Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN

06/11/2015

QUYỂN 21 Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian. 10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN 10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo....

PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN
Phần 1

QUYỂN 21
Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian.
10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN

10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo. Tất cả đều đi khắp nơi tùy duyên giáo hóa chúng sinh; nếu cơ cảm khác nhau thì cùng ở một nhà mà cách xa như trời đất; tâm thể ứng hợp nhau thì dù cách xa nghìn dặm nhưng vẫn như trước mặt. Vì thế chỉ kính lễ một vị tăng thì năm nhãn thanh tịnh khai mở, bố thí một mảy may thì lục độ vô tận. 10.2. HƠN KÉM Kinh ưu-bà-tắc giới ghi:
- Ruộng phúc thế gian có ba loại: một là báo ân điền hai là công đức điền, ba là bần cùng điền. Báo ân điền là cha mẹ, thầy tổ, hòa thượng. Công đức điền là bậc từ địa vị Noãn pháp cho đến Vô thượng bồ-đề. Bần cùng điền là tất cả những người nghèo khổ, khó khăn. Thế Tôn thuộc hai ruộng phúc: báo ân điền vàcông đức điền. Pháp cũng như vậy. Chúng tăng thuộc về ba ruộng phúc. Vì thế, người đã thụ giới cần phải hết lòng cúng dường Tam bảo.
Giả sử có hai người cùng bố thí mà tài vật, ruộng phúc, tâm thí bằng nhau thì phúc đức bằng nhau. Nếu tài vật và tâm bằng nhau mà ruộng phúc của người nào thù thắng thì người ấy được quả báo thù thắng. Nếu ruộng phúc và tâm đều thấp kém, nhưng tài vật của người nào thù thắng thì người ấy được quả báo cũng thù thắng. Nếu ruộng phúc và tài vật đều thù thắng, nhưng tâm người nào thấp kém thì người ấy được quả báo không bằng người kia.
Này thiện nam! Người trí bố thí không cầu quả báo. Tại sao? Vì họ biết tạo nhân này nhất định có quả báo tốt.
Kinh Tăng-già-trá ghi: “Đức Phật bảo bồ-tát Nhất Thiết Dũng:
- Phúc đức cúng dường cho vô lượng vô số Chuyển luân thánh vương trong tam thiên đại thiên thế giới chẳng bằng phúc đức cúng dường một vị tu-đà-hoàn; cúng dường vô lượng vô số tu-đà-hoàn trong tam thiên đại thiên thế giới chẳng bằng cúng dường một vị tư-đà-hàm; cúng dường vô lượng vô số tư-đà-hàm trong tam thiên đại thiên thế giới chẳng bằng cúng dường một vị a-la-hán; cúng dường vô lượng vô số a-la-hán trong tam thiên đại thiên thế giới chẳng bàng cúng dường một vị bích-chi-phật; cúng dường vô lượng vô số bích-chi-phật trong tam thiên đại thiên thế giới, chẳng bằng cúng dường một vị bồ-tát; cúng dường vô lượng vô số bồ-tát trong tam thiên đại thiên thế giới chẳng bằng cúng dường một vị Phật với tâm thanh tịnh. Công đức của người khởi tâm thanh tịnh đối với vô lượng vô số Đức Phật trong tam thiên đại thiên thế giới chẳng bằng công đức của người nghe pháp môn này, huống gì nghe rồi biên chép, đọc tụng, thụ trì!
Bấy giờ tất cả đại chúng thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Một Đức Phật có bao nhiêu phúc đức?
Đức Phật đáp:
- Thí như số lượng hằng hà sa chúng sinh như số vi trần trong đại địa đều là bồ-tát Thập địa, phúc đức của tất cả bồ-tát Thập địa này cũng chẳng bằng phúc đức của một vị Phật”
Kinh A-tì-đàm cam lộ vị ghi:
- Ruộng phúc có ba loại: một là đại đức điền, hai là bần khổ điền, ba là đại đức bần khổ điền. Đại đức điền là Đức Phật, bích-chi-phật, bốn quả sa-môn. Bần khổ điền là súc sinh, người già bịnh. Đại đức bần khổđiền là thánh nhân, người già bịnh. Nếu cung kính cúng dường đại đức điên hoặc thương xót bố thí bần khổ điền, hoặc cung kính lẫn thương xót cúng dường đại đức bần khổ điền thì đều được nhiều quả báo, vì đó đều là ruộng phúc lành.
Thế nào là vật bố thí thanh tịnh? Là vật không do sát sinh, trộm cắp, chiếm đoạt, dối gạt mà có. Bất cứ vật thanh tịnh nào, dù bố thí nhiều hay ít cũng đều thanh tịnh. Cúng dường Phật thì được tất cả phúc, cúng dường chúng tăng mà họ thụ dụng thì được tất cả phúc, họ chưa thụ dụng thì chẳng được tất cả phúc. Cúng dường pháp được nhiều phúc, nếu vì pháp mà cúng dường người tu học, người thông minh có đại trí tuệ thì gọi là cúng dường pháp. Bố thí thì được phúc giàu sang. Nếu có người thụ nhận thì người bố thí được an vui, sức mạnh, sống lâu, công đức thù thắng, được phúc báo lớn. Nếu bố thí cho súc sinh thì hưởng phúc báo trăm kiếp, bố thí cho người bất thiện thì hưởng phúc báo nghìn đời, cúng dường cho người thiện thì hưởng phúc báo nghìn vạn đời, cúng dường cho người lìa dục thì hưởng phúc báo nghìn vạn ức đời, cúng dường người đắc đạo thì hưởng phúc báo vô số đời, cúng dường Đức Phật thì sẽ đạt niết-bàn.
Lại bố thí có sáu điều khó: một là bố thí không kiêu mạn, hai là bố thí không cầu danh, ba là bố thí chẳng vì sức khỏe, bốn là không cường ép mà cho, năm là bố thí không vì nhân duyên nào, sáu là bố thí không cầu quả báo.
Kinh Phật thuyết hoa tụ đà-la-ni ghi: “Phật dạy:
- Phúc đức của người đem bảy báu nhiều như núi Tu-di cúng dường thanh văn, bích-chi-phật trong một kiếp chẳng bằng trăm phần, nghìn phần, vạn phần phúc đức của người xuất gia hoặc tại gia đem một đồng tiền cúng dường người mới phát tâm Bồ-đề; cho đến dùng toán số, thí dụ cũng chẳng sánh được”.
Kinh Bảo lương ghi: “Phật dạy:
- Này thiện nam! Nay Ta nói thế gian có hai hạng người đáng nhận sự cúng dường: một là người tu hành tinh tiến; hai là người được giải thoát. Có ba cách bố thí sẽ giúp cho người cúng được nhiều lợi ích: Một là thường cúng thí thức ăn, hai là cúng thí phòng xá cho tăng, ba là cúng thí với tâm từ. Trong đó, cúng thí với tâm từ là tối thắng”.
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi:
- Gia đình Tu-đạt nghèo khó, không có tài sản, nhưng biết tu đạo, có lòng tin bền chắc. Phật dạy ông ta nên bố thí. Tu-đạt thưa Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Ngài dạy con bố thí nhiều hay bố thí ít?”.
Đức Phật đáp: “Có khi bố thí nhiều mà được phúc ít, có khi bố thí ít mà được phúc nhiều. Bố thí nhiều nhưng cống cao, tự đại, không chí thành, người nhận thí tà kiến điên đảo, không phải là bồ-tát thì được phúc ít, như gieo nhiều hạt giống vào thửa ruộngkhô cằn thì thu hoạch rất ít. Thế nào là bố thí ít mà được phúc nhiều? Bố thí ít nhưng vui vẻ, cung kính, chẳng cầu quả báo hoặc cúng dường Phật, bích-chi-phật, a-la-hán, V.V.... cũng như gieo ít hạt giống vào ruộng màu mỡ thì bội thu”.
Phần 2

Luận Trí độ ghi:
- Dùng tâm đại bi bố thí tuy được phúc đức ít hay nhiều còn phụ thuộc tâm hơn kém. Như ngài Xá-lợi-phất dâng thức ăn lên Phật. Phật liền thí thức ăn ấy cho con chó và hỏi Xá-lợi-phất: “Ông dâng thức ăn cho Ta, Ta thí thức ăn ấy cho con chó. Vậy ai được nhiều phúc hơn?”. Xá-lợi-phất đáp: “Theo con hiểu thì Phật được nhiều phúc hơn”.
Phật điền là bậc nhất, nhưng chẳng bằng thí cho con chó. Vì thế nên biết, phúc nhiều là từ tâm chẳng phải nơi ruộng phúc. Như ngài Xá-lợi-phất dù có bố thí gấp nghìn vạn ức lần thì phúc đức cũng chẳng bằng tâm của Phật. Tại sao? Vì tâm là chủ tể, ruộng là ngoại cảnh.
Có khi phúc bố thí ở nơi ruộng phúc. Như thuở xưa, a-la-hán Ức Nhĩ dâng một cành hoa cúng dường tháp Phật nên trải qua chín mươi mốt kiếp luôn sinh trong trời, người hưởng được niềm vui, nhờ phúc đức đó mà đắc quả A-la-hán. Lại như vua A-thâu-ca, khi còn bé dâng đất cúng Phật. Khi lên ngôi, vua xây tám vạn tháp Phật khắp cõi Diêm-phù-đề, nên cuối cùng đắc đạo. Vật thí tuy không giá trị, lại tâm trẻ nhỏ còn vô tư, nhưng nhờ ruộng phúc vi diệu mà được quả báo lớn. Phải biết phúc lớn sinh từ ruộng tốt. Phúc đức cao tột là từ ba thứ: tâm, vật thí, ruộng phúc đều vi diệu. Như Phật rải hoa đẹp rải cúng dường chư Phật mười phương.
Luận Trí độ lại ghi:
Hỏi: Làm sao tăng trưởng phúc bố thí này?
Đáp: Bố thí hợp thời thì tăng trưởng phúc. Kinh ghi: “Bố thí thức ăn cho người sắp chết đói thì tăng trưởng nhiều phúc đức; hoặc bố thí cho người đi xa, người đi trên đường hoang vắng, hiểm nguy, bổ thí không gián đoạn, hoặc thường nghĩ đến bố thí thì tăng trưởng nhiều phúc đức”.
Kinh Tăng nhất A-hàmghi:
- Thí thức ăn cho súc sinh thì được phúc gấp trăm lần, thí thức ăn cho người phạm giới thì được phúc gấp nghìn lần, thí thức ăn cho người trì giới thì đươc phúc gấp vạn lân, thí thức ăn cho tiên nhân đã đoạn dục thì được phúc gấp nghìn vạn lần, thí thức ăn cho tu-đà-hoàn hướng thì được phúc chẳng thể tính kể, huống gì bậc tu-đà-hoàn, bậc tư-đà-hàmhướng, bậc tư-đà-hàm, cho đến bậc a-na-hàm, a-la-hán, bích-chi-phật, Như Lai. Phúc đức này chẳng thể tính kể.
Luận Trí độ ghi:
- Trong thành Phất-ca-la nước Nhục-chi có họa sĩ Thiên-na. Một hôm, họa sĩ này đến nước Đa-sát-thi-la làm ăn. Sau mười hai năm hành nghề, anh ta thu được ba mươi lượng vàng, rồi trở về nước. Đến thành Phất-ca-la nghe tiếng trống triệu tập đại hội, anh ta bước vào thấy chúng tăng nên khởi lòng tin thanh tịnh, liền hỏi vị duy-na:
- Cần bao nhiên tiền để cúng dường thức ăn cho đại chúng trong một ngày?
Vị duy-na đáp:
- Cần ba mươi lượng mới đủ cung cấp thức ăn trong một ngày.
Anh ta liền trao ba mươi lượng cho vị duy-na và thưa:
- Xin thầy giúp con cúng dường thức ăn trong một ngày. Sáng mai con sẽ đến.
Về tới nhà, người vợ hỏi:
- Mười hai năm nay, anh làm bao nhiêu tiền?
- Anh làm được ba mươi lượng vàng. Anh ta đáp.
- Vàng đâu?
- Anh đã đem gieo vào ruộng phúc rồi.
- Ruộng phúc nào?
- Anh cúng dường chúng tăng.
Người vợ liền trói chồng lại và dẫn lên quan trị tội. Quan đoán sự hỏi:
- Có việc gì?
Người vợ đáp:
- Chồng tôi cuồng si, chẳng thương vợ con, đem hết ba mươi lượng vàng làm lụng trong mười hai năm cho người khác. Theo phép nước, tôi trói chồng lại rồi đem lên quan phân xử.
Đại quan hỏi người chồng:
- Tại sao anh không cung cấp tiền cho vợ con mà cho người khác?
Người chồng đáp:
- Đời trước tôi không tạo công đức nên đời này nghèo khổ. Nay gặp ruộng phúc, nếu không gieo trồng phúc đức thì đời sau lại khổ nữa, nghèo khổ tiếp nối không có ngày nào thoát khỏi. Vì muốn chấm dứt cảnh này nên tôi đem hết số vàng dành dụm được cúng dường chúng tăng.
Vì đại quan là một ưu-bà-tắc có lòng tin Phật, nên khi nghe xong, ông khen:
- Việc này thật khó làm. Anh siêng năng, cực khổ dành được một ít tiền lại đem cúng dường hết cho chúng tăng. Anh đúng là người thiện.
Đại quan liền cởi xâu chuỗi quí trên người và con ngựa đang cỡi cùng phong ấp ban cho người nghèo rồi nói:
- Anh mới cúng dường chúng tăng mà chúng tăng chưa dùng, ấy là lúa chưa gieo, mầm chưa mọc. Sau này anh sẽ hưởng phúc báo lớn!
Vì thế nên nói: “Cúng dường những vật khó kiếm được thì được rất nhiêu phúc đức”.
10.3. BÌNH ĐẲNG
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Chọn ruộng phúc phải chọn người có đức, không nên chọn người trẻ khỏe mạnh, hoặc người già suy yếu.
Phật nói:
- Thuở xưa Ta từng nghe có một đàn việt nhờ đạo nhân quen biết đến chùa chọn thỉnh những vị lớn tuổi. Vì thế, theo thứ tự thỉnh tăng, đến sa-di thì không thỉnh nữa.
Sa-di nói:

