PUCL QUYỂN 4 - CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ
29/10/2015
QUYỂN 4 Quyển này có một chương Nhật nguyệt tinh tú. 3. CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ 3.1. LỜI DẪN Trước khi thế giới hình thành, Nhị nghi còn mờ mịt; sau khi chúng sinh trữ lương thực, tam quang mới rực sáng. Do đó cảm đến...

QUYỂN 4
Quyển này có một chương Nhật nguyệt tinh tú.
3. CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ
- Thưa Đại sĩ! Những tinh tú này vốn do ai nói ra, ai tạo ra sao lớn, sao nhỏ, mặt trời, mặt trăng? Vào ngày nào, ngôi sao nào hiện đầu tiên trên bầu trời? Do ai đặt ra một tháng có ba mươi ngày, một năm có mười hai tháng? Thế nào là thời, lệ thuộc nơi náo, tên gí, họ gì? Thế nào là thiện, là ác, là thực, là thí? Thế náo là ngày, là đêm? Mặt trời, mặt trăng và các ví sao vận hành như thế nào? Ngài là bậc tối tôn trong hàng thánh, xin thương xót loài rồng chúng con mà giảng thuyết. Nghe xong chúng con sẽ thoát khổ và cung kính hành trì.
Tôn giả Thù-trí-la-bà bảo các rồng:
- Vào thời quá khứ, đầu kiếp Hiền này có vua Đại Tam-ma-đa thông minh tài trí, dung mạo đoan chính không ai bằng. Vua luôn dùng chính pháp giáo hóa nhân dân, tâm ưa nơi vắng lặng, không thích ái nhiễm, luôn thích giữ sạch thân thể. Nhưng vua có một phu nhân đam mê sắc dục. Do lâu ngày vua không gần gũi, phu nhân không làm sao để thỏa mãn dục tâm. Một hôm bà vào vườn rừng, dạo chơi dưới một cội cây, bỗng một đàn lừa xuất hiện. Thấy căn tướng của các con lừa lộ xuất, lửa dục từ tâm bà bộc phát hừng hực, bà vội cởi áo quần chạy đến bên các con lừa. Lừa thấy bà, liền giao hợp. Sau đó mang thai, đủ ngày tháng, bà sinh ra một quái vật, đầu, tai, miệng, mắt đều giống lừa, chỉ có thân hình là người, nhưng cũng thô nhám, mọc đầy lông như súc sinh. Phu nhân thấy vậy, vô cùng kinh sợ, vội ném quái vật này vào nhà xí. Nhưng do phúc lực, nên nó lơ lửng trong khoảng không, chứ không rơi xuống đầt. Lúc ấy nữ la-sát Lô Thần thấy đứa bé quái dị này không dính phân dơ, nghĩ là do phúc lực, nên từ hư không đón lấy, tắm rửa sạch sẽ, mang về Tuyết sơn nuôi dưỡng, xem đứa bé này như con ruột. Đến lúc trưởng thành, nó được la-sát này dạy uống tiên dược và ngày đêm vui chơi với các đồng tử cõi trời. Các vị trời lớn cũng đến chăm sỏc bảo vệ. Do uống tiên dược và dùng các loại quả quí thơm ngon, nên hình tưóng đứa bẻ dần dần thay đổi, phúc đức trangnghiêm và ánh sáng chiếu phát. Do đó thiên chúng khen ngợi và gọi là Khư-lô-sắt-trá, nghĩa là Lô Thần đại tiên thánh nhân.
Bấy giờ trong núi Tuyết và mọi nơi bỗng nhiên hóa sinh các loại hoa đẹp, quả ngon, thuốc tốt, suối trong, chim quí. Những nơi Lô Thần đến thì đều sung túc. Do nhân duyên quả thuốc trợ giúp, những tướng lừa còn lại trên thân cũng dần dần biến hết, làm cho thân tướng Lô Thần thật đoan chính, chỉ còn đôi môi là giống lừa, vì thế gọi là Lô Thần tiên nhân.
Lô Thần học giáo pháp của bậc thánh, ngày đêm đứng một chân, suốt sáu vạn năm chưa từng đặt xuống mà tâm không khởi một niệm mỏi mệt. Thấy đại tiên chịu đựng gian khổ như thế, các Phạm chúng, Đế Thích và các vị trời cõi Dục, cõi Sắc khác ở phương trên cùng hòa hợp đến lễ lạy cúng dường tiên nhân Lô Thần. Cho đến loài rồng, a-tu-la, dạ-xoa, tất cả tiên nhân, những người tu tập Phạm hạnh cũng đên bên Lô Thân. Sau khi cúng dường xong, tất cả đồng chấp tay thưa:
- Đại thiên thánh nhân muốn cầu việc gì, xin nói cho chư thiên chúng tôi biết? Nếu cỏ thể, chủng tôi sẽ trao cho ngài, hoàn toàn không tiếc nuối!
Nghe thế, Lô Thần vô cùng vui mừng đáp:
- Đã nhất định thỏa mãn những mong cầu trong lòng ta, ta sẽ lược nêu cho quí vị biết! Ta nhớ khi còn thân ở kiếp quá khứ, thấy trên hư không hiện ra mặt trời, mặt trăng, năm chòm sao, ngày đêm vậnhành theo một quĩ đạo nhất định, chiếu sáng khắp thiên hạ. Ta muốn biết tường tận những điều này và cảm thương cho những chúng sinh ngu tối, nên ta không ngại gian khổ cầu học. Vào đầu kiếp Hiền này không có những việc như thế. Tất cả trời rồng, quỉ thần các vị thương xót ta mà đến đây, thì ta cũng xin nói cho các vị biết về cách thức vận hành, công năng của mặt trời, mặt trăng và các vì sao; giống như việc định đặt, lập bày, tạo tác, tiện nghi, thiện ác tốt xấu ở quá khứ. Ta xin trình bày đầy đủ như sở nguyện của mình.
Tất cà các vị trời đều thưa:
- Đại đức tiên nhân! Việc này thật vô cùng sâu xa, trình độ của chúng tôi không thể đạt đến. Nếu thương xót chúng sinh, xin ngài mau nói những việc giống như ở quá khứ!
Tiên nhân Lô Thần nói:
- Về việc sắp đặt tinh tú, đầu tiên đặt chòm sao Mão, còn các vì sao khác xoay chuyển, vận hành trên hư không.
Lô Thần hỏi thiên chúng:
- Ta nóỉ đặt chòm sao Mão đầu tiên, đúng không?
Lúc ấy Nhật thiên thưa: - Sao Mão luôn vận hành trên hư không, đi khắp bốn thiên hạ tạo cácviệc thiện làm lợi ích cho chúng ta. Chòm sao này thuộc Hỏa thiên.
Trong chúng có một thanh nhân tên là Đại Oai Đức nói: “Chòm sao Mão là con của em gái ta, có sáu hình, giống như dao cạo tóc, một ngày một đêm đi ba mươi thời, khắp bốn thiên hạ, thuộc Hỏa thiên, họ Tì-da-ni, người cầu sao này nên dâng cúng sữa đông.
Lô Thần nói tiếp:
- Thứ hai là đặt chòm sao Tất. Sao này thuộc Thủy thiên, họ là Phả-la-đọa, có năm sao, hình dáng như cái chĩa dựng đứng, một ngày một đêm đi bốn mươi lăm thời, người thuộc sao này nên cúng thịt nai.
- Thứ ba đặt chòm sao Giốc. Sao này thuộc Nguyệt thiên, cũng là con Nguyệt thiên, họ Tì-lợi-giồ-da, có ba hình, như đầu nai, một ngày một đêm đi mười lăm thời. Người thuộc sao này nên cúng củ và quả.
- Thứ tư là chòm sao Tham. Sao này thuộc Nhật thiên, họ Bà-tư-thất-hi, tính rất ác độc, luôn sân hận, chỉ có một sao, hình thể giống như nốt ruồi đen của phụ nữ, một ngày đêm đi bốn mươi lăm thời. Người thuộc sao này, nên cúng đề-hồ.
- Thứ năm là chòm sao Tinh. Sao này thuộc Nhật thiên, họ Bà-tư-thât-hi, có hai sao, hình giống như dấu chân, một ngày đêm đi mười lăm thời.Người thuộc sao này nên dùng gạo lức và hoa trộn với mật để cúng.
- Thứ sáu là chòm sao Quỉ. Sao này thuộc Tuế Tinh thiên, con của Tuế Tinh, họ Pháo-ba-na-tì, tính ôn hòa, thích tu pháp thiện, có ba sao, giống như tướng ngực đầy đặn của Phật, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này, cũng dùng gạo lức và hoa trộn với mật để cúng.
- Thứ bảy là chòm sao Liễu. Sao này thuộc Xà thiên, họ Xà, chỉ có một sao, giống như nốt ruồi đen cùa phụ nữ, một ngày đêm đi mười lăm thời. Người thuộc sao này, nên cúng cháo sữa.
Bảy chòm sao trên ở phương đông.
Sau đây là bảy chòm sao ở phương nam:
- Thứ nhất là chòm sao Thất tinh, thuộc Hòa thiên, họ Tân-già-da-ni, có năm sao, hình giống như bờ sông, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên nấu cháo bằng cám, gạo và ô ma để cúng tế.
- Thứ hai là chòm sao Trương. Sao này thuộc Phúc Đức thiên, họ Cù-đàm-di, có hai sao, hình giống như dấu chân, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng quả tì-la-bà.
- Thứ ba là chòm sao Dực. Sao này thuộc Lâm thiên, họ Kiều-trần-như, có hai sao, hình giống nhưdấu chân, một ngày đêm đi mười lăm thời. Người thuộc sao này nên cúng đậu xanh và đậu đen nấu chín.
- Thứ tư là chòm sao Chẩn. Sao này thuộc Sa-tì-lị-đế thiên, họ Ca-già-diên, con của Hiết tiên nhân, có năm hình, giống như bàn tay người, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng cơm gạo dở.
