Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ

06/11/2015

QUYỂN 23 Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp. 14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn) 14.1. LỜI DẪN Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi;...

PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ
Phần 1

QUYỂN 23
Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp.
14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn)

14.1. LỜI DẪN
Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi; bẩm sinh không nhất định, hoặc trí hoặc ngu; thiên tính chẳng đồng, hoặc thiện hoặc ác. Vì tâm thiện nên có tàm có quí, vì lòng ác nên không tàm không quí. Nhưng hàng tâm phàm phu mê hoặc, nếu chưa tu đạo để dứt trừ, thì lẽ ra ngày đêm nên tự sạch tấn, siêng năng tu tập, hổ thẹn tự tâm còn mờ mịt lí không, mong lìa sinh tử. Từ xưa đến nay vô trí, không biết đạo Chí Chân, khiến phiền nẵo chất đầy, lậu hoặc vô số. Mong nhờ một niệm thiện diệt trừ muôn phiền não, quét sạch màn đêm dày đặc, khiến rỗng rang thanh tịnh. Vì thế Đại Thánh thiết tha răn dạy người tu hành nên xấu hổ với danh ứng cúng, luống uổng nhận tên phúc điền; thật thẹn với từ sa-môn, luống uổng nhận hiệu Khất sĩ. Đối với người, thì không có năng lực hóa độ chúng sinh như bồ-tát; đối vơi bản thân, thì thiếu khả năng tự điều phục như thanh văn, làm ô nhục thầy bạn, cô phụ đàn việt. Lại chẳng thể kham nổi ngôi vị quốc vương, không thể báo đáp ân đức chamẹ. Sự việc giống cái bình bị vỡ, nghĩa lý như hạt giống bị cháy, cũng như cây đa-la đã chặt ngọn thì đâu thể nào nảy mầm trở lại, đá chẻ làm đôi thì không bao giờ gộp lại nguyên vẹn. Những hạng người này quỉ thần khinh ghét, gọi là kẻ ác, còn Như Lai cho đó chẳng phải là đệ tử của Ngài.
Đã chẳng thể làm ruộng phúc thế gian, sao dám nhận người khác kính lễ; gần thì ngăn cản con đường trời người, xa thì chướng ngại đạo hiền thánh. Tội như thế rất nhiều, đâu thể nói hết. sống trong đạo mà còn như vậy, ở nơi tục thì làm sao cứu được! Vì thế một khi mất thân người thì trải qua nhiều kiếp mới gặp lại, gặp lại thì vẫn y như cũ. Nay phải lấy nước tàm quí rửa sạch bụi thức tỉnh; cầm dao phát lộ chặt đứt lưới che giấu. Ngưỡng lên thì xấu hổ với tiên hiền, cúi xuống thì hổ thẹn với hậu đức; thành tâm sám hối đến tận vị lai; thấy tất cả phàm phu thì khởi ý niệm cung kính như thấy Phật; tự răn mình luôn có ý niệm thấp kém như kẻ hạ tiện; chẳng có tâm che giấu lôi lầm, luôn luôn tu học tất cả pháp thiện, thổ lộ hết lòng này, đó gọi là tàm quí.
14.2. DẪN CHỨNG
Kinh Niết-bàn ghi:
- Có hai pháp thiện là tàm và quí để cứu chúng sinh. Tàm là bản thân không làm ác; quí là không bảo người khác gây tội. Tàm là xấu hổ trong lòng; quí làbày tỏ lỗi lầm cho người biết. Tàm là hổ thẹn với người; quí là hổ thẹn với trời. Người có tàm quí mới cung kính cha mẹ, thầy tổ, tất cả hàng xuất gia, tại gia cùng người, phi nhân, lại thêm kính trọng Tam bảo, diệt trừ các nghiệp ác”.
Luận Ca-chiên ghi:
- Hỏi: Vô tàm là gì?
Đáp: Việc đáng hổ thẹn mà chẳng hổ thẹn, việc đáng tránh mà chẳng tránh; cung kính với tâm bất thiện, kết giao với tâm bất thiện gọi là vô tàm.
Hỏi: Vô quí là gì?
Đáp: Việc đáng thẹn mà không thẹn, việc đáng sợ mà chẳng sợ, chẳng sợ việc ác, cho nên gọi là vô quí. Lại kết giao với tâm bất thiện gọi là vô tàm; chẳng sợ việc xấu gọi là vô quí; ngược lại ý trên thì gọi là tàm quí.
Luận Tân bà-sa ghi:
- Ở thế gian, chúng sinh thấy người vô tâm cho là vô quí, thấy người vô quí cho là vô tâm, rồi nói đặc tính của tàm quí là một. Sau đây sẽ trình bày sự khác nhau về tính tướng của tàm quí giúp người còn nghi ngờ hiểu biết chính xác.
Hỏi: Sự khác nhau giữa vô tàm, vô quí như thế nào?
Đáp: Tâm buông lung mà không sợ hãi là vô tàm; không sợ tội là vô quí. Không cung kính là vô tàm, không sợ hãi là vô quí. Không chán ghét phiền não là vô tàm, không chán ghét ác hạnh là vô quí. Tạo ác mà không tự xét lại là vô tàm, gây tội mà không kể gì đến người khác là vô quí. Tạo ác mà không tự thẹn là vô tàm, gây tội mà không hổ thẹn với người khác là vô quí. Tạo ác mà không thẹn lương tâm là vô tàm, gây tội mà cao ngạo phóng túng là vô quí. Tạo ác khi không có người mà không xấu hổ là vô tàm, gây tội lúc có người mà không hổ thẹn là vô quí. Tạo ác khi có ít người chung quanh mà không xâu hổ là vô tàm, gây tội giữa đám đông mà không hô thẹn là vô quí. Tạo ác trước chúng sinh ba đường ác mà không xấu hổ là vô quí, gây tội trước hữu tình ba đường thiện mà không hổ thẹn là vô quí. Tạo ác trước kẻ ngu mà không xấu hổ là vô tàm, gây tội trước người trí mà không hổ thẹn là vô quí. Tạo ác trước kẻ thấp hèn mà không xấu hổ là vô tàm, gây tội trước người tôn quí mà không hổ thẹn là vô quí. Tạo ác trước kẻ tại gia mà không xấu hổ là vô tàm, gây tội trước người xuất gia mà không hổ thẹn là vô quí. Tạo ác trước người chẳng phải thân giáo sư, quĩ phạm sư mà không xấu hổ là vô tàm, gây tội trước thân giáo sư, quĩ phạm sư mà không thẹn là vô quí. Khi tạo tộimà không xấu hổ với trời là vô tàm, khi gây tội không hổ thẹn với người là vô quí. Không chê trách các nhân ác là vô tàm, không chán sợ những quả ác là vô quí. Đông loại với tham là vô tàm, đông loại với si là vô quí.
Trên đây là sự sai khác giữa vô tàm và vô quí. Hai pháp này chỉ thuộc về cõi Dục, là pháp bất thiện tương ưng với tất cả tâm, tâm sở bất thiện, ngoại trừ tự tính.
Luận Du-già ghi:
- Thế nào là vô tàm, vô quí? Đos là thấy bản thân và người khác không có gì đáng hổ thẹn, cho nên muốn chê bai hủy phạm. Đã phạm mà không như pháp sám hối diệt trừ lỗi lầm, thích gây ra mọi việc tranh tụng, trái nghịch, đó gọi là vô tàm, vô quí.
Kinh Di giáo ghi:
- Tàm như móc sắt có thể chế phục người làm chuyện phi pháp, cho nên tì-kheo phải luôn luôn tàm quí, không được tạm rời. Nếu lìa tàm quí thì mất hết các công đức. Người có quý thì có pháp thiện; người vô quí thì không khác gì cầm thú.
Luận Trí độ có bài kệ ghi:
Hành đạo biết tàm quí
Khất thực độ chúng sinh
Tại sao theo dục trần
Chìm đắm trong ngũ tình.
Mặc giáp, cầm vũ khí
Thấy giặc liền bỏ chạy
Phần 2

Người hèn yếu như thế
Cả thế gian xem thường.
Tì-kheo là khất sĩ
Cạo tóc, đắp ca-sa
Bị ngũ tình chế phục
Khiến người đời cười chê.
Lại như người giàu sang
Mặc y phục tốt đep
Xin y phục, thức ăn
Khiến người đời cười chê.
Tì-kheo bỏ phục sức
Cạo tóc, nhiếp tâm ý
Mà lại cầu dục lạc
Khiến người đời cười chê.
Đã lìa năm dục lạc
Không thèm đoái hoài nữa
Sao lại còn mong muốn
Như ngu ăn đàm dãi.
Kẻ tham dục như thế
Chẳng biết quán bản nguyện
Cũng chẳng biết tốt xấu
Cuồng say trong các ái.
Người tàm quí kính pháp
Bỏ tất cả dục lạc,
Bậc trí lìa ái dục
Ngu si lại đắm chìm.
Khi cầu dục thì khổ
Được rồi rất lo sợ
Khi mất càng buồn khổ
Tất cả đểu chẳng vui.
Dục gây họa như thế
Làm sao để buông bỏ?
Tạo phúc, vui thiền định
Thì chẳng bị người khinh.
Đắm dục lạc, không chán
Làm sao để diệt trừ?
Nếu tu bất tịnh quán
Tâm này tự nhiên Không.
Kinh Chỉnh pháp niệm ghi:
- Nếu người nào phá giới, nhiều tham dục, hành pháp ác, thì thật chảng phải sa-môn mà tự xưng là sa-môn, giống như dã can đội lốt sư tử, như bên trong bình báu trống rỗng, không có thứ gì.
Luận Trang nghiêm có bài kệ ghi:
Đã đắpy hoại sắc
Cần phải hành pháp thiện
Nên tu hạnh tịch tĩnh
Tư duy, điều phục tâm.
Tại sao đắp ỵ này
Còn trợn mắt, giương mi
Nhíu mày, lại phùng má
Hiện ra tướng sân hận,
Xuất gia còn sân si
Không nên ở trong chúng.
Ganh ghét như gông cùm
Sân thật là đáng sợ;
Là ngôi nhà thấp hèn
Là hạt giống xấu ác,
Bạn của lời thô lỗ
Lửa dữ đốt rừng tâm,
Hiên bày nghiệp ác đạo
Cửa tranh cãi oán thù
Giường nệm của tiếng xấu.
Tạo gốc ác rất nhanh
Nên phải tự suy xét
Hình tướng người xuất gia
Tâm, tướng phải tương ưng
Nay sao không tương đồng!
Pháp của thầy tì-kheo

Phần 3

Khất thực để nuôi thân
Sao dùng của thí chủ
Mà lòng lại sân hận?
Bụng chứa thức ăn này
Sao lại sinh giận dữ
Thức ăn của tín thí
Sao có thể tiêu hóa?
Thân này chẳng thanh tịnh
Chín lo thường bài tiết
Hôi thối thật đáng ghét
Là vật chứa các khổ.
Thân này rất xấu xa
Tích tụ những ung nhọt
Khi bị xúc chạm nhỏ
Thì vô cùng khổ não.
Thân giống như tấm bia
Thường bị tên bắn trúng,
Có thân nên có khổ
Không thân thì không khổ
Ruồi, muỗi và trùng độc
Có thể đốt chết người
Nên thường phải tinh tiến
Mau xa lìa thân này.
Nên biết, người xuất gia hoặc tại gia thường phải chính niệm hiện tiền đối với những điều ở trên, không được mới hiểu một chút ít liền khởi tâm ngã mạn, không biết tàm quí. Như người chứng bốn quả, tuy chẳng thụ tổng báo nhưng vẫn thụ biệt báo. Chonên kinhHiền ngu ghi: “Như Ương-quật-ma-la đượcgặp Phật và chứng quả A-la-hán, nhưng do đã từng giết chín trăm chín mươi chín người, nên ở trong phòng mà lửa địa ngục từ chân lông phát ra khiến ông vô cùng đau khổ”. Huống gì phàm phu chưa dứt phiền não, tùy theo nghiệp tội đã tạo nhất định đọa ba đường ác. Được làm người rất khó, nhưng khi gặp nhân duyên ác thì rất dễ mất thân người, vì ác nhiều thiện ít. Trong một ngày, khởi trăm nghìn niệm ác mà chẳng có một niệm thiện.
Kinh Tịnh độ tam-muội ghi:
* Tội phúc chất chồng, nhưng có thứ lớp rõ ràng, sau này phải thụ nhận, quả báo tội phúc chẳng mất, mỗi niệm thụ một thân. Niệm thiện thì thụ thân trời, người; niệm ác thì thụ thân trong ba đường ác. Trăm niệm thụ trăm thân; nghìn niệm thụ nghìn thân. Một ngày một đêm gieo nghiệp sinh tử, về sau phải thụ tám ức năm mươi vạn thân đủ loài. Trong trăm năm gieo nghiệp, đời sau thật khó tính được. Tâm thức bám theo nghiệp mà thụ thân khắp tam thiên đại thiên thế giới. Thân, xương, da, lông cũng đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới.
Kinh Bồ-tát xử thai có bài kệ:
Vô số kiếp đến nay
Lưu chuyển trong sinh tử
Ta thụ vô lượng thân
Chẳng thể lìa bào thai
Tính số thân từng trải
Không thể nói ra hết
Những kiếp làm chó trắng
Xương chất ức tu di
Thân ta khắp đại địa
Mũi kim cũng chẳng lọt
Huống gì làm loài chó
Số lượng chẳng thể tính
Nên ta nhiếp tâm ý
Chẳng tham, chẳng buông lung
Kinh Đề-vị ghi:
- Như có một người đứng trên núi Tu-di, thòng một sợi chỉ nhỏ xuống; lại có một người ở chân núi cầm cây kim đưa lên; lúc ấy bổng cơn lốc xoáy mịt mù nổi lên làm cho sợi chỉ khó lọt vào lỗ kim. Được làm người còn khó hơn thế
Kinh Bồ-tát xử thai ghi:
- Thế tôn nói kệ:
Rùa mù, bộng cây trôi
Cũng còn có lúc gặp
Một khi mất thân người
Ức kiếp khó tìm lại.
Biển sâu rộng ba trăm
Ba mươi sáu vạn dặm
Ném một cây kim xuống
Còn có thể tìm thấy
Một khi mất thân người
Gặp lại còn khó hơn.
Luận Đại trang nghiêm có bài kệ:
Lìa các nạn đã khó

Phần 4

Được thân người khó hơn
Nếu đã lìa các nạn
Cần phải thường tinh tiến.
- Thuở xưa, một cậu bé đọc kinh thấy có câu chuyện con rùa mù gặp bông cây nổi là việc rất khó. Sau đó, cậu bé kiếm miếng ván, đục một lỗ vừa đầu mình chui qua, rồi ném vào trong hồ. Cậu bé vào hồ, lặn xuống trồi lên mong chui đầu qua lỗ ván, nhưng tạm ván trôi bồng bềnh trên mặt nước không thể đưa đầu vào được. Cậu bé nghĩ: “Thật là đáng chán! Thân người thật khó được, giống như Đức Phật dùng ví dụ con rùa mù trăm năm mới trồi lên mặt nước một lần và bông cây nhỏ trôi giữa biển. Thật là khó gặp! Nay ở trong hồ nhỏ, lỗ ván thì lớn và hai mắt của ta còn sáng, thế mà ta đã trồi lên, lặn xuống cả trăm lần vẫn không chui đầu qua ván được, huống gì con rùa mù gặp bộng cây!”.
Cậu bé nói kệ:
Bộng cây nhỏ lênh đênh
Trênbiển cả mênh mông
Trăm năm, rùa mù nổi
Thật khó có thể gặp
Ta ở ao nước nhỏ
Lỗ ván lại rất lớn
Cả trăm lần trồi lên
Không thể chui vào được.
Rùa mù thật là khó
Chui đầu qua bông cây.
Ác đạo sinh làm người
Khó được cũng như vậy.
Nay ta được thân người
Chớ để tâm buông lung.
Hằng hà sa chư Phật
Ta chưa từng được gặp,
Hôm nay được tĩnh nhận
Lời của Đức Thế Tôn.
Pháp mầu Ngài đã dạy
Ta quyết sẽ thụ trì.
Phải khéo léo tu tập
Cứu độ khắp muôn loài
Không ai cứu ta được
Nên phả tinh tiến.
Nếu đọa vào tám nạn
Sao có thể xa lìa!
Nghiệp thế gian đeo đuổi
Rơi vào trong đường ác.
Nay ta nên trọn mau
Thoát khỏi ngục ba cõi
Nếu chưa lìa ngục này
Làm sao được giải thoát?
Đọa vào loài súc sinh
Trải qua vô số kiếp,
Địa ngục và ngạ quỉ
Tối tăm và khốn khổ.
Nếu ta không siêng tu
Làm sao xa lìa được
Các đường ác hiểm nạn?
Nay đã được thân người
Không dứt hết khổ đau
Không lìa ngục ba cõi
Nên siêng năng tu tập
Quyết lìa ngục ba cõi,
Nay ta cầu xuất gia
Nhất định được giải thoát.
Kinh tội nghiệp báo ứng có bài kệ:
Dòng chảy thường không đầy
Lửa mạnh chẳng cháy lâu
Mặt trời mọc rồi lặn
Trăng tròn rồi lại khuyết.
Dù giàu sang, quyền quỷ
Cũng thoáng chốc qua mau.
Vì thế nên biết thân người khó được lại dễ mất. Vì dễ mất nên không được tham đắm dục lạc. Phải biết thân người từng niệm từng niệm gần đến cái chết, như đồ tể kéo heo, dê đem đến lò mồ.
Kinh Niết-bàn ghi: “Quán thọ mạng này thường bị vô lượng oán thù vây quanh; niệm niệm tổn giàm, không tăng trưởng; giống như dòng thác không bao giờ dừng,