Phần 3

- Tại sao ông không thỉnh chúng tôi?
Đạo nhân đáp:
- Đàn việt không muốn thỉnh, chẳng phải do tôi.
Sa-di nói kệ giáo hóa đạo nhân:
Người già đức cao
Tóc bạc, da mặt nhăn
Mi dài và răng rụng
Lưng còng, tay chân yếu.
Đàn việt thích như thế
Chẳng thích sa-di nhỏ
Các sa-di này đều là bậc a-la-hán. Họ nói: ‘Đàn việt này ngu si, không có trí tuệ, không thích người có đức, chỉ ưa người già yếu’, rồi nói kệ:
Nói trưởng lão lỗi lạc
Chưa hẳn tóc đã bạc
Mặt nhăn, răng chẳng còn
Ngu si không tuệ giác.
Người trọng việc tu đạo
Dứt trừ việc ác bạo
Phạm hạnh thường tịnh tu
Đó gọi là trưởng lão.
Khen chê, ta đã bặt
Lòng hơn kém đã dứt
Chỉ giúp đàn việt kia
Đang gây tạo tội lỗi
Sinh khởi tâm hơn thua
Chê ruộng tăng bậc nhất.
Chúng ta nên đi ngay
Giáo hóa đàn việt nay
Chớ khiến rơi đường ác.
Các sa-di chúng ta
Hãy vận sức thần thông
Hóa thành người già nua
Tóc bạc, mặt nhăn nheo
Mi dài, răng chẳng còn
Lưng còng, tay chống gậy
Đến nhà đàn việt nọ.
Đàn việt nhìn thấy họ
Trong lòng rất mừng tỏ
Đốt hương rải hoa thơm
Mau thỉnh vào an tọa
Chỉ một khoảnh khắc thôi
Biến lại sa-di nhỏ.
Đàn việt kinh ngạc ngay
Thấy biến hóa thế này
Như được uống cam lộ
Sắc mặt bỗng đổi thay.
Các sa-di nói tiếp:
- Chúng tôi chẳng phải dạ-xoa, la-sát. Vì thấy đàn việt chọn người già, sinh tâm hơn kém đối với ruộng phúc chúng tăng, tổn hoại căn lành của mình, nên chúng tôi biến hóa ra như vậy để ông cải hối.
Bấy giờ sa-di nói kệ:
Thí như loài muỗi mòng
Muốn hút cạn biển Đông.
Thế gian không thể biết
Công đức của chúng tăng.
Dù tất cà chúng sinh
Suy lường công đức tăng,
Cùng chẳng thể biết hết
Huống gì một mình ông!
Ông há chẳng nghe Như Lai nói có bốn điều không nên xem thường là thái tử, con rắn, ngọn lửa và sa-di hay sao? Như trái am-la, trong sống ngoài chín, ngoài sống trong chín; chớ vội vàng so sánh chỗ hay dở của người đối diện; trong một niệm cũng có thể đắc đạo. Ông chớ khởi tâm phân biệt ruộng phúc chúng tăng.
Bấy giờ, sa-di nói kệ:
Biển công đức chúng tăng
Chẳng thể nào suy lường
Phật còn phải kính vui
Dùng trăm kệ ca ngợi.
Huống gì người khác nào
Mà chẳng ca ngợi sao!

Phần 4

Ruộng phúc tốt rộng lớn
Gieo ít, thu hoạch cao.
Vì thế nên đàn việt
Khi cúng dường tăng chúng
Bình đẳng, không phân biệt
Còn trẻ hay già nua.
Nghe kệ xong, toàn thân đàn việt rúng động, năm vóc gieo xuống đất thành tâm sám hối”.
Có bài tụng:
Thông đạt bốn quả thánh
Khéo dung hội sáu căn
Quán lễ huyền đạt ngộ
Hiểu lí lòng kiên trinh.
Già trẻ đều hòa hợp
Lòng cung kính chí thành
Tùy duyên mà phó hội
Giáo hóa kẻ ngu si
11. CHƯƠNG QUI Y VÀ THÀNH TÍN
11.1. LỜI DẪN
Tín là nguồn gốc của đạo, là mẹ của công đức; trí là nền tảng xuất thế giải thoát. Không có lòng tin thì chẳng thể lên thuyền giảỉ thoát; không có trí tuệ thì chẳng thể đoạn dứt phiền não vi tế. Lí này rất rõ ràng, lên xuống tự biết được. Thường thấy kẻ ngu không tin nhân quả, lại cho rằng giàu nghèo là tự nhiên, khổ vui do số mạng; đẹp xấu chẳng phải do nhẫn nhục, sân hận; quí tiện chẳng liên quan cung kính, khinh thường, mà do chúng sinh tự chiêu cảm lấy. Thí như cây cỏ tốt xấu tự nhiên, đâu do nhân mà có. Nhưng kinh Phật, chẳng giống thuyết ngoại đạo, nếu luận về giàu nghèo, thì cho đều do nghiệp duyên, quí tiện chẳng do vận mệnh, ngu trí chẳng thể thay khối óc, đẹp xấu chẳng thể đổi thân hình.
Cho nên kinh ghi: “Nghiệp quyêt định quả báo đẹp xấu”. Sách Nho ghi: “Vận mệnh và tướng mạo do trời quyết định”. Vì thế nghiệp của người lính, người dân vốn là nghèo khổ, dù cố cho thì cũng chẳng thể hưởng được; người có tướng giàu dừ ở đâu cũng thường sung túc. Cho nên Hán Văn đế11 nằm mộng mà ân sủng
Đặng Thông Thầy tướng đoán Đặng Thông sau này sẽ nghèo mà bị chết đói. Đế nói: “Giàu được là do ta, sao ông nói nghèo?” rồi phong cho Đặng Thông cai quản Đồng sơn tự do đúc tiền, về sau, Đặng Thông gặp họa chạy trốn, cả nhà đều bị chết đói.
Lại tì nữ của vua Ninh Bẩm Li mang thai sinh ra một bé trai. Thầy tướng đoán đứa bé có tướng quí, sau này sẽ làm vua. Vua nói:
- Nó chẳng phải con cháu trẫm!
Do đó vua muốn giết. Tì nữ thưa:
- Do linh khí từ trên trời nhập vào, nên tiện nữ mang thai.
Đến khi sinh đứa bé, vua cho là điềm xấu, ra lịnh ném vào chuồng lợn, lợn ủ ấm, bỏ vào chuồng ngựa, ngựa cho bú, nên đứa bé không chêt. Cuôi cùng đứa bé này làm vua nước Phù Dư. Cho nên biêt răng nghiệp duyên, mệnh vận đã quyết định những điềm chưa hình thành, không bao giờ thay đổi, cũng chăng thể cướp đoạt được. Cho nên biết rằng, làm thiện được phúc, làm ác thụ khổ, nghiệp quả không sai, línày rõ ràng. Tại sao lại chấp cái ngu, ôm lây mê lầm, chẳng chịu tỏ ngộ!
Thuở xưa, vào thời Vũ Đinh, cây dâu và cây lúa cùng mọc ở triều. Thái sử tiên đoán: “Cây trồng ở đồng ruộng mà mọc ở triều thì là điềm mất nước”. Vũ Đinh sợ hãi, nên chuyên tâm tu thiện, khiến hai cây ấy đều chết khô. Nhà Thương lại hưng thịnh. Như vậy chẳng phải làm thiện mà có phúc sao?
Lại vào thời Đế Tân, tại ven thành có chim sẻ sinh quạ con. Thái sử tiên đoán: “Nhỏ sinh lớn thì nước nhà nhất định sẽ hưng thịnh”. Đế Tân kiêu ngạo hung bạo, chẳng lo việc triều chính, nên nhà Thương liền diệt vong. Như vậy chẳng phải làm ác thì chuốc họa sao?
Những việc như thế sách sử đều ghi chép rất nhiều. Tại sao lại ngoan cố làm trái với kinh sử! Người đời đều thấy, mùa xuân gieo hạt, mùa đông thu hoạch; như bố thí thì sau này sẽ hưởng quả báo. Như ở trong thai mà đã có lụa quí quấn thân, vừa sinh ra, trong tay đã nắm tiền vàng. Tạo đức thì nhất định hiện đời được linh xà ngậm hạt châu đến đáp ân, nai chở vật đến trả nghĩa. Thuở xưa người bố thí một chéncơm cho kẻ đói còn được báo đáp giúp tránh nạn Nay cúng dường đại chúng một bữa trai, há không được hưởng phúc lộc sao?
11.2. TIỂU THỪA
Kinh Niết-bàn ghi:
- Đức Phật dạy: “Chúng sinh có hai hạng: người có lòng tin và người không có lòng tin. Người có lòng tin thì có thể tu tập, nhất định đắc Niết-bàn, không còn thống khổ. Người không có lòng tin là nhất-xiển-đề, là người chẳng thể tu tập”.
Kinh Tạp A-hàm ghi:
- Thế Tôn nói bài kệ làm ruộng cho bà-la-môn:
Lòng tin là hạt giống Cày cấy là cơn mưa Trí tuệ là ách cày
Tàm quí là đòn cày.
Thường giữ gìn chính niệm Là người khéo chế ngự.
Bào vệ thân, miệng, ý Như thức ăn trong bụng.
Tâm chân thật là xe
Lạc trụ không giải đãi
Tinh tiến không phế bỏ.
An ổn là tiến nhanh
Đi thẳng không trở lại
Đến nơi không buồn lo.
Người cày ruộng như thế

Phần 5

Chóng được quả Cam lộ
Người làm ruộng như thế
Chẳng trở lại các cõi.
Nghe xong, bà-la-môn phát tâm xuất gia và đắc quả A-la-hán.
Luận Bảo tính ghi:
- Đức Phật nói về Tam bảo là Điều Ngự Sư, pháp của Điều Ngự Sư, đệ tử của Điều Ngự Sư cho sáu hạng người: một là Đại thừa, hai là Trung thừa, ba là Tiểu thừa, bốn là tin Phật, năm là tin pháp, sáu là tin tăng.
Kinh Tăng-già-trá ghi:
- Bấy giờ bồ-tát Nhất Thiết Dũng cúi đầu thưa Phật: “Vì nhân duyên gì mà chúng sinh trong hội này phát tâm Bồ-đề?”.
Đức Phật dạy: “Này Nhất Thiết Dũng! Vào thuở quá khử vô số a-tăng-kì kiếp, có Đức Phật Bảo Đức ra đời. Khi ấy, Ta là con của một ma-nạp20, phát nguyệnsẽ giáo hóa bầy nai an trụ trong trí tuệ của Phật. Nghe lời phát nguyện này, bầy nai cũng phát nguyện muốn được như thế. Nay trong hội chúng của Ta, những chúng sinh an trụ trí tuệ Phật chính là bầy nai thuở xưa và nhờ căn lành này họ sẽ đắc Vô thượng bồ-đề’.
Kinh Chính pháp niệm ghi:
- Nếu có chúng sinh nào tu thiện, dùng tâm thanh tịnh qui y Tam bảo, trong khoảng thời gian khảy móng tay, không khởi niệm khác thì mệnh chung được sinh lên cõi trời Bạch Ma-ni tùy ý hưởng ngũ dục, tâm ý khoái lạc.
Công đức qui y Tam bảo được nhiều quả báo, vị lai sẽ đắc niết-bàn.
Kinh Vô thượng xú ghi:
- Phật bảo các tì-kheo: “Có ba nơi vô thượng: Phật vô thượng, pháp vô thượng và tăng vô thượng. Nếu những loài chúng sinh hai chân, bốn chân, hoặc không chân hay nhiều chân, hoặc có sắc hay không sắc, hoặc có tưởng hay không tưởng, hoặc phi hữu tưởng phi vô tường nghe Như Lai giảng nói pháp vô thượng màkhởi lòng tin, rồi qui hướng thì sẽ được quả báo vô thượng trong trời người”.
11.3. ĐẠI THỪA
Kinh Xuất sinh bồ-đề tâm ghi:
- Bấy giờ bà-la-môn Ca-diếp thưa Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Người phát tâm Bồ-đề được bao nhiêu phúc đức?
Thế Tốn đáp bằng bài kệ:
Nếu tấtcả chúng sinh cõi này
Đều có lòng tin và trì giới
Phúc đức tối thượng này chằng bằng
Một phần mười sáu tâm bồ-đề.
Nếu chúng sinh trong cõi Phật này
Đều có tòng tin với pháp hành
Phúc đức tối thượng này chẳng bằng
Một phần mười sáu tâm bồ-đề.
Chúng sinh hằng hà sa cõi Phật
Xây dựng chùa tháp như Tu-di
Cầu được phúc đức cũng chẳng bằng
Một phần mười sáu tâm bồ-đề.
Chúng sinh hằng hà sa cõi Phật
Bố thi bảy báu khắp mọi nơi
Phúc đức tối thượng này chảng bằng
Một phần mười sáu tâm bồ-đề.
Nếu chúng sinh mong cầu phúc lớn
Tạo vô lượng tháp như Thiết Vi
Cúng Phật cầu phúc cũng chẳng bằng
Một phần mười sáu tâm bồ-đề.
Nếu chúng sinh nào suốt cả đời
Đầu đội vai mang cả cha mẹ
Phúc đức tối thượng này chẳng bằng
Một phần mười sáu tâm bồ-đề.
Những người như thế được thắng pháp
Cầu đạo Bồ-đề, lợi chúng sinh
Là những hạng người rất thù thắng
Thế gian không có ai sánh bằng.
Thế nên nghe được những pháp này
Người trí thường khởi tâm ưa thích
Sẽ được vô biên đại phúc đức
Mau chóng thành tựu đạo Vô thượng.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Đức Phật khen ngợi Ca-diếp: “Nếu chúng sinh phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật nhiều như số cát sông Hi-liên thì trong đời ác năm trược mới có thể thụ trì kinh này mà không phỉ báng. Này thiện nam! Nếu người nào phát tâm Bồ-đề nơi một hằng hà sa Đức Phật thì trong đời ác năm trược mới có thể ưa thích, không hủy báng kinh này, nhưng chẳng thể giảng nói cho người khác. Nếu chúng sinh nào phát tâm Bồ-đềnơi hai hằng hà sa Đức Phật thì trong đời ác năm trược mới không phỉ báng mà lại có thể hiểu đúng, tin ưa, thụ trì, đọc tụng kinh này, nhưng cũng chẳng thể giảng nói cho người khác. Nếu chúng sinh nào phát tâm Bồ-đề nơi ba hằng hà sa Đức Phật thì ở trong đời ác năm trược mới không phỉ báng mà lại có thể thụ trì, đọc tụng, biên chép kinh này và tuy có thể giảng nói cho người khác nhưng chưa hiểu nghĩa sâu xa. Nếu chúng sinh nào phát tâm Bồ-đề nơi bốn hằng hà sa Đức Phật thì trong đời ác năm trược mới không phỉ báng mà lại có thể thụ trì, đọc tụng,

Phần 6

biên chép kinh này và có thể giảng nói một phần mười sáu nghĩa lí. Nếu chúng sinh nào phát tâm Bồ-đề nơi năm hằng hà sa Đức Phật thì trong đời ác năm trược mới không phỉ báng mà lại có thể thụ trì, đọc tụng kinh này và có thể giảng nói tám phần mười sáu nghĩa lí. Nếu chúng sinh nào phát tâm Bồ-đề nơi sáu hằng hà sa Đức Phật thì trong đời ác năm trược mới không phỉ báng mà lại có thể thụ trì, đọc tụng kinh này và có thể giảng nói mười hai phần mười sáu nghĩa lí. Nếu chúng sinh nào phát tâm Bồ-đề nơi bảy hằng hà sa Đức Phật thì trong đời ác năm trược mới không phỉ báng mà lại có thể thụ trì, đọc tụng kinh này và có thể giảng nói mười bốn phần mười sáu nghĩa lí. Nếu chúng sinh nào phát tâm Bồ-đề nơi tám hằng hả sa Đức Phật thì trong đời ác năm trược mới không phỉ báng mà lại có thể thụ trì, đọc tụng kinh này, cùng khuyên người khác biên chép; tự thụ nhận, lại khuyên người khác thụ nhận”.
Kinh Đại bi ghi:
- Đức Phật bảo A-nan: “Nếu có chúng sinh nào vừa phát lòng tin nơi chư Phật thì căn lành này không bao giờ mất, huống gì những căn lành khác. Thí như có người chẻ một sợi lông ra trăm phần rồi lấy một phần thấm vào nước đem đến Ta và nói: ‘Con gởi giọt nước này cho Cù-đàm, ngài chớ làm cho giọt nước này thêm hay bớt, cũng chớ khiến cho gió lốc, sức nóng mặt trời làm khô, cũng chớ để cho chim thú uống hết, chớ đem nước khác hòa vào. Ngài nên chứa trong bình và chớ để trên đất’.
Như Lai liền nhận và để trong sông Hằng, khiến giọt nước này không hòa chung với dòng nước xoáy, lại cũng chẳng khiến cho vật khác chạm vào. Giọt nước ấy trôi theo dòng, không bị ngăn ngại, cũng chẳng hòa chung với dòng nước xoáy; không bị các loài chim thú uống, nước ấy không tăng giảm, giống y như cũ; sau đó hòa vào sông lớn và từ từ chảy ra biển. Khi gió Tì-lam thổi làm hủy hoại thế giới, giả sử người gởi giọt nước trụ thế một kiếp thì Ta cũng trụ một kiếp. Đến khi kiếp tận, người này đến nói với Ta: ‘Thưa Cù-đàm! Xưa tôi gởi ông giọt nước, nay có còn chăng?’. Như Lai biết giọt nước ấy hiện ở chồ nào trong biển cả. Giọt nước ấy không hòa chung với giọt nước khác, vẫn như cũ không tăng giảm, rồi Như Lai đem trả lại cho người ấy.
Này A-nan! Như thế, Như Lai ứng Chính Biến Tri có đại thần thông, vô lượng tri kiến, thông suốt tất cả. Như Lai là người tối tôn tối thắng trong những người nhận kí gởi. Nếu người nào gởi giọt nước rất nhỏ như thế cho Như Lai, dù trải qua thời gian lâu xa cũng vẫn không hao tổn.
Này A-nan! Ông nên biết nghĩa này. Đầu sợi lông rất nhỏ dụ cho tâm, ý, thức. Sông Hằng dụ dòng sinh tử. Một giọt nước dụ vừa phát tâm lành nhỏ bé. Biển cả dụ Phật Như Lai ứng Chính Biến Tri. Người gởi dụ bà-la-môn, trường giả, cư sĩ, v.v... có lòng tin thanh tịnh. Trụ một kiếp, dụ Như Lai nhận giọt nước của người gởi, không bao giờ bị hao tổn, cũng như người kia gởi giọt nước cho Như Lai, dù trải qua thời gian lâu xa vẫn không hao tổn mảy may.
Này A-nan! Như thế, nếu người nào vừa phát lòng tin nơi Phật thì căn lành nàỵ không bao giờ mất, huống gì những căn lành thù thắng vi diệu khác. Ta nói những người này đều sẽ đạt quả Niết-bàn. Tuy bị nghiệp bất thiện khác làm rơi vào ba đường ác, nhưng Phật biết những chúng sinh này đã tạo căn lành, nên đưa họ ra khỏi ba đường ác, đặt trên bờ vô úy, lại khiến họ nhớ căn lành đã gieo mà dứt tất cả khổ đau, hưởng mọi niềm vui”.
- Vua A-xà-thế có một công chúa tên Vô úy Đức đoan chính không ai sánh bằng, lại có công đức thù thắng tối diệu. Khi công chúa được mười hai tuổi, vua cha dẫn lên lầu gác của cung điện, ban thưởng đôi guốc vàng và cho ngồi. Công chúa Vô úy Đức thấy các vị thanh văn, nhưng vẫn im lặng không chịu đứng dậy nghinh đón, lễ bái, thưa hỏi. Thấy vậy, vua A-xà-thế nói:
- Con chẳng biết đây đều là đệ tử thượng thủ đã thành tựu đại pháp của Phật Thích-ca và là ruộng phúc của thế gian sao? Vì thương chúng sinh mà các ngài đi khất thực. Nay con đã thấy, sao không đứng dậy đến đỉnh lễ, thưa hỏi, lại chẳng chịu nhường tòa; hay là con thấy điều gì?
-Chẳng rõ phụ hoàng đã từng thấy, từng nghe Chuyển luân thánh vương đứng dậy nghinh đón tiểu vương chưa?_ Công chúa đáp.
- Không có việc đó!
- Phụ hoàng đã từng thấy, từng nghe sư tử là chúa tể muôn loài lại đứng dậy nghinh đón dã can chưa?
- Không có việc đó!
- Phụ hoàng đã từng thấy, từng nghe Đế Thích nghinh đón các vị trời khác chưa?
- Không có việc đó!
- Phụ hoàng đã từng thấy, từng nghe thần biển lễ kính thần sông ngòi, ao hồ chưa?
- Không có việc đó!
- Tâu phụ hoàng! Bồ-tát phát tâm Vô thượng bồ-đề có lòng đại từ, đại bi giống như Chuyển luân thánh vương, sao lại lễ kính hàng thanh văn lìa tâm đại từ, đại bi giống như tiểu vương? Tâu phụ hoàng! Người cầu đạo Vô thượng chính giác giống như sư tử, chúa tể muôn loài, mà kính lễ hàng Tiểu thừa giống như dã can sao? Người muốn vào biển đại trí, muốn cầu hiểu biết các pháp Đại thừa mà lại cầu Thanh văn thừa giống như tìm nước trong dấu chân trâu sao? Tâu phụ hoàng! Nếu người nào gần gũi hàng thanh văn thì sẽ phát tâm Thanh văn. Nếu người nào gần gũi hàng tuyên giác thì sẽ phát tâm Duyên giác. Nếu người nào gần gũi bậc Chính Chân Chính Giác thì sẽ phát tâm Vô thượng bồ-đề.
Vua A-xà-thế tiếp: “Con quá ngã mạn, tại sao thấy các vị thanh văn mà không nghinh đón?”.
Thưa phụ hoàng! Cha chớ nói như thế! Cha cũng ngã mạn. Tại sao cha không nghinh đón những người nghèo khổ trong thành Vương Xá?_ Công chúa nói.
- Họ chẳng cùng hàng trẫm, làm sao trẫm nghinh đón được.
- Bồ-tát mới phát tâm cũng như thế. Tất cả thanh văn, duyên giác chẳng đồng hàng với con.
- Con chẳng thấy các Bồ-tát kính lễ tất cả chúng sinh sao?
- Tâu phụ hoàng! Vì muốn độ những chúng sinh kiêu mạn, sân hận, khiến họ khởi tâm hồi hướng và vì muốn họ tăng trưởng căn lành mà Bồ-tát kính lễ tất cả chúng sinh.
Kinh Phật thuyết Vô ủy nữ lại ghi:

Phần 7

- Bồ-tát Vô Úy Đức có người mẹ tên là Nguyệt Quang. Sau khi mệnh chung, bà sinh lên cõi trời Đao-lợi, làm một thiên tử tên là Quang Minh Tăng Trưởng. Đến khi bồ-tát Di-lặc thành đạo, thiên tử này sẽ xuất gia và sau đó lần lượt cúng dường các Đức Phật trong kiếp Hiền. Sau cùng nơi Phật Li cấu, thiên tử này sẽ làm vua, có đầy đủ bảy báu, hiệu là Địa Trì. Thiên tử cúng dường Đức Phật này rồi chứng đắc Vô thượng bồ-đề, hiệu là Biến Quang Như Lai.
Có bài tụng:
Mê lầm trong tăm tối
Đắm chìm trong giấc mộng
Tâm trần chưa gột rửa
Sợ tham nước cam lộ.
Từ Nhan phóng ánh sáng
Giúp ta thấy bình minh,
Bỗng gặp thiện tri thức
Chi bày mở trí tuệ.
Tỉnh ngộ, tâm rỗng lặng
Liền chán tục mịt mờ.
Tăng chúng đã trang nghiêm
Pháp hội cũng tụ họp
Người thấy, lòng vui mừng
Thành kính đến đạo tràng.
Nếu còn tin tà đạo
Khổ đến, mắc tai ương.
11.4. CẢM ỨNG
11.4.1. Đời Tấn, sa-môn Trúc Pháp Sư: Sư ngụ tại Cối Kê là bạn thâm giao với Vương Thản Chi ở Băc Trung. Hai người thường luận bàn sinh tử, tội phúc, báo ứng, nhưng vẫn còn mờ mịt, chưa thấu suốt, chẳng biết có hay không có. Nhân đó, hai người ước hẹn: nếu ai qua đời trước thì phải trở về báo lại cho người còn sống biết.
Sau khi từ biệt, Vương Thản Chi ở lại kinh đô. Một hôm đang ở trong miếu, ông bỗng thấy Trúc Pháp Sư đến. Vương kinh ngạc hỏi:
- Hòa thượng từ đâu đến đây?
- Vào ngày đó tháng đó, bần đạo mạng chung sinh lên cõi trời Nhật Nguyệt; tội phúc chẳng sai, như bóng theo hình, như vàng theo tiếng. Đàn việt nên tinh tiến tu đạo để được cứu tâm này, hầu được sinhlên cõi trời. Khi còn sống tôi và ông đã hẹn ước, nên nay tôi trở về báo tin. Nói xong, pháp sư biến mất (Trích từ Tục sưu thần kí).
11.4.2. Đời Tống, cư sĩ Viên Bính: Viên Bính tự là Thúc Hoán, người ở quận Trần. Niên hiệu Thái Thỉ cuối cùng (471), ông làm chức huyện lịnh Lâm Tương. Sau khi mất nhiều năm, một hôm trời sắp sáng, bạn ông là Tư mã Tốn mộng thấy ông đến báo là mất đã lâu và thăm hỏi sức khỏe:
- Khi còn sống, chúng ta thường luận bàn: Sinh là lao nhọc, chết là nghỉ ngơi. Nay mới biết chẳng phải như thế. Thường nghĩ ở đời có người mưu cầu chạy theo đồng tiền, cung cấp cho nhau; ba đường ác cũng như thế.
- Tội phúc, báo ứng nhất định thật như thế nào?_ Tổn hỏi.
- Theo chỗ tôi thấy ngày xưa không phù hợp những lời dạy trong kinh điển, lại cho rằng đó là lời dụ dẫn của Thánh nhân. Nhưng nay tôi thấy thiện ác rõ ràng, không khác với những điều mà kinh điển đã ghi, nhưng sát sinh là tội rất nặng, cẩn thận chớ phạm!
- Điều ông vừa kể, thật chẳng thể nói được, phải trình lên thượng thư.
- Tốt lắm! Cũng xin ông kính trình bày lòng này lên Thượng thư.
Bấy giờ, Tư không Giản Mục Vương công làm Lại bộ thượng thư. Bính và Tốn từng quen biết và đàm luận với ông ta, nên cũng có đề cập đến. Qua lại vài trăm lời rồi Bính từ biệt. Tốn nói:
- Xa cách đã lâu, tôi thường nghĩ đến ngày hội tụ, gặp nhau rất khó, sao ông không ở thêm một tí nữa?
- Chỉ đến thăm trong chốc lát thôi, tôi không thể ở đây lâu được. Những lời nói vừa rồi, chẳng nên cho nhiều người biết.
Thế là Bính bỏ đi.
Ban đầu Bính đến thì trời tối. Tốn cũng hoàn toàn chẳng biết tại sao trời sáng thấy được rõ ràng. Bính đi rồi, Tốn xuống giường tiễn chân; vừa mới cất bước thì trời lại tối, chỉ thấy ánh sáng vài thước rọi quanh đôi chân Bính (Trích từ Minh tường ký).
11.4.3. Đời Tùy, sa-môn Thích Đạo Tiên: Sư ở chùa Trúc Lâm, núi Quán Khẩu đất Thục, đời Tùy. Sư vốn là người nước Khương Cư chuyên nghề buôn bán xa, thường qua lại nước Thục, nước Ngô, thu gom được một số châu báu giá trị khoảng mười vạn xâu tiền. Sau đó, sư đến núi Ngưu Đầu ở Tử châu, nghe một vị tăng thuyết pháp, hiểu rõ tiền của là trói buộc, liền ném tất cả châu báu xuống sông và đến chùa Trúc Lâm trên núi Quán Khẩu xin xuất gia. Ngày thế phát, sư phát nguyện giữa đại chúng: “Con không đắc đạo, thệ không xuống núi”.
Sư lập nguyện không sống trong chúng, chỉ sống nơi vắng vẻ. Mỗi lần sư nhập định là năm ngày. Có người đến cửa, sư thầm biết liền xuất định tiếp đón. •Khi không có ai, sư ngồi tĩnh tọa trong tịnh thất, tâm vắng lặng như hư không. Có khi sư tiên đoán ngày mai sẽ có bao nhiêu người đến, hình dáng, quần áo như thế nào thì đúng như vậy.
Gặp năm hạn hán dữ dội, bách tính lo sợ ruộng lúa khô cằn, đến thỉnh sư cầu mưa. Sư liền đến hang rồng, lấy gậy gõ vào cửa hang gọi: “Chúng sinh này sao ham ngủ thế”. Nghe xong, rồng liền thức dậy. Sau đó mây đen khắp nơi kéo đến và tuôn một trận mưa lớn, các nơi đều thấm ướt. Người sang kẻ nghèo đều rất kính trọng, tôn sư như thần thánh.

Phần 8

Bấy giờ, Thục vương Tú trấn thủ vùng Mân Lạc nghe tiếng, nên sai sứ đến mời, nhưng sư nhất định từ chối. Nghe vậy, vương nổi giận, đích thân đem quân lính đến bắt sư, nếu sư nhất định trái lịnh thì sẽ chém. Nghe binh lính đến gần, sư xem như không có người, đắp y tăng-già-lê ngồi nhập định. Khi vương vừa đến chân núi, bỗng nhiên trời nổi sấm sét, tuôn mưa đá, tuyết rơi, nước vọt lên, trong chốc lát ngập cả sông suối. Quân línhẩn nấp, lo sợ bỏ mạng. Thấy việc nguy cấp, vương sám hối, qui y, từ xa đỉnh lễ sư. Bấygiờ mây tan mưa tạnh, cảnh vật quang đãng. Khi đến chỗ sư, vương hết lòng cung kính, nhất tâm sám hối. Sư nói pháp, vương lại phát lòng tin, ân cần phụng thỉnh sư về chùa Tĩnh Chúng ở Thành đô và cúng dường trọng hậu.
Cả nước đều cung kính và tôn xưng sư là Tiên Xà-lê. Khoảng niên hiệu Nhân Thọ (601-604), sư trở về chùa cũ và viên tịch tại đó.
12. CHƯƠNG NAM NỮ THẾ GIAN
12.1. NGƯỜI NAM THẾ GIAN
12.1.1. Lời dẫn
Người tại gia có hai hạng là sang hèn, giàu nghèo. Người giàu sang thường buông lung, kiêu mạn cống cao, xem thường kẻ dưới. Có người cậy vào uy thế, giòng họ cao quí mà lăng nhục kẻ khác. Có người dựa vào sự học rộng, thông minh, cậy tài ức hiếp kẻ khác. Có người dựa vào biện luận thông suốt, bén nhạy mà khinh miệt kẻ khác. Có người cậy vào giàu có, tiêu xài lãng phí mà xem thường lăng nhục kẻ khác. Có người cậy vào dung mạo xinh đẹp, hính dáng dễ nhìn mà lăng nhục kẻ khác. Có người cậy xe tốt, ngựa hay mà khinh miệt kẻ khác. Có người ỷ mình nhiều tài sản, người hầu mà lăng nhục kẻ khác. Những hạng người như thế chảng thể nói hết.
Thật đáng thương cho chúng sinh ngu si, chẳng biết vô thường đang kề bên, vọng khởi tâm cống cao, quả báo nước sôi, sông tro nung nấu, ngực tốt lúc nào cũng cẩm chĩa ba canh chừng hai bên. Chúng sinhchẳng lo việc này, cứ mặc tình vui chơi, khác gì heo dê chẳng biết sắp đến lò mổ, khác gì ruồi nhặng ham thích xác chết.
Từ xưa đến nay, giàu sang không bền lâu, sinh diệt trong chớp mắt, quí tiện như cát bụi, giàu sang rồi cũng là nấm mồ hoang, nghèo hèn rồi cũng cùng chung nghĩa địa. Đã biết như thế thì cần phải hạ mình tôn kính người trên. Vì thế thân sơ không nhất định, quí tiện chẳng trường tồn, khổ vui dễ thay, xuống lên đắp đổi.
12.1.2. Răn dạy người thế gian
Kinh Hoa nghiêm ghi:
- Có mười hành vi được xem là ngã mạn cần phải tránh xa:
1 - Không tôn trọng, cung kính, cúng dường các phúc điền đáng kính như hòa thượng, a-xà-lê, cha mẹ, sa-môn, bà-la-môn v.v...
2- Không tín thụ, cung kính cúng dường những vị pháp sư đa văn đắc pháp thắng diệu, biết pháp Đại thừa sâu xa, biết đạo giải thoát, đắc đà-la-ni, đầy đủ trí tuệ, khéo giảng nói pháp.
3- Không ca ngợi pháp sư thuyết pháp thâm diệu, khiến cho người nghe vui mừng, phát tâm li dục và khiến chúng hội cũng mừng vui.
4- Kiêu mạn tự cao, lăng nhục người khác, chẳng xét lơi mình, chảng điều phục tâm.
5- Khởi tâm chấp ngã, không ca ngợi người có công đức, trí tuệ; lại ca ngợi người không có đức; khởi tâm ganh tị khi người khác được ca ngợi.
6- Nếu có pháp sư giảng nói đúng pháp, đúng luật, chân thật, đúng lời Phật dạy, nhưng vì ganh ghét nên nói pháp sư giảng nói sai pháp, sai luật, hư vọng, không đúng lời Phật dạy, cốt để phá hoại lòng tin của người khác.
7- Khi ngồi tòa cao, thầm nghĩ: ‘Ta là pháp sư, chẳng nên chấp vào sự tướng: Chẳng cần cung kính cúng dường người khác. Những trưởng lão Phạm hạnh, có đức đều phải cung kính cúng dường ta’
8- Thường tránh xa, chau mày, trợn mắt nhìn người khác, hoặc thường nhìn chúng sinh bằng tâm từ bi bình đẳng, lời nói nhu hòa, không thô thiển hung ác, lìa sân khuể, nhưng lại tìm lỗi của pháp sư.
9- Vì ngã mạn nên không cung kính, không đến nghe bậc đa văn giảng nói, không thưa hỏi những khúc mắc như: Thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Nên làm những việc gì? Không nên làm những việc gì? Tạo nghiệp nào để làm lợi ích lâu dài cho tất cả chúng sinh? Những việc nào không lợi ích chúng sinh? Làm những việc nào là từ sáng vào sáng, làm nhũmg việc nào từ tối vào tối? Những người như thế bị tâm ngã mạn, nhấn chìm nên chẳng thấy được chính đạo xuất thế.
10- Vì ngã mạn nên không gặp chư Phật, khó được nghe pháp, mât hết những căn lành đã gieo trongnhững đời trước, nói những điều chẳng nên nói, sinh lòng hiềm khích rồi tranh cãi. Vì tâm Bồ-đề yếu kém, nên người như thế sẽ bị rơi vào đường tà. Cho dù người ấy không bỏ việc làm của bồ-tát, cũng không bỏ đạo Bồ-tát, nhưng trong vô lượng trăm nghìn vạn kiếp vẫn không được gặp Phật, huống là nghe pháp!”.
Kinh Xuất diệu có bài kệ ghi:
Chúng sinh bị mạn trói
Đắm nhiễm nơi kiêu căng
Bị kiến chấp mê hoặc
Chẳng tránh khỏi tử sinh.
Cho nên biết: Phàm phu tạo ác tuy ít, nhưng đời sau phải chịu vô lượng quả báo thống khổ, như chất độc thấm vào tim, tâm người chẳng đồng. Người đời tìm kế sinh nhai, chẳng biết nhìn lại cái chết, mà sống thì chẳng thể giữ được, cái chết thì chợt đến. Mạng sống mong manh này, sáng còn tối mất; trong chốc lát biến hoại vô thường, uổng công tạo dựng ruộng nhà, luyến ái vợ con.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi:
- Khi Đức Phật ở nước Xá-vệ, có một bà-la-môn tuổi gần tám mươi, của cải vô số, không biết đạo đức, chẳng nghĩ đến vô thường, là người khó giáo hóa, chỉ lo xây nhà đẹp, nào là gian trước, gian sau, nhà mát, phòng âm, chái đông, chái tây đến mấy chục gian, chỉ còn mặt trước của nhà sau quá lớn nên xây chưa xong.
Bấy giờ, bà-la-môn ấy cứ mãi lo làm ăn và chỉ đạo mọi việc. Phật dùng đạo nhãn thấy ông ta này sẽ chết trong hôm nay. ông ta không hề biết điều đó mà cứ lăng xăng tạo dựng, đến nỗi tinh thần mỏi mệt. Thật đáng xót thương!
Biết như vậy, Đức Phật dẫn A-nan đi đến nhà ấy, hỏi thăm:

Phần 9

- Ông có khỏe không? Nay ông xây ngôi nhà này để làm gì?
- Gian trước để tiếp khách, gian sau tôi ở; chái đông, chái tây, một bên để con cái, bên kia để người giúp việc và chứa đồ đạc; mùa hạ thì ở nhà mát, mùa đông thì ở phòng ấm. Ông lão đáp.
- Ta nghe danh đức của ông đã lâu, nhưng nay mới đến chuyện trò. Như Lai có bài kệ quan trọng, rất ích lợi cho sự sống chết, nay muốn tặng ông, không biết có được chăng? Xin ông gác lại chút việc để cùng trò chuyện, được không?
- Thật sự hôm nay tôi rất bận, không rảnh nói chuyện cùng Ngài. Xin mời hôm sau Ngài đến, chúng ta sẽ cùng chuyện trò, còn bài kệ xin Ngài cứ nói.
Bấy giờ, Đức Phật liền nói bài kệ:
Có con cái, tài sàn
Kẻ ngu chi lăng xăng
Ngã còn không thật có
Huống gì con và của
Trời nóng ở chỗ này
Tiêt lạnh sống nơi kia,
Kẻ ngu nhiều suy tính
Chẳng biết đời vô thường.
Do ngu si che lấp
Cho mình là có trí,
Ngu tự cho là trí
Ấy là kè đại ngu.
Bà-la-môn nói:
- Bài kệ này hay lắm, song giờ đây tôi quá bận rộn. Hôm khác chúng ta sẽ trò chuyện.
Nghe xong, Đức Phật từ biệt ra về mà xót thương cho ông ấy. Khi Đức Phật đi được một đoạn, ông lão đỡ cây đòn tay, chẳng may nó rơi xuống trúng vỡ đầu mà chết. Gia đình ông khóc lóc thảm thiết, làm kinh động khắp xóm làng. Đi đến đầu làng, Đức Phật gặp vài chục Phạm chí, họ hỏi:
- Ngài từ đâu đến?
- Chúng tôi vừa đến nhà ông lão mới chết kia, nói pháp cho ông ta, nhưng ông ấy không tin Phật pháp, không biết vô thường. Giờ đây, ông ấy đột nhiên qua đời. Đức Phật đáp.
Đức Phật nói lại bài kệ trên cho các Phạm chí. Nghe xong, họ vui mừng và chứng Tu-đà-hoàn. Đức Phật liền nói bài kệ:
Kẻ ngu gần bậc trí
Như bầu chứa đầy rượu,
Dù gần gũi lâu ngày
vẫn không hiểu được pháp.
Thông minh gần bậc trí
Tợ lưỡi nếm mùi vị
Tuy học trong chốc lát
Liền hiểu được pháp mầu.
Kẻ ngụ làm việc ác
Tự chuốc lấy tai họa.
Cố ý làm điều ác
Phải gánh chịu tai ương.
Do làm các điều ác
Về sau dù hối tiếc –
Khóc lóc và than van
Gây nhân phải chịu khổ.
Các Phạm chí nghe bài kệ này, niềm tin càng thêm sâu sắc. Họ đỉnh lễ Đức Phật và vui vẻ vâng làm.
12.1.3. Khuyên bảo và dẫn dắt
Tâm kiêu mạn này thì thiện ác đều có, trí ngu chẳng khỏi, sang hèn chẳng không, nhưng ở đây chỉ bàn đến những người có tâm kiêu mạn nặng. Hằng ngày người đời ưa đề cao cái hay của mình, phê bình người hiền thiện, chê bai bậc thánh đức. Họ chưa từng biết hổ thẹn, phát lộ sám hối, hướng lòng cầu đạo, soi xét lại mình. Nên sách thế gian có câu: “Gắng sức làm lành để thân được an ổn; tận tâm hiếu dưỡng để cha mẹ vui lòng”.
Có nhiều bậc quân tử mến mộ Phật pháp, tinh tiến tu hành, nhân từ thuần khiết, khiêm nhường, cẩn trọng, tín thuận; được như vậy đều nhờ có gieo trồng căn lành đời trước, nên bản tính tự nhiên hiển lộ, đâu khác gì người tu đạo?
Lại có người xuất gia không nương theo Thánh giáo, trái phạm giới luật, không chịu học hỏi, mê muội chẳng khác gì người đời. Nhưng người tăng kẻ tục, hình tướng trái nhau, lỗi có nặng nhẹ, phạm có ít nhiều, tâm có tối sáng. Do đó, người xuất gia khi chưa phạm thì mỗi niệm đều thuận với đạo, nghiệp lành huân tập vào tâm, nền phúc sâu dày; tuy phạm một chút điếu ác, hổ thẹn mà tạo cũng không lay động nghiệp lành và nền phúc ấy; một chút hổ thẹn sám hối thì liền trở lại thanh tịnh.
Người đời. thân không biết hổ, tâm không biết thẹn, nuôi dưỡn vợ con; chắt chứa năm món dục, suốt ngày tham cầu các thứ cay nồng, rượu thịt muốnăn liền có, tâm ái nhiễm sâu nặng, không có giây phút buông bỏ. Sống chung trong cảnh xấu ác, làm sao thoát khỏi quả báo? Thế thì, đường sáng tối đã phân, nẻo thiện ác đã cách. Nên biết, ánh sáng có năng lực xua tan bóng tối, nhưng bóng tối không thể đẩy lùi ánh sáng. Ánh sáng ngọn đèn nhỏ cũng đủ làm sáng ngôi nhà tối.
Người xuất gia tuy đã phạm lỗi nhỏ, nhưng nghiệp thiện đời trước đã thành tựu, nay tuy ánh sáng đó chẳng tăng, nhưng nguồn sáng xưa vẫn hằng soi. Như đồ vật còn nguyên, tim đèn không cháy hết, ruộng đồng vẫn tồn tại, sự nghiệp vững bền.

Phần 10

Lại nữa, người xuất gia rất khó làm ác giống như đi thuyền trên đất, lại dễ dàng học đạo giống như chèo thuyền giữa biển. Người tại gia dễ tạo lỗi lầm giống như chèo thuyền giữa biển, lại rất khó tu phúc giống như đi thuyền trên đất. Cũng là thuyền, nhưng đi trên biển khác đi trên đất, nên nhanh chậm không đồng. Tu trì và phạm tội có khó có dễ. Vì thế nên biết, việc ác dễ nhiễm, điều thiện khó thành. Hãy sớm tự tỉm giải thoát, cố gắng phát tâm xuất gia!
Kinh Hiền ngu ghi:
- Phúc đức xuất gia vô lượng. Nếu cho phép tôi trai tớ gái, người dân hay tự mình xuất gia học đạo thì công đức vô lượng, không gì sánh bằng. Công đức xuất gia cao hơn núi Tu-di, sâu hơn biển cả, rộng hơn hư không, vì xuất gia, cuối cùng sẽ thành Phật.
Khi Phật còn tại thế, trong thành Vương Xá có trưởng giả Phúc Tăng đã hơn trăm tuổi, bị kẻ lớn người nhỏ trong nhà chán ghét, khinh chê. Nghe nói công đức xuất gia vô lượng, ông liền đến chỗ Phật xin xuất gia, gặp lúc Phật đi vắng. Ông lại đến chỗ tôn giả Xá-lợi-phất, nhưng thấy ông quá già nên tôn giả từ chối, cả năm trăm vị a-la-hán cũng như thế. Ông buồn bã đứng trước cổng chùa khóc lớn.
Đức Phật trở về, dùng nhiều lời an ủi, rồi bảo tôn giả Mục-kiền-liên độ ông xuất gia. Tôn giả Mục-kiền-liên trao giới pháp cho ông. Sau đó, vì thường bị những tì-kheo nhỏ tuổi châm chọc, nên ông trầm mình xuống sông. Tôn giả Mục-kiền-liên quán thấy, bèn dùng thần thông vớt ông lên bờ và hỏi nguyên do. Tôn giả nghĩ: “Nếu không dùng việc sinh tử răn dọa, thì ông ta không thể đắc đạo”. Tôn giả liền bảo ông ta chú tâm, nắm chặt chéo áo của mình rồi vọt lên hư không bay ra bờ biển. Tại đây ông ta thấy xác một người nữ xinh đẹp vừa mới chết; có một con trùng từ miệng bò ra rồi chui vào mũi, lại từ mắt bò ra rồi rúc vào tai. Mục-kiền-liên thấy rồi bỏ đi. Ồng ta hỏi:
- Người này là ai?
Tôn giả đáp:
- Đó là vợ của Đại Tát-bạc ở thành Xá-vệ, dung mạo xinh đẹp hiếm có trên thế gian. Cô ta thưởng soi mặt, thấy mình xinh đẹp, nên khởi tâm kiêu mạn và yêu thích bản thân. Người chồng rất thương vợ, mộthôm cùng dẫn đi biển, biển nổi sóng lớn nhấn chìm thuyền, cả hai đều bị chết đuối trôi giạt vào bờ. Do luyến tiếc bản thân nên sau khi chết, cô ta hóa thành con trùng bám vào thân này; sau khi bỏ thân trùng liền rơi vào đại địa ngục chịu vô lượng thống khổ.
Ông lão lại đi về phía trước một đoạn, thấy một cô gái đang đội vạc đồng, rồi đổ nước vào đun sôi sùng sục. Sau đó cô gái cởi y phục nhảy vào trong vạc khiến cho thịt chín nhừ; xương thịt tách rời, nước sôi sùng sục đẩy xương văng ra khỏi vạc, gặp gió thổi biến trở lại thành người, rồi tự ăn thịt mình.
Phúc Tăng hỏi tôn giả:
- Cô gái ấy là ai?
Tôn giả đáp:
Trong thành Xá-vệ, có một ưu-bà-di kính tin Tam bảo, xin cúng dường thức ăn cho một vị tì-kheo trong mùa hạ. Bà ta cất một cái thất ở đầu thôn, làm các món hương hoa, thức ăn, nước uống ngon ngọt, sai người tớ gái đem đến cúng dường. Người tớ đem đến chỗ vắng chọn món ngon ăn hết, rồi mới đem đến tì-kheo. Bà ta biết được, liền hỏi:
- Ngươi có lén ăn bớt không?
Đứa tớ gái đáp:
- Thưa không. Vị tì-kheo ấy ăn xong, còn dư cho con ăn. Nếu con ăn trước thì đời đời tự ăn thịt mình!
Do nhân duyên đó, nên trước chịu hoa báo, sau đọa vào địa ngục.
Ông lão lại đi về phía trước cách đó không xa, thấy một cây thịt, côn trùng bu kín, không còn chỗ trống, rúc rỉa ăn thịt. Thấy thế, ông bèn hỏi tôn giả:
- Đó là cây gì?
Tôn giả đáp:
- Đó là tì-kheo Thác-lợi-tra, khi làm Tri sự trong chúng, tự ý sử dụng tài vật của tăng, đem hoa quả thức ăn cho người thế gian. Vì nhân duyên đó nay chịu hoa báo như thế, sau đọa vào địa ngục. Những con trùng rúc rỉa cây thịt chính là những người lúc ấy nhận vật của tì-kheo kia.
Ông lão lại đi tiếp, thấy một người nam, quanh thân mọc nhiều đầu thú. Các ác quỉ thân, tay cầm cung tên với ba mũi tên độc, đầu bịt sắt đang cháy đỏ, tranh nhau bắn vào người ấy, khiến cho toàn thân cháy rụi.
Phúc Tăng hỏi tôn giả:
- Đó là người nào?
Tôn giả đáp:
- Đó là một thợ săn giỏi, giết hại nhiều cầm thú, nên chịu quả khổ như thế; sau khi chết, đọa vào đại địa ngục.
Hoa báo: Hoa nở trước khi kết trái. Chúng sinh trồng nghiệp nhân thiện ác, quả có được từ nghiệp nhân này từ quả báo, cái có trước quả báo thí gọi ta hoa béo, Như lấy việc tu thiện, niệm Phật làm nghiệp nhân, vãng sanh cực lạc là hoa báo, về sau chứng đại bồ đề là quả báo
Đi thêm một đoạn, Phúc Tăng thấy một ngọn núi lớn, chân núi có nhiều đao kiếm, lại có một người từ trên núi lao xuống bị mũi đao, ngọn kiếm đâm nát thân thể rồi lại leo lên, làm mãi như thế không ngừng.
Phúc Tăng hỏi tôn giả:
- Đó là người nào?
Đáp:
- Đó là một tướng võ vô cùng mạnh khỏe ở thành Vương Xá. Vì dũng mãnh nên ông ta thường tiên phong, giết nhiều kẻ giặc; trước phải thụ khổ này, sau đọa vào địa ngục.
Lại đi thêm một đoạn, Phúc Tăng thấy một núi xương cao bảy do-tuần, thường che lấp ánh sáng mặt trời làm cho biển cả tối tăm. Bấy giờ tôn giả Mục-kiền-liên đi qua lại trên sườn của núi xương đó.
Phúc Tăng hỏi:
- Núi xương này là sao?
- Ồng nên biết, đó là xương của thân ông đời trước. Mục-kiền-liên đáp.

Phần 11

Nghe vậy, Phúc Tăng rúng động toàn thân, toát mồ hôi và thưa:
- Nay con nghe điều này, nhưng lòng chưa hiểu, mong thầy giảng rỗ ngọn ngành!
Mục-kiền-liên bảo:
- Sinh tử lưu chuyển không có giới hạn, nghiệp thiện ác đã gây tạo, không bao giờ mất, nên nhất định phải chịu quả bảo. Hăy lắng nghe: “Vào thời quá khứở cõi Diêm-phù-đề có một vị vua tên là Pháp Tăng ưa thích bố thí, trì giới, nghe pháp, giàu lòng từ bi, không làm tổn hại muôn vật, dùng chính pháp trị nước suốt mười hai năm. Một hôm, nhân lúc rảnh rỗi, vua cùng mọi người đánh cờ vui chơi. Bồng có vị quan đến tâu: Thưa bệ hạ! Có kẻ phạm tội giết người’. Gặp lúc đang ham vui, nên vua buộc miệng phán: ‘Hãy trị theo phép nước!’.
Các đại thần liền theo phép nước mà xử trảm người đó. Chơi cờ xong, vua hỏi các đại thần:
- Tội nhân đâu rồi?
- Đã chém đầu rồi! Đại thần tâu.
Vua nghe xong, liền ngã xuống đất bất tỉnh. Các đại thần vả nước vào mặt, vua mới tỉnh dậy, rơi lệ nói: ‘Người trong cung cùng kĩ nữ và voi ngựa bảy báu đều ở lại cõi này, chỉ riêng trẫm vào địa ngục. Nay trẫm đã giết người, trẫm chính là vua đồ tể, không biêt đời đời thác sinh vào chốn nào. Nay trẫm quyêt định không làm vua nữa!’.
Thế là vua liền bỏ ngôi, vào núi sống một mình. Sau khi chết đọa làm cá ma-kiệt, thân dài bảy trăm do-tuần. Các vị đại thần của vua, cậy thế lực của mình, bức ẻp trăm họ, giết hại vô số, sau khi chết cũng đọa làm loài cá ma-kiệt, bị nhiều côn trùng rúc ria da thịt. Do ngứa nên cá cọ mình vào núi, khiến côn trùng chết, máu loang nhuộm đỏ cả trăm dặm. Loài cá này ngủ một giấc dài đến trăm năm, tỉnh dậy đói khátliền uống nước, nước lùa vào miệng như chảy vào sông lớn.
Bấy giờ, gặp lúc năm trăm người buôn ra biển tìm châu báu, bị cá ma-kiệt lớn há miệng, thuyền trôi nhanh vào bụng, mọi người sợ hãi cất tiếng khóc lớn. Vừa trôi đến miệng cá, có người xưng niệm: ‘Nam-mô Phật’. Nghe tiếng ‘Phật’ nó liền ngậm miệng lại, nhờ vậy những người buôn được sống sót. Nó đành chết đói, rồi sinh vào thành Vương Xá, làm thân ông. Còn xác cá ma-kiệt, thì các dạ-xoa, la-sát khiêng đặt ở bờ biển, da thịt tiêu hết, chỉ còn bộ xương to lớn như núi. Vua Pháp Tăng thuở xưa chính là thân ông ngày nay. Do nhân duyên giết người, nên đọa làm cá ma-kiệt sống trong biển cả”.
Nghe xong, Phúc Tăng vô cùng sợ hãi sinh tử, quán thân ngày xưa, hiểu rõ vô thường, liền đắc quả A-la-hán.
12.2. NGƯỜI NỮ THỂ GIAN
12.2.1. Lời dẫn
Người nữ lòng nhiều sân hận, nhiều lỗi lầm. Phật nói tính gian tà, dua nịnh của người nữ nặng hơn người nam. Hoặc thoa hương, đánh phấn, trang điểm; hoặc mặc quần lụa áo thêu để dối gạt kẻ ngu. Hoặc mấp máy môi miệng, liếc mắt cười đùa; hoặc hát ca ngâm vịnh, ngắm nhìn mọi người; hoặc bày vai hở ngực, che mặt nghiêng đầu; hoặc bước đi yểu điệu, thận hình lăc lư, hoặc chớp mất, chợt buồn chợt vui. Tất cả chỉ để mê hoặc kẻ ngu, khiến mọi người khởitâm say đắm. Những thuật yêu tà như thế nhiều không kể xiết Người ngu say đắm, đều bị mê hoặc. Giống như bọn gian tặc dùng nhiều cách xảo trá, giống như bình đẹp chứa nhiều chất dơ bẩn để lừa dối mọi người, như lưới giăng cao khiến chim sa vào, như lưới bủa kín khiến tôm cá mắc, như hố sâu khiến người mù lọt xuống, như ngọn lửa dụ con thiêu thân lao vào, như xác thúi, ruồi nhặng ưa thích. Gần hạng người yêu tà như thế thì tan nhà mất nước, chạm vào thì như nắm phải rắn độc. Lời nói đường mật, nhưng trong lòng như chứa thuốc độc. Nhà cửa khốn đốn đều do người nữ; ra ngoài mất thân cũng do người nữ; vợ chồng bất hòa cũng do người nữ; con trai con gái trong nhà phản nghịch cũng do người nữ; anh em li tán cũng do người nữ; gia tộc kiện thưa cũng do người nữ; rơi vào đường ác cũng do người nữ; không được sinh làm trời người cũng do người nữ; chướng ngại nghiệp thiện cũng do người nữ; không chứng quả Thánh cũng do người nữ, v.v... không thể kể hết những họa như thế.
Thật đáng thương xót cho những chúng sinh này! Họ thường bị lửa dục thiêu đốt mà cũng không lìa bỏ, đến nỗi xưa nay phải mang khổ lụy triền miên không ngớt
12.2.2. Lòng gian trá
Kinh Xuất diệu ghi:
- Thuở xưa, trong nước Xá-vệ có một người mẹ bồng con, mang bình đến giếng lấy nước, thấy mộtngười nam dáng mạo xinh đẹp, đang ngồi gãy đàn vui chơi bên giếng (kinh khác ghi: “Thấy A-nan có dung mạo xinh đẹp nên luyến ái muốn kết hợp vợ chồng"). Đàn bà kia phát khởi lòng dục quá độ, mê thích người nam. Người nam cũng vậy, bị lửa dục làm mê loạn. Thế là bà ta dùng dây buộc cổ đứa bé treo giữa giếng và đi tư tình với người nam. Lát sau chợt tỉnh, bà ta trở lại kéo đứa bé ra thì nó đã chết. Bà ta đau buồn thương xót, gào khóc kêu trời v.v...
Một hôm Đức Phật du hóa tại nước Câu-thiểm-di của vua Ưu-điền-câu-lưu. Trong nước có bà-la-môn Ma-nhân-đề sinh được một người con gái đoan chính, xinh đẹp, thế gian hiếm có, nên đặt tên là Vô Tỷ. Từ vua quan, quần thần, cho đến những người giòng dõi cao quí ở các nước lân cận đều muốn cầu hôn. Người cha nói:
- Nếu người nào có dung mạo sánh ngang con gái ta thì ta mới chấp thuận.
Bấy giờ Đức Phật đang du hóa tại nước ấy. Khi thấy Đức Phật có đủ ba mươi hai tướng quí và tám mươi vẻ đẹp, thân màu vàng ròng, cao lớn đĩnh đạc, dung mạo rực rỡ không ai sánh bằng, ông ta vui mừng thầm nghĩ: “Người này xứng đáng làm chồng con gái ta”.
về nhà, ông ta nói với vợ: “Tôi đã chọn được chồng cho Vô Tỷ rồi. Chúng ta trang điểm gấp cho con rồi dần đến đó”.
Thế là, vợ chồng cùng trang điểm cho con. Vô Tỷ bước đi uyển chuyển, rực rỡ, tuyệt đẹp với những chuỗi ngọc, châu báu lấp lánh. Vợ chồng bà-la-môn dẫn cô gái đến chỗ Đức Phật. Trên đường đi, người vợ thấy dấu chân của Đức Phật hiện rõ các đường nét, màu sắc rực rỡ, chưa từng thấy trên thế gian này. Biết là bậc Thiên tôn, người vợ nói:
- Đường nét và màu sắc trên dấu chân này, nếu đúng là của người ấy thì chính là bậc phi phàm, thế gian chưa từng có. Người này nhất định đã hoàn toàn thanh tịnh, không còn khởi tâm dâm dục nữa, sẽ không chịu lấy con gái ta đâu. Tôi không thể làm nhục gia đình mình.
Người chồng thắc mắc:
- Do đâu mà nàng biết rõ ông ta như vậy?
Người vợ liền đáp bằng bài kệ:

Phần 12

Kẻ dâm, vết chân kéo lê
Người sân, vết chân thiếu ngón,
Kẻ ngu, vết chân xéo đất,
Bậc tôn quý, vết chân này!
Người chồng nghe kệ, liền nói:
- Đàn bà không biết gì cả! Nếu không thích thì bà hãy về đi!
Thế rồi ông ta dẫn con gái đến đình lễ chân Phật và nói:
- Thưa Nhân giả! Ngài giáo hóa lao nhọc, không ai phục vụ. Nay tôi có đứa con gái xinh đẹp này, xin dâng lên tùy ý Ngài sai bảo.
- Ông cho con gái của ông là đẹp ư? Đức Phật hỏi.
- Con gái của tôi nhan sắc tuyệt mĩ, thế gian này không ai sánh bằng. Các vị quốc vương và các nhà giàu có đều đến cầu hôn mà tôi không gả. Nay thấy Đại nhân sắc tướng rực rỡ, uy nghi đĩnh đạc, trên đời hiếm có, nên muốn dâng cúng. Do đó tôi mạo muội dẫn đến đây!
- Người thiếu nữ này đẹp ở điểm nào?
- Toàn thân từ đầu đến chân không điểm nào không đẹp.
- Mê lầm thay đôi mắt thế gian! Nay Ta nhìn cô ấy từ đầu đến chân không có một điểm nào đẹp cả. Ngươi hãy nhìn xem, tóc trên đầu giống như đuôi voi, đuôi ngựa, bên dưới lớp tóc là cái sọ giống như đầu heo. Trong đầu có não, có óc giống như bùn tanh hôi; nếu có rớt xuống đất cũng chẳng ai dám giẫm lên. Mắt như cái ao, chứa toàn là ghèn; mũi miệng có đàm dãi; bụng chứa tim, gan, phèo, phổi v.v... đều là những thứ tanh hôi. Ruột già, ruột non, dạ dày, bàng quang chứa toàn phân tiểu, hôi thối khó tả. Bụng là túi da, chứa toàn những thứ bất tịnh. Hai tay, hai chân thì xương đan kết nhau, gần giữ chặt, da bao bọc, chỉ nhờ hơi thở để giữ gìn, giống như người gỗ, nhờ cơ quan điều khiển thì mới hoạt động. Việc xong, tháo gỡ hếtcác bộ phận thân thể ra, các khớp lìa nhau, đầu chân lộn lạo, thân người cũng như vậy, có gì đáng quý đâu mà ông cho là không ai bằng! Khi xưa ta ngồi tại gốc cây bối-đa, ma vương ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại đã sai ba ma nữ nhan sắc tuyệt trần, trang sức lộng lẫy, chẳng có tiên nữ nào sánh bằng đến phá đạo tâm của ta. Ta liền chỉ rõ sự dơ uế trong thân, lập tức chúng biến thành những bà lão xấu xí. Chúng hổ thẹn bỏ đi. Nay ông mang túi phân này đến muốn Ta biến hóa thành thứ gì đây? Hãy mau dẫn trở về! Ta không nhận đâu!
Nghe Phật nói, bà-la-môn quá xấu hổ, chẳng thốt ra lời. Lát sau mới bạch Đức Phật:
Nếu Ngài không nhận, thì tôi sẽ gả nó cho vua Ưu-điền được chăng?
Đức Phật im lặng. Bà-la-môn liền dẫn con gái đến dâng cho vua Ưu-điền. Có được thiếu nữ xinh đẹp ấy, vua rất vui mừng, liền phong cho bà-la-môn chức Thái phó. Sau đó, vua xây cung điện, cấp cả nghìn người phục dịch và giúp vui cho cô ta. Chính hậu của vua quy y Phật và đã chứng quả Tu-đà-hoàn, nhưng vua nghe lời sàm tâu của Vô Tỉ nên dùng trăm mũi tên bắn vào hoàng hậu. Thấy những mũi tên bay đến, hoàng hậu vẫn không hoảng sợ, không sân hận, chỉmột lòng niệm Phật. Bà khởi lòng từ, quỳ thẳng hướng về vua, hàng trăm mũi tên đều bay vòng quanh hoàng hậu ba vòng, rồi bay trở lại rơi ngay trước mặt nhà vua. Nhà vua chợt tỉnh, buồn rầu lo sợ, liền ra lịnh xe vàng, voi trắng đến chỗ Đức Phật. Khi sắp đến nơi, vua vội xuống xe, từ ngoài chắp tay, từng bước tiến vào, lễ chân Đức Phật, rồi quỳ thẳng thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Tội trẫm quá nặng, thật xấu hổ với Tam bảo, vì bị tâm dâm dục thấp hèn bùng phát, nên khởi lòng ác độc đối với Thánh chúng của Đức Phật, dùng hàng trăm mũi tên bắn vào đệ tử của Ngài, V.V.... Thấy vậy, tâm trẫm vô cùng hoảng sợ. Chỉ có Đức Phật, bậc Chí Tôn mới có lòng từ vô lượng. Hàng đệ tử tại gia mà còn có sức từ bi đến như vậy, huống gì Đức Phật là bậc Chính Chân Vô Thượng? Nay con cúi đầu xin quy y Tam bảo. Cúi xin Đức Phật mở lòng từ bi, xá tội cho con!
Đức Phật khen:
- Tốt lắm! Nay đại vương nhận biết việc ác, ăn năn lỗi lầm đã làm. Đây là hành động của người sáng suốt. Ta ghi nhận ý tốt của đại vương!
Nhà vua đỉnh lễ sám hối như vậy ba lần, Đức Phật cũng ba lần ghi nhận hành động của vua. Nhà vua cúi đầu sát đất, lui về chỗ ngồi và thưa:
- Tính khí con người hung ác ngoan cố, sân khuể, buông lung, không biết nhẫn nhục. Nếu chẳng diệt trừ ba độc thì buông lung làm việc xấu ác, chỉ mê đắm sắc đẹp lộng lẫy của người nữ mà không biết đóchính là tội lỗi, sau khi chết nhất định đọa vào địa ngục. Xin Phật xót thương, giảng rõ về những điểm xấu ác của người nữ! Hễ ai sa vào lưới của nó thì khó lòng thoát ra được. Trẫm nghe tai họa ấy, nhất định răn nhắc bản thân, để cho nhân dân trong nước, lớn nhỏ đều tu sửa hành vi!
Đức Phật dạy:
“ Đại vương muốn Ta chỉ trả lời câu hỏi này hay muốn nghe thêm những nghĩa khác?
- Những ý khác, ngày sau thưa hỏi cũng không muộn. Nay xin Thế Tôn giảng về tai họa lớn do bị người nữ mê hoặc. Nếu không biết rõ tai họa ấy, làm sao tránh xa được! Cúi xin Phật hãy giải thích rõ về hiện trạng ở địa ngục và sự xấu ác của người nữ!_ Vua thưa.
- Hãy lắng nghe! Người nam thật ngu si cuồng bạo khi nhìn người nữ xinh đẹp.
- Dạ vâng! Con xin thụ nhận lời dạy sáng suốt của Ngài!
- Người nam có bốn việc ác cần phải biết:
1. Ở đời có những ké dâm tà, tâm thường muốn nhìn, luôn muốn nghe lời dịu ngọt của người nữ, phá bò chính pháp, nghi lời chân thật, tin theo điều tà, sa vào lưới dục, chìm trong tối tăm, bị dục sai khiến, giống như nô bộc sợ chú. Người đã ham thích nữ sắc rồi thì không kể đến hôi dơ trong chín lỗ, mê mờ trong dục, giống như heo trong chuồng, chẳng biết hôi thối, thích thú cho là nơi an vui, không tính đến đời sau sẽ rơi vào địa ngục Vô Trạch chịu khổ vô cùng. Người luôn nghĩ đến dâm dục, thường ăn đàm dãi, chơi đùa trong máu mủ, quí nó như của báu, thích nó như thích mật, nên gọi người nam là nô lệ cho sắc dục. 2. Cha mẹ nuôi con, mang nặng đẻ đau, công ơn dưỡng dục, nuôi con khôn lớn khổ nhọc không kể xiết. Nuôi con thành người, đến nỗi phải tan gia bại sản, gối mỏi chân mòn. Lại nữa, con đến tuổi trường thành phải dựng vợ gả chồng. Nếu ở phương xa, cha mẹ vẫn tìm đến thăm viếng, chẳng quản gần xa, không từ khó nhọc, thế mà con chỉ lo nghĩ đến dâm dục, quên bặt cha già mẹ yếu. Có được vợ

Phần 13

rồi quý mến như của báu, chỉ muốn cùng nhau tư tình, ghét bỏ mẹ cha, tin lời ngon ngọt, đến nỗi có khi tranh đấu kiện thưa, chẳng màng suy nghĩ thân ta từ đâu mà có, cô phụ ân đức vô lượng của song thân.
3. Ở đời, có người nam khổ nhọc thân tâm, làm ra nhiều tiền của, vốn có lòng kính tin Phật pháp, tôn thờ sa-môn, Phạm chí, hiểu rõ thế gian là vô thường, nên thường bố thí tạo phúc. Nhưng sau khi cưới vợ, lại bị tình dục làm mê, ngu si che lấp tâm trí, bèn bỏ việc chân chính chạy theo điều tà vạy, đều do tham đắm nữ sắc. Nếu có ý bố thí thì cũng chỉ nói lời ca ngợi nữ sắc, bỏ mất hạnh thanh tịnh, trở thành hạng người thấp hèn, chẳng cần biết đến lời răn dạy quí báu trong kinh Phật, không quan tâm đến kết quả của họaphúc. Nếu để bị dâm dật sai khiến thân rơi vào lưới ái, nhất định đọa vào đường ác, trọn đời cũng không thể thoát khỏi.
4. Làm người nam mà không suy nghĩ đến ân dưỡng dục, tiền của dư dật mà không phụng dưỡng song thân, chỉ chạy rảo khắp nơi vui hưởng dâm dục, ôm giữ của báu, dụ dỗ phụ nữ; hoặc giết súc vật tế lễ quỷ thần ở các đền miếu; uống rượu, ca múa tụ tập nam nữ ăn chơi khoái lạc, trọn ngày thâu đêm. Bên ngoài mượn việc cầu phúc để thỏa mãn tâm dâm. Sau khi say sưa, cùng nhau hưởng lạc, cùng nhau mời gọi để thỏa mãn gian tình. Đến khi kết đôi thì vui mừng không gì sánh nổi, lưới dâm trói buộc không còn hay biết, cho đó là thú vui, chẳng biết mùi hôi thối nơi chín lỗ, nỗi thống khổ ở địa ngục. Vừa đáng chê cười, vừa đáng thương xót, giống như kẻ cuồng chẳng biết tội lỗi.
Người nam có bốn việc xấu ác như thế, nên bị đọa vào ba đường ác. Vì vậy phải nên suy xét tránh xa nó, mới thoát khỏi khổ đau. Hãy nghe Ta nói bài kệ về điều xấu ác của người nữ:
Do bị dục sai khiến,
Ý buông lung, bất an
Quen làm việc phi pháp
Làm sao gọi là hiền.
Dục là hạnh súc sinh
Do dục mắc tai họa
Vi khuẩn trong chín lỗ
Chẳng biết là nạn lớn
Như trùng trong nhà xí
Chảng còn biết điều gì.
Kẻ đắm trước ái dục
Khác gì loài trùng kia.
Dâm nên chẳng thấy đạo
Ngày đêm gây tội ác.
Hiện đời, vua tôi loạn
Trên dưới đều mê mờ
Luật pháp bị rối tung
Chính trị bị hỗn loạn.
Nhà nông bỏ cày bừa
Thương nhân lại ngoại tình
Hiện đời vào lao ngục
Chết đọa vào Thái sơn,
Phải chịu nhiều cực hình
Thống khổ chẳng kể xiết
Đồng sôi rót vào miệng
Núi lớn ép thân mình.
Có rất nhiều hình phạt
Thật khó kể cho hết.
Luôn ở ba đường ác
Lưu chuyển như bánh xe.
Sống trong đời có Phật
Mà chẳng được nghe pháp.
Người nữ thật xấu ác
Không thể là duyên lành
Bị ân ái trói buộc
Dẫn người vào nẻo tội.
Người nữ có gì đẹp
Chỉ toàn thứ bất tịnh
Sao không suy xét kỹ
Bị nó làm cuồng mê;
Bên trong rất hôi thối
Ngoài điểm tô xinh đẹp
Lại chứa toàn nọc độc,
Nguy hiểm như rồng, rắn.
Thỉ như lụa bọc giáo
Vải thô bọc kiếm nhọn.
Kẻ ngu thấy bên ngoài
Đùa giỡn nên bị nạn
Có khi chết thảm thương
Người trí biết nên tránh.
Dâm dục cũng như thế
Như ôm đao chuốc họa