- Thứ năm là chòm sao Giác. Sao này thuộc Hỉ Lạc thiên, họ Chất-đa-la-diên, con của Càn-thát-bà, chỉ có một sao, giống như nốt ruồi đen của phụ nữ, một ngày đêm đi mười lăm thời. Người thuộc sao này nên cúng hoa và cơm.
- Thứ sáu là chòm sao Cang. Sao này thuộc Ma-đố-la thiên, họ Ca-già-diên-ni, có một sao, giống như nốt ruồi đen của phụ nữ, một ngày đêm đi mười lăm thời. Người thuộc sao này nên dùng đậu xanh nấu với tô và mật để cúng.
- Thứ bảy là chòm sao Đê. Sao này thuộc Hòa thiên, họ Ta-cát-lị-đa-da-ni, một ngày đêm đi bốn mươi lăm thời. Người thuộc sao này nên dùng các loại hoa làm thức ăn dâng cúng.
Bảy chòm sao ở phương tây:
- Thứ nhất là chòm sao Phòng. Sao này thuộc Từ Thiên, họ A-lam-bà-da-ni, có bốn sao, giống như xâu chuỗi, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng rượu thịt.
- Thứ hai là chòm sao Tâm. Sao này thuộc Đế Thích thiên, họ La-diên-na, có ba sao, giống như hạt đại mạch, một ngày đêm đi mười lăm thời. Người thuộc sao này nên cúng cháo gạo lức.
- Thứ ba là chòm sao Vĩ. Sao này thuộc Lạp Sư thiên, họ Ca-già-na-ni, có bảy sao, giống như đuôi bò cạp, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng thức ăn nấu bằng quà và cù.
- Thứ tư là chòm sao Ki. Sao này thuộc Thủy thiên, họ Mô-xoa-ca-chiên-diên-ni, có bốn sao, giống như sừng trâu, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng nước ép từ vỏ cây ni-câu-đà.
- Thứ năm là chòm sao Đẩu. Sao này thuộc Hỏa thiên, họ Mô-già-la-ni, có bốn sao, giống như người nâng đất, một ngày đêm đi bốn mươi làm thời. Người thuộc sao này nên dùng gạo lức, hoa trộn với mật đế cúng.
-Thứ sáu là chòm sao Ngưu. Sao nàv thuộc Phạm thiên, họ Phạm-lam-ma, có ba sao, giống như đầu trâu một ngày đêm đi sáu thời. Người thuộc sao này, nên cúng đề hổ và cơm.
Thứ bảy là chòm sao Nữ. Sao này thuộc Tì-nữu thiên, họ Đế-lị-ca-giả-na-ni, có bốn sao, giống như hạt lúa mạch lớn, một ngày đêm đi bốn mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng thịt chim.
Bảy chòm sao ở phương Tây:
- Thứ nhất là chòm sao Hư. Sao này thuộc Đế Thích thiên, con của Bà-bà thiên, họ Kiều-trần-như có bốn sao, giống như con chim, một ngày đêm đì ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng nước đậu đen nấu chín.
- Thứ hai là chòm sao Nguy. Sao này thuộc Đa-la-noa thiên, họ Đơn-na-ni, một ngày đêm đi mười lăm thời. Người thuộc sao này nên cúng cháo gạo lức.
- Thứ ba là chòm sao Thất. Sao này thuộc Xà Đầu thiên, con của Hiết thiên, họ Xà-đô-ca-ni-câu, có hai sao, giống như vết chân người, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng màu và thịt.
- Thứ tư là chòm sao Bích. Sao này thuộc Lâm thiên, con của Bà-bà-na, họ Đà-nan-xà, có hai sao, giống như vết chân người, một ngày đêm đi bốn mươi lăm thời. Người thuộc sao này nên cúng thịt.
- Thứ năm là chòm sao Khuê. Sao này thuộc Phú-sa thiên, họ A-sắt-bá-bái-ni, có một sao, giống như nốt ruồi đen cùa phụ nữ, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng sữa đông.
- Thứ sáu là chòm sao Lâu. Sao này thuộc Càn-thát-bà thiên, họ A-hàm-bà, có ba sao, giống như đầu ngựa, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng bánh đại mạch và thịt.
- Thứ bảy là chòm sao Vị. Sao này thuộc Diêm-ma-la thiên, họ Bạt-già-tì, có ba sao, giống như chân đỉnh, một ngày đêm đi ba mươi thời. Người thuộc sao này nên cúng gạo lức, mè đen và táo rừng.
Trong hai mươi tám chòm sao, có năm chòm sao vận hành bốn mươi lăm thời trong một ngày đêm là chòm sao Tất, Tham, Đê, Đẩu và Bích. Văn nghĩa về hai mươi tám chòm sao này rất nhiều và rộng, khó hiểu trọn ý thú sâu xa, cho nên không thuật hết. Nay ta chi nói sơ lược về thời mà thôi.
Chư thiên nghe Lô Thần nói thế đều vui mừng. Bấy giờ Lô Thần,ở trước đại chúng chắp tay nói:
- Như vậy, bây giờ ta sẽ nói việc an trí ngày, tháng, năm, thời, các vì sao lớn, sao nhỏ. Sáu thời là gì? Đó là thời Huyên hoãn gồm tháng giêng và hai; thời Chủng tác gồm tháng ba và tư; thời Cầu giáng vũ gồm tháng năm và sáu; thời Vật dục thục gồm tháng bảy và tám; thời Hàn đống gồm tháng chín và mười; thời Đại tuyết gồm tháng mười một và mười hai. Như vậy mười hai tháng có sáu thời. Lại có tám chòm sao lớn: Tuế, Huỳnh Hoặc, Trấn, Thái bạch, Thần, Nhật, Nguyệt, Hà La Hầu; hai mươi tám chòm sao nhỏ là từ sao Mão đến sao Vị đã kể trên. Ta an trí theo thứ tự như vậy, các vị đều thấy nghe, vậy các vị nghĩ thế nào?
Bấy giờ chư thiên, tiên nhân, a-tu-la, rồng và na-la đều chap tay thưa:
Ngài là bậc tối tôn quí trong hàng chư thiên, cho đến các rồng và a-tu-la cũng không hơn được. Ngài là bậc có lòng từ bi và trí tuệ bậc nhất, trải qua vô lượng kiếp mà cũng không quên lòng thương xót tất cà chúng sinh, vì thế có được phúc báo trí tuệ mà tất cả chư thiên không ai có được. Cách thức vận hành, công năng của tinh tú như vậy, không có chúng sinh nào làm được, tất cả đều tùy hỉ làm an lạc cho chúng ta. Hay thay! Bậc Đại đức giúp chúng sinh an lạc!
Lô Thần lại nói:
- Như vậy ta đã nói xong thứ tự từ đầu đến cuối mười hai tháng trong một năm, cũng cách thức như vậy. Ta cũng đã nói xong cách thức vận hành các sao lớn nhỏ, cách tính sát-na và thời. Bây giờ ta nói về việc an trí bốn đại thiên vương. Đó là tại bốn mặt của núi Tu-di, mỗi mặt an trí một vị thiên vương để làm lợi ích cho chúng sinh nơi ấy.
Nghe vậy, đại chúng đều xướng: “Quí thay!” và vui mừng vô hạn. Từ đó trời, rồng, dạ-xoa, a-tu-la ngày đêm cúng dường Lô Thần không dứt”.
Sau đó vô lượng đời, có tiên nhân Già Lực ra đời, lại nói riêng về việc an trí các tinh tú, lược thuyết về đại tiểu nguyệt pháp, thời tiết. Nhưng ở đây chỉ nói đến hai mươi tám chòm sao và những sởthuộc khác nhau, mỗi mỗi đều có chứng nghiệm. Cho nên kinh Đại tập ghi: “Bấy giờ Đức Phật hỏi Đại Phạm thiên vương chủ thế giới Ta-bà, Thích-đề-hoàn-nhân, bốn vị thiên vương:
- Thiên tiên quá khứ đã bố trí các tinh tú như thế nào để bảo vệ quốc gia và dưỡng dục chúng sinh?
Đại Phạm thiên vương đáp:
- Thiên tiên quá khứ đã bố trí các tinh tú để bào vệ quốc gia và dưỡng dục chúng sinh. Đó là tại bốn phương, mỗi phương đều có các tinh tú chủ quản. Trong đó phương đông có bảy chòm sao: sao Giác chủ quản về chim chóc; sao Cang chủ quản việc xuất gia cầu thánh đạo; sao Đê chủ quản các chúng sinh sống dưới nước; sao Phòng chủ quản việc đi xe và cầu lợi; sao Tâm chủ quản người nữ; sao Vĩ chủ quản chúng sinh trong các châu; sao Ki chủ quản những thợ gốm.
Bảy chòm sao phương nam: Sao Tỉnh chủ quản những thợ luyện lọc vàng bạc; sao Quỉ chủ quản tất cả quốc vương và đại thần; sao Liễu chủ quản loài rồng ở núi Tuyết; sao Tinh chủ quản nhừng người cực giàu; sao Trương chủ quản trộm cướp; sao Dực chủ quản thương nhân; sao Chẩn chủ quản nước Tu-la-trá.
Bảy chòm sao phương tây: Sao Khuê chủ quản người đi thuyền; sao Lâu chủ quản thươngnhân; sao Vị chủ quản nước Bà-lâu-ca; sao Mão chù quản loài trâu; sao Tất chủ quản tất cả chúng sinh; sao Giốc chủ quản nước Tì-đề-ha; sao Tham chủ quản giòng Sát-lợi.
Bảy chòm sao phương bắc: Sao Đẩu chủ quản nước Kiêu-bộ-sa; sao Ngưu chủ quản dòng Sát-lợi và nước An-đa-bát-kiệt-na; sao Nữ chủ quản nước Ương-già-ma-già-đà; sao Hư chủ quản nước Na-già-la; sao Nguy chủ quản việc đội mũ hoa; sao Thất chủ quản nước Kiền-đà-la, nước Thâu-lô-na và các loài chúng sinh đi bằng bụng như rồng rắn...; sao Bích chủ quản Càn-thát-bà và những người giỏi âm nhạc.
Bạch Đại đức Bà-già-bà Thiên tiên quá khứ đã bố trí tính tú ở bốn phương như thế để bảo vệ quốc gia và dưỡng dục chúng sinh.
Đức Phật bảo Phạm vương...:
- Các ông hãy lắng nghe! Sự thấy biết của Ta tối thắng nhất trong thế gian, chư thiên và các tiên. Vì thế Ta cũng khiến các tinh tú bảo vệ quốc gia và dưỡng dục chúng sinh. Các ông nên tuyên bố cho tất cả được biết. Những quốc gia và chúng sinh Ta phân chia, mỗi tinh tú tùy theo đó mà bảo vệ và dưỡng dục. Bao nhiêu quốc gia đã phân chia, đều tùy thuộc vào hai mươi tám tinh tú.
- Hỏi: Hình lượng lớn nhỏ của các tinh tú này như thế nào?
- Đáp: Theo kinh Tăng nhất A-hàm, sao lớn thì khoảng một do-tuần, sao nhỏ thì khoảng hai trăm bộ. Theo kinh Lâu thán, sao lớn có chu vi bảy trăm dặm, sao trung bốn trăm tám mươi dặm, sao nhỏ hai trăm dặm. Trong mỗi vì sao đều có cung điện của chư thiên. Theo luận Du-già, trong các vì sao, sao lớn có chu vi mười tám câu-lô-xá, sao trung mười câu-lô-xá, sao nhỏ bốn câu-lô-xá.
* Lời bàn
Nếu căn cứ theo kinh điển nhà Phật, các vì sao này đều là cung điện của chư thiên, trong đó có chư thiên an trú. Do phúc lực của y báo chiêu cảm mà có ánh sáng xuất hiện. Nếu theo sách thế gian, các sao này đều là đá, cho nên vào thời Tống có sao rơi, sao rơi xuống có hình chất như đá. Hoặc cho không phải là sao mà là đá trên thiên hà rơi xuống. Sách thế gian ghi: “Thiên hà và địa hà liên thông, cho nên trong sông lúc nào cũng có đá rơi”. Kinh Tu-di tượng đò sơn ghi: “Trên trời có dòng sông Da-ma-la lưu chuyển trong hư không. Trong đó có đá lớn, đá nhỏ, đôi khi rơi xuống, người ta lầm cho là sao”. Đâykhông phải là kinh Phật, do thế gian ngụy tạo dối lập ra và cho lưu hành, chứ chẳng phải do Đức Phật thuyết.
Sau giờ Thân (15g-17g) một ngày tháng mười, niên hiệu Trinh Quán mười tám (644), tại huyện Văn Thủy nằm giữa Phần châu và Tinh châu có sấm sét lớn, từ trong đám mây trên bầu trời bỗng nhiên có một khối đá rơi xuống. Khối đá có hình dáng như mỏ chim trĩ, phía lưng cao, phía bụng bằng phăng. Huyện thừa huyện Văn Thủy là Trương Hiểu Tĩnh cùng với các quan Phần châu đồng dâng tấu sớ. Bấy giờ có sư Trường Niên là người thông nội ngoại điển trụ tại chùa Bồ-đề, nước Ma-già-đà, Tây Vực đến Tây kinh. Vua soạn sắc hỏi việc nàỵ. Sư trả lời: “Đây là thức ăn của rồng, do hai con rồng tranh ăn làm rơi xuống, giống như đá”. Theo đây thì vật từ trên trời rơi xuống chưa hẳn là sao. Phàm vật từ trời cao rơi xuống, người đời không thể lường được. Như nói: “Không gì làm cho người khó biết bằng trời đất”.
Sách thế tục: “Trời là tinh khí, mặt trời là Dương tinh, tinh tú là cái tinh của vạn vật; Nho giáo lập thuyết: Nếu sao có rơi mới là đá, nếu cái tinh ấy là đá thì không
thể phát ánh sáng. Là đá thì tính chất của nó chặt và nặng, vậy buộc dính vào đâu. Hơn nữ, một vì sao lớn có đường kính một trăm dặm, một chòm sao từ đầu đến đuôi cách mấy vạn dặm. Như thế những vật trăm dặm kéo dài liên tiếp mấy vạn dặm, rộng hẹp, dọc ngang mà không bao giờ thêm bớt. Sao đồng màu sắc với mặt trời, mặt trăng, chỉ phân biệt theo lớn nhỏ khác nhau mà thôi. Nhưng mặt trời-mặt trăng lại thật là đá sao? Đá thì thể rắn và chặt khít, không dung chứa quạ và thỏ. Đá đâu thể một mình vận chuyển trong không khí. Còn thể của khí thì nhẹ nổi, hợp với thiên không, đến đi, xoay chuyển không chống trái. Vả lại, sự di chuyền ấy, mỗi mỗi nhanh chậm khác nhau. Tại sao mặt trời, mặt trăng, năm ngôi sao, hai mươi tám chòm sao, mỗi mỗi đều có quĩ đạo, chuyền động không đều? Lẽ nào bỗng nhiên khí biến thành đá?
Đất đã vẩn đục, lẽ ra nặng chìm, nhưng đào đất thì được suối, vậy đất nổi trên nước. Phía dưới túi nước ấy có vật gì? Ao hồ, hang hốc từ đâu sinh ra, tất cả chảy về đông đổ ra biển lớn, vì sao không tràn; qui đường, vĩ lữ dẫn nước đến nơi nào? Đá ốc Tiêu do khí nào đốt nóng; thủy triều lên xuống, do ai điều tiết? Thiên Hán treo trên bầu trời, vì sao không rơi xuống? Tính của nước thì chảy xuống, vì sao lại vọt lên? Trời đất vừa thành, liền có tinh tú; chín châu chưa định, các nước đã phân; hoạch định địa phận, làm sao tương ứng với vị tri tin tú vận hành trên bầu trời? Từ xưa đến nay ai đã phân chia như vậy? Quốc độ thì có thêm bớt, tinh tú thì không tăng giảm, nhưng tốt xấu, họa phúc hoàn toàn không sai. Bầu trời rộng lớn, tinh tú thì nhiều, vì sao chỉ vận hành tương ứng với địa phận Trung Quốc? Sao Mão là sao Mao đầu, thuộc địa phận Hung Nô ở phương bắc, còn như Tây Hồ, Đông Di, Nam Điêu Đề và Giao Chỉ thì bỏ sao? Từ đây mà suy thì không ai có thể biết. Như vậy, đâu được dùng những việc tầm thường của con người mà phủ định tất cả những việc ngoài vũ trụ?
Phàm người đời, hễ mắt thấy tai nghe mới tin, còn không thì nghi ngờ. Nho gia nói tự thân “trời” có các nghĩa: bao trùm, che phủ, lúc động lúc an, là chỗ di chuyển của Đẩu-Cực, chỗ hệ thuộc của Quản duy, nếu có thấy thì cũng không khắp, không đồng; nếu suy lường thì cũng không đáng để y cứ. Vì sao tin vào những ức thuyết của phàm phu mà nghi ngờ diệu chỉ của bậc thánh, để rồi chắc chắn cho là không có hằng sa thế giới, số kiếp như vi trần? Nhưng Trâu Diễn cũng có luận về Cửu châu, do người sống gần núi không tin có con cá lớn bằng cội cây, kẻ ở ven biển không tin có cội cây lớn bằngcon ca. Hán Võ đế không tin có keo Tục huyền, vua Ngụy không tin có vải Hỏa hoán; người Hồ thấy lụa, không tin lụa được dệt bằng tơ do tằm ăn dâu nhả ra; người Ngô tại Giang Nam không tin có loại lều bạt chứa cà nghìn người, khi lên Hà Bắc không tin có chiếc thuyền chứa hai vạn thạch. Đó đều là những chứng nghiệm vậy. Đến như những người giỏii thần chú, các nhà ảo thuật thế gian, trong chớp mắt có thể biến hiện mọi thứ như trồng dưa, dời giếng... hoặc đi trên lửa, trên dao... Sức phàm phu mà còn như thế, huống gì sức thần thông cảm ứng không thể nghĩ bàn, như tràng báu nghìn dặm, tòa trăm do-tuần biến thành Tịnh độ, diệu tháp từ đất vọt lên!
Tây quốc hành truyện của Vương Huyền Sách ghi: “Đời Đường, niên hiệu Hiển Khánh thứ tư (659), sứ giả đến nước Bà-lật-xà. Vua nước này sai năm cô gái diễn trò vui để tiếp đãi sứ giả. Năm cô này chuyền nhau múa ba cây đao, sau dần dần lên đến mười cây đao. Họ còn có thể mang giày đi trên dây mà ném đao, tay đùa với ba cây gậy, đao, thương, thuẫn. Họ biểu diễn nhiều món tạp kĩ và các trò ảo thuật như cắt lưỡi, rút ruột... không thể thuật hết.
3.3. NHẬT CUNG
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật nói với các tì-kheo:
Cung điện của Nhật thiên dài rộng đều năm mươi mốt do-tuần, trên dưới cũng như thế. Nhìn chính diện thì giống nhà, nhìn từ xa thì giống khu vườn, do vàng và pha lê tạo thành. Mỗi một mặt có hai phần được tạo bằng vàng cõi trời, rất sáng sạch và phóng ánh sáng rực rỡ; một phần còn lại được làm bằng lưu li cõi trời cũng sáng sạch và phóng ánh sáng rực rỡ. Cung điện này do năm loại gió thổi đến giúp cung điện vận hành. Đó là gió Trì, Trụ, Tùy thuận chuyển, Ba-la-ha-ca, Tương hành. Trước cung này luôn có vô lượng vị trời dẫn đường. Khi đi họ đều được an lạc, vì thế đều gọi là Lao Hành. Tên Lao Hành có từ đây. Trong cung điện của Nhật thiên cũng có vàng Diêm-phù-đàn dùng để tạo chiếc xe cao mười sáu do-tuân, mỗi cạnh tám do-tuân, được trang hoàng rực rỡ. Thiên tử và các quyến thuộc ngự trong xe này hưởng thụ năm món dục cõi trời. Thiên tử Nhật thiên thọ năm trăm tuổi, con cháu nối tiếp kế thừa cai trị. Cung điện này tồn tại được một kiếp, thân cùa Nhật thiên tử phát ra ánh sáng chiếu khắp xe, xe lại phát ánh sáng chiếu khắp cung điện. Ánh sáng phát ra liên tục chiếu soi khăp bốn châu và các thế gian. Thân của Nhật thiên tử và xe có một nghìn tia sáng, trong đó năm trăm tia chiếu ngang, năm trăm tia chiếu xuống phía dưới. Cung điện của Nhật thiên luôn di chuyển không dừng, trong đó sáu tháng đi về phương bắc. Mỗi ngày dần dần chuyển về phương bác sáu câu-lô-xá, nhưng chưa từng sai quỹ đạo. Sáu tháng cung điện đi về phương nam, một ngày dần dần chuyển về phương nam sáu câu-lô-xá, nhưng cũng chưa từng sai quĩ đạo. Khi cung điện Nhật thiên di chuyển sáu tháng, thì nguyệt cung cũng di chuyển mười lăm ngày”.
3.4. NGUYỆT CUNG
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Cung điện của Nguyệt thiên dài rộng đều bốn mươi chín do-tuần, tường thành bao quanh được xây bằng bảy báu. Cung điện được tạo thành bởi bạc và lưu li xanh cõi trời xen nhau. Trong đó có hai phần bạc, trắng sạch, phát ánh sáng rực rỡ; phần còn lại là lưu li xanh cõi trời, cũng rất sáng sạch như thế. Toàn cung điện, trong ngoài thông thấu, ánh sáng chiếu xa, cũng có năm ngọn gió như trên giúp cung điện di chuyển. Cung điện của Nguyệt thiên di chuyển trong hư không, cũng có vô lượng vị trời đi trước cung điện dẫn đường, họ luôn được an vui. Nơi đây cũng có xe lớn được làm bàng lưu li xanh, cao mười sáu do-tuần, rộng tám do-tuần. Nguyệt thiên từ cùng với các thiên nữ ở trong xe này, hòa hợp hưởng thụ năm món dục cõi trời, tùy ý di chuyển. Nguyệt thiên tử thọ năm trăm tuổi, con cháunối tiếp kế thừa cai trị. Cung điện này tồn tại được một kiếp. Thân của Nguyệt thiên tử phát ra ánh sáng chiếu khắp xe lưu li xanh, xe lại phát ánh sáng chiếu khắp cung điện, ánh sáng cung điện chiếu soi khắp bốn châu. Thân của Nguyệt thiên tử một nghìn tia sáng, trong đó năm trăm tia chiếu ngang, năm trăm tia chiếu xuống phía dưới. Do đó Nguyệt thiên còn gọi là Thiên Quang Minh, Lương Lãnh Quang Minh.
- Vì sao cung điện Nguyệt thiên lại dần dần hiện ra ?
Đức Phật đáp:
- Có ba nhân duyên: một, bề lưng của Nguyệt cung chuyển hiện; hai, chư thiên thân màu xanh, tất cả y phục, trang sức... đều xanh, trong nửa tháng phát ánh sáng ngăn che cung điện, vì ngăn che cho nên mặt trăng dần dần hiện; ba, sáu mươi tia sáng từ cung điện Nhật thiên chiếu ra ngăn che mặt trăng. Do các nhân duyên như thế, nên Nguyệt cung dần dần hiện.
- Vì sao Nguyệt cung tròn đầy?
Đức Phật đáp:
- Cũng có ba nhân duyên: một, lúc ấy bề mặt nguyệt cung chuyển hiện; hai, chư thiên thân màu xanh, tất cả y phục, trang sức... đều xanh, trong nửa tháng ngăn che cung điện. Đên ngày mười lăm, cung điện cùng cực viên mãn, ánh sáng phát ra rực rỡ, thí như cây đuốc nhiều dầu cháy rực, khiến các ngọnđèn nhỏ đều mất ánh sáng. Cung điện này cũng vậy, ánh sáng trong ngày mười lăm có thể ngăn che tất cả các ánh sáng khác; ba, vào ngày mười lăm, nguyệt cung tròn đấy, mọi nơi sáng rực, sáu mươi tia sáng của nhật cung không thể ngăn che được.
- Vì nhân duyên gì mà vào ngày thứ mười lăm của Hắc nguyệt, cung điện này không xuất hiện? Lại vì sao gọi là nguyệt?
Đức Phật đáp:
- Vì vào ngày này nguyệt cung gần nhật cung, bị ánh sáng nhật cung ngăn che, nên nguyệt cung không hiện. Lại vì vào Hắc nguyệt, từ ngày mồng một cho đến mười lăm, ánh sáng và uy đức của nguyệt cung dần dần giảm, nên gọi là nguyệt.
- Vì sao trong nguyệt cung có hình ảnh?
- Này các tì-kheo! Vì trong cõi này có cây Diêm-phù, nên gọi cỗi này là châu Diêm-phù. Cây này cao lớn, nên ảnh của nó hiện lên nguyệt cung”.
Luận Du-già ghi: “Do ảnh của các loài cá, ba ba... sống trong biển lớn hiện trong nguyệt cung, nên ta thấy trong đó có bóng đen”.
Tây Vực truyện ghi: “Vào thời quá khứ có một con thỏ tu tập hạnh bồ-tát. Đế Thích muốn thừ lòng, nên hiện xuống xin thịt thỏ để ăn. Thỏ liền nhảy vào lửa xả thân bố thí. Thiên đế cảm thương, mang thân thỏ cháy về đặt trong mặt trăng, mong mỗi khi chúng sinh ngửa nhìn, biết được thân tu tập hạnh từ của bồ-tát thời quá khứ”.
3.5. LẠNH NÓNG
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật dạy:
- Vì sao mùa hạ lại nóng bức? Này các tì-kheo! Nhật cung hướng về phương bắc, một ngày di chuyển được sáu câu-lô-xá, chưa từng rời quĩ đạo mặt trời. Nhưng có mười nguyên nhân khiến khí hậu nóng bức. Đó là tất cả ánh sáng Nhật thiên chiếu vào các núi nằm ngoài Tu-di theo thứ tự: Khư-đề-la-ca, núi Y-sa-đà-la, núi Do-càn-đà, núi Thiện Hiện, núi Mã Phiến Đầu, núi Ni-dân-đà-la, núi Tì-na-da-ca, núi Luân Vi và cung điện pha lê của Dạ-xoa trên hư không, Tu-di sơn vương và các núi lớn trong bốn châu.
- Vì sao thời tiết lại lạnh mát? Này các tì-kheo! Sau tháng sáu, nhật cung chuyển hướng về phương nam, thì có mười hai nguyên nhân khiến khí hậu nóng hay lạnh:
1. Giữa núi Tu-di và núi Khư-đề-la-ca có biển Tu-di rộng tám vạn bốn nghìn do-tuần, chu vi mênh mông. Trong biến trổ đầy hoa, tỏa hương thơm ngát, ánh sáng của Nhật thiên chiếu vào biển này, khiến khí hậu mát mẻ.
2. Nhật thiên chiếu vào núi Y-sa-đà-la.
3. Nhật thiên chiếu vào núi Du-càn-đa.
4. Nhật thiên chiếu vào núi Thiện Hiện.
5. Nhật thiên chiếu vào núi Mã Phiến Đầu.
6. Nhật thiên chiếu vào núi Ni-dân-đà-la.
7. Nhật thiên chiếu vào núi Tì-na-da-ca.
8. Nhật thiên chiếu vào núi Đại Luân Vi.
9. Nhật thiên chiếu vào tất cả các dòng sông ở châu Diêm-phù.
10. Nhật thiên chiếu vào tất cả các dòng sông ở châu Cù-đà-di.
11. Nhật thiên chiếu vào tất cả các dòng sông ở châu Phất-ba-đề.
12. Nhật thiên chiếu vào tất cả các dòng sông ở châu Uất-đơn-việt.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Có người hỏi:
- Vì sao mùa đông lại lạnh? Vì mùa đông là lúc thủy giới vô cùng rộng lớn, lúc chưa giảm đến cùng tận, cỏ cây còn thấm ướt, chưa khô héo, mặt đất trơn ướt. Bấy giờ hơi nóng chìm xuống dưới, hơi nước bốc lên trên. Vì sao biết được điều này? Vì nước dưới sâu thì ấm, nước trên mặt thì lạnh. Khi tiết đông lạnh đến, mặt trời vận hành trên quĩ đạo, chiếu ánh nắng xuống mặt đất không lâu, dương khi ẩn bên trong, nên thức ăn tiêu hóa nhanh. Vì thế mùa đông thời tiết giá lạnh.
- Vì sao mùa xuân nóng? Vì mùa xuân thủy giới cũng rộng lớn, nhưng đã giảm đến cùng tận, cây cỏ úa héo, mặt đất khô cằn, hơi nước lắng xuống dưới, hơi nóng bốc lên trên; vì sao biết được? vì nước dưới sâu thì lạnh, nước trên mặt thì nóng. Mùa đông đã qua, mặt trời vận hành trên quĩ đạo, chiếu ánh nắng xuống mặt đất rất lâu, hỏa đại trong thân yếu. Vì thế mùa xuân thời tiết nóng bức.
- Vì sao mùa hạ có lạnh có nóng? Vì vào tháng tám, hằng ngày đại địa bị mặt trời chiếu nóng, lại gặp mây lớn giăng dày, tuôn mưa khắp nơi, hơi đât bị hâm nóng xông lên. Nếu gặp gió thổi thì hơi nóng bốc lên tan hết, bấy giờ khí trời lạnh. Nếu không có gió, thì thời tiết rất nóng. Vì thế mùa hạ có lanh có nóng (Ấn Độ định bốn tháng một mùa, nên chỉ có mùa xuân, hạ và đông. Vì thế kinh nói lập cung điện cho ba mùa).
Kinh Khởi thế ghi: “Vì sao ở thế gian có các dòng sông?
Đức Phật dạy:
- Vì có mặt trời nên có sức nóng, có sức nóng nên có đốt, có đốt nên có hơi ẩm, có hơi ẩm nên có nước. Tất cả nước trong núi rừng tuôn chảy thành dòng, vì thế mà hình thành các dòng sông”.
3.6. CHIẾU DỤNG
Kinh Trường A-hàm ghi: “Lúc kiếp mới thành, trời đất tối tăm. Bấy giờ có một luồng hắc phong thổi vào biển lớn, rẽ nước lấy mặt trời đặt ở lưng chừng núi Tu-di, sau đó lập quĩ đạo cho mặt trời vận hành quanh bốn thiên hạ chiếu sáng chúng sinh”.
Kinh Khởi thế ghi: “Thế gian đang tăm tối, lại bỗng nhiên xuất hiện mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Từ đó có ngày, đêm, năm, thời tiết. Lúc ấy Nhật thiên tử lên cung điện, từ phương đông xuất hiện, đi quanh lưng chừng núi Tu-di hướng về phương tây, lặn rồi lại từ phương đông mà xuất hiện. Chúng sinh thấy Nhật thiên xuất hiện ở phương đông, liền nói với nhau: ‘Này các vị! Lại là cung điện ánh sáng của Nhật thiên, xuất hiện ở phương đông, di chuyển quanh Tu-di theo chiều phải
rồi lặn ở phương tây’. Thấy lần thứ ba, họ cũng nói: ‘Ánh sáng của Nhật thiên chiếu soi nơi đây’. Vì thế có những danh từ này xuất hiện”.
Luận Đại trí độ ghi: “Mặt trời, mặt trăng đều có chu vi năm trăm do-tuần, mà nay thấy bằng cái quạt”.
Kinh Xửxứ ghi: “Đức Phật nói với A-nan:
- Mắt con người chỉ thấy biết trong vòng bốn mươi hai vạn do-tuần”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: "vì sao gọi là ngày, là đêm? Do có mặt trời nên có đêm có ngày. Bản chất của cõi Dục là tối tăm, khi không cò ánh sáng mặt trời thì gọi là đêm. Khi ánh sáng mặt trời hiện thì gọi là ngày”.
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo;
- Diêm-phù-đề đúng trưa, thì tại châu Phầt-ba-đề mặt trời vừa lặn. Tại Cù-đa-ni mặt trời vừa mọc thì tại Uất-đơn-việt đúng nửa đêm. Tại Cù-da-ni mặt trời đúng trưa thì tại Diêm-phù-đề mạt trời vừa lặn.
Tại uất-đơm-việt mặt trời vừa mọc thì tại Phất-ba-đề đúng nửa đêm. Tại uất-đơn-việt đúng trưa thì tại Cù-da-ni mặt trời vừa lặn. Tại Phầt-ba-đề mặt trời mới mọc thì tại Diêm-phù-đề đúng nửa đêm. Phất-ba-đề đúng ngọ thì tại uất-đơn-việt mặt trời vừa lặn. Tại Diêm-phù-đề mặt trời mới mọc thì tại Cù-da-ni đúng nửa đêm.
Người Diêm-phù-đề cho là phương tây thì người ở Cù-da-ni cho là phương đông. Ngươi ở Cù-da-ni cho là phương tây thi người Uất-đơn-việt cho là phương đông; người uất-đơn-việt cho là phương tây thì người Phất-ba-đề cho là phương đông. Người Phất-ba-đề cho là phương tây thì người Diêm-phù-đề cho là phương đông. Hai phương nam bắc cũng như thế”.
3.7. KHUYẾT VÀ TRÒN
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Sao gọi là hắc bán, bạch bán? Do mặt trời nên có nửa tháng tối, nửa thảng sáng. Mặt trời luôn đuổi theo măt trăng, mỗi ngày gần nhau bốn vạn tám nghìn tám mươi do-tuần, mỗi ngày cách xa nhau cũng như vậy. Nếu gần nhau thì mỗi ngày mặt trăng tròn bị mặt trời che lâp ba đo-tuần, một do-tuần thì che một phần ba. Vì thế vào ngày thứ mười lăm mặt trăng bị che hoàn toàn, vào ngày này hắc bán mãn. Nếu hằng ngày mặt trời cách xa mặt trăng bốn vạn tám nghìn tám mươi do-tuần. thì mặt trăng mỗi ngày lộ ra ba do-tuần, một do-tuần thì lộ ra một phần ba. Vì thế ngày mười lăm mặt trăng hiện tròn đầy, thế gian gọi đây là bạch bán viên mãn. Nếu mặt trời và mặt trăng cách xa tối đa thi mặt trăng tròn đầy, thế gian gọi là bạch bán viên mãn. Nếu mặt trời và mặt trăng tụ hội một nơi, thì gọi là hợp hành, thế gian gọi là hắc bán viên mãn. Nếu mặt trời theo sau mặt trăng, ánh sáng mặt trời sẽ chiếu vào ánh sáng mặt trăng, Vì ánh sáng mặt trăng thô, nên khi bị chiếu liền có bóng, bóng này trử lại che lấp mặt trăng. Vì thế thấy phần sau của mặt trăng không tròn đầy. Do bóng này dần dần che lấp, cho đến ngày mười lăm thì mặt trăng bị phủ hoàn toàn, đó gọi là hắc bán. Nếu đi trước thì hằng ngày dần dần mở ra cũng như thế, cho đến ngày mười lăm thì mặt trăng hoàn toàn tròn sáng, đó gọi là bạch bán”.
Kinh Khởi thế ghi:
Hỏi: Vì sao mùa đông ngày ngắn đêm dài?
Đức Phật đáp:
- Sau sáu tháng, cung điện của Nhật thiên dần dần di chuyển về phương nam, mỗi một ngày đi được sáu câu-lô-xá, không bao giờ sai lệch. Lúc bấy giờ cung điện Nhật thiên chiếu xuống vùng cực nam Diêm-phù-đề. Vì địa hình nơi đây rất hẹp, nên Nhật thiên qua rất nhanh. Do đó, vào mùa đông, ngày ngắn đêm dài.
Hỏi: Vì sao mùa xuân và hạ ngày dài đêm ngắn?
Đức Phật đáp:
- Qua sáu tháng chuyển về phương nam thì cung điện Nhật thiên dần dần di chuyển về phương bắc. Mỗi một ngày đi được sáu câu-lô-xá, chưa từng sai lệch quĩ đạo hằng thường. Lúc bấy giờ, cung điện ở trung tâm của Diêm-phù-đề, địa thế vùng này rất rộng lớn, cung điện đi qua lâu hơn, vì thế ngày dài. Do đó vào mùa xuân mùa hạ ngày dài đêm ngắn”.
Luận Đại trí độ ghi: “Trong phẩm A-bệ-bạt-trí nói về ngày, tháng, năm, mùa. Ngày gọi là từ sáng đến sáng, chia làm ba thời là sơ phần, trung phần và hậu phần, đêm cũng chia làm ba thời. Một ngày mộtđêm gồm ba mươi giờ. Vào Xuân phân và Thu phân, ban ngày và ban đêm đều mười lăm giờ. Những mùa khác thì tăng hoặc giảm, như tháng năm thì ban ngày đến mười tám giờ, ban đêm chỉ mười hai giờ. Tháng mười một thì ban đêm mười tám giờ, ban ngày chỉ mười hai giờ. Một tháng có ba mươi ngày rưỡi, hoặc ba mươi ngày, hoặc hai mươi chín ngày rưỡi, hoặc hai mươi bảy ngày rưỡi, về tháng thì có bốn loại: Tháng theo mặt trời có ba mươi ngày rưỡi, tháng thế gian có ba mươi ngày. Tháng theo mặt trăng có hai mươi chín ngày cộng thêm ba mươi cùa sáu mươi hai phân. Tháng theo tinh tú có hai mươi bảy ngày cộng thêm hai mươi mốt của sáu mươi phân. Tháng nhuận thì rút ra từ tháng theo mặt trời và tháng thế gian, gọi là tháng mười ba, hoặc mười ba tháng là một năm. Năm này có ba trăm sáu mươi sáu ngày, đi hết một vòng thì trở lại.
Bồ-tát biết các phần trong một ngày, phần trước đã qua, phần sau chưa đến, phần hiện tại không có trụ xứ, không có tướng để nắm bắt. Vậy ngày rỗng không, hoàn toàn chẳng có gì, đến ngày ba mươi thì hai mươi chín ngày đã qua, vậy làm sao hòa hợp thành tháng? Vì không có tháng, lấy gì hòa hợp thành năm? Vì thế, pháp thế gian như huyễn, như mộng, chỉ là pháp dối gạt tâm. Bồ-tát biết ngày, tháng, năm hòa hợp của thế gian, biết tan hoại, không còn gì. Như thể là phân biệt thấu đáo”.
3.8. MÂY BAY
Kinh Khởi thế ghi: “Thế gian có bốn loại mây là trắng, đen, đỏ và vàng. Nêu mây màu trắng thì chứa nhiều địa giới, mây màu đen chứa nhiều thủy giới, mây màu đỏ chứa nhiều hỏa giới, mây màu vàng chứa nhiều phong giới. Có loại mây từ đất vọt lên hư không cao một câu-lô-xá, hoặc hai, ba, cho đến bảy câu-lô-xá. Có loại mây bay trên hư không cao một do-tuần cho đến bảy do-tuần; có loại bay trên hư không cao một trăm do-tuần cho đến bảy trăm do-tuần. Có loại mây từ đất vọt lên hư không cao một nghìn do-tuần cho đến bảy nghìn do-tuần, cho đến kiếp tận”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Vào kiếp sơ, có loại mây bay đến trời Quang Âm”.
3.9. SẤM SÉT
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Nếu có ngoại đạo đến hỏi các ông: “Vì sao trong hư không có âm thanh?’ thì các ông nên trả lời: ‘Có ba nguyên nhân xúc chạm nhau, khiến mây tụ trong hư không phát ra âm thanh: Một, phong giới và địa giới trong mây xúc chạm nhau phát ra âm thanh; hai, phong giới và thủy giới trong mây xúc chạm nhau phát ra âm thanh; ba,
phong giới và hỏa giới trong mây xúc chạm nhau phát ra âm thanh”. Vì sao? Thí như các cành cây cọ xát nhau sẽ phát ra lửa. Ở đây cũng như vậy”.
Theo kinh thi có nhiều loại sấm sét, hoặc có xe sấm sét, trống sấm sét, do quỉ thần dùng tay hay dùng dùi đánh. Cho nên thế tục cho rằng có trống trời. Nếu kẻ phạm nhiều tội ác, trời sẽ nổi trống sấm sét đánh chết.
3.10. CHỚP
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Nếu có ngoại đạo đến hỏi các ông: ‘Vì sao trong hư không bỗng nhiên có ánh chớp?’ thì các ông nên trả lời: ‘Có hai nguyên nhân khiến trong mây có chớp: một, ở phương đông có chớp Vô hậu, phương nam có chớp Thuần lưu, phương tây có chớp Đọa quang minh, phương bắc có chớp Bách sinh thụ; hai, có khi phương đông nổi chớp Vô hậu xúc chạm, ma sát, đối nhau, đánh nhau với chớp Đọa lưu quang ở phương tây, do đó trong đám mây phát ánh chớp rực sáng, gọi đó là điển quang; có lúc chớp Thuần lưu quang ở phương nam nổi lên rồi xúc chạm, ma sát, đối nhau, đánh nhau với chớp Bách sinh thụ ở phương bắc, do đó trong đám mây phát ra ánh chớp rực sáng. Thí như hai cành cây bị gió thổi cọ xát nhau, bỗng nhiên phát hỏa, trở lại đốt cháy cây”.
Theo kinh dạy, có lúc sấm trước chớp theo sau, có lúc chớp trước sấm theo sau, hai bên công kích nhau, phát ra lửa đánh vào người và vật.
3.11. TUÔN MƯA
Luận phân biệt công đức ghi: “Có ba loại mưa: một, mưa do chư thiên tuôn, luôn là những cơn mưa nhỏ hạt; hai, mưa do rồng tuôn, là mưa lớn, khí vui thi rồng tuôn mưa nhẹ hạt, đủ thắm ướt, khi giận thì tuôn mưa lớn, nổi sấm sét; ba, mưa do A-tu-la làm, khi A-tu-la đánh nhau với Đế Thích cũng tuôn mưa, lớn hay nhỏ không nhất định”.
Kinh cũng nói có nhiều loại mưa, hoặc không mây mà có mưa, hoặc mây tụ trước rồi mới tuôn mưa, hoặc do rông tuôn mưa, hoặc do tự nghiệp của chúng sinh chiêu cảm mà có mưa.
3.12. KHÔNG ĐỨNG THỜI
Kỉnh Khởi thế ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Có năm nguyên nhân khiến mưa không thể rơi, làm cho các nhà xem thiên tượng không lường được, tính toán sai lầm. Tức dự đoán nhất đinh mưa mà lại không mưa. Năm nguyên nhân:
* Trên bầu trời mây giăng đen kịt, sấm sét nổi đùng đùng, chớp nháy liên tục, gió thổi hơi lạnh đến là hiện tượng trời sắp mưa lớn. Thầy bói toán, các nhà thiên văn cho rằng nhất định có mưa. Nhưng lúc ấy La-hầu a-tu-la vương ra khỏi cung điện, đưa hai tay tóm lấy tất cả mây làm mưa ném hết ra biển. Bây giờ tất cả chẳng biết vì sao không mưa.
* Trên bầu trời mây giăng đen kịt, sấm sét nổi đùng đùng, chớp nhảy liên tục, giỏ thổi hơi lạnh đến là hiện tượng trời sắp mưa lớn. Các thầy bói toán, các nhà thiên văn thấy vậy, cho rằng nhất định có mưa. Nhưng lúc ấy hỏa đại tăng trưởng mạnh, khiến mây làm mưa bị đốt khô. Bây giờ tất cả chẳng biết vì sao không mưa.
* Trên bầu trời mây giăng đen kịt, sấm sét nổi đùng đùng, chớp nháy liên tục, gió thổi hơi lạnh đến là hiện tượng trời sắp mưa lớn. Các thầy bói toán, các nhà thiên văn thấy vậy, cho rằng nhất định có mưa. Nhưng lúc ấy phong đại tăng trưởng mạnh, thổi hết mâv ra sa mạc Ca-lăng-già, hoặc sa mạc Ma-liên-na, hoặc đến đồng hoang. Bây giờ tất cả chẳng biết vì sao không mưa.
* Trên bầu trời mây giăng đen kịt, sấm sét nổi đùng đùng, chớp nhảy liên tục, giỏ thổi hơi lạnh đến là hiện tượng trời sắp mưa lớn. Các thầy bói toán, các nhà thiên văn thây vậy, cho rằng nhất định có mưa. Nhưng các vị thần có nhiệm vụ tuôn mưa buông lung biếng trễ, nên không làm mưa đúng lúc, vì không đúng lúc cho nên mây tan. Bây giờ tât cả chẳng biết vì sao không mưa.
* Trên bầu trời mây giăng đen kịt, sấm sét nổi đủng đùng, chớp nháy liên tục, giỏ thổi hơi lạnh đến là hiện tượng trời sắp mưa lớn. Các thây bói toán, cảc nhà thiên vàn thấy vậy, cho rằng nhất định có mưa. Nhưng do chúng sinh cõi Diêm-phù không tuhành đúng pháp, tham lam bỏn xẻn, kiến chấp sai lầm thì trời không tuôn mưa. Bây giờ tất cả chẳng biết vì sao không mưa.
Do năm nguyên nhân này mà các thầy tướng, các nhà thiên văn sai lầm, đoán trời mưa không đúng”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Có bốn loại ngăn che, khiến mặt trời mặt trăng không chiếu sáng: mây, bụi mù, khói và A-tu-luân. Tì-kheo cũng có bốn kết che lấp, khiến tâm không thể khai ngộ: dục kết, sân khuể, ngu si, lợi dưỡng”.
Luật Tứ phần cũng nêu bốn việc đồng như trên để dụ cho: Dâm dục, uống rượu, nắm giữ tiền tài bảo vật, tà mạng. Cũng do bốn pháp này mà chúng sinh không thông đạt Phật pháp. Cho nên có bài tụng:
Hơi lửa bốc khói lên
Khỉ mây đùn bầu trời
Thần long phun sương móc
Gió dậy nôi bụi mù
Bia rượu, cửa buông lung
Dâm là nguồn sinh tử
Bạc vàng gây họa lớn
Tà mạng phá giới căn.
3.13. ĐỘNG ĐẤT
Kinh Phật Bát-nê-hoàn ghi: “A-nan chắp tay thưa hỏi:
- Bạch Thế Tôn! Xin dạy cho con biết có mấy nguyên nhân làm cho mặt đất chấn động?
Đức Phật đáp:
- Có ba nguyên nhân: Một, đất nương trên nước, nước nương trên gió, gió nương trên hư không. Khi gió lớn nổi thì nước xao động, nước xao động thì đất rung chuyển. Hai, sa-môn đắc đạo và các vị trời thần diệu muốn hiện cảm ứng, nên mặt đất chấn động. Ba, do thần lực của Phật; từ khi ta thành Phật đến nay, trước sau đã chấn động ba ngàn nhật nguyệt, một vạn hai nghìn trời đất đều cảm được, tất cả trời người, quỉ thần đều thấy nghe”.
Kinh Đại phương đẳng đại tập niệm Phật tam-muội ghi: “Tất cả mặt đất đều nổi sáu hình thái chấn động: một, động, biến động, đẳng biến động; hai, chấn, biến chấn, đẳng biến chấn; ba, dũng, biến dũng, đẳng biến dũng; bốn, hống, biến hống, đẳng biến hống; năm, khởi, biến khởi, đẳng biến khởi; sáu, giác, biến giác, đẳng biến giác. Sáu hình thái này mỗi mỗi gồm có ba, cộng thành mười tám hình thái khác nhau. Như vậy thành đông trồi tây sụt, tây trồi đông sụt, nam trồi bắc sụt, bác trồi nam sụt, giữa trồi các biên sụt, các biên trồi giữa sụt”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi “Đức Phật bảo Phú-Lâu-na:
- Các vị trời có thần thông uy đức lớn, nếu muốn thì có thề làm mặt đất chấn động, Các tig kheo có thần thông và uy đức lớn có thểkhiển mặt đất lớn thành nhỏ, nhỏ thành lớn; cũng có khả năng làm mật đất chấn động. Lại có gió Tì-lam-bà khiến đất chấn động, gió này thường thổi mạnh, khiến mặt đất rung động không dừng. Thế lực của gió bốc lên, có lúc thổi xuống, cũng có lúc thổi ngang. Gió này bình đẳng, chuyển khắp, giữ chặt lẫn nhau".
Luận Đại trí độ ghi: “Có bốn nguyên nhân làm mặt đất chấn động: do lửa, do rồng, do chim cánh vàng, do hai mươi tám tinh tú. A-la-hán và chư thiên cũng có năng lực làm mặt đất chấn động”.
Kinh Tăng nhất A-hàmghi: “Lúc Đức Phật trú tại thành Xá-vệ, Ngài dạy các tì-kheo:
- Có tám nguyên nhân làm cho mặt đất rung động mạnh:
1. Mặt đất này dày sáu mươi tám nghìn do-tuần, được nước giữ yên, nước lại nương vào hư không. Lúc gió thổi trong hư không thì nước xao động, nước xao động thì mặt đất rung mạnh.
2. Ti-kheo có đại thần thông, ý muốn tự tại, xem đại địa như ở trong lòng bàn tay, có thể làm cho đất chấn động.
3. Chư thiên có thần thông và uy đức lớn.
4. Khi bồ-tát ở cõi trời Đâu-suất muốn giáng trần hạ sinh thì mặt đất chấn động.
5. Khi bồ-tát tự biết đã ở trong thai mẹ, thì mặt đất chấn động.
6. Khi bồ-tát biết đã đủ mười tháng, sắp ra khỏi thai, thì mặt đất chấn động.
7. Khi bồ-tát xuất gia, ngồi nơi đạo tràng hàng phục ma quân, thàng tựu Đẳng chính giác, thì mặt đất chấn động.
8. Vào vị lai, Phật vào cõi Vô dư niết-bàn thì mặt đất chấn động mạnh”.
Theo kinh ghi, mặt đất chấn động cũng có nhiều trường hợp, hoặc thánh nhân ra đời, hoặc khi núi chấn động thì có chư Phật, bồ-tát ra đời, hoặc thánh nhân chứng bốn quả Thánh văn ra đời. Có lúc chấn động một thế giới, có lúc nhiều thế giới. Có lúc chúng sinh phúc mỏng, chiêu cảm mặt đất chấn dộng phá hủy y và chính báo như kinh đã nói.
* Lòi bàn
Từ đây trờ xuống lược thuật ý nghĩa trời đất mới phân, âm dương hình biến trong các sách thế tục. Theo thứ tự nêu ra năm lớp: Nguyên khí, Thái dịch, Thái sơ, Thái thủy, Thái tố.
1. Nguyên khí: Hà Đồ ghi: “Nguyên khí vô hình, mờ mờ mịt mịt, cái nằm ngửa là đất, cái úp lạilà trời”. Lễ Thống ghi: ‘Trời đất do nguyên khí sinh ra, là tổ của muôn vật”.
An Đế vương thế kỉ của Hoàng Phủ Sĩ ghi: ‘‘Nguyên khí mới manh nha thì gọi là Thái sơ”, Tam ngũ lịch kỉ ghi: “Khi chưa có trời đất thì thế gian mênh mông mờ mịt, hình thể như trứng gà; khi hỗn độn vừa mở, mịt mờ mới phân; năm khởi đầu từ Nhiếp đề, nguyên khí bắt đầu khai”. Đế hệ phả ghi: Trời đất mới hình thành, khắp nơi đều mờ mịt. Bấy giờ sinh ra Thiên Hoàng ở ngôi một vạn tám nghìn năm, lấy Mộc đức cai trị”.
Liệt Tử nói: “Hữu hình sinh từ vô hình, thì trời đất đâu có từ nơi nào mà sinh (Trương Kiền chủ thích: Trời đất không từ đâu sinh, chỉ tự nhiên mà có). Cho nên có Thái dịch, Thái sơ, Thái thủy, Thái tố. Đầu tiên biến làm một, một biến thành bảy, bảy biến thảnh chín, chín biến thành vô cùng. Biến làm một một là khởi đầu của hình biến; khí sạch nhẹ thì bốc lênn trên thành trời; khí ô trược nặng lắng xuống dưới thành đất, khí trung hòa ở giữa thành người. Cho nên trời đất hàm chứa tinh khí, vạn vật từ đó hóa sinh. Cho nên thiên Hệ từ phần thượng trong kinh Dịch ghi: ‘Dịch có Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái ấn định tốt xấu”’.
Xuân Thu cảm tinh phù ghi: “Nhân chủ đồng sáng như nhật nguyệt, thành tín như bốn mùa xoay chuyển. Cho nên cha là trời, mẹ là đất, nhật là anh, chị là nguyệt” (Cha là trời nên tế ở đàn tròn, mẹ là đất nên tế ở đàn vuông, anh là nhật nên tế ở đông giao, chị là nguyệt nên tế ở tây giao), Xuân Thu đề từ ghi: “Trời tức là Trấn, ngồi trên cao mà xử lí chuyện hạ giới, vì người mà bố trí các tinh tú.Tất cả đều là Thái nhất (Thái tức là Đại) nhưng phân thành nhiều tên gọi. Cho nên lấy chữ Nhất và chữ Đại tạo thành chữ Thiên
Xuân Thu hệ lộ ghi: “Trời có mười căn nguyên chính: trời, đất, dương, âm, đất, người, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Trời cũng có tính khí mừng giận, có tâm vui buồn, giống con người. Nếu kết hợp theo tính giống nhau, thì trời người là một. Mùa xuân khí mừng cho nên có sinh nở, mùa thu khí giận cho nên có giết chóc, mùa hạ khí vui cho nên dưỡng dục, mùa đông khí buồn cho nên ẩn nấp. Bốn việc theo bốn mùa này, trời và người đều có và giống nhau”.
Nhĩ nhã ghi: “Trời xanh cao rộng, mùa xuân thì Thương thiên, mùa hạ thì Hạo thiên, mùa thu thì Mân thiên, mùa đông thì Thượng thiên. Quàng nhã ghi: “Trời hình tròn, chiều nam bắc rộng hai ức ba vạn ba nghìn năm trăm dặm bảy mươi lăm bộ, chiều đông tây ngắn hơn bốn bộ, chu vi sáu ức mười vạn bày trăm dặm hai mươi lăm bộ. Từ mặt đất đến trời cao một ức một vạn sáu nghìn bảy trăm tám mươi mốt dặm rưỡi. Chiều dày của đất bằng chiều cao đến trời”.
Chu thiên thất hành lục gian trong Hiếu kinh ghi: “Chư thiên có bảy trụ phân thành sáu khoảng, mỗi trụ cách nhau một vạn chín nghìn tám trăm ba mươi ba dặm cộng một phần ba dặm, tổng cộng sáu khoảng là mười một vạn chín nghìn dặm. Từ trụ trong đến trụ giữa, từ trụ giữa đến trụ ngoài, mỗi mỗi cách nhau năm vặn chín nghìn năm trăm dặm”.
Chân diệu đạc trong Lạc thư ghi: “Chư thiên có ba trăm sáu mươi lăm độ và một phần tư độ. Mỗi độ bằng một nghìn chín trăm ba mươi hai dặm. Thế thì trời đất cách nhau mười bảy vạn tám nghìn năm trăm dặm”. Luận hành ghi: “Mỗi ngày mặt trời di chuyển một độ, một độ bằng hai nghìn dặm. Ban ngày, mặt trời đi một nghìn dặm, nhanh như kì lân”.
Bạch Hổ Thông nói: “Mặt trời di chuyển chậm, mặt trăng di chuyển nhanh. Mặt trời di chuyển một độ thì mặt trăng di chuyển đến mười ba độ và bảy phần mười chín độ. Đường kính mặt trời mặt trăng một nghìn dặm. Nếu tính quĩ đạo của mặt trời thì có trong và ngoài. Từ cực bắc đến cực nam cách xa nhau chín trăm chín mươi dọ-tuần, đi trong một trăm tám mươi ngày, đó là mặt trời di chuyển từ trong ra ngoài. Qua một trăm tám mươi ngày này thì mặt trời đi từ ngoài vào trong. Nói mặt trời một ngày đi sáu mươi dặm là vì nó lớn, mặt trời vận hành trên hư không, vì di chuyển chậm nên chỉ đi được sáu mươi dặm. Vì thế một năm có mười hai tháng, sáu tháng di chuyển về phương bắc, sáu tháng di chuyển về phương nam, tổng cộng mặt trời di chuyển trên quĩ đạo ba trăm sáu mươi độ.
Mặt trăng tròn khuyết đâu thể qui công cho mặt trời. Ba ngày thành phách, tám ngày thành ánh sáng, mười sáu ngày xoay chuyển rồi qui công. Từ mồng một đến sáng rằm nhận phù rồi lại di chuyên tiếp. Tháng có thiếu đủ; vì mặt trăng di chuyên trên hư không theo chiều trái, mặt trời theo chiều phải, mặt trời đi chậm, mặt trăng đi nhanh. Khi mặt trăng gặp mặt trời là một tháng, đã đến hai mươi chín mà còn cách bảy độ, nên cần có ngàỵ ba mươi đê vượt qua bảy độ; vì ngày thì không thể phân nên chợt có tháng thiếu. Do âm dương nên có tháng nhuận, Mặt trời vân hành trên quĩ đạo ba trăm sáu mươi lăm độ và một phần tư độ; trong mười hai tháng, mặt trời không đi hết mười hai độ, cho nên cứ ba năm thi mội năm nhuận, năm năm hai lần nhuận. Rõ ràng thiếu âm mà thừa dương, nhuận tức thừa dương.
Trường lịch của Từ Chỉnh ghi: “Đường kính của mặt trời, mặt trăng là một nghìn dặm, chu vi ba nghìn dặm, ờ dưới trời bảy nghìn dặm”. Thượng thư ghi: “Ánh sáng linh diệu của mặt trời chiếu soi ba mươi vạn sáu nghìn dặm”. Địa thuyết thư ghi: “Ánh sáng của mặt trời chiếu soi bốn mươi lăm vạn dặm".
Liệt Tử nỗi: “Khi đến phương đông, Khổng Tử thấy hai đửa bé đang tranh cãi, liền hỏi nguyên do. Một đứa thưa: ‘Con cho rằng lúc mặt trời mới mọc thì gần con người, lúc trưa thì cách xa con người. Vì lúc mới mọc mặt trời lớn như cái lọng xe. đèn trưa thì chỉ bằng cái mâm. Đó chẳng phải xa thì nhỏ, gần thì lớn sao? Đứa kia lại thưa: ‘Con cho rằng lúc mặt trời mới mọc thì xa, đến trưa thì gần. Vì lúc mới mọc mặt trời mát dịu, đến trưa thì rất nóng. Đây chẳng phải gần thì nóng, xa thì mát sao? Khổng Tử không thể giải quyết được. Hai đửa bé cười và nói: ‘Ai cho ngài là đa trí vậy?’”.
Tân luận của Hoàn Đàm ghi: “Lúc còn nhỏ tôi nghe Lã Hạng kể:
- Khi đến phương đông, Khổng Tử thấy hai đứa bé đang tranh cãi, liền hỏi nguyên do. Một đứa thưa: ‘Con cho rằng lúc mặt trời mới mọc thì gần con người, lúc trưa thì cách xa con người’. Đứa kia lại thưa: ‘Con cho rằng lúc mặt trời mới mọc thì xa, đến trưa thì gần’.
Thái thú Trường Thủy là Quan Tử Dương cho rằng trời cách con người, phía trên thì xa mà bốn phía thì gần. Vì ban đêm, các vì sao hiện ở phương đông thì rất thưa, khoảng cách giữa mỗi sao khoảng hơn một trượng. Đến nửa đêm các ngôi sao hiện đến đỉnh đầu thì rất dày, cách nhau chỉ một hai thước. Mặt trời là thiên dương, hỏa là địa dương, địa dương bốc cao, thiên dương chiếu xuống, tỏa hơi nóng lên mặt đất. Xét hơi nóng ở bốn phía và ngay trên đỉnh đầu, xa gần khác nhau, có khi sai biệt đến một nửa. Khi mặt trời giữa trưa, treo trên đỉnh đầu, ngay trục thiên dương, cho nên chiếu ánh sáng nóng hơn lúc mới mọc. Lúc mặt trời mới mọc ánh sáng chiếu từ thái dương nên mát dịu. Còn khi mặt trời đi về tây, là lúc sắp lặn, lớn nhỏ tuy đồng, nhưng dương khí không giống lúc ban mai.
Luận hành ghi: “Mặt trời và mặt trăng không tròn, nhưng do cách xa người, nên nhìn thấy tròn. Mệt trời là tinh của hỏa, ở trong nước hỏa đã không tròn, sao chỉ riêng trên hư không lại tròn? Mặt trờivà mặt trăng trên hư không giống như năm ngôi sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Năm ngôi sao lại giống như các sao khác, không tròn, nhưng chiếu ánh sáng thấy như tròn. Vi sao biết? Vi vào thời Xuân Thu , có ngôi sao rơi xuống kinh đô nước Tống, hình dáng như tảng đá, mà tảng đã thì không tròn. Vì thế biết mặt trời, mặt trăng và năm ngôi sao không phải hình tròn.
Sách trên còn ghi: “Nho gia cho rằng trong mặt trời có con chim ba chân”. Mặt trời là lửa, chim bay vào thì cháy tiêu chứ đâu có đứng trong đó được. Nhưng chim đây chính là khí của mặt trời”.
Chương Suy đạc tai trong kinh Thi ghi: “Mặt trăng mồng ba thành phách, mồng tám thành ánh sáng. Thiềm thừ thành hình, thỏ trắng mới tượng”.
Diễn khổng đồ trong Xuân thu ghi: “Con cóc là tinh của mặt trăng”. Thiên Nguyên mệnh bao trong Xuân thu ghi: “Âm tinh là mặt trăng, mỗi ngày di chuyển mười ba độ, thường đón nhận dương tinh vào trong. Cho nên Kim và Thủy tỏa sáng bêntrong”. Hà đồ thủy khai đồ ghi: “Trên lớp bụi của suối vàng là mây xanh, trên lớp bụi của suối đỏ là mây đỏ, trên lớp bụi của suối trắng là mây trắng,trên lớp bụi của suối đen là mây đen”. Quát địa tượng trong Hà đồ ghi: “Tại núi Côn Lôn có xuất hiện khí mây năm màu”.
Chương Thuyết quái trong Chu Dịch ghi: “Tốn là gió, quấy nhiễu muôn vật không có gì nhanh hơn gió, gió làm vạn vật động”. Hà đồ đế thông kỉ ghi: “Gió là sứ giả của trời đất”.
Nhĩ nhã ghi: “Tứ thời hòa thì thuận lợi yên bình, đó là Cảnh phong (Lí Tuần gọi cảnh phong là gió thải bình); gió nam gọi là Khải phong; gió đông gọi là Cốc phong; gió bắc gọi là Lương phong; gió tây gọi là Thái phong; gió xoáy gọi là Đồi (Quách Phát chú thích: gió này xoáy từ trên xuống dưới); gió lốc gọi là Tiêu (gió này cũng xoáy từ trên xuống dưới); gió mang lửa gọi là Đồn, gió xoáy gọi là Phiêu, mặt trời mọc mà có gió thì gọi là Bạo, gió có mưa gọi là Mai, trời âm u mà có gió thì gọi là Ế”.
Dịch kê lãm đồ ghi: “Dương khí hạ xuống thành gió, cái động của gió này không làm cành cây xao động, phát âm thanh”.
Chương Thuyết quái trong Chu Dịch ghi: “Chấn là sấm, làm động vạn vật không gì mạnh hơn sấm”. Hà đồ đế thông kí ghi: “Sấm là tiếng trống cùa trời đất”.
Tà truyện ghi: “Chứa băng có lúc sấm sét sẽ chấn động, bỏ băng không dùng thì sấm sét không chấn động”.
Thiên Nguyên mệnh bao trong Xuân thu ghi: “Âm dương kết hợp tạo thành sấm”.
Sư Khoáng ghi: “Vào mùa xuân, khi sấm mới nổi, phát ra âm thanh ầm ì rất lớn. Tiếng sấm này gọi là Hùng lôi hãn khí. Nếu tiếng sấm phát ra âm thanh nhẹ nhẹ, không lớn thì gọi là Thư lôi thủy khí. Đến tiết Xuân phân, khi trời mưa có tiếng sấm, nhưng tựa như chẳng phải sấm, âm thanh vang lên trong lòng đất. Đó là điềm chiến tranh sẽ nổi lên nơi ấy. Lúc không có sấm mà lại nổi sấm, đó là Thiên cẩu đi, không quá ba năm trong nước sẽ gặp việc hung hiểm”.
Hà đồ thủy khai đồ ghi: “Khí dương kích động thì thành sấm”.
Dịch kê lãm đồ ghi: “Âm dương kết hợp thì điện chớp sáng rực, tia sáng cực dài”. Thiên Nguyên mệnh bao trong Xuân thu ghi: “Âm dương kích động thành chóp”. Chương Thiên quan trong Sử kí ghi: “Điện chớp là sự kích động của âm dương”.
Cốc lương truyện ghi: “Ấn công gọi là Đình lôi (còn gọi là Cấp lôi, nay gọi là sâm sét)".
Nhĩ nhă ghi: “Sấm nhanh mạnh gọi là Đình nghê ( Quách Phát chú thích: sẩm phát ra nhanh vàmãnh liệt gọi là Tích lịch)". Thuyết văn ghi: “Nổi sấm sét đánh vào vật”.
Thích danh ghi: “Tích lịch tức bẻ gãy, chấn túc là chiến, nghĩa lả nơi bị đánh vào liền vỡ nát;hoặc nói công tức chiến”. Dị uyển ghi: “Sa-môn Thích Tuệ Viễn ẩn tu nơi Lô sơn. Có lần một con rồng bay lượn trước mặt, sư lấy hòn đá ném trúng, rồng bay lên mây đi mất. Không bao lâu gió mạnh, sấm chớp nổi lên, sư biết là đo rồng làm, nên về chùa đốt hương nhóm chúng đồng thanh tụng kệ. Thế là sấm sét xoay lại ném rồng vào đá, mây tan mưa tạnh”.
Dị uyển ghi: “Khất Phục hung tàn bạo ngược, bị sét đánh chết, thân thể lộ bày, trên lưng có ghi bốn chữ để biểu thị sự ác độc. ít lâu sau đất nước bị Thiệp Khứ đánh chiếm.
Có bài tụng:
Nhật nguyệt treo hư không
Trời cao luôn chiếu sáng
Đêm ngọc, ngày kim ô.
Ai định thời gian quí
Mọc thì nơi nơi sáng
Lặn rồi lại chiếu soi
Khuyết tròn và ẩn hiện
Sáng tối lại xoay vần
Tinh tú theo vị trí
Phúc thọ và uy linh
Thánh nhân đều kiến tập
Theo nghiệp mà tăng huy
Rồng mây cùng tụ hội
Lên xuống lại phân li
Sấm chớp hay chấn động
Lạnh nóng thật đúng thời
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/10/2015
PUCL QUYỂN 10 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
QUYỂN 10 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.9. NẠP PHI 5.9.1. Lời dẫn Pháp thân vô hình, tùy ứng mà hiện; cơ duyên vô số, nên dấu tích giáo hóa cũng chẳng phải một. Hoặc lìa dục mà thụ đạo...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 9 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 9 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.5. XUẤT THAI 5.5.1. Lời đẫn Kính nghĩ! Đức Phật Định Quang thụ kí vào đời tương lai có Phật hiệu là Năng Nhân. Thầm hợp lời huyền kí, nên bồ-tát...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 8 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 8 Quyển này cỏ một chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT 5.1. THẤT PHẬT 5.1.1. Lời dẫn Từng nghe: Chín cõi chẳng đồng, bốn loài sai khác, việc ác dễ nhiễm, nghiệp tuệ khó thành. Chúng sinh từ lâu trôi nổi nơi sôn...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 7 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực....
29/10/2015
PUCL QUYỂN 6 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 6 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.4. QUỈ THẦN 4.4.1. Lời dẫn Tính của quỉ thần chỉ thích việc yêu tà, ở chốn tối tăm mang nhiều tội lỗi. Có loài ở vách núi thẳm, hoặc có loài nương nơi...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 5 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO
QUYỂN 5 Quyển này có một chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO 4.1. CÕI TRỜI 4.1.1. Lòi dẫn Luận về phúc báo cõi trời, thì nào là sự thấy biết đầy đủ cao xa, y phục trang sức rực rỡ, thân hình xinh đẹp nhẹ nhàng. Nhưng trên...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)
QUYỂN 3 Quyển này tiếp theo chương Tam giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt) 2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu,...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI
QUYỂN 2 Quyển này có một chương giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI 2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân,...