Phần 5

như hơi sương sớm mau chóng tan biến, cũng như tù nhân đi đến pháp trường, từng bước từng bước gần đến cái chết”.
Kinh Ma-da có bài kệ ghi:
Như kẻ Chiên-đà-la
Lùa trâu đến lò mổ
Mỗi bước gần chỗ chết
Mạng người còn mau hơn.
Từ giai vị Phật trở về phàm phu, thể chưa tròn sáng; tuy có phần chứng vô sinh, nhưng cũng còn ba .tướng dời đổi; huống gì phàm phu còn cách xa cảnh tịnh, thiện ác lẫn lộn, trắng đen chưa phân, đâu có thể tránh khỏi lỗi phiền lụy, tội ái nhiễm!
Nay nghe cái đẹp của người xuất gia nhập đạo, chẳng được tùy tiện nói là không có cái ác; nghe lỗi lầm của cư sĩ tại gia, chẳng được tùy tiện nói là không có điều thiện. Nếu tâm tu hạnh này thì giống như cái đẹp của người xuất gia. Nếu trái hạnh này thì chân thật luống uổng việc xuất gia. Người tại gia có nhiều quyến thuộc, việc riêng, việc chung quấy rối, còn không tham tiếc những vật cần dùng, huống chi sa-môn tịnh hạnh tự tại sống một mình! Chỉ cần ba y, sáu vật, trăm thứ cung cấp thân này, còn ngoài ra đều là chướng duyên, đâu cần chất chứa! Kinh, luật đều chê trách, đã nói rõ ràng trong thánh giáo.
Nếu bỏn xẻn tài và pháp, không chịu ban phát cho kẻ ngu si thì hạt giống trí chẳng thành, liền mất thánh thai. Cho đến tội nhỏ cũng phải rất sợ hãi, thường cung kính người lớn, nhường nhịn kẻ nhỏ, không được tự cao, khinh thường tiền bối. Đối với những kẻ hay phạm tội nặng, gom chứa ruộng đất nhàcửa, tích tữư tài sản qua nhiều, khó nhọc với việc thế gian, hạng người này cực ác, đâu cần nói đến!
Nay chỉ trình bày sơ lược hạng người bậc trung bậc hạ học thức ít ỏi, hiểu biết cạn cợt lại cho rằng trí hơn người, khởi tâm kiêu mạn vô cùng, đời sống buông thả, khinh miệt mọi người, lần áp trời đất, xem thường thầy tổ, quát mắng bậc tôn túc.
Đạo vốn hòa hợp, cung kính tùy thuận tăng chúng; nhưng tâm và tướng trái nhau thì đâu thể trở thành tăng bảo! Có kẻ chỉ đọc sách thế gian, thích ngao du, gảy đàn, chơi cờ, ngâm thơ để qua ngày đoạn tháng, còn pháp nội giáo rất cần thiết cho việc cứu chúng sinh, văn nhiệm lí mầu, ngôn từ hoa mĩ ẩn giấu nhiều nghĩa, có thể diễn đạt một câu thành vô lượng nghĩa, những kinh luận tân và cựu có đến vài nghìn thì chưa từng xem qua đến một câu; sách vở thế gian không cần thiết thì ngày đêm siêng năng học hỏi. Nếu sợ người đời cười ta là không biết, không học sách vở thế gian thì sao chẳng sợ người đời hỏi về nghĩa lí kinh điển mà ta chẳng đáp được? Ở ngay trong đạo mà không tinh thông việc đời thì đâu có gì xấu hổ. Sống đời xuất gia mà không hiểu suốt việc đạo thì thật hổ thẹn vô cùng.
Vì đời mạt pháp, mạng người rất ngắn, vô thường nhanh chóng, sáng còn tối mất, e rằng một khirơi vào đường ác, muôn kiếp khó ra, không có cách nào để gặp lại Phật pháp. Tuy học kinh luật nhưng chỉ cần học một ít sách vở thế gian thì cũng có thê hàng phục ngoại đạo. Đây là nói cho người bậc thượng thông minh trí tuệ.
Trước am tường nội điển thì cũng sẽ biết ngoại điển, biện luận sắc bén, lời nói liên quan đến kinh điển. Người thông suốt cùng tận nội điển, ngoại điển thì đáng làm bậc thầy; nếu tu học đúng như lời dạy trong kinh điển thì có thể hàng phục ngoại đạo. Nay tự lượng sức mình, nếu gặp việc thì không đủ năng lực giải quyết, thần thức thường bị che lấp, ngu si tối tăm; tự cứu còn chưa xong, nói gì đến việc làm lợi ích chúng sinh? sắc hương chẳng thông, sao phân biệt đâu là lúa, đâu là đậu! Xin quay lại xét bản thân mà tu học.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Phật dạy các tì-kheo: “Người xuất gia cần tu tuệ học, nghiên cứu kinh điển, không được xem đọc sách vở ngoại đạo Lộ-già-da v.v..., nên sống ở núi rừng vắng vẻ, tịnh thất, tu thiền, lễ Phật, tụng kinh, dứt tà hiển chính. Các ông phải chú trọng các việc này”.
Kinh Thúc-ca ghi:
- Bà-la-môn Thúc-ca thưa Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Người tại gia tu phúc đức, gieo trồng căn lành hơn người xuất gia chăng?
Đức Phật dạy: “Vấn đề này không nhất định. Người xuất gia nào không tu căn lành thì không bằng người tại gia thường gieo trồng căn lành”.
Tam thiên oai nghi ghi:
- Những việc người xuất gia thường làm là tọa thiền, tụng kinh, giáo hóa. Nếu đầy đủ ba việc này thì đó là người xuất gia đúng pháp, nếu không thực hành thì đó là kẻ sống dư chết thừa, chỉ gây nhân đau khổ mà thôi.
Kinh Bách dụ ghi:
- Xưa có người cần lửa và nước lạnh. Anh ta liền đặt một nồi nước lạnh lên trên đống lửa đun qua đêm. Sáng hôm sau, anh ta muốn lấy lửa thì lửa đã tắt, muốn lấy nước lạnh thì nước đã nóng. Cả nước lạnh và lửa đều không có. Người thế gian xuất gia cầu đạo trong Phật pháp, còn nghĩ đến vợ con và năm dục, nên mất lửa công đức và cả nước trì giới. Người tu hành nghĩ đến ái dục cũng lại như vậy.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Phật dạy: “Sau khi Ta diệt độ, có đệ tử thanh văn ngu si phá giới, thích đấu tranh, bỏ phế mười hai thể loại kinh, đọc tụng các sách vở, thơ văn ngoại đạo, cất chứa mọi thứ bất tịnh, lại bảo là Phật cho phép như vậy. Người như thế là người đem gỗ chiên-đàn đổi lấy gỗ tạp, đem vàng đổi lấy thâu thạch, đem bạc đổi lấy thiếc, đem lụa đổi lấy vải thô, đem cam lộ đổi lấy thuốc độc”.
Kinh Di giáo ghi:
- Ngày thì siêng năng tu tập pháp thiện, đừng nên lãng phí thời gian. Đầu đêm, cuối đêm cũng chớ bỏ phê. Nửa đêm tụng kinh để dứt trừ phiên não, tăng trưởng pháp thiện; không vì nhân duyên ngủ nghỉ làm cho một đời luống qua không được gì cả.
Người nào thực hành như trên thì có thể được bốn quả Sa-môn cho đến chứng Bồ-đề, xứng đáng là bậc thầy mô phạm, là ruộng phúc thế gian. Như vậy mới tiêu hóa hết phẩm vật của tín thí dâng cúng.
Luận Ti-bà-sa ghi:
- Giống như người nhìn mặt trời thì lóa mắt, người nghiên cứu sách ngoại đạo thì tuệ nhãn bất tịnh. Giống như người nhìn mặt trăng thì mắt sáng tỏ, người tư duy kinh luận Phật giáo thì tuệ nhãn trong sáng. Nếu đọc sách ngoại đạo và thế gian thì giốngnhư đánh con khỉ, nó chỉ tuôn ra các thứ bất tịnh. Nếu tư duy Phật pháp thì giống như chuyện vàng ròng, càng luyện càng tinh.

Phần 6

Kinh Bồ-tát thiện giới ghi:
- Bồ-tát không đọc tụng kinh điển chính pháp của Như Lai mà đọc tụng các sách vở, thơ văn, sớ giải của thế gian thì phạm tội. Nhưng nếu vì luận bàn nghĩa lí để phá tà, đọc tụng hai phần kinh Phật, một phần ngoại điển thì không phạm tội. Tại sao? Vì ngoại điển là pháp hư dôi, Phật pháp là pháp chân thật, nhưng vì biết việc đời để không bị người đời xem thường, nên phải xem đọc vậy.
Căn cứ đoạn văn dẫn chứng trên, người học Phật pháp nếu cứ bỏ nội điển, theo ngoại giáo thì phạm tội. Dù đã hiểu lí và hạnh thì cũng chỉ nên tạm học ngoại điển để hàng phục ngoại đạo, sau đó phải lìa bỏ, luôn tiến tu đạo nghiệp cho giỏi. Nếu chi đắm mê ngoại điển thì đánh mất chính pháp.
Luận Địa trì ghi:
- Nếu bồ-tát không học những điều Phật dạy, lại hoc sách ngoại đạo và kinh điển thế gian thì phạm tội. Người phạm nhiều lần gọi là phạm nhiễm ô. Nếu người thật thông minh, có thể học nhanh, đã được Bấtđộng trí, hàng ngày học hai phần Phật pháp và một phần ngoại điển thì không phạm. Nếu ưa thích, không lìa bỏ, không có ý lìa bỏ sách vở thế gian và ngoai đạo, tà giáo thì phạm nhiễm ô.
Có bài tụng:
Đông, chồn mọc lồng mịn
Xuân, tằm nhả tơ mềm
Thân thể làm chướng ngại
Tâm thức tự dối lừa.
Ấu thơ biết ăn no
Đến lúc tuổi niên thiếu
Đánh xe theo hiệp sĩ
Rượu, kĩ nữ mua vui.
Chỉ nghĩ đẹp trước mắt
Đâu biết buồn về sau.
Tỉnh ngộ liền hổ thẹn
Vĩnh viễn dứt ái tình.
Mong biết gốc chân vọng
Nhiễm tịnh tự xa rời
Tàm quí bám ngũ cái
Đâu biết đồng tứy.
15. CHƯƠNG KHUYÊN DẠY
15.1. LỜI DẪN
Quí tiện chẳng thường, giàu nghèo không định. Giống như nước và lửa lưu chuyên qua lại, lạnh với nóng đắp đổi lẫn nhau. Cho nên thấy có người giàu sang cơm no áo ấm, không cần nhọc sức kiếm tìm, của cải vẫn tự nhiên đến. Lại thấy kẻ nghèo khổ đói khát rách rưới, bôn ba tìm cầu, thức khuya dậy sớm, thân hình tiều tụy, tâm trí phiền muộn; dù họ có kiếm được đôi đồng, rồi cũng bị tán thất trăm đường. Suốt ngày ao ước giàu sang, nhưng thực tế chưa từng có được, do đó khổ não chất chồng. Bởi thế, nay khuyên mọi người thực hành bố thí, nỗ lực tu phúc.
Lại thấy có người nhiều áo quần đẹp đẽ, sạch sẽ thơm tho thích hợp thời tiết bốn mùa ấm, lạnh, nóng, mát. Nhưng lại thấy có người không đủ mảnh vải che thân, rách nát bụi bặm, xấu xí hôi dơ. Tiết trời nóng nực, chẳng dám mơ quần lụa áo the; khí lạnh đóng bàng, chẳng biết đến chăn bông nệm ấm, đến nỗi thân hình chẳng che kín, nam nữ trần truồng, không chỉ đáng thẹn mà thật khổ lắm thay! Thấy cảnh này há không muốn lìa bỏ ư? Do đó mới khuyên mọi người cần phải tu phúc, bố thí y phục, nhà cửa. Lẽ nào không thấy mọi người đều giàu có, còn ta hoàn toàn không? Cho nên cần phải dũng mãnh tu tập.
Lại thấy có người, món ngon vật lạ được dâng đến tận nơi, thức ăn dọn bày hàng hàng lớp lớp, mâm cao cỗ đầy, hương thơm ngào ngạt. Nhưng lại cóngười, cơm hẩm cũng không đủ bữa, canh lêhoắccũng còn thiếu. Muối dưa sớm tối đều không, cá canh lâu ngày chẳng thấy. Đến nỗi nhiều ngày mới được ăn, nên cháo lỏng cháo đặc thay nhau, trái chín trái xanh đắp đổi. Hơn nữa, rau cỏ úa vàng, càng thêm khốn đốn, thật vô phương tự cứu! Thấy cảnh khổ này, há không muốn xa lìa ư? Bởi vậy, nay tôi khuyên mọi người nên tu phúc, thực hành bố thí món ăn, thức uống. Lẽ nào mọi người đều sung túc, còn ta khốn khó ư? Cho nên cần phải dũng mãnh tu tập.
Lại thấy có người công danh hiển hách, cưỡi ngựa quí, mặc áo lụa, khoái chí tự tại. Đi thì trời người đón rước, đứng thì quỷ thần kính trọng. Nhưng lại có người hèn hạ quê mùa, mọi người khinh khi, sống chết chẳng thèm quan tâm, sống lầm than bên cống rãnh, lăn lóc giữa phân dơ. Dầu có lớn tiếng kêu gào, nhưng họ lại chịu thêm nỗi khổ bị đánh đập.
Không chi quỷ thần chẳng kính nể, cả đến chó mèo cũng muốn làm thêm khốn khổ. Thấy nỗi thống khổ này, há không muốn lìa xa ư! Bởi vậy, nay khuyên mọi người phải lo tu phúc, dẹp bỏ tâm kiêu mạn, nên thực hành đức tính khiêm cung. Lẽ nào mọi người thường giàu sang, còn ta nghèo hèn mãi sao? Cho nên hãy nỗ lực tu tập.
Lại có người hình dung tuấn tú, nói năng lưu loát, thường đem lợi ích cho người; lòng từ trang trải,lời lẽ chẳng làm tổn thương muôn vật. Nhưng lại có người mặt mày xấu xí, ăn nói cộc cằn, chỉ biết lợi mình, chẳng nghĩ đến người khác. Người ta nhẫn nhục, nên nhận được quả tốt, còn mình lắm sân hận, nên phải chịu quả xấu. Thấy nỗi thống khổ này, há không muốn xa lìa sao? Bởi vậy, nay tôi khuyên mọi người nên tu phúc, dẹp trừ tâm sân hận, nỗ lực tu nhẫn nhục. Lẽ nào mọi người thường ở nơi tốt đẹp, còn ta mãi mãi chìm trong cảnh xấu ác sao? Cho nên cần phải dũng mãnh tu tập.
Lại có người ý chí mạnh mẽ, ít khi bệnh tật, thường lo tu tập, không chút chướng ngại. Nhưng lại có người thân thể bệnh hoạn ốm gầy, khí lực suy kém, đi đứng khó khăn, ngồi nằm chẳng ổn. Thấy cảnh xấu ác này thật đáng xa lìa. Bởi thế, nay khuyên mọi người cần phải tu phúc, bố thí thuốc men, tùy thời cứu giúp. Lẽ nào mọi người luôn tráng kiện mạnh khỏe, còn ta mãi lăn lộn với bệnh tật sao? Do đó, cần phải nỗ lực tu tập.
Những việc như thế, thật rất cần sách tấn. Nếu không khuyên bảo nhau, thì người học đạo dễ sinh giải đãi.
15.2. DẪN CHỨNG

Phần 7

Kinh Niết-bàn ghi: “Nhà cửa như ngục tù, vợ con như xiềng xích, tài vật như gánh nặng, quyến thuộc như oan gia. Nếu người nào có thể một ngày một đêm thụ trì giới pháp thanh tịnh, sáu thời tu tập, một năm ăn chay ba tháng, mỗi tháng ăn chay sáungày, rau dưa đạm bạc, giữ gìn thân, khẩu, ý không cho chạy theo cảnh trần, chuyên tâm hướng đến giải thoát, dốc lòng tu tập Phật pháp, đi đứng uy nghi không thiếu, nằm ngồi giới tướng không quên, đêm luôn cầu trời sáng, ngày thường tu pháp thiện, kính trọng sa-môn, thương xót muôn loài, thì dù sống tai gia, nhưng có thể thoát khổ”.
Kinh còn ghi:
- Vào thời Phật pháp sắp diệt, người tại gia hộ pháp, tu thiện được sinh lên cõi trời như tuyết bay, còn tì-kheo phá giới luật, phạm trai sẽ đọa vào đường ác như mưa rơi.
Nên biết sống trong cảnh khổ mà tu phúc thì được phúc rất lớn, ở chốn giàu sang mà tạo tội thì chịu tội chẳng nhỏ. Cho nên, từ chốn đau khổ vào chỗ vui sướng, đâu biết hết niềm vui trong cảnh vui; từ chỗ vui sướng vào nơi khổ đau, liền nếm đủ nỗi khổ trong cảnh khổ. Lời nói này thật đáng chiêm nghiệm! Mong mọi người hãy xét kĩ!
Kinh Pháp cú có bài kệ:
Lửa nào bằng lửa dâm dục Độc nào hơn phẫn nộ Khổ nào bằng khổ thân Vui nào hơn Niết-bàn!
Nói kệ xong, Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thuở xa xưa cách đây vô số kiếp, có tì-kheo Tinh Tiến Lực chứng được ngũ thông. Vị ấythiền định cầu đạo bên một gốc cây trong núi. Bấy giờ có bốn con vật: bồ câu, quạ, rắn độc và nai đến nương tựa tì-kheo để được an ổn. Ban ngày chúng đi kiếm ăn, chiều tối về ngủ. Một hôm, bốn con hỏi nhau:
- Ở thế gian, thứ gì là khổ nhất?
Quạ nói:
- Đói khát là khổ nhất! Vì khi đói khát thì thân yếu, mắt mờ, tâm ý hoảng loạn, lao thân vào lưới không kể dao nhọn. Chúng ta tan thân mất mạng đều do đói khát. Vì thế tôi cho đói khát là khổ nhất.
Chim bồ câu nói:
- Dâm dục mới là khổ nhất! Lòng dục lẫy lừng, không còn nhớ nghĩ gì hết. Táng thân mất mạng đều do dâm dục!
Rắn độc nói:
- Sân hận là khổ nhất! Tâm sân vừa khởi thì không kể đến kẻ thân người sơ, có thể giết hại người và cả chính mình!
Nai nói:
- Sợ hãi là khổ nhất! Tôi ở trong rừng vắng thường phải cảnh giác, lo sợ thợ săn, cùng các loài sói. . vừa nghe có tiếng động, liên đâm đầu bỏ chạy, đến nỗi lao xuống vực sâu, khiến mẹ con phải xa nhau, gan mật tan nát. Vì thế tôi cho sợ hãi là khổ nhất!
Nghe xong, vị tì-kheo nói:
- Các con chi nói đến ngọn chứ không xét đến gốc khổ. Nỗi khổ trong thiên hạ không gì bằng thân mình. Thân là đồ chứa đựng tất cả khổ, lo sợ không cùng. Vì thế, ta bỏ nhà xuất gia học đạo, đoạn trừ vọng tưởng, không tham bốn đại, muốn đoạn gốc khổ, hướng đến niết-bàn!
Thế nên phải biết thân là gốc của nỗi khổ lớn.
Do đó, Đạo đức kinhghi: “Tai họa lớn nhất không gì bằng thân!”.
15.3. KHỞI LÒNG TIN
Kinh Na-tiên tì-kheo vẫn Phật ghi:
- Bấy giờ, vua Di-lan hỏi tì-kheo a-la-hán Na-tiên:
- Người thế gian suốt đời làm ác, lúc sắp mạng chung nhờ niệm Phật mà được sinh lên cõi trời, trẫm không tin lời ấy. Lại nữa, nếu giết một chúng sinh, chết liền đọa địa ngục, trẫm cũng không tin.
Tì-kheo Na-tiên hỏi:
- Như người ném viên đá nhỏ xuống nước, đá nổi hay chìm?
- Đá chìm.
- Nếu chất nhiều hòn đá lớn lên thuyền, thì thuyền có chìm không?
- Không chìm.
- Nhiều hòn đá này, nhờ có thuyền nên không chìm. Người tuy tạo nhiêu việc ác, nhưng nhờ nhất thời niệm Phật mà không đọa địa ngục và được sinh lên cõi trời, sao lại không tin? Hòn đá nhỏ chìm cũng như người làm ác mà không biết tụng kinh niệm Phật, sau khi chết liền đọa địa ngục, sao cũng không tin?
Vua thốt lời:
- Kì diệu thay! Kì diệu thay!
Tì-kheo Na-tiên nói:
- Như hai người cùng mạng chung, một người sinh lên cõi Phạm thiên, một người sinh vào nước Kê-tân. Hai người này tuy sinh vào hai nơi xa gần khác nhau, nhưng khi chết thì đến nơi mình sinh cùng một lúc. Giống như có hai con chim, một con đậu trên cành cao, một con đậu ở cành thấp, khi hai con chim cùng bay thì bóng của chúng đêu in xuông mặt đât.
Tì-kheo Na-tiên tiếp:
- Người ngu làm ác thì chuốc lấy họa lớn, người trí làm ác thì chịu họa nhỏ. Thí như thanh sắt nung nóng đang ở trên mặt đất, có hai người cùng đến lấy, nhưng người không biết đó là sắt nung thì bị phỏng nặng, người biết thì bị phỏng nhẹ. Làm ác cũng nhu thế; kẻ ngu vì không sám hối nên chuốc lấy họa lớn; người trí biết đó là việc không nên làm, hàng ngày sám hối tội lỗi nên chịu họa nhỏ.
Kinh Tứ phẩm học ghi:
- Trên thế gian này có kẻ chẳng bằng súc sinh, có loài súc sinh hơn cả con người. Tại sao? Vì người luôn gây tội ác nên chết đọa vào địa ngục. Hết tội địa ngục chuyển làm ngạ quỷ, hết tội ngạ quỷ chuyển làm súc sinh, hết tội súc sinh mới trở lại làm người. Vì thế khi làm người phải siêng năng tu tập điều thiện, vâng theo lời

Phần 8

dạy của Tam bảo, vĩnh viễn xa lìa ba đường ác, hưởng phúc trời người, về sau sẽ được giải thoát.
Kinh Tứ thập nhị chương ghi:
- Đức Phật dạy trong đời có năm điều khó:
1. Nghèo hèn khó bố thí.
2. Giàu sang khó học đạo.
3. Khó giữ mạng không chết.
4. Khó gặp được kinh Phật.
5. Khó gặp Phật ra đời.
Kinh Tạp thí dụ ghi:
- Trong đời có mười tám điều khó:
1. Khó gặp Phật ra đời.
2. Giả sử gặp Phật, nhưng khó được thân người.
3. Giả sử đã được làm người, nhưng khó sinh vào vùng đô thị văn minh.
4. Giả sử đã sinh vào vùng đô thị vàn minh, nhưng khó sinh trong gia đình cao quí.
5. Giả sử đã sinh trong gia đình cao quý, nhưng khó được thân căn hoàn thiện.
6. Giả sử đã được thân căn hoàn thiện, nhưng khó có nhiều tài sản.
7. Giả sử đã có nhiều tài sản, nhưng khó gặp thiện tri thức.
8. Giả sử đã gặp thiện tri thức, nhưng khó đầy đủ trí tuệ.
9. Giả sử đã có trí tuệ, nhưng khó có tâm lành.
10. Giả sử đã có tâm lành, nhưng khó thường xuyên bố thí.
11. Giả sử đã thường bố thí, nhưng khó gặp người hiền thiện, bậc có đức.
12. Giả sử đã gặp người hiền thiện, bậc có đức, nhưng khó đến nơi đó nương tựa các ngài.
13. Giả sử đã đến được nơi đó nương tựa các ngài, nhưng khó thích nghi.
14. Giả sử đã thích nghi, nhưng khó lắng nghe nhận lãnh chính pháp.
15. Giả sử đã lắng nghe nhận lãnh chính pháp, nhưng khó có trí tuệ hiểu đúng.
16. Giả sử đã hiểu đúng, nhưng khó thụ trì được kinh có nghĩa lý sâu xa.
17. Giả sử đã thụ trì được kinh có nghĩa lý sâu xa, nhưng khó tu hành đúng theo kinh điển.
18. Giả sử đã thụ trì được kinh có nghĩa lý sâu xa, tu hành đúng theo kinh điển, nhưng khó chứng đắc quả thánh.
15.4. NGHIỆP NHÂN
Kinh Phật thuyết thái tử Loát Hộ ghi: “Vua A-xà-thế có một người con là thái tử Loát Hộ. Một hôm thái tử thưa với Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Do nhân duyên gì bồ-tát có dung mạo đoan chính? Do nhân duyên gì bồ-tát chẳng thụ thai nơi người mẹ mà từ trong hoa sen hóa sinh? Do nhân duyên gì bồ-tát biết những việc đời trước?
- Bồ-tát do nhẫn nhục nên được thân tướng tốt đẹp; do không dâm dật nên được hóa sinh; do thụ trì kinh, giữ gìn giới, giảng nói pháp nên khi ra đời được bảy ngày thì nhớ biết những việc trong vô số kiếp trước. Đức Phật đáp.
- Bạch đức Thế Tôn! Do nhân duyên gì bồ-tát có ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp và người nhìn không biết nhàm chán?
- Thuở xưa, khi hành đạo Bồ-tát, Như Lai thích cúng dường tất cả phẩm vật cần dùng lên chư Phật,bồ-tát, thầy tổ, cha mẹ, nhân dân nên được ba mươi hai tướng quí. Bồ-tát khởi lòng từ thương xót tất cả loài hữu tình bé nhỏ trong mười phương như con ruột và muôn chúng được giải thoát nên được tám mươi vẻ đẹp. Bồ-tát xem kẻ thù giống như cha mẹ, nên người nhìn không biết nhàm chán.
Thái tử thưa:
- Do nhân duyên gì bồ-tát có trí tuệ thấu suốt kinh thâm diệu và hạnh đà-la-ni? Do nhân duyên gì biết tam-muội, định ý mà được an ổn? Do nhân duyên gì những người nghe lời Phật dạy đều vui mừng tin nhận?
- Do Như Lai vui mừng tin nhận, đọc tụng, tu tập nên có trí tuệ thấu suốt kinh thâm diệu và đắc hạnh đà-la-ni; thường nhất tâm thiền định nên đắc tam-muội an ổn; nói lời thành thật nên có nói ra lời gì mọi người đều tin tưởng qui hướng và vui mừng_ Đức Phật đáp.
- Do nhân duyên gì Đức Phật chẳng sinh vào đường ác, sinh lên cõi trời và không tham ái dục?
- Bồ-tát đời đời tin Phật, pháp, tăng nên không sinh vào đường ác, tám nạn; do trì giới miên mật nên sinh lên cõi trời; do biết các pháp vốn “không” nên chẳng tham ái dục.
- Bạch đức Thế Tôn! Do nhân duyên gì thân, miệng, ý của bồ-tát thanh tịnh? Do nhân duyên gì loàima không có cơ hội phá hoại bồ-tát? Do nhân duyên gì mọi người không dám hủy báng Tam bảo?
- Bồ-tát yêu mến Tam bảo nên thân, miệng, ý thánh tịnh; siêng năng không buông lung nên loài ma không có cơ hội phá hoại; lời nói chân thật nên mọi người không dám chê bai Tam bảo.
- Bạch đức Thế Tôn! Do nhân duyên gì bồ-tát có âm thanh thù thắng như âm thanh Phạm thiên? Do nhân duyên gì giọng nói bồ-tát có tám đặc tính? Do nhân duyên gì biết được suy nghĩ của chúng sinh mà đáp ứng?
- Bồ-tát đời đời chân thật không dối gạt nên được âm thanh thù tháng như âm thanh Phạm thiên; đời đời không nói lời ác nên giọng nói có tám đặc tính; do đời đời không nói đôi chiều, không nói dối nên biết được suy nghĩ của chúng sinh mà đáp ứng.
- Do nhân duyên gì bồ-tát thọ mạng lâu dài, không bệnh và gia đình hòa thuận, không li tán?
- Không sát sinh nên bồ-tát có thọ mạng lâu dài; không đánh đập người nên đời sau không bệnh; hòa giải những việc đấu tranh nên đời sau gia đình không li tán.

Phần 9

- Do nhân duyên gì bồ-tát giàu có, tài sản không bị mất, không bị trộm cướp? Do nhân duyên gì sinh vào gia đình cao quí?
- Do không tham tài sản người nên được giàu sướng; thích bố thí không bỏn xẻn, nên tài sản không bị mất; không ganh tị nên sinh vào gia đình cao quí.
- Do nhân duyên gì Đức Phật được thiên nhãn thấy thấu suốt, thiên nhĩ nghe tất cả và biết việc sinh tử của thế gian?
- Như Lai thành tâm đốt đèn cúng dường Phật nên được thiên nhãn thấu suốt; vui mừng tấu nhạc cúng dường Phật nên được thiên nhĩ nghe tất cả; tu tập thiền định nên biết tất cả việc sinh tử ở thế gian.
- Do nhân duyên gì Đức Phật dùng bốn thần túc bay đi tự tại, biết những việc trong vô số kiếp trước và được ba thân Phật rồi nhập Niết-bàn?
- Như Lai bố thí xe, ngựa, thuyền, v.v... cho người của Tam bảo và chúng sinh nên được bốn thần túc bay đi tự tại; luôn luôn nhớ đến tam-muội của chư Phật, khéo giáo hóa chúng sinh nên biết được những việc trong vô số kiếp trước; đắc A-duy-việt-trí nên đoạn dứt gốc sinh tử, chứng đắc quả Phật và nhập Niết-bàn”.
Có bài tụng:
Vũ trụ thật mênh mông
Chúng sinh thì mờ mịt
Đã khổ cho là vui
Lại chảng chịu tinh tiến
Cũng chẳng học lí này
Luống chạy theo vọng tưởng
Bên ngoài thuận thế gian
Trong lại trái tâm sáng.
Lòng từ cứu quần mê
Chí thành khai tỏ rạng
Linh thông buông lời diệu
Thầm giúp diệu âm thanh
Qui hướng bậc Chính Giác
Tỏ ngộ được phúc báo
Vỗ về thì hội tụ
Công cao vượt nhiều kiếp.
15,5. CẢM ỨNG
15.5.1- Đời Tấn, Trúc Trường Thư: Cư sĩ người Tây Vực, gia đình giàu có. Vào niên hiệu Nguyên Khang (291-299), gia đình ông dời về Lạc Dương. Ông tuyệt đồi kính trọng Phật pháp, rât thích tụng kinh Quán Thế Âm. Một hôm, nhà hàng xóm phát hỏa. Nhà ông lợp tranh, lại ở dưới gió. Ông nghĩ lửa đã đến gần nhà mình, chẳng kịp chuyển đồ đạc trong nhà ra được, liền bảo người nhà không được vác đồ ra, cũng không được chữa cháy, chỉ dốc lòng tụng kinh. Chốc lát, lửa cháy đến nhà bên cạnh, cách nhà ông một bờ rào; bỗng nhiên gió chuyển hướng, khiến ngọn lửa liền dừng lại. Mọi người cho là hiển linh.
Trong làng có bốn năm đứa trẻ coi thường hiểm nạn cùng cười và nói:
- Gió tình cờ đổi hướng, chứ có thần linh nào đâu! Nhìn trời trong xanh, khô ráo, buổi tối lại nóng sẽ đốt nhà ông ta, làm sao không cháy được!
Vào một tối nọ, trời rất nóng, gió lại mạnh, chúng thầm rủ nhau ném đuốc lên mái nhà ông. Ba lần ném, ba lần đều tắt. Chúng hoảng sợ chạy về nhà. Sáng hôm sau, chúng kéo nhau đến nhà ông lễ lạy tạ tội. Ông nói:
- Ta hoàn toàn không có thần linh, đó chính là uy thần đức hiệu bồ-tát Quan Thế Âm. Chúng cháu phải thành tâm phát khởi lòng tin qui hướng ngài.Từ đó, những người trong xóm đều kính trọng ông.
15.5.2- Đời Tống, Hình Hoài Minh: Cư sĩ người Hà Giang, làm Tham quân cho Đại tướng quân nhà Tống và đã theo thái thú Nam quận là Chu Tuần đến phương bắc chinh phạt. Thời gian sau, cả hai đều bị vây, nhưng tìm được con đường thoát, đêm đi ngày ẩn. Ba ngày sau vẫn còn sợ bị đuổi bắt, thái thú sai người đi trước dò xét tình hình; đợi mấy ngày sau cũng không thấy người này trở về. Vào một đêm, ở chỗ thái thú tạm trú trời sắp mưa, cả vùng tối đen như mực, nhưng sắp sáng, người đi dò xét bỗng trở về, kinh ngạc nói:
- Vừa rồi, từ xa tôi thấy nơi đây có ngọn lửa rất sáng, nên mới theo đến đây. Đâu ngờ khi đến thì trời lại tối đen.
Thái thú Tuần lấy làm lạ. Trước đây, Hoài Minh tôn kính pháp; sau khi tham gia chiến sự, thường đội kinh Quan ThếÂm trên đầu, đọc tụng không ngừng. Chiều tối hôm đó Minh cũng tụng thầm. Mọi người nghi là nhờ thần lực của kinh điển. Bấy giờ, tất cả cùng khấn cầu và được thoát nạn trở về kinh đô.
Vào niên hiệu Nguyên gia thứ 17 (440), có một sa-môn đến nói với ông:
- Bần đạo thấy trong hẻm này và nhà ông có mùi máu. Ông nên chuyển đến nơi khác.
Nói xong, sa-môn liền bỏ đi. Hoài Minh chạy theo gọi lại nhưng vừa ra khỏi cửa, sa-môn liền biếnmất. Ông thầm cho là sẽ xảy ra việc rất xấu. Hai tuần sau, người hàng xóm là Trương Cảnh Tú đánh trọng thương cha và giết người thiếp của cha mình. Ông cho đó là dấu hiệu của mùi máu, mong sao mình không bị gì. Năm đó, Lưu Bân, Lưu Kính Văn sống tại con hẻm ấy cùng bè đảng Lưu Trạm bị tru di.
15.5.3. Đời Tống, Vương Thúc Đạt: Ông tên là Vương Cầu, người Thái Nguyên, làm thái thú ở Phù Lăng. Niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (432), quận phủ thất thủ nên ông bị bắt giam và bị đeo một cái gông nặng gồm những tấm kim loại được đóng đinh rất chắc. Trước đây ông rất tinh tiến tu tập. Vào tù, ông càng nỗ lực hơn. Trong ngục có đến hàng trăm tù nhân đều đói khát. Mỗi bữa cơm, ông đều ban thí phần mình cho mọi người. Ông ăn chay, chí thành niệm bồ-tát Quan Thế Âm. Vào tối nọ, ông mộng mình ngồi tòa cao và thấy một vị sa-môn trao cho một quyển kinh Quang minh an hạnh phẩm và chư bồ-tát danh. Ông mở ra đọc danh hiệu các bồ-tát, bồ-tát thứ nhất ông quên mất danh hiệu, bồ-tát thứ hai là Quan Thế Âm; bồ-tát thứ ba là Đại Thế Chí; lại thấy một bánh xe. Vị sa-môn ấy nói:
- Đây là bánh xe năm đường.

Phần 10

Tỉnh giấc, gông cùm tự mở. Ông biết đó là nhờ thần lực của kinh điển, nên càng chuyên tâm. Sau đó ông tự đóng đinh và sửa gông lại. Ba ngày sau, quan tra xét lại rồi tha cho ông.
16. CHƯƠNG GIẢNG PHÁP VÀ NGHE PHÁP
16.1. LỜI DẪN
Thầy trò nghĩa nặng, tuệ học là hơn hết; tu lấy nghĩa phương, đa văn là bậc nhất. Cho nên ngài Mã Minh xiển dương cương yếu khi Phật pháp sắp diệt; ngài Long Thọ hưng khởi biện giải Đại Tiểu thừa. Tuệ chiếu rực rỡ, đàm luận xuất chúng, thật có thể bao gồm danh số cương yếu, tẩy sạch mối nghi. Nhưng học mà không giảng thuyết, đó là nỗi lo của Ni Phụ, về nghĩa mà không thông đạt, đó là sự cảnh giác của Thích Tôn. Cho nên kinh ghi: “Cúng dường pháp là cúng dường thù thắng nhất”. Đạo đức kinh ghi: “Người thiện là thầy dạy của kẻ bất thiện. Kẻ bất thiện là học trò của người thiện”. Nhận và thuyết không trái thì lí vượt tâm ý; giảng và nghe trái tôn chỉ thì khó thông suốt. Vì thế một tượng đã thiếu thì sáu hào chẳng lập; một lời sai lầm thì muôn đời chịu khổ. Cho nên biết, người truyền pháp thì không dễ, người nhận lãnh thì rất khó; bởi vì cách Phật đã lâu, những lời dạy vi diệu dần dần ẩn mất, nên một lần giảng nói, một lần lãnh thụ dù có quyết chí cũng khó thực hành. E rằng tâm nhiễm danh lợi, lòng trần khó tẩy sạch!
16.2. DẪN CHỨNG
Trung luận có bài kệ:
Chân pháp và người thuyết
Cùng người nghe khó được
Như thế thì sinh tử
Chẳng hữu biên, vô biên.
Luận Thập địa ghi:
Do người nói pháp và nghe pháp chẳng đúng pháp, nên phạm hai lỗi: một là chẳng bình đẳng nói pháp, hai là Phật không tùy hỉ.
Kinh Đại tập có bài kệ:
Nếu gặp người không phải pháp khí
Với họ Như Lai khởi tâm xả
Lậpnhiều phương tiện đợi thời cơ
Khiến họ được chân thật giải thoát.
Luận Đại trang nghiêm có bài kệ:
Nghe pháp có chỗ hiểu
Chưa nghe chớ vội chê
Vô lượng pháp chưa nghe
Hủy bảng thành nghiệp si.
Luận Bảo tỉnh có bài kệ:
Kẻ ngu si, ngã mạn
Thích tu pháp Tiểu thừa
Hủy báng pháp, pháp sư
Bị chư Phật chê trách.
Người hiện tướng uy nghi
Chảng hiểu lời Như Lai
Hủy báng pháp, pháp sư
Bị chư Phật chê trách.
Nay thấy người mới học đạo, chưa đủ sức phân biệt tốt xấu, lại khởi chấp mê lầm, nghĩ mình biết hết văn nghĩa, rồi cậy vào đó xem thường người khác.
Luận Địa trì ghi:
- Theo văn chấp nghĩa thì mắc năm lỗi: một là không có chính tín; hai là thoái đạo quá nhanh; ba là dối gạt chúng sinh; bốn là xem thường giáo pháp; năm là hủy báng chính pháp. Tâm của người nói pháp còn cấu uế thì làm sao khiến người nghe sinh lòng tin! Nếu tâm người nói pháp thanh tịnh thì dù là sinh tử cũng biến thành niết-bàn. Nếu tâm người nói pháp còn cấu nhiễm thì dù là niết-bàn cũng biến thành sinh tử.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Pháp Đại thừa là cam lộ, cũng là thuốc độc. Nếu hiểu nghĩa thì là cam lộ, không hiểu nghĩa thì thành thuốc độc. Như người bỏ chất độc trong sữa có thể giết chết kẻ khác.
Luận Phật tính có bài kệ ghi:
Không trí, không hiểu biết
Bạn xấu phá hạnh lành
Như nhện rơi vào sữa
Sữa ấy thành chất độc.
Kinh Thập luân ghi:
- Nếu người nào trong các giai cấp sát-lợi, chiên-đà-la, V.V.... thấy người xuất gia trong giáo pháp của ta hoặc thấy hàng thanh văn, bích-chi-phật cho đến pháp sư giảng nói Đại thừa mà hủy báng, nhục mạ, dối gạt chính pháp và làm chướng ngại, não loạn pháp sư thì người ấy sẽ bị đọa địa ngục A-tì. Nếu người nào thấy người xuất gia trong giáo pháp của ta mà khởi sân khuể, nhục mạ, chẳng chịu tin theo lời dạy của ta, lại phá hoại chùa tháp, phòng tăng, điện đường, giết hại tì-kheo thì tất cả căn lành tu tập trước đâỵ đều mất hết; nhiều ngày trước khi chết, khắp thân thể đều đau nhức thống khổ như bị lửa thiêu đốt, lưỡi thụt vào, không nói được; sau khi chết đọa vào địa ngục A-tì.
16.3. PHÉP TẮC NGHE VÀ GIẢNG
Tam thiên uy nghi ghi:
- Khi ngồi trên tòa cao đọc kinh, có năm việc: Một là trước phải lễ Phật; hai là phải lễ kinh pháp rồi đặt lên bàn; ba là phải bước một chân lên a-tăng-đề rồi mới đứng thẳng ở giữa tòa; bốn là phải quay người lại; năm là tay vịn vào thành tòa rồi mới an tọa

Phần 11

Ngồi trên tòa, có năm việc: Một là phải chỉnh pháp y rồi mới an tọa; hai là đợi tiếng kiền chùy dứt rồi mới dùng kệ ca ngợi kinh; ba là phải tùy thuận nhân duyên mà đọc kinh; bốn là nếu có người làm mình không vừa ý thì không được sân hận; năm là nếu có người cúng dường thì phải đặt phẩm vật xuống trước mặt.
Khi hỏi kinh, có năm việc: Một là phải đúng pháp, quì dưới bàn mà hỏi; hai là không được bước lên cùng tòa mà hỏi; ba là khi pháp sư giải đáp không được chen câu hỏi vào; bốn là không được nhớ nghĩ đên việc bên ngoài; năm là khi pháp sư đáp xong phải đỉnh lễ sát đất rồi lui ra.
Luận Thập trụ Tì-bà-sa ghi:
- Khi pháp sư ngồi trên tòa Sư tử, có bốn việc: Một là khi sắp lên tòa cao, trước tiên phải cung kính lễ bái đại chúng rồi mới thăng tòa; hai là trong chúng hội nếu có người nữ thì phải quán bất tịnh; ba là đầy đủ uy nghi để đại chúng chiêm ngưỡng và hiện tướng đại nhân, khi nói pháp, vẻ mặt từ hòa tươi vui khiến mọi người tin nhận, không giảng nói kinh sách ngoại đạo, tâm không sợ hãi; bốn là có người dùng lời ác mà hỏi thì phải nhẫn nhục.
Khi ngồi trên tòa Sư tử có bốn pháp: một là khởi ý làm lợi ích chúng sinh, hai là không khởi ngã tưởngđối với chúng sinh, ba là không khởi pháp tưởng đối với văn tự, bốn là nguyện tất cả chúng sinh khi nghe pháp mình giảng, không lui sụt quả vị Vô thượng bồ-đề.
Lại có bốn pháp: một là không xem thường bản thân, hai là không xem thường người nghe, ba là không xem thường lời giảng, bốn là không vì lợi dưỡng.
Kinh Văn-thù sư-lợỉ vấn ghi:
- Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa Phật: “Lúc nào bốn chúng không được gây tiếng động từ thân, miệng, cây, đá và các tiếng khác?”.
Phật đáp:
- Trong sáu thời không được gây tiếng động: khi lễ Phật, khi nghe pháp, khi chúng nhóm họp, khi khất thực, khi thụ thực, khi đại tiểu tiện.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hỏi:
-Tại sao những lúc đó không được gây tiếng động?
- Những lúc đó cỏ chư thiên đến. Tâm chư thiên luôn thanh tịnh, không nhiễm trước, vắng lặng, tùy thuận ba-la-mật, quán Phật pháp. Vì tiếng động sẽ làm tâm họ chẳng định, chẳng định nên đều bỏ đi. Chư thiên bỏ đi thì loài ác ma đến gây ra việc không lợi ích, không an ổn. Khi chúng có mặt thì gây ra nhiều tai họa, nhân dân đói khát, cướp đoạt lẫn nhau. Này Văn-thù-sư-lợi! Vì thế nên phải vắng lặng khi lễ Phật.
Phật nói kệ trùng tụng:
Không gây những tiếng động
Từ thân, miệng, cây, đá...
Người vắng lặng lễ Phật
Được Như Lai ca ngợi.
Kinh Phật bản hạnh ghi:
- Phật bảo các tì-kheo: “Từ nay ta cấm các đệ tử không được thỉnh những người căn tính đần độn, khuyết tật, không đủ giới hạnh thuyết pháp; nên thỉnh những người đầy đủ giới đức thuyết pháp, thành tựu thăng hạnh, thông hiểu tu-đa-la, tì-ni, biết người nào là hạng ma-đăng-già. Các ông cần phải chọn lựa những người rành rẽ văn tự, đầy đủ biện tài. Nay Ta sẽ cho phép các tì-kheo từ hạ tọa theo thứ tự thuyết pháp. Nếu người thứ nhất mệt thì thỉnh người thứ hai; nếu người thứ hai mệt thì thỉnh người thứ ba; nếu người thứ ba mệt thì thỉnh người thứ tư; nếu người thứ tư mệt thì thỉnh người thứ năm; cho đến những người có khả năng; lần lượt thỉnh thuyết pháp”.
Bấy giờ, thấy pháp sư đầy đủ biện tài, giảng nói chính pháp được mọi người rải hoa thơm trên tòa, một số tì-kheo không thụ nhận cúng dường, nên đànviệt nhàm chán. Tại sao? Vì Phật cấm những người xuất gia không được dùng hương xoa, hương bột và tràng hoa.
Mọi người nghe thấy việc ấy liền chê bai: "Cúng dường như vậy mà các tì-kheo còn chẳng kham nhận, huống gì cúng những thứ quí giá hơn!”.
Lúc đó, các tì-kheo đem những việc này thưa lên Phật. Phật bảo các tì-kheo: "Này các tì-kheo! Nếu có cư sĩ vì lòng tốt hoan hỉ đem các thứ hoa thơm, hương xoa, hương bột, tràng hoa rải trên pháp sư thì phải nên thụ nhận”.
Khi ấy, đàn việt lại đem của cải vật báu và áo ca-sa cúng dường pháp sư, các pháp sư sợ hãi xấu hổ, không dám nhận liền bị mọi người chê bai đàm tiếu: "Sa-môn Thích tử không dám thụ nhận những vật mọn, huống là những vật quí giá hơn!”.
Các tì-kheo nghe được liền thưa lên Phật. Phật bảo các tì-kheo: "Này các tì-kheo! Ta cho phép khi những người hoan hỉ đem tài vật và ca-sa dâng cúng pháp sư. Nếu cần thì lấy dùng, nếu không cần thì trả lại”.
Bấy giờ các tì-kheo tóm lược yếu nghĩa trong kinh, rồi giảng nói cho người mà không theo thứ lớp, nên xấu hổ sợ hãi, nghĩ rằng trái kinh luật liền bạch lên Phật. Phật bảo các tì-kheo: "Nay ta cho phép các ông tùy tiện chọn lọc yếu nghĩa trong kinh, sắp xếp lại theo câu văn, rồi giảng nó! cho người khác, chỉ lấy nghĩa chân thật, chớ đánh mất ý kinh”.
Kinh Phật bản hạnh ghi:
- Đại chúng tập hợp trong một giảng đường, thỉnh hai tì-kheo thuyết pháp nên làm chướng ngại nhau. Họ liền cất hai giảng đường riêng biệt, nhưng một số vẫn cố ý làm cản trở. Nơi giảng đường này có tì-kheo dẫn dụ bảo đến giảng đường kia, nơi giảng đường kia có tì-kheo dẫn dụ bảo đến giảng đường này, qua lại lộn xộn làm cho loạn chúng. Do mất trật tự nên buổi thuyết pháp không thành tựu, hoặc có tì-kheo không thích nghe pháp môn như vậy. Các tì-kheo đên bạch Phật, Phật bảo các tì-kheo từ nay trở đi không được trong một giảng đường có hai người thuyêt pháp và cũng không được cất hai giảng đường gần nhau khiến âm thanh xen lẫn làm chướng ngại. Cũng không được người kia đến hội chúng này, người này đên hội chúng kia; cũng không được chán pháp môn, không thích nghe pháp, nếu chán ghét thì nên như pháp trị tội.
(Luật Tứ phần cũng cho phép trong một giảng đường, hai vị pháp sư có thể ngồi gần nhau nói pháp, ca vịnh; người xướng, người họa trùng khớp, nhưng không cho phép cả hai cùng xướng lên một lúc. Những bộ luật khác cũng không cho phép khi pháp sự ngồi trên tòa cao nhận cư sĩ rải hoa cúng dường. Nếu hoa dính trên thân thì phải giũ xuống).

Phần 12

Luật Thiện kiến ghi:
Khi pháp sư nói pháp, những người nữ trong pháp hội phải lấy quạt tre mặt, chới cười để lộ răng. Nếu có người nào cười thì phải mời ra khỏi giảng đường. Tại sao? Đức Phật thương xót chúng sinh nên nói pháp. Các vị nên sinh hổ thẹn khi nghe pháp, tại sao lại cười? Vì thế mà phải mời ra.
16.4. PHẠM LUẬT
Kinh Phật tạng ghi:
- Đức Phật nói: “Vào vị lai, các tì-kheo thích đọc kinh sách thế gian. Khi nói pháp, pháp sư chỉnh sửa ngôn từ làm người nghe vui vẻ. Bấy giờ ác ma làm cho mọi người tăng thêm mê hoặc, chướng ngại pháp lành. Ác ma mê hoặc tất cả những người tham đắm âm thanh, lời nói, văn từ hoa mĩ giả dối và những người thích đọc kinh sách ngoại đạo, khiến họ chẳng an ổn, tuệ nhãn bị che lấp, ham muốn lợi dưỡng, thích đọc sách ngoại đạo. Giống như người mù bị kẻ xấu dối gạt nên bị rơi vào hầm sâu mà chết.
Lại này Xá-lợi-phất! Người nói pháp chẳng thanh tịnh, chẳng khéo giải nghĩa, chẳng biết Như Lai tùy thuận căn cơ, tâm ý của chúng sinh. Hiện đời, người này phạm vào năm lỗi: một là khi nói pháp, tâm lo sợ có người hỏi mình; hai là trong lòng lo sợ mà vẫn nói pháp; ba là phàm phu không có chân trí; bốn là lời nói chẳng có ý vị chỉ là ngôn từ trống rỗng; năm là nói không theo thứ tự, hoàn toàn sao chép lại. Vì thế trước pháp hội, người này sợ hãi. Tâm kẻ phàm phu vô trí chẳng kiên định, chỉ cầu tiếng tăm, tâm còn nghi ngờ mà dám nói pháp.
Này Xá-lợi-phấ! Cho nên, người chưa chứng, pháp mà ngồi trên tòa cao, không biết gì mà dạy bảo người khác thì nhất định đọa vào địa ngục”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi:
- Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tì-kheo: “nên biết trên thế gian này có bốn loài chim:
1- Loài chim hót hay, nhưng hình dâng xấu xí như chim câu-sí-la.
2- Loài chim hình dáng đẹp, nhưng hót rất tệ như chim chí.
3- Loài chim tiếng hót tệ mà hình dáng cũng xấu như chim cú.
4- Loài chim vừa hót hay mà hình dáng cũng đẹp như chim khổng tước.
Trên thế gian cũng có bốn hạng tì-kheo.
1 - Tì-kheo có giọng tốt nhưng hình tướng xấu xí, đó là ngươi siêng năng giữ giới, hiểu rõ nghĩa lí xâu xa phần đầu, phần giữa, phần sau của kinh pháp,lại khéo giảng nói nghĩa rộng, nhưng ra vào đi đừng thiếu uy nghi.
2- Tì-kheo hình tướng đẹp nhưng giọng chẳng tốt, đó là người có dung mạo đoan chính, đầy đủ uy nghi, nhưng chẳng thể đọc tụng thông suốt phần đầu, phần giữa, phần cuối của kinh pháp.
3- Tì-kheo giọng chẳng tốt mà hình tướng cũng xấu, đó là kẻ phạm giới, không tinh tiến, lại không đa văn, vừa nghe liền quên.
4- Tì-kheo giọng tốt mà hình tướng cũng đẹp, đó là người tinh tiến tu hành pháp thiện, đa văn không quên, ưa thích tụng kinh, hiểu nghĩa phần đầu, phần giữa, phần cuối của kinh pháp, mà dung mạo đoan chính, uy nghi đầy đủ”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi:
- Bấy giờ, Đức Phật bảo các tì-kheo: “Có bốn loại mây:
1- Mây có sấm nhưng không mưa
2- Mây có mưa nhưng không có sấm
3- Mây vừa có mưa vừa có sâm
4- Mây không mưa cũng không sấm.
Tương tự, thế gian cũng có bốn hạng tì-kheo:
1- Thế nào là tì-kheo giống như trời có sấm mà không có mưa? Đó là tì-kheo luôn luôn đọc tụng, tu tập, hiểu rõ nghĩa lí mười hai thể loại kinh, nhưng không giảng nói kinh pháp.
2- Thế nào là tì-kheo giống như trời có mưa mà không có sấm? Đó là tì-kheo có hình tướng đoan chính, uy nghi đầy đủ, không quên lời dạy của người khác, khéo tùy thuận thiện tri thức, khéo giảng pháp, nhưng không đa văn, không đọc tụng, tu tập mười hai thể loại kinh.
3- Thế nào là tì-kheo giống như trời không mưa cũng không sấm? Đó là tì-kheo có hình tướng không đoan chính, uy nghi không đầy đủ, không tu tập pháp thiện, không đa văn, cũng không giảng nói pháp.
4- Thế nào là tì-kheo giống như trời có mưa cũng có sấm? Đó là tì-kheo có hình tướng đoan chính, uy nghi đầy đủ, ưa thích học hỏi, lại cũng thích giảng pháp, khuyên bảo sách tấn người khác khiến họ vâng lãnh”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục