PUCL QUYỂN 9 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
29/10/2015
QUYỂN 9 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.5. XUẤT THAI 5.5.1. Lời đẫn Kính nghĩ! Đức Phật Định Quang thụ kí vào đời tương lai có Phật hiệu là Năng Nhân. Thầm hợp lời huyền kí, nên bồ-tát...

QUYỂN 9
Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật.
5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
Vì thế, khi Ngài vừa gá thai có sáu thứ chấn động, vừa sinh liền đi bảy bước, trời Ngũ Tịnh mưa hoa, chín long vương phun nước. Bao nhiêu điềm linh, tất cả tướng lành thảy đều ứng hiện, xưa nay chưa từng có như vậy.
Lúc mang thai khác với Nghiêu, Hiên; khi giáng sinh cũng khác với Vũ, Tiết. Đến như điềm Hắc đế nhập mộng, bạch quang chiếu sáng khắp nhà, chỉ biết gọi là điềm lành, chứ có thể suy lường bàn luận được?
Quang thân có quang sắc một trượng, giữa mày có bạch hào năm thước; trịch y thì thấy chữ ở trước ngực, cất bước thì thấy Thiên Luân dưới bàn chân. Nói tóm lại, Phật có đủ ba mươi hai tướng. Thế nên, không thể lấy các tướng mặt rồng, mũi hổ, tám sắc, mắt hai tròng đen hay những sắc đẹp ở con người mà so sánh hơn kém với Thế Tôn
5.5.2 Đón hoàng hậu
Kinh Phật bản hạnh ghi: Thánh mẫu Ma-da mang thai Bồ-tát sắp đủ mười tháng, gần đến ngày hạ sinh. Khi ấy, cha của hoàng hậu Ma-da là trưởng giả Thiện Giác sai sứ đến nước Ca-tì-la diện kiến vua Tịnh Phạm. Sứ giả tâu “cha của hoàng hâu là Thiện Giác tâu đại vương rằng “theo ta được biết! Con gái của ta là đại phu nhân cùa đại vương đang mang thánh thai, oai đức rât lớn. Nếu thánh thai ra đời thì con gái ta sẽ hết thọ, không lâu ắt qua đời. Ta muốn rước Ma-da về trú ở Lam-tì-ni nghi dưỡng, và cũng để cùng nhau sum họp cho trọn tình cha con. Cúi xin đại vương chớ ngăn cản! Xin thương xót, cho con gái ta về nhà, sau khi sinh nở xong ta sẽ đưa trở lại”.
Vua Tịnh Phạn nghe sứ giả của trưởng giá Thiện Giác tâu, liền ban lệnh cho các hữu ti sửa sang con đường giữa nước Ca-tì-la và sông Đề-bà-đà, trang hoàng cờ xí, hoa hương, âm nhạc v.v... Ngày hôm đó, kẻ hầu người hạ đông vô số kể củng tiễn hoàng hậu về nhà”.
5.5.3. Hiện điềm
Kinh Phổ diệu ghi: “Thái tử ở trong thai tròn mười tháng, sắp đến lúc hạ sinh, trước ứng hiện ba mươi hai điềm lành:
1. Cây ở hậu viên tự nhiên ra trái.
2. Trên đất liền trổ hoa sen xanh lớn như bánh xe.
3. Cây khô trên đất liền tự nhiên mọc lá trổ hoa.
4. Thiên thần kéo xe có màn kết bằng bảy báu đến.
5. Hai vạn kho báu trong lòng đất tự nhiên xuất hiện.
6. Hương thơm quý lan tỏa khắp gần xa.
7. Năm trăm sư tử trắng ở núi tuyết xuất hiện, đến đứng xếp hàng trước cửa thành nhưng không hại người.
8. Năm trăm con voi trắng đứng trước cung điện.
9. Trời mưa phùn đượm hương, khiến khắp nơi đều thơm ngát và sạch sẽ.
10. Trong cung vua tự nhiên xuất hiện dòng suối, thức ăn uống trăm vị, đủ để cung cấp cho những người đói khát.
11. Các rồng và thiên nữ hiện nửa thân hình trụ ở trên không.
12. Một vạn thiên nữ cầm phất tử bằng lông khổng tước hiện ở trên tường của cung điện.
13. Một vạn thiên nữ cầm một vạn bình vàng đựng đầy cam lộ trụ giữa hư không.
14. Một vạn thiên nữ cầm một vạn bình đựng đầy nước hương, đi và trụ trong hư không.
15. Một vạn thiên nữ ở các cõi trời cầm cờ lọng đứng hầu.
16. Các thiên nữ đứng xếp thành hàng trong hư không trổi trăm nghìn thứ nhạc tự nhiên hòa điệu.
17. Nước bốn sông lặng trong không chảy.
18. Mặt trời, mặt trăng đứng yên.
19. Dưới sao Phí có các ngôi sao vây quanh.
20. Màn trướng kết châu báu giăng che khắp vương cung.
21. Minh nguyệt thần châu treo ở điện đường phát ra ánh sáng rực rỡ.
22. Đèn đuốc trong cung không sáng.
23. Y phục trong rương tự nhiên mắc trên giá áo.
24. Tất cả các kho báu tự nhiên xuất hiện.
25. Rắn độc trốn mất, chim quý bay lượn hót vang.
26. Địa ngục ngừng dứt các hình phạt tàn khốc.
27. Mặt đất chấn động mạnh, gò đồi đều bằng phẳng.
28. Mọi nẻo đường đều bằng thẳng và được rải hoa.
29. Các hầm hố đều được bằng phang.
30. Những ngư phủ, thợ săn độc ác bỗng khởi lòng từ.
31. Tất cả phụ nữ trong nước có thai đều sinh được con trai. Những người bị đui, mù, câm, ngọng, già yếu và tất cả người bệnh đều lành.
32. Tất cả thụ thần hiện nửa thân hình cúi đầu đỉnh ỉễ.
Mọi người hiện diện thấy vậy đều cho là việc chưa từng có".
5.5.4. Gá thai
Kinh Nhân quả ghi: “Bồ-tát ở trong thai sắp đủ mười tháng, các chi tiết trên thân và tướng hảo đều đầy đủ. Lúc ấy, hoàng hậu Ma-da muốn vào vườn đi dạo, vua Tịnh Phạn liền ra lệnh chọn tám vạn bốn nghìn thể nữ xinh đẹp ở hậu cung theo hầu, tám vạn bốn nghìn bé gái xinh đẹp mang hưong hoa đên vườn Lam-tì-ni. Vua cũng ra lệnh cho quần thần, bách quan đều phải đi theo. Lúc ấy, hoàng hậu Ma-da ngồi trên xe báu, phía trước và sau xe là các quần thần, bách quan, thể nữ, họ cùng nhau đến vườn Lam-tì-ni. Tám bộ trời, rồng ... đi theo đầy cả hư không.
Hoàng hậu mang thai đủ mười tháng, vào ngày mùng tám tháng tư, khi mặt trời vừa mọc hoàng hậu Ma-da nhìn thấy cây Vô Ưu lớn trong hậu viên trổ hoa tươi thắm, hương thơm ngào ngạt, cành nhánh trải rộng rất xanh tốt, liền đưa tay phải định hái hoa. Ngay lúc ấy, bồ-tát từ hông phải giáng sinh”.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Đức Phật bảo Bồ tát Di-lặc:
- Ông phải biết nay Ta thụ kí cho ông năm mươi sáu ức bảy nghìn vạn năm nữa thành tựu Vô thượng chính đẳng giác nơi cội thụ vương này. Ta sinh ra bên hông phải còn ông sinh ra từ trên đỉnhđầu. Ta thọ một trăm tuổi, ông thọ tám vạn bốn nghìn tuổi. Mặt đất trong cõi nước của Ta bằng đất, cõi nước của ông thì bằng vàng. Cõi cùa Ta khổ đau, cõi của ông an vui”.
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Bồ-tát ở trong thai thấy mẹ đứng đưa tay vin cành cây, liền chính niệm từ chỗ ngồi đứng dậy. Bao nhiêu mẹ của tất cả các loài chúng sinh khác, lúc sắp sinh con toàn thân đau đớn và chịu nhiều khổ não, đứng ngồi không yên. Còn mẹ của bồ-tát vẫn vui vẻ, bình thường, thân thể vô cùng an ổn.
Khi Ma-da phu nhân đứng lại, đưa tay vin lấy cành cây Ba-la-xoa thì liền sinh bồ-tát. Đây là việc hi hữu, là pháp chưa từng có của bồ-tát, biểu thị sau khi bồ-tát thành tựu Phật quả, Ngài không từ mệt nhọc, nhổ sạch cội gốc phiền não, cắt đứt hết mọi sợi dây phiền não, giống như cây đa-la bị chặt đứt ngọn thì hoàn toàn không thể sống được, không có tướng, không có hình, hoàn toàn không còn tái sinh. Đây là điềm lành có từ quá khứ của Như Lai.
Lại nữa, tất cả các loài chúng sinh lúc sinh đều bị các khổ bức bách, khi ở trong thai, thì di chuyển khắp bụng mẹ. Bồ-tát không như vậy, Ngài nhập thai từ hông phải và ở mãi bên hông phải. Khi ở trong thai, Ngài không di chuyển, đến khi sinh ra cùng sinh từ hông phải, không bị các khổ bức bách. Đây là việc chưa từng có của bồ-tát, biểu thị việc từ thành Phật mãi đến về sau, Phạm hạnh thanh tịnh, vĩnh viễn không còn sợ hãi, luôn được an vui, không còn các khổ.
Lúc bồ-tát ở nơi hông phải của mẹ chính niệm giáng sinh, liền phóng ánh sáng lớn chiếu soi khắp nơi. Đây là việc chưa từng có của bồ-tát, biểu thị, sau khi thành Phật, Ngài phá trừ lưới vô minh đen tối, phát ra ánh sáng trí tuệ rực rỡ thanh tịnh.
Lúc bồ-tát vừa từ hông phải của mẹ sinh ra, Ngài luôn buộc tâm nhớ nghĩ. Khi ấy mẹ của bồ-tát thân thể vẫn an lành, không bị tổn thương, không đau đớn. Thân của mẹ bồ-tát bình thường như không có gì khác. Đây là việc chưa từng có của bồ-tát, biểu thị, sau khi thành Phật, Phạm hạnh thanh tịnh, không khuyết phạm, không suy giảm, đầy đủ không thiếu.
Khi bồ-tát vừa ra khỏi thai mẹ, không khổ, không não, an ổn đứng dậy, tất cả những thứ nhơ uế không dính vào thân, Ngài không giống như bao chúng sinh khác. Giống như bảo châu như ý bọc trong lụa Ca-thi-ca, không làm bẩn nhau. Đây là việc chưa từng có của bồ-tát, biểu thị, sau khi thành Phật, Ngài ở tại thế gian giảng thuyết pháp hỉ hữu, dù thế gian nhơ uế, nhưng không làm vấy bẩn Ngài.
Khi bồ-tát vừa ra khỏi thai mẹ, trời Đế Thích dùng vải Kiều-thi-ca mịn màng ờ cõi trời quấn quanh tay, hiện ra trước tiên đỡ lấy thân bồ-tát. Đây là việc chưa từng có của bồ-tát, biểu thị, sau khi thành Phật, Ngài là giáo chủ của thế giới Sa-bà, Đại Phạm Thiên vương là người đầu tiên khuyến thỉnh Như Lai thuyết pháp.
Khi bồ-tát vừa từ hông phải của mẹ sinh ra, Tứ đại thiên vương liền bế bồ-tát đến trao cho hoàng hậu xem và nói: ‘Nay đại phu nhân nên vui mừng, người đã hạ sinh được một thân người, chư thiên chúng tôi còn hoan hỉ, khen ngợi huống gì loài người!’. Đây là việc chưa từng có của bồ-tát, biểu thị sau khi thành Phật, vô lượng bốn chúng nghe nhận giáo pháp, làm theo lời Như Lai dạy, không trái phạm.
Bồ-tát sinh ra rồi, Ngài đứng ngay thẳng nhìn vào hông phải của mẹ và nói: ‘Thân này của Ta từ nay về sau không thụ thai nữa, cũng không vào nằm bên hông phải của mẹ nữa, đây là thân cuối củng của Ta. Ta sẽ thành Phật’. Đây là việc chưa từng có của bồ-tát, biểu thị sau khi thành Phật, Ngài nói: ‘Nay sự tái sinh cùa Ta đều chấm dứt, Phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không thụ thân sau’. Đây là điềm lành ngày trước Như Lai”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Bồ-tát vừa sinh liền hướng về mười phương, mỗi phương đi bảy bước. Lúc ấy, quỷ thân đại tướng Ma-nibạt-đà, Phú-na-bạt-đà cầm cờ lọng làm chấn động vô lượng vô biên thế giới, ánh sáng sắc vàng chiếu rực rỡ khắp cả hư không. Long vương Nan-đà và Bạt-na-đà dùng sức thầnthông tắm bồ-tát. Các trời hiện hình nghinh tiếp và lễ bái.
Bấy giờ tiên A-tư-đà chắp tay cung kính đoán răng: ‘Thái tử đến tuôi trưởng thành, sẽ từ bỏ những ham muốn như nhổ bỏ đàm giải, không bị các thứ vui thú ở thế gian mê hoặc, xuất gia tu đạo, thích ở nơi vắng. Vì phá trừ tà kiến, nên Ngài tu hành khổ hạnh sáu năm, xem tất cả chúng sinh đều như nhau, không khác, tâm thường an trú trong định, không bao giờ tán loạn, tướng và hảo trang nghiêm thân, đi đến nơi nào thì hầm hố đều chuyển thành bằng phẳng, y phục cách thân bốn tấc nhưng không rơi, khi đi nhìn thẳng về phía trước không liếc nhìn hai bên, ăn món gì cũng không còn dính miệng, ngồi đứng nơi nào thì cây cỏ nơi đó không rối loạn; lại vì điều phục chúng sinh nên thuyết pháp, tâm không kiêu mạn”.
5.5.5. Chiêu cảm phúc báo
Kinh Nhân quả ghi: “Khi thái tử ra đời, dưới cây Vô Ưu cũng mọc bảy đóa hoa sen bảy báu, lớn như bánh xe. Bồ-tát rơi trên hoa sen, không ai dìu đỡ, Ngài tự đi bảy bước {kinh Đại thiện quyền "Đi bày bước là ứng với Thất giác ý ”), đưa tay phải lên và cất tiếng như tiếng sư tử:
- Ta là bậc tối tôn tối thắng trong tất cả trời người, vô lượng sinh tử từ nay chấm dứt.
Thái tử nói dứt lời, Tứ thiên vương dùng lụa trời đỡ thân thái tử đặt lên ghế báu. Thích-đề-hoán-nhân cầm lọng báu, Đại Phạm thiên vương cầm phất trần trắng đứng hầu hai bên. Long vương Nan-đà và Ưu-ba-nan-đà long vương ở trên không trung phun nước trong sạch, một dòng âm, một dòng mát tắm thái tử (Kinh Phổ diệu ghi: “Các trời Phạm thiên, Đế Thích mưa các loại danh hương. Chín ròng tuôn nước thơm tắm bồ-tát Kinh Thụy ứng bản khởi ghi: “Phạm thiên, Đế Thích xuống hầu, Tứ đại thiên vương đỡ lấy bồ-tát đặt trên ghế vàng”. Kinh Tu hành bản khởi ghi: “Anh em long vương bên trái mưa nước ấm, bên phải mưa nước mát. Đế Thích, Phạm vương dùng vải trời quấn quanh bồ-tát”).
Thân thái tử sắc vàng, đủ ba mươi hai tướng, phóng ánh sáng rực rỡ chiếu sáng tam thiên đại thiên thế giới. Ánh sáng ấy trụ ở nước Ca-duy-la-vệ, trung tâm ba nghìn mặt trời mặt trăng và một vạn hai nghìn thiên hạ (Có một trăm vạn ức nhật nguyệt, bốn trăm vạn ức thiên hạ. Nhưng nói ba nghìn là nêu tóm tắt, cho nên biết, có sự phân biệt giữa Hoa và Nhung. Kinh Hải nội ghi: (Nước Thân-độc là nơi mà họ Hiên Viên cư trú”. Quách Thị chú thích:
“Thân-độc là nước Thiên Trúc, nói đó là trung tâm cùa trời đất thì cũng không phải là quá” Hậu Hán thư chép: ‘‘Ngoài dãy Thông Lĩnh gọi là Cửu Di, nước ấy rộng lớn đẹp đẽ hơn Trung Quốc Sách Ngô Việt xuân thu chép: ‘‘Quỷ Tử vào đất Chu thấy y phục của Chương phủ và nhạc cùa Tam đại . Nếu nói nước Ngô là nước Man-di há có việc này sao? Tuy nhiên, nếu căn cứ vào đây mà luận thì chưa chắc đã chính xác. Cho nên phải tùy theo sự thay đổi cùa từng thời đại, không đồng quan điểm về Trung thiên mà xưa nay thường xác định
Luận Trí độ ghi:
Hỏi: Vì sao Phật hiện thân sắc vàng?
Đáp: Nếu sắt ở bên cạnh vàng thì sắt không hiện được. Vàng thời nay ở gần vàng thời Đức Phật thì vàng thời nay không hiển lộ. Vàng thời Phật ở gần vàng Diêm-phù-na thì vàng thời Phật không hiển lộ. Vàng Diêm-phù-na ở gần kim sa trong đại hải của Chuyển luân thánh vương đạo, vàng Diêm-phù-na không hiển lộ. Kim sa ở gần kim sơn thì kim sa không hiển lộ. Kim sơn ở gần vàng Tu-di-sơn thì kim sơn không hiển lộ. Vàng Tu-di-sơn ở gầnvàng Tam Thập Tam thiên và chuỗi ngọc của chư thiên thì vàng Tu-di-sơn không hiển lộ. Vàng Tam Thập Tam thiên và anh lạc của chư thiên để gân vàng Diệm-ma thiên, vàng Tam Thập Tam thiên và anh lạc của chư thiên không hiển lộ. Vàng của Diệm-ma thiên ở gần vàng Đâu-suất-đà thiên, vàng của Diệm-ma thiên không hiển lộ. Vàng của Đâu-suất-đà thiên ở gần vàng của Hóa Tự Tại thiên, vàng của Đâu-suất-đà thiên không hiển lộ. Vàng của Hóa Tự Tại thiên ở gần vàng của Tha Hóa Tự Tại thiên, vàng của Hóa Tự Tại thiên không hiển lộ. Vàng cùa Tha Hóa Tự Tại thiên ở gần sắc thân của bồ-tát, vàng của Tha Hóa Tự Tại thiên không hiển lộ. Diệu sắc như thế gọi là tướng Kim sắc”.
Kinh Thụy ứng ghi: “Khi thái tử vừa mới ra đời, bát bộ trời rồng... xuất hiện trong hư không trỗi nhạc, ca hát, ngâm vịnh, tán tụng, đốt hương, rải hoa, mưa các loại y trời và chuỗi ngọc rực rỡ nhiều không thể đếm xuể. Dưới cội cây bỗng hiện ra bốn cái giếng có nước tám tính chất. Bấy giờ có ba mươi bốn điềm lành ứng hiện”.
5.5.6. Hàng phục tà ma
Kinh Thụy ứng ghi: “Khi hay tin hoàng hậu vừa hạ sinh thái tử, vua Tịnh Phạn liền dẫn bốn loại binh, cùng với các quần thần đến vườn Lam-tì-ni. Đến nơi, vua thấy thái từ hiện điềm lạ như thế thì vừa vui vừa sợ, chắp tay lễ tạ các thiên thần. Vua bế thái tử đặt lên xe voi bảy báu rồi cùng với quần thần, thể nừ, chư thiên trỗi nhạc theo vào thành. Vì vuakhông biết Tam bảo, nên đưa thái tử đến miếu thờ trời. Thái tử vừa vào miếu, tượng Phạm thiên liền đứng dậy đỉnh lễ dưới chân thái tử và nói với vua Tịnh Phạn:
- Đại vương nên biết! Thái tử đây là bậc tôn quý trong trời người, tất cả thiên thần trong hư không đều phải đỉnh lễ. Đại vương không thấy việc ấy hay sao mà còn đưa thái tử đến đây đỉnh lễ tôi?
Vua Bạch Tịnh cùng các đại thần đều cho là việc chưa từng có, liền đưa thái tử rời miếu, trờ về hoàng cung”.
Kinh Phổdiệu ghi: “Khi thái tử vừa đến miếuthờ trời, ngài nói bài kệ:
Mới sinh, động tam thiên
Thích, Phạm, A-tu-luân
Nhật, nguyệt, các thiên vương
Đều cúi đầu đỉnh lễ
Còn có trời nào hơn
Mà đưa Ta đến đó?
Thiên trung thiên, siêu thiên
Trời không thể so sánh
Thuận thế đến nơi này
Hiện điềm lành người vui
Bao nhiêu thứ cúng dường
Thiên trung thiên, siêu thánh.
Bấy giờ, Thích, Phạm, Tứ thiên vương đều rời chỗ ngồi xuống nhân gian, năm vóc sát đất đỉnh lễ dưới chân bồ-tát. Khi ấy, trăm nghìn chúng trờingười, nhân dân im lặng tán ngưỡng rồi bỗng đồng loạt cất tiếng lớn ca ngợi việc chưa từng có. Họ vô cùng vui sướng, trời đất chấn động mạnh, trời mưa các loại hoa, trăm nghìn kĩ nhạc không trỗi tự vang. Từ các tượng, chư thiên hiện thân đỉnh lễ dưới chân bồ-tát, rồi đứng dậy nói kệ:
Tu-di so hạt cải
Hơn trời rồng biến hiện
Làm sao lại có chuyện
Nhật nguyệt lễ đom đóm
Tuệ đức sao lễ trời?
Tam thiên đều quy y.
Hạt cải so Tu-di
Dấu chân trâu sánh biển
Cao cả hơn nhật nguyệt.
Nếu lễ bậc chí tôn
Công đức không tính kể
Mỗi mỗi được an ổn
Đức nhiều không hạn lượng.
5.5.7. Đồng ứng hiện sinh
Kinh Thụy ứng ghi: “Lúc ấy, những người trong dòng họ Thích cùng một ngày sinh được năm trăm bé trai”.
Kinh Tu hành bản khởi ghi: “Khi ấy, tám vạn bốn nghìn trưởng giả trong nước đều sinh con trai, tám vạn bốn nghìn ngựa đều sinh ngựa con. Trong đó có một con ngựa rất đặc biệt, lông của nó toànmàu trắng, bờm như xâu chuỗi báu, nên đặt tên là Khiển-đặc và người giữ ngựa tên là Xiển-đặc”.
Kinh Thụy ứng bản khởi ghi: “Người giữ ngụa tên Xa-nặc, ngựa tên Kiền-trắc. Bấy giờ trong các chuồng thú của vua, voi sinh voi trắng, ngựa sinh ngựa trắng; trâu, dê sinh nghé và dê con năm sắc. Mỗi loài đều sinh năm trăm con. Năm trăm hoàng hậu và phi tần của các vương tử cũng sinh năm trăm người con (Kinh Phổ diệu ghi: “Năm nghìn hậu phi mỗi người sinh một lực sĩ”.
Bấy giờ, trong cung tự nhiên xuất hiện năm trăm kho báu. Các thương buôn vào biển tìm châu báu cũng đã trở về, mỗi người mang kì trân dị bào dâng nạp cho vua. Vì xuất hiện những điềm lành như thế, nên vua đặt tên thái tử là Tất-đạt.
Cùng lúc ấy, tám vương tử ở trong cung của vua Bạch Tịnh đồng sinh thái tử, họ đều rất vui mừng, cùng đặt tên rất hay cho con”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Trong nước Ca-duy-la-duyệt có tám thành, gồm chín trăm vạn gia đình. Điều-đạt sinh vào ngày bảy tháng tư, Phật sinh vào ngày tám tháng tư, em Phật là Nan-đà sinh vào ngày chín tháng tư, A-nan sinh vào ngày mười tháng tư. Thân Điều-đạt cao một trượng năm thước bốn tấc, thân Phật cao một trượng sáu thước, thân Nan-đà cao một trượng năm thước bốn tấc, thân A-nan cao một trượng năm thước ba tấc. Thân của hàng quí tộc Xá-di cao một trượng bốn thước. Thân của nhữngngười thuộc dòng họ khác trong nước đều cao một trượng ba thước. Bên ngoại của bồ-tát họ là Cù-đàm ở cách thành Ca-duy-la-duyệt tám trăm dặm, làm vua một nước nhỏ có một trăm vạn hộ dân, vua tên là Nhất Ức. Bên vợ của bồ-tát cũng họ Cù-đàm. Trưởng giả dòng Xá-di tên là Thủy Quang, vợ tên Nguyệt Nữ, trú trong một tòa thành gần vương quỗc của vua Nhất Ức. Bà sinh được một bé gái, lúc sinh mặt trời sắp lặn, những tia sáng cuối cùng chiếu sáng rực cả nhà, nhân đó đặt tên cho bé gái là Cù-di. Về sau Cù-di là đệ nhất phu nhân của thái tử. Những người sinh La-hầu-la là phu nhân thứ hai của thái tử, tên là Da-duy-đàn. Cha của phu nhân Da-duy-đàn là trưởng giả Di-thí. Phu nhân thứ ba của thái tử lả Lộc Dã. Cha của Lộc Dã là trưởng giả Thích.
Vì thái tử có ba phu nhân, nên vua Bạch Tịnh cho xây ba cung điện ứng với ba mùa. Trong mỗi cung điện có hai vạn thể nữ, ba cung điện có sáu vạn thể nữ. Vì thái tử sẽ làm Già-ca-việt vương nên mới được sắp đặt sáu vạn thể nữ.
5.5.8. So sánh và suy lường
Luận Du-già ghi: “Có bốn trường hợp nhậpthai:
1. Nhập thì chính tri nhưng trụ và xuất không chính tri.
2. Nhập và trụ chính tri, nhưng xuất không chính tri.
3. Nhập, trụ, xuất đều chính trí.
4. Nhập, trụ, xuất đều không chính trí.
Trường hợp thứ nhất là luân vương
trường hợp thứ hai là độc giác nhập thai, trường thứ ba là bô-tát nhập thai, trường hợp thứ tư là tất cảcác loại hữu tình nhập thai.
Luận Thật tính có bài kệ:
Từ trời gá vào thai
Đời này có cha
Thị hiện làm trẻ thơ
Học tập hết các môn
Vui đùa và dạo chơi
Xuất gia tu khô hạnh
Đến trường của ngoại đạo
Hàng phục các thiên ma
ThànhPhật chuyển Pháp luân
Lạithị hiện niết-bàn
Nhữngchúng sinh phúc mỏng
Khônggặpđược Như Lai
Kinh Thụy ứng ghi: “Thái tử giáng sinh vào đêm mùng tám tháng tư khi minh tinh vừa xuất hiện”.
Phậtsở hành tán ghi: “Bồ-tát sinh ra từ hôngphải vào ngày mùng tám tháng ba”.
Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả ghi: “Vào ngày mùng tám tháng hai, phu nhân đến vườn Lâm-tì-ni, vừa thấy hoa Vô Ưu, bà liền đưa tay phải hái thì thái tử từ hông phải giáng sinh”.
Ở đây cho rằng, thời gian đã cách quá xa, lại có người dịch trước người dịch sau, nếu chỉ căn cứ văn kinh thì rất khó xác định. Còn nghiên cứu các sách vở bên ngoài hình như có thể thấy được.
Sách Xuân Thu ghi: “Lỗ Trang Công năm thứ bảy, tức đời vua Trang Vương năm thứ mười một, nhằm tháng tư năm Tân Hợi, bấy giờ mặt trời không mọc, sao rơi như mưa”.
Như vậy, xét kĩ nội và ngoại điển thì thấy tất cả đều lấy tháng tư là chính.
5.6. NUÔI DƯỠNG
5.6.1. Lời dẫn
Thần diệu mà lặng thông, trí viên mà chiếu suốt. Đạo thì bặt hình và danh, lý thì dứt sinh cùng diệt. Hình và danh đã dứt từ xưa, há có thật sinh vào cung vua sao? Sinh và diệt đã đoạn, há lại nhờ đến thị vệ ư? Đại thánh ứng sinh, cốt mong làm lợi ích cho chúng sinh. Có cảm thì mới ứng hiện chiếu soi đến mọi nẻo tối tăm. Vì chúng sinh có nhiều căn cơ khác nhau, nên việc lãnh thụ pháp giáo cũng không phải một. Trong đó, hoặc nhờ tham thiền nhập định mà ngộ đạo; hoặc nhờ tuệ giải mà khai tâm; hoặc phải thị hiện anh nhi để được bảo vệ; hoặc hiện ra cảnh bú mớm để được nuôi dưỡng. Duyên ngộ đạorất nhiều không thể nêu ra hết. Đó là năng lực dẫn dắt chúng sinh, cũng là nghệ thuật cứu đời.
5.6.2. Nuôi dưỡng
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Thái tử mới sinh được bảy ngày thì hoàng hậu Ma-da qua đời”. Hoặc thầy tướng số cho rằng mạng của hoàng hậu chi còn bảy ngày, vì thế mà bà qua đời. Dù nói như thế, nhưng từ xưa đã có việc này. Nghĩa là khi bồ-
tát sinh được bảy ngày thì mẹ của bồ-tát đều qua đời. Vì sao? Vì các bồ-tát xuất gia khi tuổi còn trẻ, nếu mẹ của bồ-tát chứng kiến thì trái tim vỡ nát mà chết
Luận sư của Tát-bà-đa nói: “Mẹ thấy thân thể con xinh đẹp kì lạ hiếm có, không kềm được tòng vui sướng, xúc động nên qua đời. Sau khi qua đời. bà được sinh lên cõi trời Đao-lợi.
Bấy giờ, vua Tịnh Phạn tập họp tất cả những người trong dòng họ Thích lại và nói: ‘Các người đây đều là hoàng thân quốc thích, nay thái tử còn nhỏ mà đã mất mẹ, việc trông nom nuôi dưỡng thái tử nên giao phó cho ai? Nên chỉ định ai nuôi dưỡng thái tử lớn khôn, ai có thể thương yêu thái tử như con của mình?’.
Bấy giờ, năm trăm phụ nừ dòng họ Thích đồng tâu:
- Thần thiếp có thể nuôi dưỡng, chăm sóc thà tử!
Những người trong dòng họ Thích nói:
- Các người đều còn rất trẻ, khỏe mạnh, đarn mê sắc dục, không biết tùy thời chăm sóc, không biết cách yêu thương vỗ về. Chi có Ma-ha Ba-xà-ba-đề đây chính là dì ruột của thái tử, mới có thể thương yêu nuôi dưỡng thái tử được!
Vua Tịnh Phạn nghe nỏi, liền giao thái tử cho Ma-ha Ba-xà-ba-đề và nói:
- Quý thay phu nhân! Đứa bé này cần được nuôi dưỡng, phải khéo bảo vệ và chăm sóc cho chóng lớn, tùy thời tắm rửa.
Vua lại ra lệnh tuyển chọn ba mươi hai thể nữ để giúp việc nuôi dưỡng thái từ. Trong số ba mươi hai thể nữ đó chọn tám thể nữ lo việc ẵm bồng thái từ, tám thể nừ lo việc tắm rửa, tám thể nữ lo việc bú mớm, tám thể nữ chơi đùa với thái tử.
Khi ấy Ma-ha Ba-xà-ba-đề tâu với vua:
- Thiếp sẽ làm đúng như lời bệ hạ căn dặn, không dám làm trái”.
5.63. Điềm lành
Kinh Phật bản hạnh ghi:
- Kể từ khi thái từ ra đời, gia sản của vua Tịnh Phạn tăng lên mỗi ngày; tất cả tiền tài, vàng bạc, châu báu; gia cầm, gia súc đều dư dật. cỏ bài kệ:
Ngũ cốc và tài bảo
Vàng bạc và y phục
Hoặc làm, hoặc không làm
Tự nhiên được đầy đủ
Đồng tử và từ mẫu
Sữa, lạc, tô dư thừa
Từ mẫu nào thiếu sữa
Đều tự nhiên căng đầy.
Những người trước đây oán thù của vua Tịnh Phạn ngày nay tự nhiên trở thành hòa thuận, dần dần thân thiện, đồng tâm nhất ý. Trong nước mưa gió đúng thời, không có tai họa, không có loạn lạc, mùa màng bội thu; nhân dân đều thực hành đúng. pháp, bố thí để tạo công đức. Vì mọi người không bị oan uổng, nên đều vui vẻ, chẳng khác nào cõi trời. Nếu chẳng phải nhờ oai đức của thái tử không thể có được những việc như thế! Nên có bải kệ:
Người đời nghe Phật dạy
Không tham lam, bỏn xẻn
Mọi việc hành đúng pháp
Lòng từ không sát sinh
Thoát khỏi cảnh đói khát
Thức ăn uống đầy đủ
Mọi người đều vui vẻ
Hưởng vui như cõi trời
Kinh Phổ diệu ghi: “Bồ-tát sinh được bảy ngày thì thân mẫu qua đời, thụ phúc tướng trên cõi trời Đao-lợi. Khi thánh mẫu vừa sinh lên cõi trời kia, năm vạn Phạm thiên cầm bình báu, hai vạn phu nhân của Phạm-ma cầm lụa báu đứng hầu mẹ của bồ-tát”.
Kinh Thụy ứng bản khởi ghi: “Bồ-tát đã biết đức hạnh của mẫu thân không thể cưu mang thể chất cùa ngài, cho nên nhân khi mẫu thân sắp mạng chung Ngài mới gá thai”.
Kinh Đại thiện quyền ghi: “Bồ-tát sinh được bảy ngày thì mẫu thân qua đời. Nhờ phúc lành, bà được sinh lên trời, nên không phải lỗi của bồ-tát”.
Kinh Nhân quả ghi: “Dì ruột của thái tử là Ma-ha Ba-xà-ba-đề nuôi dưỡng, chăm sóc thái tử như con ruột của mình”.
5.7. XEM TƯỚNG
5.7.1. Lời dẫn
Bậc chí thánh không có nơi chốn nhất định, nhưng tùy thuận nhân duyên ẩn hiện khắp nơi. Ngài lắng tâm rỗng chiếu, ứng cơ cùng khắp như vang theo tiếng. Đó gọi là thường trụ tịch diệt bất động, nhưng có cảm thì liền ứng. Vì thế, Ngài mới giáng thần vào cung trời Đâu-suất, gá thân xuống nơi Ca-tì-la-vệ.
Gia thế thì tiếp nối ngôi vị Luân vương, môn phong thì kế thừa thánh đạo. Cõi nước thì ở trung tâm của tam thiên giới, đã khác xa Lạc ấp; quốc triều thì có tám vạn dân, thật hơn hẳn non Kê; thân thuộc rấtđông ai có thể biết hết được! Cho dù Lữ công giỏi xem tướng Cao đế, được đời ca tụng là bậc Tri nhân, nhưng cũng không thể sánh với việc Tư-đà đoán tướng thầy ta là Tất-đạt. Như vậy, nếu so sánh hơn kém, thấp cao thì thật có sai khác.
5.7.2. Ban lịnh xem tướng
Kinh Thụy ứng ghi: .“Bấy giờ, vua Bạch Tịnh ra lệnh tìm năm trăm thầy tướng giỏi để xem tướng cho thái tử. Các thầy tướng nói:
- Thái tử là con mắt của thế gian, giống như vàng, các tướng hiện ra rất rõ ràng. Nếu thái tử xuất gia thì sẽ thành tựu Nhất thiết chủng trí. Nếu ở đời sẽ làm chuyển luân thánh vương, thống lãnh bốn thiên hạ, cao tột bậc nhất.
Các thầy tướng lại tâu:
- Phạm tiên A-tư-đà đã được ngũ thông đang ở Hương sơn, có thể giải hết nghi ngờ của bệ hạ.
Vua thầm nghĩ: ‘Đường lên Hương sơn hiểm trở, người thường không thể đến, bằng cách nào để thỉnh được tiên nhân ấy!’. Vua vừa suy nghĩ, tiên nhân A-tư-đà từ xa đã biết được ý vua, nên bay vào cung xem tướng thái tử. Vua thấy tiên nhân đến, vui mừng không nói nên lời, liền cùng hoàng hậu bế thái tử ra định đinh lễ tiên nhân. Tiên nhân liền ngăn: 'Đây là bậc tôn quí nhất trong ba cõi trời người, tại sao bệ hạ bảo đinh lễ tôi?’. Tiên nhân vội đứng dậy chắp tay lễ chân thái từ. Vua thưa:
- Xin tiên nhân xem tướng cho thái tử!
Tiên nhân xem xong, không kiềm chế được, bỗng nhiên bật khóc. Thấy tiên nhân khóc, vua và phu nhân toàn thân run rẩy, vô cùng lo lắng. Giống như cơn sóng lớn đập vào chiếc thuyền nhỏ. Vua vội hỏi:
- Sao tiên nhân khóc, thái tử có gì không tốt ư?
Tiên nhân A-tư-đà tâu:
- Tâu không! Thái tử có đầy đủ các tướng hảo, không có gì xấu cả. Chỉ hận cho tôi đã quá già, năm nay đã một trăm hai mươi tuổi rồi, không lâu nữa tôi qua đời và sinh lên trời Vô Tưởng, không thấy được Phật xuất thế, không được nghe Phật thuyết pháp, cho nên cảm thấy buồn tủi. Nếu chúng sinh nào có đủ ba mươi hai tướng mà không đúng chỗ, dù lâu vẫn không lộ rõ, người ấy nhất định sẽ làm Chuyển luân thánh vương. Nếu chúng sinh nào có đủ ba mươi hai tướng, lại hiện đúng nơi đúng chỗ, các tướng ấy đều lộ rất rõ, người ấy nhất định sẽ thành tựu Nhứt thiết chủng trí. Nay tôi xem thấy các tướng của thái từ rất đúng nơi, lại hiện rất rõ ràng. Vì thế, tôi đoán chắc rằng nhất định thái tử sẽ thành tựu Chính giác.
Tiên nhân đoán tướng thái tử xong vội từ biệt vua mà ra về”.
Kinh Phật bản hạnh ghi:
• Đại vương! Nay tôi hận mình vì tuổi đã cao, thân thể già suy, sau này không gặp được Phật, mất lợi ích lớn, Vì thế tôi khóc, tôi tự thương cho mình chứ không phải thái tử có gì không tốt. Tiên nhân liền nói kệ:
Hận tôi nhiều điên đảo
Không gặp Phật đắc đạo
Uổng một đời không nghe
Tôi bị mất lợi lớn
Nay tôi đã già yếu
Sắp chết đến nơi rồi
Nghĩ đời này được gặp
Vừa vui, vừa lo sợ
Họ Thích vừa hưng thịnh
Lại sinh được con phúc
Tất cà khổ thế gian
Thảy đều được an lạc.
5.73. Thể hiện lòng cung kính
kinh Phật bản hạnh ghi: “Bấy giờ, hoàng hậu Ma-da đưa tay đỡ đầu thái tử xoay về phía tiên nhân, giống như đỉnh lễ dưới chân tiên nhân. Nhưng do sức oai đức, nên thân của thải tử tự xoay, đưa hai chân hướng về tiên nhân. Vua Tịnh Phạn thầy vậyvội giúp hoàng hậu xoay đầu thái tử hướng về tiên nhân đỉnh lễ. Nhưng do sức oai đức, chân thái tử cũng tự nhiên xoay về hướng tiên nhân. Vua Tịnh Phạn lại xoay đầu thái tử về hướng tiên nhân, nhưng thái tử lại xoay chân về hướng tiên nhân, vua và hoàng hậu làm ba lần như vậy. Tiên nhân A-tư-đà từ xa nhìn thấy như thế. Khi ấy, thái tử phóng thường quang rực rỡ chiêu khăp đại địa, hiện lộ uy đức, dung mạo đoan chính đáng quí, thân màu vàng ròng, đầu như bảo cái, mũi thẳng và tròn, cánh tay dài, các chi tiết phần trên thân đều ngay thẳng, không thiếu, không khuyết, đầy đủ và trang nghiêm.
Thấy vậy, A-tư-đà từ chỗ ngồi đứng dậy tâu:
- Đại vương! Người chớ xoay đầu của thái tử về hướng tôi. Vì sao? Vì đầu của thái tử không nên đỉnh lễ chân tôi mà đầu tôi mới nên đỉnh lễ chân thái từ. Thật hiếm có! Thật hiếm có! Bậc đại nhân ra đời, rất là hiếm có! Bậc đại nhân đã xuất thế! Người mà chư thiên nói, chính là thái tử đây, thật không sai khác.
Lúc ấy, tiên nhân A-tư-đà chỉnh trang y phục, kéo y lộ vai phải, gối phải sát đất đưa hai tay ôm lấy thái tử đặt lên đầu và trở về lại chỗ ngồi cũ. Sau khi trở về chỗ ngồi cũ, tiên nhân A-tư-đà lại bế thái tử xuống đặt lên đầu gối.
5.7.4. Hiện tướng
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bấy giờ vua Tịnh Phạn thưa tiên nhân:
- Thưa đại sư! Trẫm muốn thái tử luôn ở hoàng cung. Đại sư có cách gì khiến cho thái tử ngay từ nhỏ không xa lìa trẫm chăng?
Tiên nhân A-tư-đà tâu:
- Tâu đại vương! Tôi thật không thể một mình tự ý quyết định cách thức ngăn cản thái tử.
Vua Tịnh Phạn lại nói:
- Đại sư hãy lắng nghe! Nay trẫm phải tìm mọi cách ngăn cản, để thái tử từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành không rời trẫm mà xuất gia.
Tiên nhân A-tư-đà hỏi:
- Tâu đại vương! Vi sao bệ hạ nói như vậy?
Vua Tịnh Phạn thưa:
- Tôn sư nên biết! Tất cả thầy tướng trong nước của trẫm đều tiên đoán: ‘Nếu thái tử ở đời thì sẽ làm Chuyển luân thánh vương’. Vì vậy nên trẫm mới nói như thế.
Tiên nhân A-tư-đà tâu:
- Đại vương! Những thầy tướng ấy đều nói dối. Vì sao? Vì những tướng quí của thái tử không phải là tướng cùa Chuyển luân thánh vương. Nay thái tử có đầy
đủ một trăm tướng quí và tám mươi vẻ đẹp tùy hình vô củng đặc biệt, hiện rất rõ ràng, sáng rỡ và rất hoàn hảo.
Vua Tịnh Phạn hỏi:
- Tám mươi vẻ đẹp tùy hình là gì?”.
Tiên nhân A-tư-đà trả lời đầy đủ tám mươi tướng hảo ấy. Nhưng ở đây trình bày theo kinh Thắng thiên vương:
Tám mươi tướng hảo:
1. Không ai có thể thấy được đỉnh đầu.
2. Xương đỉnh đầu rắn chắc.
3. Trán rộng, bằng thẳng.
4. Chân mày cao, dài hình như mặt tráng lưỡi liềm có màu xanh như lưu li.
5. Mắt rộng, dài.
6. Mũi cao, tròn, thẳng và kín.
7. Tai dày, rộng dài, vành tai hoàn mĩ..
8. Thân rắn chắc như Na-la-diên.
9. Thân không thể bị hủy hoại.
10. Các đốt khớp của thân đều chắc, khít.
11. Toàn thân xoay đều giống như voi chúa.
12. Thân có ánh sáng.
13. Thân hình ngay thẳng.
14.. Trẻ mãi không già.
15. Thân thường bóng và sáng.
16. Tự bảo vệ thân không nhờ người khác.
17. Thân phần đầy đủ.
18. Thức cũng đầy đủ.
19. Dung nghi hoàn mĩ.
20. Oai đức vang xa.
21. Hướng về đâu đều không quay lưng về người khác.
22. Chỗ ở an ổn, không nguy hiểm.
23. Khuôn mặt vừa vặn, không lớn, không dài.
24. Mặt rộng và bằng.
25. Mặt tròn sáng như trăng rằm.
26. Không có vẻ tiều tụy
27. Đi đứng như voi chúa.
28. Dung nghi như sư tử chúa.
29. Bước đi như ngỗng chúa.
30. Đầu như trái Ma-đà-na
31. Thân có sắc tươi sáng.
32. Gót chân đầy đặn.
33. Màu móng tay chân như lá đồng đỏ.
34. Khi đi vân bàn chân in trên đất.
35. Vân tay đẹp.
36. Vân tay rõ ràng, không mờ tối.
37. Chỉ bàn tay rõ và thẳng.
38. Chỉ bàn tay dài.
39. Chỉ bàn tay không đứt đoạn.
40. Tay chân cân đối.
41. Tay chân trắng hồng như hoa sen.
42. Lỗ chân lông đều đặng.
43. Bước đi không ngắn.
44. Bước đi không vượt quá.
45. Bước đi vững chải.
46. Rốn sâu, dày giống như rắn khoanh tròn xoay vòng theo chiều phải.
47. Lông màu xanh hồng giống như lông cổ của khổng tước.
48. Sắc lông bóng sạch.
49. Lông xoay theo chiều phải.
50. Miệng tỏa hương thơm quý và lông khắp thân cũng vậy.
51. Môỉ sác đỏ thắm như quả tần-bà.
52. Môi miệng cân xứng.
53. Lưỡi mỏng.
54. Mọi người đều thích nhìn.
55. Nói những lời vui hòa, thuận ý chúng sinh.
56. Tất cà những lời Ngài nói ra đều thuần thiện.
57. Khi gặp người, luôn hỏi trước.
58. Âm thanh không cao, không thấp, tùy theo sở thích của chúng sinh.
59. Thuận ngôn ngữ của chúng sinh mà thuyết pháp.
60. Thuyết pháp mà không dính mắc.
61. Đối xử bình đẳng với tất cả chúng sinh.
62. Xem xét trước rồi sau mới làm.
63. Chi dùng một thứ ngôn ngữ để đáp lại tất cả các ngôn ngữ khác.
64. Thuyết pháp theo thứ lớp và đều có nhân duyên,
65. Không có chúng sinh nào thấy hết các tướng cùa Như Lai.
66. Người nhìn không nhàm chán.
67. Đấy đủ tất cả âm thanh.
68. Thường hiện sác tướng thuần thiện.
69. Người ngoan cường nhìn thấy liền được điều phục, người sợ hãy thấy thì được an ổn.
70. Tiếng nói trong và rõ ràng.
71. Thân không nghiêng động.
72. Thân lớn.
73. Thân cao.
74. Thân không dính bụi nhơ.
75. Ánh sáng quanh thân tỏa xa một trượng.
76. Khi đi, ánh sáng chiếu vào thân.
77. Thân sạch sẽ.
78. Ánh sáng mát dịu giống như thanh châu.
79. Tay chân đầy đặn.
80. Tay chân đều có đức tướng.
Kinh Phật thuyết Bảo nữ ghi: “Bảo nữ hỏiPhật:
- Bạch Thế Tôn! Đời trước Như Lai tạo những công đức gì mà nay có được ba mươi hai tướng đại nhân, tạo công đức gì mà các tướng ấy phân bố đều khắp trên thân?
Đức Phật dạy:
- Nhiều đời trước Ta tạo vô lượng công đức và tích tu các hạnh lành, nên được các tướng ấy khắp thân thể. Nay chỉ đơn cử những tướng quan trọng cùa Như Lai:
- Chân đứng vững là do vào thời quá khứ xa xưa Ta kiên trì tạo công đức, không bao giờ thoái luivà cũng chưa từng ngăn che công đức của người khác, nên nay Ta được tướng đại nhân này.
- Chân và tay của Như Lai có tướng như pháp luân, do vào thời quá khứ Ta đã bố thí rất nhiều.
- Như Lai chí chân ngón tay thon dài và rất đẹp, do vào thời quá khứ Ta giảng giải nghĩa của các kinh, cứu giúp chúng sinh thoát khỏi hoạn nạn.
- Giữa các ngón tay, chân của Như Lai có màng mỏng nối liền nhau, do vào thời quá khứ Ta chưa từng phá hoại quyến thuộc của người khác.
- Tay và chân của Như Lai mềm mại xinh đẹp, do vào thời quá khứ Ta từng bố thí rất nhiều loại y phục mịn màng, đẹp đẽ.
- Bảy nơi trên thân đều hoàn hảo, do vào thời quá khứ Ta bày biện các thứ vật dụng cung cấp cho những chúng sinh thiếu thốn.
- Đầu gối của Như Lai ngay bằng, không thấy có khớp, đùi như đùi nai chúa, là do vào thời quá khứ Ta kính phụng thụ trì kinh điển không làm điều gì lẫm lỗi.
- Như Lai có tướng mã âm tàng, do vào thời quá khứ Ta nghiêm chỉnh giữ gìn thân thể và lìa xa các pháp dục.
- Như Lai có hai má đầy đặn giống như má sư tử, do vào thời quá khứ Ta đã tu đầy đủ các tịnh nghiệp
-Trước ngực của Như Lai chí chân thường tự nhiên có chữ vạn, do vào thời quá khứ Ta đã đoạn trừ tất cả uế trược và những hạnh bất thiện.
- Thân Như Lai thành tựu trọn vẹn, do vào thời quá khứ Ta ban pháp vô úy để an ủi mọi người.
- Cánh tay của Như Lai dài quá đầu gối, do vào thời quá khứ Ta thấy người nào làm việc gì thì liền giúp đỡ và khuyến khích họ.
- Thân Như Lai sạch sẽ, không có vết nhơ, do vào thời quá khứ Ta thực hành mười điều thiện không biết chán, không biết đủ.
- Phần ót Như Lai tròn đầy rộng lớn, do vào thời quá khứ nếu thấy người bệnh, Ta liền cung cấp các loại thuốc và thường chăm sóc chữa trị.
- Hai má của Như Lai như hai má sư tử, do vào thời quá khứ Ta thường gieo trồng đầy đủ các cội công đức.
- Như Lai có bốn mươi chiếc răng trắng sạch, do vào thời quá khứ Ta bình đẳng thương yêu chúng sinh.
- Răng của Như Lai đều bằng khít, do vào thời quá khứ Ta thường can ngăn những người tranh đấu kiện cáo, giúp cho họ hòa hợp.
- Răng hàm của Như Lai có tướng đại nhân, do vào thời quá khứ Ta ban cho chúng sinh những món mà họ ưa thích.
- Lông mày của Như Lai sạch đẹp, do vào thời quá khử Ta khéo giữ gìn thân, khẩu và ý.
- Lưỡi cùa Như Lai rộng dài, do vào thời quá khứ Ta chỉ nói những lời thành thật, luôn giữ gìn lỗi cửa miệng.
- Dung mạo Như Lai xinh đẹp và hoàn hảo. do vào thời quá khứ Ta dùng vô lượng phúc cúng dường rốt ráo, tâm hạnh nhân từ, hòa nhã, nguyện khiến che chở chúng sinh,
- Phạm âm của Như Lai thật hòa dịu, do vào thời quá khứ Ta nói lời nhu nhuyến ôn hòa với mọi người, giữ gìn khẩu nghiệp và tiết chế ngôn từ, vì thế vô số người nghe lời nói của ta đều vui vẻ.
- Đôi mắt của Như Lai sắc xanh, do vào thời quá khứ Ta thường dùng ánh mắt từ bi nhìn mọi người.
- Mắt Như Lai giống như vầng trăng non, do vào thời quá khứ Ta không có tính thô bạo, tâm luôn hòa thuận.
- Giữa hai chặng mày của Như Lai có bạch hào, do vào thời quá khứ Ta khen ngợi, ca tụng hạnh của chúng tăng sống chốn thanh vắng.
- Trên đinh đầu Như Lai tự nhiên có nhục kế do vào thời quá khứ Ta cung kính phụng các bậc hiền thánh, lễ bái các bậc tôn trưởng.
- Thân Như Lai mềm mại, tuyệt đẹp, do vào thời quá khứ Ta luôn có tâm niệm gom nhóm tạng pháp.
- Thân Như Lai màu vàng ròng, do vào thời quá Ta thường cúng dường y phục, ngọa cụ.
- Mỗi lỗ chân lông trên thân Như Lai chỉ một cộng lông, do vào thời quá khứ Ta thường xa lìa những nơi đông người, ồn náo.
- Lông trên thân Như Lai đều xoay về chiều phải, do vào thời quá khứ Ta tôn kính thầy, cúi đầu nghe theo lời chỉ dạy của thiện hữu tri thức.
- Tóc trên đầu Như Lai màu xanh, do vào thời quá khứ Ta thương yêu chúng sinh không dùng dao, gậy làm hại họ.
- Thân Như Lai ngay ngắn, tròn đầy, không cong vẹo, do vào thời quá khứ Ta dùng thân mình giáo hóa chúng sinh làm cho họ an ổn và được định ý
- Xương sống của Như Lai giống như những mắc xích lớn, có đức tướng vòi vọi, là do vào thời quá khứ Ta vì các bậc Chính Giác tạo lập hình tượng, tu sửa chùa tháp. Nếu Ta gặp những người nào li tán thì khuyên họ hòa hợp và ban cho sự vô ủy. Nếu gặp những tranh tụng, thì ta khuyên bảo giúp họ hòa thuận.
Đức Phật bảo các thầy tì-kheo: “Các ông muốn biết chăng? Vào thời quá khứ Ta đã gieo trồng, tíchtập vô lượng cội công đức, không thể tính kể. Nhiều kiếp trước Như Lai đã tạo những công đức như thế, nên nay thành tựu ba mươi hai tướng đại nhân”.
Như tướng thứ hai mươi hai là tướng Phạm thanh, luận Tân-bà-sa ghi: “về Phạm âm của Như Lại, là do trong yết hầu của Phật có diệu đại chủng, giúp phát âm thanh hòa nhã, làm vui lòng người, giống như chim yết-la-tần-ca phát ra âm thanh vang vọng sâu xa, giống như tiếng trống của trời Đế Thích. Những âm thanh như thế có đầy đủ tám đặc tính: sâu xa, hòa nhã, rõ ràng, vui tai, nhập tâm, sinh niềm vui, dễ hiểu, không chán”.
Luận Đại tri độ ghi: “Âm giọng của Như Lai giống như tiếng cùa Phạm thiên có năm đặc tính: một, vang rất sâu, giống như tiếng sấm; hai, trong và vang xa, người nghe đều vui vẻ; ba, nhập tâm và kính ưa; bốn, nghe rõ, dễ hiểu; năm, muốn nghe mãi không chán. Âm giọng của Bồ-tát cũng có năm đặc tính như thế, giọng tiếng Ca-lăng-tì-già đáng ưa, như tiếng trống trời, vang xa và vọng rất sâu”.
Luận Tân-bà-sa ghi:
Hỏi: Tướng có nghĩa là gì?
Đáp: Tướng có nghĩa là sự biểu hiện ra bên ngoài, sự thù thắng và điềm lành.
Hỏi: Vì sao bậc trượng phu chỉ có ba mươi hai tưởng không tăng, không giảm?
Hiếp tôn giả nói:
- Nếu tăng hoặc giảm thì phát sinh nghi ngờ, chỉ đúng ba mươi hai thì mới hợp pháp tướng. Sở dĩ nói ba mươi hai tướng là vì thế gian đã cùng chấp nhận. Đó là nghĩa của kiết tường, số lượng không thể tăng giảm. Nếu có ba mươi hai tướng trang nghiêm thân Phật thì mới tối thắng nhất ở thế gian, không ai sánh bằng. Nếu giảm thì thiếu, nếu tăng thì loạn. Cả hai trường hợp đó đều không hoàn hảo. Cho nên chỉ có ba mươi hai tướng trượng phu như thế.
Luận Trí độ ghi:
Hỏi: Ba mươi hai tướng là chủng tử củanghiệp nào trong ba nghiệp?
Đáp: Thuộc ý nghiệp chứ không phải thân, khẩu nghiệp, vì ý nghiệp nhạy bén. Cũng thuộc chủng tử ý thức trong sáu thức chứ chẳng phải năm thức kia. Vì năm thức kia không có khả năng phân biệt.
Hỏi: Chủng tử ba mươi hai tướng bao lâu mới thành tựu?
Đáp: Chậm nhất là một trăm kiếp, nhanh nhất là chín mươi mốt kiếp. Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni tu hành suốt chín mươi mốt đại kiếp mới thành tưu được ba mươi hai tướng ấy.
Như kinh ghi: “Vào thời quá khứ lâu xa có Đức Phật Phất-sa xuất hiện ờ đời. Lúc ấy, có hai vị bồ-tát là Thích-ca Mâu-ni và Di-lặc. Đức Phật Phất-samuốn quán sát tâm của bồ-tát Thích-ca Mâu-ni đã thuần thục hay chưa. Đức Phật Phất-sa quán sát thì biết tâm của bồ-tát Thích-ca Mâu-ni chưa thuần thục, nhưng các đệ tử của bồ-tát Thích-ca đều đã thuần thục. Đức Phật Phất-sa lại quán sát tâm của bồ-tát Di-lặc thì thấy đã thuần thục, nhưng đệ tử của bồ-tát Di-lặc, tâm chưa thuần thục.
Đức Phật Phất-sa lại suy nghĩ: ‘Điều phục tâm của một người thì mau thành, điều phục tâm của nhiều người thì rất lâu’. Thế là Ngài muốn khuyến hóa bồ-tát Thích-ca mau đạt được quả Phật, nên vào hang báu trên đỉnh núi Tuyết nhập Hỏa định. Khi ấy, bồ-tát Thích-ca là một tiên nhân ngoại đạo, lên núi hái thuốc, thấy Phật Phất-sa ngồi trong hang báu nhập Hỏa định, phóng ánh sáng rực rỡ, liền sinh tâm hoan hỉ, kính tin, đứng một chân, chắp tay nhất tâm chăm chú nhìn Phật Phất-sa không chớp mắt. Trải qua suốt bảy ngày bảy đêm, rồi dùng kệ ca ngợi Đức Phật Phất-sa:
Chư thiên và loài người
Không có ai bằng Phật
Trong thế giới mười phương
Cũng không ai sánh bằng.
Loài người ở thế gian
Con đều đã thấy biết
Nhưng không có một ai
Sánh bằng Đức Phật đây.
Bồ-tát Thích-ca chăm chú nhìn Đức Phật Phất-sa suốt bảy ngày bảy đêm không chớp mắt, nên vượt chín kiếp, đắc A-nậu-bồ-đề ở kiếp thứ chín mươi mốt. Bồ-tát Thích-ca chỉ chú trọng đến việc dụng tâm tư duy, chứ không xem trọng việc nói nhiều. Bồ-tát suy nghĩ: ‘Nếu dùng thêm những bài kệ khác nữa khen ngợi Phật thì tâm sẽ tán loạn’. Vì thế, trong bảy ngày bảy đêm chỉ nói duy nhất một bài kệ.
Hỏi: Vì sao bồ-tát Thích-ca tâm chưa thuần thục mà đệ tử của Ngài tâm đã thuần thục; bồ-tát Di-lặc tâm đã thuần thục mà đệ tử của Ngài tâm chưa thuần thục?
Đáp: Vì tâm lợi tha của bồ-tát Thích-ca lớn, tâm tự lợi nhỏ. Tâm lợi tha của bồ-tát Di-lặc nhỏ mà tâm tự lợi thì lớn”.
5.7.5. Nghiệp nhân
Kinh Đắc Vô cấu nữ ghi:
Đức Phật dạy: “Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì được ba mươi hai tướng trượng phu: một, dùng vàng rải lên Phật hoặc rải lên chùa tháp; hai, dùng dầu thơm thoa lên tháp Như Lai; ba, cúng dường các thứ hoa, hương, kĩ nhạc; bốn, quyến thuộc cùng nhau cúng dường hòa thượng A-xà-lê. Thế Tôn nói kệ:
Dùng vàng rải chùa tháp
Dầu thơm thoa tháp Phật
Cúng dường hoa, hương, nhạc
Thành tâm cúng dường thầy
Thực hành bốn việc ấy
Được ba mươi hai tướng
Xinh đẹp rất kì diệu
Đầy đủ các công đức.
Bồ-tát thành tựu bốn việc thì đạt được tám mươi tùy hình: một, dùng các loại vải tốt đẹp trang trí pháp tòa; hai, cúng dường chúng sinh không biết mệt mỏi; ba, không làm náo loạn nơi ở của pháp sư; bốn, dạy chúng sinh tu hạnh Bồ-đề. Thế Tôn lại nói kệ:
Vải tốt trải pháp tòa
Cúng dường không biết mệt
Dạy người tu bồ-đề
Được tám mươi tùy hình
Bồ-tát siêng tu tập
Bốn công đức như thế
Thì trong tất cả thời
Có tướng tốt trang nghiêm.
5.7.6. Giống và khác
Luận Tân-bà-sa ghi:
Hỏi: Tám mươi tùy hình ở nơi nào?
Đáp: Ở ngay trong các tướng, theo các tướng mà biến chuyển để trang nghiêm thân Phật, làm cho thân càng hoàn mĩ.
Hỏi: Tướng và tùy hình không ngăn ngại, xâm đoạt lẫn nhau sao?
Đáp: Không! Tướng và tùy hình giúp cho nhau hiển lộ. Giống như cây trong rừng, nhờ hoa làm lộ các cây. Thân Phật tướng hảo trang nghiêm cũng như thế. Giống như núi vàng được các loại báu tô sức thêm vậy.
Hỏi: Ba mươi hai tướng mà bồ-tát đạt được so với tướng của Chuyển luân thánh vương có gì khác?
Đáp: Tướng của bồ-tát có bốn điểm vượt trội hơn tướng của Chuyển luân thánh vương, đó là: sáng chói, rõ ràng, hoàn hào, đúng chỗ. Hoặc có năm điểm: Đúng chỗ, vô cùng đoan nghiêm, các đường vân in sâu, tùy thuận thắng trí, tùy thuận li nhiễm.
5.7.7. So sánh
Kinh Phật A-tì-đàm ghi: “Tất cả công đức của chúng sinh trong một nghìn A-tăng-kì thế giới chỉ bằng công đức của một lỗ chân lông trên thân Phật. Công đức của tất cả lỗ chân lông trên thân của Như Lai chỉ bằng một tùy hình hảo của Phật. Phật thànhtựu công đức của tám mươi tùy hình hảo như thế. Trăm lần công đức của tám mươi tùy hình hảo chỉ bằng một tướng trên thân Như Lai, Đức Phật đã thành tựu công đức ba mươi hai tướng. Nghìn lần công đức của ba mươi hai tướng chỉ bàng một tướng bạch hào trên trán của Như Lai. Trăm ức lần công đức của một nghìn tướng bạch hào chỉ bằng một tướng xương đỉnh của Như Lai. Tất cả Phi thiên cũng không thể thấy được xương đỉnh đầu của Phật. Tất cả những công đức không thể nghĩ bàn thanh tịnh như thế hợp lại thành thân Phật. Vì thế nên nói Như Lai tôn quí nhất trong cõi trời, cõi người.
5.7.8. Trăm phúc
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Đức Phật dạy:
- Bồ-tát tu mỗi mỗi tướng đều lấy trăm phúc đức làm trọng tâm, tu năm mươi tâm thì đủ năm mươi tâm. Vì thế nên gọi là trăm phúc đức.
Thiện nam tử! Tất cả phúc đức của tất cả thế gian không bằng công đức của một cọng lông của Như Lai. Công đức nơi tất cả lỗ chân lông của Như Lai không bằng công đức của một tùy hình hảo. Công đức của tám mươi chủng hảo không bằng công đức của một tướng. Công đức của tất cả tướng không bằng công đức của tướng bạch hào. Công đức của tướng bạch hào không bằng công đức của tướng Vô kiến đỉnh. Vì thế, Như Lai thành tựu đầy đủ vô lượng công đức. Ba mươi hai tướng đó chính là quả báo của đại bi”.
Luận Tân-bà-sa ghi:
Hỏi: Khế kinh nói, mỗi một tướng của Phật đều có trăm phúc trang nghiêm. Vì sao gọi là trăm phúc?
Đáp: Ở đây gọi trăm tư là trăm phúc. Sao gọi là trăm tư? Giống như khi bồ-tát tạo tác trăm tướng, túc thiện trụ tướng nghiệp thì trước khởi năm mươi tư để sửa trị thân thể cho thanh tịnh, nhu nhuyến. Kế đến khởi một tư chính thức dẫn dắt, sau đó lại khởi năm mươi tư khiến thân viên mãn. Giống như nông dân trước dọn bờ phát cỏ, kế tiếp là gieo giống, sau cùng là bón phân, tưới nước cho ruộng, bồ-tát cũng như thế. Giống như túc thiện trụ tướng nghiệp cũng có trăm tư trang nghiêm như thế. Cho đến Ô-sắt-nị-sa tướng nghiệp của Phật cũng như thế. Vì thế nên nói tất cả các tướng của Phật đều trăm phúc trang nghiêm.
Hỏi: Năm mươi tư là gì?
Đáp: Trong Thập nghiệp đạo, mỗi nghiệp đạo có năm tư. Li sát nghiệp đạo có năm tư: li sát tư; khuyến đạo tư; tán mỹ tư; tùy hỉ tư; hồi hướng tư. Nghĩa là hồi hướng những công đức tu tập này về bồ-đề, cho đến Chính kiến cũng như vậy. Đó gọi là năm mươi tư.
Có thuyết nói trong Thập nghiệp đạo, mỗi nghiệp đạo khởi năm bậc thiện tư là: hạ, trung, thượng, thượng thắng và thượng cực thiện tư; giống như tạp tu tĩnh lự.
Có thuyết nói trong Thập nghiệp đạo, mỗi nghiệp đạo khởi năm tư: gia hành tịnh; căn bản tịnh; hậu khởi tịnh; phi tầm sở hại; niệm nhiếp thụ.
Có thuyết nói duyên một tướng của Phật khởi năm mươi sát-na chưa từng thực hành tư, mà biến chuyển liên tục.
Hỏi: Như thế, hạn lượng của mỗi phúc như thếnào?
Đáp: Có thuyết nói: Nếu nghiệp cảm giai vị Chuyển luân vương thì tự tại biến chuyển trong bốn đại châu, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói: Nếu nghiệp cảm giai vị Đế Thích thì tự tại biến chuyển trong hai cõi trời, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói: Nếu nghiệp cảm giai vị Tha Hóa Tự Tại thiên vương thì tự tại biến chuyển trong tất cả chúng Dục giới, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói: Nếu nghiệp cảm giai vị Đại Phạm thiên vương thì tự tại chuyển trong chúng Sơ tĩnh lự và Dục giới thiên, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói đó là phúc mà chủ Sa-ha thế giới Đại Phạm thiên vương khuyến thỉnh Như Lai chuyển pháp luân.
Hỏi: Khi Đại Phạm thiên vương thỉnh Phật, thì chúng sinh cõi Dục tâm ở trạng thái vô phú vô kí, sao gọi là phúc?
Đáp: Có thuyết nói: Khi Đại Phạm thiên vương trụ ở Phạm Thế muốn đến thỉnh Phật, trước khởi niệm thiện: ‘Ta sẽ vì các hữu tình mà làm lợi ích lớn, thỉnh Phật chuyển pháp luân’. Ngay lúc ấy đã được Phạm phúc. Điều này vô lý! Như thế chẳng phải chưa làm mà có kết quả sao? Đó là vì Đại Phạm thiên vương sau khi thỉnh Phật rồi trở vê Phạm cung. Sau đó, Thế Tôn chuyển pháp luân, thì Địa thân xướng lên, âm thinh lần lượt vang đến Phạm cung. Phạm vương nghe được hoan hỉ, vui mừng, phát tâm thuần tịnh và sinh tùy hỉ. Ngay lúc ấy mới thành tựu Phạm phúc.
Có thuyết nói: Nếu nghiệp cảm giai vị Tha Hóa Tự Tại thiên vương thì tự tại biến chuyển trong tất cà chúng Dục giới, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói: Nếu nghiệp cảm giai vị Đại Phạm thiên vương thì tự tại chuyển trong chúng Sơ tĩnh lự và Dục giới thiên, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói đó là phúc mà chủ Sa-ha thế giới Đại Phạm thiên vương khuyến thỉnh Như Lai chuyển pháp luân.
Hỏi: Khi Đại Phạm thiên vương thỉnh Phật, thì chúng sinh cõi Dục tâm ở trạng thái vô phú vô kí, sao gọi là phúc?
Đáp: Có thuyết nói: Khi Đại Phạm thiên vương trụ ở Phạm Thế muốn đến thỉnh Phật, trước khởi niệm thiện: ‘Ta sẽ vì các hữu tình mà làm lợi ích lớn, thinh Phật chuyển pháp luân’. Ngay lúc ấy đã được Phạm phúc. Điều này vô lý! Như thế chẳng phải chưa làm mà có kết quả sao? Đó là vì Đại Phạm thiên vương sau khi thỉnh Phật rồi trờ về Phạm cung. Sau đó, Thế Tôn chuyển pháp luân, thì Địa thần xướng lên, âm thinh lần lượt vang đến Phạm cung. Phạm vương nghe được hoan hi, vui mừng, phát tâm thuần tịnh và sinh tùy hi. Ngay lúc ấy mới thành tựu Phạm phúc.
Có thuyết nói lúc thế giới hình thành, do sức nghiệp tăng thượng của cả hữu tình mà cảm hiện tam thiên đại thiên thế giới, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói ngoài những vị bồ-tát gần Phật địa, tất cả những nghiệp có thể chiêu cảm quả giàu sang của hữu tình, đây là lượng của một phúc.
Có thuyết nói nên dùng thí dụ để hiển bày tất cả các phúc lượng. Giả sử tất cả hữu tình đều bị mù bẩm sinh. Lúc ấỵ, có một hữu tình dùng đại phương tiện khiến cho tất cả nhũng hữu tình bị mù đều được sáng mắt. Phúc của hữu tình kia, chính là lượng của một phúc.
Giả sử tất cả hữu tình đều uống thuốc độc mê man sắp chết. Lúc ấy, có một hữu tình trừ hết độc cho tất cả hữu tình kia, khiến họ tỉnh lại. Phúc của hữu tình ấy là lượng của một phúc.
Giả sử tất cả hữu tình đều bị trói buộc gần chết. Lúc ấy, có .một hữu tình mở trói cho tất cả chúng hữu tình, khiến cùng một lúc đều được toàn mạng. Phúc của hữu tình ấy là lượng của một phúc.
Giả sử tất cả hữu tình phá giới, phá kiến. Lúc ấy có một hữu tình có khả năng khiến cho chúng hữu tình kia cùng một lúc đầy giới và kiến. Phúc của hữu tình ấy là lượng của một phúc”.
* Lời bàn
Với những gì đã nói đều là phương tiện ý lạc thuần tịnh, ca ngợi lượng phúc của bồ-tát, nhưng chưa đạt đến chỗ chân thật. Theo thật nghĩa thì mỗi mỗi phúc lượng mà bồ-tát phát khởi là vô lượng vô biên. Vì bồ-tát trải qua ba a-tăng-kì kiếp đã tích tập đầy đủ các ba-la-mật và khởi những tư nguyện dẫn phát vô cùng rộng lớn, chỉ có Phật mới biết được, ngoài ra không ai biết được. Vì thế nên nói, phúc lượng của bồ-tát rộng lớn, một tướng có trăm phúc trang nghiêm, lần lượt cho đến ba mươi hai tướng cũng đều đầy đủ trăm phúc. Phật dùng ba mươi hai tướng đầy đủ trăm phúc và tám mươi tùy hảo để trang nghiêm thân Ngài, nên Ngài là bậc tối tôn tối thắng trong chúng trời người.
5.8. DU HỌC
5.8.1. Lời dẫn
Trộm nghe! Bậc Nhất thiết chủng trí hiệu Tất-đạt-đa, trồng gốc đức từ đầu ba tăng-kì, diệu quả cao tột thành từ cuối bách kiếp. Ngài gom pháp giới làm trí, lấy hư không làm thân. Nhưng thân cùng khắp thì lượng vượt ngoài đất trời; trí thấu suốt tất cả nên dụng thật không thể nghĩ bàn. Đã không thể dùng pháp thế gian để suy lường, há lại đem nơi chốn để so sánh.
Bởi muốn mở tai mắt cho hàng ngu muội, nên phải hiển thị hình tướng bậc thánh nhân. Vi thế, hoặc thị hiện thân ngoại đạo, hoặc kẻ ngu phu. Ấy là, ứng với đồng loại để dẫn dắt phàm tình, tùy dị hình mà giáo hóa chúng sinh. Sau đó mới xưng Vô thượng sĩ, hiệu là Thiên Trung Thiên. Bởi vì, ngu trí ngầm thông, thánh phàm khó đoán, nên đức thì cao không thể nghĩ bàn và công thì lớn không ai sánh.
5.8.2. Mời thầy dạy học
Kinh Phật bản hạnh ghi: “ Vua Tịnh Phạn biết thái tử đã tròn tám tuổi, vua tập hợp quần thần, tể tướng, hỏi:
- Các khanh có biết hiện nay trong nước của ta ai có trí tuệ bậc nhất, đủ tài trí, thông thấu mọi việc, có thể làm thầy thái tử được?
Quần thần tâu:
- Tâu đại vương! Hiện có đại sư Tì-xa-bà-mật-đa-la thông suốt các luận, tối thắng tối diệu, đủ sức dạy bảo thái tử.
Nghe vậy, vua liền sai người đến mời Tì-xa-bà-mật-đa-la vào yết kiến, vua nói:
- Này tôn giả! Ngài có thể dạy cho thái tử tất cả các môn học và luận thư không?
Tì-xa-bà-mật-đa-la tâu:
- Tâu đại vương! Tôi xin theo lệnh ngài, đảm đương việc dạy bảo thái tử.
Vua Tịnh Phạn vô cùng vui mừng, sắp xếp năm trăm đồng tử trong dòng họ Thích theo hầu thái tử và vô lượng vô biên đồng tử, đồng nữ thuộc những dòng họ khác theo thái tử cùng đến trường. Đại sư Tì-xa-bà-mật-đa-la từ xa nhìn thấy, vì oai đức của thái tử, đại sư không cưỡng lại được nên liền đứng dậy, rời chỗ ngồi đến cúi mình đỉnh lễ dưới chân thái tử. Lễ bái xong, đại sư quay nhìn bốn phía lấy làm hổ thẹn. Ngay lúc ấy, trong hư không có một vị thiên tử tên Tịnh Diệu ở từ cung trời Đâu-suất cùng vô lượng vô biên đại thiên thần vương thường theo bảo vệ thái tử, ẩn thân trong hư không, nói kệ:
Các môn học thế gian
Và tất cả kinh luận
Người này đã thôngsuốt
Cũng có thể dạy người.
Hơn hết các chúng sinh
Vì tùy thuận thế gian
Từ lâu đã học rồi
Nay hiện theo thầy học.
Các trí tuệ xuất thế
Những đế và các lực
Pháp từ nhân duyên sinh
Sinh rồi lại diệt tận
Một niệm biết kia thảy
Danh sắc hiện, không hiện
Còn có thể chứng biết
Huống hồ gì văn tự!
Thiên tử nói kệ xong, rải các loại hoa trên thái tử và trờ về thiên cung.
Từ đó, thái tử bắt đầu theo thầy học tập. Vua cũng ra lệnh dùng gỗ Ngưu Đầu chiên-đàn tốt nhất làm bảng viết, dùng bảy báu viền chung quanh xe, dùng các loại hương quý nhất ở cõi trời thoa trên mặt lưng rồi trao cho thái tử mang đến chỗ của đại sư Tì-xa-bà-mật-đa-la. Đến rồi, thái tử hỏi tôn giả A-xà-lê:
- Tôn giả dạy tôi sách gì?
Tì-xa-bà-mật-đa-la đáp:
- Sách do Phạm thiên nói (chính là sách của bà-la-môn, có bốn mươi âm chính)
- Khự-lô-sắt-trá thư. (Trung Quốc dịch là Lư thần).
- Phú-sa-ca-la tiên nhân thuyết thư. (Trung Quốc dịch là Hoa hoa).
- A-ca-la thư (Trung Quốc dịch là Tiết phân).
- Mông-già-la thư. (Trung Quốc dịch là Kiết tường).
- Vong-mị-ni thư. (Trung Quốc dịch Đại Tần quốc thư).
- Ương-cù-lê thư. (Trung Quốc dịch là Chỉ thư)
- Tà-na-ni-ca thư (Trung Quôc dịch là Đà thư).
- Bà-già-la thư (Trung Quốc dịch là Tự ngim).
- Ba-la-bà-ni thư (Trung Quốc dịch là Thụ diệp).
- Ba-lưu-sa thư (Trung Quốc dịch làác ngôn)
-Phụ-dư thư
- Tì-đa-trà thư (Trung Quốc dịch lă Khởi thi).
- Đà-ni-trà quốc thư (TQ dịch là Nam Thiên Trúc),
- Chi-la-đê thư (Trung Quốc dịch là Hình nhân).
- Độ-kì-sai-na-bà-đathư (Trung Quốc dịch là Hữu toàn).
- Ưu-ba-già thư (Trung Quốc dịch là Nghiêm si).
- Tăng-khư thư (Trung Quốc dịch là Đẳng kế).
- A-bà-vật-đà thư (Trung Quốc dịch là Phú).
- A-thố-lô-ma thư (Trung Quốc dịch là Thuận).
- Tì-da-mị-xà-la thư (Trung Quốc dịch tà Tạp).
- A-đà-la-đa thư (Điểu trướng biên sơn).
- Tây-cù-da-ni thư.
- Kha-sa thư (Sơ-lặc).
- Chi-na quốc thư.
- Ma-na thư (Khóa đẩu).
- Mạy-trà-xoa-la thư (Trung tự).
- Tì-đa-tất-để thư (Xích).
- Phù-lâu-ba thư (Hoa).
- Đề-bàthư (Thiên) .
- Na-già thư (long}.
- Dạ-xoa thư.
- Càn-thát-bà thư (Thiên âm thinh)
- A-tu-la thư (Bất ẩm tửu) .
- Ca-lâu-la thư (Kim xí điểu),
- Khẩn-na-la thư (Phi nhân).
- Ma-hầu-la-già thư (Đại xà)..
- Di-già-giá-ca thư (chư thú âm)
- Ca-ca-lâu-đa thư (Điểu âm).
- Phù-ma-đề-bà thư (Địa cư thiên)
- An-đa-lê-xoa-đề-bà thư (Hư không thiên)
- Uất-đa-la-câu-lô thư (Tu-di bắc)
- Bô-lâu-bà-tì-đề-ha thư (Tu-di đông)
- Ô-sai-bà thư (Cử).
- Ni-sai-bà thự (Trịch).
- Sa-già-la thư.
- Bạt-xà-la thư (Kim cương).
- Lê-già-ba-la-đê-lê-già thư (Vãng phục).
- Tì-khí-đa thư (Thực tàn).
- A-thố-phù-đa thư (Vị tằng hữu).
- Xà-sa-đa-la-bạt-đa thư (Như khuyển chuyển)
- Già-na-na-bạt-đa thư (Đẳng chuyển).
- Ưu-sai-ba-bạt-đa thư (Cử chuyển).
- Ni-sai-ba-bạt-đa thư (trịch chuyển)I
- Ba-đà-lê-khư thư (Túc).
- Ni-câu-đa-la-ba-đà-địa thư (Tùng nhị tăng thượng cú).
- Tà-bà-đà-luân-đa-la thư (Tăng thập cú dĩ thượng)!
- Mạt-trà-bà-sẩn-ni thư (Trung lưu).
- Lê-sa-na-bà-đa-ba-thị-tỉ-đa thư :(Chư sơn khổ hạnh)
- Đà-la-ni-tì-xoa-lê-thư (Quán địa)
- Già-già-na-tị-lệ-xoa-ni thư (Quán hư không).
- Tát-bồ-sa-địa-ni-sơn-đà thư (Nhất thiết dược thảo mục) .
- Sa-la-tăng-già-hà-ni thư (Tổng lãm)
- Tát-bà-lâu-đa thư (Nhất thiết chủng âm).
Thái tử kể tên các bộ sách rồi hỏi Mật-đa
Tôi vừa nêu sáu mươi bốn loại sách, không rõ tôn giả sẽ dạy tôi loại sách nào?
Tì-xa-bà-mật-đa-la nghe thái tử nêu tên những sách đó trong lòng hoan hỉ, vui mừng, thầm thẹn, dẹp bỏ tâm cống cao ngã mạn, nói kệ khen thái tử;
Bậc thanh tịnh trí tuệ hiếm có
Khéo thuận tất cả pháp thế gian
Làu thông bao nhiêu loại luận thuyết
Lại vào trường ta mà học tập
Những sách đã nêu, tôi chưa biết
Mà Ngài đều đã thuộc nằm lòng
Là bậc đạo sư của trời người
Lại muốn tìm thầy mà học tập
Lý đạo không có âm thinh, nhờ ngôn từ để biểu đạt ý; ngôn từ không có dấu vết phải nhờ văn tự để diễn thành; nên văn tự là công cụ để diễn bày ngôn từ, ngôn từ là phương tiện đê diễn đạt nghĩa lí. Âm nghĩa phù hợp không sai lệch, nên văn tự được sử dụng khắp vũ trụ. Tuy dấu vết ở nơi văn tự, nhưng lý thì hợp với tâm đạo.
Ngày xưa có ba người sáng tạo ra chữ viết. Người đầu tiên là Phạm, cách viết chữ theo lối hữu hàng, người thứ hai là Khư-lô, cách viết chữ theo lối tả hàng, người thứ ba là Thương Hiệt, cách viết chữ theo lối hạ hàng. Phạm và Khư-lô ở Thiên Trúc còn Hoàng sử Thương Hiệt ở Trung Hạ. Phạm và Khư-lô học phương pháp viết chữ ở Tịnh thiên, còn Thương Hiệt nhờ vào việc phần tích dấu chân chim mà sáng tạo ra chữ viết. Tuy chữ viết khác nhau, nhưng cùng một mục đích là truyền đạt chânlý.
Tìm hiểu kĩ lời của những người xưa nói thì có sáu mươi bốn cách viết chữ. Như Lộc luân, Chuyển nhãn, mỗi mỗi có cách viết riêng; tám bộ quỷ, rồng... thể thức sai biệt, nhưng chỉ có văn của Phạm và Khư-lô là bậc nhất ở đời. Vì thế, người Thiên Trúc đều gọi đó là Thiên thư. Tuy ở Tây Trúc đều dùng chữ Phạn cổ, nhưng đến thời Tam thập lục quốc thì đã dần dần thay đổi, giống như sự biến thể của chữ Triện ở Trung Quốc vậy. Do đó, lối chữ cổ của Thương Hiệt cũng biến đổi theo thời gian. Như từ chữ cổ triện biến thành chữ đại triện, từ chữ đại triển biến thành chữ tiểu triện, chữ tiểu triện đổi thành chữ lệ. Sự chuyển đổi ấy trải qua rất nhiều lần. Cho đến, bát thể do kết hợp mà thành thì có tiên, long, vân, chi; hai mươi bốn thư thì có khải, thảo, châm, thù. Danh và thật dù nhiều, nhưng công dụng thì rất ít. Nhưng muốn có một định nghĩa nguyên bản thì xem đầy đủ trong lục văn. Nếu nói chữ viết đẹp mà hợp thời thì không kiểu nào hơn lệ thư. Vậythì nguồn gốc hình thành chữ viết của đông phương và tây phương có thể khảo cứu như vậy.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Vua Tịnh Phạn lại tập hợp quần thần và hỏi:
- Các khanh biết ở đâu có vị võ sư giỏi để dạy thái tử không?
Các đại thần tâu:
- Trong vùng này có một người họ Thích, tên Sạn-đề-đề-bà con của Thiện Giác có thể dạy thái tử binh pháp, võ thuật. Người ấy thông hiểu hai mươi chín diệu thuật tinh anh ở thế gian.
Nhẫn Thiên tâu:
- Tâu đại vương! Thần có thể dạy thái tử.
Vua muốn thái tử dạo chơi, nên ra lệnh làm một vườn hoa, đặt tên là cần Cù. Thái tử thường vào vườn hoa dạo chơi, hoặc bảo người đấm bóp.
Khi ấy, năm trăm đại thần trong dòng họ Thích đều đem tất cả sử sách của người xưa dạy cho thái tử và con của họ. Người bình thường trải qua nhiều năm tháng học tập, nhưng có người thành, có người không thành. Còn thái tử và con của năm trăm đại thần kia chi trong vòng bốn tháng đã học thành, thông suốt tất cả các luận. Bấy giờ, Nhẫn Thiên nói kệ khen thái tử:
Ngài tuổi còn đang trẻ
Lại an nhàn học hành
Chẳng dùng nhiều công sức
Không lâu đã hiểu hết
Học trong thời gian ngắn
Mà hơn những người lớn
Đạt được các học thuật
Thành tựu hơn mọi người.
Thái tử sinh ra trong cung vua, lúc còn nhỏ chỉ vui chơi, năm thái tử lên tám tuổi mới được đưa đến cầu thầy vào trường học. Thái tử theo hai đại tôn sư Mật-đa và Nhẫn Thiên học luận thư, bao gồm văn chương, vũ nghệ và binh pháp. Trải qua bốn năm, thái tử học thông thạo tất cả các kĩ năng. Vì tùy thuận thế gian, cũng là để làm đẹp lòng mọi người, một hôm thái tử vào vườn Cân Cù dạo chơi và biểu diễn tài nghệ bắn cung. Năm trăm đồng tử con của những người họ Thích, cũng ở trong vườn của mình vui chơi.
Bấy giờ, có bầy nhạn bay trên không, đồng tử Đề-bà-đạt-đa trông thấy giương cung bẳn trúng một con. Con nhạn bị trúng tên rơi xuống vườn của thái tử Tất-đạt, mũi tên còn dính trên thân. Thấy con nhạn trúng tên, bị thương rơi xuống đất, thái tử hai tay nhẹ nhàng đỡ lấy nó, rồi ngồi kiết giả và đặt con nhạn lên đùi. Thái tử dùng bàn tay trái mềm dịu trơnláng giữ chặt con nhạn, tay phải rút mũi tên ra, rồi dùng tô mật đắp lên vết thưomg
Lúc ấy, Đề-bà-đạt-đa sai sứ đến nói với thái tử:
- Chủ của tôi bắn trúng một con nhạn rơi trong vườn của ngài, nên mau trao lại, không được giữ.
Thái tử nói với sứ giả:
- Nếu con nhạn chết thì ta sẽ trả lại cho chủ ngươi. Nếu nó sống thì ta không trả.
Đề-bà-đạt-đa lại sai người qua nói với thái tử:
- Chủ tôi nói rằng dù con nhạn chết hay sống cũng phải trả lại. Vì chủ tôi có công bắn, sao ông giữ lại?
Thái tử nói:
- Chính ta mới là người được con nhạn này trước. Vì sao? Vì từ khi ta phát tâm bồ-đề đến nay đều cứu giúp tất cả chúng sinh, huống gì con nhạn này!
Vì con nhạn ấy mà xảy ra tranh chấp giữa thái tử và Đề-bà-đạt-đa.
Vua Tịnh Phạn mời những người lớn tuổi và những người có trí trong dòng họ thích đến phân xử. Lúc ấy, có một vị trời ở trời Tịnh Cư hóa làmmột trưởng giả già đến chỗ hội họp của những người dỏng họ Thích vả nói: ‘Người nào nuôi dưỡng thì con nhạn thuộc về người đó, người nào bắn nó thì nên tử bỏ. Khi ấy những người trong dòng họThích đều bằng lòng, đồng thanh nói lớn: ‘Đúng thế! Đúng thế! Như lời nhân giả nói!’. Đây là nguyên nhân đầu tiên gây ra oán thù giữa Đê-bà-đạt-đa và thái tử trong đời này”.
5.8.3. Đấu sức
Kinh Nhân quà ghi: “Năm thái tử lên mười, Ngài cùng với những người anh em trong dòng họ Thích đấu sức với nhau. Một hôm, thái tử cùng với một vạn người thân định ra thành. Bấy giờ, có một con voi lớn đứng chắn ngang cửa thành, mọi người đều không dám đi qua. Đề-bà-đạt-đa liền dùng tay đánh vào đầu, con voi liền quỵ xuống đất. Nan-đà dùng ngón chân hất nó qua bên đường. Thái tử nắm con voi ném ra ngoài thành, rồi lại dùng tay đỡ lấy, không để cho bị tổn thương và con voi tỉnh lại. Lúc ấy, mọi người đều lấy làm lạ và cho là việc chưa từng có. Trăm nghìn vạn ức người ở khăp bốn phương đều đến xem.
Trong vườn có bảy lớp trống vàng, bạc, kẽm, đồng, sắt v.v..., mỗi loại có bảy cái. Đề-bà-đạt-đa là người đầu tiên trổ tài bắn cung, đã bắn thủng ba cái trống bằng vàng. Nan-đà cũng bắn thủng ba cái. Nhưng thái tử chê cung yếu, nên vua sai người vào trong kho lấy cáy cung tốt của tổ tiên, cây cung ấy không ai kéo nổi. Thái tử ngồi tại chỗ giương cung, dây cung phát ra tiếng, cả thành đều nghe. Trăm nghìn người trong nước và chư thiên trên hư không đồng khen ngợi. Thái tử buông một mũi tên xuyênqua tất cả các trống, cắm xuống đất tạo thành dòng suối, rồi xuyên qua núi Đại Thiết Vi”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bấy giờ, trời Đế Thích từ hư không hạ xuống nhặt lấy mũi tên của thái tử đã bắn đó đem về trời Tam Thập Tam, lập hội bắn cung. Vào những ngày lành chư thiên tập họp, dùng các loại hoa hương cúng dường mũi tên. Đến nay chư thiên vẫn còn tổ chức ngày lễ bắn cung ấy.
Thái tử lại bắn ra một mũi tên xuyên qua bảy con heo sắt, xuyên qua đất, thấu đến huỳnh tuyền. Chỗ mũi tên rơi xuống thành cái giếng, ngày nay người dân thường gọi là Tiễn tỉnh.
Thái tử thi vật với những người trong dòng họ Thích, những người kia lần lượt đều bị thái tử vật ngã, nhưng thân thể họ không bị thương. Họ lại hợp sức vật một mình thái tử, thái tử chỉ dùng tay chạm vào họ thì tất cả đều té xuống đất. Những người trong dòng họ Thích và người xem đều kinh ngạc. Vô lượng chư thiên trên không trung đồng nói kệ:
Tất cả các lực sĩ dũng mãnh
Trong mọi thế giới khắp mười phương
Đều có sức mạnh như Điểu-đạt
Không bằng mày lông của thái từ
Đại nhân sức oai đức vô biên
Chỉ dùng tay chạm đều ngã lăn
Thánh giả sức oai thần rộng lớn
Cớ sao các người muốn so tài?
Cho dù núi Tu-di bất động
Đại, Tiểu Thiết Vi rất vững chãi.
Thậm chí các núi trong mười phương
Chỉ cần chạm nhẹ nát thành bụi.
Nào thép cứng chắc, ngọc kim cương.
Cùng với các loại châu báu khác
Sức bậc Đại Trí nghiền như bột
Huống gì đấu với người yếu này.
Chư thiên nói kệ xong, tung rải các loại hoa trời trên thái tử, rồi ẩn thân vào hư không. Lúc ấy, vua Tịnh Phạn chứng kiến thái tử thi đấu toàn thắng, biết thái tử đã thông thạo các môn, nên vô cùng vui mừng. Vua ra lệnh đeo chuỗi báu cho voi trắng để thái tử cưỡi vào trong thành. Tùy tùng vừa dẫn voi đến cửa thành thì gặp Đề-bà đi vào. Đề-bà hỏi:
- Con voi này của ai, định dẫn đi đâu?
Các tùy tùng đáp:
- Voi này đưa ra thành để Tất-đạt cưỡi vào.
Nghe vậy, Đề-bà-đạt-đa sinh tâm đố kị, dùng tay trái nắm mũi voi, tay phải đánh mạnh vào trán, voi ngã nhào trên đất, xoay ba vòng và chết tại chỗ.
Xác voi nằm chắn ngang cửa thành, làm tắc nghẽn đường, không ai ra vào được. Khi ấy, đồng tử Nan-đà cũng vừa đi tới. Sau khi hỏi biêi sự việc, Nan-đà dùng tay phải nắm đuôi voi kéo ra khỏi cửa thành khoảng bảy bước.
Thái tử hỏi:
- Ai đã kéo con voi khỏi cửa thành?
Mọi người đáp:
- Nan-đà kéo.
Thái tử nói:
- Quý thay! Nan-đà đã làm được việc tốt!
Thái tử suy nghĩ: ‘Hai người ấy tuy thể hiện sức mạnh của mình, nhưng con voi này quá lớn, sau sẽ thối rữa mùi hôi xông khắp cửa thành này’. Thế là thái tử dùng tay trái nhấc voi, tay phải nâng lên cao ném ra ngoài thành, vượt qua bảy lớp tường, bảy lớp hào, cách thành khoảng một câu-lô-xá, chỗ con voi rơi xuống thành một cái hố lớn. Cho đến nay nhiều người vẫn còn kể cho nhau nghe về câu chuyện ấy và gọi chỗ ấy là Tượng Đọa khanh.
Khi ấy, vô lượng trăm nghìn chúng sinh, đồng loạt la lớn: “Thật là hi hữu! Thật là kì lạ! Là việc chưa từng nghe thấy!”. Rồi họ nói kệ:
Điều-đạt đánh chết voi trắng rồi
Nan-đà kéo khỏi cửa bảy bước
Thái tử nhấc bỗng voi lên cao
Ném ra ngoài thành như ném đất
Kinh Tập nhất thiết phúc đức tam-muội ghi: “Bây giờ trong thành Tì-da-li có đại lực sĩ Tịnh Oai Đức rất khỏe mạnh, tất cả chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề không có ai bằng. Tịnh Oai Đức nghe sa-môn Cù-đàm có đủ mười lực như thân của na-la-diên, liền nghĩ: ‘Ta nên đến xem sa-môn Cù-đàm có gì bằng ta!’. Thế là, Tịnh Oai Đức liền đến chỗ Phật. Vừa nhìn thấy Như Lai, lực sĩ liền khởi lòng tin ưa, lễ dưới chân và nhất tâm nhìn Phật. Thế Tôn biết lực sĩ đã khởi tín tâm, nên muốn hàng phục, Ngài bảo tôn giả Mục-liên:
- Ông hãy đến lấy mũi tên mà khi xưa còn làm bồ-tát, Ta đã thi bắn để chọn Cù-di đem về đây.
Tôn giả Mục-kiền-liên bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Con không biết mũi tên đó ởđâu!
Thế Tôn liền từ chân phải phóng đạo hào quang chiếu kháp ba nghìn thế giới, soi đến đại kim cang luân, thì thấy mũi tên căm chặt ở đó.
Đức Phật hòi tôn giả Mục-kiền-liên:
- Ông thấy mũi tên không?
Tôn giả Mục-kiền-liên bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Con đã thấy.
Đức Phật bảo tôn giả Mục-kiền-liên:
- Ồng lấy đem về đây!
Bấy giờ, mọi người đều thấy tôn giả Mục-kiền-liên, trong khoảng thời gian như co duỗi cánh tay, đã đến đó lấy mũi tên đem về dâng Như Lai.
Đức Phật nói:
- Đây là sức do cha mẹ sinh chứ chẳng phải sức thần thông. Nếu dùng sức thần thông thì mũi tên này có thể xuyên qua vô lượng vô biên thế giới chư Phật”.
5.8.4. So sánh
Kinh Tập nhất thiết chư công đức tam-muội ghi: “Đức Phật bảo tôn giả Mục-kiền-liên:
- Sức của tất cả thiên tử trong cõi Tứ Thiên Vương chỉ bằng sức của một thiên vương. Sức của mười thiên vương chỉ bằng sức của một thiên tử trong cõi trời Tam Thập Tam. Tất cả sức của thiên tử trong cõi trời Tam Thập Tam chỉ bằng sức của một Đế Thích. Sức của mười Đế Thích chỉ bằng sức của một thiên tử trong cõi trời Diệm-ma. Sức của tất cả thiên tử trong cõi trời Diệm-ma chỉ bằng sức của một Diệm-ma thiên vương. Sức của mười Diệm-ma thiên vương chỉ bằng sức cùa một thiên tử trong cõi trời Đâu-suất. Sức của tất cả thiên tử trong cõi trời Đâu-suất chỉ bằng sức của một Đâu-suất-đà thiên vương. Sức của mười Đâu-suất-đà thiên vương chỉ bằng sức của một thiên tử trong cõi trời Hóa Lạc. Sức của tất cả thiên tử trong cõi trời Hóa Lạc chỉ bằng sức của Hóa Lạc thiên vương. Sức của mười Hóa Lạc thiên vương chỉ bằng sức của một thiên tử trong cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Sức của tất cả thiên tử trong cõi trời Tha Hóa Tự Tại chỉ bằng sức của một Tha Hóa Tự Tại thiên vương. Sức của mười Tha Hóa Tự Tại thiên vương chỉ bằng sức của một thiên tử trong cõi Ma thiên. Sức của tất cả thiên tử trong cõi Ma thiên chỉ bằng sức của một Ma vương. Sức của mười Ma vương chỉ bằng sức của Bán Na-la-diên. Sức của mười Bán Na-la-diên chỉ bằng sức của một Na-la-diên. Sức của mười đại Na-la-diên chỉ bằng sức của một bồ-tát tu hành trăm kiếp. Sức của mười bồ-tát tu hành trăm kiếp chỉ bằng sức của một bồ-tát tu hành nghìn kiếp.
Như thế lần lượt tính lên mười bậc nữa, cho đến sức của mười bồ-tát tu hành nghìn nghìn nghìn vạn kiếp chỉ bằng sức của một bồ-tát Vô sinh pháp nhẫn. Sức của mười bồ-tát Vô sinh pháp nhẫn chi bằng sức của một bồ-tát Thập địa. Sức của mười bồ-tát Thập địa chi bằng sức của một bồ-tát thân sau cùng.
Vì thế, này Mục-kiền-liên! Bồ-tát thành tựu sức như thế, nên vừa sinh liền đi bảy bước. Nếu không nhờ Phật giữ gìn thì thế giới này sẽ bị hủy hoại, không tồn tại. Vì sao? Khi bồ-tát vừa sinh ra liền đi bảy bước, lúc bồ-tát đặt chân xuống đại địacủa thế giới này ngang dọc sáu mươi nghìn do-tuần đều chìm xuống sâu trăm nghìn do-tuần; khi bồ-tát nhấc chân lên thì đất lại vọt lên trăm nghìn do-tuần. Nhờ Phật giữ gìn, nên thế giới này không chấn động, không hủy hoại, chúng sinh không xao động. Bồ-tát tối hậu thân vừa sinh đã có đầy đủ sức như thế. Giả sử tất cả chúng sinh trong tất cả thế giới này đều đầy đủ lực của bồ-tát, sắp thành Bồ-đề, thì cũng không bằng một phần trăm nghìn vạn ức xứ phi xứ trí lực của Như Lai, cho đến tính đếm thí dụ không thể được. Nếu đầy đủ mười lực như thế, mới gọi là Như Lai, ứng, Chính Biến Giác.
Trong đây không nói đến thông lực của bồ-tát. Nếu dùng thông lực thì có thể đặt hàng sa thế giới trên đầu sợi lông rồi ném qua vô biên hàng sa thế giới. Ném qua nhận lại như thế mà không làm cho chúng sinh xao động. Thần lực như thế không thể tính lường, không thể đếm biết. Nếu Như Lai hiện hết các thần lực, hàng thanh văn các ông còn không thể tin, huống gì những chúng sinh khác!
Lực sĩ Tịnh Oai Đức nghe Đức Phật nói đó là sức do cha mẹ sinh ra, trong lòng vô cùng sợ hãi, toàn thân rung động, cho là hiếm có, nên lìa tâm kiêu mạn, xin quy y Tam bảo và phát tâm Vô thượng”.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/10/2015
PUCL QUYỂN 10 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
QUYỂN 10 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.9. NẠP PHI 5.9.1. Lời dẫn Pháp thân vô hình, tùy ứng mà hiện; cơ duyên vô số, nên dấu tích giáo hóa cũng chẳng phải một. Hoặc lìa dục mà thụ đạo...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 8 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 8 Quyển này cỏ một chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT 5.1. THẤT PHẬT 5.1.1. Lời dẫn Từng nghe: Chín cõi chẳng đồng, bốn loài sai khác, việc ác dễ nhiễm, nghiệp tuệ khó thành. Chúng sinh từ lâu trôi nổi nơi sôn...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 7 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực....
29/10/2015
PUCL QUYỂN 6 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 6 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.4. QUỈ THẦN 4.4.1. Lời dẫn Tính của quỉ thần chỉ thích việc yêu tà, ở chốn tối tăm mang nhiều tội lỗi. Có loài ở vách núi thẳm, hoặc có loài nương nơi...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 5 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO
QUYỂN 5 Quyển này có một chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO 4.1. CÕI TRỜI 4.1.1. Lòi dẫn Luận về phúc báo cõi trời, thì nào là sự thấy biết đầy đủ cao xa, y phục trang sức rực rỡ, thân hình xinh đẹp nhẹ nhàng. Nhưng trên...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 4 - CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ
QUYỂN 4 Quyển này có một chương Nhật nguyệt tinh tú. 3. CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ 3.1. LỜI DẪN Trước khi thế giới hình thành, Nhị nghi còn mờ mịt; sau khi chúng sinh trữ lương thực, tam quang mới rực sáng. Do đó cảm đến...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)
QUYỂN 3 Quyển này tiếp theo chương Tam giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt) 2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu,...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI
QUYỂN 2 Quyển này có một chương giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI 2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân,...
