Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 13 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT

30/10/2015

QUYỂN 13 Quyển này cỏ một chương Kính Phật. 6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT 6.1. LỜI DẪN Bậc Chí nhân do cảm mà ứng hiện, đây chính là tùy thuận các loại căn cơ. Thân tướng Ngài chói sáng, cứu giúp muôn loài bằng pháp môn cam lộ, lư...

PUCL QUYỂN 13 - CHƯƠNG KÍNH PHẬT
Phần 1

QUYỂN 13
Quyển này cỏ một chương Kính Phật.
6. CHƯƠNG KÍNH PHẬT

6.1. LỜI DẪN
Bậc Chí nhân do cảm mà ứng hiện, đây chính là tùy thuận các loại căn cơ. Thân tướng Ngài chói sáng, cứu giúp muôn loài bằng pháp môn cam lộ, lưu lại hình tượng để giáo hóa chúng sinh sau khi tịch diệt. Thế nên, tạm xa khi Thế Tôn lên cung trời Đao-lợi mà còn tạc thánh dung bằng gỗ chiên-đàn, huống gì khi Ngài đã vào niết-bàn, đâu thể quên lòng khắc tạo tôn dung?
Do đó, giáo pháp bắt nguồn từ Tây Vực, thì vua Ưu-điền là người đầu tiên khắc tượng. Khi thánh điển truyền sang Đông độ, thì Hán Minh đế là người trước nhất tạo tượng Thế Tôn. Từ đó về sau, các thợ giỏi nối tiếp người xưa, khắc họa công đức pháp thân, tạo tượng vô cùng trân quí. Nào là tượng đúc từ vàng, đá, chầu ngọc; hoặc các tượng tạo từ đất, gồ, hay họa thêu trên vải, giấy. Nhưng tất cả đều thực hiện từ tâm thành mà đạt đến tận cùng cùa sự tinh xảo, hiển bày hết những nét diệu kì.
Từ đời Tấn, tăng chúng tạo tượng Phật đã rất kỉ tuyệt, đến đời Tống, Tề việc chế tác ngày một đổi mới. Nhưng phần lớn không ghi chép, e răng người sau không rõ nguồn gốc. Cho nên ở đây ghi lại sự thù thắng của các tôn tượng, hầu làm gương sáng và đem lại lợi ích cho người sau. 6.2. NIỆM PHẬT Đức Phật có tướng bình đẳng, đệ tử có đức ngợi khen. Cho nên các Đức Phật ở mười phương đều ra đời trong cõi bùn dơ, các bậc Chính Giác đủ ba thân đều ngự trên đài sen báu. Chúng sinh nhớ tưởng đến tướng nào cùa Phật, cũng đều được lợi ích. Nghĩa là từ lúc mới xuất gia, đến lúc thành Chính giác và khoảng giữa ngồi cội bồ-đề hàng ma, đến Lộc Dã thuyết pháp..., mỗi mỗi đều đầy đủ tướng quí, vẻ đẹp, phát ra ánh sáng rực rỡ. sắc thân thanh tịnh giống vàng ròng, diện mạo tươi đẹp tựa trăng tròn sáng, răng trắng như ngọc như tuyết, tóc nhuận sáng xoăn như vỏ ốc. Mắt ví với sen xanh, mày sánh cùng liễu biếc, giọng nói ngân vang, muôn tướng ung dung, ngũ nhãn sáng tinh, lục thông siêu việt. Lại hùng biện như thác đổ. luôn chỉ dạy hợp căn cơ. Ngài đã thành tựu Phật thân trọn tam điểm, chứng được pháp thể đầy đủ ngũ phần; đem pháp quyền và thật cứu giúp chúng sinh, tùy thân chân và ứng để hóa độ mê tình. Có lúc Ngài quạt giỏ từ bi rộng khắp, có lúc tuôn mưa chính pháp nơi nơi, giúp cho ruộng thân nhuần thấm. Kế đó lại nhả mầm vô thượng, mọc lên cội tâm tươi tốt, lá xanh mướt um tùm. Như Lai không có tướng đến mà đến, không có tướng hiện mà hiện, vì chúng sinh nên tùy duyên ứng hiện.
Xin nguyện hầu hạ mười ức Như Lai trong mười phương, được phụng sự các Đức Phật trong ba nghìn đại thiên thế giới, gieo ruộng phúc mãi mãi, tu cúng dường rộng khắp, bứng rễ tà vạy, nhổ gốc tham sân, tu nhân niệm Phật để cảm quả thấy Phật.
Kinh Pháp Hoa có bài kệ:
Dù người tâm tán loạn
Vào trong các chùa tháp
Vừa niệm Nam-mô Phật
Đều trọn thành Phật đạo.
Kinh Thí dụ ghi: “Ngày xưa, có một vị vua giết cha mình để tự lên ngôi. Bấy giờ, có một vị a-la-hán biết vị vua này không quá bảy ngày nữa sẽ chết và chắc chắn đọa địa ngục A-tì2 chịu khổ trong một kiếp.
Vị a-la-hán liền đến hóa độ, khuyên vua nên chí tâm niệm ‘Nam-mô Phật’ suốt bảy ngày không gián đoạn Lúc sắp đi, ngài còn nhắc vua cẩn thận chớ quên Ngay sau đó, vua liền chắp tay nhất tâm niệm Phật ngày đêm không nghỉ. Vừa sang ngày thứ bảy, vua bỗng qua đời, thần hồn đi đến địa ngục A-tì. Nhờ công đức niệm Phật trước đó, vừa đến cửa địa ngục, thần hồn nhà vua nhận biết đó là địa ngục, liền cất to tiếng niệm ‘Nam-mô Phật’. Những tội nhân trong địa ngục nghe tiếng niệm Phật, đều cùng một lúc niệm ‘Nam-mô Phật’. Đám lửa dữ dội trong địa ngục lập tức biến mất, tất cả tội nhân đều được giải thoát, nhà vua sinh lại làm người, về sau, vị a-la-hán lại đến thuyết pháp, khiến vị ấy chứng được quả Tu-đà-hoàn”.
Theo nhân duyên này, niệm danh hiệu Phật sẽ được công đức lớn vô cùng, không gì có thể ví dụ được.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Ngày xưa, lúc còn tại thế, Đức Phật đã từng giảng kinh Quán Phật tam-muội cho vua cha và mọi người nghe. Đức Phật có ba mươi hai tướng quí và tám mươi vẻ đẹp, thân màu vàng ròng, hào quang rực rõ. Bấy giờ, dưới pháp tòa của Phật có năm trăm người thuộc dòng họ Thích.
Vì tội chướng, nên họ thấy thân Ngài xám đen như tro, như một bà-la-môn gầy yếu. Thấy vậy, họ gào khóc, vò đầu bút tóc, vật minh xuống đất khiến tuôn máu mũi.
Đức Phật an ủi:
- Các người chớ nên gào khóc! Hãy nghe Ta nói. Đời quá khứ có Đức Phật hiệu là Tì-bà-thi. Sau khi Ngài vào niết-bàn, đến thời tượng pháp, có vợ chồng trưởng giả Nguyệt Đức sinh năm trăm người con thông minh, học rộng, hiểu biết mọi điều. Trưởng giả ấy kính tin Tam bảo, thường giảng nghĩa Phật pháp cho các con nghe, nhưng những người con ấy lại tà kiến, không có lòng tin.
về sau, khi những người con ấy đều mắc bệnh nặng, trưởng giả đến trước mặt họ, khóc lóc, chắp tay và nói:
- Các con tà kiến, không tin Phật pháp, nay bị dao vô thường cắt xẻ thân thể, biết nhờ cậy vào đâu? Có Đức Phật Thế Tôn tên Tì-bà-thi, các con nên xưng danh hiệu Ngài.
Vì kính trọng cha, sau khi nghe cha nói, những người con đều niệm ‘Nam-mô Phật’. Ông trưởng giả lại bảo các con niệm pháp và tăng. Xưng niệm xong, những người con ấy đều qua đời. Nhờ niệm Phật, họ được sinh vào cõi trời Tứ Thiên Vương. Khi hết tuổi thọ ở cõi trời, vì nghiệp tà kiến trước kia, nên họ bị dọa vào địa ngục, bị quỉ trong ngục dùng chia ba bằng sắt nung nóng đâm mù mắt. Khi chịu nỗi khổ như thế, họ nhớ lời cha dạy trước kia, liền niệm Phật. Nhờ nhân duyên ấy, họ được ra khỏi địa ngục, sinh lại làm người, nhưng phải chịu cảnh nghèo túng, hèn hạ. về sau, khi Phật Thức-khí ra đời, họ chỉ được nghe danh hiệu, mà không thấy được thân các Ngài. Vào thời những Đức Phật sau là Tùy-diệp3, Câu-lâu-tần4, Câu-na-hàm5, Ca-diếp, họ cũng đều được nghe danh hiệu, nhưng không được thấy hình bóng các Ngài. Nhờ được nghe danh hiệu sáu vị Phật, nên ngày nay họ được sinh cùng dòng họ với Ta. Thân Ta đẹp như vàng Diêm-phù-đàn, nhưng các ngươi thấy Ta giống như bà-la-môn gầy yếu, sắc người xám đen như tro, vì tà kiến đời
Phần 2

trước của các ngươi nên mới như thế. Nay các ngươi nên đỉnh lễ và xưng danh hiệu chư Phật quá khứ, đông thời xưng tên cha các ngươi, xưng danh hiệu Ta và Phật Di-lặc. Xưng niệm xong, phải lễ sát đầt, phát lời sám hối tội tà kiến với chư đại đức tăng và đại chúng.
Vâng lời Phật dạy, sám hối xong, mọi người đều thấy thân Phật màu vàng ròng như núi Tu-di. Họ liền thưa:
- Nay con thấy Phật có ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, hào quang rực rỡ vô cùng.
Nói như thế xong, họ liền chứng được quả Tu-đà-hoàn, cùng nhau xin Phật cho xuất gia, rồi đều được chứng quả A-la-hán, được đầy đủ ba minh, sáu thần thông, tám giải thoát.
Bấy giờ, Phật bảo các tì-kheo:
Sau khi Ta diệt độ, nếu ai xưng danh hiệu Ta và xưng ‘Nam-mô Phật’ thì sẽ được phúc đức vô cùng”.
Kinh Quản Phật tam-muội ghi: “Vào đời quá khứ xa xưa, có Đức Phật Thích-ca Mâu-ni ra đời. Sau khi Ngài diệt độ, có vương tử Kim Tràng tính tình kiêu ngạo, tà kiến, không tin Phật pháp. Bấy giờ, tì-kheo Định Tự Tại bảo vương tử:
- Trên đời này, tượng Phật thường được trang trí bằng các vật báu rất đẹp. Ông hãy thử vào tháp ngắm tượng Phật xem!
Vương từ liền theo tì-kheo vào tháp. Nhìn thấy tượng đẹp, vương tử bảo vị tì-kheo:
- Tượng Phật còn đẹp như thế, huống gì là thân thật của Phật.
Vị tì-kheo bảo:
- Nay ông nhìn thấy tượng Phật mà không lễ thì phải nên chắp tay và niệm ‘Nam-mô Phật’.
Vị vương tử liền làm theo. Khi về đến cung, vì nhớ tưởng mãi về pho tượng Phật trong tháp, nên đêm ấy vị vương tử nằm mộng thấy tượng Phật. Sau giấc mộng ấy, vị vương tử lìa bỏ tà kiến, qui y Tam bảo. Nhờ căn lành vào tháp xưng ‘Nam-mô Phật’, nên lúc vị vương tử ấy qua đời, liền được gặp chín trăm vạn ức na-do-tha Phật, ở chỗ chư Phật mau chóng chứng Niệm Phật tam-muội. Do được tam-muội, nên vị ấy được chư Phật hiện đến trước mặt thụ ký. Từ đó về sau, trải qua trăm vạn a-tăng-kì kiếp, vương tử ấy không đọa vào đường ác, cho đến ngày nay chứng được đại định Lăng-nghiêm sâu xa. Vị vương tử ngày xưa ấy, nay chính là bồ-tát Tài Thủ”.
Theo nhân duyên ấy, người hiểu biết phải nên học pháp môn niệm Phật.
6.3. QUÁN PHẬT
Trộm nghe: Pháp của Pháp Vương có năng lực cứu độ vô cùng, tâm đại từ bi vang đến cõi trời Hữu Đỉnh. Ngài tùy cơ tuôn mưa nhuần khắp, nên giăng mây pháp kín cả bầu trời; bình đẳng quán sát khắp chúng sinh, như gương sáng sạch in hình của vạn loại
Vì thế, khi kim dung thị hiện thì hằng tinh ẩn khuất; nguyệt ái vừa phóng quang thì ánh triều dương vội tối mờ. Cũng vậy, bát âm vừa phát thì pháp của Ni-kiền rối loạn, bảy biện vừa vang thì cờ chiến của Phú-na đã đổ nhào. Cho nên biết sức uy thần tôn quí, làm lợi ích thật rộng sâu, chỉ tùy hỉ thấy nghe chứ rất khó gặp.
Kính khuyên hành giả thường nên quán Phật, tâm khắc ghi diệu tướng, như Ngài đang đứng trước mặt mình; ý nghĩ tưởng dung nghi tựa Ngài gần trong gang tấc. Tuy pháp thân không hai, nhưng tùy duyên ứng hiện mà nói có ba; hợp cơ giáo hóa, lại thị hiện nhiều hình loại. Nay trước tiên dẫn kinh, sau thuật lại sự linh nghiệm. Chỉ lược ghi chứ không kể hết, muốn biết rõ thì nên xem bản đầy đủ.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Vào thời quá khứ xa xưa, có Đức Phật Bảo Uy Đức Thượng Vương ra đời. Lúc ấy, có vị tì-kheo cùng chín đệ tử đến tháp lễ lạy tượng Phật. Nhìn thấy một pho tượng Phật quí đẹp, họ liền lễ lạy, chiêm ngưỡng và nói kệ khen ngợi, về sau, họ qua đời, được hóa sinh, ngồi kết già trong hoa sen lớn nơi cõi Phật Bảo Uy Đức Thượng Vương, ở phương đông.
Từ đó về sau, họ thường được gặp Phật, tu tập Phạm hạnh ở chỗ Phật, chứng Niệm Phật tam-muội, dược Phật thụ ký tất cả sẽ thành Phật ở khắp mười phương. Phật Thiện Đức ở phương đông chính là vị thầy, chín đệ tử làm Phật ở chín phương: Phật Vô Ưu Đức ở phương đông nam, Phật Chiên-đàn Đức ở phương nam, Phật Bảo Thí ở phương tây nam, Phật Vô Lượng Minh ở phương tây, Phật Hoa Đức ở phương tây bắc, Phật Tướng Đức ở phương bắc, Phật Tam Thừa Hạnh ở phương đông bắc, Phật Quảng Chúng Đức ở phương trên, Phật Minh Đức ở phương dưới. Mười vị Phật này nhờ nhân duyên đời quá khứ lễ tháp, quán tượng, đọc một bài kệ khen ngợi Phật, nên ngày nay các vị ấy được thành Phật ở mười phương”.
Kinh Quán Phật tam-muội lại ghi: “Vào thời quá khứ xa xưa, có Đức Phật Không Vương xuất hiện ở thế gian. Sau khi Ngài nhập diệt, có bốn vị tì-kheo cùng học chính pháp, nhưng lòng lại đầy phiền não, không thể giữ vững kho báu Phật pháp, tạo nhiều nghiệp bất thiện, sắp đọa đường ác.
Một hôm, bỗng trên không trung có tiếng bảo các tì-kheo:
- Không Vương Như Lai tuy đã vào niết-bàn, không còn ai cứu được những tội các ngươi đã phạm. Nhưng nếu các ngươi có thể vào tháp quán tượng Phật, thì cũng giống như lúc Phật còn tại thế.
Nghe vậy, bốn vị tỳ-kheo vào tháp quán tướng bạch hào6 của tượng Phật và suy nghĩ: ‘Thân tướng và hào quang của Phật lúc còn tại thế đâu khác với tượng này. Nguyện tướng đại nhân của Phật trừ tội cho con-. Suy nghĩ xong, gieo năm vóc xuống đất như Thái sơn sụp đổ mà sám hối các tội lỗi. Nhờ nhân duyên vào tháp quán tướng bạch hào của tượng Phật, trong tám mươi a-tăng-kì kiếp họ không bị đọa vào đường ác, đời đời thường được gặp chư Phật trong mười phương, ở chỗ chư Phật thụ trì pháp Niệm Phật tam-muội sâu xa. Sau khi được tam-muội, họ lại được chư Phật khắp mười phương hiện trước mặt thụ kí, nay họ đều thành Phật. Vị tì-kheo thứ nhất thành Phật hiệu là A-súc ở nước Diệu Hỉ, thế giới phương đông. Vị tì-kheo thứ hai thành Phật hiệu là Bảo Tướng ở nước Hoan Hỉ, thế giới phương nam. Vị tì-kheo thứ ba thành Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, ở nước Cực Lạc, thế giới phương tây. Vị tì-kheo thứ tư thành Phật hiệu là Diệu Thanh, ở nước Liên Hoa Trang Nghiêm, thế giới phương bắc”. Theo nhân duyên này, hành giả phải nên phát nguyện quán Phật như thế.
Kinh Ca-diếp ghi: “Vào thời quá khứ xa xưa cách đây hàng a-tăng-kì kiếp, có Đức Phật Quang Minh ra đời. Sau khi Ngài vào niết-bàn, có bô-tát Đại Tinh Tiến mười sáu tuối, thuộc dòng dõi Bà-la-môn,
dung mạo đẹp không ai sánh bằng, bấy giờ có một tì-kheo vẽ hình Phật trên một tấm lụa trắng rồi dâng 1ên Tinh Tiến. Thấy hỉnh Phật, Tinh Tiến rất mừng nói:

Phần 3

- Hình ảnh Như Lai còn đẹp tuyệt nhu thế huống gì thân Phật thật. Nguyện trong đời vị lai con cũng thành tựu được thân vi diệu như thế.
Nói xong, Tinh Tiến lại suy nghĩ: ‘Nếu ta ở nhà thì không thể đạt được thân ấy’. Thế là, Tinh Tiến xin cha mẹ cho xuất gia. Cha mẹ đáp:
- Chúng ta nay tuổi đã già mà chỉ có một mình con, nếu con xuất gia thì cha, mẹ sẽ chết.
Tinh Tiến thưa:
- Nếu không cho phép con xuất gia thì từ hôm nay trở đi con không ăn, không uống, không ngủ nghi, cũng không nói năng.
Thề như thế xong, Tinh Tiến nhịn ăn một ngày, cho đến ngày thứ sáu. Bấy giờ, cha mẹ cùng với tám mươi bốn nghìn người quen biết và các mỹ nữ đều khóc thương. Cha mẹ liền cho phép Tinh Tiến xuất gia. Được xuất gia, Tinh Tiến mang pho tượng Phật vào núi, lấy cỏ làm tòa, ngồi kết già trước tượng, nhất tâm quán kỹ, thấy tượng vẽ không khác gì Như Lai chẳng giác, chẳng tri; tất cả các pháp cũng như thế, vô tướng, lìa tướng, thể tính rỗng lặng. Quán như thế qua một ngày một đêm, Tinh Tiến thành tựu ngũ thông, biện tài vô ngại, chứng Phổ Quang tam-muội, thân có hào quang rực rỡ. Tinh Tiến dùng thiên nhãn thanh tịnh nhìn thấy a-tăng-kì Phật ở phương đông, dùng thiên nhĩ thanh tịnh nghe nhận được hết mọi điều chư Phật nói. Suốt trọn bảy tháng, Tinh Tiến dùng trí làm thức ăn, tất cả chư thiên đều rải hoa cúng dường. Sau đó, Tinh Tiến rời khỏi núi, đến các xóm làng giảng pháp cho mọi người nghe. Có hai vạn chúng sinh phát tâm bồ-đề, vô lượng người trụ trong pháp Thanh văn và Duyên giác, cha mẹ và người thân đều không lui sụt đạo Vô thượng bồ-đề.
Đức Phật bảo ngài Ca-diếp:
- Bồ-tát Đại Tinh Tiến ngày xưa chính là Ta. Nhờ quán tượng Phật, nên nay Ta được thành Phật. Nếu có người nào hay tu học phép quán như thế thì đời vị lai hẳn sẽ thành tựu Vô thượng đạo”.
6.4. CẢM ỨNG
Từ khi Phật pháp truyền qua Đông Hán, rồi dần đến Nam Ngô, những linh ứng về tượng Phật đầy khắp trong thiên hạ. Tuy các sách ghi chép có sự thêm bớt chẳng giống nhau, nhưng điềm lành ứng hiện hầu như chẳng khác. Nay căn cứ theo thứ tự ghi chép chứ không phân chia theo triều đại. vì sao? Vì hoặc là tượng lập ở đời Tấn nhưng đến đời Tùy, Đường mới hiển linh, hoặc cảm hiện nơi người mà linh tích còn tiềm ẩn. Cho nên không thể sắp xếp theo thứ tự thời gian, chỉ y cứ từng chuyện để biên tập.
6.4.1. Đời Đông Hán, bức tượng họa Thích-ca ở Lạc Dương: Minh tường kỉ của Vươmg Diễm soạn vào đời Nam Tề ghi: “Hán Minh đế mộng thấy một vị thần cao gần hai trượng, thân màu vàng ròng, từ xa phát vầng ánh sáng như mặt trời. Vua hỏi về việc này, quần thần tâu:
- Ở phương tây có vị thần, gọi là Phật. Người vàng mà bệ hạ nhìn thấy trong mộng chắc là vị ấy.
Thế là, vua sai người đến Thiên Trúc vẽ hình Phật, biên chép kinh điển đem về truyền bá ở Trung Quôc. Từ thiên tử cho đến vưong hầu đều cung kính phụng thờ. Khi biết con người sau khi chết tinh thần không mất, không ai mà không lo sợ, hoang mang.
Sứ giả Thái Âm sang Tây Vực đã thỉnh được sa-môn Ca-diếp Ma-đẳng, lại thỉnh được tượng họa Phật Thích-ca ngồi, phỏng từ tượng do vua Ưu-điền tạc thuở trước. Vua thấy giống như tượng trong mộng, nên liền sai họa sĩ vẽ vài bức tôn trí trên đài Thanh Lương ở nam cung, và trên lăng Hiển Tiết tại cửa Cao Dương để cúng dường. Vua lại sai vẽ trên tường chùa Bạch Mã bức bích họa muôn nghìn xe ngựa nhiễu quanh tháp ba vòng, như các truyện đã ghi chép.
6.4.2. Đời Nam Ngô8, tượng Phật bằng vàng ở Kiến Nghiệp: Vào đời Ngô, Tôn Hạo phát hiện được một tượng Phật vàng tại vùng đất bằng ở hậu viên của hoàng cung tại Kiến Nghiệp. Tìm xét nguồn gốc của tượng, mới biết đây là tượng báu do vua A-dục đúc vào đầu đời Chu (1121-245BC) an trí ở Giang Phủ. Vì sao biết được? Vì từ đời Tần, Hán, Ngụy ở phương nam chưa có Phật pháp, làm sao có tượng chôn giấu dưới đất nơi đây?
Hạo được tượng, nhưng vốn không tin, không tôn kính, nên đặt tượng trong nhà xí để cầm thẻ vệ sinh.
Đến ngày mồng tám tháng tư, Hạo đến nhà xí đùa giỡn:
- Hôm nay ngày tám tháng tư, là ngày tắm Phật!
Rồi đi tiểu trên đầu tượng, lập tức Hạo bị bệnh phù thũng, chỗ kín càng đau nặng. Ông đau đớn gào thét.
Thái sử xem quẻ tâu:
- Do phạm tội với một vị thần lớn.
Hạo liền cúng tế thần miếu ở khắp nơi mà không ứng nghiệm. Một tì nữ trong cung vốn tin Phật, tâu:
- Phật là vị thần lớn, trước đây bệ hạ đã làm dơ uế tượng, nay nên mau cầu xin Ngài!
Vua tin theo lời tì nữ, cúi lạy quy y, thành khẩn sám hối, lát sau bệnh thuyên giảm. Ông liền dùng xe ngựa đón sa-môn Tăng Hội vào cung, nấu nước hương rửa tượng, tha thiết thành khẩn sám hối lỗi lầm và tạo nhiều công đức ở chùa Kiến Sơ thì bệnh đau chỗ kín dần hết.
6.4.3. Tây Tấn, tượng đá nổi trên sông lớn ở quận Ngô: Vào năm Kiến Hưng thứ nhất (313) thời Man Đê, ở vùng cửa Hổ Độc9, Tùng giang, quận Ngô, có ngư dân sinh sống. Một hôm, từ xa họ nhìn thấy có hai người đi dạo trên mặt biển. Nghi là thần biển nên họ rước thầy cúng và chuẩn bị vật tế lễ để ra đón. Bỗng nhiên sóng gió dữ dội, họ kinh sợ vội quay về. Bấy giờ, có môn đồ của Lão giáo thờ đạo Ngũ Đấu Mễ mách rằng:
- Đó là Thiên Sư10.
Rồi vị đó cùng với ngư dân đến nghinh đón, sóng gió lại nổi lên như trước. Có cư sĩ Châu Ưng ở làng Hoa, huyện Ngô thờ Phật, nghe thế liền nói:
- Đây chẳng phải là bậc Đại Giác giáng thế sao?
Ông bèn khiết trai" thanh tịnh cùng với vị ni họ Bạch ở chùa Đông Linh và vài người tin Phật đến cửa Hỗ Độc kính lễ nghinh đón, sóng gió lại yên lặng.
Lúc ấy hai người nổi trên mặt nước liền theo thủy triều vào bờ, càng đến gần mọi người càng nhìn thấy rõ, mới biết đó là tượng đá. Mọi người định đến khiêng, nhưng chưa kịp vận sức thì tượng đã nhẹ nhàng nhấc lên. Họ liền chuyển tượng lên

Phần 4

xe và rước về chùa Thông Huyền. Nhìn sau lưng mỗi tượng đều có khắc chữ, tượng thứ nhất là Duy-vệ, tượng thứ hai là Ca-diếp. Tuy không xác định được triều đại, nhưng nét chữ rất rõ ràng. Hai tượng đều cao bảy thước, mọi người đặt pháp tòa muốn an trí tượng, nhưng mấy mươi người nhấc lên mà tượng không lay động. Họ lại phụng thỉnh thì bỗng nhiên tượng nâng lên. Chuyện này được tâu lên triều đình, quan dân đều qui hướng.
Sa-môn Thích Pháp Khai từ Tây Vực đến, bảo rằng trong kinh có ghi là ở phương đông có hai tượng đá và tháp xá-lợi Phật do vua A-dục an trí, người đến cúng dường lễ bái thì trừ được tội nghiệp trong nhiều kiếp.
Trong truyện khác cũng ghi: Mười hai vị sa-môn Thiên Trúc đưa tượng đi ngang qua quận này. Bỗng nhiên tượng trụ trên mặt nước, không chìm cũng không đi tiếp. Mọi người tâu việc này lên vua. Vua cho phép an trí tượng tại quận Ngô
6.4.4. Đời Tây Tấn, chùa Lãng Công, hang Kim Dư, Thái Sơn: Khi xưa, lúc Trung Nguyên xảy ra loạn lạc, Tấn Hoài đế lại nhu nhược. Bấy giờ trên ngọn núi nơi sa-môn Thích Tăng Lãng ở thường có mây che phủ. Người đời đều lấy làm lạ về điềm lành này, uy danh của sư do đó vang xa, mọi người đều biết.
Bấy giờ đất nước không chủ, anh hùng chung vai gánh vác. Bảy nước như Tống... tranh nhau dâng tượng vàng, tượng đồng để tỏ lòng kính ngưỡng, tích thiện cầu phúc. Tăng Lãng hết lòng phụng thờ lễ bái, tượng thường hiển hiện điềm lành. Hiện nay tượng an trí tại một căn phòng, thường mở cửa sổ mà không bị chim chóc làm dơ bẩn, mọi người đều cho là kì lạ. Ngôi chùa này đến nay trải qua gần ba trăm năm mươi năm.
6.4.5. Đời Đông Tấn, tượng vàng xuất hiện ở bến sông: Vào khoảng niên hiệu Hàm Hòa (326-334) vua Thành đế đời Đông Tấn, Doãn Cao Khôi ở Đơn Dương nhiều lần qua lại chốn kinh thành, ông thường thấy ở bến cầu Trương Hầu có ánh sáng lạ. ông sai người tìm thì được một tượng vàng do người Tây Vực đúc theo kiểu xưa, viên quang12 và đài tượng đều bị mất.
Khôi đem xe chở tượng, đến đầu xóm Trường Can13 thì trâu không chịu đi. Khôi ngăn người đánh xe, bảo mặc để cho trâu tùy ý kéo đi. Trâu kéo thẳng đến chùa Trường Can, nhân đó an trí tượng tại đâỵ. Người dân Dương Đô rủ nhau đến chiêm bái, có rất nhiều người tỉnh ngộ. Một hôm, vào lúc nửa đêm, tượng bỗng nhiên phóng ánh sáng sắc vàng.
Hơn một năm sau, ở huyện Lâm Hải, ngư dân Trương Hầu Thế thấy đài hoa sen đồng phát ánh sa màu đỏ nổi bồng bềnh trên mặt biển, ông liền cập thuyền vớt lên, dâng triêu đình. Vua liền sai người thử đặt vào chân tượng, thì thấy trùng khớp.
Thời gian lâu sau, năm vị tăng ở Tây Vực đến nói với Khôi:
- Trước kia đến Thiên Trúc, chúng tôi thỉnh đươc tượng Phật thời vua A-dục, đưa đến đất Nghiệp thì gặp loạn, nên mới giấu tượng Phật ở bến sông. Khi đường sá thông suốt thì không tìm được tượng. Gần đây, được cảm mộng thấy tượng báo: “Ta đến Giang Đông, Cao Khôi thỉnh về an trí tại chùa A-dục Vương”. Cho nên chúng tôi từ xa đến cùng lòng muôn lễ bái tượng.
Cao Khôi dẫn đến chùa, các vị tăng thấy tượng lòng rất xúc động. Tượng liền phóng ánh sáng khăp phòng. Các vị tăng nhiễu quanh tượng và nói:
- Tượng còn có viên quang, hiện đang ở tậi phương xa, cũng sẽ tìm đến.
Thể rồi nám vị tăng ở lại cúng dường tượng
Đến niên hiệu Hàm Hòa thứ nhất (371), Đổng Tôn Chi làm nghề lặn tìm châu báu ở Hợp Phố14, vùng Nam Hải, Giao châu thường thấy dưới đáy biển có ánh sáng vọt lên mặt biển, lần theo thì thấy viên quang của tượng Phật, liền tâu lên triều đình. Giản Văn đế cho đặt vào tượng thì quả nhiên các lỗ đều khớp, màu sắc giống nhau.
Hơn bốn mươi năm, đông tây cách biệt mới cảm ứng được đài sen và viên quang thích họp. Trên đài hoa của tượng có khắc chữ Tây Vực, phần nhiều những người đến đây đều không biết, chỉ có Tam tạng pháp sư cầu-na-bạt-ma15 bảo: “ Đây là chữ Phạn cổ, tượng này do công chúa thứ tư của vua A-dục tạo”.
Bấy giờ Tuệ Thúy ờ chùa Ngõa Quan xin được vẽ phỏng theo, vị trụ trì sợ xúc phạm đến tôn tượng nên bảo:
- Nếu có thể thỉnh Phật phóng ánh sáng, xoay thân về hướng tây thì ông được vẽ.
Sa-môn Tuệ Thúy thành tâm thinh nguyện. Vào nửa đêm, chợt nghe có tiếng lạ, mờ cửa chính điện thi thấy tượng xoay về hướng tây và phóng luồng ánh sáng lớn. Do đó, trụ trì mới cho phép. Sa-môn Tui Thúy vẽ được mấy mươi bức để lưu truyền. Đến đời Lương Vũ đế16, lại vẽ thêm bảy nhạc thiên17 và hai vị bồ-tát trên vầng hào quang.
Niên hiệu Vĩnh Định thứ hai (558) đời Trần, Vương Lâm đóng quân Giang Phố, sắp kéo quân đến Kim Lăng. Vũ Đế lệnh quân ngược dòng mà tiến. Lúc khởi binh, tượng lay động không yên, sự việc được tâu lên vua. Vua xem xét, quả thật như thế. Không lâu sau, bỗng quân của Vương Lâm tan rã. Lâm một mình cưỡi ngựa bỏ chạy về phía bắc, dù hai bên chưa giao tranh. Từ đó, vùng thượng lưu được bình định. Cho nên tượng động là báo hiệu việc này.
Vào khoảng niên hiệu Thiên Gia (560-565) đời Trần, ở phía đông và nam dấy binh, Vũ đế ở trước tượng cầu xin hung đồ thoái lui, vừa cầu xong, có ánh sáng chiếu vào bệ rồng. Chẳng bao lâu vùng Đông Dương, Mân Việt đều được bình định.
Sa-môn Tuệ Hiểu người đứng đầu ờ chùa Trường Can, công việc hoang hóa cùa sư rất thuận lợi. Do đó, sư xây dựng lầu gác tuyệt đẹp, họa vẽ khắc chạm rất công phu để an trí tôn tượng. Đến đầu niên hiệu Chí Đức (583), sư đúc thêm bảo tòa. Trải qua năm triều đại từ đời Tấn đến đời Trần, vua quan đều qui kính tôn tượng này.
Bấy giờ trời nắng hạn, vua thỉnh tượng vào cung bằng xe của vua, chư tăng khoác thêm vải dầu phía trên để tránh mưa, trên đường đi, trời bỗng nhiên đổ mưa lớn. Mùa màng năm ấy bội thu.
Bấy giờ cỏ bài đồng dao liên quan đến khí vận bất tường của nhà Trần. Vào niên hiệu Trinh Minh thứ hai (588), tượng tự xoay mặt về hướng tây, dù mọi người có sửa tượng lại nhưng tượng vẫn như thế. Sự việc được tâu lên, vua thỉnh tượng vào điện Thái Cực thiết trai hành đạo. Trước đó, tượng đội mũ thất bảo có gắn ngọc châu, nặng khoảng ba cân, trên còn có thêm mũ gấm. Đên sáng sớm, thì mũ thất bảo bỗng treo ở tay tượng, mũ gấm vẫn còn trên đầu. Vua nghe việc ấy, liền dâng hương cầu nguyện: “Nếu đất nước có điều bất tường, xin hãy gỡ mũ ra lần nữa để báo hiệu”. Vua lấy mũ đặt lên đầu tượng. Đến sáng hôm sau mũ lại treo trên tay như ngày hồm qua. Cả vua và quần thần biến sắc. Thế rồi nhà Tùy tiêu diệt nhà Trần, cả nước đều về với nhà Tùy, như tượng đã biểu hiện. Tùy Cao tổ nghe được, lệnh thỉnh tượng vào hoàng cung cúng dường, vua thường đích thân đứng hầu.
Sau đó, vua hạ lệnh:

Phần 5

- Trẫm tuổi già không thể đứng lâu, hãy lệnh quan hữu ti đúc tượng ngồi, hình dáng giống như tượng đứng. Còn tượng đứng này, hãy chuyển đến chùa Hưng Thiện.
Lúc đầu, tượng đưa đến chính điện, nhưng không an trí tượng hướng về nam mà xoay về bắc. Đến sáng thì tượng lại hướng về chính nam. Mọi người lấy làm lạ, xoay tượng trở lại sang hướng bắc, nhưng đến sáng hôm sau, tượng lại quay sang nam. Mọi người đều hổ thẹn sám hối bởi tội khinh thường. Hiện nay rất nhiều người mô phỏng theo tượng này mà họa vẽ.
6.4.6. Đời Đông Tấn, tượng Phật tự qua núi: Ngày mồng tám tháng tư, niên hiệu Ninh Khang thứ ba (375) thời vua Hiếu Vũ đời Đông Tấn, sa-môn Thích Đạo An ở chùa Đàn Khê, Tưomg Dương, là người có đức hạnh sáng ngời, nổi tiếng trong thiên hạ, đã đúc tượng Phật Vô Lượng Thọ bằng đồng pha vàng cao một trượng sáu, tôn trí tại ngôi tinh xá ở phía tây bên ngoài thành. Đến tháng chạp năm sau, việc trang trí mới hoàn thành.
Bấy giờ Trấn quân tướng quân Quách Khôi, thứ sử Ung châu vừa đến Tương châu tu tạo công đức. Đêm ấy, tượng đi về hướng tây, băng qua ngọn Vạn sơn, đế lại một dấu chân trên đá. Đạo tục trong làng đến xem đều kính phục. Sau đó, thỉnh đá về làng cúng dường.
Vào đêm ấy, tượng cũng đến trước cửa chùa, mọi người đều kinh ngạc. Khôi liền đổi tên chùa là Kim Tượng.
Ngày mồng tám tháng tư, niên hiệu Phổ Thông thứ ba (522) đời Lương, vua lệnh đúc đài tượng bằng đồng vàng ở vườn Kiến Hưng, cao năm thước chín tấc, rộng chín thước tám tấc. Chỉnh trang xong, theo dòng sông Nghi18 đưa đến đặt tượng lên đài, lại lập bia ca tụng công đức. Lưu Hiếu Nghi soạn văn, Tiêu Tử Vân khắc chữ, thiên hạ đều ca ngợi. Hiện nay bia vẫn còn.
Đến năm Giáp Ngọ, nhằm niên hiệu Kiến Đức thứ ba (575), Chu Vũ hủy diệt Phật pháp. Thái Nguyên công Vương Khang làm thứ sử Tương châu, Phó trấn tướng Thượng khai phủ là Trưởng Tôn Triết chẳng tin Phật pháp, hễ nghe có điềm linh ứng thì muốn trừ dẹp ngay. Tăng ni bị ép hoàn tục. Nhân dân trong địa phương hay tin ông muốn phá hoại tượng này thì kêu gào than khóc khắp nơi. Triết thấy đạo tục than tiếc thì vô cùng phẫn nộ, liền ép buộc quân lính kéo đến phá.
Đầu tiên ông lệnh cho một trăm quân lấy dây buộc vào cổ tượng để kéo, nhưng tượng chẳng lay động. Triết cho rằng quân không thật tâm làm, nên trừng phạt quan Giám sự. Ông lệnh thêm một trăm người đến kéo, nhưng cũng không được. Lại tăng thêm ba trăm người cũng không thể làm tượng lay động. Triết càng phẫn nộ hơn, tăng thêm năm trăm người nữa đến kéo, tượng mới ngã. Tượng ngã phát ra âm thanh lớn, mặt đất chấn động mạnh khiến mọi người đều run sợ. Riêng Triết vui mừng, hăng hái, liền ra lệnh nấu chảy pho tượng. Triết khoái chí to tiếng ngông nghênh, muốn cưỡi ngựa đi báo tin với Thứ sử, nhưng mới đi khoảng trăm bước thì té xuống, miệng không nói được, mắt đứng tròng, chân tay bất động, đến tối thì chết.
Triết chết, mọi người đều vui mừng. Lúc ông phá tượng đổ thì dưới nách tượng, y lật lên, bên trong có ghi: “Ngày mồng hai tháng một năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thái Nguyên thứ mười chín (394) đời Tấn, tì-kheo Đạo An tạo một tượng Phật bằng đồng, cao tám trượng, an trí ở phía tây ngoài thành Tương Dương. Tượng này trải qua thời gian ba lần Giáp Ngọ, tức một trăm tám mươi năm thì bị hủy.
Mọi người tính thời gian hưng phế của tượng thảy hoàn toàn phù hợp mới tin lờí của thánh nhân thật không sai lệch
Dấu chân tượng in trên đá mà mọi người đục lấy, đến nay vẫn còn ở chùa Khải Pháp, nơi tượng được an trí.
Cuối đời Tùy, đất nước bị chia cắt, nơi nơi phòng thủ kiên cố. Ở Tương Dương lưu lại một đội quân của Vương Thế Sung do Đậu Lô Bao nắm quyền. Bấy giờ có pháp sư Hiến ở chùa Khải Pháp rất được mọi người kính trọng. Sư nhiều lần khuyên quân Đậu đầu hàng nhà Đường, nhưng Đậu không nghe theo. Pháp sư cùng với quan dân trong ngoài thành liên kết, báo cho triều đình và các lộ quân tiến đánh Tương Dương. Đậu liều chết cố thủ, binh đánh phá ba lần mà không chiếm được, về sau, ông biết ý của pháp sư, nên giết chết ngài.
Lúc lâm chung, pháp sư Hiến bảo đệ tử Tô Phú Lâu:
- Ta cùng cha của con thấy kim tượng do ngài Đạo An tạo bị phá hủy, từ đó đến nay di tích vẫn chưa được khôi phục. Ta mất rồi, con y theo đó mà lập lại!
Đến niên hiệu Vũ Đức thứ tư (621), quan quân vây hãm nguy cấp, Đậu đầu hàng, mới hận đã không làm theo kế sách của pháp sư, lại còn giết oan pháp sư. Đây chính là người có công với đất nước mà chẳng ai nói ra.
Khi thành đã yên ổn, Phú Lâu hoàn tục, dự định tao tượng với tài vật mình và những di vật mà thầy để lại, nhưng không biết hình dáng tượng thế nào. Tuy vậy chỉ một lần đúc đã thành và tượng rất hoàn hảo. Lúc đang đúc tượng, bầu trời kéo mây âm u, mưa hoa như hoa lí rơi khắp chùa.
Phú Lâu rất khéo léo lại giàu có, nên lại đúc tượng Di-lặc bằng đồng dát vàng cao hơn một trượng tôn trí trong nhà. về sau, ông mộng thấy pháp sư Hiến bảo đúc thêm tượng Phật. Phú Lâu liền đúc đại tượng cao năm mươi chín thước tôn trí tại chùa Phạm Vân, sự việc này đã nói rõ ở phần khác.
Xưa lúc nhà Tùy mới dựng nước, Tần Hiếu vương Dương Tuấn trấn giữ Tương Dương, nghe tượng cổ của ngài Đạo An kiểu dáng rất khác lạ, liền sai người đến vẽ, rồi cho đúc tượng tại chùa Diên Hưng ở Trường An. Đêm đầu đúc tượng, cũng cảm ứng nhạc trời, hoa trời rơi... Đến nay, tượng vẫn còn ở chùa Diên Hưng.
6.4.7. Đời Đông Tấn, Kinh châu, tượng Phật từ xa đi đến: Niên hiệu Vĩnh Hòa thứ sáu (350) thời Mục đế đòi Đông Tấn, nhằm năm Đinh Mùi, tính theo lịch vạn niên là niên hiệu Vĩnh Hòa thứ ba. Đêm mồng tám tháng hai năm này, tượng Phật xuất hiện ở phía bắc thành Kinh châu cao bảy thước năm tấc. Nếu tính cả viên quang và đài thì cao một trượng một thước, chẳng biết tượng từ đâu đến.
Đầu niên hiệu Vĩnh Hòa thứ năm (349), thương nhân ở Quảng châu xuống hàng sắp xong, nhưng còn tiếc vì thuyền nhẹ. Vào nửa đêm, cảm thây' như có người lên thuyền, mọi người ngạc nhiên tìm xem mà chẳng thấy, nhưng thuyền bỗng nhiên nặng hơn, không thể chở thêm gì được nữa. Tuy sợ hãi về chuyện lạ này song mọi người đều không suy đoán được nguyên do. Thuyền này đi rất nhanh, thường dẫn đầu đoàn thuyền. Không lâu sau, thuyền cập bến Gia Lăng, bèn đỗ lại. Đêm ấy, lại cảm thấy có người từ thuyền lên bờ và thuyền trở lại nhẹ như truớc, thấy tượng xuất hiện, mọi người mới biết được nguyên nhân. Bấy giờ, Đại tư mã Hoàn Ôn làm Trấn mục ở Tây Thiểm, đích thân đến lễ tượng. Việc này làm xôn xao cả vùng. Chúng tăng các chùa tranh nhau đến nghinh đón, tượng vẫn y nhiên bất động.

Phần 6

Vào niên hiệu Vĩnh Hòa thứ hai (346), Thái thú quận Trường Sa là Đằng Tuấn người Giang Lăng đổi nhà thành chùa, lấy tên quận làm tên chùa. Ông đến ngài Đạo An, bấy giờ đang quản lí Phật đạo ở Tương châu thỉnh một vị giám tự.
Ngài Đạo An bảo đệ tử Đàm Dực:
- Quan dân vùng Kinh Sở mới có lòng tin đối với Phật pháp. Người làm cho họ giữ vững tín tâm chẳng phải ông thì ai? ông hãy đến đó!
Dực đi về phía nam, xây dựng suốt một năm thì chùa hoàn tất, tăng đã đủ mà tượng thì chưa có. Sư thường than:
- Tượng của A-dục vương tạo tùy duyên lưu bố khắp nơi, chỉ cần chí thành thì lo gì tượng không xuất hiện?
Sau đó, nghe tượng đến Kinh châu, sư vừa mừng vừa cảm động, nói:
- Tượng này hiện đến là bản nguyện của tôi, nhất định sẽ trở về chùa Trường Sa! Nên biết chỉ có thể dùng tâm để thỉnh cầu, chứ chẳng dùng lực mà chuyển được.
Mọi người đều nói:
- Nhất định như vậy, không lâu sẽ có chứng nghiệm.
Sư thắp hương lễ bái thỉnh cầu, rồi sai ba người đệ tử nâng tượng, tượng nhẹ nhàng nhấc lên, đưa về an trí tại bản tự. Đạo tục đều vui mừng.
Niên hiệu Hàm An thứ hai (372) thời Giản Văn đế, mới đúc thêm đài sen. Khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376-396) thời Hiếu Vũ đế, lúc ấy Ân Trọng Kham làm Thứ sử, vào lúc nửa đêm, tượng đi ra từ cửa tây của chùa. Lính tuần tưởng là người, hỏi mà không đáp, chúng liền lấy dao chém thì nghe leng keng, xem mới biết đó là tượng. Nơi ngực, chỗ đâm vào có hàng chữ Phạn hiện ra.
Có lần thiền sư Tăng-già-nan-đà ở Kế-tân biết nhiều hiểu rộng, từ đất Thục đến Kinh châu, vào chùa lễ tượng, nghẹn ngào hồi lâu. Sư Đàm Dực hỏi nguyên do, thiền sư đáp:
- Gần đây ở Thiên Trúc mất tượng, vì sao lại xuất hiện ở nơi xa xôi này?
Xác định năm tháng thì thấy hoàn toàn phù hợp. Phía sau hào quang tượng có chữ Phạn: “Tượng do vua A-dục tạo”. Mọi người biết được, lòng càng thêm kính ngưỡng. Đó là chứng nghiệm việc Đàm Dực tâm thành thỉnh cầu, thánh tượng ứng hiện. Đến lúc Đàm Dực bệnh nặng, viên quang của tượng bỗng nhiên biến mất.
Ngài Đàm Dực nói:
- Phật hiện tướng này, bệnh chắc không thuyên giảm, viên quang đa đến nơi khác làm Phật sự!
Mười ngày sau sư viên tịch. Sau đó, chư tăng phỏng theo viên quang ấy mà đúc cái khác.
Vào thời Hiếu Vũ đế (454-457) nhà Tống, tượng này phóng ánh sáng rực rỡ khiến Phật pháp ở Giang Đông phát triển hưng thịnh một thời.
Niên hiệu Thái Thủy cuối cùng (466) thời Minh đế nhà Tống, tượng bỗng nhiên rơi lệ, chẳng bao lâu Minh đế băng. Vua kế vị cuồng bạo, nên Tề đã thay Tông. Thứ sử Kinh châu là Thâm Du Chi vôn không tin Phật pháp, tiến hành sa thải tăng ni. Chùa Trường Sa có hơn một nghìn vị tăng, đã phải hoàn tục mấy trăm người. Mọi người sợ hãi, già trẻ đều khóc than.
Một hôm, tượng bỗng nhiên toát mồ hôi suốt năm ngày không dứt. Thứ sử hay tin triệu pháp sư Huyền Sướng đến hỏi nguyên do. Sư nói:
- Bậc Thánh thấu tỏ nỗi lo của chúng sinh, chẳng luận là nơi xa xôi, hay chốn tối tăm. Chư Phật trong ba đời quá khứ, tương lai và hiện tại đều nhớ nghĩ đến nhau, lẽ nào Phật nay chẳng nghĩ đến chư Phật? Vì muốn khuyên đàn việt bỏ tâm bất tín Phật pháp nên hiện điềm này.
Thứ sử hỏi:
- Căn cứ vào kinh nào mà sư nói như thế?
Sư đáp:
- Căn cứ vào kinh Vô Lượng Thọ.
Thứ sử cầm kinh tìm xem đọc, thấy đúng như vậy. Ông hết sức vui mừng, liền cho dừng việc sa thải tăng ni.
Vào niên hiệu Vĩnh Nguyên thứ hai (500) nhà Tề, khi Trấn quân19 Tiêu Dĩnh Trụ và Lương Cao tổ cùng thứ sử Kinh châu Nam Khương vương Tiêu Bảo Dung khởi nghĩa, tượng bỗng nhiên đi ra ngoài chính điện, sắp bước xuống thềm. Hai vị tăng thấy thế kinh ngạc kêu lên, tượng trở lại vào điện. Ba năm sau, Tiêu Dĩnh Trụ chết đột ngột, Tiêu Bảo Dung bị phế, rồi bằng lòng theo Cao tổ.
Đời Lương, niên hiệu Thiên Giám cuối cùng (519), sư trụ trì Đạo Nhạc cùng một cư sĩ quét dọn xung quanh rồi mở cửa tháp, thấy tượng đi nhiễu quanh khám. Đạo Nhạc bí mật lễ bái, không tiết lộ lời nào. Đến khi sư khai đường, tượng lại xuất hiện tại tòa.
Đời Lương, Bá Dương vương cai quản Kinh châu, thường thỉnh tượng vào thành mong tạo công đức lớn. Khi lâm bệnh, ông lại rước tượng, nhưng nhiều lần nhấc mà tượng chẳng lay động. Vài ngày sau, ông qua đời.
Xưa Cao tổ ở Kinh châu, từng sai người thỉnh tượng nhưng chẳng hề được, dù rất thành tín.
Tháng ba niên hiệu Trung Đại Thông thứ tư (532), vua sai vị tăng ở chùa Bạch Mã là Tăng Tấn và quan Chủ thư20 Hà Tư, từ xa mang hương hoa đến chí thành cúng dường tôn tượng. Đêm ấy tượng phóng ánh sáng tựa như đi theo sứ. Sáng sớm, mọi người nâng lên thì tượng không động, lại chí thành cầu thỉnh thì tượng mới thuận cho rước về. Thấy vậy, tứ chúng đều luyến tiếc, mến mộ, tiễn tượng ra tận bến sông.
Vào ngày hai mươi ba, tượng đến Kim Lăng, cách kinh đô mười tám dặm, vua đích thân đi đến đón. Suôt đường đi, tượng liên tục phóng ánh sáng. Đạo và tục vui mừng ca ngợi là chưa từng có. Tôn trí tượng trong cung ba ngày (có chỗ nói lưu tượng ở chùa Trung Hưng) thành tâm cúng dường, tổ chức đại hội Vô Giả21 hai mươi bảy ngày, rồi từ cửa chính thỉnh tượng đến chùa Đồng Thái.
Đêm ấy, tượng phóng luồng ánh sáng lớn. Vua hạ chiếu xây dựng điện thờ ba gian hai sảnh ở phía đông bắc chùa Đông Thái, đặt tòa báu có treo màn để tôn trí thụy tượng22. Lại đúc hai tượng bồ-tát bằng đồng, cho đắp núi, đào ao, bắt cầu treo, trồng cây cảnh, xếp đá quí, dựng lan can, xây thềm hai bên điện. Lại đúc hai cái vạc đồng, mỗi cái sức chứa khoảng ba mươi hộc. Ba mặt xây dựng lầu gác bao quanh, hùng vĩ rực rỡ.

Phần 7

Vào tháng ba niên hiệu Trung Đại Đồng thứ hai (547), vua đến chùa Đồng Thái cử hành pháp hội thuyết giảng. Vua đi khắp điện lễ bái, đến chiều tối mới tới điện thụy tượng.
Vua vừa bước lên thềm thì tượng phóng ánh sáng rực rỡ, chiếu soi khiến cây cối, núi sông đều biến thành sắc vàng, đến nửa đêm ánh sáng vẫn chưa tắt. về sau, chùa Đồng Thái bị đốt, các phòng đều cháy sạch, riêng điện thờ tượng còn nguyên.
Vào niên hiệu Thái Thanh thứ hai (548) đời Lương, tượng toát rất nhiều mồ hôi. Tháng mười một năm ấy, Hầu Cảnh làm loạn, đến niên hiệu Đại Bảo thứ ba (552) mới bình yên. Sau đó, sư Pháp Kính... ở chùa Trường Sa rước tượng trở về Giang Lăng, an trí ở bản tự.
Vào niên hiệu Đại Định thứ bảy (561) đời Hậu Lương (555-587), tượng lại đổ mồ hôi. Tháng hai năm sau Tống Tuyên đế băng.
Niên hiệu Thiên Bảo thứ ba (564), chùa Trường Sa bị lửa vây bốn bề. Mọi người muốn cứu thụy tượng mà không có cách, nhưng cuối cùng cũng được sáu người chuyển ra, dù lúc bình thường cả trăm người mới nhấc nổi.
Niên hiệu Thiên Bảo thứ mười lăm (576), Minh đế thỉnh tượng vào nội cung chí thành lễ sám, cầu cảm ứng. Năm Thiên Bảo thứ hai mươi ba (584) Minh đế băng, Tiêu Tông kế vị, dời tượng qua cung Nhân Thọ. Tượng lại đổ mồ hôi nhiều, đến niên hiệu Quảng Vận thứ hai (587), nhà Lương diệt vong.
Niên hiệu Khai Hoàng thứ bảy (587), tăng Pháp Tịch... ở chùa Trường Sa lại thỉnh tượng trở về chùa.
Niên hiệu Khai Hoàng thứ mười lăm (595), thứ sử Kiềm châu là Điền Tông Hiển đến chùa lễ bái,‘ tượng liền phóng ánh sáng. Ông phát tâm xây đại điện mười ba gian ở hướng chính bắc, hai điện đông tây gồm chín gian. Gỗ được vận chuyển từ đầu nguồn Kinh châu cách hơn năm nghìn dặm. Điều lạ là khi chặt gỗ chuyển đến thả xuống sông, gỗ trôi đến Kinh châu tự nhiên dạt vào bờ, tuy có sóng gió lớn mà gỗ không trôi mất. Sau đó vớt lên làm cột trụ đường kính khoảng ba thước, đá chân trụ rộng tám thước. Đây cũng là việc xưa nay chưa từng có.
Khắp đại điện được dán gỗ trầm hương. Ở giữa treo mười ba bức màn báu có kết vàng bạc, châu ngọc. Cho đến rui, lách, tảo tỉnh23 cũng được chạm trổ hoa báu. Điện đông và điện tây an trí thụy tượng đều dán gỗ đàn hương và giăng màn báu, đuốc hoa làm bằng vàng. Đây là bảo điện cực kì tráng lệ, bậc nhất trong thiên hạ.
Niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười hai (607), thụy tượng vài lần đổ mồ hôi. Năm ấy Chu Xán đánh cướp các châu, tiến đến Kinh ấp, đóng quân trong đại điện của chùa. Đại điện rất cao, nằm ở phía bắc thành Cao Lâm, nên giặc lên đại điện để bắn phá vào thành. Quân trong thành lo sợ, ban đêm bắn tên lửa vào đại điện. Đạo và tục trong thành đau xót khi thây thụy tượng bị hủy hoại. Đêm ấy, thụy tượng bỗng nhiên vượt thành đến đứng bên ngoài cửa chùa Bảo Quang. Sáng ra, thấy tượng còn, khắp thành ai cũng vui mừng.
Sau khi giặc tan, mọi người thấy tại chỗ an trí tượng chẳng những hoàn toàn không bị cháy mà còn không dính một chút tro tàn. Sau này đại điện được xây dựng lại, nhưng khác xưa.
Vào niên hiệu Phụng Minh thứ năm (621) đời Tiêu Tiền nhà Lương, Vương Dương, Đạo Sinh v.v... của nhà Tống cũng đến chùa lễ bái, bỗng nhiên đầu và thân tượng đổ mồ hôi như mưa, cả ngày không dứt. Tháng chín năm ấy, binh mã của Đại Đường từ Thục Giang tràn xuống. Ngày hai mươi tháng chín, tăng Pháp Thông nghĩ rằng nhà Đường sắp thống nhất, muốn cầu một điềm lành, nên sư nhiễu quanh tượng hành đạo. Đêm ấy, tượng phóng ánh sáng khắp điện, đến ngày hai mươi lăm hào quang dần dần biến mất. Ngày ấy, binh mã Triệu Quận vương vào thành. Đây cũng là niềm vui thống nhất thiên hạ, cho nên tượng phóng ánh sáng lành để hiển thị.
Sau đó trời hạn hán, các quan trong huyện chí thành cầu mưa đều có cảm ứng. Tháng sáu niên hiệu Trinh Quán thứ sáu (632) đời Đường, trời đại hạn, đô đốc ứng Quốc công Vũ Hoạch cung nghinh thụy tượng, tổ chức trai đàn hành đạo bảy ngày, quan lại lớn nhỏ đều đứng trước tượng nhất tâm chiêm ngưỡng. Lâu sau, mây giăng khắp nơi, mưa lành đổ xuống, năm ấy trúng mùa. Đô đốc liền cúng dường vàng để thiếp tượng, trang hoàng lọng hoa, cờ xí... Hiện nay tượng còn tại chùa Trường Sa ở Giang Lăng.
Lại có một tượng đồng ở nước ngoài cao khoảng bảy thước, nhưng kì lạ là không quá nặng. Tượng do ngài Đạo An ở Thạch Thành, Trường An đưa đên.
Ngài bảo đệ tử tìm trên búi tóc, thì được một viên xá-lợi phát ra ánh sáng.
6.4.8. Thời Đông Tấn, tượng vàng xuất hiện dưới nước tại Ngô Hưng: Chu Khởi tự Tuyên Bội, người ở Dương Tiễn, Nghĩa Hưng, là con thứ hai của Bình tây tướng quân Xử Chi đời Tấn. Ông làm thái thú Ngô Hưng, gia đình kính thờ Phật, nhất là người con gái. Một hôm, người hầu đi đánh cá, bỗng thấy ánh sáng vàng chiếu khắp cả sông, ánh chiếu trên mặt nước, liền thả lưới kéo lên thì được một tượng vàng cao khoảng ba thước. Dáng tượng uy nghiêm, đứng nổi trên mặt nước, khiêng mà tượng không lay động. Người hầu chạy về thưa với Khởi. Khởi kể lại với con gái, rồi sai người chèo thuyền đưa cô gái đến đón. Từ xa nhìn thấy tượng, cô gái vui mímg kính lễ rồi đưa tay kéo, đưa được tượng lên thuyền. Cô thỉnh tượng về nhà cúng dường. Đêm ấy, cô mộng thấy đầu gối trái của Phật bị đau, sáng dậy xem quả nhiên đầu gối tượng có lỗ thủng. Cô liền cắt chiếc trâm vàng để trám lỗ thủng. Sau, cô lấy chồng Trương Trừng ở quận Ngô, đã đưa tượng đi theo, nên gọi là tượng về nhà họ Trương.
về sau, cô bệnh qua đời. Nhưng người trong, ngoài thành lại thấy cô đứng trên tường thành với dáng vẻ và trang sức đẹp hơn thường ngày. Chốc lát, mây tía hạ xuống đón cô, rồi đưa lên không trung, hết tầm mắt thì biến mất.
Người chắt trai của Trừng nối tiếp việc binh, đánh dẹp loạn Tôn Ân, từ lâu đã bỏ trai giới, nên tượng biến mất, nhưng còn để lại viên quang. Cả nhà đều sám hối cầu thỉnh tượng trở lại. Chợt có bà lão mang tượng đến bán với giá rất rẻ. Ông biết đó chính là tượng của mình, sắp trả tiền thì bà lão biến mất, tượng cũng không thấy nữa, chỉ có viên quang còn lại ở nhà họ Trương.
6.4.9. Đời Đông Tấn, tượng Phật bằng gỗ ở cối Kê: Đời Đông Tấn, ẩn sĩ ở Tiêu Quốc là Đái Quỳ tạo tượng gỗ ở chùa Linh Bảo phía bắc núi cối Kê. Quỳ cho rằng tượng thời Trung cổ24 rất đơn giản mộc mạc, không đủ làm cho người khởi lòng cung kính. Với lòng tin thanh tịnh, lại có năng khiếu thẩm mỹ, Quì muốn sửa đổi oai dung để đạt đến chỗ tuyệt mĩ. Quì miệt mài nghiên cứu nhiều năm mới tạc thành tượng. Các tượng tuyệt đẹp ở Đông Hạ chưa có tượng nào được như thế, khiến đạo tục chiêm ngưỡng như bỗng thấy được Phật thật. Khích Gia Tân ở Cao Bình dâng hương cầu nguyện: “Nếu như còn sống, con lại thấy được thánh dung, khi qua đời con nguyện gặp được Phật Di-lặc”. Hương đang cầm trên tay ông bỗng nhiên tỏa khói thơm, bay thẳng đến tận mây. Mùi thơm còn lại hòa quyện lan tỏa khắp chùa.

Phần 8

Bấy giờ, đạo và tục đều xúc động. Hiện nay tượng an trí tại chùa Gia Tường, Việt châu.
6.4. ỉ 0. Đời Đông Tấn, tượng Phật vàng ở quận Ngô: Niên hiệu Thái Nguyên thứ hai (377) đời Đông Tấn, sa-môn Chi Tuệ (Hộ) ở chùa Thiệu Linh, quận Ngô đúc một tượng Phật vàng cao một trượng sáu. Gần chùa ở phía nam, sư đào một hầm sâu để đúc tượng, khi hoàn tất sắp dời thì đêm ấy, trong hầm tự nhiên tỏa sáng, hoa tuyết trắng tươi đẹp từ bốn phía bay ra. Hoa gần rơi xuống đất thì liền tự dồn lại bay ngược trở lên. Đến sáng sớm, mây trắng như khói từ hầm đúc tượng bay lên, trong mây xuất hiện rồng trắng dài mấy mươi trượng, tỏa ánh sáng rực rỡ, từ từ bò quanh hầm. Mỗi lần rồng đến trước tượng thì ngước nhìn lưu luyến như biểu lộ lòng tôn kính. Bây giờ gió lặng, trời quang đãng, mưa nhẹ, hòa quyện trong hương thơm. Sau khi tượng đã an trí trên tòa, rồng mới bay đi.
Niên hiệu Nguyên Gia thứ nhất (424), ẩn sĩ ở Tiêu Quốc là Đái Ngung không vừa ý phong cách tượng cổ xưa, liền sửa để tượng có uy tướng như thật, từ vai trở lên làm ngắn lại sáu tấc, dưới chân gọt bớt một tấc.
6.4.11. Đời Đông Tấn, tượng vàng nổi lên ở cửa Đông cung: Niên hiệu Nghĩa Hi thứ nhất (405) đời Đông Tấn, Tư đồ Vương Mật vào cung đứng ở cửa đông. Người hầu của ông nhìn thấy ánh sáng năm màu từ dưới đất vọt lên ở phía đông cửa, nên vô cùng ngạc nhiên. Sau đó, ông cho người đào xuống thì được mâm đồng cổ, dưới mâm đồng là một tượng vàng cao bốn thước, có đủ cả viên quang và đài tượng. Tượng này giống với tượng của vua A-dục tạo mà Tôn Hạo đã phát hiện. Nhân đó, ông thỉnh tượng vào cung. Tống Vũ đế vốn không có lòng kính tin, nhưng khi được tượng thì khởi lòng cung kính, vui mừng, đích thân đỉnh lễ tôn thờ. Tượng này được đặt ở chùa Ngõa Quan, sau dời về chùa Long Quang.
6.4.12. Đời Đông Tấn, tượng bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở Lô sơn: Xưa, có một đại thần nổi tiếng tên là Đào Khản, tự Sĩ Hành, đóng quân ở biển phía nam. Có ngư dân hằng đêm thấy bờ biển tỏa ra ánh sáng, nhân đó tâu lên. Khản sai người đến xem, thì thấy một tượng vàng nổi lên, vượt sóng đến bên thuyền. Đọc dòng chữ khắc trên tượng mới biết đó là tượng bồ-tát Văn-thù-sư-lợi do vua A-dục tạo.
Từ xưa truyền rằng: “Vua A-dục thống lĩnh châu này, mô phỏng theo quỉ vương mà lập ngục tù, trị phạt tội nhân rất tàn khốc. Đức Văn-thù hiện trong chảo lửa tuy cháy mạnh nhưng nước trong mát, lại mọc lên hoa sen xanh. Vua tỉnh ngộ, liền phá ngục ngay ngày hôm ấy, lại xây tám vạn bốn nghìn tháp và đúc tám vạn bổn nghìn tượng. Tượng trên là một trong số tượng ấy.
Lúc đầu Đào Khản chưa tin sâu nhân quả, nhưng khi nhìn thấy tượng phúc lành này thì lòng vô cùng kính ngưỡng. Ông đưa tượng đến chùa Hàn Khê ở Vũ Xương. Sau ông nhậm chức tại Kinh châu, vì muốn dời tượng sang đó nên ông sai người khiêng tượng. Lúc đầu đưa tượng đến chùa Hàn Khê thì chỉ vài người là nhấc tượng lên được, nhưng nay tăng thêm mấy mươi tráng sĩ mà cũng chẳng thể di chuyển.
Sau đó lại gia tăng nhân lực đưa lên xe chở đi, nhưng khi mới chuyển sang thuyền thì thuyền bị chìm. Đào Khản tự hiểu, lệnh đưa tượng trở lại chùa. Lúc này chỉ cần hai ba người là có thể thỉnh tượng lên.
Sa-môn Tuệ Viễn kính ngưỡng thánh tượng, nên thỉnh vào Lô sơn. Bấy giờ, việc vận chuyển tượng không chút trở ngại. Điều này chứng tỏ thánh thần ứng hiện do con người. Cho nên có bài thơ lưu truyên:
Đào Khàn nhờ kiếm tỏ anh hùng
Thánh tượng dùng thần hiển uy linh
Mây bay bùn đọng hai cảnh ấy
So sánh sao mà quá xa xôi!
Chính là việc này vậy.
Cuối đời Tùy, giặc cướp nổi lên, chúng tăng li tán. Có một vị tăng lớn tuổi không rõ tên, đến từ biệt tượng. Tượng nói:
- Sư tuổi già, nên ở lại, đâu được bỏ đi?
Vị tăng nghe lời ở lại.
Bấy giờ, giặc Đổng Đạo Xung quấy phá Giang châu. Bè lũ của hắn xông vào chùa tìm cướp của cải, bắt chư tăng để đòi vàng. Vị tăng ấy nói:
- Không thể được!
Bọn giặc định thiêu sống, vị tăng lại nói:
- Ta bị đốt, thây chết làm nhơ uế chốn già-lam, chi bằng ra bên ngoài chùa!
Giặc cướp lôi sư ra ngoài định giết, vị tăng lại nói:
- Đã bảy mươi năm ta không phụ lời Phật dạy. Hăy đợi ta chính niệm đưa cổ ra, rồi ngươi hãy hạ đao
Giặc chấp nhận. Khi thấy sư đưa cổ ra, giặc liền chém, nhưng dao quay ngược lại đâm thẳng vào tim giặc, xuyên thấu lưng. Bọn giặc hoảng sợ chạy về phia đông, đến chỗ tháp ngài Tuệ Viễn. Bấy giờ, trời quang mây tạnh bỗng nhiên mây kéo đến như cái lọng đen, sấm sét bốn bề, đánh sáu tên giặc chết tại chỗ.
Nhân dân nội thành Giang châu đều mang theo áo quần, vật dụng vào núi ẩn nấp, nhờ việc này mà bọn giặc không dám vào. Còn vùng ngoại thành Giang châu đều bị giặc cướp phá và đốt sạch.
Hiện nay, trên gác cao chùa Đông Lâm vẫn còn thờ tượng này. Vào khoảng niên hiệu Vũ Đức (618-626), gió đông thổi đẩy gác nghiêng về phía bắc. Mọi người muốn chỉnh lại nhưng chỉ nhọc công. Chư tăng bèn cầu nguyện thần núi thổi gió sửa gác thẳng đứng. Lát sau, gió mạnh thổi từ hướng bắc đến, gác lại thẳng đứng như cũ.
6.4.13. Đời Nguyên Ngụy, tượng tại Lương châu: Niên hiệu Thái Duyên thứ nhất (435) đời Thái Vũ đế, sa-môn Lưu Tát Hà ở Li Thạch du hóa đến phía nam Trường Giang lễ bái ngôi tháp ở huyện Mậu. Sau, sư đến Kim Lăng mở tháp xá-lợi do vua A-dục tạo. Công việc xong, sư đến vùng phía tây, cách Lương châu một trăm bảy mươi dặm và dừng lại địa giới đông bắc quận Phiên Hòa, từ xa hướng vê núi Ngự Cốc mà lễ bái, mọi người không ai hiểu được việc ấy. Sư nói:
- Ở vách núi này sẽ có tượng xuất hiện, nếu linh tượng đầy đủ thì đời vui hưởng thái binh, còn như thiếu thì loạn lạc khố đau.
Trải qua tám mươi bảy năm đến niên hiệu Chính Quang thứ nhất (520), một hôm có mưa to gió lớn, sấm động, vách núi bỗng xuất hiện tượng đá cao một trượng tám thước, hình tướng đoan nghiêm, nhưng không có đầu. Mọi người chọn đá, nhờ thợ tạc đầu tượng lắp vào, nhưng gắn xong lại rơi. Sau đó nhà Ngụy diệt vong. Nghiệm lại thật đúng với lời sư nói!

Phần 9

Đến niên hiệu thứ nhất đời nhà Chu (557), tại khe Thất Lí phía đông thành Lương châu, bỗng nhiên có ánh sáng phát ra chiếu sáng cả một vùng, mọi người đều lấy làm lạ, đến xem thì đó chính là đầu tượng, bèn thỉnh về và gắn vào tượng thì vừa khớp. Thần tượng thiếu đầu đã hơn bốn mươi năm, thân và đầu cách nhau hơn hai trăm dặm, tôn tượng nay mới đầy đủ diệu tướng.
Bấy giờ, ánh sáng chiếu rực rỡ, tiếng chuông ngân vang mà không ai biết xuất phát từ đâu .
Niên hiệu Bảo Định thứ nhất (561) đời Bắc Chu, vua cho xây chùa Thụy Tượng. Niên hiệu Kiến Đức (572-578), Vũ đế sắp phế Phật giáo thì đầu tượng tự rơi. Vũ đế sai Tề vương đến chứng nghiệm, liền gắn đầu lại và cho lính canh giữ, đến sáng lại rơi như cũ. Đó là điềm Phật pháp bị phế bỏ, đất nước diệt vong liên tiếp xảy ra. Sự việc có ghi đầy đủ trong văn bia của ngài Thích Đạo An. Nhà Chu tuy hủy diệt Phật giáo, nhưng chưa phá hủy tượng này.
Đến niên hiệu Khai Hoàng (581-600), Phật pháp được lưu thông lại xây chùa như trước. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ năm (609), Dạng đế25 chinh phạt phía tây, đích thân đến lễ tượng, đổi tên chùa thành Cảm Thông Đạo Tràng. Đến nay, tượng vẫn còn.
Rất nhiều người y theo tượng này để đúc, nhưng đến khi hoàn thành thì hoặc cao hơn, hoặc thấp hơn, không đúng nguyên mẫu.
6.4.14. Thụy tượng tạc ở vách núi Lương châu: Vào niên hiệu Long An thứ nhất 397) đời Tấn An đế, Thư Cừ Mông Tốn26 chiếm đất Lương hơn ba mươi năm.
Vùng Lũng Tây trải qua năm triều Lương27, chỉ có triều Lương này hưng thịnh lâu nhất. Vua chuyên làm phúc thiện, lại cho rằng quốc thành, chùa tháp hoàn toàn chẳng được bền lâu. Xưa nay, hoàng cung đế khuyết rồi cũng thành cảnh hoang tàn, nếu dựng tượng trong thành, thì kết quả cũng như thế, còn như đúc bằng vàng và các loại châu báu thì cũng bị trộm cướp đoạt lấy. Xét kĩ chỉ có tạc tượng trên sườn núi mới có thể tồn tại lâu dài.
Trong khoảng một trăm dặm thuộc nam Lương châu, vách núi trải dài ngút ngàn, chẳng phân biệt được đông tây, ông liền cho đục hang động ở đây để thiết trí tôn tượng, hoặc là tạc, hoặc là đắp, tạo nên rất nhiều pho tượng với muôn nghìn kiểu dáng. Những người đến chiêm bái như bị mê hoặc và vô cùng thán phục. Trong số đó, có tượng thánh tăng bằng đất, cao bằng người, thường kinh hành không lúc nào dừng nghỉ. Đứng xa nhìn thì thấy ngài đi, đến gần quan sát thì thấy tượng bất động. Nhìn dáng vẻ thì giống như tư thế đang đi. Có người rải đất mịn trên mặt đất để xem dấu chân, khi vừa rời xa thì tượng đạp đất bước đi, dấu chân thấm ướt, qua lại không dừng. Người bản xứ nói rằng tượng hiện tướng như thế đã hơn một trăm năm.
6.4.15. Đời Bắc Lương, tượng đá cao một trượng sáu do Thư Cừ Mông Tốn tạo: Hà Tây vương Thư Cừ Mông Tốn rất kính trọng Phật pháp. Ông vì mẹ mà tạc tượng Phật bằng đá cao một trượng sáu an trí tại một ngôi chùa trong núi.
Niên hiệu Nguyên Gia thứ sáu (429) đời Tống, ông sai thế tử28 Hưng Quốc đánh Bao Hàn. Hưng Quốc đại bại và tử trận. Mông Tốn oán hận cho là Phật không linh nghiệm, liền ra lệnh phá chùa, đuổi tăng. Có lần Mông Tốn đi đến núi Dương Thuật, nhìn thấy chư tăng nghinh đón hai bên đường thì nổi giận, chém ngay vài vị. Lúc bấy giờ, sĩ tướng vào chùa lễ bái tượng này, thấy tượng tuôn nước mắt giàn giụa. Họ sợ hãi trở về tâu lại. Mông Tốn liền đến xem, vừa đến cửa chùa thì toàn thân bỗng nhiên sợ hãi, run rẩy, tựa như có người kéo. Ồng liền gọi quân hầu cận đến dìu vào, thấy tượng tuôn nước mắt như suối, ông liền lễ lạy, ăn năn lỗi lầm. Lại chí thành thiết lễ, triệu thỉnh chư tăng tiếp tục tu hành.
Xét thấy Mông Tốn tin Phật mà chẳng biết rõ việc đánh thành, giết người chiếm đất là điều mà Phật cấm. Nhưng bản tính ông vốn hay thay đổi, phàm buông tâm tạo ác thì chốn khổ nào mà chẳng rơi vào! Ban đầu ông rất trọng Phật pháp, kết bạn thân với Đàm-vô-sấm29 và thỉnh ngài dịch kinh Niết-bàn, nguyện đồng sinh tử. Sau vì một chút sân hận, mà sai thích khách hại ngài. Nay hành quân thất lợi, lại đổ lỗi cho Phật pháp, phá chùa, giết tăng, sao tàn độc thế? Cuối cùng tuy có sửa đổi, nhưng không thể bù đắp lỗi lầm đã gây.
Ngày nay, có hai trăm tám mươi khám thờ Phật tại vách núi cao hai dặm thuộc dãy Tam Nguy, cách Sa châu theo hướng đông nam ba mươi dặm, tượng Phật nơi đây phóng ánh sáng rực rỡ.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục