PUCL QUYỂN 14 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt)
06/11/2015
QUYỂN 14 Quyển này tiếp theo chương Kính Phật. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt) 6.4. CẢM ỨNG (tt) 6.4.16. Đời Tống, tượng vàng bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở đô thành: Niên hiệu Nguyên Gia thứ hai (425), Lưu Thức Chi tạc một tượng vàng...

QUYỂN 14
Quyển này tiếp theo chương Kính Phật.
6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT (tt)
6.4.17. Đời Tống, tượng đồng xuất hiện ở Đông Dương: Niên hiệu Nguyên Gia mười hai (435) đời Tống, Lưu Nguyên Chi người ở Trường Sơn, Đông Dương, gia đình làm nghề trồng trọt, lúc đốt cỏ ruộng thì lần nào cũng còn một đám cỏ không cháy. Nhiều lần như vậy, thấy lạ nhưng ông lại bỏ qua. Sau đó, ông thử đào chỗ ấy, thì được một tượng đồng dáng ngồi cao khoảng ba tấc. Tìm hiểu nguồn gốc của khu đất này, chẳng phải là đất do triều đình ban cấp cho quan chức, không thể biết tượng từ đâu đến.
6.4.18. Đời Tống, tượng vàng xuất hiện bên bờ sông: Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười bốn (437) đời Tống, có gia đình Tôn Ngạn Tằng nhiều đời thờ Phật. Người thiếp của ông là Vương Tuệ Xưng từ nhỏ đã có lòng kính ngưỡng Phật pháp, đến khi trưởng thành cô càng thêm kính tín và thường trì tụng kinh Pháp hoa.
Một hôm, cô chợt thấy ở bờ sông phát ra ánh sáng nhiều màu, liền nhờ người đào, đào khoảng hai thước thì được một tượng vàng có cả đài sen và viên quang, cao hai thước một tấc. Trên đài sen có dòng chữ: “Niên hiệu Kiến Vũ thứ nhất (304), nhằm năm Canh Tý, đạo nhân Pháp Tân và Tăng Hạnh ở chùa Ngõa Quan tạc”. Mọi người liền đánh bóng pho tượng này để tôn thờ.
6.4.19. Đời Tống, tượng vàng ở Thượng Minh, Giang Lăng: Tháng mười hai, niên hiệu Nguyên Gia mười lăm (438) đời Tống, Bình Tây tướng quân La Thuận đóng giữ ở Thượng Minh thả chim ưng đi săn ở đầm hoang. Mọi người thấy chim ưng, chim trĩ cùng rơi xuống, liền châm lửa đốt đồng cỏ để tìm, nhưng còn lại một vùng khoảng ba thước cỏ không cháy. La Thuận đến tìm chim ưng, thì gặp một tượng bồ-tát ngồi bàng vàng, tính cả đài cao một thước, rất tỉnh xảo. Huyện lịnh Định Tương cho răng tượng này do kẻ trộm cất giấu, nên ra cáo thị khăp vùng, nhưng không ai mất, ông liền thinh tượng vê thờ.
6.4.20. Đời Tống, tượng vẽ trên tường ở Kinh châu: Vệ quân Lâm Xuyên Khang vương, dựng điện ba gian trong thành Kinh châu để phụng thờ kinh tượng. Trên vách tường có vẽ nhiều hình tượng bồ-tát. Sau, Hành Dương Văn vương thay thế cai quản, ông sửa điện thờ làm phòng ngủ, dùng vôi vữa tô quét lại, nhưng khi vôi vữa khô thì bị tróc ra, hình vẽ hiện lại rõ ràng.
Ông lại tiếp tục tô quét, nhưng cũng vẫn như thế. Văn vương chẳng tin Phật pháp, nên nghĩ rằng chỉ là sự ngẫu nhiên. Ông lại sai người tô quét vôi vữa đậm đặc, nhưng sau đó tượng vẽ vẫn hiện ra rõ ràng. Vương lại ra lệnh phá vách tường cũ, sửa lại tất cả. Chẳng lâu sau, vương lâm bệnh, hễ vừa nhắm mắt là thấy có vô số tượng Phật hiện ra. Do vậy, vương không ở đó nữa, hiến cúng làm nơi giảng thuyết kinh pháp.
6.4.21. Đời Tống, tượng vàng ở Chi Giang, Giang Lăng: Trong khoảng niên hiệu Nguyên Gia (424*453) đời Tống, Trương Tăng Định ở Chi Giang, Giang Lãng có một cô em gái rất kính tin Phật pháp, lòng muốn xuất gia. Cô thường cúng dường một tượng Phật vàng nhỏ, để tô bồi phúc đức cho mai sau. Cha mẹ ép duyên, cô không chịu, nhưng cha mẹ cô đã âm thầm hứa gả cho nhả họ Bính, mà cô hoàn toàn không biết. Khi sính lễ mang đến, cô buồn khổ không chịu tiếp, lại đốt hương cầu nguyện rồi nằm trên đấtnguyện chết. Bấy giờ tượng Phật vàng bỗng nhiên phóng ánh sáng khắp làng. Cha và anh cô kinh ngạc, trước sự linh cảm ấy nên không ép gả nữa. Từ đó, hai nhà họ Trương và họ Bính rất kính tin Phật pháp. Tăng Định nhân đó xuất gia, nhà của ông được thừa tướng Nam Quận vương Trấn Thiểm xây dựng thành tinh xá.
6.4.22. Đời Tống, viên quang tượng Phật ở Tương châu: Niên hiệu Thái Thủy (465-471) đời Tống, Hà Kính Thúc ờ Đông Hải, từ nhỏ đã ngưỡng mộ Phật pháp. Nhân theo thứ sử Tương châu là Lưu Uẩn đi giám sát huyện, ông được một khúc gỗ chiên-đàn, bèn tạc tượng Phật, nhưng tượng không có hào quang sau đầu. Ông khổ công tìm gỗ chiên-đàn để làm, nhưng chẳng có, nên trong lòng thường nghĩ đến điều này.
Một hôm, ông mộng thấy vị sa-môn mặc y bá nạp, chống tích trượng đến bảo:
- Chiên-đàn thì không có, cây tạp thì không thể dùng. Tại nhà họ Hà trong huyện có tấm khiên bằng gỗ cây ngô đông, có thể dùng làm vòng hào quang; tuy họ quý tiếc nhưng cố mua thì sẽ được!
Thức dậy, ông hỏi người hầu cận, quả thật đúng như vậy. Ông đến cố xin mua. Họ Hà nói:
- Tấm khiên này tôi rất quý, vì sợ người khác cướp mất nên tôi chưa từng cho ai xem, vi sao ngài lại biết mà đến đây mua?
Kính Thúc kể lại, họ Hà nghe xong vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, dâng tấm khiên để làm vòng hào quang cho tượng. Sau, Kính Thúc làm quan ở Tương châu. Một hôm, ông đang trực tại nha phủ, nửa đêm mộng thấy tượng bảo: “Có chuột cắn ở chân ta!”. Sáng sớm ông vội đến xem, quả đúng như vậy.
6.4.23. Đời Tề, tượng đá ở Phiên Ngung': Niên hiệu Kiến Nguyên (479-482) đời Tề, tại tinh xá Tì-xá-li thuộc huyện Phiên Ngung có tượng đá của nước Phù-nam2, không rõ nguồn gốc. Tượng rất lớn và khác thường, bảy tám mươi người mới có thể nhấc lên được. Bấy giờ, chùa này có nhiều cỏ tranh nên khi gặp lửa liền cháy lan. Nhà thờ tượng ở dưới gió, lửa đã bén tới. Chúng ni khoảng hơn mười người chỉ biết nhìn nhau, không có cách gì dời tượng. Trong số đó có ba bốn người không ngăn được ý mình thử vào khiêng, thì tượng nhẹ nhàng nâng lên, giống như không có trọng lượng, thế là tượng dời được, còn nhà thì bị cháy.
Mỗi lần sắp có giặc cướp phá trong châu, thì tượng phóng quang và ngay sau đó chảy nước mắt, mồ hôi khắp thân. Người ở Lĩnh Nam xem đó là điềm báo trước, về sau, Thứ sử Quảng châu Lưu Tuấn dângbiểu đưa tượng đến kinh đô, hiện nay tượng an trí trong chùa Tưởng Châu.
6.4.24. Đời Tống, tượng vàng của Vương Trọng Đức: Đời Tống, thứ sử Từ châu là Vương Trọng Đức, tạc tượng Phật vàng cao một trượng tám tại chùa Tống Vương, Bành Thành. Tượng trang nghiêm tuyệt đẹp, là một tác phẩm tinh xảo của vùng Giang Tả. Bấy giờ, đất Bắc khởi binh, mang đến tai họa cho tăng, tượng liền đổ mồ hôi. Mồ hôi chảy nhiều hay ít thì nạn xảy ra lớn hay nhỏ, có thể đoán biết được. Người trong quận dựa vào đây để dự biết.
Đời Tề, niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (479), tượng lại đổ mồ hôi. Mùa đông năm ấy, quân Ngụy tiến chiếm vùng sông Hoài. Bấy giờ, vài quận ở Duyện châu khởi nghĩa theo Nam triều, họ buộc sa-môn phải tham gia chiến đấu. Tướng nhà Ngụy tiến chiếm thành này, muốn tiêu diệt hết chư tăng, nên lại tấu vua Ngụy vu khống chư tăng giúp bọn phản loạn, cần phải xử chém.
Bấy giờ, tượng đổ mồ hôi chảy ướt nền chính điện. Thứ sử Từ châu là Lương vương kính phụng Phật pháp, thành tâm đến chùa sai người dùng khăn vải bể lau khô, nhưng tượng vẫn không ngớt chảy mồ hôi. Đến vài mươi người giáp tay nhau lau liên tục, nhưng cũng không hết. Vương liền đốt hương lễ bái, cầm khăn khấn nguyện:
- Chúng tăng vô tội, con nguyện bảo hộ, nhất định không gặp họa. Nếu lòng thành có cảm thì lập tức lau được khô ráo.
Nguyện xong, vương đích thân lau, lau đến đâu khô đến đó. Vương tâu sự việc này lên vua, vua hạ chiếu thả chư tăng.
6.4.25. Đời Tề, tượng vàng Quán Thế Âm ở Dương Đô: Đời Tề, niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (479), Vương Diễm người Thái Nguyên lúc còn nhỏ thụ ngũ giới với pháp sư Hiền ở Giao Chỉ, hằng ngày thờ phụng tượng vàng Quán Thế Âm. Sau, ông thỉnh tượng về gửi tạỉ chùa Nam Giản ở Dương Đô.
Một hôm, ban ngày ông ngủ mộng thấy tượng đến đứng bên tòa. Vương Diễm cảm thấy lạ, lập tức đến thỉnh tượng trở về. Ngay đêm ấy, tại chùa Nam Giản kẻ trộm lấy cắp hơn mười tượng để đúc tiền đồng. Đến mùa thu niên hiệu Đại Minh thứ bảy (463) đời Tống, ban đêm, tượng phóng ánh sáng vàng rực, chiếu khoảng ba thước, mọi người đều nhìn thấy.
Sau, ông gửi tượng ở chùa Đa Bảo rồi đến Kinh Sở gần mười năm, không biết tượng ở đâu. Đến khi trở về Dương Đô, ông mộng thấy tượng hiện ra rõ ràng ở tại phía đông chính điện, cùng an trí chung với vài tượng khác. Sáng sớm, ông đến chùa thì gặp được tượng, tức nhằm ngày mười ba tháng bảy niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất.
Bài tựa Minh tường ký của Vương Diễm ghi: “Tôi thường cúng dường tượng này, mong mãi mãi làm phương tiện cứu giúp cho mọi người. Thuật lại việc này lòng thật vô cùng cảm khái. Dựa theo việc đã được chứng nghiệm, tôi xâu kết, ghi chép lại thành tập sách này. Phàm cảnh gần gũi tâm không gì bằng tôn tượng; điềm lành ứng nghiệm phần lớn do tự chính mình. Kinh ghi: ‘Các loại tượng tạc, đúc, vẽ, thêu... đều có thể di chuyển và phóng ánh sáng’. Tượng Thích-ca và Di-lặc ở Tây Vực phóng ánh sáng, đi, nói năng như người thật, có lẽ hợp với tướng chân thật chăng?”
Ngày nay khắp Trung Quốc mô phỏng theo thánh tượng mà đúc tạo rất nhiều, quần sinh nhân gặp mà cảm được sự tỉnh ứng, hoặc là từ tượng gỗ, đá... mà hiển bày linh dị. Nhưng không nhất thiết là do tượng có dung mạo đẹp mới được như thế. Cho nên, tượng đá nổi chìm chính là để giáo hóa Mân, Ngô; tượng vàng đổ mồ hôi, thật chỉ rõ họa cho Bành,Tống.
Còn nhiều việc linh ứng ở khắp nơi, tuy khó có thể nói rõ, nhưng đại khái cũng đủ để tin theo. Đến như sự linh nghiệm của kinh tháp, minh chứng cũng giống như thế. Sự việc cần phải xuyên suốt, nên cần chép tiếp phần sau.
6.4.26. Đời Lương, tượng chiên-đàn ở Kinh châu: Đời Lương, ngày tám tháng giêng niên hiệu Thiên Giám thứ nhất (502), Cao Tô Vũ đế mộng thấy tượng gỗ chiên-đàn vào cõi nước, nhân đó vua hạ lệnh tìm người đi nghinh đón. Căn cứ Phật du Thiên Trúc kí và kinh ưu-điên vương bản hai quyển ghi: “Có một mùa an cư, Phật lên cung trời Đao-lợi thuyết pháp cho mẹ. Vua và quần thần nhớ mong, muốn gặp Phật, nên Ưu-điền tuyển ba mươi hai người thợ giỏi và cấp gỗ chiên-đàn, thỉnh ngài Đại Mục-kiền-liên vận thần lực đưa họ đến cõi trời vẽ hình Phật. Hình Phật vẽ xong, họ trở về tạc tượng rồi an trí trên tòa cao năm thước tại chùa Kì-hoàn phụng thờ tượng đến nay”.
Vũ đế muốn thỉnh tượng này, nên sai tám mươi người như Quyết Thắng tướng quân Hác Khiên, Tạ Văn Hoa... đến Xá-vệ, dâng sớ xin thỉnh tượng. Vua nước Xá Vệ nói:
- Đây là tượng chính của Trung Thiên Trúc không thể chuyển đến biên địa.
Vua liền lệnh ba mươi hai người thợ, tạc lại bàng gỗ tử đàn giống như tượng đó, bắt đầu làm từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì xong. Tượng có đầy đủ tướng hảo, trên đỉnh lại phóng ánh sáng, lúc ấy trời mưa nhẹ và có hương lạ.
Vì thế, kinh Ưu-điền vương có ghi: “Chân thân Phật đã ẩn, nhưng thánh tượng thứ hai xuất hiện, làm lợi lạc cho khắp cả chúng sinh”, chính là việc này
Đoàn thỉnh tượng như Hác Khiên ... đưa tượng thứ hai đi mấy vạn dặm, trải qua đủ mọi gian nguy không thể kể hết, nào là vượt qua biển lớn, bất chấpsóng gió, trèo non, lội suối, lương thực cạn dần... số người đi thỉnh và người từ Thiên Trúc hộ tống phần lớn đã bỏ thân. Một hôm, đoàn người gặp phải thú dữ, mọi người nhất tâm niệm Phật. Bỗng nghe phía sau tượng có tiếng giáp trụ, lại nghe tiếng chuông và thấy bên núi có vị tăng ngồi ngay ngắn dưới gốc cây. Hác Khiên mang tượng đặt trước vị tăng. Vị tăng đứng dậy lễ tượng. Khiên cùng mọi người đỉnh lễ vị tăng. Vị tăng trao bình nước bảo uống, mọi người uống vào cảm thấy no đủ.
Vị tăng nói:
- Tượng này tên là Tam-miệu tam-phật-đà Kim-tì-la Vương, từ nay tượng đến nơi ấy làm Phật sự lớn.
Lát sau vị tăng biến mất. Đêm ấy, mọi người đều mộng thấy vị thần, đến sáng, họ liền vẽ lại hình thần.
Ngày năm tháng tư, niên hiệu Thiên Giám thứ mười (511), đoàn thỉnh tượng về đến Dương đô. Vua cùng các quan vượt bốn mươi dặm để đón tượng về điện Thái Cực. Vua thiết trai cho độ người xuất gia, đại xá thiên hạ, dừng việc giết hại, gác bỏ cung, tên, giáo mác... làm hoa sen trên đỉnh tháp. Từ đó, vua ăn chay, tiết dục.
Đến tháng năm niên hiệu Thái Thanh thứ ba (549), vua qua đời. Tương Đông vương ở Giang Lăng nối ngôi, đổi niên hiệu là Thừa Thánh, sai người đến Dương đô đón tượng về kinh đô, vua đến cúng dường tượng ở điện Thừa Quang. Vào niên hiệu Đại Địnhthứ tám (562) đời Hậu Lương, vua cho xây dựng chùa Đại Minh ở Tĩnh lăng, phía bắc kinh thành, rồi thỉnh tượng về an trí tại đó. Đến nay tượng vẫn còn và được vẽ lại nhiều bản kính thờ ở kinh đô.
6.4.27. Đời Lương, tượng vàng chùa Quang Trạch ở Dương Đô: Đời Lương, niên hiệu Thiên Giám thứ nhất (502), Lương Vũ đế xây chùa Quang Trạch tại quê nhà và tạc tượng vàng cao một trượng tám. Khuôn mẫu đã tạo thành, không sai một mảy may. Lúc sắp đúc tượng, mọi người lo không đủ đồng, vừa muốn tâu vua, bỗng có sứ giả chuyển mười lăm xe đồng đến bảo:
- Tôi phụng lệnh vua, chở đồng đến chùa.
Tượng đúc một lần thì thành tựu hoàn hảo, nghi dung, sắc tướng hơn hẳn các tượng trong nước. Nhưng mọi người cảm thấy tượng quá cao lớn. Đo lại, quả nhiên tượng cao hai trượng hai. Họ viết sớ tâu lên vua
- Tượng đã đúc xong, không thay đổi khuôn mẫu, số đồng do vua đưa đến bổ sung đều dùng hết, đo lại thì tượng tăng thêm bốn thước.
Vua ban sắc:
- Trẫm hoàn toàn không đưa đồng đến, sao lại có chuyện này? Há chẳng phải Phật thân ứng cảm, biểu hiện thần diệu ư! Nên khắc vào đài tượng để ghi lại sự linh ứng ấy.
Họ bèn soạn văn khắc vào đế tượng, đến nay vẫn còn.
Lương Vũ đế xây dựng chùa Đại Ái Kính ở Chung Sơn để hồi hướng công đức cho cha. Đại tượng ở chính điện hiển hiện thần tướng như đã nêu, lại được trình bày đầy đủ trong Biệt kí nên không ghi chép lại.
Đời Lương, có rất nhiều tượng Phật hiện tướng thần diệu, như tượng đá lớn ở huyện Diệm. Tượng này vốn do vua A-dục tạo, xuất hiện vào đầu đời Tống. Đầu tiên có thiền sư Đàm Quang từ phương bắc đến. Ngài đi qua nhiều vùng sông núi, tìm chốn thanh vắng làm nơi dừng chân tu hành. Ngài thấy núi này cao vút hùng vĩ, liền dựng một am cỏ trên đỉnh núi, bỗng nghe tiếng nhạc trời và từ trên không trung có tiếng nói:
- Đây là đất Phật, làm gì có rau cỏ?
Nghe vậy, ngài dời sang phía nam đến Thiên Thai. Sau, ngài tạc tượng Phật, trải qua nhiều năm tháng mà không thành. Đến đời Lương, Kiến An vương lâm bệnh, ông được báo mộng là phải đến khai tượng đá ở huyện Diệm mới hết bệnh. Vương thỉnh luật sư Tăng Hựu cùng đi. Khi đến thấy tượng cũng qui mô và hợp hình chế, nhưng quá đơn sơ, nên ngài cứ suy nghĩ mãi. Đêm ấy, bỗng nhiên núi lở, tượng Phật hiện ra, mà từ cổ đến chân vẫn còn trong đá. Mọingười đục bỏ toàn bộ lớp đá phủ, tượng hiện rõ hình tướng đầy đủ.
Đây chính là chân tượng ẩn trong đá, nhờ thợ đục ra mà được hiển lộ. Xá nhân Lưu Hiệp của Lương thái tử khắc bia dựng trước tượng.
6.4.28. Đời Lương, hai tượng Phật của Cao tô: Sau khi Lương Vũ đế lên ngôi, ông rất tôn sùng Phật giáo, phế bỏ đạo Lão. Vua thường mời cao tăng luận đàm yếu chỉ sâu xa của Phật pháp, lại tạc hai tượng Phật bằng vàng và bạc an trí tại Trùng Vân điện, ngày đêm lễ bái trải qua năm mươi năm. Đông qua hạ lại, sáu thời tu tập không bỏ sót, đến độ phiến đá vua đứng để lễ lạy in hình mười ngón chân. Vận nước suy, cuối cùng bị Hầu Cảnh soán ngôi. Hai tôn tượng vẫn còn lưu lại để cúng dường.
Sau đó, thái úy Vương Tăng Biện giết Hầu Cảnh, cho sửa lại cấm thành. Lúc Nguyên Đế bị hại ở Giang Lăng, đất Giang Nam bấy giờ không có chủ. Vương Tăng Biện thông giao với nước Tề, đón Trinh Dương hầu Tiêu Uyên Minh làm vua. Bấy giờ, vùng Giang Tả chưa yên định, các bên vẫn còn tranh hùng. Biện sai con rể Đỗ Khám chỉ huy đội quân canh giữ cửa cung. Đỗ Khám tính hung bạo, ngang tàng, chẳng biết hậu quả, nên muốn hủy hai tượng để lấy vàng. Đầu tiên, Khám lệnh vài mươi người lên gác Tam Hưu đục cổ tượng, họ vừa cầm búa đục thì hai tượng cùng lúc quay mặt nhìn, tay của những kẻ phá tượng như muốn rơi rụng, không thể đưa lên lại, không nói được, như người say.
Đỗ Khám cũng bị như vậy, lâu sau mới tỉnh, lại còn bị đánh đập, toàn thân thâm tím. Nhưng ông không thấy người, chỉ nhìn thấy cái chày đáng sợ của lực sĩ Kim Cang dồn dập giáng xuống. Đỗ Khám đau đớn rên rỉ, thân hình tả tơi, máu mủ chảy lênh láng, da thịt nát tan, xương lộ mà chết. Sự việc này xảy ra gần đây, tăng và tục đều biết.
6.4.29. Đời Nguyên Ngụy, tượng Quán Thế Âm ở Định Châu: Vào khoảng niên hiệu Thiên Bình (534-537) đời Nguyên Ngụy3, có Tôn Kính Đức ở Định châu là lính trân giữ biên thùy phía bắc. Ông tạc tượng vàng Quan Âm để kính thờ, khi mãn hạn quân dịch, ông cũng mang theo tượng trở vê và thường thành tâm lễ bái. Sau, ông bị giặc cướp đổ tội nên bị bắt giam vào ngục ở kinh đô. Vì không chịu nổi sự tra tấn, nên ông nhận càn tội lỗi, do đó bị ghép tội tử hình, sáng mai sẽ xử chém. Đêm ấy, ông lễ bái sám hối, rơi lệ như mưa, nguyện rằng: “Nay con bị oan ức, chính là do quá khứ con đã gây oan ức cho người, xin trả nợ xong, thệ không lặp lại nữa”.
Ông còn phát nguyện lớn nữa. Nguyện xong, lát sau ông thiếp đi, mộng thấy một sa-môn dạy ông tụngkinhQuan Thế Âm cứu sinh trong kinh có danh hiệuPhật, bảo tụng một nghìn lần danh hiệu Phật sẽ thoát được nạn khổ. Kính Đức chợt tỉnh, ngồi xuống niệm Phật không một chút sai sót, đến sáng đã được một trăm lần. Bấy giờ, quan binh bắt trói dẫn đến chợ, ông vừa đi vừa tụng. Đến lúc sắp hành hình thì đã tụng đủ nghìn lần, khi đao chém xuống liền gãy làm ba đoạn, mà ông không bị tổn thương. Đao phủ ba lần thay dao mà vẫn bị gãy. Quan giám trảm và mọi người đều kinh ngạc, tâu lên quan trên. Thừa tướng Cao Hoan dâng sớ miễn hình, Kính Đức thoát chết.
Nhân đó, vua lệnh chép kinh này lưu truyền ở đời. Hiện nay gọi là kinh Cao Vương Quán Thế Âm. Tôn Kính Đức được thả, trở về thiết trai tạ ân, đến thỉnh tượng thì thấy cổ của tượng có ba lằn như vết dao. Người trong làng đồng chứng kiến, ca ngợi sự cảm ứng. Chuyện này được ghi lại trong Tề chí kí, Tinh dị kỉ.
6.4.30. Điện Trùng Vân và tượng bay ra biển: Sau khi Trần Vũ đế băng, người anh là Tử Thiến lên ngôi, muốn làm xe Uẩn lương5 để đưa em đi an táng, nhưng vì mới dựng nước nên chưa có sẵn. Xưa, Lương Vũ đế xây dựng điện Trùng Vân, kinh điển, tượng Phật đều được trang trí châu báu rực rỡ. Mặcdầu vận nước đã chuyển qua nhà Trần, nhưng điện và tượng vẫn còn. Tử Thiến muốn lấy châu ngọc trên tấm rèm ở điện để trang trí xe tang.
Mọi người đã tập trung bốn phía, nhưng chỉ thấy mây mù giăng quanh điện Phật, còn những nơi khác thì vẫn trong sáng, không bị mây che. Thấy lạ, mọi người tranh nhau đến xem. Lát sau, trời đổ mưa lớn, sấm sét vang rền, khói phun ra từ si vẫn6, lửa rực cháy trong mây, ánh sáng bay lượn lúc cao lúc thấp. Bỗng nhiên mọi người thấy điện Trùng Vân với hai tượng đối nhau cùng với bốn bộ thần vương và bảo tòa đồng thời vọt lên, khói và lửa nâng tượng bất chợt bay xa. Chứng kiến như thế, cả nước đều kính tin. Sau khi mưa tạnh, điện Trùng Vân chỉ còn trơ lại nền móng.
Hơn một tháng sau, có người từ Đông châu đến nói:
- Vào ngày ấy, tôi thấy điện và tượng bay trên hư không ra biển. Nay thỉnh thoảng nhìn ra biển vẫn nhìn thấy điện và tượng.
6.4.31. Đời Chu, tượng đá chùa Linh Thạch ở Tàn châu: Vào cuối đời Bắc Tề (550-577), sa-môn Tăng Hộ ở chùa Linh Thạch, Tấn châu chuyên tâm tu đạo, không cầu tuệ nghiệp chỉ nguyện tạc tượng đá cao một trượng tám. Tăng chúng
đều ngạc nhiên bởilời khoa trương ấy. Sau, trong cốc ở phía bắc chùa có tảng đá dài khoảng trượng tám, sư thuê thợ tạc tượng Phật.
Trải qua một tuần, phần mặt và bụng của tượng đã tạm xong, nhưng lưng vẫn còn nằm dưới đất, sư dùng đủ mọi cách nâng tượng lên mà không được. Qua một đêm, sáng sớm thấy tượng tự lật lại, sư vui mừng cho người đến tạc, rồi dời tượng về Phật đường.
Vào ngày Tấn châu bị đánh chiếm, tượng đổ mồ hôi chảy xuống đất. Quân nhà Chu tràn vào, trước tiên đốt chùa tháp, tượng này cũng bị đốt, nhưng không hề đổi sắc, chỉ bị nứt hai ngón tay. Sau, họ muốn xô ngã tượng, dùng khoảng sáu mươi người và trâu kéo mà vẫn không đổ. Bỗng nhiên có vị tăng lạ, không ai quen biết, dùng ngói, cây, đất... đắp quanh tượng, làm một lát thì xong và vị tăng cũng biến mất. Sau, tượng báo mộng cho một người có tín tâm, nói:
- Ta bị đau tay!
Người đó thức dậy, hiểu được bèn sửa lại tay tượng.
Nhà Tùy lên ngôi, khôi phục Phật giáo như xưa. Vào niên hiệu Khai Hoàng mười lăm (595), kè trộm lẻn vào lấy phan và lọng. Lúc ngủ, mộng thấy người cao một trượng tám vào phòng khiển trách, tên trộm hổ thẹn, sợ hãi mang trả lại. Nay tượng vẫn còn.
6.4.32. Đời Chu, tượng đá ở Nghi châu: Niên hiệu Kiến Đức thứ ba (574), Chu Vũ vương hiềm nghi Phật pháp, quyết ý tiêu diệt, khiến đất nước lâm vào cảnh tăm tối.
Bấy giờ, đốc sự Khương Minh ở Minh châu, ban đêm đi tuần thường thấy trên núi cách châu hơn một trăm dặm về hướng bắc có ánh sáng. Lấy làm lạ, ông đến đó xem, thì thấy một tảng đá nằm, giống như pho tượng, bèn khai quật, nhưng gặp phải quặng sắt, không thể đục được. Khối đá này cao khoảng ba trượng, ông muốn mài bóng, nhưng không sao chạm vào được; lại tìm ở phía dưới, thấy một đế tượng bằng đá có sẵn các lỗ để gắn tượng, ông cùng người trong thôn kéo đưa lên, bỗng nhiên tượng từ trên hạ xuống, lắp khớp với lỗ đế, đứng vững. Mọi người cho là điềm lành, dâng sớ tâu trình. Bấy giờ là tháng mười một niên hiệu Đại Thành (579), Tĩnh đế kế vị, Phật pháp xương minh. Vua đổi niên hiệu thành Đại Tượng thứ nhất. Nơi tượng xuất hiện cho xây chùa Đại Tượng.
Đến khi nhà Tùy dựng nước, xây dựng lại di tích này, đồi thành chùa Hiển Tế. Tìm hiểu thì biết nơi ấy không có người qua lại, cũng không có tảng đá lớn và quặng sắt. Há chẳng phải sức thần của tượng do vua A-dục tạo ứng hiện sao?
Đời Đường cũng không đổi tên chùa. Khoảng cuối niên hiệu Trinh Quán (627-649), vua xây cung điện ở phía tây chùa, đặt tên là cung Ngọc Hoa. Tượng vẫn an trí tại chỗ cũ ở trong vườn cách cung về hướng đông ba mươi dặm. Thái Tông thường đến lễ bái, nhưng thấy tượng chưa được rực rỡ, nên cúng dường bảo vật để trang nghiêm.
Vào khoảng niên hiệu Vĩnh Huy (650-655), vua lại đổi cung thành chùa, lấy tên cung làm tên chùa, nay thuộc Phường châu. Đêm tối, đạo tục thường thấy tượng phát ánh sáng lành, nên chẳng ngớt lời ca tụng.
6.4.33. Đời Chu, tượng ở chùa Hoa Nghiêm núi Hiện, Tương châu: Xưa nay không ai biết được nguồn gốc của tượng gỗ này, diện mạo của tượng tuyệt đẹp, người xem không biết chán. Tượng cao khoảng năm trượng, ngày xưa tượng đã ứng nghiệm chứ không chỉ ngày nay, việc ấy chẳng thể kể hết.
Khi nhà Chu phá diệt Phật pháp, người ta giấu đầu tượng. Đến niên hiệu Khai Hoàng (581-587) đời Tùy, Phật pháp phát triển, mọi người mới đem đầu tượng tôn trí như trước và xem như thánh tượng, kinh gọi là Phật Lô-xá-na. Hằng năm mọi người đến tượng để cầu phúc và làm chỗ nương tựa. Khi Tùy Văn đế sắp băng, hai mũi tượng chảy nước xuống bụng, lớp mạ vàng tróc ra, thấy nước mũi có ánh sáng, lau thì không thấy dơ, nhưng nhìn thì giống nước mũi.
Tháng tư niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi ba (649), nước mũi lại chảy ra liên tục, lan ra vùng bụng chu vi chừng một thước, nhưng không ai đoán đượcđiều gì xảy ra. Sau Thái Tông băng, mới biết đó là điềm báo trước.
Đến tháng sáu, nước mũi lại chảy, người ở Hiệp châu đều sợ hãi, không biết là họa gì. Đến tháng bảy, nước sông Hán dâng cao, tràn vào thành, ngập sâu hơn một trượng, rất nhiều người chết.
Ngày nay tại chùa này vẫn còn nhiều người đến cầu nguyện. Quan dân ở Tương Dương, những người không con thừa kế đều đến cầu khấn, tùy theo tâm nguyện hoặc mong con trai, con gái đều có cảm ứng.
6.4.34. Đời Tùy, tượng Phật ở chùa Hưng Hoàng, Tương châu: Đời Tùy, niên hiệu Khai Hoàng (581-600), chính điện chùa Hưng Hoàng ở Tương châu bị cháy. Lúc ấy, ngay dưới đòn dông có an trí tượng Phật lớn bằng đồng và hai tượng bồ-tát hướng về nam, kiểu tượng do Đới Ngung tạc. Bấy giờ, lửa cháy hừng hực, mọi người hết cách cứu chữa. Chỉ biết đứng nhìn thở than tiếc nuối, vì sợ tượng tan chảy.
Bỗng nhiên thấy tượng dời qua phía nam một bước, đòn dông liền đổ xuống, tượng được an toàn. Bốn bề gạch, ngói, than gỗ rơi cách thân tượng hơn năm sáu thước. Tuy bị đốt mà sắc tượng không biến đổi, dưới đài tượng có dòng chữ ghi dự đoán việc này. Mọi người đều vui mừng ca tụng khắp nơi.
Hiện nay tượng chuyển đến chùa Bạch Mã, chim chóc chẳng dám đến đậu phá. Niên hiệu Vĩnh Huy thứ hai (661), kẻ trộm muốn lấy tưọng đồng, cưa song cửasổ sắp mang tượng ra, thì cổ tay bị chẹt không thể thoát được. Đến sáng vị tăng đến hỏi, kẻ trộm nói:
- Có một người mặc áo trắng trong phòng này nắm tay, nên tôi không thể trốn!
6.4.35. Đời Tùy, ảnh tượng ở chùa Nhật Nghiêm: Ảnh tượng nằm trong khối đá thạch anh tía tám cạnh trong suốt, cao tám tấc, đường kính năm tấc. Xưa, vào khoảng niên hiệu Thái Thanh (547-549) đời Lương, có vị tăng từ Tây Vực mang khối đá có ảnh Phật đến Trung Hoa, thì gặp lúc Hầu Cảnh làm loạn, nên đặt tượng này trên đầu tượng ở chùa Tây Lâm, Lô sơn, Giang châu. Đến niên hiệu Khai Hoàng thứ mười (590) đời Tùy, khi Dạng Đế còn trấn thủ ở Dương Việt, ông thích sưu tầm những điều hay lạ, nên những tư liệu thuộc vùng Giang Biểu ông đều thâu thập. Trong số đó có chuyện về bức tượng, ông liền sai xá nhân Vương Diên Thọ đến chùa tìm thì thỉnh được tượng về. Từ lúc làm Tấn vương đến nay, mỗi lần đi đâu, ông đều đặt tượng trong hộp màu đen, rồi sai người ngồi trên ngựa bưng đi trước. Đến lúc làm thái tử, ông đưa tượng vào chùa Nhật Nghiêm ở Khúc Trì do ông xây dựng. Sau đó ông mời các vị có trách nhiệm đến kiểm tra rồi niêm phong, không để người ngoài nhìn thấy.
Đến cuối niên hiệu Đại Nghiệp (616), thiên hạ bàn tán xôn xao về ảnh tượng này, tăng chúng ở kinh đô thường đến chiêm ngưỡng. Tôi có đến chùa, lúcđầu cũng chưa tin, chỉ vài lần thấy trong khối đá phát ra ánh sáng vàng rực rỡ, có hình dạng
giống như tượng Phật. Song lại nghe những vị tăng có phẩm hạnh nói đến chuyện này chẳng đồng, nhưng đa phẩn đều nói thấy mắt, mặt, tướng trạng rất rõ ràng.
Tôi buồn vì không thấy được, bèn khiết trai sám hối bảy ngày, rồi đến xem thì thấy tháp bạc, sau lại xem tiếp thì thấy có Phật màu bạc. Tăng tục thấy chẳng giống nhau: hoặc thấy tháp Phật, bồ-tát; hoặc thấy chúng tăng ngồi thành hàng, hoặc thấy tràng phan lọng hoa, hoặc thấy tám bộ chúng, hoặc thấy tướng khổ của ba đường, hoặc thấy sự sinh tử trong bảy đời, trong một lúc lại thấy ảnh tượng hoặc yên định hoặc biến đổi. Tuy các tướng thiện ác xen nhau biến hiện, nhưng hiện tướng lành nhiều hơn. Cho nên nhiều người đến cầu xin đều phát nguyện. Như muốn biết kiếp trước thụ thân gì? Ở đâu?... tất cả đều như lời nguyện mà hiện ra. có người nhân đây khởi lòng tin Phật pháp, vì thấy gương nghiệp nơi chốn địa ngục.
Tháng bảy, niên hiệu Trinh Quán thứ sáu (632), vua hạ lệnh nghinh đón tượng vào nội cung cúng dường.
6.436. Đời Tùy, tượng Phật ở chùa thuộc huyện Sa Hà, Hình châu: Vào đời Tùy Văn đế, có người vào núi thấy vị tăng giữ một tượng Phật đồng cao hơn ba thước, ông xin thỉnh, vị tăng đồng ý rồi biến mất.
Mọi người khắp nơi nghe tin, tấp nập kéo đến thỉnh tượng, nhưng nhấc không lên. Chỉ có vị tăng ở chùa Sa Hà thỉnh được đưa về chùa.
Sau đó, có người ở cạnh chùa nhặt được một thỏi vàng, trên có khắc hình chim quạ và ghi: “Nên thếp toàn thân Phật”, người này liền dâng lên để thếp tượng. Thiếp xong, toàn thân tượng xuất hiện hình chim quạ. Sau, tượng bỗng biến mất, nhưng vài lần thấy ánh sáng phát ra từ hồ nước bên cạnh chùa, đến tìm thì hồ nước bỗng cạn và tượng lại xuất hiện. Hậu Chủ nhà Tùy biết được bèn sai thợ phỏng theo đó mà đúc tượng, qua hơn hai trăm ngày mới xong, nhưng tượng vẫn khiếm khuyết. Cuối cùng không thành nên phải bỏ.
6.4.37. Đời Tùy, sư Pháp Khánh ở chùa Ngưng Quán: Niên hiệu Khai Hoàng thứ ba (583) sư tạo một tượng Phật Thích-ca đứng bằng vải bố, cao một trượng sáu. Chưa xong tượng, sư đã tịch. Ngay trong ngày sư mất, ở chùa Bảo Xương sư Đại Trí cũng tịch. Ba ngày sau, Đại Trí sống lại kể:
- Trước vua Diêm-la, ta thấy sư Pháp Khánh sắc mặt rất buồn, lát sau lai thấy tượng Phật đến trước vua Diêm-la, vua vội vàng xuống bệ chắp tay kính lễ tượng. Tượng bảo:
- Pháp Khánh tạo Ta vẫn còn chưa xong, vì sao bắt sư phải chết?
Vua quay lại gọi một người đến và hỏi:
Pháp Khánh đã đến sế chết chưa?
Sư chưa tới số chết, nhưng lương thực đẵ hết.
Vua nói:
Cho người này ăn lá sen để làm phúc nghiệp đến trọn đời.
Lát sau chẳng thấy sư đâu nữa.
Đại Trí sống lại, nói điều này với chư tăng trong chùa và bảo đến chùa Ngưng Quán để xem. Mọi người đồng đến, chốc lát thì thấy sư sống lại và kể giống như Đại Trí. Từ đố sự thường ăn lá sen, luôn cho là ngon và không thể ăn được những vị khác. Mấy năm sau khi tạo tượng hoàn thành thì sư mất. Tượng ấy tuyệt đẹp, đủ đầy dung nghi sắc tướng và nhiều lần phóng ánh sáng. Chùa ấy tuy bị hư hoại, nhưng tượng hiện nay vẫn còn.
6.438. Đời Đường, Hác Tích ở Phương châu: Khoảng niên hiệu Vũ Đức (618-626), đời Đường, ở Phương châu có Hác Tích kính tin Tam bảo, ông thường thấy bầy nai hay qua lại trên một vùng núi. Lấy làm lạ, ông đến đào chỗ ấy thì được một tượng đá cao khoảng một trượng bốn thước, liền thỉnh về làng. Tượng ấy đến này vẫn còn. Từ lúc tượng được mang đi, đàn nai cũng không đến đó nữa. Các người già truyền lại rằng: “Có bốn mươi pho tượng được lưu lại từ thời Phật Ca-diếp, nay có hai pho đã xuất hiệ* số còn lạỉ ẩn trong núi”.
Tượng có chất liệu như ngọc ngày nay, lại cứng giống tượng sắt ở Hoa Đông7, không thể đục sửa.
6.4.39. Đời Đường, phiến đá ở núi Lương châu: Khoảng tháng chín niên hiệu Trinh Quán thứ mười bảy (643) đời Đường, đô đốc Lương châu là Lí Tập Dự nhân đi tuần tra đến huyện Xương Tuyền phía đông nam của châu này, thấy một đoạn văn trên phiến đá gồm một trăm mười chữ, như chữ: thất Phật, bát bồ-tát, thượng quả, Phật điền... ông liền dâng sớ tâu trình. Vua cho kiểm tra lại thấy đúng, nên hạ chiếu miễn tô thuế và sưu dịch cho Lương châu trong một năm, kẻ có tội cũng được tha.
6.4.40. Đời Đường, dấu chân Phật ở chùa Tương Tư, Phù châu: Đời Đường, ở Thạch Sơn phía bắc chùa Tương Tư, cách Du châu một trăm dặm về phía tây có mười hai dấu chân Phật đều dài khoảng ba thước, rộng một thước mốt, sâu chín tấc, bên trong có hoa văn hình vảy cá. Cách điện Phật về phía bắc hơn mười bước, có vị tăng ở đây.
Đến tháng mười niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi (646), bỗng nhiên trong dòng suối cạnh chùa xuất hiện hoa sen hồng, có đầy đủ tua và đài, lớn khoảng ba thước, cánh hoa khép lại. Khi nâng hoa lên khỏi mặt nước thi hoa ủ rũ, đặt hoa xuống nước thì lại tươi đẹp, cả tháng mà chẳng úa tàn. Người đi thuyềnqua lại không ngớt lời ca ngợi, nhân đó mà đật tên chùa là Tương Tư.
Có thuyết nói ở Phù châu cũng có chùa Tương Tư. Do chùa nghèo khó, nên cảm hiện để tạo phúc. Đến nay chùa vẫn thường đầy đủ.
Xưa ở phía đông thành Kinh châu, Nam Tề, giếng nước trong cung bỗng hiện ra gấm lụa, mọi người lấy mặc, giống hệt như gấm của loài người, trải qua một tháng thì hết. Cho nên, hoa xuất hiện cũng không có gì là kì lạ.
6.4.41. Đời Đường, dấu chân Phật ở Tuần châu: Vào đời Đường, ở phía bắc chùa Linh Khám, huyện Hưng Ninh thuộc đông bắc Tuần châu có ba mươi dấu chân Phật in trên đá, dấu chân lớn nhất khoảng năm thước. Tuần châu là một khu vực rộng, chiều đông tây dài hai trăm dặm, chiều nam bắc một trăm dặm. Gần chùa có một kho đồng, bề mặt ba thước, lượng đồng hơn một trăm mâm đồng hợp lại. Trên đó có bài minh ghi: “Tăng được thì phúc đến, tục được sẽ mang họa”.
Người già truyền rằng: Đời Tấn, có vị tăng ẩn tu trong núi này, sư thường lên các đỉnh núi lớn, đến chỗ có dấu chân Phật, gặp một hang đá rộng có hoa quả tươi tốt, định ở lại đó nghỉ qua đêm.
Thần núi lo sợ, đứng sừng sững nói:
- Nơi đây ngài không thể ở, vì có bầy quỉ trong núi thường đến!
Vị tăng nhìn đỉnh núi phía trước cao vút tận mây, như che cả mặt trời, muốn đến đó, nhưng nhìn xuống vách núi sâu thăm thẳm không thể đi được, nên trở về Hưng Ninh kể lại chuyện này.
Đến đời Tống, hai vị tăng nối bước người trước, quyết lòng tìm đến đó. Hai vị tăng tụng kinh Pháp hoa, giới hạnh trong sạch, nên hàng phục được quỷ thần khiến chúng cùng quyến thuộc hiện hình xin thụ giới. Nhìn vách núi phía trước thấy có ánh sáng rực rỡ, cách khoảng một trượng, phía trên và phía dưới đều chẳng thể đi qua, hai vị tăng liền dùng cây bắc cầu, qua xem thì thấy mười dấu chân kì diệu hiện trên đá, màu sắc như dấu chân người.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ ba (629), lại phát hiện thêm một dấu chân Phật. Dấu chân này phóng ánh sáng, đầy đủ luân tướng8. Người xem phần lớn nhìn thấy chẳng giống nhau, nhân đó họ đặt vào khám thờ để bảo vệ điều linh dị này.
Khi tìm hiểu nguồn gốc vùng đất có dấu chân này, thì biết vào đời Tống, một vương gia đã cúng vườn để làm chùa, đến nay nhà xưa vẫn còn.
6.4.42. Đời Đường, Lý Đại An ở Lũng Tầy: Đại An là anh của Công bộ Thượng thư Lí Đại Lượng. Khoảng niên hiệu Vũ Đức (618-626), Đại Lượng nhận chức Tổng quản Việt châu. Một hôm, Đại An từ kinhthành trở về quê thăm nhà, Đại Lượng sai mấy người hầu đi theo anh. Khi đến Lộc Kiều, Cốc châu đoàn người nghỉ đêm ở nhà trọ thì có người hầu âm mưu giết Đại An. Đợi quá nửa đêm, Đại An ngủ say, hắn lẻn vào dùng kiếm nhỏ đâm xuyên qua cổ Đại An, kiếm dính xuống giường, nên hắn không thể rút kiếm ra mà chạy. Đại An kinh hoàng gọi người hầu, những người hầu khác chạy đến muốn rút dao. Đại An nói: “Rút dao thì ta chết. Hãy đưa giấy bút cho ta viết thư”. Lúc ấy, quan huyện cũng vừa đến. Do rút kiếm, rửa vết thương và đắp thuốc nên Đại An hôn mê. Trong lúc mê ngất, Đại An thấy một vật dài hơn một thước, bề rộng và bề dày khoảng bốn năm tấc hình như con heo, cách đất khoảng hai thước, từ cửa đi đến trước giường và nói:
- Mau trả thịt heo cho tôi!
Đại An nói:
- Tôi không ăn thịt heo, cớ gì lại thiếu nợ thịt heo của ông?
Lại nghe ngoài cửa có tiếng nói:
- Lầm rồi!
Vậtấy liền đi ra ngoài. Đại An lại thấy trước sân có một cái ao xinh xinh, nước xanh nhưng cạn, bên bờ phía tây có một tượng vàng cao khoảng năm tấc phút chốc to dần biến thành một vị tăng đắp y mới. Vị ấy nói với Đại An:
- Người bị thương ư? Nay ta sẽ đem sự đau đớn của người đi, ngươi được bình phục, về nhà nhớ niệm Phật, tu thiện.
Vị ấy lấy tay xoa vào cổ Đại An rồi đi. Đại An thấy chiếc y của vị tăng sau lưng có vá một tấm lụa màu hồng khoảng một tấc vuông, nổi lên rất rõ.
Thế rồi Đại An sống lại và vết thương cũng không còn đau nữa, có thể ngồi dậy ăn uống.
Mấy mươi ngày sau, con và em đón ông về nhà ở kinh đô, người thân đến thăm, Đại An kể cho họ nghe chuyện bị thương và việc thấy tượng. Có một người hầu đứng bên nghe, liền nói: “Đại nhân hãy nên thực hiện việc này!”. Vợ của Đại An bèn bảo người hầu thuê thợ tạc tượng. Tượng tạo thành, thợ dùng màu để vẽ y thi có một điểm son vô ý rơi dính sau lưng tượng. Người nhà liền bảo thợ tẩy đi nhưng không ra, nay vẫn còn như thế, giống như miếng vá y mà Đại An đã kể lại trong giấc mộng. Đại An cùng vợ và gia nhân đi đến xem tượng, thì thấy đúng là sau lưng có vá một chỗ như thế.
Họ cho là linh dị, thật tin lời dạy của bậc thánh không hư vọng, nên lòng càng thêm kính mộ Phật pháp. Đại An thành tâm lễ kính tôn tượng mà được thọ lâu.
Từ khi Phật pháp truyền sang Đông độ đến nay, sự ứng cảm cùa linh tượng chẳng thê thuật hết, chỉ luợc nêu như thế.
6.4.43. Đời Đường, tượng Phật chùa Đồng Tử ở Tinh châu: Tọa lạc trên núi phía tây thành ở Tinh châu, chùa Đồng Tử có thờ một tượng Phật ngồi cao hơn một trăm thước. Bấy giờ, Lý Cao tông rất sùng kính Phật pháp. Vào niên hiệu Hiển Khánh cuối cùng (660) hoàng đế tuần du Tinh châu, đã cùng hoàng hậu đến chùa này và chùa Khai Hóa nằm phía bắc hang núi. Nơi đó cũng có một tượng Phật cao hơn hai trăm thước. Vua đỉnh lễ chiêm ngưỡng, ca ngợi cho là hiếm có rồi cúng dường nhiều trân bảo, tài vật, y phục. Các phi tần ở trong cung cũng phát tâm cúng dường.
Vua lại lệnh cho trưởng châu là Lại Đậu Quĩ nhanh chóng trang nghiêm thánh tượng và khai phát rộng thoáng vùng đất phía trước khám. Sau khi trở về, đến tháng bảy niên hiệu Long Sóc thứ hai (662) vua bảo nội quan xuất hai tấm ca-sa rồi sai quan Trung sứ mang đến cúng dường hai tượng lớn của hai chùa này.
Ngày khoác ca-sa tượng chùa Đồng Tử, từ sáng đến tối tượng phóng ánh sáng năm màu soi chiếu sườn núi, sáng rực một vùng, ánh sáng lại chiếu vào một khám thờ tượng Phật nhỏ ở phía nam chùa làm cho điện đường rực sáng. Đạo tục chiêm ngưỡng đến mấy vạn người. Người trong thành, không luận giàu sang hay nghèo hèn, hễ thấy được việc này, tám phần mười hồi tâm hướng thiện.
6.4.44. Đời Đường, tượng Phật chùa Thanh Thiền, Tây Kinh: Chùa có một tượng vàng ròng, caomột thước bốn tấc, nặng tám mươi lượng do Tùy Văn đế tạo. Niên hiệu Trinh Quán mười bốn (641), Tôn Đức Tín ngụy tạo chiếu chỉ rồi dẫn một người trong cung, dồi xưng là lệnh vua sai đến lấy tượng. Chư tăng trong chùa vâng chỉ, chẳng dám chống, giao tượng cho ông ta. Sáng hôm sau khi phát hiện là giả mạo thì tượng đã bị nấu chảy chỉ còn lại đầu. Thái Tông rất giận dữ, lệnh dùng cực hình xử phạt tội phạm. Đức Tín trước khi chết, toàn thân bị ghẻ lở thối rữa. Chư tăng nấu vàng đúng theo qui cách để khôi phục tượng.
6.4.45. Đời Đường, tượng Phật ở Vũ châu: Niên hiệu Hiển Khánh thứ tư (660), trời hạn hán lâu ngày, thứ sử Vũ châu họ Tổ lập đàn cầu đảo, nhưng chẳng hiệu quả. Một hôm, có người thấy tượng Phật đứng xuất hiện ở Đông Sơn thuộc châu này mà không rõ nguồn gốc. Mọi người thử dời tượng, nhưng bất động. Tiếng đồn vang khắp, mọi người khắp nơi đều kéo đến xem. Bấy giờ có người ở Đàm châu nói: “Ngôi chùa ấy mất tượng, sao tượng lại ở đây?”. Thế là mọi người theo con đường dẫn đến chùa ấy mà tìm thì phát hiện hai dấu chân, mỗi dấu dài ba thước, cách nhau năm trăm dặm.
Vì trời hạn hán đã lâu, nên thứ sử cùng quan dân khắp châu đi bộ hơn hai mươi dặm, đem theo hương hoa dâng cúng, khóc lóc bày tỏ rất thành kính. Sau đó, sai ba người đến thỉnh thì tượng nhẹ nhàng nâng lêntheo tay người, họ bèn rước về chùa cũ ở trong châu. Dọc đường đi, mây giăng khắp, đêm ấy mưa lớn, nhân dân được mùa no ấm. Nay tượng an trí ở Vũ châu.
6.4.46. Đời Đường, tượng Phật ở chùa Ngộ Chân, Ung châu: Niên hiệu Vĩnh Huy (650-655) có chùa Ngộ Chân nằm ở phía đông huyện Lam Điền, phía tây dãy
Lam Cốc, Ung châu. Các kiến trúc chùa đã tận dụng hết vẻ đẹp của núi non, điện đường xây dựng rất trang nghiêm tráng lệ. Có một vị tăng lập một biệt điện trên mô đât cao phía bắc chùa, nhưng lại bị tảng đá chắn ngang làm trở ngại. Mọi người dùng lửa đốt, nước xối để đá vỡ, nhưng không được, nên dùng búa sắt đập phá, tảng đá vỡ ra, bên trong có một pho tượng Phật. Toàn tảng đá không có một đường nối, nhất định do thiên nhiên bọc lấy, chẳng biết từ đâu đến. Pho tượng nguyên khối không lắp ghép, cũng chẳng biết làm bằng loại ngọc gì, cao khoảng năm tấc, nay tượng được an trí trên chùa.
Năm ấy, ở ích châu có một tượng Phật và hai tượng bồ-tát xuất hiện trên cột trụ chùa Quang Minh. Tuy tượng đã dời đi nhưng ảnh tượng còn xuất hiên. Ban đầu tượng được tôn trí tại chính điện Cửu Lũng. Sau đó trưởng sử Trương Tự tập hợp nhiều người chuyển ba pho tượng về chùa Quang Minh.
6.4.47. Đời Đường, tượng Phật của Lí Triệu Khúc, Ung châu: Nhà Lí Triệu Khúc ở bờ tây sông Lễ, phía đông huyện Hộ có một pho tượng Phật caoba thước sáu tấc và viên quang bốn thước. Tượng Phật để lộ cánh tay phải rất uy nghiêm và đã nhiều lần phóng quang. Tôi nghe tin tìm đến thì thấy ở đài tượng có ghi: “Tượng tạo ở chùa Trung, Trường An vào ngày mồng tám tháng tư niên hiệu Kiến .Nguyên năm thứ hai mươi (384), đời Diêu Tần. Nữ vương Tuệ Thiều cảm Phật nhập niết-bàn, may mắn gặp được di tượng, nên dùng nữ trang của mình để đúc tượng. Nếu người thành tâm thì có linh ứng, nguyện mười phương đều được hưởng phúc”.
Văn ghi như thế, nhưng khi hỏi nhân duyên có tượng thì được trả lời: “Ngày xưa khi vua phế Phật và Lão thì tượng này được giấu trong vũng La Nhân bên sông Vị. về sau có người đi bên bờ sông nghe tiếng và thấy hào quang phát ra từ vũng nước ấy, bèn ghé vào nói với người già trong làng. Họ liền tìm đến chỗ dòng xoáy thì thấy dưới đáy toàn là cát và trong nước phát ra ánh sáng, đào lên thì được tượng này. Bấy giờ còn là nhà Chu, người trong thôn giấu tượng để cúng dường. Tượng được an trí trong một nhà vắng đóng kín cửa, nhưng hào quang chiếu sáng”. Nay tượng vẫn còn tại thôn ấy.
6.4.48. Đời Đường, tượng xuất hiện ở Thấm châu: Mùa xuân tháng hai, niên hiệu Long Sóc thứ ba (663), tượng Phật xuất hiện ở lưng chừng núi, tại hang Trường Cốc, thuộc địa phận huyện Miên Thượng, cách Thấm châu hơn sáu mươi dặm về phía Bắc.
Trong đó, có ba pho tượng Phật xưa bằng đá nằm trong khám thờ. Tượng ở giữa thường phóng ánh sáng chiếu khắp hang núi. Người dân trong thôn lấy làm lạ trình lên châu trưởng, chầu trưởng lại tâu lên vua. Vua bèn sắc chiếu cho sư Huyền Tú chùa Đại Từ Ân ở kinh thành cùng các quan gấp đến xem.
Khi lên đến nơi thì thấy tượng phóng ánh sáng thành dòng, vọt lên, hạ xuống không dứt. Khi mây bay đến cửa hang thì ánh sáng tạm ẩn, nhưng khi mây bay đi thì ánh sáng xuất hiện. Phái đoàn cho người về cấp báo, vua lệnh vẽ lại tượng này. Tượng vẽ lại phóng quang, trải qua ba đêm mà ánh sáng phát ra vẫn như lúc đầu. Đến nay, tương truyền ánh hào quang ấy vẫn không dứt. Vùng ấy là thắng địa, cầy cối xanh tốt, có rất nhiều dấu tích tượng Phật cổ thờ trong khám đá, chảng rõ cội nguồn, nhưng thấy xuất hiện rất nhiều điềm lành.
6.4.49. Đời Đường, tượng bồ-tát Địa Tạng ở ích châu: Ở chùa Pháp Tụ thuộc Quách Hạ, ích châu có họa tượng bồ-tát Địa Tạng ngồi trên giường dây thõng chân, cao khoảng tám chín tấc, tượng thường phóng ánh sáng. Tượng này do Trương Tăng Diêu vẽ. Tháng bảy, niên hiệu Lân Đức thứ hai (665), vị tăng trong chùa này vẽ lại một bản và tượng này cũng phóng ánh sáng, lúc ấn, lúc hiện. Cứ như thế, những bức tượng kế tiếp dược vẽ ra đều phóng ánh sáng. Tháng támnăm ấy vua lệnh thỉnh một bức tượng vào cung để cúng dường.
Hiện nay, đạo tục trong ngoài kinh thành, hễ vẽ tượng để cúng dường thì tượng cũng đều phóng quang. Điều này khiến cho mọi người biết Phật lực chẳng thể suy lường.
6.4.50. Đời Đường, tượng Phật phóng quang ở ích châu: Niên hiệu Lân Đức thử hai (665) ở núi Tam Học phía bắc huyện Kim Thủy, Giản châu thuộc ích châu xưa có tăng Tuệ Dục. Niên hiệu Lân Đức thứ nhất (664) Tuệ Dục đi đến chùa Trường Sa ở Kinh châu chiêm ngưỡng tượng đồng mạ vàng và chí thành phát nguyện, muốn vẽ lại tượng này để cúng dường.
Tuệ Dục tìm được Trương Tịnh Nhãn là họa sĩ giỏi, bảo ăn chay như pháp rồi mới vẽ tượng. Đã vẽ được sáu bức, nhưng chưa thấy cảm ứng, sang bức thứ bảy thì tượng phóng ánh sáng năm màu tỏa chiếu rực rỡ, trong ngoài, xa gần đều thấy, trải qua bày ngày ánh sáng mới tắt. Đạo tục kinh ngạc vui mừng không thể kể hết. Tuệ Dục thỉnh bức tượng ấy đến Trường An, chưa kịp trang trí, ông lại định họa hai bức tượng bồ-tát thánh tăng đặt hai bên để cúng dường được đầy đủ. Đúng lúc ấy, vua sắc tất cả các họa sĩ ở kinh thành tập hợp về trung đài9 và bảo các vị quan, học sĩ giámsát việc biên tập Tây quốc chí sáu mươi quyển và Đồ thư bốn mươi quyển.
Cho rằng bên ngoài không còn thợ giỏi, nên Tuệ Dục đến Trung Đài nhờ họa sĩ Phạm Trường Thọ trang hoàng và vẽ tượng ở Đô đường. Canh ba đêm mồng bảy tháng sáu tượng vẽ đầu tiên phóng ánh sáng năm màu chiếu sáng ra cả bên ngoài. Người bảo vệ ra ngoài thấy Đô đường sáng rực, cho rằng bên trong có lửa cháy, nên kinh hãi kêu cứu. Trong nhà có mười vị quan trực ban và hơn ba mươi binh sĩ vì trời nóng nên cởi trần mà ngủ. Hào quang chiếu vào thân thể của họ sáng rực, khiến mọi người đều kinh ngạc vội dậy mặc áo quần. Trong số đó có một vị quan tên Thạch Hoài Tạng vốn không có lòng tin Phật, nên chỉ thấy ánh sáng chiếu bên ngoài chứ không thấy chiếu vào mình. Hào quang chiếu đến sáng mới dứt. Thạch Hoài Tạng ăn năn tự trách, chí thành sám hối mà cũng chẳng thấy được thân dù ánh sáng chiếu khắp. Các quan và binh sĩ ở các viện khác được gọi đến chiêm ngưỡng hào quang, họ đều phát tâm trọn đời trai giới. Mỗi người đều vẽ một pho tượng thỉnh về nhà cúng dường.
6.4.51. Linh tích trên núi Ngũ Đài: Đời Đường, niên hiệu Long Sóc thứ hai (662) vua sắc lệnh cho sư Hội Trách ở chùa Hội Xương đến Ngũ Đài Sơn sửa chữa chùa tháp.
Núi Ngũ Đài thuộc huyện Ngũ Đài, Đại châu, có năm ngọn. Trong đó Trung Đài cao nhất, lên đỉnhnhìn xa cả nghìn dặm vẫn thấy sông núi như lòng bàn tay. Ở trên đó có mấy nghìn tháp đá, do Ngụy Cao tổ Hiếu Văn đế xây dựng. Phía bắc đài có vết chân người và ngựa in trên đá, nét còn rất mới.
Trên đỉnh có hồ Thái Hoa rất lớn và một hồ nhỏ thông với hồ lớn. Hai bên hồ có hai ngọn tháp thờ tượng Văn-thù-sư-lợi. Tương truyền: “Ngài Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp cho năm trăm vị tiên nhân ở núi Thanh Lương”,'nên trong kinh Hoa nghiêm cũng nói: “Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp ở núi Thanh Lương”. Ở núi này rất lạnh, không có loại cây nào khác, khắp núi chỉ là rừng tùng cao vút. Thanh Lương chính là ngọn núi ở phía nam, dưới chân núi có phủ Thanh Lương, hiện nay vẫn còn dấu tích.
Từ phía đông nam của đài đi xuống khoảng ba mươi dặm có chùa Đại Phu Linh Thứu xây dựng từ thời xưa. Ở đây có hai đạo tràng phía đông và phía tây với đầy đủ các Phật sự. Các người già cho rằng chùa này do Hán Minh đế xây dựng. Phía nam có vườn hoa khoảng hai trăm mẫu, trồng cây vây quanh, những loài hoa lạ trong vườn phát ra ánh sáng chói cả mắt. Xưa nay đạo tục rất thích loài hoa kì lạ ấy, nhưng ở nhân gian không có. Nếu mang đi trồng chỗ khác thì hoa không sống, cho đến dời hoa ra trồng ngoài rừng cây thì hoa cũng chết, phải trong khuôn viên của vườn này hoa mới sinh trường. Hoa nở vào khoảng thời gian từ đầu xuân cho đến cuối thu. Đó là do đức Văn-thù cảm, bậc Đại thánh hiện điềm lành. Thật là vườn của thần tiên, hàng phàm phu đâu thể trồng được!
Người có lòng chí thành vào núi này thấy có nhiều chùa và các thánh tăng cư trú, hoặc là thấy các ngài bay trên không, hoặc ở bên dòng suối, hoặc ở trên núi cao, hoặc nơi sườn đá cheo leo, hoặc là tăng hoặc là tục chẳng khác phàm phu, nhưng khi qua rồi tìm lại chẳng biết đi đâu. Chùa và thánh tăng ẩn hiện chẳng thường, chẳng phải bậc thánh thì chẳng thể biết được.
Niên hiệu Long Sóc thứ hai (662), hoàng đế lại sai Hội Trách đến Tinh châu huy động nhân lực và tiền bạc để tu bổ chùa cổ. Hội Trách cùng với quan viên huyện Ngũ Đài dẫn theo hơn hai mươi người đến thẳng Trung Đài. Từ xa, sư thấy tượng đá bên núi lay động, khi đến nơi chỉ là một khối đá vuông. Sư buồn rầu tự trách là không thấy được thân Phật, bùi ngùi hồi lâu rồi sư bảo thợ tu sửa hai tháp và tượng đức Văn-thù-sư-lợi.
Khi dựa vào tháp, chợt nghe bên trong có tiếng chuông phát ra liên tiếp không dứt, lại nghe mùi hương lạ lan tỏa nhiều lần. Tăng tục đều lấy làm lạ cho là điều chưa từng có.
Lại nhìn về phía tây của đài thấy một vị tăng cưỡi ngựa chạy rất nhanh về hướng đông. Hội Trách và mọi người đứng đợi người ấy đến, nhưng rất lâu chẳng thấy đến, mọi người tìm đến đó thì chỉ là một gốc cây, ai cũng cảm thấy buồn tiếc.
Tượng cảm thông ẩn hiện tùy lúc, tiếng chuông đồng vang vọng thường nghe. Núi ấy, ba trăm dặm vuông, chân núi phía đông nam nối liền với dãy núi phía bắc; chân núi phía tây bắc chính là Thiên Trì. Trong đó có sáu cảnh như Phật Quang sơn, Tiên Hoa sơn, Vương Tử tháp, chùa cổ... Nơi đây có di tích nhục thân của hai thiền sư Tăng Minh và Giải Thoát ngồi thiền trong hang đá đã hơn mười năm mà chẳng hư hoại, đó là do định lực duy trì. Việc của thánh hiền thật chẳng thể suy lường được.
6.4.52. Nội dung vấn đáp giữa luật sư Đạo Tuyên và vị trời: Tháng giữa xuân, niên hiệu Càn Phong thứ hai (667), đời Đường, luật sư Đạo Tuyên ở chùa Tây Minh muốn tìm nơi yên tĩnh để tu niệm, ngài bèn đi đến ngôi chùa cổ Tịnh Nghiệp ờ thôn Thanh Cung phía nam kinh thành. Luật sư đức hạnh cao vời, tâm ý từ lâu đã thanh tịnh. Một hôm, có một vị trời đến chỗ sư thành kính đỉnh lễ thăm hỏi. Luật sư hỏi:
- Đàn việt ở đâu? Họ tên là gì?
Vị ấy đáp:
- Đệ từ họ Vương tên là Đang là quan ngự sử đời Ngô. Lúc ngài Khương Tăng Hội mới đến KiếnNghiệp, Tôn chúa10 chưa cho hành đạo, bảo rằng phải cảm được điềm lành hi hữu. Sư liền lập đàn cầu nguyện, mong hiện điều phi thường. Bấy giờ trời đất, thần kì đều ủng hộ, trải qua hai mươi mốt ngày bèn cảm được xá-lợi. Ngô chúa cầm bình đồng đổ ra mâm, nơi nào xá-lợi chạm vào thì chỗ ấy vỡ nát; cho đến lửa thiêu, búa đập, xá-lợi vẫn không hư tổn.
Hám Trạch, Trương Dục cũng do chư thiên nhập vào thân, khiến cho thần trí họ thông minh sáng suốt, đối đáp hài hòa đầy đủ. Nay họ đều ở cõi trời thường hộ vệ Phật pháp. Đệ tử là sứ giả của Vi-đà tướng quân thuộc Nam thiên vương. Tướng quân rất nhiều việc, ủng hộ Phật pháp khắp ba châu. Nếu có việc đấu tranh nguy cấp, tướng quân đều tự mình đứng ra hóa giải, khiến tất cả đều qui kính tin phục. Chư thiên cũng sắp đến, sẽ có việc ồn náo nơi đây, vì thế nên tướng quân bảo con đến nói rõ với ngài.
Lát sau, có vị trời đến tự xưng là họ La, vốn người nước Thục. Vị này nói nhiều về luật tướng bằng tiếng nước Thục. Lúc vừa diện kiến luật sư, vị trời này theo nghi lễ thế tục thưa hỏi, kế đến thuật về nhân duyên, tuy rất có thứ lớp, nhưng cũng có chỗ quên sót. Kế đến lại có vị trời tự xưng là họ Phí, lễ kính như vị trước và nói:
- Đệ tử sống vào thời Phật Ca-diếp, sinh vào tầng trời thứ nhất, chỗ của tướng quân Vi-đà. Chư thiên đắm say tham dục, đệ tử nhờ nguyện lực kiếp trước nên không tham đắm dục lạc cõi trời, giữ Phạm hạnh thanh tịnh, chi phụng trì Tì-ni. Tướng quân Vi-đà tu tập Phạm hạnh ngay từ thuở bé, cũng chẳng thụ dục lạc cõi trời. Dưới trướng của một vị thiên vương có tám vị tướng quân, bốn vị vương có ba mươi hai vị tướng quân. Các vị này đi khắp bốn thiên hạ giúp đỡ người xuất gia. Trong bốn thiên hạ, châu phương bắc không có Phật pháp, ba châu khác Phật pháp được hoằng dương rộng rãi. Nhưng người xuất gia phần nhiều phạm giới, hành trì không đúng pháp. Người ở châu phương đông và phương tây kém trí tuệ, lòng đầy phiền não rất khó hóa độ. Người châu phương nam tuy phạm tội nhiều, nhưng có thể giáo hóa khiến họ phát khởi lòng lành, nên tâm cũng dễ điều phục.
Lúc sắp nhập niết-bàn, đức Thế Tôn đã đích thân giao cho chúng con giữ gìn bảo vệ, không để ma quấy nhiễu. Ngài nói:
- Nếu không bảo vệ người phá giới thì đâu có ai tu tập giáo pháp của ta?
Vì lời răn dạy của Phật nên chúng con không dám sai trái. Tuy thấy người hủy giới cấm nhưng cũng thương tưởng hộ vệ họ; thấy người làm một việc thiện thì chẳng trách muôn lỗi lầm. Nghĩa là hễ người làm được một việc thiện nhỏ thì chúng con quên đi lỗi lầm đã qua của họ. Dù mùi hôi của người xông thẳng lên hư không, đến bốn mươi vạn dặm, chư thiên thanh tịnh đều chán ghét mùi ấy, nhưng vì nhận lời giao phó bảo vệ Phật pháp, nên chúng con phải ở chung với người thế gian, nói gì là chỉ đến. Trong ba mươi hai vị tướng quân, tướng quân Vi-đà có tâm hộ trì Phật pháp đắc lực nhất. Khi có nhiều ma nam, ma nữ quấy nhiễu tì-kheo làm cho đạo lực giảm sút hay mê loạn, tướng quân vội vàng đến đó tùy theo căn cơ mà giải trừ.
Khi tướng quân có việc đến chỗ của bốn vị vua thì các vua đều đứng dậy, bởi vì tướng quân Vi-đà tu hạnh đồng chân, giữ gìn chính pháp. Đệ tử rất thích giới luật, nên ở trong pháp hội thụ nhận tất cả Tì-ni một đời Như Lai chế định.
Nhân đó ngài Đạo Tuyên hỏi những ẩn ý trong văn luật, vị trời ấy đều giải đáp thông suốt. Ở Trung Hoa, sự linh ứng của Tam bảo xuất hiện khắp nơi, từ núi biển sông hồ. Mọi người cho rằng vì Phật pháp linh ứng mà kính lễ, hỏi nguyên do thì chẳng ai biết từ đâu đến. Nhân đây, luật sư cũng hỏi chư thiên những vấn đề như thế. Vả lại, về những điều ẩn kín, theo lí mà xét, nêu chưa từng thấy nghe, giữ gìn thì chẳng thể nói.
Tuyên luật sư cảm thông ghi: “Luật sư Đạo Tuyên hỏi vị trời:
- Thành Đô ở ích châu có tượng Phật Đa Bảo từ đất hiện lên vào thời đại nào?
Đáp: Nền móng kinh đô nước Thục vốn trên núi Thanh Thành, kinh đô ngày nay là vùng biển ngày xưa. Thời Phật Ca-diếp, có người ở vùng sông Tây-nhĩ phỏng theo kim thân Phật Đa Bảo mà tạo tượng. Sau đó, một người ở kinh thành đến chùa Thứu Sơn bên sông Tây-nhĩ buôn bán đã thỉnh tượng ấy. Khi ông trở về đến chỗ chùa Đa Bảo ngày nay thì bị thần biển làm đắm thuyền. Nguyên nhân là do trước đây người thỉnh tượng thấy con của thần biển dạo chơi trên bờ cho là thỏ núi nên giết, vì thế thần biển giận dữ làm cho người và tượng đều chìm.
Chùa Đa Bảo vốn tại chùa Thứu Đầu, nền cũ vẫn còn và có một ngôi tháp thường phóng ánh sáng, khiến cho mọi người đều hướng về vùng đất ấy. Từ Lang châu qua vùng đất này ước chừng khoảng hơn ba nghìn dặm mới đến sông Tây Nhĩ. Sông này rất rộng, từ một trăm dặm đến năm trăm dặm, giữa sông có một hòn núi, trong đó có một ngôi chùa cổ. Chùa có nhiều kinh chữ Hán và tượng, tuy không có tăng ở nhưng thường nghe tiếng chuông. Cuộc sống người dân sung túc, mỗi năm hai kì họ đến cúng dường tháp cổ. Tháp như giới đàn, có ba tăng được xây bằng đá, phía trên đặt rất nhiều kiến trúc hình chảo úp. Mọi người đều nói đây là nghĩa địa thân thánh, thường phóng ánh sáng. Có người dùng thức chay cúng tế thì được gia hộ. Vùng đất này cách Tây châu hơn hai nghìn dặm về phía tây bắc, cách Thiên Trúc chẳng xa, nên cũng thường có người đến nước này.
Đời Tấn có vị tăng đến đây, thấy một ngôi mộ lúc lồi lúc lõm không bình thường, sau đó ngôi mộ tự nứt ra. Lấy làm lạ, sư đào sâu hơn một trượng thì được một pho tượng và xương người ở trong một chiếc thuyền. Nhưng xương đầu, xương tay, xương ống chân đều lớn hơn xương người ngày nay. (Vào thời Phật Ca-diếp, người ở cõi Diêm-phù sống hai vạn tuổi. Ngày nay kiếp giảm, thọ mạng ngắn, con người thấp thì xương nhỏ là điều tất nhiên, chẳng cógì lạ)-
Tuy được tượng, nhưng rất khó đưa lên, đệ tử phải hóa thành người già, chi dẫn và sắp xếp phương tiện mới thỉnh lên được. Không lâu sau, gặp nạn nhà Chu diệt Phật pháp, sư bèn giấu tượng, đến khi nhà Tùy trùng hưng Phật pháp thì mới đem ra. Người nước Thục chỉ biết tượng hiển linh từ đất hiện ra, nhưng không biết được nguồn gốc. Nhìn dưới đài hoa thấy có chữ Đa Bảo, nhân đó mà gọi là tượng Phật Đa Bảo và đật tên chùa là Đa Bảo.
Luật sư Đạo Tuyên hỏi:
- Chữ Đa Bảo ở trên đài tượng là chữ lệ, xuất hiện vào thời nhà Tần diệt vong, vì sao vào thời Phật Ca-diếp ở Trung Hoa đã có loại chữ này?
Đáp:
- Chừ lệ do thừa tướng Lý Tư chế khi triều Tần mất là chữ lệ thời cận đại, kế thừa chữ lệ hình thành từ thời Cổ Phật. Như ngày nay thấy xung quanh châu
Nam Diêm-phù-đề có hơn một nghìn châu bao bọc. Mỗi phương có hơn một trăm nước, văn tự, ngôn ngữ giống như văn tự ngôn ngữ triều Đường, nhưng vì đường biển xa xôi đến mấy mươi vạn dặm, bản dịch lại chẳng lưu truyền, khiến cho phương người này không hiểu, cứ cho rằng Trung Hoa là nguồn gốc xuất phát chữ lệ. Như thế cũng chẳng gì lạ.
Sư chẳng nghe sao! cố Dã vương11 đời Lương là một người học rộng. Ông đi khắp nơi hỏi về nguồn gốc của chữ viết thì thấy mập mờ bất định. Cho nên trong lời tựa bộ Ngọc Thiên ghi: “Có người khai mộ của Xuân Thân quân12 thì thấy có bài văn khắc bằng chữ lệ”.
Thời Xuân Thân quân đồng thời với thời Lục quốc nhà Chu, thì chữ lệ chẳng phải xuất hiện thời nhà Tần. Chữ Triện, chữ lệ ở Trung Hoa đã có sự mập mờ như thế, thì làm sao biết được những việc vào thời Phật Ca-diếp, điều mà sử chẳng ghi, tai mắt chẳng nghe chẳng thấy!
Sư lại hỏi:
- Dân gian truyền rằng đài đất Cao Tứ nằm phía tây thành Tây Kinh là đài tạo chữ viết của Thương Hiệt, sao nói chữ lệ thời xưa đã có?
Đáp:
- Việc Thương Hiệt13 đắp thêm đất trên đài này nhằm tạo đài cao để xem dấu chân chim, chẳng phải không có. Vả lại truyền thuyết về Thương Hiệt ở Trung Hoa ít người biết. Có người nói Thương Hiệt là bầy tôi của Hoàng Đố, hoặc nói là một vị vua thời xưa. Thể chữ Ô tích14 theo thời biến chuyển hoàn toàn mai một, nay không còn nữa. Lời vô ích ấy không cần phải nhọc công thuật lại.
Có một vị trời họ Lục tên Huyền Sướng đến thưa với luật sư Đạo Tuyên:
- Đệ tử là người thời Chu Mục vương5 (1001BC-947BC) được sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, vốn là vị trời vào thời Phật Ca-diếp. Chư thiên vì muốn được Phật giáo hóa chung cho cả trời người, nên thời Chu tạm hiện xuống nhân gian.
Luật sư hỏi về đài đất Cao Tứ, Huyền Sướngđáp:
- Đó là đạo tràng thuyết pháp độ người ở hội thứ ba của Phật Ca-diếp. Đến thời Chu Mục vương, ngài Văn-thù và Mục-liên đến giáo hóa nước này, Mục vương tin kính phụng hành. Điều này Liệt Tử cho là hóa nhân. Hóa nhân chỉ cho Mục vương biết đài CaoTứ là chỗ thuyết pháp của Phật Ca-diếp, nên vua lập Tam Hội đạo tràng.
Đến đời Tần Mục công16 (7-621BC) do gió mạnh thổi mà xuất hiện một tượng Phật bằng đá, Mục công chẳng biết, đem bỏ ở chuồng ngựa, làm tượng ô uế. Vị thần hộ tượng nổi giận khiến vua mang bệnh. Một hôm, vua mộng thấy bị thượng đế trách mắng. Tỉnh dậy vua hỏi cận thần Do Dư, vị này đáp:
- Thần nghe vào thời Chu Mục vương có hóa nhân gọi là thần Phật đến đất này. Chu Mục vương tin theo và tạo đài thờ lộ thiên ở núi Chung Nam cao hơn ba mét ba, nền móng ngày nay vẫn còn. Lại tạo miếu thần ở đài Thương Hiệt gọi là Tam Hội đạo tràng. Nay ngài bị bệnh há chẳng phải do Phật gây ra?
Công nghe vậy thì rất lo sợ nói với Do Dư:
- Gần đây trẫm được một tượng người bằng đá, áo mũ chẳng giống như thời nay. Trẫm bỏ trong chuồng ngựa, chẳng biết có phải thần Phật chăng?
Do Dư nghe thế đến xem, rồi đáp:
- Thưa bệ hạ, đó chính là thần Phật.
Mục công đem tượng tẩy rửa rồi an trí nơi sạch sẽ, tượng liền phóng quang. Mục công lại sợ thần nổi giận nên giết tam sinh17 đê tê. Các vị thiện thần bènném bỏ những vật tế ra xa, Mục công lại càng sợ, hỏi Do Dư. Do Dư đáp:
- Thần nghe thần Phật yêu quí sinh mạng chúng sinh như con một, thân tâm thanh khiết. Vì thế không nên dâng cúng rượu thịt. Muốn cúng dường thì chỉ cần đốt hương, dâng hoa quả, bánh trái là được.
Mục công nghe vậy, vô cùng vui mừng, lại muốn tìm thợ giỏi nhất để tạc tượng Phật nên hỏi Do Dư.
Do Dư đáp:
- Ngày xưa, muốn dựng chùa, Mục vương nghĩ phải cần thợ giỏi, nên đến thôn phía nam đài Cao Tứ hiện nay để tìm thợ thì gặp một ông lão một trăm tám mươi tuổi tên là Vương An. Ông lão nói: ‘Thần từng ở Tam Hội đạo tràng thấy người tạo tượng. Thần nay đã già không có sức để làm, nhưng có bốn người anh em ở phía bắc thôn cũng từng ở đạo tràng giúp việc cho các thợ chính, xin mời đến cùng làm. Mục vương theo lời ông lão mời bốn người ấy, họ đã đúc một pho tượng bằng đồng đầy đủ các tướng. Vua rất vui và ban thưởng cho họ. Những người ấy được tiền đều dùng để tu tạo công đức bằng cách cất lầu ở trên đài đất cao ba trăm thước. Người bấy giờ gọi là Cao Tứ đài hoặc gọi là Cao Tứ lâu, bởi bốn anh em đó họ Cao, người anh cả tên Tứ, hoặc nói là bốn anh em cùng lập đài, hoặc lấy tên người anh cả mà đặt tên, nên gọi là Cao Tứ.
Lại hỏi:
- Mục-liên và Xá-lợi-phất đã diệt độ khi Phật còn tại thế thì làm sao thấy việc đó?
Đáp: Có sáu người đồng tên là Mục-liên. Mục-liên ở đây chẳng phải là Đại Mục-liên. Thời Bắc Chu (557-581), ngài Văn-thù-sư-lợi hóa thành một vị Phạm tăng đến Trung Hoa nói là muốn lễ bái chỗ Phật Ca-diếp thuyết pháp và đến núi Thanh Lương, nơi ở của ngài Văn-thù. Nhưng vị Phạm tăng hỏi khắp đạo tục mà không ai biết. Bấy giờ có pháp sư Trí Mãnh tuổi mới mười tám, hỏi lại Phạm tăng:
- Do đâu mà ngài biết đó là thánh địa của hai vị thánh này?
- Cách đô thành triều Trần hai mươi dặm về phía nam có đài Tạo Thư của Thương Hiệt, tức là chỗ đó vậy. Vị Phạm tăng đáp và nói tiếp:
- Chỗ ấy cách Sa Hà năm mươi dặm về phía nam và cách Thanh Sơn bốn mươi dặm về phía bắc.
- Sa Hà và Thanh sơn là ở đâu?
- Đó chính là sông Vị và núi Chung Nam.
Vị tăng ấy bèn từ sông Vị đi thẳng về phía nam, xa xa thấy đài Cao Tứ, vị tăng lại nói: ‘Đó là chỗ thuyết pháp của Đức Phật xưa’. Bấy giờ pháp sư Trí Mãnh theo đến nơi ấy lễ bái, chẳng lâu sau Phạm tăng biến mất.
Về sau, Trí Mãnh thuật rõ chuyện này với quan Thái thường Vi Khanh, đồng thời nhờ xin lập một ngôi chùa ở đài này, Vi Khanh tâu lên vua Chu và vua đặt tên là chùa Tam Hội.
Trong niên hiệu Đại Nghiệp (605-617) đời Tống, các ngôi chùa nhỏ bị sáp nhập vào các ngôi chùa lớn, vì thế ngôi chùa này cũng bị phá hủy và được sáp nhập vào chùa Bồ-đề. Ngày nay tây đường Phật Thủ của chùa Bồ-đề tại phường Bình Khang, phía tây Đông Thị ở kinh thành là chùa Tam Hội khi xưa. Sau khi Đức Phật Thích-ca độ Đại Ca-diếp, trong vòng mười hai năm, Ngài đến đài này và thấy dưới đài có xá-lợi của Phật Ca-diếp. Khi Chu Mục vương đến Đại Hạ, Phật bảo:
- Nước ông có tháp cổ, nên trở về kính lễ phụng sự.
Vua hỏi: Thưa Thế Tôn! Tháp ở nơi nào?
Phật đáp:
- Tại núi cao phía nam kinh thành.
Trong biệt truyện về Thiên Trúc có ghi: “Năm trước có vị tăng người nước Sư Tử tên Trưởng Niên chín mươi tuổi hạ, đã chứng quả A-na-hàm. Sư nghe nước này có thắng tích nên đích thân đến lễ bái. Sư lại xin vua đến núi Thanh Lương, chỗ của bồ-tát Văn-thù-sư-lợi.
Vua vui mừng lệnh cấp ngựa trạm cho Nội sứ, hơn hai mươi đệ tử và các quan phụ tá. Các quan và đệ tử đều cưỡi ngựa của triêu đình, còn sư từ nhỏ đến nay tinh thành khổ hạnh không cưỡi súc vật nên đi bộ. Khi đã đến núi Thanh Lương, Đại châu, sư bò bằng hai cánh tay và đầu gối đến chính điện thờ ngài Văn-thù ờ Trung đài. Từ dưới lên trên, sư đã đi qua hơn ba mươi dặm, đá núi sắc nhọn đâm vào thịt đến xương, nhưng suốt thời gian bảy ngày ấy sư chẳng bị chảy máu. Sư nằm sấp, mặt áp xuống đất, chẳng uống chăng ăn, trải qua bảy ngày chợt đứng dậy vui mừng, chỉ trỏ khắp hư không, nói rằng thấy bồ-tát Văn-thù-sư-lợi cùng các vị bồ-tát, a-la-hán thánh tăng. Mấy mươi đạo tục đi theo, có người thấy có người chẳng thấy. Lại có một con trăn dài mấy dặm từ phương bắc bò thẳng đến chỗ sư. Sư thấy vậy, lòng rất vui mừng. Trăn ngậm vào chân sư rồi bỗng chốc biến thành một vị tăng. Mọi người sợ hãi đều bỏ chạy, chỉ có sư là tâm không kinh động. Có rất nhiều sự linh ứng, chẳng thể thuật hết.
Nguyện ước đã thành, sư về kinh đô. Nay sư đang hóa độ ở đó. Có lúc sư được vua thỉnh vào nội cung để truyền giới, hay đi dạo khắp các núi non.
Luật sư hỏi vị trời:
- Ngày xưa tương truyền ngài Văn-thù đã nói pháp cho năm trăm vị tiên nhân ở đỉnh núi Thanh Lương. Trong kinh nói rõ rằng ngài Văn-thù là vị bồ-tát trụ rất lâu ở thế giới Ta-bà. Ta-bà là chỉ chung cho đại thiên thế giới, vì sao nay chỉ nói ở Trung Hoa?
- Đức Văn-thù vốn là thầy của các vị Phật. Ngài tùy duyên làm lợi lạc, ứng hiện chẳng đồng, công đức của đại sĩ chăng phải là điều con người biết được, chẳng nên nhọc tâm bàn luận. Chỉ biết kính tin ngài xuất hiện nhiều tại núi Thanh Lương, thuộc Ngũ Đài. Nay là phía bắc Đại châu, nhìn về phía tây có huyện Ngũ Đài và phủ Thanh Lương. Từ đời Đường về sau nơi ấy có nhiều linh dị như có vị tăng tên là Giải Thoát mất tại hang đá trên sườn núi đã hơn ba mươi năm mà thân thể chẳng hoại, như vào Diệt tận định. Lại có một vị ni cũng nhập định này. Thân thể những vị ấy đã trải qua nhiều năm mà chẳng hư hoại. Từ thánh tích già-lam, các bậc bồ-tát thánh tăng, cho đến các vị tiên, hoa của tiên thường xuất hiện và nhiều người đã thấy. Những việc ấy có thuật đầy đủ ở trong các chương khác, lẽ nào chẳng tin?
Ngài Đạo Tuyên lại hỏi:
- Nay cách Trung đài ba mươi dặm về hướng đông nam, còn dấu tích của hai gian bên của chùa Đại Phu Linh Thứu. Phía nam chùa có vườn hoa khoảng hai trăm mẫu với rất nhiều chủng loại, bốn mùa khoe sác, được bao bọc bởi những những hàng cây. Người đem hoa đến trồng những chỗ khác thì không sống, chi trồng trong vườn ấy mới phát triển. Có người bỏ công sức và thời gian để nghiên cứu, nhưng cũngchẳng biết. Hoặc có người nói vườn ấy do Hán Minh đế tạo, hoặc có người nói do Hiếu Văn đế đời Ngụy trồng; những người già kể lại chẳng giống nhau. Vậy đâu là sự thật?
Đáp: Cả hai vị vua đều có công tạo lập. Xưa, thời Chu Mục vương đã có Phật pháp, núi này là chỗ cư trú của ngài Văn-thù, rất linh dị. Chu Mục dựng chùa ở núi này để cúng dường, A-dục vương cũng an trí tháp ở nơi này. Ngài Ma-đằng là một vị a-la-hán vào thời Hán Minh đế, dùng thiên nhãn thấy được tháp ấy nên xin vua cho dựng chùa. Núi này hình dạng giống chim Thứu nên đặt tên là Linh Thứu. Còn Phu nghĩa là túi, do hoàng đế tin sâu Phật pháp nên lập chùa để khuyến khích mọi người tu hành Phật đạo. Đến thời Nguyên Ngụy, cung điện của Hiếu Văn đế cách Bắc đài không xa nên vua thường đến đây đỉnh lễ. Nay vẫn thấy vết tích của người ngựa còn in trên đá rất rõ, chúng ta có thể kiểm nghiệm.
Hơn nữa, không chỉ riêng Ngũ Đài mới có sự linh ứng mà các ngọn núi danh tiếng như Chung Nam, Thái Bạch, Thái Hoa, Ngũ Nhạc cũng đều có thánh nhân an trú, giữ gìn Phật pháp khiến trụ thế lâu dài. Ở những nơi này có người dâng cúng đã cảm được điềm linh ứng, sự việc được đề cập ở chương khác, không phiền thuật ở đây.
Hỏi: Tượng Phật xuất hiện tại ngọn núi ở huyện Phiên Hòa thuộc tây Lương châu là được tạo vào thời nào?
Đáp: Vào thời Phật Ca-diếp, bồ-tát Lợi-tân thấy mấy vạn gia đình ở vùng núi này không tin nhân quả nghiệp báo, thường tạo nghiệp giết hại, không kính tin Phật pháp, nên bồ-tát tạo dựng già-lam để cứu độ họ. Đại Phạm thiên vương đã tự tay tạo tượng này để an trí trong ngôi già-lam. Tượng vừa hoàn thành, bô-tát vận thần lực khiến tượng giống như Phật thật, cũng đi lại và thuyết pháp giáo hóa. Lúc ấy mọi người tuy được nương nhờ Phật đạo, nhưng còn chẳng tin.
Bấy giờ bồ-tát thị hiện hạnh bố úy tay nâng tảng đá lớn muốn đè bẹp thôn làng ấy. Bồ-tát dương oai khuyến hóa mọi người như thế, họ mới hồi tâm tin kính Phật pháp. Tất cả khí cụ sát sinh đều biến thành hoa sen, dọc ven đường trong làng đều có hoa mọc, giống như con người trồng nên. Lúc này, tượng Phật cũng thâu nhiếp thần lực. Bồ-tát lại khuyến hóa, nên các cư sĩ tạo dựng bảy ngôi chùa ở trên núi này. Phía nam bắc trải dài một trăm bốn dặm; phía đông tây kéo dài tám mươi dặm, khắp núi, hang động nơi nơi đều dựng điện Phật, tăng phòng, trải qua mười ba năm mới hoàn thành. Người xuất gia lúc ấy khoảng hai vạn người, đều ở trong bảy ngôi chùa trên.
Trải qua ba trăm năm, sức hiện nghiệp của những người ấy ngày càng lớn. Xưa họ đã tạo nghiệp ác mà đời này chịu tội nhẹ không đọa địa ngục. Còn những chúng sinh trước kia bị họ giết hại đang ở trong đường ác thú lại phát ác thệ: ‘Người ấy hại tôi, nếu họ chưa thành thánh thì tôi sẽ báo thù. Nếu tôi không hại họ, để đến khi họ dứt nghiệp ác, thì tôi không còn cơ hội báo thù’. Vì thế những chúng sinh ấy đồng phun lửa thiêu đốt chùa chiền và cả làng mạc này. Lúc ấy, chỉ có người canh phòng kẻ gian là thoát được. Nhưng những chúng sinh ấy lại dâng nước dìm chết người này, cho nên cả làng không còn một ai sống sót. Trước lúc chùa bị thiêu cháy, sơn thần đã kịp đem tượng lên không trung. Sau đó, sơn thần lại an trí tượng trong một hang đá để cúng dường. Trải qua năm tháng, đá sinh trưởng khép kín hang động, đến khi sư Lưu Tát Hà đỉnh lễ núi này thì đá nứt, tượng xuất hiện.
Tiền thân của Lưu Tát Hà chính là bồ-tát Lợi-tân. Chuyện đầu và thân tượng ở hai nơi khác nhau được thuật lại ở chương khác.
Hỏi: Thụy tượng ở chùa Long Quang, Giang Biểu tương truyền là do ngài La-thập thỉnh đến, nhưng có người nói gặp được ở Phù-nam. Vậy thuyết nào đúng?
Đáp: Tượng ấy chẳng phải do ngài La-thập thỉnh đến mà do Tống Hiếu Vũ đế18 chinh phạt Phù-namgặp được. Sau khi Phật diệt độ khoảng ba trăm năm, đại a-la-hán Ưu-ba-chất-na người Bắc Thiên Trúc dùng thần lực gia hộ cho thợ đục núi đá lớn, trải qua ba trăm năm mới thành một động năm tầng, cao hơn ba trăm thước để an trí tượng Phật. Đại a-la-hán còn thỉnh bồ-tát Di-lặc chỉ dẫn tạo tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn để an trí trong động này. Truyện sư Huyền Trang ghi: “Tượng Phật cao hơn một trăm thước”. Thánh tích kỉ ghi: “Tượng cao tám trượng, dài tám thước, trong sáu ngày trai tượng thường phóng ánh sáng. Lúc mới tạo tượng, a-la-hán đưa thợ lên cõi trời, ba lần như thế mới thành. Tầng thứ hai an trí tượng làm bằng gỗ Ngưu Đầu chiên-đàn, tầng thứ ba an trí tượng bằng vàng, tầng thứ tư an trí tượng bằng ngọc, tầng thứ năm an trí tượng bằng đồng. Tượng mà người dân thường thấy ngày nay chỉ là tầng dưới, bốn tầng trên đã đóng. Động đá chiếu sáng như thấy được cả tạng phủ của con người.
Đến khoảng năm sáu trăm, có a-la-hán Phật Nại-già, người nước Phù-nam. Khi ngài vừa sinh ra thì đã mất mẹ, vì nhớ đến ân mẹ, nên ngài thỉnh một tượng Phật nhỏ bằng gỗ chiên-đàn từ tầng trên của hang động để cúng dường hồi hướng phúc báo cho mẹ. Người mẹ sau khi qua đời thác sinh ở Dương châu, xuất gia ở chùa Tân Hưng, tu tập chứng được quả Tu-đà-hoàn. Tống Hiếu đế chinh phạt nước Phù-nam, thỉnh được tượng này về. Việc này cũng là do thần lực của a-la-hán. Người mẹ lúc ấy vẫn còn sống và thường đi đến các vùng ở phương tây như Thiên Thai, La Phù. Xưa, Pháp Thạnh và Đàm-vô-kiệt hai lần đến Tây Trúc đã ghi thành truyện năm quyển, trong đó có lược thuật về chuyện này. Vì thế, đâu thể vội cho tượng Phật ấy là do ngài La-thập mang đến?
Luật sư Đạo Tuyên nhân đó hỏi:
- Những kinh điển mà pháp sư La-thập phiên dịch, ngày càng nhiều người thích tụng đọc, thụ trì. Vì sao?
- Pháp sư La-thập thông minh, đạt lí Đại thừa, những đệ tử phiên dịch cùng ngài đều là những bậc tuấn kiệt, là bảo vật của một thời, trước sau độc nhất vô nhị, không ai sánh bằng. Những dịch phẩm của ngài lấy đạt ngộ làm chính, hợp với di huấn của Phật. Vị trời đáp.
- Người đời thường cho ngài La-thập lúc ở với Diêu Tần, đã bị Diêu Hưng ép phá giới trọng, như vậy làm sao hợp được ý Phật? Luật sư hỏi.
- Về điều này, hàng phàm phu mê muội chẳng thể suy lường, đâu cần phải luận bàn! Ngài La-thập là bậc đức hạnh cao dày, chứng quả vị Tam hiền19, đương thời ngài giáo hóa sâu rộng, về việc phiên dịch thi lược bớt chỗ rườm rà, thêm vào những điều cònthiếu sót, tùy theo căn cơ mà soạn. Như bộ Đại mười phần giản lược hết chín. Những kinh luận khác cũng như thế mà suy biết. Trải qua các đời, việc tụng đọc kinh này có cảm ứng ngày càng nhiều. Ngài đã thấu hiểu được ý thánh, thật rất khó gặp người như thế. Ngài lại được đức Văn-thù chỉ giáo, nên san định kinh điển đặc biệt tuyệt vời, đâu thể theo ý kiến nhỏ hẹp của mình mà chê bai, bỏ mất nghĩa lí cao sâu mầu nhiệm?
- Tượng đá ở chùa Hiển Tế, Phương châu tạo vào thời nào?_ Luật sư hỏi.
- Tượng ấy do Tần Mục công tạo, nguyên được an trí ở chùa do Chu Mục vương xây dựng. Sau Phật diệt độ, người con gái thứ tư của vua A-dục tạo tượng, lại tạo tháp ở đó để cúng dường. Bấy giờ, nơi chùa ấy có những vị đã chứng Sơ quả, Nhị quả và Tam quả cư trú. Tướng của vua Tần là Do Dư thường đến đó cúng dường. Ngày xưa, vào thời Phật Ca-diếp, sa-di Hiển Tế cùng lập chùa ở đây, đến nay chùa vẫn còn lấy tên cũ.
Hỏi: Nay trên núi Đàn Đài phía nam cung Ngọc Hoa có một ngôi tháp xây bằng gạch, bề mặt rộng bốn mươi bước, tầng dưới rât vững chắc. Bốn mặt tháp đều có khám đá, một bên tháp có những đống gạch vụn, lại có hơn ba mươi lò nung gạch. Những người già chẳng biết tháp xuất hiện vào thời đại nào, nhưng vẫn thường nghe tiếng chuông từ tháp phát ra?
Đáp: Đó là chùa Linh Sơn do Chu Mục vương tạo. Thời vua A-dục, ông lệnh cho sơn thần dựng tháp ở đây. Đến thời Tây Tấn, loạn Ngũ Hồ nắm quyền, ở kinh đô Trường An, Lưu Diệu20 (?-328) nhiều lần mộng thấy Phật thị hiện ở trong tháp gạch tại núi này. Ngài ngồi nói với Diệu: ‘Ông nên giảm bớt uống rượu, chớ đam mê sắc dục, nên phế bỏ nịnh thần, trọng dụng bậc trung lương’, nhưng Diệu không nghe. Sau đó vì say rượu mà rơi xuống ngựa ở Lạc Dương nên bị Thạch Lặc21 (247-333) bắt.
Trước đó, do mộng thấy như vậy nên khi tinh dậy Diệu sai người tìm đến núi này hỏi về ngôi tháp thì thấy có một tượng Phật ngồi trong một ngôi tháp gạch nhỏ. Thấy ứng hợp với điềm mộng, ông bèn phá ngôi tháp nhỏ xây lại một ngôi tháp lớn, cao một trăm chín mươi cấp và đồng thời dựng một ngôi chùa đặt tên là Pháp Đăng rất nguy nga tráng lệ. Lại thỉnh ba trăm vị tăng trụ ở đây. Diệu mất, nhà Hậu Triệu thay thế, chùa có bốn mươi ba người tu tập chứng đắc ba quả thánh. Thần núi bèn dựng một ngôi chùa sau tháp để cúng dường các thánh tăng. Các vị thần lại đi đên núi Thái Bạch hái cỏ chi22 dâng cúng thánh tàng, chư tăng thụ dụng đều kéo dài tuổi thọ. Chùa nay vẫn còn, nhưng người phàm chẳng thấy, tiếng chuông mà người nghe được chính là chuông ở chùa này. Nền tháp tuy là của Lưu Diệu tạo, nhưng là nơi mà Mục vương lập chùa và cũng là ngôi chùa cổ thời Phật Ca diếp.
Niên hiệu Trinh Quán (627-648), người ta thấy bầy nai thường tụ tập trên núi cạnh sông Từ Điểu, phía bắc cung Ngọc Hoa. Chúng đến rồi lại đi. Có người lấy làm lạ nên đến đó đào đất, khi sâu một trượng thì gặp pho tượng đá, cao khoảng một trượng. Hiện nay pho tượng được an trí cúng dường.
Lại hỏi:
- Tượng chiên-đàn ở chùa Đại Minh, Kinh châu được cho là do vua Ưu-điền tạo. Căn cứ vào truyện thì tượng ấy được tạc phỏng theo tượng của vua Ưu-điền, rồi thỉnh về đất Lương. Nay ở kinh thành cũng có một tượng như thế, vậy đâu là tượng gốc?
Đáp: Tượng thờ ở chùa Đại Minh là tượng gốc, khi Lương Cao tổ23 (464-549) băng, tượng di chuyển đến một bãi sông ở Kinh châu. Đến niên hiệu Thừa Thánh thứ ba (554) vua Nguyên Đế nhà Chu diệt Lương, tất cả những thuế má, quốc bảo đều về tay Bắc Chu. Lúc ấy, tượng chiên-đàn được tỳ-kheo TăngTrân giấu trong phòng. Trân đã dùng nhiều tài vât tặng cho sứ để được giữ lại tượng.
Đến đời Tùy, niên hiệu Khai Đế thứ chín (589), Văn đế (541-604) sai sứ là Liễu cố đến thỉnh tượng. Chư tăng trong chùa xin để tượng trấn vùng Kinh Sở24. Liễu Cố là người làng này nên thuận theo tăng mà khắc một tượng chiên-đàn khác để đem về phụng chỉ. Lúc đi tìm thợ khắc tượng thì gặp một vị tăng dòng bà-la-môn tên Chân-đạt nhận lời tạo tượng. Tượng ấy tức nay là tượng ở chùa Đại Hưng Thiện, Tây Kinh, tượng này cũng rất linh dị. Tượng cũ tại Kinh châu, chư tăng dùng sơn phủ lên nên tướng hảo không được như xưa (Vốn tượng Phật là tượng đản sinh, nhưng khi sơn phủ thành ra tượng thời thanh niên, rất khác lúc ban đầu). Chùa Đại Minh vốn là trụ xứ của cổ Phật, nên linh tượng chẳng chịu về phương Bắc là vậy.
Gần đây, pháp sư Nghĩa ở chùa Trường Sa là người đức hạnh, thường được chư thiên ủng hộ. Sư nhận ra tượng quí, nên đã bóc lớp sơn lộ ra đường nét chân thật. Việc này làm rúng động lòng tin của mọi người, họ kéo nhau đến chiêm ngưỡng và đỉnh lễ. Tượng bằng gỗ chiên-đàn nguyên khối, không hề chắp nối, viên quang và đài sen rất đặc biệt, nhất là răng tượng, con người chẳng thể làm được. Tượng ở chùaHưng Thiện mỗi mồi chi tiết đều không bằng tượng gốc này.
Lại hỏi: Bên cạnh chùa Tương Tư ở Phù châu có nhiều dấu vết xưa. Lại có chữ triện được khắc ghi vào đó mà chẳng rõ nguyên nhân. Việc ấy như thế nào?
Đáp: Vào thời Phật Ca-diếp có vị thần núi tên là La Tử Minh vốn là người nước Thục. Xưa vị này chính là một tì-kheo trì giới, vì ghét người phá giới nên ông phát lời nguyện ác: ‘Nguyện sau khi chết làm một con quỉ đại ác để ăn thịt người phá giới’. Nhân nguyện ấy mà Tử Minh thụ thân làm vị thần ở núi này.
Vị thần này có rất nhiều quyến thuộc, quản lí một vùng đông tây hơn năm nghìn dặm, nam bắc hơn hai nghìn dặm, mỗi năm ăn thịt hơn vạn người. Vị thần này xưa từng làm anh của Phật Ca-diếp, sau đó làm đệ tử. Phật Ca-diếp thương xót nên đến giáo hóa, Ngài thị hiện rất nhiều thần biến mới điều phục được, lại trao ngũ giới cho thần và khiến biết được kiếp trước. Do đó, thần không ăn thịt người nữa. Sợ sau này thần núi đổi tâm, nên Phật lưu lại dấu vết.
Vua A-dục dựng tháp trên đinh núi này, thần núi bèn giấu tháp ở trong đá, tháp ấy được làm bằng bạch ngọc. Vị thần núi ấy nay vẫn còn.
Lại hỏi: Tại sao chùa Linh Khám, huyện Hưng Ninh, bắc Tuần châu, Nam hải có rất nhiều linh tích?
- Nguyên nhân từ đệ tử của đức Văn-thù. Vị thần núi ở vùng này tạo nhiều nghiệp ác, đức Văn-thù thương xót bèn đến giáo hóa. Vị thần ấy liền biết được túc mạng nên thỉnh đức Văn-thù: ‘Xin Ngài lưu lại dấu tích để con thường lễ kính những dấu tích ấy mà xa rời các điều ác’. Đức Văn-thù bèn vì vị thần mà lưu lại những dấu tích ấy.
Niên hiệu Trinh Quán thứ ba (629), thần núi mạng chung sinh lên cõi trời Đâu-suất. Lại có một vị thần khác đến ở vùng này, là người thân của vị thần trước. Quỉ thần này lại tạo nghiệp ác lớn, vị thần sinh thiên thương xót, nên xuống thỉnh ngài Văn-thù thị hiện linh tích để hóa độ quỉ thần. Sau đó, ngài Văn-thù đã dẫn dắt quỉ thần đi theo chính pháp. Ngày nay, những dấu tích lớn nhỏ ở núi này đều có nhân duyên như vậy.
Lại hỏi: Tượng Phật ở trong động đá phía bắc Thấm châu thường phóng ánh sáng. Tượng ấy xuất hiện bao giờ?
Đáp: Động đá ấy thời Phật Ca-diếp và thời Phật Thích-ca đã có. Ngày xưa, vào thời Chu Mục vương, đệ từ đã tạo tượng Phật Ca-diếp này.
Hỏi: Tương truyền tượng Phật nơi này tạo vào từ thời Ân, hoặc do Chu Chiêu Trang vương, hoặc Lỗ Trang công tạo. Các thuyết này bất đồng, phải xác định thế nào?
Đáp: Những thuyết ấy đều có nguyên do: Vào thời Hạ Kiệt, đệ tử sinh về cõi trời thấy được sự giáo hóa của Đức Phật. Hơn nữa, Phật có ba thân, trong đó pháp thân và báo thân thì phàm phu chẳng thấy, vì để giáo hóa hàng bồ-tát Đăng địa trở lên. Chỉ hóa thân Phật ứng hiện khắp tam thiên, trăm nghìn ức Thích-ca tùy người cảm hiện, trước sau chẳng định, hoặc cuối thời An, hoặc thời Lỗ Trang công. Tất cả đều trong cõi tam thiên, trước sau đồng một pháp giáo hóa, tùy chúng sinh cơ cảm mà hiện, nên thấy chẳng đồng. Nhưng pháp thân, báo thân thì thường vắng lặng, không thể gạn hỏi!
Lại hỏi: Các thụy tượng thấy được ở đất Hán, nhiều người cho rằng là do con gái thứ tư của vua A-dục tạo. Việc ấy quá mờ mịt, cũng khó biết được sự thật?
Đáp: Đó là sự thật, chẳng nên nghi ngờ. Vì con gái thứ tư của vua A-dục tướng mạo xấu xí, đã trưởng thành mà chưa lấy chồng. Cô thường ôm hận về sự xấu xí của mình, nên vẽ tượng Phật giống như thân mình. Vẽ xong, cô lại nghĩ:
- Tướng của Phật vượt hẳn người thường, đâu giống dung mạo của ta?
Cô khổ sầu qua nhiều năm tháng, sau đó cảm Phật hiện thân, bỗng nhiên cô thay đổi hình dạng trở nên xinh đẹp. Khi vua cha hỏi, cô bèn thuật lại điều nguyện cùa mình. Nay các tượng được tôn thờ ở cungNgọc Hoa tại Bắc sơn, chùa Trường Sa ở Kinh châu, chùa Cao li ở Dương Đô và chùa Sùng Kính tại kinh thành đều do con gái thứ tư của vua A-dục tạo. Trên viên quang hay đài sen đều có chữ Phạn, rất ít người Hán đọc được, cho nên không biết nguồn gốc. Vua A-dục bảo các quỉ thần, đem những tượng do con gái họa có cơ cảm ấy lưu truyền khắp nơi để khai ngộ chúng sanh. Vì thế nên nay thấy mặt tượng đều mang nét người nữ”
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
06/11/2015
PUCL QUYỂN 25 - CHƯƠNG KIẾN GIẢI
QUYỂN 25 Quyển này có một chương Kiến giải. 17. CHƯƠNG KIẾN GIẢI 17.1. LỜI DẪN Tâm thức biến chuyển, đó là lí vô thường; ngộ mê trái nhau, bậc Thánh nào có dấu vết; lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ như vang theo tiếng. Đó chí...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 24 - CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP
QUYỂN 24 Quyển này tiếp theo chương Nghe pháp và giảng pháp. 16. CHƯƠNG NGHE PHÁP VÀ GIẢNG PHÁP (tt) 16.5. PHÂN BIỆT CHỦNG Khi thăng tòa, trước tiên vị pháp sư phải lễ kính Tam bảo, lắng tâm, quan sát thời cơ và xác định...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 23 - CHƯƠNG TÀM QUÝ
QUYỂN 23 Quyển này gồm ba chương: Tàm quí, Khuyên dạy Nghe pháp và giảng pháp. 14 CHƯƠNG TÀM QUÍ (hổ thẹn) 14.1. LỜI DẪN Ba cõi lưu chuyển, sáu đường xoay vần. Nếu cómột chút tính linh thì tất cả đều trải qua nhiều cõi;...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 22 - CHƯƠNG NHẬP ĐẠO
QUYỂN 22 Quyển này có một chương Nhập đạo. 13. CHƯƠNG NHẬP ĐẠO 13.1. LỜI DẪN Đạo tục hình tướng sai biệt, tịnh nhiễm khác nhau. Do thiện ác sai khác, nên báo ứng chẳng đồng. Muốn thấy đức lớn nhân nghĩa thì phải xét đến...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 21 - CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN
QUYỂN 21 Quyến này gồm ba chương: Phú đức, Qui tín, Nam nữ thế gian. 10. CHƯƠNG PHÚC ĐIỀN 10.1. LỜI DẪN Từ khi bậc Đại Giác vào niết-bàn, phúc gom về thánh chúng; các bồ-tát, a-la-hán hoằng dương Phật pháp thời mạt giáo....
06/11/2015
PUCL QUYỂN 20 - CHƯƠNG KÍNH LỄ
QUYỂN 20 Quyển này có một chương Kính lễ. 9. CHƯƠNG KÍNH LỄ 9.1. LỜI DẪN Đấng Đại thánh rủ lòng từ, bậc Chí nhân làm lợi muôn vật. Các Ngài đều muốn dẫn dắt bốn loài đến bảo sở, vận chuyển ba cõi bằng Đại thừa. Thầy trò...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 19 - CHƯƠNG KÍNH TĂNG
QUYỂN 19 Quyển này có một chương Kính tăng. 8. CHƯƠNG KÍNH TĂNG 8.1. LỜI DẪN Tăng bảo là những bậc trì giới cấm, giữ chân tính, oai nghi thoát tục. Họ cầu xuất thế mà phát tâm, lìa thế gian mà học đạo, không động lòng tr...
06/11/2015
PUCL QUYỂN 18 - CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt)
QUYỂN 18 Quyển này tiếp theo chương Kính pháp. 7. CHƯƠNG KÍNH PHÁP (tt) 7.7. CẢM ỨNG 7.7.1. Những chuyện trong Hán pháp bản nội truyện: Hán Minh đế sai mười tám người như Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Âm... đến Thiên Trúc thỉ...