Phần 14

Thấy mới liền chán cũ
Ham thích cũng chẳng lâu
Lời nói là dao búa
Tiếng cười là gai nhọn,
Trong toàn thứ bất tịnh
Ngoài trang sức hương hoa
Kẻ ngu thấy vui mừng
Chẳng biết họa sau này.
Như chất độc chim trẩm
Đem hòa với cam lộ
Kẻ ngu tham mùi vị
Uống vào liền ngã chết.
Cũng như củi gặp lửa
Cây cỏ phủ nặng sương.
Yêu mến không chịu bỏ
Đó là thói rất xấu.
Người nữ cũng như thế
Chớ nên nhìn dung mạo
Nhìn ngoài, chẳng thấy trong
Nên sinh lòng dâm dục.
Hình dáng rất đáng ưa
Kẻ ngu tiếc, chằng dứt
Nếu bỏ dục cầu đạo,
Cách đạo không còn xa.
Người có chủng tử tịnh
Như cá sống vực sâu
Biết lưới giăng chung quanh
Lọt vào chẳng thể thoát.
Lưới dục còn hơn thế
Vây bủa không lối ra
Người trí tự cảnh giác
Mới có thể thoát thân.
Thí như vượn đói khát
Vọng thấy quả chín ngọt
Bỏ mạng nơi bụi gai
Chúng đau khố trăm bề.
Giống như cá cắn câu,
Thiêu thân lao vào đèn,
Buộc tâm vào sắc dục,
Đâu biết họa về sau!
Nghe xong, vua ưu-điền vui mừng, liền đỉnh lễ và thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Quả thật, từ khi sinh ra đến nay, con chưa từng nghe những điều xấu ác của người nữ đến như thế. Người nam cuồng si cũng từ đó rơi vào chỗ xấu ác mà không hề hay biết, không chế ngự được tâm ý. Từ nay về sau, trọn đời con xin sám hối, quy y Tam bảo, không dám tái phạm.
Nói xong, vua đỉnh lễ Đức Phật, vui mừng lui ra.
Thiên Dương Hóa trong Luận ngữ ghi: “Trọng Ni cho rằng: ‘Khó nuôi dưỡng tiểu nhân và con gái, bởi thân gần thì họ xem thường, lìa xa thì họ oán trách’
Do đó, kinh dạy: “Người nữ đẹp có tám mươi bốn thói xấu. Trong đó tám thói rất xấu bị người trí ghét bỏ: ganh tị, sân giận vô cớ, chửi mắng, nguyền rủa, lấn áp, bỏn xẻn, thích trang điểm, độc ác. Cho nên tâm người nữ luôn xảo trá. Vì thế, phải nguyện lìa bỏ tà ác, để cầu chính pháp, sớm được xuất gia tu tập hạnh tự lợi, lợi tha”.
Luận Đại trí độ ghi:
- Bản tính của người nữ, nếu được cung kính thì sinh tâm cao ngạo; nếu không được cung kính thì lo sợ. Người nữ hay đem lại những phiền não, lo sợ cho người khác, vậy có thể gần gũi được sao?
Như nói: “Một hôm, có người đánh cá tên là Thuật-ba-già đang đi trên đường, từ xa nhìn thấy công chúa Câu-mâu-đầu trên lầu cao, qua song cửa sổ. về nhà trong lòng cứ mãi tưởng nhớ hình ảnh công chúa, ngày tháng trôi qua, anh ta bỏ ăn bỏ uống. Thấy thế người mẹ hỏi nguyên do, anh ta thật tình đáp:
- Sau khi thấy công chúa, trong lòng con nhớ mãi khôn nguôi!
- Không thể được! Bởi con là hạng thấp hèn, còn công chúa là bậc tôn quý! Người mẹ khuyên.
- Con đã thầm yêu mến cô ta, không thể nào quên. Nếu không được như ý nguyện thì con không thiết sống nữa!
Người mẹ thương con, nên mang cá tươi, thịt ngon vào cung dâng công chúa mà không yêu cầu gì cả. Thấy lạ, công chúa liền hỏi:
- Bà muốn điều gì?
- Xin vương nữ hãy cho mọi người lui ra, tôi sẽ trình bày hết sự tình!
Bà lão tiếp:
- Tôi chỉ có một đứa con trai, nhưng vì nó ngưỡng mộ công chúa, nên kết thành bệnh nặng, mạng sống đang nguy cấp. Cúi xin vương nữ rủ lòng thương xót cứu mạng con tôi!

Phần 15

Bà hãy trở về, bảo con trai ngày rằm tháng này, đến miếu thờ trời nọ, đứng phía sau tượng vị trời đợi ta!_ Công chúa nói.
Người mẹ trở về, nói với con:
- Mẹ đã xin được rồi!
Bà kể lại sự việc. Đến rằm, anh ta tắm gội sạch sẽ, mặc áo mới, đến miếu thờ trời và đứng sau tượng vị trời.
Ngày đó, công chúa thưa với vua cha:
- Con cảm thấy bất an, muốn đến miếu thờ trời để cầu phúc
• Rất tốt! Vua đồng ý.
Công chúa cùng năm trăm cỗ xe đến miếu thờ trời. Đến nơi, công chúa ra lệnh người hầu đều đứng bên ngoài, một mình đi vào miếu. Thiên thần suy nghĩ: “Điều này không được, vua là đại thí chủ của ta, không thể để cho gã tiểu nhân hủy nhục thanh danh công chúa”. Thiên thần liền khiến anh ta ngủ say như chết. Công chúa vào, thây anh ta ngủ, liên đánh thức mấy lần mà vẫn không tỉnh, bèn đem xâu chuỗi ngọc giá trị mười vạn lượng vàng để lại bên anh ta rồi ra về. Sau khi tỉnh dậy, anh ta thấy chuỗi ngọc, liền hỏi mọi người và biết công chúa có đến đây. Vì không thỏa lòng, nên anh ta buồn giận, rốt cuộc bị lửa dâm đốt cháy”.
Lấy đây để chứng minh, đủ biết tâm người nữ chẳng chọn sang hèn, mà chỉ chạy theo lòng dục.
Luận Tát-bà-đa ghi:
- Thà đem nam căn bỏ vào miệng rắn độc, chứ đừng bao giờ chạm người nữ. Rắn độc có ba cách hại người: nhìn người, chạm người, cắn người. Người nữ cũng có ba trường hợp hại người: nếu nhìn người nữ mà phát khởi ý niệm về dục thì phạm tội nhẹ liền mất hết pháp thiện; nếu chạm người nữ thì phạm tội bực trung, liền mất hết pháp thiện; nếu cùng tư tình thì phạm trọng tội, mất hết pháp thiện. Lại có bảy trường hợp hại người:
1. Nếu bị rắn độc làm hại, chỉ hại thân đời này; còn nếu bị người nữ làm hại thì hại vô số thân.
2. Nếu bị rắn độc làm hại, chỉ bị hại thân quả báo vô kí; còn nếu người nữ làm hại thì hại thân thiện pháp.
3. Nếu bị rắn độc làm hại, chỉ hại thân năm thức; còn nếu bị người nữ làm hại thì hại thân sáu thức.
4. Nếu bị rắn độc làm hại, vẫn được dự vào chúng thanh tịnh; còn nếu bị người nữ làm hại thì không được dự vào hàng tăng.
5. Nếu bị rắn độc làm hại, vẫn được sinh vào cõi người, cõi trời, có cơ hội được gặp hiền thánh; còn nếu bị người nữ làm hại thì đọa vào ba đường ác.
6. Nếu bị rắn độc làm hại, vẫn còn có thể chứng được bốn quả Sa-môn; còn nếu bị người nữ làm hại thì không thành tựu bát chính đạo.
7. Nếu bị rắn độc làm hại, vẫn có người thương nhớ, cứu giúp; còn nếu bị người nữ làm hại thì tất cả mọi người đều lìa bỏ, không ai ưa thích.
Vì nhân duyên ấy, cho nên thà đem năm căn bỏ vào miệng rắn độc, trọn đời đừng bao giờ chạm người nữ!
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi:
- Người nữ có năm sức mạnh dẫn đến việc xem thường chồng mình:
1. Sức mạnh sác đẹp.
2. Sức mạnh thân tộc.
3. Sức mạnh của cải.
4. Sức mạnh con cái.
5. Sức mạnh tự vệ.
Do năm sức mạnh này, đưa đến người nữ khinh thường chồng mình. Người chồng chỉ có một sức mạnh có thể che lấp hết sức mạnh của vợ, đó là sức mạnh giàu sang. Thiên ma Ba-tuần cũng có năm sức mạnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Người ngu đắm trước năm pháp này, thì hết phương cứu vớt. Nếu thánh đệ tử thành tựu sức mạnh không phóng dật thì không bị năm pháp này trói buộc. Từ đó có khả năng phân biệt rõ pháp sinh, lão, bệnh, tử. Nếu chiến thắng năm sức mạnh của thiên ma thì không bị rơi vào cảnh giới ác ma, đến bờ niết-bàn. Bấy giờ Đức Phật liền nói bài kệ:
Giới là đạo cam lộ,
Phóng dật là nẻo chết,
Không tham thì không chết,
Mất đạo, do chính mình.
Bấy giờ, Đức Phật bảo các thầy tì-kheo:
- Người nữ có năm ham muốn:
1- Sinh trong nhà quí tộc.
2- Lấy chồng giàu sang.
3- Khiến chồng nghe theo lời mình.
4- Có nhiều con.
5- Nắm quyền trong gia đình.
Kinh Đại uy đức đà-ka-ni ghi:
- Đức Phật bảo A-nan: “Thí như một giọt nước rơi trên đống cát lớn, có thể thấm qua đống cát. Cũng vậy, một người nữ có thể lấy hàng nghìn người nam để thỏa mãn lòng dục mà cũng không biết đủ. Người nữ có ba điều không biết đủ: tự trang điểm, thụ hưởng dục lạc với người nam và thích nói, thích nghe những lời ngọt ngào êm dịu.
Này A-nan! Người nữ có năm ổ vi trừng trong âm đạo mà người nam không có. Mỗi ổ trùng có tám nghìn con, trùng này có hai đầu, miệng nhọn như mũi kim. Khi ăn, nó thường châm cắn người nữ, khiến cho người nữ bứt rứt khó chịu, buộc phải hành dâm. Vì bị khiến hành dâm, nên gọi là người nữ bị dâm làm khổ não. Đây là nỗi khổ riêng của người nữ. Vì quả báo của nghiệp mà phát khởi lòng dâm, đam mê người nam không biết chán. Khi thấy người nam, người nữ liền nói lời dịu dàng, ngắm nhìn đắm đuối, chiêm ngưỡng từ đầu đến chân, phát khởi ý dâm, nhìn chăm chăm vào mặt người nam, răng cắn vào môi, mặt đổi sắc tía. Vì lửa dục đốt,

Phần 16

nên trán chảy mồ hôi, hễ ngồi thì không muốn đứng lên, đứng rồi thì không muốn ngồi nữa; dùng cành cây vẽ trên đất, hai tay múa may. Hoặc đi được ba bước, đến bước thứ tư, liếc nhìn hai bên; hoăc đứng tựa cửa, vươn vai ngáp dài, uốn éo thân hình, tay trái vén y, tay phải vỗ đùi, lại dùng móng tay khảy răng, lấy cỏ xỉa răng, đưa tay gãi đầu, lộ bày chân đùi, kêu lên như trẻ con, đường bằng phẳng mà đi nghiêng ngả, nhìn dáo dác khắp nơi. Khi hiện các tướng như thế, nên biết người nữ ấy đangphát lửa dục, cần phải lánh xa, đừng chạm vào nó mà rơi xuống địa ngục!”.
Kinh Chính pháp niệm ghi:
- Chim trời nói bài kệ cho chư thiên:
Người nữ chẳng bạn thân
Như ngọn đèn đang cháy
Là oán thù muôn đời
Như chữ khắc trên đá.
Tuy gần gũi người giàu
Khi nghèo thì nhàm chán
Có của, họ gần gũi
Không của thì tránh xa.
Đem của dâng cúng dường
Tạo rất nhiều công đức.
Tâm họ như lửa dữ
Chằng thể nắm giữ được.
Người nam tùy thuận theo
Khi lòng dục phát khởi.
Người nữ cũng như thế
Thường dối gạt người nam.
Như hoa che thân rắn
Như tro đất phủ lửa,
Như sắc che lấp tâm
Người nữ cũng như thế.
Giống như cậy hoa độc
Vui mắt mà chẳng lành,
Người nữ như hoa độc Người trí nên tránh xa.
Kinh A-hàm khẩu giải thập nhị nhân duyên trong A-hàm ghi:
- Có một vị a-la-hán dùng thiên nhãn quán chiếu, thấy rất nhiều người nữ bị đọa địa ngục, liền hỏi Phật nguyên do?
Đức Phật dạy:
- Do bốn nhân duyên mà nhiều người nữ đọa vào địa ngục:
1- Do lòng dục nhiều mà tham của báu, y phục ...
2- Do ganh ghét.
3- Do lắm chuyện.
4- Do lòng dâm mà tạo các dáng vẻ khêu gợi.
Có bài tụng:
Năm dục, nhân che tâm
Sáu trần loạn tâm, thức
Lửa huyễn theo ý thổi
Lưới ái tùy tâm dệt
Vàng đúc tuy đổi dạng
Tính toán lại không cùng
Bồ câu còn chẳng biết
Vượn chuyển đâu thế dừng.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục