họ không cần trồng trọt, từ đất tự nhiên sinh các loại lúa gạo, cây cối tự nhiên sinh ra quần áo, được tất cả chư thiên cung cấp”.
Kinh Phật tạngghi: “Nên nhất tâm tu tập, thực hành theo chính pháp, chớ nghĩ đến việc ăn mặc. về những món cần dùng, nên biết chỉ cần từ một phần của công đức tướng lông trắng của Đức Như Lai hiện ra, tất cả đệ tử xuất gia trong thời mạt pháp cũng không bao giờ dùng hết”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Ví dụ có một thầy thuốc giỏi cùng lúc trị lành mắt cho một trăm người mù và có một người cứu được một trăm kẻ thoát khỏi tội bị móc mắt. Hai người này phúc đức tuy vô lượng, nhưng vẫn không bằng phúc đức cho phép người xuất gia, hoặc tự mình xuất gia. Vì công đức ấy thật to lớn”
13.3. XUẤT GIA
Người muốn xuất gia, theo luật, trước hết phải như pháp thỉnh một vị hòa thượng và một vị a-xà-lê.
Luận Tát-bà-đa ghi:
- Trước hết, phải thỉnh hòa thượng để thụ mười giới, nếu hòa thượng không có thì đệ tử cũng đắc giới. Nếu đệ tử nghe biết hòa thượng tịch thì không đắc giới, nếu không nghe tin hòa thượng tịch thì đắc giới. Trường hợp thỉnh a-xà-lê cũng giống như vậy.
Kinh Thanh tín sĩ độ nhân ghi:
- Nếu người muốn xuất gia, trước hết phải đến chỗ cạo tóc lấy nước thơm rưới trên mặt đất trong chu vi khoảng bảy thước, treo phan ở bốn góc, xếp môt chỗ cao để người xuất gia ngồi và đặt hai tòa cao đep hơn cho hai vị giới sư. Người muốn xuất gia phải măc y phục thế tục, lạy từ biệt cha mẹ, rồi đọc bài kệ:
Luân chuyển trong ba cõi,
Không thể thoát ái ân.
Bỏ ân ái, vào đạo,
Là báo ân chân thật.
Nói kệ xong, người ấy liền cởi bỏ y phục thế gian.
Luận Thiện kiến" ghi:
- Trước khi xuất gia, nên dùng nước thơm tắm gội sạch sẽ đề trừ tập khí thế gian.
Kinh Độ nhân ghi:
- Tuy người mới xuất gia được mặc y phục xuất gia, nhưng chỉ được mặc nê-hoàn tàng12, tăng-kì-chi13, chưa được đắp ca-sa. Khi vào giới trường, người mới xuất gia nên đến quỳ thẳng trước hòa thượng. Hòa thượng phải xem đệ tử như con, không được sinh tâm cho là thấp kém. Đệ tử phải xem hòa thượng như cha, luôn khởi tâm cung kính cúng dường. Sau khi nghe hòa thượng nói giới pháp và khuyên dạy xong, đệ tử phải đến ngồi trước mặt vị a-xà-lê.
Luận Thiện kiến ghi:
- Vị a-xà-lê rưới nước thơm trên đầu đệ tử và đọc bài kệ:
Lành thay! Đại trượng phu
Biết rõ đời vô thường
Bỏ tục, hướng niết-bàn
ít có, khó nghĩ lường.
Kế đó, vị a-xà-lê dạy đệ tử lạy mười phương chư Phật và nói kệ ca ngợi:
Quy y đấng Thế Tôn
Hay cứu khổ ba cõi
Và nguyện các chúng sinh
Hưởng niềm vui vô vi.
Sau đó, vị a-xà-lê cạo tóc cho người ấy.
Kinh Độ nhân ghi:
- Khi a-xà-lê cạo tóc cho đệ tử, những người tham dự ở bên cạnh đọc bài kệ xuất gia:
Hủy hình giữ chỉ hướng
Cắt ái, lìa người thân
Xuất gia hoằng Thánh đạo
Thệ độ các chúng sinh.
Khi cạo tóc, a-xà-lê nên chừa lại một ít tóc trên đầu đệ tử. Sau đó, đệ tử đến quỳ thẳng trước hòa thượng. Hòa thượng hỏi:
- Nay ta cạo tóc trên đầu của ông được không? Đệ tử đáp:
- Dạ được!
Cuối cùng, hòa thượng đắp ca-sa cho đệ tử. Khi đắp ca-sa, theo luận Thiện kiến, tất cả đều đọc bài kệ tán thán:
Đẹp thay, áo giải thoát!
Áo ruộng phúc vô tướng
Khoác rồi giữ nghiêm giới
Độ khắp các chúng sinh.
Kinh Độ nhân ghi:
- Sau khi đắp ca-sa, người mới xuất gia phải lễ Phật. Người tại gia đi theo phía sau người ấy nhiễu Phật ba vòng. Người ấy sung sướng nói kệ:
May thay được gặp Phật!
Người nào lại không vui
Phúc nguyện đúng thời gặp
Nay ta được pháp lợi.
Sau khi lễ Phật, lễ tăng chúng và hai vị giới sư, người mới xuất gia đến ngồi ở hàng cuối, nhận lễ mừng của lục thân14. Người ấy được xuất gia, lìa xa thế tục, đã vui mừng lại còn được người thân làm lễ, nên đạo tâm càng phấn khởi. Trước khi cạo tóc, nên ăn chay là tốt nhất.
Luận Tì-ni mẫu ghi:

Phần 3

- Sau khi cạo tóc và đắp ca-sa, người mới xuất gia được hòa thượng truyền tam qui và ngũ giới.
13.4. DẪN CHỨNG
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Ngày xưa, có một người nữ rất xinh đẹp xuất gia tu theo ngoại đạo. Một hôm, có người hỏi:
- Cô xinh đẹp như vậy, lẽ ra phải sống đời thế tục, tại sao lại xuất gia?
Người nữ đáp:
- Đến nay, tuy tôi vẫn còn xinh đẹp, nhưng thời gian gần đây tôi chán ghét sự dâm dục, nên xuất gia. Lúc còn tại gia, vì xinh đẹp, nên tôi lấy chồng sớm, sinh một đứa con trai. Con tôi lớn lên khôi ngô tuấn tú vô cùng, nhưng dần dần, nó bỗng gầy yếu như người bị bệnh. Tôi hỏi nguyên do, nó không chịu nói. Tôi hỏi mãi, nó bất đắc dĩ mới nói:
- Nếu không nói ra thì e rằng con sẽ chết mất. Nhưng con nói ra thì chẳng còn mặt mũi nào. Bởi vì con muốn tư tình với mẹ mà không được nên sinh bệnh.
Tôi bảo:
- Từ xưa đến nay, đâu có việc ấy!
Song tôi lại nghĩ rằng nếu tôi không chịu theo ý con thì nó sẽ chết, thà tôi trái đạo để giữ mạng sống cho con. Tôi liền bảo nó cứ làm theo ý nó muốn. Khi nó định lên giường, mặt đất bỗng nứt ra, nó rơi ngay vào đó. Tôi sợ hãi, nhanh tay kéo nó, nhưng chỉ túm được một nắm tóc, đến nay tôi vẫn còn cất giữ. Quá đau lòng vì việc ấy nên tôi xuất gia”.
