PUCL QUYỂN 16 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt)
06/11/2015
QUYỂN 16 Quyển này tiếp theo chương Kính Phật. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt) 6.6. ĐỨC PHẬT DI-LẶC 6.6.1. Lời dẫn Bậc Thế Hùng Đại Giác tùy căn cơ làm lợi ích chúng sinh, Ngài khéo dùng quyền giáo hiện tại để cứu những hữu tìn...

QUYỂN 16
Quyển này tiếp theo chương Kính Phật.
6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt)
Thế rồi bốn chúng hoan hỉ thành tâm hoang hóa, mỗi năm vào giờ tốt tổ chức đầy đủ ba hội. Đến khi nhà Tề trị quốc thì pháp duyên càng nhiều, Văn Tuyên dùng đức giáo hóa ngày càng mở rộng pháp tu.
Nhưng từ đó đến nay, pháp hội càng ít được lập, hành giả thì thưa thớt, nếu có tu học thì cũng không có pháp an tâm. Nay tôi sao chép lại các kinh, để mọi người nương đây mà tu hành, ngõ hầu thông đạt bát chính thì hương thơm xông ngát đế cung; lưu hóa thập thiện thì ánh sáng chiếu rực Đâu-suất, công trùm khắp chúng sinh, đức thấm nhuần hội thứ nhất
6.6.2. Thụ giới
* Lời bàn
Nếu là người cư sĩ chưa thụ giới, trước nên thụ Tam qui để phá tà. Ngày sau có thể tùy thờỉ thụ những giới khác. Đã qui y Tam bảo tự thệ không thoái tâm thì nhất định sinh lên Đâu-suất. Nếu xuất gia ở trong năm chủng đã thụ giới, thường nương vào giới pháp tu hành thì không nên thụ giới khác của ngoại đạo.
Nếu người không có giới hạnh, dù tu Không, hành thiện cũng không được sinh Đâu-suất. Cho nên luận Trí độ ghi: “Tôi tên là... trọn đời qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng” (nói ba lần). “Tôi tên là... trọn đời qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi”, (nói ba lần)
Kinh Xử thai, Phật bảo Di-lặc:
Chúng ba hội của ông
Trước do Ta giáo hóa
Chín mươi sáu ức người
Thụ năm giới với Ta.
Và người thụ tam qui
Số chín mươi hai ức
Vừa xưng ‘Nam-mô Phật ’
Đều được thành Phật đạo
* Lời bàn
Nói rộng về công đức của tam qui, đầy đủ như luận Kính phúc (bản ba quyên) đã nói. Thụ tam qui rồi, sau đó nên thụ thập thiện. Nếu không thực hành thập thiện thì nhất định không được sinh lên Đâu-suất. Trước khi thụ giới phải đầy đủ oai nghi, đến một vị xuất gia thụ giáo rồi dốc lòng sám hối, sau đó mới nói: “Con tên là... trọn đời thụ giới, đối với tất cả hữu tình, từ trên xuống dưới, chẳng kể thánh phàm, nguyện không khởi tâm giết hại”. Cho đến giới thứ mười: “Con tên là... suốt đời đối với tất cả hữu tình từ trên xuống dưới không kể thánh phàm, không khởi tâm tà kiến”. (Nói ba lần). Kế đó nói tiếp:
- Con tên là... trọn đời đối với tất cả hữu tình từ trên xuống dưới, chẳng kể thánh phàm không khởi tâm giết hại rồi”, cho đến giới thứ mười: “Con tên là... trọn đời đối với tất cả hữu tình từ trên xuống dưới chẳng kể thánh phàm nguyện không khởi tà kiến rồi”, {nói ba lần).
Mười điều thiện này là ngăn ngừa ba lỗi sát-đạo-dâm của thân, bốn lỗi vọng ngôn-ỷ ngữ-lưỡng thiệt-ác khẩu cửa miệng, ba lỗi tham-sân-tà kiến của ý. Mười giới này là gốc của các điều thiện. Nếu chỉ tức giữ giới, tác thì phạm giới. Phạm là gốc của mười điều ác và cũng chính là tai ương của muôn họa.
6.6.3. Ca ngợi
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Giả sử giáo hóa vô số ức người thành tựu quả Bích-chi phật, có người trọn đời cúng dường tứ sự cho những vị bích-chi phật ấỵ thì công đức rất nhiều. Nhưng công đức ấy không bằng công đức của người với tâm hoan hỉ dùng bốn câu kệ tán thán công đức vô lượng của Như Lai”.
Kinh Thiện giới ghi: “Dùng trân bảo trong bốn thiên hạ để cúng dường Phật và dùng tâm thành kính tán thán Như Lai, hai phúc đức ấy bằng nhau không khác”.
Kinh Đại bi ghi: “Có người vừa xưng niệm ‘Nam-mô Phật’, nhờ căn lành này, người ấy được vào cảnh giới niết-bàn chẳng thể cùng tận. Nếu thành tâm niệm công đức của Phật, dù chỉ dùng một cành hoa tung lên không trung, người ấy ở đời vị lai được làm Phạm thiên vưong. Do phúc đức ấy không cùng tận, nên cuối cùng vào được niết-bàn”.
Trong kinh Nỉết-bàn, Ca-diếp nói kệ tán thán Phật:
Đại Bi thương chúng sinh
Nên khiến con về nương
Ngài khéo nhổ tên độc
Nên gọi Đại Y Vương.
Thầy thuốc ở thế gian
Trị rồi còn tái phát,
Đức Như Lai chữa trị
Bệnh vĩnh viễn không sinh.
Thế Tôn dùng cam lồ
Ban bố cho chúng sinh
Chúng sinh uống thuốc rồi
Không chết cũng không sinh.
Nay Như Lai vì con
Diễn nói Đại Niết-bàn
Chúng sinh nghe bí tạng
Liền được không sinh diệt
Kinh Phương đằng đà-la-ni ghi: “Bấy giờ bồ-tát Hoa Tụ ca ngợi Phật:
Sắc thân Thế Tôn như núi vàng
Tựa ánh mặt trời chiếu thế gian
Thường trừ hết thảy các khổ não
Nay con đỉnh lễ Đại Pháp Vương.
Vua đời, vua pháp thật hiếm có
Diệu pháp như thế càng khó hơn
Khó thấy, khó nghe cũng khó gặp
Nếu người gặp được, thành Chính giác".
A-tu-luân ca ngợi Phật bằng bài kệ:
Tôn dung Thế Tôn như nhật nguyệt
Phá trừ tất cả những tối tăm
Chúng con nay được Ngài cứu độ
Nguyện xin qui mạng Thiên Trung Tôn.
Trong kinh Văn-thù-sư-lợi vấn, ngài Văn-thù nói kệ ca ngợi Phật:
Con lạy hết thảy Phật
Bậc Điều Ngự vô thượng
Thân trượng sáu, pháp thân
Cũng lễ tháp của Phật.
Nơi sinh, nơi đắc đạo
Nơi thuyết pháp, niết-bà
Nơi đi đứng nằm ngồi
Con đều lễ hết thảy.
Chư Phật chẳng nghĩ bàn
Diệu pháp cũng như thế
Tăng và các quả vị
Cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Người thường dùng kệ này
Tản thán Đức Như Lai
Trong trăm nghìn ức kiếp
Không đọa những đường ác.
Phật bảo: “Văn Thù! Hay thay, hay thay! Như Lai chẳng thể nghĩ bàn”. Đức Phật nói kệ:
Dòng Cam Giá sinh Phật
Diệt rồi thì chằng sinh
Nếu người qui y Phật
Không sợ khổ địa ngục.
Ngài nói như thế ba lần..
Kinh Hoa nghiêm có bài kệ:
Thà chịu hết thảy khổ
Để được nghe lời Phật
Chứ không chịu hưởng dục
Mà không nghe danh Phật.
Sở dĩ vô lượng kiếp
Chịu các khổ não này
Lưu chuyển trong sinh tử
Vì không nghe danh Phật.
Kinh Bồ-tát Di-lặc sở vấn bản nguyện ghi: ‘Phật bảo A-nan:
- Không chỉ ngày nay Di-lặc mới dùng kệ tán thán Ta, mà mười vô tận số kiếp quá khứ, trưởng giả Hiền Hạnh tiền thân của Phật Di-lặc ở trong chúng hội của Phật Diệm Quang Hưởng Tác Vương Như Lai đắc Vô sinh pháp nhẫn đã dùng kệ khen ngợi Ta rồi.
A-nan bạch Phật:
- Bồ-tát Di-lặc đã đắc Pháp nhẫn lâu xa như thế, tại sao chưa đạt đạo Vô thượng chính chân, thành tựu Chính giác tối thượng?
Phật bảo A-nan:
- Bồ-tát Di-lặc bởi bốn pháp sự mà chưa thành Vô thượng chính giác. Đó là:
1. Làm thanh tịnh đất nước.
2. Hộ trì đất nước.
3. Làm thanh tịnh hết thảy.
4. Hộ trì hết thảy.
Lúc bồ-tát Di-lặc hành đạo Bồ-tát, vì bốn việc này nên chưa thủ chứng quả Phật.
Phật bảo A-nan:
- Lúc ta hành đạo Bồ-tát cũng có bốn việc như thế. Di-lặc phát tâm Vô thượng bồ-đề trước Ta bốn mươi hai kiếp. Nhưng ở kiếp Hiền này, với sức đại tinh tiến tu tập, Ta vượt qua chín kiếp, đắc Vô thượng chính chân, thành tựu Chính giác trước Di-lặc.
Phật bảo A-nan:
- Do thực hành mười việc mà Ta thành tựu Chính giác. Đó là:
1. Xả bỏ tất cả những vật sở hữu không mến tiếc.
2. Xả bỏ thê thiếp.
3. Xả bỏ con cái.
4. Xả bỏ đầu mắt.
5. Xả bỏ tay chân.
6. Xả bỏ đất nước.
7. Xả bỏ tài vật bảy báu.
8. Xả bỏ tủy não.
9. Xả bỏ máu thịt.
10. Xả bỏ thân mạng.
Nhờ mười việc như thế, Ta mau thành tựu chính giác”.
Kinh Đại bi ghi: “Phật bảo A-nan:
- Ngươi xem, lúc Như Lai bước đi, có thể làm cho nơi cao thành thấp, nơi thấp thành cao, tất cả đều thành bàng phẳng. Sau khi Như Lai đi qua, địa thếliền trờ lại như cũ. Tất cả các rừng cây đều nghiêng hướng về Phật, thần cây cũng hiện thân nghiêng đầu lễ bái. Như Lai đã đi qua, rừng cây trở lại như cũ. Tất cả gò đồi, hầm hố, gạch ngói, rừng rậm, nơi xú uế đều trở nên bằng phẳng, sạch đẹp. Hương thơm lan tỏa, đất mọc đầy hoa, Như Lai bước đi trên đó. Các vật vô tình còn nghiêng mình hướng về Như Lai, huống gì loài hữu tình mà lại không kính trọng ư? Vì sao?Vì lúc Ta hành đạo Bồ-tát, khởi tâm khiêm hạ kính lễ tất cả mọi người. Do thiện nghiệp ấy mà khi thành Phật, lúc Như Lai đi qua, hữu tình, vô tình đều nghiêng mình cúi đầu kính lễ. Xưa Ta từng lấy tài sản thanh tịnh, quí giá và vừa ý, tự tay thành kính ban bố cho các chúng sinh. Do nghiệp báo ấy nên lúc Như Lai đi, mặt đất bằng phẳng, sạch sẽ, không có sỏi đá.
Đối với vô lượng hiền thánh, khi các ngài đi, Ta từng quét dọn đường sá, tu sửa phòng ốc, dùng tâm bình đẳng không phân cao thấp để làm những việc ấy, khiến cho tất cả đều sạch sẽ. Ở trong mọi lúc, Ta luôn cầu bồ-đề, làm lợi ích hết thảy chúng sinh. Do căn lành này, nên bất kì nơi đâu, khi Như Lai đi thì mặt đất tự nhiên sạch sẽ, bằng phẳng như lòng bàn tay. Cho đến núi chúa Tu-di cao tám vạn bốn nghìn do-tuần, biển lớn cũng sâu như thế, núi Thiết Vi cao mười sáu vạn tám nghìn do-tuần vô cùng cứng chắc, nhưng khi Phật Niết-bàn, tất cả đều lay động cúi đầu nghiêng mình lề kính, nếu muôn dời xa để khỏi bị nghiêng cũng không thể được.
Do ca ngợi Như Lai, nên Xá-lợi-phất khi nghe người khác đọc bài kệ ca ngợi Phật cũng đắc đạo quả”.
Kinh Phổ diệu ghi: “Tì-kheo Át-bệ dùng kệ đáp Xá-lợi-phất:
Thầy ta Thiên Trung Thiên
Tối tôn trong ba cõi
Thân trượng sáu, tướng hảo
Thần thông cũng vô cùng.
Hoa xông trừ năm ấm
Dẹp mười hai căn bản
Không cầu vua trời người
Tâm tịnh mở pháp môn.
Xá-lợi-phất vô cùng vui mừng như tối gặp sáng, liền nói:
- Hay thay! Những mối nghi ôm ấp xưa nay đều tan hết! Tôi tám năm theo thầy học đạo, đến năm mười sáu tuổi thông suốt tất cả, đi khắp mười sáu nước tự cho đã đạt. Nay vừa nghe đạo Vô thượng chính chân kì diệu mà nhớ lại bản nguyện”.
Do thời quá khứ, tâm Như Lai xa lìa chấp trước, không làm hại chúng sinh, cho nên những nơi đi qua,chân không bị nhiễm ô, cũng không làm thương tổn trùng kiến.
Kinh Xứ xứ ghi: “Phật bước đi, chân không chạm đất có ba nhân duyên:
- Khiến cho hành giả thiểu dục.
- Hiện tướng bánh xe nghìn căm dưới bàn chân.
- Để người thấy sinh lòng hoan hỉ.
Phật bước đi, chân cách mặt đất bốn tấc có ba nguyên nhân:
- Vì thấy đất có trùng kiến.
- Vì đất có cỏ mọc.
Vì hiện thần túc và cũng muốn làm cho mọi người định ý.
Khi Phật đi, mặt đất cao thấp đều trở nên bằng phẳng có ba nguyên nhân:
- Ngài vốn thực hành bốn tâm bình đẳng, muốn làm cho tất cả chúng sinh đều được an ổn. Tất cả các thần và các loài trùng kiến trên mặt đất, hoặc trong nước, khi gặp bàn chân Phật bước qua đều được an ổn, đồng tâm lập chí, cho nên chỗ thấp thành cao, chỗ cao thành thấp.
- Chư thiên và quỉ thần vì muốn tạo phúc đức, nên làm cho đất bằng phảng khi Phật đi qua.
- Lúc Phật còn hành đạo Bồ-tát thường khai thông đường sá, cầu cống để người qua lại, vì phúc đức ấy nên chỗ cao thấp đều thành bằng phẳng. Đồng thời Ngài muốn làm cho tâm ý chúng sinh cũng bình đẳng như thế”.
Luận Trí độ ghi: “Thân đức Thế Tôn tuyệt hảo, da mỏng mịn, bụi đất không bám, như lá sen không dính bụi và nước. Nếu bồ-tát kinh hành trong núi đất khô, đất cũng không dính chân. Dù có cuồng phong thổi ngọn núi đất ấy tan thành bụi mịt
mù, thì một hạt bụi nhỏ cũng không bám vào thân Phật. Nếu bồ-tát đưa thức ăn vào miệng, hai bên yết hầu Ngài tiết ra cam lộ, hòa hợp thức ăn, tạo thành một vị thanh tịnh, cho nên gọi là được thượng vị trong các vị”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: Người không kính Phật, kiếp sau sẽ sinh vào loài rồng, rắn. Người từ loài rồng sinh đến, mà nay vẫn không kính Phật thì hiện tướng ngủ nhiều và ngu si.
Luật Tứ phần có bài kệ:
Người kính bậc trưởng lão
Là người thường hộ pháp
Hiện đời được tiếng khen
Đời sau sinh đường thiện.
Tán thán Di-lặc tứ lễ văn (do ngài Huyền Trang dịch) ghi:
Chí tâm kính lễ Đức Phật Di-lặc vị lai!
Thể vô vi chư Phật đồng chứng
Thật lí chân như vốn vô duyên
Vì độ chư thiên hiện Đâu-suất
Như nhà huyễn thuật hiện các hình.
Vốn không người ngựa, mê thành có
Ngộ rồi biết huyễn, thảy là không
Thân Phật vốn tịnh, đều như thế
Kẻ ngu không rõ gọi là phàm.
Biết Phật chẳng đến, thấy Phật thật
Ngay đây đạt được Đại Niết-bàn
Nên con đỉnh lễ Phật Di-lặc
Xin đấng Từ Tôn độ hữu tình.
Nguyện cùng chúng sinh sinh lên cõi trời Đâu-suất, được diện kiến hầu hạ Đức Phật Di-lặc.
Chí tâm kính lễ Đức Phật Di-lặc vị lai!
Phật lực tự tại không thể lường
Nhiều cõi gom vào trong hạt bụi
Huống nay Ngài ở điện Đâu-suất
Trên tòa sư từ, kết già phu.
Thân màu vàng tía càng khó sánh
Tướng hảo, sắc báu chiếu rạng ngời
Bồ-tát thần thông đều vô lượng
Giúp Phật hóa độ cứu hàm linh
Chỉ cần chúng sinh thành kính lễ
Tội nghiệp vô thỉ thảy tiêu trừ
Nên con đỉnh lễ Phật Di-lặc
Xin đấng Từ Tôn độ hữu tình.
Nguyện cùng chúng sinh sinh lên cõi trời Đâu-suất, được diện kiến hầu hạ Đức Phật Di-lặc.
/Chí tâm kính lễ Đức Phật Di-lặc vị lai!
Mũ báu Từ Tôn hiện hóa Phật
Sổ lượng vượt quá cả trăm nghìn
Bồ-tát khắp nơi đều tụ hội
Trong song cửa báu hiện thần thông.
Ánh sáng bạch hào phóng tám vạn
Diễn nói nhân bất thoái pháp mầu
Chúng sinh chỉ cần tu nghiệp phúc
Khoảnh khắc liền gặp đấng Từ Tôn.
Hà sa chư Phật nhân đây hiện
Huống thầy của con Thích-ca văn
Nên con đỉnh lễ Phật Di-lặc
Xin đấng Từ Tôn độ hữu tình.
Nguyện cùng chúng sinh sinh lên cõi trời Đâu-suất, được diện kiến hầu hạ Đức Phật Di-lặc.
/Chí tâm kính lễ Đức Phật Di-lặc vị lai!
Chư Phật thường ở nơi thanh tịnh
Báo-thụ dụng thân, lượng vô cùng
Phàm phu mắt thịt không hề biết
Ngài hiện thân vàng nghìn thước cao.
Chúng sinh chiêm ngưỡng không biết chán
Khiến biết nghiệp quả sinh Diêm-phù
Chỉ siêng nghe kinh, chuyên tụng niệm
Nhất định vãng sinh Đâu-suất cung.
Ba đường ác khổ lìa xa hẳn
Đời sau cùng chứng nhất Pháp thân
Nên con đỉnh lễ Phật Di-lặc
Xin đấng Từ Tôn độ hữu tình.
Nguyện cùng chúng sinh sinh lên cõi trời Đâu-suất, được diện kiến hầu hạ Đức Phật Di-lặc.
6.6.4. Nhân tu
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Thập thiện hạ phẩm thì trong một niệm, thập thiện trung phẩm thì trong khoảng một bữa ăn, thập thiện thượng phẩm thì từ sáng đến trưa. Trong thời gian đó, tâm nhớ nghĩ hạnh thập thiện và dừng mười việc ác thì được vãng sinh. Do đó, chồn hoang khởi tâm nhớ nghĩ thập thiện, bảy ngày không ăn, sau khi chết sinh lên trời Đâu-suất”.
Kinh Thượng sinh ghi: “Sau khi Ta diệt độ, bốn chúng và tám bộ muốn sinh lên tầng trời thứ tư, phảitrong một ngàỵ cho đến bảy ngày luôn luôn nhớ nghĩ cõi trời ấy. Đồng thời giữ gìn giới cấm của Phật, tư duy về thập thiện và thực hành thập thiện đạo, rồi hồi hướng công đức ấy, nguyện được sinh trước Phật Di-lặc. Thực hành như thế, sẽ được vãng sinh như nguyện”.
Bảy ngày là nói trong thời gian ngắn mà còn cảm phúc báo được sinh lên Đâu-suất, huống gì thực hành một đời mà không được sinh?
Kinh Thượng sinh ghi: “Nếu ai lễ kính Phật Di-lặc thì trừ được tội sinh tử trong trăm ức kiếp, đến đời vị lai được gặp Phật Di-lặc nơi cội cây Long Hoa”.
Kinh cũng ghi: “Sau khi Ta diệt độ, nếu bốn chúng và tám bộ nghe danh hiệu Phật ấy rồi mà lễ bái, khi qua đời sẽ sinh lên cõi trời Đâu-suất. Nếu người nam hay nữ phạm các cấm giới, tạo các nghiệp ác, nghe được danh hiệu Đại Từ của bồ-tát ấy, rồi chí thành đỉnh lễ sám hối thì tất cả nghiệp ác được tiêu trừ, chóng được thanh tịnh. Nếu có ai qui y bồ-tát Di-lặc, người ấy được bất thoái chuyển, đến khi bồ-tát Di-lặc thành Phật, người thấy ánh sáng của Ngài, liền được thụ ký”.
Kinh Thượng sinh lại ghi: “Sau khi Phật diệt độ, nếu ai siêng năng tu tập các công đức, đầy đủ oai nghi không thiếu, quét dọn và tô đắp tháp Phật, dâng hương hoa cúng dường, thực hành các tam-muội, đọc tụng kinh điển, thì tuy chưa trừ sạch phiền não, nhưngcũng như người đã chứng lục thông. Từ đây cần phải tập trung tâm ý quán tưởng hình tượng và xưng danh hiệu Phật Di-lặc. Nếu thụ giới bát quan trai, tu các tịnh nghiệp chỉ trong một niệm, khi qua đời liền được vãng sinh trên đài hoa sen ở trời Đầu-suất. Đúng lúc sẽ thấy ánh sáng từ tướng bạch hào của Phật phóng ra, liền vượt thoát khỏi tội sinh tử trong chín mươi ức kiếp. Lại tùy theo duyên lành đời trước, sẽ được nghe Phật giảng diệu pháp, nhờ đó được giai vị Bất thoái”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Chúng sinh nào ba nghiệp tạo ác, khi lâm chung nhờ nghĩ đên công đức Như Lai, chắc chắn sẽ lìa xa đường ác, được sinh lên trời. Giả sử có người cực ác, nhưng nhờ niệm Phật, cũng được sinh lên trời”.
Kinh Đại tập ghi: “Nếu ai tu tâm từ, khi bỏ thân mạng, sẽ thấy chư Phật trong mười phương đưa tay xoa đầu mình. Nhờ tay Phật chạm vào, nên tâm người ấy an lạc, liền được vãng sinh về cõi Phật thanh tịnh”.
Kinh Phổ Hiền quán ghi: “Nếu có người ngày đêm sáu thời lễ bái các Đức Phật trong mười phương, tụng kinh điển Đại thừa, suy nghĩ ‘Đệ nhất nghĩa không’ sâu xa, trong khoảnh khắc liền trừ được tội sinh tử trong vô số kiếp. Người thực hành pháp này chính là Phật tử, từ Phật sinh, được chư Phật và bồ-tát trong mười phương làm thầy truyền giới. Đó là người đầy đủ giới Bồ-tát, không cần yết-ma mà tự nhiênthành tựu, xứng đáng nhận sự cúng dường của tất cả trời và người”.
Kinh Pháp hoa ghi: “Nếu có người thụ trì, đọc tụng kinh Đại thừa, nhớ nghĩ và hiểu đúng nghĩa lý kinh, lúc qua đời, người ấy sẽ được nghìn vị Phật đưa tay tiếp dẫn, khiến không sợ hãi, không đọa đường ác, liền sinh về chỗ bồ-tát Di-lặc ở cõi trời Đâu-suất. Bồ-tát Di-lặc có ba mươi hai tướng quí, được các bồ-tát vây quanh, có trăm nghìn ức quyến thuộc thiên nữ. Sinh vào đó có những công đức và lợi ích như thế. Do đó, người hiểu biết phải nên nhất tâm tự biên chép, hoặc bảo người khác biên chép, thụ trì, đọc tụng, nhớ nghĩ đúng đắn và tu hành đúng như lời Phật dạy”.
Luận Đại trí độ ghi: “Nếu thiện nam nào có thể thực hành Bát-nhã ba-la-mật sâu xa này, nên biết người ấy đến từ cõi người hoặc cõi trời Đâu-suất. Vì sao? Vì trong ba đường ác có nhiều tội khổ nên không thể thực hành được pháp Bát-nhã sâu xa, chư thiên cõi Dục tham đắm ngũ dục tịnh diệu, tâm thức mê loạn nên không thể thực hành được pháp Bát-nhã. Chư thiên cõi Sắc vì đắm sâu trong thiền định, nên không thực hành được pháp Bát-nhã. Chư thiên cõi Vô sắc vì không có hình tướng nên không thực hành được pháp Bát-nhã. Cõi trời Đâu-suất, nhờ thường có bồ-tát Nhất sinh bổ xứ, nên các trời thường nghe giảng Bát-nhã. Do đó, dù có nhiều ngũ dục, song sức Phật pháp mạnh hơn. Bởi thế, nên hai nơi ấy thù thắng hơn hết. Nếu người từ cõi Phật khác sinh đến nơi này thì lại càng tốt”.
Kinh Xứ xứ ghi: “Đức Phật nói:
1 - Bồ-tát Di-lặc hiện nay chưa hạ sinh bởi bốn lý do sau:
1. Phúc đức đang ứng ở cõi kia.
2. Con người ở cõi này tâm ý thô kém, không thể thụ trì kinh.
3. Công đức chưa viên mãn.
4. Thế gian vẫn có người thuyết giảng được kinh Phật.
Trong tương lai, sau hơn năm mươi ức bảy nghìn sáu mươi vạn năm nữa, bồ-tát Di-lặc sẽ hạ sinh. Vào thời Phật Di-lặc, con người nhìn thấy xa đến bốn nghìn dặm. Con người được phúc báo như thế là nhờ mười nhân duyên đời trước:
1. Không che ánh mắt người.
2. Không làm tổn hại mắt người.
3. Không bịt mắt người.
4. Không che giấu việc tốt của người.
5. Không nhìn cảnh sát sinh.
6. Không nhìn việc trộm cắp.
7. Không nhìn việc tà dâm.
8. Không nhìn điều riêng tư và khuyết điểm của người.
9. Không nhìn các việc ác.
10. Đốt đèn ở chùa thờ Phật”.
Kinh Phật thuyết Di-lặc lai thời ghi: “Lúc Phật Di-lặc sắp ra đời, cỏ cây trên mặt đất và trên núi cõi Diêm-phù-đề đều bị cháy sạch. Hiện nay, mặt đất cõi Diêm-phù-đề có chu vi sáu mươi vạn dặm. Khi Phật Di-lặc ra đời, cõi ấy có chiều đông tây dài bốn mươi vạn dặm, chiều nam bắc rộng ba mươi hai vạn dặm, không có gò, núi, hang, khe mà bằng phẳng như mặt đá mài. Cây cối cao lớn, có năm thứ quả, con người ít tham sân si, dân sống thành nhiều xóm làng.
Bấy giờ, trong thành Phiếm-la-na-di, có bà-la-môn Tu-phạm và vợ là Ma-ha Việt-đề. Đây là cha mẹ của bồ-tát Di-lặc.
Di-lặc có đầy đủ tướng hảo, cao mười sáu trượng. Mắt vừa nhìn, đã thấy xa vạn dặm, ánh sáng quanh đầu chiếu xa bốn nghìn dặm. Bồ-tát Di-lặc đắc đạo khi ngồi ở gốc cây Long Hoa. Cây này cao ba mươi dặm, tàn lá rộng bốn mươi dặm. (Kinh Đại thành Phật chép: ‘Cành hoa của cây ấy giống như đầu rồng, nên gọi là cây Long Hoa. Cũng có truyệnkhác cho cây ấy lấy giống từ long cung, nên gọi là cây Long Hoa). Bồ-tát Di-lặc đắc đạo vào ngày tám tháng tư, lúc sao Mai mọc. Nhưng sau sáu mươi ức sáu mươi vạn năm, Phật Di-lặc mới hạ sinh”.
Truyện Tây quốc hành của Vương Huyền Sách ghi: “Năm Hiển Khánh thứ hai (657) đời Đường, vua sai sứ như Vương Huyền Sách... đưa ca-sa sang Tây Vực, đến thôn Phả-la-độ nằm phía tây nam nước Nê-bà-la. Phía đông thôn ấy là một vùng trũng, có hồ Thủy Hỏa, hễ lấy lửa soi vào hồ ấy thì có ngọn lửa bốc lên cháy trên mặt ao, lấy nước tưới lên để dập lửa thì nó càng cháy mạnh thêm. Các sứ nhà Đường từng ở chỗ ấy, treo nồi phía trên ngọn lửa ao để nấu cơm. Sứ hỏi vua nước này về hiện tượng ấy. Nhà vua đáp: ‘Trẫm từng dùng sào xăm xuống ao ấy, chạm phải một cái rương vàng, sai người kéo rương lên, nhưng càng kéo thì nó càng chìm sâu. Tương truyền rương ấy chứa chiếc thiên quan của Phật Di-lặc đang được một con rồng lửa canh giữ, lửa trong ao ấy chính là lửa của con rồng”.
Luận Đại trí độ ghi: “Lúc còn tại gia, bồ-tát Di-lặc tên Đà-bạt-lê, ngài có ba tướng quí:
1. Tướng lông trắng giữa hai chặng mày.
2. Tướng lưỡi đưa ra phủ trùm cả mặt.
3. Tướng âm tàng.
Những tướng ấy rất hiếm, chẳng phải bất cứ vị bồ-tát nào cũng có”.
Luận Bà-sa bản tân dịch ghi: “Nghe nói tôn giả Ca-diếp-ba vào thành Vương Xá khất thực lần cuối. Sau khi ăn xong, tôn giả lên núi Kê Túc. Núi ấy có ba ngọn, hình dáng giống như bàn chân gà ngửa lên. Tôn giả vào núi ngồi kết già thành tâm phát nguyện: ‘Nguyện thân tôi cùng y, bát và gậy trụ mãi, không hư hoại suôt năm mươi bảy câu-chi sáu mươi trăm nghìn năm, đến khi Từ Thị Như Lai ứng Chính Đẳng Giác xuất hiện, tôi sẽ giúp Ngài làm Phật sự.
Tôn giả phát nguyện xong, liền vào niết-bàn. Bấy giờ, ba ngọn núi ấy hợp lại thành một ngọn che kín. Tôn giả nghiễm nhiên an trụ trong đó. Đến lúc Phật Từ Thị ra đời, Ngài sẽ dẫn vô lượng trời và người lên núi ấy và bảo: ‘Các ông muốn thấy Ca-diếp-ba, vị đại đệ tử hạnh đầu-đà đệ nhất của Phật Thích-ca Mâu-ni không?’. Mọi người đều đáp: ‘Chúng con muốn thấy!’. Từ Thị Như Lai liền đưa tay phải vỗ vào đỉnh núi Kê Túc. Ngay lúc ấy ngọn núi tách ra lại thành ba ngọn, tôn giả Ca-diếp-ba mang y, bát và gậy từ trong bước ra, bay lên không trung. Vô lượng trời, người nhìn thấy sự thần biến ấy đều khen là việc chưa từngcó, tâm mọi người trở nên nhu hòa. Lúc ấy, Từ Thị Thế Tôn nói pháp, tất cả đều được kiến đế.’
Nếu không có sự giữ lại thân để giáo hóa, tại sao có việc như thế? Cho nên, có thuyết cho là có việc giữ lại thân để giáo hóa.
Hỏi: Nếu như thế, tại sao Đức Thế Tôn không lưu thân giáo hóa, để sau khi Ngài niết-bàn có thể tùy ý duy trì việc thuyết pháp?
Đáp: Bởi những việc nên làm, thì Phật đã làm xong cả. Nghĩa là những người cần độ thì Phật đều hóa độ xong, những người chưa được độ thì các thánh đệ tử sẽ độ. Do đó, có thuyết nói không có việc Thế Tôn giữ lại hóa thân để giáo hóa.
Hỏi: Nếu như thế, tại sao có việc tôn giả Ca-diếp-ba lưu thân?
Đáp: Thân tôn giả được các thiên thần tôn kínhngài giữ gìn. Có thuyết nói: Bấy giờ tôn giả Ca-diếp-ba chưa vào niết-bàn mà chờ đến lúc Phật Từ Thị xuất thế mới diệt độ. Điều này không hợp lý! Thà nói không có việc giữ thân giáo hóa, chứ không nên nói tôn giả giữ im lặng, ở không trong một thời gian dài. Nói như thế, tức là có việc giữ thân giáo hóa. Do đó, tôn giả Đại Ca-diếp-ba đã vào niết-bàn.
6.6.5. Phát nguyện
Phàm phu ở cõi Ta-bà sức kém, thói ác nhiều, lại thêm khiếp nhược. Do đó, người mới học pháp này, sợ sẽ thoái tâm, nên cần thường xuyên phát đại thệ nguyện kiên cố, cho dù mạng chung vẫn không ngăn ngại. Hồi hướng tất cả căn lành đã gieo trồng cho hết thảy chúng sinh, tự tại vãng sinh vào làm nội chúng của Di-lặc, được đến trước Phật, tùy niệm tu học, chứng quả Bất thoái. Không nguyện vãng sinh vào ngoại chúng vì sợ mê đắm ngũ dục, không được giải thoát.
Luận Đại trí độ ghi: “Có người tu một ít phúc nghiệp, nghe nói có cõi phúc, liền nguyện vãng sinh. Do đó, đến khi qua đời, người ấy được sinh vào cõi kia”.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Sinh về cõi Phật là việc lớn, nếu chỉ hành trì thì công đức không thể thành tựu, mà cần phải nhờ sức nguyện. Như con bò tuy có sức mạnh kéo được xe, nhưng cần phải có người đánh xe mới đi đến nơi. Cho nên, cõi Phật thanh tịnh nhờ nguyện dẫn mới thành tựu. Nhờ sức nguyện nên phúc đức tăng trưởng, không hoại, không mất, thường gặp Phật”.
Luận Thập trụ ghi: “Nếu có dùng ngón tay nhấc đại thiên thế giới đưa lên hư không thì cũng khôngđáng cho là việc khó. Nếu ai phát nguyện: ‘Tôi sẽ làm Phật’ thì người ấy mới là người hiếm có. Vì sao? Vì tâm người đời yếu kém, không có chí lớn”.
Luận Phát tâm bồ-đề có nêu mười đại nguyện thường phải tu hành:
1. Nguyện đời trước và đời này con gieo trồng được những căn lành gì đều bố thí cho tất cả chúng sinh, hồi hướng công đức ấy về Phật đạo, khiến điều nguyện này của con tăng trưởng trong từng niệm, đời đời sinh ở đâu cũng không quên mất, thường được đà-la-ni bảo vệ.
2. Nguyện cho con nhờ căn lành này, hễ sinh ở đâu đều được gặp Phật và thường được cúng dường Phật, không sinh trong đất nước không có Phật.
3. Nguyện cho con được gần gũi chư Phật, theo hầu bên cạnh như bóng theo hình.
4. Nguyện cho con đã được gần gũi chư Phật, lại còn được nghe các Ngài giảng pháp, khiến con thành tựu được năm thần thông.
5. Nguyện cho con thông hiểu thế đế giả danh, rõ đệ nhất nghĩa, chứng được trí chính pháp.
6. Nguyện cho con dùng tâm không nhàm chán mà giảng thuyết, thị giáo lợi hỉ, khiến họ đều hiểu biết
7. Nguyện cho con nhờ sức thần của Phật mà đến được tất cả thế giới trong mười phương-để cúng dường chư Phật, nghe chính pháp và cứu giúp tất cả chúng sinh.
8. Nguyện cho con thuận theo pháp luân thanh tịnh mà diễn nói. Tất cả chúng sinh nghe pháp và tên con đều lìa bỏ tất cả phiền não.
9. Nguyện cho con đi theo chúng sinh để giúp đỡ và ban cho họ sự an lạc, đồng thời xả thân mạng, của cải để gánh vác chính pháp, trừ những việc không có lợi ích.
10. Nguyện cho con tuy tu hành chính pháp, nhưng tâm không thấy có tu hành mà tu hành tất cả. Vì giáo hóa chúng sinh, con nguyện không bỏ điều nguyện chân chính.
Nguyện con dùng mười đại nguyện này phủ khắp cõi chúng sinh, gom giữ tất cả điều nguyện. Nếu cõi chúng sinh không còn ai thì nguyện của con mới hết. Nhưng cõi chúng sinh không thể tận cùng, nên đại nguyện này của con cũng không thể hết.
Con lại nguyện độ khắp chúng sinh trong vô biên thế giới. Những căn lành tu tập được, con đều hồi hướng về Vô thượng chính giác, được sinh đến trước Phật Di-lặc, nghe pháp thanh tịnh, ngộ Vô sinh nhẫn.
Nguyện hồi hướng tất cả căn lành tu tập được khi đi, đứng, ngồi, nằm từ khi sinh ra đến nay, cùng pháp giới chúng sinh vãng sinh cõi Phật Di-lặc, ở trước Ngài thành tựu quả Bất thoái”.
Pháp sư Huyền Trang nói:
- Người xuất gia và tại gia ở Ấn Độ đều tu tịnh nghiệp Di-lặc, bởi vì cùng ở trong Dục giới thì tu hành dễ thành tựu. Các vị tăng Đại thừa và Tiểu thừa đều chấp nhận pháp này. Còn Tịnh độ A-di-đà, chỉ sợ hàng phàm phu nhiều phiền não tu hành khó thành tựu được.
Theo kinh luận Cựu dịch, bồ-tát từ Thập địa trở lên, tùy phần thấy được Tịnh độ Báo Phật. Còn theo ý kinh luận Tân dịch thì bồ-tát Tam địa mới thấy được Tịnh độ Báo Phật. Thế thì, lẽ nào hàng phàm phu kém cỏi lại được vãng sinh Tịnh độ A-di-đà? Đó là biệt thời ý, nên chưa chắc chắn. Cho nên, hàng Đại thừa ở Ấn Độ chấp nhận pháp tu này (Tịnh độ A-di-đà), nhưng hàng Tiểu thừa không chấp nhận. Vì thế, cả đời pháp sư thường xuyên tu tịnh nghiệp Di-lặc, lúc lâm chung phát nguyện sinh lên trời Đâu-suất diện kiến Phật Di-lặc. Bấy giờ, ngài thỉnh đại chúng cùng xướng kệ:
Nam-mô Di-lặc Như Lai,
Bậc ứng Chính đẳng giác.
Nguyện cùng các chúng sinh,
Sớm diện kiến Từ Tôn.
Nam-mô Di-lặc Như Lai,
Mong trụ chúng nội điện,
Nguyện bỏ thân này rồi,
Hẳn sinh vào trong đó.
6.6.6. Cảm ứng
6.6.6.1. Đời Tấn, Đái Quì nước Tiếu: Tướng của bậc Tối Thắng vô cùng vi diệu không gì sánh bằng, không chỉ dung nghi chẳng thể tả hết mà hình hảo cũng không thể diễn bày. Với bàn tay con người mà khắc tạc pháp thân cùng tột viên mãn, thì chẳng đạt được một phần trong muôn vạn.
Từ khi Phật nhập niết-bàn đến nay đã trải qua hơn nghìn năm, tượng tạo ở Ấn Độ được lưu truyền đến Trung Hoa. Nơi đây tuy đã qua nhiều lần đúc họa, song tượng tạo thành cũng chỉ hơi giống. Các danh sĩ, các thợ tài dốc lòng gắng sức, nhưng nét tinh xảo, vi diệu vẫn chưa đến chỗ cùng tột.
Đời Tấn, ở Tiếu quốc, có Đái Quì tự là An Đạo, ẩn cư ở Cựu Ngô. Ông có tính tình ôn hòa, phóng khoáng, chí tiết cao xa, thông đạt lí tính, mến mộ Phật pháp, trí tuệ nhạy bén, hiểu biết nhiều, tính toán giỏi, chí sáng tạo. Bởi ông muốn chiêm ngưỡng pháp tướng, thân cận ứng thân, nên dốc lòng tạo tượng Phật
Vô Lượng Thọ và hai vị bồ-tát hầu hai bên. Ông nghiên cứu đến chỗ chí diệu, rồi tạo một pho tượng tinh xảo. Sau đó, ẩn trong màn để nghe lời bình luận của đại chúng, thấy được những chỗ khiếm khuyết liền vui vẻ sửa đổi. Ông lượng độ chính xác đến từng mảy may, xét kĩ màu sắc đậm nhạt. Phương pháp hòa mực, điểm màu, khắc hình đúc tạo của ông, dù tài khéo léo của Tận Sách đời Chu, trí xảo diệu của Tượng Chữ đời Tống cũng chẳng hơn được. Ông dốc tâm lực ba năm mới tạc thành tượng. Kiệt tác của ông ở Trung Hoa từ xưa đến nay chưa có tác phấm nào sánh bằng, người đến chiêm ngưỡng giống như thấy được Phật thật.
Không lâu saụ, tượng được đưa vào chùa Linh Bảo phía bắc núi, cả đạo lẫn tục đến xem đều phát tâm Bồ-đề. Si Siêu người Cao Bình hay tin đến chiêm lễ, ông nên hương phát nguyện: “Ví như sống, con nguyện lại đến chiệm ngưỡng thánh nhân; nếu vô thường đến, con nguyện diện kiến đức Di-lặc!”.
Vừa nguyện xong, hương trong tay ông bỗng dưng tự cháy, khói thơm xông thẳng lên mây và còn lan tỏa khăp đường lớn. Những người chứng kiến vui mừng vô hạn. Đời Tống, Lâm Xuyên Khang vương soạn Tuyên nghiệm kí cũng có ghi điềm lành này.
Chỗ ở của Đái Quì cách chùa Linh Bảo hơn một trăm bước. Nửa đêm Quì và dân làng bên cạnh nhìn thấy trong chùa sáng rực, cho là lửa cháy, vội vàngchạy đến, nhưng cửa chùa đóng kín, mới biết tượng đang phóng quang. Sáng sớm, chúng tăng nghe gõ cửa mới thức dậy thì thấy ánh sáng trong điện Phật xông thẳng lên trời. Tất cả mọi người đều chỉnh thân trang nghiêm, thành tâm kính lễ ca ngợi sự hóa hiện không lường của bậc Đại Giác.
Đời Tống, Văn đế thỉnh tượng về an trí ở hậu cung để cúng dường. Đời Tề, Cao đế xây dựng chùa Chính Giác, muốn dùng linh tượng nhiệm mầu này trấn ở pháp điện, nên mọi người cung kính dời tượng về. Quì lại tạo thêm năm pho tượng đứng, trải qua mười năm. Sau đó tượng cũ được an trí ở chùa Ngõa Quan.
Người con thứ hai của Quì tên là Ngưng, tự Trọng Nhược tính tình cao nhã, sâu sắc mà giản dị, thích ẩn dật. Ngưng đã thừa hưởng được tiết tháo cao khiết, kiên định, lại cũng kế thừa được tài năng khéo léo của cha. Mỗi lần Quì tạo tượng, Ngưng thường tham dự.
Dương Giang Di ở sông Sơn Đông thuở nhỏ kết bạn với Ngưng Ông từng nhờ Ngưng tạo tượng Quán Thế Âm, Ngưng dốc hết tâm lực muốn tạo một pho tượng thật hoàn mĩ, nhưng kết quả tướng hảo chẳng viên mãn. Nhiều năm không thành, sau đó ông mộng thấy có người báo: “Giang Di không có duyên với bồ-tát Quan
Thê Âm, có thê đổi thành tượng bồ-tát Di-lặc”. Đái Ngung dừng việc tạc tượng viết thư báo choGiang Di. Thư của Ngưng chưa đến mà thư cùa Giang Di đã đến. Trong thư nói đêm ấy ông ta cũng nằm mộng hợp với điềm mộng của Ngưng. Ngưng vui mừng bởi sự thần ứng và liền cải thành tượng Di-lặc. Thế rồi, chẳng cần phải dụng tâm mà đường nét trở nên tinh diệu, tạc thành pho tượng tướng hảo trọn vẹn, tuyệt mĩ chỉ trong thời gian ngắn. Những người biết được đều ca ngợi và tỏ ngộ được nhân duyên tương hợp này.
Tượng này vốn đặt ở chùa Long Hoa, cối Kê. Tượng do cha con họ Đái tạo là tuyệt tác qua các triều đại. Họ Đái tạo rất nhiều tượng phân tán khắp các chùa, khó mà thuật hết.
6.6.62. Đời Tấn, sa-môn Thích Đạo An: Sư họ Vệ, người Phù Liễu, Thường Sơn, trụ ở chùa Ngũ Cấp, Trường An. Tuy hình mạo của sư không bằng người, nhưng thông minh ít ai sánh kịp. Năm bảy tuổi sư chỉ đọc sách qua hai lần là có thể thuộc làu, mười ba tuổi xuất gia, ngày tụng vạn lời nhưng không sai một chữ. Thầy của sư kính phục, cho thụ giới Cụ túc và cho phép tự ý du học. Sư đến đất Nghiệp vào chùa Trung thì gặp ngài Phật-đồ-trừng. Thấy sư, Phật-đồ-trừng cho là kì đặc bèn cùng luận đàm suốt ngày. Nhân đây, sư lễ Phật-đồ-trừng làm thầy. Mỗi khi thầy giảng pháp, sư trùng tuyên, nhiều người không phục tranh nhau gạn hỏi. Sư liền bẽ gãy nhuệ khí, phá dẹptất cả những tranh cãi hồn loạn của họ không có chút khó khăn gì.
Bấỵ giờ mọi người đều nói: “Đạo nhân mặt đen khiến bôn chúng phải khiếp phục”. Sau sư cùng hơn bốn trăm đệ tử như Tuệ Viễn... đi về phía Nam đến Tương Dương lánh nạn. Đêm vượt sông gặp trời mưa, sấm chớp rền vang, đoàn người nương theo ánh chớp mà đi. Đến một ngôi nhà, thấy giữa sân có hai cây cọc dùng để buộc ngựa, giữa hai cọc treo một cái máng cho ngựa ăn, máng đó có thể chứa được một thăng. Sư gọi: “Lâm Bách Thăng!” Chủ nhà kinh ngạc đi ra, quả đúng ông ta họ Lâm tên Bách Thăng. Cho rằng sư là thần nhân, nên ông tiếp đãi rất trọng hậu.
Sau đó, đệ tử hỏi sư:
- Sao thầy biết được tên họ của người chủ nhà?
Sư đáp:
- Hai mộc thành Lâm, một máng chứa được một trăm thăng (Bách Thăng).
Đến Tương Dương, có một thánh tượng bằng đồng củả nước ngoài, hình dáng cổ quái kì dị, đại chúng không mấy kính trọng. Sư bảo: “Thánh tượng rất đẹp, nhưng nhục kế chưa cân xứng”. Sư lại bảo đệ tử nấu đồng để sửa lại nhục kế. Bất chợt, tượng phóng ánh sáng chiếu khắp nhà, lại thấy trên nhục kế có một viên xá-lợỉ, mọi người đều cảm thấy hổ thẹn và kính phục. Sư nói: “Tượng đã hiển linh thi không cần sửanhục kế nữa”. Mọi người đều cho là sư đã biết ở nhục kế có xá-lợi, nên làm vậy cho mọi người thấy.
Bấy giờ, Tập Tạc Xỉ ở Tương Dương, học vấn uyên bác, có tài hùng biện, nổi tiếng đương thời. Trước đây đã từng nghe danh của sư, nên ông sớm viết thư kết bạn. Trong thư có đoạn: “Nương bậc ứng chân mà đạt chính đạo, nội tâm thật đã rỗng rang; lời dạy từ bi vang khắp, đạo tục đều được nương nhờ... Hơn bốn trăm năm, từ khi Phật pháp truyền sang Đông độ, tuy có những vị vua kính tin, nhưng giáo pháp của Khổng, Lão đã lưu hành từ trước. Lại vận đạo đổi dời khiến cho mọi người chưa biết đến. Gần đây đạo nghiệp hưng thịnh không gì thể so sánh. Đó gọi là ‘Ánh trăng vừa chiếu thì linh bát liền xuất hiện!’. Pháp sư gánh vác Đại pháp, giáo hóa khắp nơi, trừ sạch tăm tối, chư tăng ở nơi này đều mong mỏi. Nếu mây lành tụ về đông, ngọc ma-ni soi chiếu đến, một phen bước lên tòa bảy báu, tạm thắp ngọn đèn minh triết, tuôn mưa cam lộ nơi cỏ tốt, trồng cội chiên-đàn ở bờ sông, thì giáo pháp của Như Lai hôm nay lại hưng thịnh, như sóng lớn dâng tràn, đời này được thấm nhuần...”. Thư rất dài không thể ghi hết. Khi nghe sư dừng chân ở đây, Tạc Xi liền tìm đến đối luận, vừa ngồi ông tự xưng:
-Tứ Hải Tập Tạc Xỉ!
Sư đáp:
- Di Thiên Thích Đạo An!
Người thời bấy giờ đều cho đây là câu đối đáp nổi tiếng.
Sư chú giải các kinh, sợ không hợp lí nên nguyện rằng: “Nếu những lời chú giải của con hợp với thật lí, xin cho con thấy được điềm lành”. Sư bèn mộng thấy một vị Phạm tăng tóc trắng, mi dài nói với sư:
- Kinh văn mà ông chú giải rất họp với đạo lí. Ta không được vào niết-bàn mà trụ ở Tây Vực, sẽ giúp ông hoằng hóa Phật pháp. Ông phải thường thiết trai để cúng dường ta.
Sau này, khi bộ luật Thập tụng được truyền sang Trung Hoa, Tuệ Viễn mới biết vị Phạm tăng mà sư mộng thấy chính là tôn giả Tân-đầu-lô-phả-la-đọa. Thế rồi, sư lập tòa cúng dường trai phạn. Từ đó, việc này đã thành lệ, áp dụng khắp các chùa.
Sư có đức hạnh cao vời, được mọi người tôn kính, lại tinh thông tam tạng, về những phép tắc cho tăng ni, những qui định trong Phật pháp, sư phân ra ba mục:
1. Phép hành hương tọa thiền, tụng kinh, thuyết pháp.
2. Phép hành đạo sáu thời mỗi ngày, xướng kệ lúc thụ trai.
3. Phép bố-tát, phân công tác, sám hối lỗi lầm.
Các chùa, tinh xá khắp nơi đều áp dụng theo những qui định này.
Sư cùng các đệ tử như Pháp Ngộ... thường đối trước tượng Di-lặc phát nguyện sinh về Đâu-suất.
Ngày hai mươi bảy tháng giêng niên hiệu Kiến Nguyên hai mươi mốt (385) đời Tần, bỗng có một vị tăng kì lạ, dung mạo xấu xí vào chùa xin nghỉ qua đêm. Trong chùa các phòng ốc đã chật, chỉ còn lại giảng đường. Đêm đó, vị duy-na trực chính điện, thấy vị tăng này ra vào từ khe cửa sổ, vị duy-na vội vàng đến thưa với sư. Sư kinh ngạc đến đỉnh lễ và hỏi:
- Ngài đến đây có việc gì?
Vị ấy đáp:
- Tôi vì ông mà đến đây!
Sư thưa:
- Tự nghĩ mình tội nặng, há có thể độ thoát chăng?
Vị ấy đáp:
- Có thể độ thoát! Nhưng cần phải tắm thánh tăng mới được sở nguyện!
Đồng thời vị ấy chỉ bày đầy đủ phương pháp tắm thánh tăng. Sư hỏi về nơi sinh của mình ở đời sau. Vị ấy liền đưa taỵ vạch một đường giữa hư không về phía tây bắc, vầng mây mở ra, tất cả phúc báo vi diệu thù thẳng ở cõi trời Đâu-suất liền hiện. Đêm ấy, khoảng mấy mươi đệ tử đều chứng kiến việc này.
Sau đó, sư chuẩn bị dụng cụ tắm thánh tăng như lời chỉ dạy, bỗng thấy có một đứa bé khác thường cùng vài chục trẻ nhỏ vào chùa, chúng đùa giỡn chốc lát rồi vào tắm. Thật là thánh ứng hiện.
Đến ngày mồng tám tháng hai năm đó, sư bảo đại chúng:
Ta phải đi đây!
Hôm đó, sau khi thụ trai xong, sư không bệnh mà thị tịch, thọ bảy mươi hai tuổi. Tháp sư được xây ở chùa Ngũ Cấp trong kinh thành. Đó là năm Thái Nguyên thứ mười (385) đời Tấn.
Lúc còn sống, sư nghe danh ngài La-thập ở phương tây, muốn cùng đàm luận, nên thường khuyên Phù Kiên thỉnh về. La-thập cũng đã nghe đạo phong của sư, cho là bậc thánh ở phương Đông, nên thường hướng vọng lễ bái.
Lúc sư mới sinh, bên vai trái có một mảnh da khoảng một tấc vuông, có thể dùng tay vuốt lên xuống, nhưng không thể lấy ra, mọi người cho là bồ-tát Án Thủ. Mười sáu năm sau khi sư mất, La-thập mới đến Trung Hoa, ngài buồn tiếc vô cùng vì không gặp sư.
Sư thích tham cứu kinh điển, chí nguyện hoàng pháp, nên đã thỉnh các sa-môn nước ngoài như Tăng-già-đề-bà, Đảm-ma-nan-đề và Tăng-già-bạt-trừng... dịch các bộ kinh, hơn trăm vạn lời. Sư thường cùng với sa-môn Pháp Hòa thẩm định lại âm tự và hiệuđính văn nghĩa, giúp cho những bản kinh mới dịch thêm chính xác.
Tôn Xước trong bộ Danh đức sa-môn phần đầu có ghi: “Thích Đạo An là người học nhiều hiểu rộng, thông đạt danh lí”. Ông lại ca ngợi sư:
Vật có muôn loại,
Người cũng lắm tầng,
Đạo An sâu thẳm,
Tài đức hơn người,
Vang danh Khiên Lũng,
Nổi tiếng Hoài Hải,
Thân tuy biến hoại vẫn như thường còn.
Lại có bài khác ghi:
- Phương bắc có Trúc Đạo An. Có người bảo rằng Tập Tạc Xỉ gửi thư cho Trúc Đạo An, nhưng Đạo An ngày xưa theo thầy nên lấy họ Trúc, sau đổi thành họ Thích. Mọi người thấy có hai họ mà bảo là hai người khác nhau là sai.
6.6.6.3. Đời Tống, ni sư Thích Tuệ Ngọc: Ni sư người Trường An, siêng năng tu đạo, thông thạo kinh luật. Ni sư từng thấy ánh sáng hồng trắng xuất hiện hơn mười ngày ở chùa Tiết Thượng Thư, Trường An. Ngày mười tám tháng tư có sa-môn ở chùa Lục Chủng đến chùa này, rồi theo luồng ánh sáng mà tìm được tượng Di-lặc bằng vàng cao hơn một trượng, về sau,ni sư đi về phương nam qua Phàn Dĩnh, trụ ở chùa Linh Thâu, Giang Lăng. Tháng mười, niên hiệu Nguyên Gia mười bốn (437), một hôm, ni sư thấy nơi cội cây phía đông chùa có ánh sáng màu tía chiếu rực cả khu rừng, liền báo cho các bạn đồng học như Diệu Quang... nhưng họ chẳng thấy gì. Hơn hai mươi ngày, ánh sáng ấy mới biến mất. Sau đó, vị trụ trì Thích Pháp Hoằng đào móng xây nhà thiền gần gốc câỵ ấy, ngẩng đầu nhìn lên thì thấy một tượng Phật ngồi cao khoảng một trượng đang ở trên cành cây.
6.6.6.4. Đời Lương, sa-môn Thích Tăng Hộ: Sư vốn người Kế-tân, xuất gia từ thuở nhỏ, chuyên tâm tu tập, giới hạnh tinh nghiêm, sau trụ ở chùa Ân Khâu thuộc núi Thạch Thành nước Kế-tân. Phía bắc chùa có vách núi xanh biếc, dựng đứng, cao mấy mươi trượng, trung tâm mặt vách có hình hào quang của Phật, phía trên có cây cối um tùm, xòe tàng rợp bóng.
Mỗi lần sư đi kinh hành đến vách núi này đều thấy ánh sáng tỏa chiếu, lại nghe tiếng ca tụng hòa với tiếng đàn, tiếng sáo. Thế là, sư nâng lư hương phát nguyện đục vách núi tạo tượng Phật cao mười trượng, mô phỏng theo thánh dung của tượng Di-lặc cao nghìn thước, khiến cho người phàm phu có duyên đồng gặp được ba pháp hội của Đức Phật Di-lặc. Niên hiệu Kiến Vũ (494-497) đời Tề, sư tập hợp đạo tục khởi công tạo tượng. Trải qua hơn một năm, mới hoàn thành phần thô của khuôn mặt thì sư ngã bệnh rồi mất.
Trước khi lâm chung sư phát nguyện: “Con không mong một đời này tạo xong, nhưng đời sau nhất định sẽ thành tựu tâm nguyện”. Sau đó, sa-môn Tăng Thục tỉếp nối công việc, nhưng không có tài lực để hoàn thành. Đến đời Lương, niên hiệu Thiên Giám thứ sáu (507) có Lục Hàm người quận Ngô làm Huyện lịnh Thỉ Phong lên kinh. Trên đường đi, ông ngủ lại ở Diệm Khê, gặp lúc mưa gió mịt mù, mọi người đều khiếp sợ. Vừa chợp mắt thì ông chợt mộng thây ba vị đạo nhân đến bảo: “Nếu tâm thành, niềm tin kiên cố thì tự nhiên an ổn. Thái tử Kiến An mắc bệnh chưa khỏi, nếu tiếp tục hoàn thành bức tượng đá do Tăng Hộ tạo thì bệnh thái tử sẽ lành. Lí sâu kín này chân thật không dối, nên báo cho ngươi biết”. Lục Hàm trở về kinh đô, trải qua một năm quên mất mộng xưa.
Một hôm, vừa ra khỏi nhà ông gặp một vị tăng nói: “Xin nghe nói về việc tá túc năm trước!”. Vị tăng nói tiếp: “Ông còn nhớ lời dặn năm xưa, đêm ngủ ở Diệm Khê về việc thái từ Kiến An không?”. Lúc ấy, Hàm kinh ngạc đáp: “Không nhớ”. Vị Tăng cười bảo: “Ỏng hãy nhớ lại việc ấy!” rồi bỏ đi. Hàm nhận thấy người này chăng phải phàm nhân vội vã chạy theohỏi, nhưng đi được một đoạn thì chẳng thấy vị tăng đâu nữa.
Bất chợt Hàm nhớ lại rõ ràng giấc mộng ngày xưa, vị tăng vừa rồi chính là vị tăng thứ ba mà ông thấy trong giấc mộng ở Diệm Khê. Hàm bèn vội vàng đến trình lên Kiến An vương. Vương tâu lên vua, vua sắc thỉnh luật sư Tăng Hựu chuyên lo việc tạo tượng. Vua rất tin tưởng và vô cùng vui mừng, xả bỏ tài sản, nguyện hoàn thành pho tượng. Đêm trước khi Tăng Hựu đến, Tuệ Sính là vị tăng trong chùa mộng thấy một vị thần lớn, mặc áo đen và những vị tùy tùng rất dũng mãnh đứng ở khám, đang bàn luận về kích thước của tượng, sáng mai thì luật sư Tăng Hựu đến. Sự thần ứng như thế.
Lúc đầu, Tăng Hộ tạc khám quá cạn, nên phải đục sâu thêm năm trượng nữa mới tạo nhục kế. Đến khi phần thân tạc thành, gọt dũa sắp xong thì đêm ấy bỗng nhiên trên ngực tượng nổi lên chữ vạn màu đỏ, ngày nay vẫn còn.
Khởi công tạo tượng vào mùa xuân niên hiệu Thiên Giám mười hai (513) đến mùa xuân niên hiệu Thiên Giám mười lăm (516) thì hoàn thành. Tòa cao năm trượng, tượng đứng cao mười trượng. Trước khám tạo đài ba tầng, có lầu gác, điện đường và nhiều hạng mục khác để cúng dường. Quan khách bốn phương tấp nập từ vạn dặm mang hương hoa đến cúng dường. Khi tượng hoàn thành, Kiến An vương hết bệnh và sau cải phong là Nam Bình vương.
6.6.6.5. Đời Tùy, Thích Linh Cán: Sư họ Lý, trụ tại đạo tràng Đại Thiền Định ở Tây Kinh, cũng chính là Kim Thành Địch đạo nhân. Sư là người có ý chí, tiết tháo,
khiêm cung, chuyên tâm tu tập Tịnh nghiệp. Sư đã căn cứ vào kinh Hoa nghiêm mà trước tác Liên Hoa Tạng thế giới hải quán và Di-lặc thiên cung quán. Đến niên hiệu Khai Hoàng mười bảy (597), trong một cơn bạo bệnh sư chết ngất. Vì tim còn ấm, nên mọi người không dám an táng. Sau đó sư tỉnh dậy kể:
- Đầu tiên tôi thấy hai người tay cầm văn thư đứng trước cửa, nói là quan cần gặp. Trong chớp mắt, tôi thấy mình cùng hai người ấy đi trên không, chân chẳng cần bước. Sau đó, đến một khu vườn lớn toàn là cây bảy báu, đẹp như tranh vẽ, hai người dẫn vào, rồi cáo từ. Một mình tôi vào vườn, nhìn khắp nơi, phóng hết tầm mắt, thấy toàn là rừng cây, núi, hồ đều bằng trân bảo, phát ánh sáng rực rỡ chói mắt, không thể thấy rõ. Ở mỗi cội cây đều có tòa hoa, có tòa có người, có tòa không người. Chợt tôi nghe có ai gọi: “Linh Cán, ông đã đến đây ư”. Tôi theo tiếng gọi mà đến thì ra là pháp sư Tuệ Viễn. Tôi đỉnh lễ thăm hỏi:
- Ở đây là nơi nào?
- Là cõi trời Đâu-suất. Ta cùng với Tăng Hưu đồng sinh ở nơi đây. Tăng Hưu chính là người ngồi kế ta ở tòa phía nam. Tuệ Viễn và Tăng Hưu dung mạo chẳng giống như lúc còn sống, đầu đội mù trời, mangy đỏ tía, hào quang sáng rực, hiếm có ở thế gian, chỉ có thể nhận biết qua giọng nói giống như xưa mà thôi.
Tuệ Viễn lại bảo ta:
- Ông cùng các đệ tử của ta sau này đều sinh về đây.
Nhân đây sư giác ngộ, nên càng tu tập tinh nghiêm hơn, quán hạnh miên mật không ai sánh bằng. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ ba (607), chùa Thiền Định vừa xây dựng hoàn thành, vua sắc thỉnh sư làm Thượng tọa đạo tràng, tăng chúng ngày càng đông. Sư chỉnh sửa, bổ khuyết nội qui, phép tắc sinh hoạt cho tăng có thứ tự hoàn chỉnh. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ tám (612), bệnh sư ngày càng nặng. Lúc lâm chung, mắt sư nhìn lên chứ không nhìn mọi người, lâu sau mới khép, sắc diện vẫn như lúc còn sống. Sa-môn Đồng Chơn vào thăm, thấy tướng này bèn hỏi. Sư đáp:
- Lúc nãy thấy hai đồng tử áo xanh đến gọi, ta liền cùng đi, đến thành ngoài của cung trời Đâu-suất mà chưa được vào trong, Nếu kiểng chân nhìn vào thì thấy trong thành cây báu đài hoa. Nếu đứng bình thường thì chẳng thể thấy. Vừa rồi, những đệ tử hầu bệnh thấy ta ngước mắt nhìn lên, chính là lúc ta thấy tướng ấy.
Đồng Chân nỏi: “Nếu sư sinh qua cõi đó thì đã mãn nguyện!”. Sư đáp: “Niềm vui của cõi trời chẳng thể dài lâu, cuối cùng cũng đọa luân hồi. Biển Hoa Nghiêm tạng là chỗ ta mong muốn”.
Lát sau, sư tắt thở. Đồng Chân lại hỏi: “Sư thấy gì vậy?”. Sư nói: “Ta thấy nước dâng đầy khắp, trong đó có hoa lớn như bánh xe. Ta ngồi vào hoa, nguyện ta đã mãn”. Mọi người xem lại thì sư đã tịch. Bấy giờ, nhằm ngày hai mươi chín, tháng giêng, niên hiệu Đại Nghiệp thứ tám (612), hưởng thọ bảy mươi tám tuổi.
6.6.6.6. Đời Đường, Thích Thiện Trụ: Sư họ Hoài, người Doanh châu, trụ ở chùa Tịnh Ảnh, Tây Kinh. Sư thông minh, mau hiểu, rất giỏi luận bàn, cơ trí nhanh nhạy, ngôn từ sắc bén, khiến người kính phục, danh tiếng vang khắp.
Niên hiệu Nhân Thọ cuối cùng (604) sư đưa xá-lợi về nhập tháp tại chùa Hoa Lâm ở núi Ngưu Đầu, Tử châu. Khi trang hoàng xe rước xá-lợi vừa xong, đột nhiên xuất hiện con heo tám đầu ở dưới xe, đi theo đến nhà nghỉ, đuổi thì nó đi, nhưng rồi trở lại như cũ. Cứ thế, dần dần đi đến phủ quan, bỗng nhiên lại xuất hiện bốn con ong đen rất lớn, bay quanh xe nhiều vòng rồi bay đi. Khi đoàn rước xá-lợi đến phủ qụan thì đêm ây xá-lợi phóng ánh sáng chiếu thẳng lên nóc nhà giống như ánh lửa, trong khoảng bữa ăn mới hết. Lại khi đào nên tháp hơn một trượng ngay vị trí đặt chiếc hộp thì gặp một bình sứ không nắp, đựng nước thơm và trong, mọi ngươi bèn đặt bình nước vào hộp xá-lợi.
Tháp gồm chín tầng, góc tây nam của tầng thứ hai phóng ánh sáng chiếu thẳng lên tướng luân như năm hũ đá với màu vàng đỏ như lửa, giây lâu mới tắt. Lại ở trong chính điện, giữa chặng mày của tượng Phật Di-lặc cũng phóng ánh sáng màu tía, hai tượng bồ-tát cũng phóng ánh sáng màu đỏ, tỏa chiếu khắp tự viện. Trước sau bảy lần phóng ánh sáng, mọi người đều thấy. Tháng tám, niên hiệu Vũ Đức thứ ba (620) sư tịch ở chùa này, hưởng thọ bảy mươi mốt tuổi.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
06/11/2015
PUCL QUYỂN 25 - CHƯƠNG KIẾN GIẢI
QUYỂN 25 Quyển này có một chương Kiến giải. 17. CHƯƠNG KIẾN GIẢI 17.1. LỜI DẪN Tâm thức biến chuyển, đó là lí vô thường; ngộ mê trái nhau, bậc Thánh nào có dấu vết; lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ như vang theo tiếng. Đó chí...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 24 - CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP
QUYỂN 24 Quyển này tiếp theo chương Nghe pháp và giảng pháp. 16. CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP (tt) 16.5. PHÂN BIỆT CHỦNG Khi thăng tòa, trước tiên vị pháp sư phải lễ kính Tam bảo, lắng tâm, quan sát thời cơ và xác định...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ
QUYỂN 23 Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp. 14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn) 14.1. LỜI DẪN Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi;...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO
QUYỂN 22 Quyển này có một chương Nhập đạo. 13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO 13.1. LỜI DẪN Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN
QUYỂN 21 Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian. 10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN 10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo....
06/11/2015
PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ
QUYỂN 20 Quyển này có một chương Kính lễ. 9. CHƯƠNG KÍNH LỄ 9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 19 - CHƯƠNG KÍNH TĂNG
QUYỂN 19 Quyển này có một chương Kính tăng. 8. CHƯƠNG KÍNH TĂNG 8.1. LỜI DẪN Tăng bảo là những bậc trì giới cấm, giữ chân tính, oai nghi thoát tục. Họ cầu xuất thế mà phát tâm, lìa thế gian mà học đạo, không động lòng tr...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 18 Quyển này tiếp theo chương Kính pháp. 7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt) 7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉ...