Luận Trí độ ghi: “Người xuất gia trong Phật pháp dù phá giới, phạm tội, nhưng khi tội hết, vẫn được giải thoát”.
Như kinh Bản sinh ghi: “Khi Phật còn tại thế, tì-kheo-ni Ưu-bát-la Hoa chứng được quả A-la-hán, có sáu thần thông. Mỗi khi vào các nhà sang trọng, vị này thường khen ngợi pháp xuất gia và bảo với phụ nữ ở nhà ấy:
- Các chị em nên xuất gia.
Các phụ nữ sang trọng nói:
- Chúng tôi đang trẻ trung, khỏe mạnh, dung mạo xinh đẹp, khó giữ được giới, sẽ phá giới mất.
Tì-kheo-ni bảo:
- Phá giới thì phá, cứ xuất gia đi.
Họ hỏi:
- Phá giới thì sẽ đọa địa ngục, sao nói phá thì phá?
- Đọa địa ngục thì đọa.
Các phụ nữ ấy cười và hỏi:
- Đọa địa ngục phải chịu tội, sao nói đọa thì đọa?
Tỳ-kheo-ni bảo:
- Nhớ lại kiếp trước, tôi làm nghệ sĩ nữ, mặc nhiều kiểu y phục và nói đủ thứ ngôn từ. Có lần tôi mặc y phục của tì-kheo-ni để vui đùa, song nhờ nhân duyên ấy, đến đời Phật Ca-diếp tôi được làm tì-kheo-ni. Bấy giờ, tự cậy mình xinh đẹp và là con nhà giàu sang, nên tôi đã kiêu căng và phá giới cấm. Vì thế, tôi bị đọa địa ngục chịu nhiều tội khổ. Sau khi chịu tội xong, tôi được gặp Phật Thích-ca Mâu-ni cho xuất gia và chứng được quả A-la-hán. Tuy đời trước phá giới nhưng đời này tôi cũng chứng được đạo quả”
Hơn nữa, khi Phật đang ở tinh xá Kì-hoàn có một bà-la-môn say rượu đến chỗ Phật xin xuất gia lam tì-kheo. Phật sai A-nan cạo tóc và đắp pháp y cho người ấy. Sau khi tỉnh rượu, người ấy sợ hãi khi thấy mình bỗng trở thành tì-kheo, liền bỏ chạy. Các tì-kheo thưa Phật:
- Tại sao Thế Tôn cho bà-la-môn say rượu này làm tì-kheo?
Phật đáp:
- Bà-la-môn này trong vô số kiếp đã không có tâm xuất gia, nay do say rượu nên tạm thời phát tâm trong khoảnh khắc, song nhờ nhân duyên này, về sau người ấy sẽ xuất gia và đắc đạo.
Có nhiều nhân duyên xuất gia được lợi ích và công đức vô lượng như thế. Vì vậy, người tại gia dù thụ năm giới, nhưng công đức cũng kém xa người xuất gia.
Kinh Tạp bảotạng ghi: “Ngày xưa, tại thànhLư-lưu có vua Ưu-đà-tiện thông minh, trí tuệ uyên bác. Nhà vua có một vị phu nhân tên Hữu Tướng có đức hạnh, xinh đẹp ít ai sánh bằng, nên nhà vua rất sủng ái. Theo luật nước ấy, vua không được gảy đàn. Một hôm đang vui đùa với vua trong hậu cung, tự cậy được nhà vua sủng ái, phu nhân bảo nhà vua gảy đàn cho mình múa. Nhà vua vốn rất giỏi xem tướng, nhìnthấy tướng chết của phu nhân ấy hiện ra khi vừa đưa tay múa. Tính toán biết mạng sống của phu nhân ấy chỉ còn chưa đầy bảy ngày, nhà vua liền buông đàn, buồn bã thở dài.
Phu nhân nói:
- Được hưởng ân sủng của đại vương, nay ở phòng riêng, thiếp cả gan ở nơi đây xin đại vương gảy đàn cho thiếp múa để đại vương được vui chơi. Nhưng thiếp đã làm điều gì không vừa ý khiến đại vương bỏ đàn thở dài. Xin đại vương nói cho thiếp biết!
Nhà vua không chịu nói. Phu nhân thiết tha hỏi mãi, nhà vua mới nói sự thực. Nghe xong, phu nhân rất lo sợ, liền tâu:
- Thiếp có nghe một vị tì-kheo-ni trong hang đá nói, nếu người có lòng tin xuất gia được một ngày, chắc chắn được sinh lên cõi trời. Nay thiếp muốn xuất gia, xin đại vương cho phép!
Là người nặng tình, nên nhà vua nói:
- Đến sáng ngày thứ sáu, trẫm sẽ cho nàng đi.
Đến ngày thứ sáu vẫn không làm phu nhân thay đổi ý định được, nhà vua bảo:
- Nàng có thiện tâm cầu xuất gia như vậy, nhưng nếu nàng hứa được sinh lên trời sẽ nhất định trở về gặp trẫm, thì trẫm mới cho phép xuất gia.
Phu nhân đồng ý và liền được xuất gia, thụ tám trai giới. Ngay hôm ấy, phu nhân bỗng đau bụng quặng thắt sau khi uống thạch mật15, đến sáng sớm hôm sau thì qua đời. Nhờ duyên lành xuất gia ấy, phu nhân được sinh lên trời. Nhó lời hứa

Phần 4

trước kia, vị trời liền đến chỗ nhà vua, tự thân phát ra ánh sáng chiếu khắp hoàng cung. Nhà vua hỏi?
- Nàng là ai?
Vị trời đáp:
- Thiếp là Hữu Tướng, phu nhân của đại vương đây.
Nhà vua vui mừng nói:
- Xin nàng hãy đến đây ngồi!
Vị trời nói:
- Nay thiếp thấy đại vương hôi bẩn, không thể đến gần được, nhưng vì lời hứa trước đây, nên thiếp mới đến gặp đại vương.
Nghe xong, nhà vua hiểu ngay, liền than thở:
Vị trời này trước đây là vợ của ta, sau khi xuất gia một ngày thì được sinh lên trời, trở nên cao quí, nên vị trời ấy thấy ta thấp hèn. Tại sao nay ta không xuất gia? Ta từng nghe nói một móng tay của trời giá trị lớn bằng cả cõi Diêm-phù-đê. Đât nước này của ta đâu đáng tham tiếc!
Nói xong, nhà vua thoái vị nhường ngôi cho con, rồi xuất gia tu đạo, cuối cùng chứng được quả A-la-hán”.
Luận Đại trí độ có bài kệ:
Chim công dẫu thân hình sặc sỡ
Chẳng bằng hồng hạc thường bay cao.
Sống tại gia dẫu thật sang giàu,
Chẳng bằng xuất gia công đức cao.
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Ngày xưa có hai anh em sống trong gia đình giàu sang, thế lực lớn, tiền của vô số, cha mẹ đều đã qua đời. Tuy là anh em, nhưng chí hướng của họ rất khác nhau. Người anh thích đạo pháp, còn người em thích mở mang gia nghiệp. Thấy anh mình không tha thiết đến gia nghiệp, người em giận và bảo:
- Cha mẹ qua đời rồi, là anh em với nhau, em siêng năng chăm lo cuộc sống gia đình, ngược lại, anh bỏ bê gia nghiệp, chỉ đi theo các sa-môn nghe giảng kinh Phật. Các sa-môn đâu thể cho anh áo cơm, tiền của. Anh cứ theo họ thì gia đình trở nên nghèo khó, tiền của ngày một tiêu hao, bị người chê cười cho là anh bỏ bê gia đình. Chỉ có nối tiếp giữ gìn gia nghiệp của cha mẹ mới là hiếu thôi!
Người anh đáp:
- Thụ trì ngũ giới, thập thiện, cúng dường Tam bảo, dùng thánh đạo giáo hóa người thân mới là hiếu. Đạo tục khác nhau là lẽ tự nhiên. Điều người xuất gia ưa thích là điều người đời chán ghét. Việc người đời quí trọng thì người xuất gia xem thường. Sự suy tính của người trí và kẻ ngu không giống nhau, như sáng và tối. Do đó, người trí thường bỏ chỗ tối, đến nơi sáng, vì chỉ có thánh đạo là chân thật cùng tột. Điều em ưa thích hôm nay chính là sự trá hình của đau khổ mà em đâu biết đó là khổ đau!
Người em tỏ vẻ tức giận, cúi đầu, không tin lời anh. Thấy thế, người anh bảo:
- Em ham mở mang gia nghiệp, cho tiền của là quí, còn anh thích tu học giáo pháp, nên cho trí tuệ là của báu. Xét ra, mạng người ở đời giống như cát bụi, vô thường chợt đến thì liền bị nghiệp tội vây trói. Vì thế, nay anh muốn lìa bỏ gia đình, lánh xa tham dục nguy hiểm, đến nơi an ổn, xuất gia qui y Tam bảo.
Thấy anh có ý hướng đến đạo pháp, người em im lặng. Thế rồi, người anh từ bỏ gia đình, xuất gia làm sa-môn, sớm tối tinh tiến tu tập, thiền tọa tư duy, thực hành đúng giáo pháp, nên thành tựu đạo quả và trở về nhà khuyên bảo em. Nghe xong, người em càng tức giận. Người em ham mở mang gia nghiệp, chưa bao giờ để tâm đến Phật pháp, về sau, người em qua đời, bị đọa làm con trâu rất to béo, được một lái buôn mua về dùng để kéo xe chở muối đi bán. Trải qua một vài chuyến buôn thì con trâu ấy gầy yếu, không còn khỏe mạnh như trước. Một lần nọ, khi vất vả vượt qua sườn núi, nó ngã khụy không đứng lên được. Người lái buôn ấy vung roi đánh, lay đầu mãi, nó mới cử động. Bấy giờ người anh đang bay trên hư không, nhìn thấy, liền hỏi con trâu:
- Nhà cửa, ruộng vườn của em đâu rồi mà nay phải làm thân trâu ở đây?
Người anh liền đùng uy thần giúp cho con trâu biêt kiếp trước của nó. Khi nhận biết rồi, nó tuôn lệ, tự trách:
- Do làm việc bất thiện, bỏn xẻn, tham lam, ganh ghét, xem thường thánh chúng, không tin Phật pháp, không tin lời anh, làm theo ý mình, cho nên phải đọa làm thân trâu cực nhọc, gầy yếu. Nay có hối hận cũng đâu kịp!
Biết lòng dạ con trâu đang đau xót, tái tê, người anh liền thuật đầu đuôi sự việc cho lái buôn trâu nghe. Nghe xong, người ấy liền trao con trâu cho người anh. Người anh dắt con trâu đến một ngôi chùa, dạy nó nhớ nghĩ đến Tam bảo, ăn uống đúng giờ. Sau khi chết, con trâu được sinh lên cõi trời Đao-lợi.
Lúc bấy giờ, các thương nhân đều nghĩ: “Chúng ta lâu nay lo làm ăn buôn bán, không biết bố thí, không biết đạo pháp, sợ rằng sau khi chết cũng sẽ giống như vậy!”. Thế rồi, họ từ bỏ vợ con, của báu xuất gia làm sa-môn. Nhờ tinh tiến tu tập không ngừng nên tất cả đều chứng đạo quả.
Vì thế, có thể thấy của cải, châu báu không có ích gì cho con người. Nếu cung kính thờ phụng Tam bảo, tu thân, học đạo thì đời đời được an vui”.
Kinh Phó pháp tạng ghi: “A-la-hán Xà-dạ-đa vừa dẫn các đệ tử đến thành Đức-xoa-thi-la thì bỗng tỏ vẻ buồn bã. Tiến thêm một quãng ngắn nữa, trông thấy một con quạ, tôn giả liền mỉm cười vui vẻ. Co một đệ tử xin ngài cho biết nguyên do. Tôn giả đáp:
- Lúc ta vừa đến đây, có một quỉ con đói khát dưới cửa thành thưa với ta: ‘Mẹ con vào thành tìm thức ăn, đã năm trăm năm rồi mà chưa trở về. Con đang bị cơn đói hành hạ sắp chết. Tôn giả vào thành nếu thấy mẹ con xin nói rằng con hiện đang đói khổ, xin hãy về sớm!’. Vừa vào thành thì thấy quỉ mẹ, ta liền báo cho nó biết ý nguyện quỉ con. Quỉ mẹ nói: ‘Tôi vào thành này đã năm trăm năm mà chưa kiếm được một chút đàm dãi nào của người. Tôi vừa mới sinh xong, còn ốm yếu, có tìm được chút đàm dãi nào thì liền bị các quỉ khác cướp lấy. Hôm nay, tôi vừa tìm được một chút đàm dãi, định ra ngoài thành cùng ăn với con, nhưng dưới cửa thành có nhiều quỉ thần mạnh mẽ. Tôi sợ nên không dám ra. Cúi xin tôn giả đưa giúp tôi ra khỏi thành!’,. Ta liền đưa quỉ mẹ ra ngoài thành để nó cùng ăn với quỉ con. Ta hỏi:
- Ngươi sinh vào thời nào?
Nó đáp:

Phần 5

- Tôi thấy tòa thành này xây lên và đổ nát đã bảy lần.
Nghe thế, ta xót thương cho cảnh khổ đau triền miên trong sinh tử, nên ta buôn bã.
Còn về con quạ kia, cách đây chín mươi mốt kiêp, vào thời Phật Tì-bà-thi, ta sinh trong gia đình trưởng giả, muốn được xuất gia. Thời ấy, hễ người xuất gia chắc chắn chứng quả A-la-hán. Nhưng cha mẹ ta không cho phép mà ép ta cưới vợ. Cưới vợ xong, ta lại xin xuất gia, cha mẹ ta bảo nếu ta sinh được một đứa con trai thì sẽ cho phép. Ta đã vâng lời và sinh được một con trai. Khi đứa con được sáu tuổi, ta lại muốn xuất gia, nhưng cha mẹ bảo đứa bé ôm chân ta, khóc lóp cầu xin:
- Nếu cha bỏ con thì ai nuôi dạy con đây? Cha nên giết con trước đã, rồi hãy xuất gia.
Nghe xong, ta khởi tâm ái nhiễm, bảo nó:
- Vì con nên cha không xuất gia nữa.
Do đứa con này nên ta không chứng đạo, chín mươi mốt kiếp lưu chuyển trong năm đường ác, hai bên không gặp nhau. Nay ta đã chứng quả, dùng đạo nhãn thấy con quạ kia chính là đứa con ngày trước. Thương xót nó ngu si ở mãi trong sinh tử, nên ta mỉm cười. Vì nhân duyên ấy, nếu ai cản trở người muốn xuất gia thì mắc tội báo phải ở mãi trong đường ác chịu đau khổ cùng tột, không được giải thoát. Sau khi hết tội trong đường ác, nếu sinh làm người thì sẽ bị mù lòa. Do đó, khi thấy người muốn xuất gia, người trí phải hết lòng dùng các phương tiện khuyến khích, giúp đỡ họ được toại ý, không được cản trở họ”.
Kinh Xuất gia công đức ghi: “Khi còn tại thế, một hôm Đức Phật cùng A-nan vào thành Tì-xá-li khất thực, đi ngang qua một tòa lầu cao, nơi vương tử Tì-la-tiễn-na đang vui đùa với các mỹ nữ. Nghe tiếng nhạc, Đức Phật bảo A-nan:
- Ta biết người này sau bảy ngày nữa sẽ chết. Nếu không xuât gia thì người này sẽ đọa địa ngục!
Nghe Phật nói thế, A-nan liền đến giáo hóa và khuyên vị vương tử ấy xuất gia. Nghe A-nan khuyên, trong sáu ngày sau đó, vị vương tử tận hưởng thỏa thích các thú vui. Đến ngày thứ bảy, vương tử Tì-la-tiên-na đến xin Phật xuất gia. Tu tập tịnh giới được một ngày một đêm thì vương tử qua đời, được sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương làm con của bắc thiên vương Tì-sa-môn, cùng hưởng thú vui ngũ dục với các mỹ nữ. Sau khi hưởng hết năm trăm tuổi thọ ở cõi trời ấy, vương tử lại sinh lên cõi trời Đao-lợi làm con của Đế Thích, thọ một nghìn tuổi. Kế đó, vị ấy sinh lên làm vương tử ở cõi trời Diệm-ma, thọ hai nghìn tuổi. Rồi vị ấy sinh lên làm vương tử ở cõi trời Đâu-suất, thọ bốn nghìn tuổi. Tiếp theo, vị ấy sinh lên làm vương tử ờ cõi trời Hóa Lạc, thọ tám nghìn tuổi. Hết tuồi thọ ở trời Hóa Lạc, vị ây sinh lên làm vương tử ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Niềm vui ngũ dục đượchưởng cùng với các mỹ nữ ở đây tuyệt vời hơn ở các cõi trời dưới, tuổi thọ cõi này là mười sáu nghìn tuổi. Vị vương tử qua lại bảy lần hưởng thụ thú vui ở sáu cõi trời Dục như thế mà không bị chết yểu.
Một ngày xuất gia thì hai mươi kiếp không bị đọa vào đường ác, thường được sinh lên cõi trời hưởng phúc tự nhiên. Kiếp cuối cùng, vương tử làm người sinh vào gia đình giàu sang, đầy đủ tiền của, tuổi trẻ sung sướng, về già nhàm chán thế tục nên xuất gia tu tập đạo pháp, đắc quả Bích-chi phật hiệu là Tì-lưu-đế-lê, độ vô số trời và người.
Vì nhân duyên ấy, nên biết công đức xuất gia vô lượng vô biên, không thể ví dụ. Giả sử trong trăm năm, có người hết lòng cúng dường đầy đủ bốn thứ cần dùng cho các a-la-hán đày khắp bốn thiên hạ, đến khi các vị này vào niết-bàn thì lại xây tháp cúng dường các thứ hương, hoa và chuỗi ngọc, thì công đức này cũng không bằng công đức của người xuất gia trì giới cầu niết-bàn một ngày một đêm. Vì thế, pháp xuất gia thật đáng tôn quí. Không nên vì một chút tài sắc mà tham đắm thế gian để phải trôi lăn trong biển sinh tử, tự chuốc khổ vào thân”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đề-bà-đạt-đa thưa Phật:
- Xin Phật cho con xuất gia!
Phật bảo:
- Ông nên sống tại gia, tu hạnh bố thí. Làm sa-môn thật là khó!
Đề-bà-đạt-đa thưa Phật ba lần như thế. Phật đều bảo chẳng nên xuất gia. Do đó Đề-bà-đạt-đa khởi ý xấu: ‘Sa-môn này ganh ghét ta. Nay ta tự cạo đầu xuất gia tu tập Phạm hạnh, đâu cần nói với sa-môn này làm gì!
Về sau Đề-bà-đạt-đa phạm tội ngũ nghịch, tâm ác hại Phật. Lúc đó, ngay chỗ đứng có một luồng lửa từ dưới đất thổi lên bao quanh Đề-bà-đạt-đa. Bị lửa thiêu đốt, Đề-bà-đạt-đa liền phát lộ sám hối xưng: ‘Nam-mô Phật’, nhưng chưa hết câu thì đã rơi vào địa ngục.
A-nan thương khóc, thưa Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Đề-bà-đạt-đa đọa vào địa ngục bao lâu?
- Trải qua một đại kiếp, mệnh chung ông ta sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương rồi dần dần sinh lên cõi trời Tha Hóa Tự Tại, trải qua sáu mươi kiếp chẳng đọa ba đường ác. Cuối cùng ông ta đắc quả Bích-chi-phật, hiệu là Nam-mô, vì khi mệnh chung ông ta xưng Nam-mô. Phật đáp.
Bấy giờ ngài Đại Mục-kiền-liên thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Con muốn đến địa ngục A-tì để an ủi, chúc mừng Đề-bà-đạt-đa.
Nghe xong, Đề-bà-đạt-đa vui mừng nói:
- Nay tôi dù nằm nghiêng bên phải ở A-tì này suốt một kiếp cũng không hề thấy mỏi mệt.
- Nỗi thống khổ tăng hay giảm? Mục-kiền-liên hỏi.
- Bánh xe sắt nung nóng cán qua thân tôi, lại bị chày sắt nghiền nát người tôi, lại có con voi đen hung dữ đạp lên mình, rồi ngọn núi lửa ập vào mặt tôi. Ca-sa ngày xưa hóa thành tấm đồng. Thật vô cùng thống khổ! Nay tôi xin đỉnh lễ chân Thế Tôn, ngài và tôn giả A-nan.
Mục-kiền-liên liền thâu thần lực trở về chỗ Thế Tôn”. ’
Luận Trí độ ghi: “Đệ tử Đề-bà-đạt-đa tên Câu-ca-li, do hủy báng Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên nên khi mệnh chung đọa vào địa ngục Liên Hoa”.
Kinh Bản khởi cho là đệ tử Đề-bà-đạt-đa tên Cù-hòa-li.
Kinh Báo ân ghi: “Này Đề-bà-đạt-đa! Vào thuở quá khứ lâu xa vô lượng kiếp có Đức Phật ra đời hiệu là ứng Hiện. Sau khi Đức Phật diệt độ, vào thời tượng pháp có một tì-kheo tu tập thiền định trong rừng vắng. Bấy giờ tì-kheo thường lo láng rận cắn đốt nên nói:

Phần 6

- Khi ta ngồi thiền, ngươi nên nằm im, ẩn thân. Con rận nghe theo.
Một hôm có con bọ chét đến bên con rận hỏi:
- Tại sao anh mập khỏe thế?
- Chủ tôi tu thiền định. Tôi theo lời chủ dạy ăn uống điều độ. Vì thế tôi mạnh khỏe. Rận đáp.
- Tôi cũng muốn học theo.
- Tùy ý anh.
Khi tì-kheo đang ngồi thiền, con bọ chét ngửi thây mùi máu thịt liền căn lấy. Tì-kheo vô cùng tức giận, giải y, lấy lửa đốt chết con rận.
Đức Phật nói: “Tì-kheo tọa thiền thuở ấy, nay chính là Ca-diếp. Con bọ chét thuở ấy, nay chính là Đe-bà-đạt-đa. Con rận thuở ấy, nay chính là Ta. Vì lợi dưỡng nên Đề-bà-đạt-đa làm hại đến Ta. Ngày nay Ta thành Phật, Đề-bà-đạt-đa cũng vì lợi dưỡng mà làm thân Phật chảy máu, nên bị đọa vào địa ngục. Đề-bà-đạt-đa thường có tâm độc ác làm hại Như Lai. Nếu Ta kể ra, cùng kiếp cũng chẳng hết”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Một hôm, Đức Phật vào thành Ca-tì-la-vệ khất thực, đến nhà người em họ Tôn-đà-la Nan-đà. Khi ấy Nan-đà đang trang điểm cho vợ. Nghe tin Phật đứng ở ngoài cổng, Nan-đà muốn ra yết kiến. Người vợ nói:
- Chàng ra yết kiến Như Lai. Thiếp đang trang điểm vùng trán chưa xong. Chàng nhớ trở vào liền nhé!
Nan-đà ra ngoài đỉnh lễ Phật, cầm bát vào nhà sớt đầy thức ăn dâng Phật; Phật không nhận. Nan-đà trao cho A-nan.
A-nan cũng không nhận mà nói:
- Ông nhận bát này của ai thì trả lại người đó.
Thế là Nan-đà cầm bát đi theo Phật đến tinh xá Ni-câu-lâu. Phật liền bảo thợ hớt tóc cạo đầu Nan-đả. Nan-đà chẳng chịu, tức giận vung tay và nói với thợ cạo:
- Nay ông hãy cạo hết tóc tất cả người dân Ca-tì-la-vệ đi!
Phật hỏi thợ cạo:
- Sao ông không cạo?
Thợ cạo đáp:
- Con sợ nên không dám cạo.
Phật và A-nan đến bên Nan-đà. Nan-đà sợ nên không dám chống lại. Tuy đã xuất gia nhưng Nan-đà thường muốn về nhà. Phật thường dắt Nan-đà đi theo, nên ông không có dịp bỏ về. Một hôm nọ, đến lượt canh giữ phòng ốc, Nan-đà vui mừng thầm nghĩ: ‘Hôm nay, ta có dịp trở về nhà. Đợi Phật và chúng tăng đi hết rồi ta sẽ về’.
Sau khi Đức Phật vào thành, Nan-đà nghĩ: ‘Ta phải múc nước đổ đầy bình rửa tay, rồi mới về nhà’. Nan-đà vừa đổ đầy nước thì bình lại ngã. Cứ mãi như thế mà nước chẳng đày bình. Nan-đà nói: ‘Nước không đầy thì để các tì-kheo khi trờ vê sẽ tự múc đổ vào. Nay ta đem bình vào trong phòng rồi bỏ về nhà’. Nan-đà vừa đóng cánh này thì cánh kia liên mở, vừađóng cửa này thì cửa kia liền mở. Nan-đà thầm nghĩ: ‘Tất cả cửa đều không thể đóng lại. Ta cứ để vậy rồi về, dù có mất y, vật dụng của tì-kheo thì ta có đầy đủ của cải để bồi thường’. Nan-đà liền ra khỏi phòng tăng rồi thầm nghĩ: ‘Phật nhất định về lối này. Ta sẽ đi đường khác’. Đức Phật biết ý định của Nan-đà nên cũng đi về đường khác. Từ xa thấy Phật đi đến, Nan-đà vội núp sau một cây lớn. Thần cây liền nhấc bông cây lên hư không làm Nan-đà phải lộ diện.
Phật dẫn Nan-đà trở về tinh xá rồi hỏi:
- Ông nhớ vợ đẹp sao?
- Bạch Đức Thế Tôn! Đúng vậy. Nan-đà đáp.
Đức Phật dẫn Nan-đà đến núi A-na-ba rồi hỏi:
- Vợ ông xinh đẹp chăng?.
- Vợ con rất xinh đẹp. Nan-đà đáp.
Trong núi này có con khỉ già mù lòa. Đức Phật lại hỏi:
- Tôn-đà-lợi, vợ ông, xinh đẹp như con khỉ này chăng?
- Vợ con xinh đẹp ít ai sánh bằng. Nay tại sao Phật lại so sánh vợ con với con khỉ già mù lòa này! Nan-đà buồn rầu đáp.
Đức Phật lại dắt Nan-đà lên cõi trời Đao-lợi thưởng lãm khắp cung điện, thấy các thiên tử cùng thiên nữ vui chơi. Nan-đà thấy trong một cung điện nọ có năm trăm thiên nữ mà không có thiên tử nào, liềnđến hỏi Phật. Đức Phật đáp: ‘ông hãy đến đó hỏi họ!’. Nan-đà đến hỏi các thiên nữ:
- Trong các cung điện khác đều có thiên tử, tại sao cung này không có?
-Trong Diêm-phù-đề, đệ tử Phật là Nan-đà bị Phật ép phải xuất gia, nhờ nhân duyên xuất gia, khi mệnh chung sẽ sinh trong cung điện này làm thiên tử của chúng tôi. Các thiên nữ đáp.
Nan-đà đáp: ‘Ta chính là Nan-đà’, rồi muốnở lại.
Các thiên nữ nói:
- Nay chúng tôi là trời, ngài là người. Trời người khác lối, ngài hãy về bỏ thân người, sinh lên đây thì mới được sống chung.
Nan-đà liền trở về chỗ Phật kể lại sự việc vừa rồi. Phật hỏi:
- Vợ ông xinh đẹp có bằng các thiên nữ chăng?
- Bạch Đức Thế Tôn! Nếu so sánh vợ con với các thiên nữ thì vợ con cũng giống như khỉ già mù lòa kia. Nan-đà đáp.
Đức Phật dẫn Nan-đà trở về Diêm-phù-đề. Vì muốn sinh lên cõi trời nên Nan-đà siêng năng trì giới. Bấy giờ A-nan nói bài kệ:
Như dê đực Húc nhau
Húc tới rồi đẩy lui
Ông giữ giới vì dục
Việc này cũng như thế
Đức Phật lại dẫn Nan-đà xuống địa ngục. Thấy những chảo sôi để nấu tội nhân, nhưng thấy có một cái chảo đang sôi sùng sục mà không có tội nhân. Nan-đà lấy

Phần 7

làm lạ đến hỏi Phật. Phật đáp: ‘Ông hãy đến hỏi ngục tốt!’. Nan-đà liền đến hỏi ngục tốt:
- Những chảo sôi để trị người tội, tại sao chảo sôi này không có người?
- Trong cõi Diêm-phù-đề, có một đệ tử Phật tên là Nan-đà, nhờ công đức xuất gia mà được sinh lên cõi trời, nhưng vì muốn bỏ đạo nên khi mạng chung ở cõi trời sẽ đọa vào địa ngục này. Vì thế nên tôi mới đun chảo này để chờ Nan-đà. Ngục tốt đáp.
Nghe xong, Nan-đà hoảng hốt sợ ngục tốt giữ lại, liền niệm: ‘Nam-mô Phật-đà. Nam-mô Phật-đà. Xin Phật bảo vệ dẫn con trở về Diêm-phù-đề’. Đức Phật nói:
- Ồng siêng năng giữ giới để tạo phúc sinh thiên chăng?
- Bạch Đức Thế Tôn! Con chẳng cần sinh thiên, nay chỉ xin chẳng bị đọa vào địa ngục_ Nan-đà đáp.
Đức Phật thuyết pháp cho Nan-đà nghe. Bảy ngày sau, Nan-đà chứng quả A-la-hán. Các tì-kheo ca ngợi:
- Thế Tôn ra đời thật là kì đặc, thật là hi hữu!
Đức Phật nói:
- Chẳng phải ngày nay Ta mới như thế mà vào quá khứ cũng đã như vậy.
- Bạch Đức Thế Tôn! Xin Ngài kể lại việc quá khứ cho chúng con. Các tì-kheo thưa.
- Thuở xưa, vua nước Ca-thi tên là Mãn Diện có oán thù với nước Tì-đề-hi. Nước Tì-đề-hi có một kĩ nữ vô cùng xinh đẹp hấp dẫn. Bấy giờ nịnh thần tâu lên vua Mãn Diện:
- Nước Tì-đề-hi có một kĩ nữ xinh đẹp, thế gian ít ai sánh bằng.
Nghe xong, vua liền ham muốn, sai sứ qua nước đó xin cưới cô kĩ nữ này. Vua nước đó không chấp nhận.Vua Mãn Diện lại sai sứ qua xin được gặp mặt kĩ nữ bốn năm ngày rồi sẽ đưa trở về nước. Vua nước Tì-đề-hi ra lịnh cho kĩ nữ:
- Ngươi phải trang điểm thật lộng lẫy để vua nước Ca-thi say đắm cô, không thể rời xa ngươi phút nào.
Thế là vua nước Tì-đề-hi cho kĩ nữ đi gặp vua Mãn Diện. Bốn năm ngày sau, vua nước Tì-đề-hi sai người báo:
- Vua nước tôi cần kĩ nữ này để cúng tế, xin vua tạm cho về, rồi sẽ đưa qua lại.
Vua nước Ca-thi liền cho phép kĩ nữ trở về. Cúng tế xong, vua Mãn Diện sai sứ qua đón. Vua nước Tì-đề-hi đáp: ‘Ngày mai sẽ cho về’. Đến ngày mai cùng chẳng thấy kĩ nữ đâu. Cứ như thế trải qua nhiều ngày, vì nhớ nhung kĩ nữ nên vua nước Ca-thichỉ muốn dẫn theo vài người qua nước kia. Các đại thần khuyên can, nhưng vua chẳng nghe theo.
Bấy giờ trên núi Tiên Nhân cổ một con khỉ chúa thông minh học rộng, hiểu biết mọi chuyện. Nhân vợ mới mất nên khỉ chúa lấy một con khỉ cái, làm cho bầy khỉ đều tức giận chê trách: ‘Này khỉ chúa! Khỉ cái này là của chung, tại sao ngươi lại độc chiếm?’.
Bấy giờ khỉ chúa dắt khỉ cái chạy vào cung điện nước Ca-thi, nhảy vào cung vua. Bầy khỉ cũng đuổi theo. Chúng tự do dỡ nhà, phá hoại tường thành khiến mọi người chẳng biết xử trí thế nào.
Vua nước Ca-thi nói với khỉ chúa:
- Tại sao ngươi không giao con khỉ cái lại cho bầy khỉ?
- Vợ tôi chết đi, tôi không còn vợ. Tại sao đại vương bảo tôi trả khỉ cái lại? Khỉ chúa đáp.
- Nay bầy khỉ của ngươi phá hoại, náo loạn nước trẫm, nhất định ngươi phải trả lại đi?
- Cứ để như vậy, chẳng được sao?
- Chẳng thể được.
Hai bên đối đáp qua lại vài lần như thế. Khỉ chúa nói:
- Trong cung có tám vạn bốn nghìn phu nhân mà đại vương không yêu thích, chỉ muốn đến nước giặc tìm cầu kĩ nữ. Nay tôi không vợ, chỉ muốn một khỉ cái này mà đại vương nói là chẳng thể được. Nhân dân đều nương tựa vào đại vương, sao lại vì một kĩ nữ màbỏ phế việc nước! Đại vương nên biêt, việc dâm dục vui ít khổ nhiều, cũng như cầm đuốc đi ngược gió. Kẻ ngu không ném đi thì nhất định sẽ bị cháy mặt. Dục là thứ bất tịnh như đống phân kia. Dục chỉ là hiện tướng bên ngoài được lớp da mỏng bao phủ. Dục không đáp ứng thỏa mãn như dùng phân bôi lên rắn độc. Dục như kẻ thù trá hình ở gần bên người. Dục như vay mượn, nhất định sẽ trở về chủ. Dục thật đáng gớm như hoa mọc ở nhà xí. Dục như người bị ghẻ lở hơ lửa, càng gãi thì càng ngứa. Dục như chó gặm xương khô, nước dãi tiết ra cho là có mùi vị, răng gãy miệng tổn thương mà không thỏa mãn. Dục như người khát uống nước mặn, càng tăng thêm cơn khát. Dục như miếng thịt, bầy chim tranh giành. Dục như cá tham mùi vị cắn nhau đến chết. Như vậy, họa của dục rất lớn!
Khỉ chúa thuở xưa chính là Ta, vua Mãn Diện chính là Nan-đà, kĩ nữ chính là Tôn-đà-lợi. Thuở ấy Ta kéo Nan-đà ra khỏi vũng bùn ái dục, nay cũng kéo ông ta ra khỏi khổ đau sinh tử.
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Khi lên chín tuổi, La-hầu-la xuất gia làm sa-di. Vua sắc lịnh năm mươi vương tử theo La-hầu-la xuất gia. La-hầu-la thụ mười giới và tôn Xá-lợi-phất làm hòa thượng, Đại Mục-kiền-liên làm a-xà-lê. Chưa đầy ba năm sau, mẹ của La-hầu-la là Da-thâu-đà-la cũng xuất gia (chuyện ngàiDa-xá ghi: Sa-di,Trung Quốc gọi là người nhỏ tuổi mà đã làmviệc,lấy việc tu đạo làm sự nghiệp; lại dịch là tức từ, nghĩa là dứt tâm cấu nhiễm thế gian, dùng lòng từ cứu độ chúng sinh. Lại vì mới học Phật pháp nên lòng trần vẫn còn, cần phải dứt ác, tu từ).
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Có bốn chủng tính xuất gia, không có chủng tính riêng, chỉ nói sa-môn là con của Thích-ca. Tại sao? Do ta sinh ra, do pháp mà thành tựu; cũng như bốn biển đều từ hồ A-nậu chảy ra.
Luật Sa-dỉ tắc ghi: “ Phật dạy:
- Này các tì-kheo! Tất cả người xuất gia đều bỏ họ riêng của mình mà xưng là sa-môn Thích tử.

Phần 8

Kinh Trường A-hàm ghi: “Khi Phật Di-lặc ra đời, các đệ tử tì-kheo cũng đều xưng là Từ tử, giống như đệ tử của ta xưng là Thích tử”.
Đức Phật xuất hiện ở đời, hiện dấu tích đồng phép tắc thế tục. Sở dĩ con cháu nối tiếp, vợ chồng nhiều đời lấy nhau, đều do duyên kiếp trước. Cũng nhờ đó mà trợ giúp cho việc trị hóa. Lại nữa, nước bốn sông chảy vào biển đều gọi là biển; bốn giòng họ qui hướng về đạo đều lấy họ Thích, có thể cho rằng tất cả các dòng sông khác nhau nhưng đồng một vị.
Bài tụng:
Nhân phúc xưa đã chín
Nay mới được xuất gia
Bỏ tục lìa thế gian
Tỏ ngộ thật siêu việt.
Tuệ vắng lặng rỗng rang
Vi diệu chẳng tính lường
Cơ cảm hợp với đạo
Dứt sạch sự buộc ràng
Tinh tiến tu tập đạo
Uống nước cam lộ này
Tu tập chẳng hề dừng
Cảm được thánh gia hộ.
Dáng Thánh thật uy nghiêm
Bước thần rất nhẹ nhàng
Người và ta không khác
Pháp lữ sẽ gặp nhau.
13.5. CẢM ỨNG
13.5.1. Đời Tống, sa-môn Trí Nghiêm, chùa Chí Viên, kinh đô: Sư người Tây Lương. Năm hai mươi tuổi, sư xuất gia, nổi tiếng siêng năng. Sau đó sư di du hóa khắp vùng phía Tây, tham hỏi thiền pháp. Nhờ đó, sư thông suốt kinh, luận, ít ai sánh bằng, về sau sư lại đến Tây Vực thinh được một số kinh luận chưa truyền dịch tại Trung Quốc.
Đến niên hiệu Nguyên Gia thứ tư đời Tống (427), sư cùng tì-kheo Bảo Vân, v.v... dịch kinh, luận. Sư không nhận thỉnh cúng dường riêng, chỉ khất thực để sống. Sự giáo hóa của sư cảm ứng đến người dương, kẻ âm.
Trong Thái xã, Tây châu có người có khả năng thấy được loài quỉ. Một hôm nghe mấy con quỉ nói với nhau: “Sư Nghiêm đến, chúng ta phải ẩn tránh”. Người này không hiểu chúng nói đến ai. Trong chốc lát sư đến, hỏi tên tuổi mới biết là Trí Nghiêm, người này im lặng, lòng thầm tôn kính.
Nghi đồng Lan Lăng Tiêu Tư Thoại có phu nhân Lưu thị đang bịnh, thường thấy quỉ đến kêu gọi nên bà rất hoảng sợ, thỉnh sư giảng pháp. Sư vừa đến cửa ngõ, Lưu thị liền thấy bầy quỉ chạy tứ tán. Sư đi vào và giảng kinh cho phu nhân nghe. Phu nhân liên hết bịnh. Nhân đó phu nhân thụ năm giới; cả nhà đều tôn kính Tam bảo.
Sư sống đạm bạc, ít ham muốn, vừa thụ nhận liền bố thí, ít đi du hóa, lại không chấp trước, bẩm tính khiêm nhường, chẳng nói chuyện bản thân. Sư có nhiều hạnh tốt, truyền hết những sở học của mình cho mọi người.
Khi còn cư sĩ thụ năm giới, sư phạm nhiều lỗi lầm. Sau khi xuất gia thụ giới Cụ túc, luôn nghi mình chẳng đắc giới nên lòng sư thường lo sợ. Thiền quánnhiều năm mà chẳng giải quỵết mối nghi này, sư liên vượt biển qua Thiên Trúc lần nữa để trình bày mối nghi. Gặp vị a-la-hán thông đạt, sư kể hết sự việc. Vị a-la-hán này không dám quyết đoán, liền nhập định lên cõi trời Đâu-suất thưa hỏi ngài Di-lặc. Ngài Di-lặc xác định sư đã đắc giới. Sư vô cùng vui mừng trở về nước Kế-tân rồi thị tịch tại đây, thọ bảy mươi tám tuổi.
Nước này có chỗ hỏa táng thánh tăng, phàm tăng riêng biệt. Sư có giới hạnh cao minh, nhưng mọi người chưa biết sở chứng thế nào, nên định đưa nhục thân đến nghĩa trang phàm tăng, nhưng nhục thân quá nặng, không nhấc lên được. Họ lại định khiêng đến nghĩa trạng thạnh tăng thì mọi người nhấc nhục thân sư lên nhẹ nhàng.
Đệ tử sư là Trí Minh, Trí Viễn sang Trung Quốc báo điềm lành này rồi trở về . Từ việc này suy ra thì sư thật đã đắc đạo, nhưng chưa biết quả vị sâu cạn thế nào.
13.5.2. Đời Tống, cầu-na-bạt-ma ở chùa Kì-hoàn, kinh đô: cầu-na-bạt-ma, Trung Quốc dịch là Công Đức Khải. Sư người Kế Tân, thuộc dòng dõi vương gia. Sư thông minh, biện luận thông suốt, rất có khí độ, nhân từ, bao dung, trọng đức, hành thiện. Vào tháng giêng niên hiệu Nguyên Gia thứ tám (431), sư lên kinh đô Kiến Nghiệp. Văn đế triệu kiến sư và ân cần thăm hỏi.
Đế nói:
- Đệ tử luôn muốn trì trai, không sát sinh, ngặt vì còn ở ngôi vua, chẳng thể thực hiện được. Pháp sư đã không ngại đường xa vạn dặm đến giáo hóa nước này. Ngài sẽ giáo hóa pháp gì?
- Đạo tại tâm, không ở sự việc. Pháp do ta, chẳng phải từ người. Lại nữa, đế vương hành xử khác với thứ dân. Người dân thì thấp hèn, không danh phận, lời nói không có uy, nếu không chế ngự bản thân thì thống khổ cùng cực, làm được gì đây? Đế vương lấy bốn biển làm nhà, muôn dân làm con, nói ra một lời tốt thì mọi người đều vui mừng, ban bố luật đúng thì người và thần hòa thuận, thi hành hình pháp mà không xử oan, lao dịch mà chẳng quá cực khổ, sẽ khiến cho mưa gió hòa thuận, ấm lạnh đúng thời, mùa màng bội thu, vải vóc đầy đủ. Trì trai như thế mới thật là quí, giữ giới bất sát như thế mới thật trọn; chẳng phải ở trong cung ăn một bữa, không giết một con chim mới là cứu giúp. Sư đáp.
Đế mới vỗ nhẹ lên bàn, thán phục:
- Người đời không hiểu đạo lí cao xa; sa-môn kẹt nơi ngôn từ thiển cận. Kẻ không hiểu đạo lí cao xa cho rằng chí đạo là những lời nói không căn cứ. Người kẹt nơi ngôn từ thiển cận thì chấp trước văn chương. Còn như lời nói của pháp sư thật đã khai ngộ thông suốt, có thể cho rằng đây là lời dạy cùng tột cho trời người.
Đế liền ban sắc lịnh thỉnh sư trụ trì chùa Kì-hoàn và cung cấp rất trọng hậụ. Tất cả vua quan, người tài trí đều tôn kính sư. Nhiều kinh luận được sư phiên dịch còn ghi

Phần 9

chép đầy đủ trong Cao tăng truyện, văn nghĩa rõ ràng chính xác, Phạn-Hán chẳng sai.
Bấy giờ ni sư Tuệ Quả, Tịnh Âm, v.v... ở chùa Ảnh Phúc thỉnh ý sư:
- Cách đây sáu năm có tám ni sư từ nước Sư Tử đến kinh đô nói: “Trước đây nước Tống chưa có ni chúng, không được thụ giới trước hai chúng, e rằng chẳng đắc giới”.
- Giới pháp vốn phát khởi từ đại tăng. Nếu chẳng có ni chúng thì cũng đắc giới, giống như nhân duyên bà Đại Ái Đạo. Sư giải thích.
Các ni sư lại sợ năm tháng chưa đủ, tha thiết cầu thụ lại. Sư nói:
- Quí thay! Nếu các cô thật lòng, ta rất tùy hỉ giúp đỡ; nhưng ni chúng ở Tây Vực qua đây còn thiếu người, lại chưa đủ hạ lạp. Hãy bảo người biết tiếng Trung Quốc, nhờ cư sĩ nước Tây Vực thinh đủ mười vị ni nước ngoài.
Mùa hạ năm ấy tại chùa Định Lâm tổ chức an cư. Bấy giờ có tín chủ rải hoa quanh các tòa trong pháp hội. Vài ngày sau, những bông hoa quanh tòa sư vân còn tươi. Đại chúng đều tôn kính xem trọng sư như thánh nhân. Giải hạ. sư trở về chùa Kì-hoàn.
Ngày hai mươi tám tháng chín năm ấy, trong khi thụ trai chưa xong, sư rời chỗ trở về phòng trên gác. Đệ tử đến thì thấy sư đã an nhiên thị tịch, thọ sáu mươi lăm tuổi. Sau đó đệ tử khiêng sư ngồi trên thăng sàng; sắc diện vẫn tươi nhuận như đang nhập định. Hơn nghìn người tại gia lẫn xuất gian đến viếng thăm, ai cũng ngửi thấy hương thơm ngào ngạt và thấy một con vật dài khoảng một trượng giống như con rồng từ nhục thân sư vọt thẳng lên trời, chẳng thể diễn tả hết. Mọi người lấy gỗ thơm, tưới dầu thơm lên nhục thân. Khi trà-tì, ngọn lửa năm màu bốc lên lơ lững trên không. Bốn chúng kêu gào khóc thương cảm động trời đất, chẳng thể kiềm chế.
13.5.3. Đời Tống, ni sư Đàm Huy: Ni sư người Thành Đô, nước Thục, họ Thanh Dương, tên đời là Bạch Ngọc. Khi bảy tuổi, ni sư đã thích ngồi thiền; mỗi lần ngồi lại thấy cảnh giới lạ, nhưng chưa rõ là gì và cũng cho đó là mộng. Ni sư thường ngủ chung với người chị, nửa đêm ngồi thiền nhập định. Một hôm tỉnh giấc, chị đưa tay qua màn ngăn sờ thầy người của ni sư cứng như gỗ đá, không còn hơi thở. Người chị vô cùng hoảng sợ kêu gọi người nhà. Sau đó chị em ôm nhau đến sáng cũng chẳng hay. Gia đình chạy đến hỏi các thầy pháp. Họ đều đáp: “Đó là do quỉ thần dựa”.
Năm ni sư mười một tuổi, thiền sư Cương-lương-da-xá từ Tây Vực đến nước Thục. Ni thưa hỏi cảnh giới khi mình ngồi thiền. Ngài Da-xá nói ni sư đã đạt một phần thiền định, khuyên nên xuất gia.
Bấy giờ bà sắp xuất giá, gia đình đã định ngày giờ. Ni Pháp Dục chưa kịp thực hành lời dặn của ngài Da-xá, nghe nói bà sắp xuất giá, nên lén đưa về chùa. Gia đình biết được, đến dẫn về ép bà lấy chồng. Nhưng ni sư chẳng chịu đi mà phát nguyện kiên cố: “Nếu đạo tâm của con chẳng thành tựu mà bị người ngăn cản, bức ép, con sẽ lao vào lửa, làm thức ăn cho cọp để bỏ thân dơ uế này. Nguyện mười phương chư Phật chứng kiến lòng chí thành của con”.
Thứ sử Chân Pháp Sùng tin kính Phật pháp, nghe chí hướng của ni sư, liền mời đến diện kiến, mời quan Cương tá và sa-môn Hữu Hoài đến gạn hỏi. Ni sư đối đáp thông suốt, được mọi người ca ngợi. Thứ sử cho phép xuất gia. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 19 (442), Lâm Xuyên Khang vương Nghĩa Khánh thỉnh ni sư đến chùa Quảng Lăng.
13.5.4. Đời Tống, cư sĩ Triệu Tập: Cư sĩ ở Hoài Nam. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 12 (435), ông làm Vệ quân phù tá. Ông bị bịnh lâu ngày, lo nghĩ nhất định chảng cứu được, nên luôn luôn chí thành qui y Phật. Một đêm nọ, ông mộng thấy một người cao lớn kì dị giống như vị thần lấy một gói nhỏ và một con dao cạo đầu trên nóc nhà mình trao cho ông và nói: “Uống thuốc này, dùng dao này thì nhất định lành bịnh”. Ông liền tỉnh giấc, quả thật thấy con dao và gói thuốc, liền lấy uống, bịnh lành. Sau đó ông xuất gia lấy pháp danh Tăng Tú, thọ hơn tám mươi tuổi.
13.5.5. Đời Tống, hai ni sư họ Luân ở Đông Cung: Niên hiệu Nguyên Gia đầu tiên (424), tại Đông Cung Luân có hai chị em; người chị mười tuổi, em chín tuổi. Bấy giờ, người dân trong làng quá mê mờ, chưa biết Phật pháp. Bỗng vào ngày mùng tám tháng hai, cả hai chị em đều mất tích, ba ngày sau mới trở về và nói là gặp được Đức Phật.
Đến ngày rằm tháng chín, họ lại mất tích, mười ngày sau mới trở về, nói tiếng nước ngoài, tụng kinh tiếng Phạn và nói gặp vị tăng nước Tây Vực khai ngộ cho họ.
Ngày rằm tháng giêng năm sau, họ lại mất tích. Người làm ruộng thấy họ theo gió bay lên trời. Cha mẹ buồn khóc, khẩn cầu thần thánh. Một tháng sau họ trở về với hình dáng tì-kheo-ni, đầu tròn áo vuông, cầm búi tóc và kể lại gặp được Đức Phật và gặp một tì-kheo-ni bảo: “Hai con nhờ duỵên đời trước nên hôm nay được làm đệ tử ta”, rồi lấy tay xoa đầu, tóc họ liền rụng. Vị tì-kheo-ni đặt pháp danh người chị là Pháp Duyên, người em là Pháp Thái và bảo họ trở về xây tinh xá, đọc tụng kinh điển, về đến nhà, họ liền dẹp chỗ thờ quỉ thần, lập tinh xá, sáng tối lễ Phật, tụng kinh. Mỗi lần tu trì, mây năm sắc lan tỏa đến đỉnh núi. Từ đó uy nghi, giọng nói của họ có phép tắc. Phẩm hạnh của họ, người ở kinh đô không ai hơn được. Thứ sử Vi Lãng, Khổng Mặc v.v... đều ngưỡng mộ và rất kính trọng.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục