PUCL QUYỂN 5 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO
29/10/2015
QUYỂN 5 Quyển này có một chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO 4.1. CÕI TRỜI 4.1.1. Lòi dẫn Luận về phúc báo cõi trời, thì nào là sự thấy biết đầy đủ cao xa, y phục trang sức rực rỡ, thân hình xinh đẹp nhẹ nhàng. Nhưng trên...

QUYỂN 5
Quyển này có một chương Lục đạo.
4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO
Hôm nay nguyện cầu cho chư thiên các cõi: Tứ Thiên Vương, Đao-lợi, Đâu-suất, Diêm-ma, Hóa Lạc, Tha Hóa, Phạm Vương, Phạm Phụ, Quang Am, Biến Tịnh, Quảng Quả, Ngũ Na-hàm, Bất Phiền, Bất Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, Không xứ, Thức xứ
Bất Dụng xứ, Phi Phi Tưởng xứ, cho đến ngang thì khắp cùng các thế giới, dọc thỉ suốt đến đỉnh thiên, những ai đang ngồi ngay thẳng trên đài hoa trải qua số kiếp, hoặc đang lắng tâm nơi điện ngọc thoáng chốc đã nghìn năm, tất cả đều được: y phục tự nhiên luôn chẳng lìa thân, hằng dạo chơi trong lâu đài thiện pháp, đoạn căn bệnh sinh li, dứt khổ lao chiến trận, vĩnh viễn từ biệt ngũ suy, bảy báu luôn luôn đầy đủ, thân tướng đoan nghiêm, dung nghi sáng rỡ, đoạn tuyệt nhân khổ, chứng quả an lạc. 4.1.2. Giải thích danh từ Sáu thú Hỏi: Vì sao gọi là Sáu thú?
Đáp: Luận Tì-đàm ghi: “Thú tức là đến, là con đường. Nghĩa con đường nghiệp nhân thiện ác của chúng sinh có thể dẫn họ sinh đến nơi tương ứng, cho nên gọi là thú; cũng có thể nói rằng: tùy theo nghiệp đã tạo ra mà hướng đến nơi sinh, nên gọi là thú. Có thuyết cho rằng thú là hướng về, nghĩa là người tạo nghiệp có thể hướng về cõi trời cho đến địa ngục.
Hỏi: Chỉ có sáu thú này hay còn đường nào khác nữa?
Đáp: Nếu theo đây thì chỉ có sáu, không thêm không bớt. Nếu căn cứ theo kinh Lâu thán thì cỏ chín nơi chúng sinh cùng cư trú: Bồ-tát đạo, Duyên giác đạo, Thanh văn đạo cộng với sáu thú kể trên. Những cõi phàm thánh ở chung là vì thánh muốn hòa độ phàm. Luận Tì-bà-sa giải thích, thiên (trời) nghĩa là ánh sáng chiếu rực rỡ, lại nữa thiên nghĩa là điên tức cao nhất; trong vũ trụ, chỉ có trời là cao nhất cho nên gọi là điên. Thiên cũng là hiển, cao hiển, là cao rộng phủ trùm; trong vũ trụ, chi có trời vời vợi trên không, che phủ muôn loài, nên gọi là hiển.
Hòi: Vì sao noi ấy gọi là thiên?
Đáp: Vì trong sáu thú, chi có thiên là thù thắng nhất, vui nhất, tốt nhất, kì diệu nhất, cao nhất, nên gọi là thiên thú. có thuyết cho rằng những người đời trước tạo tác diệu hạnh thân ngữ ý bậc thượng sẽ hưởng đến nơi ấy, sinh vào nơi ấy, khiến nơi ấy được tương tục, cho nên gọi là thiên thú. Lại có thuyết cho rằng ánh sáng tăng mạnh, nên gọi là thiên. tức ánh sáng tự nhiên của các vị này luôn chiếu soi ngày đêm. Các sư Thanh Luận cho rằng, vì có khả năng chiếu soi nên gọi là thiên, tức thắng quả hiện tại chiếu soi rõ nhân tu tập ngày trước, có người cho rằng, vì hỉ lạc nên gọi là thiên, tức chư thiên thường dạo chơi, hường thụ các niêm vui bậc nhất
Hỏi: Thân tướng chư thiên ra sao? Ngôn ngữ thế nào?
Đáp: Thân chư thiên đứng thẳng và nói theo ngôn ngừ Trung Ấn Độ. Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Thiên, âm tiếng Phạn là Đề-bà, nghĩa là người gieo trồng các nhân thiện sẽ sinh vào cõi này, nên gọi là Đề-bà Nay lược nói về hình tướng báo thân của chư thiên. Thân chư thiên không có xương thịt, không có các sinh hoạt bất tịnh như đại tiểu tiện. Toàn thân ngày đêm luôn phát ánh sáng, được năm thần thông, thân hình không bị ngăn ngại”. Cho nên kinh Chính pháp niệm ghi: “Giống như trong một ngôi nhà thắp sáng năm trăm ngọn đèn, ánh sáng không bị ép chặt lẫn nhau; cũng vậy, năm trăm vị trời đặt trong bàn tay của một vị trời mà năm trăm vị ấy vẫn không thấy chật hẹp... Một trăm hoặc một nghìn vị trời Dạ-ma đồng ngồi trên đầu một tua hoa sen mà không chèn ép lẫn nhau, không ai cảm thấy chật hẹp, đó là do sức của nghiệp thiện, sức tự tại vậy”.
Luận Đại trí độ ghi: “Sáu mươi vị trời Biến Tịnh cùng ngồi trên đầu một cây kim mà không chèn ép nhau”. Kinh Chính pháp niệm ghi: “Vua trời Dạ-ma thuyết kệ cho chư thiên:
Người nhớ nghĩ đến Phật
Gọi là người thiện mệnh
Vì không quên niệm Phật
Nên được mệnh trong mệnh,
Người nhớ nghĩ đến Pháp
Gọi là người thiện mệnh
Vì không quên niệm Pháp
Nên được mệnh trong mệnh,
Người nhớ nghĩ đến Tăng
Gọi là người thiện mệnh
Vì không quên niệm Tăng
Nên được mệnh trong mệnh ”
Trên cõi trời Dạ-ma có vị đại sĩ luôn thuyết pháp chỉ dạy những vị trời buông lung. Đó là bồ-tát Mâu-tu-luân-đà Dạ-ma thiên vương, bồ-tát Thiện Thời Nga Vương, bồ-tát Chủng Chủng Trang Nghiêm Khổng Tước Vương. Ba vị này vì lợi ích chúng sinh mà thường thuyết pháp giúp cho các vị trời, hoặc là chứng Bồ-đề thanh văn, hoặc được Bồ-đề duyên giác. 4.13. Thụ khổ Nay dẫn chứng kinh luận để nói về nhừng nỗi khổ ờ cõi trời.
4.13.1. Những nỗi khổ ở cõi sắc và Vô sắc: Hai cõi trời trên tuy tốt đẹp, nhưng vẫn còn nhừng nỗi khổ rất vi tế. Như luận Thành thật ghi: “Hai cõi trên tuy không có nỗi khổ thô, nhưng vẫn còn nỗi khổ vi tế. Vì sao biết? Vì trong cõi Tứ Thiền, chư thiên còn có các hành vi đi, đứng, nằm, ngồi, hễ có bốn việc này thi còn khổ. Lại nữa, chư thiên cõi sắccòn có nhãn thức, nhĩ thức và thân thức. Tất cả những cảm thụ từ các thức này đều thuộc khổ lạc; từ một hành vi này tìm cầu một hành vi khác, vì có tìm cầu, nên biết có khổ”. Lại không tỏ ngộ, quí tiếc phúc báo của mình, nên khi mất thì vô cùng khổ đau, như kinh đã nói. Chỉ có người đắc đạo, lúc sắp qua đời mới không còn ưu khô, nay đã là phàm phu há không ưu khổ sao? Trong luận nói các cõi trời trên không khổ, bởi vì cảm thụ khổ quá nhỏ nhiệm, nên nói không, chứ không phải hoàn toàn vui; giống như nêm một tí muối, thì không cảm nhận được vị mặn, nên nói là không mặn. Do chư thiên hai cõi trên thích tu hạnh vắng lặng, không chấp trước, tâm không khởi tham sân thô, nên nói là không khổ, không vui. Lại vì không có nỗi khổ đánh đập, chém giết nên nói không khổ, chứ không phải không có những nỗi khổ vi tế.
Kinh Niết-bàn ghi: “Tuy thế gian có những khu vườn thật xinh đẹp, nhưng trong đó có tử thi, thì trở thành bất tịnh, mọi người đều bỏ đi, không còn ưa thích. Cõi sác cũng như thế, tuy rất thanh tịnh và tốt đẹp, nhưng vì có thân nên không tránh các khổ; vì thế các Đức Phật và bồ-tát đều xả bỏ. Nếu không quán xét như thế, thì không gọi là tu thân”. Cho nên biết có khổ.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “ Thuở xưa, Đức Phật ở trong tinh xá tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, có bốnvị tì-kheo cùng hỏi nhau: ‘Sự đau khổ lớn nhất trong thế gian này là gì?’.
Người thì nói khổ đau lớn nhất trong thiên hạ là dâm dục; người thì nói khổ đau lớn nhất trong thế gian là sân giận; người thì nói khổ đau lớn nhất trong thế gian là đói khát; người thì nói khổ đau lớn nhất trong thế gian là sợ hãi. Vì bất đồng ý kiến, họ cứ tranh luận mãi không thôi.
Biết được điều này, Đức Phật liền đi đến. Ngài hỏi các tì-kheo đang cùng nhau tranh luận việc gì? Tất cả đứng dậy đỉnh lễ Thế Tôn, rồi trình bày điều mình đang tranh luận.
Đức Phật dạy:
- Này các tì-kheo! Những điều các ông nêu lên, chưa cùng tột ý nghĩa của khổ đau. Khổ đau trong thiên hạ không gì hơn là có thân. Tất cả những nỗi đói khát, nóng lạnh, sân giận, sợ hãi, sắc dục, oán thù đều do thân này cả. Thân là cội nguồn của các khổ đau, là mầm mống của họa hoạn, lao tâm lo nghĩ, sợ hãi muôn điều. Sở dĩ chúng sinh trong ba cõi tàn hại lẫn nhau, trói buộc mãi trong sinh tử, đều Là do thân này. Muốn lìa khỏi thống khổ ở thế gian, nên cầu tịch tĩnh, nhiếp tâm chính định, không khởi vọng tưởng mới đạt được niết-bàn. Đây là niềm vui tối thượng”.
Cho nên biết, khi chưa đạt được thánh trí, chưa diệt thân ba cõi này, thì không có khổ sao?
Hỏi: Chư thiên cõi sắc có thân có khổ thì đúng rồi, nhưng chư thiên cõi Vô sác không có thân, thì khổ thụ từ đâu sinh?
Đáp: Báo thân của các vị trời này rất tinh vi, hàng phàm phu không thể thấy được, họ không có chất ngại thô, chứ vẫn có sắc chất vi tế. Chương khác sẽ luận đầy đủ về trời Vô sắc có thân hay không.
Cho nên luận Trí độ ghi: “Chư thiên hai cỗi trên, khi lui sụt hay khi chết đều rất buồn khổ, còn hơn chúng sinh ở các cõi dưới. Thí như ở càng cao thì rơi xuống càng bị tổn thương nặng”. Luận Thành thật ghi: “Khổ vui theo thân đến cõi Tứ Thiền, ưu hỉ theo tâm đến cõi Hữu Đỉnh”.
Hỏi: Sinh về cõi trời đều là những người tích thiện lìa ác, vì sao sau khi mạng chung lại rơi vào ba cõi xấu ác?
Đáp: Hàng phàm phu từ vô thủy đến nay tạo nghiệp ác nhiều không kể xiết, chỉ một ngày tham sân còn phải chịu nghìn loại thân hình, huống gì nghiệp ác quá nhiều. Ác chỉ tạm thời tiềm phục rồi lại sinh, phúc báo hết thì nghiệp ác xưa lại chín, do đó trở lại rơi vào ba đường, có gì phải nghi ngờ! Cho nên luận Thành thật ghi: “Chư thiên tại cõi sắc và Vô Sắc cho đây là niết-bàn, đến lúc lâm chung thấy thân trung ấm cõi Dục, liền khởi tà kiến cho rằng không có niết-bàn, không có pháp vô thượng. Cho nên biết trong hai cõi trên cùng có nghiệp bất thiện. Luận Trí độ ghi: “Chúng sinh cõi Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng sau khi chết rơi vào địa ngục A-tì. Cho nên biết ba cõi xoay vần đều là khổ.
4.13.2. Nỗi khổ chư thiên cõi Dục: Nơi đây thường có đấu tranh, tàn hại lẫn nhau, nên thân tâm đều khổ. Nếu chân tay bị cắt đứt thì liền sinh, nếu chặt đầu mồ bụng thì chết. Như luận A-tì-đàm ghi: “Chư thiên cõi Dục có mười nghiệp đạo, không có phi luật nghi. Tuy các trời không hại nhau, nhưng lai hại các chúng sinh cõi khác, cũng có các việc chặt tay chân, nhưng đứt rồi liền sinh; nếu chặt đau thì chết; đoạt mạng lẫn nhau, cho đến phạm đủ mười nghiệp đạo bất thiện”.
Các vi trời này khi phúc sắp hết, thì hiện ra năm hiện tương suy hao, bấy giờ họ vô cùng lo buồn khổ não. Cho nên kinh Niết-bàn ghi: “Trên cõi trời tuy không có khổ não lớn, nhưng thân chư thiên mềm mạị, bóng mịn, khi thấy năm hiện tượng này thì họ vô cùng khổ não, giống như chúng sinh chịu khổ trong địa ngục, giống như mật hòa thuôc độc, người uống trước thấy ngọt nhưng sau thì đắng”.
Kinh Chính pháp niệm có bài kệ:
Như mật hòa thuốc độc
Thật không thể uống được
Vui cõi trời cũng thế
Khi mất lòng khổ đau.
Phúc hết càng ưu sầu
Lìa xa các thiên nữ
Lúc ấy khổ não lớn
Thật không thể thí dụ
Khi nghiệp thiện sắp hết
Như ngọn đèn sắp tắt
Chẳng biết đi về đâu
Lòng lo buồn sầu khổ
Chư thiên sắp thoái vị
Tâm chất chồng khổ não
Khổ địa ngục sánh đây
Chẳng bằng một-muời sáu
Tất cả bánh xe lửa
Đều do sức ái sinh
Ai trói buộc chúng sinh
Đưa đến đường hiểm ác
Ba cõi luôn xoay chuyển
Nghiệp buộc chuyển chẳng dừng
Nên từ bỏ ái dục
Lìa dục được niết-bàn.
Kinh Niết-bàn ghi: “Dù được thân Phạm thiên cho đến thân trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, thì sau khi mạng chung cũng rơi vào ba đường xấu ác. Dù được thân Tứ thiên vương cho đến thân trời Tha Hóa Tự Tại, thì sau khi mạng chung cũng sinh vào loài súc sinh làm sư tử, hoặc tê giác, hoặc cọp sói, hoặc voi ngựa, trâu lừa..
Cho nên biết, khi phúc báo cõi trời hết thì họ vô cùng khổ não. Đã có nạn này thì cần phải chí thành gội rửa, sám hối diệt trừ. Nếu người tạo tội, sau khi thụ báo xong, sau đó tu thiện, dẫu sinh vào cõi trời, nhưng do nghiệp ác còn sót lại, nên vẫn phải chịu tội nhẹ nơi ấy.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Vị trời nàỵ, nếu đời trước tạo nghiệp trộm cắp, lúc ấy sẽ thấy các thiên nữ đoạt lấy các vật trang sức của mình dâng cho các vị trời khác. Nếu đời trước tạo nghiệp nói dối, thì khi nói ra điều gì, các thiên nữ cũng sẽ hiểu lầm cho là chửi mắng. Nếu đời trước cung cấp rượu cho người trì giới, hoặc phá giới mà uống rượu, hoặc gây men rượu, thì khi mạng chung tâm sẽ tán loạn, mất chính niệm liền rơi vào địa ngục. Nếu đời trước tạo nghiệp sát sinh, thì đời này thọ mạng ngắn ngủi, chết sớm. Nếu đời trước tạo nghiệp tà dâm, thì thấycác thiên nữ lìa bỏ để đến vui chơi với các vị trời khác. Đó gọi là năm điềm suy hao. Do trì năm giới không trọn vẹn, nên bị lưới nghiệp trói buộc phải chịu các quả báo như thế”.
Lại nữa, trời Đế Thích ngồi trong điện đường quán nghiệp quả, thấy những kẻ tạo nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ rơi vào mười tám địa ngục nhỏ trong địa ngục Kêu Gào, chịu đủ các nỗi thống khổ. Khi hết tội địa ngục, họ lại sinh vào loài ngạ quỉ, thọ mạng rất dài lâu. Chịu hết tội trong loài ngạ quỉ, họ lại rơi vào súc sinh, giết hại lẫn nhau. Khi hết tội trong loài súc sinh, họ mới được làm người, nhưng phải chịu thân hình xấu xí, tiều tụy, không có uy đức. Nếu còn chút phúc thừa nào mà được sinh vào cõi trời thì thân lượng, hình mạo đều rất tệ, thua kém các vị trời khác, vật báu trang sức phát ánh sáng yếu ớt, các thiên nữ đã không thương kính mà còn phản bội, xa lánh, tìm đến các vị trời khác. Họ còn phải chịu thiếu kém trí tuệ, tâm không ngay thẳng, bị các vị trời khác cười chê. Nếu gặp lúc thiên chúng đánh nhau với a-tu-la, vì dư nghiệp sát, nên họ lại bị a-tu-la giết chết.
4.1.4. Hết phúc trời
Luận Bà-sa bản tân dịch ghi: “Khi các vị trời sắp mạng chung, có hai loại năm tướng suy hiện ra.
4.1.4.1. Tiểu ngũ suy:
- Bình thường khi chư thiên di chuyển hay cử động, các vật trang sức trên thân phát ra năm âm tuyệt diệu, đến nỗi người tấu nhạc giỏi cũng không bằng. Nhưng khi họ sắp mệnh chung thì không còn phát ra âm thanh này nữa, hoặc phát ra âm thanh không vừa ý.
- Ánh sáng từ thân chư thiên phát ra rực rỡ, ngày đêm không tắt, thân không có bóng; Nhưng khi họ sắp mệnh chung thì ánh sáng rất mờ tối, hoặc tắt hẳn, khiến thân lại có bóng.
- Thân chư thiên, da dẻ rất mịn, trơn bóng, tắm trong ao nước thơm, vừa bước ra thì thân liền khô, nước không bám, giống như lá sen. Nhưng khi họ sắp mệnh chung thì nước bám dính vào thân.
- Các cảnh giới của chư thiên rất tuyệt diệu, luôn hiện nhanh qua các căn, như vòng lửa xoay tròn không phút giây tạm dừng. Nhưng khi họ sắp mệnh chung thì tâm chỉ chuyên chú vào một cảnh trong khoảng thời gian lâu mà không rời.
- Chư thiên có sức mạnh, mắt không nháy, nhưng khi sắp mệnh chung thì sức lực suy giảm, mắt nháy liên tục.
4.1.4.2 Đại ngũ suy:
- Y phục mặc trên thân, vốn sạch sẽ, nay lai cáu bẩn.
- Hoa trên mũ vốn tươi đẹp, nay lại héo.
- Hai nách bỗng nhiên toát mồ hôi.
- Toàn thân bỗng nhiên có mùi hôi.
- Không thích ngồi trên tòa của mình.
Khi năm tướng suy trước hiện, nếu biết có thể xoay chuyển được. Như có lần trời Đế Thích thấy năm tướng tiểu suy xuất hiện, biết rằng không bao lâu sẽ có năm tướng đại suy. Trong lòng vô cùng sợ hãi, ông suy nghĩ: “Ai có thể cứu ta thoát tai ách này thi ta sẽ qui y”. rồi liền tự biết rằng, ngoài Thế Tồn ra, không ai có thể cứu được. Thế là Đế Thích đến khấn cầu Đức Phật từ bi cứu độ. Đức Phật thuyết pháp, Đế Thích nghe xong, đạt được Kiến đế, năm tướng suy kia bỗng nhiên biến mất. Đế Thích quì trước Phật, lòng vô cùng vui mừng, dùng ngôn từ hòa ái thuyết kệ:
Đại Tiên! Ngài biết chăng?
Con ngay nơi tòa này
Được lại thọ mạng trời
Xin Thế Tôn nhớ nghĩ!
Kinh Chiết phục La-hán ghi: “Ngày xưa, trên cung Đao-lợi có một vị trời sắp hết thọ mạng, bảy tướng suy sau đây hiện ra: Ánh sáng nơi đầu tắt, hoa trên mũ héo, sắc mặt biến đổi, áo quần dính bụi, dưới nách toát mồ hôi, thân thể gầy ốm, không thích tòa ngồi của mình. Vị này quan sát biết sau khi mình chết, sẽ gá sinh làm heo trong bụng heo nái cùi hủi ở nước Cưu-di-na-kiệt. Vì thế vị này vô cùng buồn khổ, không biết tính thế nào. Bấy giờ các vị trời khác bảo: ‘Đức Phật đang thuyết pháp cho đại chúng tại nơi đây. Chi có Đức Phật mới cứu được tội của ông. Vị trời nghe vậy liền đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đỉnh lễ. Chưa kịp hỏi, Đức Phật đã biết nên dạy:
- Vạn vật đều trở về vô thường, ông vốn đã biết, sao còn lo buồn? Muốn thoát thân heo, mỗi ngày nên ba thời siêng năng tụng tam tự qui
Vị trời vâng lời Phật dạy, thực hành đúng như vậy. Bảy ngày sau, vị trời này mạng chung, được sinh làm con của một trưởng giả ở nước Duy-da-li. Trong thai mẹ, thai nhi này cũng tụng tam tự qui, vừa sinh ra liền qui tụng tam tự qui. Thân mẹ khi sinh không tuôn chất dơ uế, các người hầu thấy vậy sợ hãi bỏ chạy, người mẹ cũng kinh ngạc, cho là yêu quái, nên muốn giết chết. Nhưng người cha biết là quí tử, nên bảo nuôi dường, chăm sóc cẩn thận.
Vào năm bảy tuổi, một hôm đứa bé này đang vui chơi cùng đồng bạn bên đường, thì gặp Xá-lợí-phấi về Mục-kỉền-Liên. đứa bé tiền đến đỉnh lễ, cácthánh đều kinh ngạc. Đứa bé liền kể lại các việc trên cõi trời sau đó thỉnh Đức Phật đến nhà. Đức Phật thuyết kinhnghe xong đứa bé cùng với cha mẹ, thân thuộc nội ngoại đều chứng A-duy-việt-trí
4.1.5. Cảm ứng
Duyên mười ác mạnh, dễ khiến đường tâm mê muội; sức muôn thiện yếu, khó cảm được tính linh. Hễ tâm gian hằng khởi, tướng ác mãi bày, thì chính pháp cách xa, giáo tiêu, đạo mất. Vì thế, một hơi thở ra không hít vào thì muôn kiếp mất thân người, một sát-na tạm cách thì nghìn đời li biệt. Bởi tin và hủy tranh nhau, thiện cùng ác lẫn lộn. Lại nữa, kẻ ngu si chuyên quạt mạnh ngọn gió tà, người thuần chính luôn gặp gian bức ép. Do đây, Phật pháp truyền vào Trung Quốc đến nay mới hơn sáu trăm năm mà đã ba lần bị hủy diệt, một từ tay Tư đồ Thôi Hạo thời Thác Bạc Đảo, một từ Hách Liên Bột Bột và một từ Chu Vu đế. Thật là họa đến chẳng kịp trở tay, tai ương đổ ập xuống thân hình. Từ đó có việc rước lấy quả báo thiện ác hiện tiền, xuất hiện những điềm cảm ứng trước. Đó là, Kiến An nhờ cảm mộng mà hết bệnh, Văn Tuyên do giảng linh mà bệnh lành. Ngô vươngvây chùa thì xá-lợi phóng ánh sáng, Tề chúa hành hình đao liền gãy từng đoạn, Vũ Vân'' hại tăng thì toàn thân nổi ung nhọt, Thác Bạc phá chùa mà toàn thân tuôn máu mủ, Tôn Hạo ném tượng vào chồ dơ mà nam căn đau nhức, Hách Liên hung gian mà bị sét đánh tiêu đời.
Những điềm họa phúc, thiện ác hiển hiện xưa nay được ghi đầy đủ trong các bộ: Tuyên nghiệm kí, Minh tường kí, Báo ứng lục, Cảm thông truyện, Oan hồn chí, Ư minh lục, Sưu thần kí, Tinh dị kí, Hoăng minh tập, Kinh luật dị tướng, Tam bảo kỉ truyện, Cảm thông lục, Trưng ứng truyện, Thánh tích qui tâm, Tây Vực hành truyện, Danh tăng truyện, Cao tăng truyện, Minh báo kí, Thập di truyện... số lượng đến vài trăm quyển, không thể kể hết. Kinh sách lưu truyền như nhật nguyệt treo trên hư không, đủ để mọi người đồng thấy rõ, mà luống nghi ngờ là mê hoặc người đời sau sao? Cho nên kinh ghi: "Hành thiện thì được quả báo thiện, hành ác thì chuốc quả báo ác”. Kinh Dịch ghi: "Nhà tích điêu thiện, nhấtđịnh để lại phúc đức cho con cháu mai sau. Nhà chứa điều ác, nhất định để họa cho con cháu mai sau”. Như vậy biết chắc chắn rằng, thiện ác báo ứng theo nhau như hình với bóng; khổ vui chứng nghiệm xưa nay luôn thay đổi.
Nếu không dẫn chứng thì khó dứt trừ bệnh tà chấp, do đó tôi xem qua hơn bốn nghìn bài truyện kí, rồi chọn ra những câu chuyện linh nghiệm ghi cuối mỗi thiên. Còn những gì chưa đầy đủ, mong được người đọc bổ sung.
4.1.5.1. Đời Tấn, cư sĩ Sử Thế Quang: Thế Quang người Tương Dương, vào một ngày trong niên hiệu Hàm Hòa thứ tám (333) ông qua đời tại Vũ Xương. Đến tuần thất thứ nhất, gia đình thỉnh sa-môn Chi Pháp Sơn tụng kinh Tiểu phẩm Bát nhã. Vì mỏi mệt, nên Pháp Sơn nằm nghỉ, lúc ấy bỗng nghe trên linh sàng như có tiếng người. Trong nhà họ Sử lúc ấy có một nhũ mẫu lớn tuổi tên là Trương Tín thấy Thế Quang hiện trên linh tòa, đầy đủ áo mão như lúc còn sống. Thế Quang nói:
- Đáng lẽ ta phải đọa vào loài rồng, nhưng nhờ hòa thượng Chi tụng kinh, nên được Đàm Hộ và Đàm Kiên đó lên cõi trời thứ bảy là Phạm Thiên
Hộ và Kiên vốn là đệ tử của Pháp Sơn đã thi tịch. Sau đó, Pháp Sơn lại đến tụng Đại Phẩm Bát Nhã, Thế Quang lại đến linh sàng. Lúc còn sống, Quang đã cúng dường hai lá phan, nay còn treo ở chùa. Quang sai Trương Tín đến chùa cầm phan tiễn mình. Trương Tín vừa nói: “Vâng!”, liền chết giấc. Quang dẫn Tín cầm phan cùng bay về hướng tây bắc, đến một tòa núi màu xanh như lưu li. Vừa đến đỉnh thì thấy cổng trời, bấy giờ Quang tự cầm lấy phan, trao Tín một viên hương màu xanh như Ba đậu và nói: “Dâng vật này cho Hòa thượng!”, rồi bảo trở về. Trong lúc ấy, Tín thấy Ouang đi thẳng vào cổng trời. Tín theo đường cũ trở về, bỗng nhiên sống lại, nhưng cũng chẳng thấy hương trong tay, hai lá phan vẫn còn tại chùa. Khi Thế Quang dẫn Tín đi, thì đứa bé sáu tuổi đang ở nhà nhìn thấy, nó nói với bà nội: “Cha bay trên trời kìa! Bà thấy không?”.
Lần sau Thế Quang đưa hơn mười vị trời về nhà, quanh quẩn một hồi rồi đi. Mỗi lần trở về đều có giắt trâm, đội mũ, nhưng khi đi thì để lộ tóc. Trương Tín hỏi thì Quang đáp:
- Trên đó đã có mũ trời, không dùng loại này.
Lần sau trở về, Quang đội mũ trời, cùng với chư thiên vừa đi vừa đàn ca, bước thẳng lên Mẫu đường. Tín hỏi:
- Sao lại đến đây?
Quang đáp:
- Ta vốn muốn giúp các người thấy được tội phúc, cũng muốn để nhũ mẫu vui chơi.
Tiếng đàn nơi đây thật trong và tuyệt diệu, thế gian không thể sánh bằng. Mọi người trong nhà đều nghe, nhưng văng vẳng như cách tường vách và cũng không được nhìn thấy, chi có Tín nghe được rõ ràng. Một lát sau, Tín thấy Quang đi vào một cửa màu đen rồi trở ra nói:
- Cậu đang ở nơi đây, hằng ngày đều bị đánh đập, đau đớn không thể nhẫn chịu, ta nhìn xem rồi trở ra. Ngày xưa cậu phạm tội sát sinh, nên bị quả báo này. Nên báo với dì thỉnh tăng tụng kinh mới mong thoát được! Người này ngày xưa làm Khinh xa tướng quân. 4.1.5.2. Đời Tấn, Thích Tuệ Ngôi: Không biết quê quán nơi đâu, chỉ biết sư trụ tại Đại tự tại Trường An. Sư có giới hạnh tinh nghiêm, thường ẩn cư nơi sơn cốc tu tập thiền định. Một đêm nọ, quỉ không đầu đến, sư vẫn thản nhiên nói:
- Ngươi không có đầu thì chẳng sợ đau đầu. Sao mà sướng thế!
Qui liền ẩn thân, lát sau hiện ra một con qui không bụng, chi có tay chân, sư lại nói:
* Ngươi không có bụng, thì chẳng lo đau ngũ tạng. Sao mà sướng thế!
Lát sau quỉ lại biến hình khác, sư đều tùy thuận, dùng lời xua đuổi. Hôm nọ trời rất lạnh, có một người nữ dung mạo xinh đẹp, y phục sang trọng, dáng vẻ ôn nhu, tự xưng là thiên nữ đến xin tá túc. Thiên nữ nói:
- Thấy thượng nhân có đức, chư thiên sai tôi đến thăm hỏi ngài.
Sau đó thiên nữ dùng ngôn từ kích động tâm dục cùa sư, nhưng sư vẫn giữ ý chí kiên cố, tâm không mảy may xao động. Sư nói:
- Lòng ta như tro lạnh, không thể dùng đãy da hôi kia mà thử ta!
Thiên nữ kia liền vọt lên mây bay đi, nhưng vẫn quay lại ca ngợi:
- Nước biển có thể cạn, núi Tu-di có thể đổ, nhưng vị thượng nhân kia giữ tâm ý thật kiên trinh.
Niên hiệu Long An thứ ba (399), sư cùng với ngài Pháp Hiển sang Tây Vực, về sau không biết thị tịch nơi đâu.
4.I.5.3. Đời Ngụy, Thích Đàm Loan: Sư người Nhạn Môn, nhà gần núi Ngũ Đài, xuất gia trụ tại chùa Huyền Trung, Thạch Bích cốc, Tây Hà. Sư có nhiều biểu hiện thần dị, nhưng người đời ít ai biết đến. Do bị bệnh đường hô hấp, nên sư đi khắp nơi chữa trị. Một hôm đến vùng đất xưa thuộc Tần Lăng ở Phàn châu, sư vào thành, lên cửa đông ngắm mâyxanh. Bỗng nhiên cổng trời mở toang, tòa vị chư thiên cõi Lục Dục sắp bày trên dưới rất nhiều lớp, tất cả hiện ra rõ ràng trước mắt sư, do đây sư hết bệnh. Sau đó sư đến nơi ở của Đào Hoang Cảnh tại Giang Nam tìm cầu thuốc tiên, mong được trường thọ. Đến nơi, hai bên luận đàm vui vẻ, chủ nhân liền trao cho sư mười quyển sách nói về Tiên phương để đáp lại hảo ý đến thăm.
Sư về đến Chiết Giang, nơi đây có thần Bào Lang Tử, hễ một lần khuấy động thì dòng sông dậy sóng bảy ngày mới yên. Sư đên, gặp lúc sóng mới nổi, không có cách gì qua sông, nên đến miếu thờ thần thật lòng cầu khấn và nguyện: “Nếu thần đáp ứng lời cầu thỉnh thì sẽ lập miếu thờ”. Lát sau thần hiện hình, dáng mạo như người nam hai mươi tuổi, đến nói: “Nếu sư muốn qua sông thì sáng sớm ngày mai hãy đi, mong sư không nuốt lời!”. Sáng hôm sau, sóng vẫn to gió vẫn lớn, nhưng khi sư vừa bước lên thuyền thì gió lặng sóng yên, nhờ đó mà sư sang được bờ kia.
Vua Lương rất kính trọng sư, nên ban chiếu lập miếu thờ thần sông. Sau đổ sư từ giã vua trờ về đất Ngụy, rồi tìm danh sơn, y theo sách mà luyện tiên dược. Nhưng vừa đến Lạc Hạ thì gặp Trung Quốc tam tạng Bồ-đề-lưu-chi, sư đến hỏi:
- Nhà Phật có pháp trường sinh bất tử xuất sắc hơn tiên kinh ở nước này không?
Ngài Bồ-đề-lưu-chi nghe hỏi liền nhổ nước miếng xuống đất rồi nói:
- Ông nói cái gì? Không thể so sánh như thế được! Nơi nào trong đất nước này có pháp trường sinh bất tử? Dầu được trường sinh bất tử thì cuối cùng cũng luân hồi trong ba cõi.
Nói xong ngài Bồ-đề-1ưu-chi trao cho sư bộ Quản kinh và bảo:
- Đây là phương thuốc cùa bậc Đại tiên, y theo đây mà tu hành sẽ thoát sinh tử, vĩnh viễn không còn luân hồi.
Thế là sư vào chùa Huyền Trung tại Thạch Bích cốc, Bắc sơn, Phần châu, y kinh nhất tâm tu Tịnh nghiệp.
Lúc sư lâm chung, cờ phướn, lọng tàn hiện đến rực cả chùa viện, hương thơm xông khắp nơi, tiếng nhạc du dương, mọi người lên chùa đều nghe thấy. Lúc ấy sư trụ tại Bình Diêu sơn tự, đã sáu mươi bảy tuổi, nhằm niên hiệu Hưng Hòa thứ tư (542).
4.1.5.4. Đời Tào Ngụy, cư sĩ Chuyên Huyền Siêu. Huyền Siêu tự là Nghĩa Khởi, làm việc tại quản Tế Bắc. Khoảng niên hiệu Gia Bình (249-254), đêm nọ đang một mình nẳm ngủ, ông mộng thấythần nữ đến tự xưng là ngọc nữ, người ở Đông quận, họ Thành Công, tự là Tri Quỳnh, cha mất sớm, thiên đế thương cô độc, nên cho xuống hạ giới xuất giá theo chồng. Ngay trong mộng, thần thức Nghĩa Khởi cảm ngộ, khen ngọc nữ dung nhan diễm lệ, chẳng phải người phàm.
Sau khi thức giấc, Nghĩa Khởi vẫn còn mơ tưởng, cảm thấy như lúc còn lúc mất. Như vậy, ngọc nữ công nhiên đến vui chơi ba bốn đêm, mỗi lần đến đều ngồi xe có mui rèm, theo sau là tám tì nữ, y phục bằng tơ lụa nhiều màu, dung nhan và tư thái giống như phi tiên. Họ đều nói là mười bảy tuổi, nhưng xem giống như các cô gái mười lăm tuổi. Trên xe có năm bình rượu lưu li xanh nhạt và các chén bát rất ki lạ. Ngọc nữ cho bày biện rồi cùng với Nghĩa Khởi uống ăn. Ngọc nữ nói với Nghĩa Khởi:
- Thiếp là ngọc nữ cõi trời, được sai xuống hạ giới lấy chồng, nên mới theo chàng. Đây chẳng phải là phúc đức của chàng, bởi cảm vận ngày xưa mà thành duyên chồng vợ. Việc này không có lợi, nhưng cũng chẳng có hại. Nhưng mỗi khi đến đây thường được ngồi xe có mui rèm, cỡi ngựa khỏe, ăn uống những món ngon lạ, y phục toàn bằng tơ lụa, không thiếu vật gì. Nhưng thiếp là thần nhân, nên không thể sinh con cho chàng, cũng không có lòng đố kị, không làm hại việc hôn nhân của chàng.
Từ đó hai người trở thành vợ chồng, ngọc nữ tặng Nghĩa Khởi bải thơ:
Phiêu đãng bỗng tương phùng
Tiếng nhạc dội non cao
Linh chi đâu cần tưới
Chí đức hẹn đúng thời
Thần tiên nào luống đến
Ứng vận đến gặp nhau
Nhân ta, năm họ hiền
Đuổi ta, chuốc họa tai.
Đây chỉ nêu sơ lược, chứ toàn văn đến hơn hai trăm lời, không thể ghi hết. Ngọc nữ còn chú thích Chu Dịch gồm bảy quyển và các sách chiêm bói cát hung... Nghĩa Khởi vận dụng được yếu chỉ trong đó.
Hai người sống với nhau như thế được bảy tám năm. Sau khi được cha mẹ cưới vợ, chỉ gần gũi vợ ban ngày thì Nghĩa Khởi ngại, ban đêm thì ông ngủ. Còn ngọc nữ thì đêm đến, ngày đi, nhanh nhẹn và nhẹ nhàng như bay, chỉ có Nghĩa Khởi thấy, những người khác thì không. Tuy cả hai gặp nhau trong phòng kín, nhưng bên ngoài vẫn nghe văng vẳng có tiếng người, lại thường thấy dấu vết mà không thấy hình. Một thời gian sau, mọi người lấy làm lạ, mới tra hỏi, Nghĩa Khởi kể rỏ. Sự việc đã bị lộ, ngọc nữ liền xin từ giã, cô nói:
- Thiếp là thần, tuy giao tình với chàng, nhưng không muốn cho người nhìn thấy, mà tính chàng khinh suất, đã tiết lộ cho người biết. Thiếp và chàng
kết giao nhiều năm, ân nghĩa chẳng phải nhẹ mà nay bỗng nhiên chia li, há không buồn hận sao? Nhưng tình thế bắt buộc, không thể chung sống dài lâu. Mỗi người chúng ta hãy cố gắng chịu đựng vậy!
Nói xong Tri Quỳnh bảo người hầu mang rượu và thức ăn đến, hai người cùng ăn uống. Tri Quỳnh lại mở túi đan, lấy hai bộ y phục đã may sẵn tặng cho Nghĩa Khởi, tặng thêm một bài thơ, rồi cầm tay nói lời từ biệt mà nước mắt tuôn trào. Sau đó cô lặng lẽ bước nhanh lên xe đi mất.
Nghĩa Khởi đau buồn nhiều ngày, đến nỗi sinh bệnh, thân hình tiều tụy. Trải qua thời gian lâu, một hôm Nghĩa Khởi đến núi Ngư ở Tế Băc, đang trên đường đi về hướng tây, bỗng thấy đầu con đường nhỏ có một chiếc xe ngựa giống như của ngọc nữ. Nghĩa Khởi chạy đến thì đúng là người xưa. Trí Quỳnh vội vén rèm tương kiến, buồn vui lẫn lộn, rồi nhường bên trái cho Nghĩa Khởi ngồi, hai người cùng về Lạc Dương, làm phòng xá nối lại mối giao tình tốt đẹp ngày xưa. Nhưng bấy giờ, cô không đến đi hằng đêm như ngày trước, mà cứ vào những ngày mồng ba tháng ba, mồng năm tháng năm, mồng bảy tháng bảy, mồng chín tháng chín và ngày rằm tháng giêng ngọc nữ đến, ở lại một đêm rồi đi. Đến niên hiệu Thái Khương (280-290), hai người vẫn còn gặp nhau như thế. về sau, nhân việc này, Trương Mậu có làm một bài Thần nữ phú.
4.I.5.5. Đời Lương, sa-môn Thích Tuệ Thiệu: Sư họ Trần, người ở Thái Khâu, Dĩnh Xuyên, xuất gia trụ tại chùa Long Uyên, Thục Đô. Sư học nhiều hiểu rộng, thông minh xuất chúng, sống thiểu dục trí túc. Vào ngày mồng ba tháng bảy, niên hiệu Thiên Giám thứ hai (503), lúc năm mươi bốn tuổi, sư thị tịch trong pháp đường Ma-ha-diễn tại chùa Long Uyên. Bấy giờ một người hiền ở Thành Đô tên là ứng Thủy Phong, do bệnh nên ngừng thở, nhưng ngực vẫn còn ấm, năm ngày sau tỉnh lại kể: “Tôi bị sứ giả bắt đến chỗ Diêm-la vương nghe phán: 'Nghinh đón pháp sư!’. Lát sau sư Tuệ Thiệu đến, Diêm-la vương xuống tòa chắp tay đỉnh lễ, rồi im lặng trở về tòa ngồi, soạn văn thư và viết hai chữ ‘Đại Chính’. Sau đó Tuệ Thiệu ra ngoài, ngồi tại một cội cây lớn bên con đường rộng lớn. Tôi lại thấy một tiểu đồng nâng chiếc khay đan bằng cây liễu sơn đen có đặt tấm ca-sa và bảo sư đắp, rồi có mười vị tăng đến đón. Trong đó, tôi chỉ biết hai vị thiền sư là Hòa và Từ. Bấy giờ cờ phướn rợp trời, thỉnh sư bay lên hư không đi mất”.
Cũng trong đêm ấy, một vị ni ở chùa An Phố vì bệnh lâu ngày nên mê ngất, sau khi tỉnh lại, vị ni kể: “Tôi tiễn pháp sư Thiệu và năm trăm vị tăng bước lên thang bảy báu đến giảng đường trên cung trời. Nơi ấy đất như thủy tinh, sáng lòa rực rở, nghiêm chỉnh, cũng có phất trần, bàn ghế, hoa sen nở khắp nơi. Pháp sư Thiệu lên tòa thuyết giảng, không lâu thì đứng dậy, bảo những người tiễn biệt trờ về
Những điềm sổng chết cảm hiện đều giống như vậy
4.2. CÕI NGƯỜI
4.2.1. Lời dẫn
Bàn về con người, thì thân hình hư giả, mang nhiều ác nghiệp, thích tạo lỗi lầm, bỏ đạo nhân trí, dứt nghĩa lương ân, cho nên thôi Trữ giết vua, Thương Thần hại cha, thất hùng xâm đoạt, lục quốc tranh nhau. Tất cả chạy theo tâm kiêu xa, khoe bày thói dâm đãng, khiến cho thuần phong vĩnh viễn đoạn, mĩ tục mãi mãi không còn, lại thêm ba độc, mười triền tranh nha phát khởi, bốn dòng mênh mông, năm cái sâu thẳm, điên đảo vô minh ngày càng tăng trưởng mạnh. Khiến cho thân như cây bên bờ vực, mạng tựa thành trì sắp bị phá tan. như giọt mật rơi vào miệng dễ tan. Như dây mọc bên miệng giếng khó bảo toàn. Cuối cùng rồi cũng sẽ nơi nấm mồ dưới cội tùng tiếng khóc não lòng? bên cổng lớn nhà cao lời bi ai uất nghẹn.
Vì thế hôm nay tất cả đều nên sám hối. Hễ là con người, từ thường trí hạ ngu, tây tận Cù-di, đông cực Vu-đãi, bắc đên Đan-việt, nam tột Diêm-phủ, cho đến nhừng kẻ ở nhà lợp ván, màn trướng bằng lông, vẽ mình xõa tóc, ăn lông ở lỗ, sống tổ chui hang, chạm móng nhuộm răng, hoặc kẻ không nhà không cửa lang thang khắp chốn, hoặc kẻ vượt biển rộng sông sâu, hoặc đu dây qua non hiểm, hoăc làm lính thú biên cương mang giáp cầm đao, hoặc giám sát tù nhân mang vàng vác gồ, tất cả đều nguyện siêng tu lễ nghĩa, khiêm cung, nhân từ, hiếu thuận, dứt tâm phóng đàng, đoạn tuyệt hoang dâm. Đế cho thân như vàng đá, hình tựa non cao, tám khổ không thể xâm, chín hoạnh vĩnh viễn đoạn.
4.2.2. Giải thích danh từ Nhân (loài người)
Theo luận Bà-sa, nhân là ngừng dứt ý niệm. Nghĩa là trong sáu đường, đây là thành phần có khả năng ngừng dứt ý niệm, cho nên gọi là nhân. Nói rõ hơn, trong sáu đường chỉ con người mới có năng lực ngừng dứt tâm ý phiền não loạn động, nên gọi Nhân là chấm dứt ý niệm. Có thuyết giải thích Nhân là nhẫn, tức có khả năng nhẫn chịu tất cả những cảnh thuận nghịch ở thế gian.
Luận Lập thể A-tì-đàm ghi: “Vì sao nhân đạo gọi là Ma-thố-sa? Vì có tám nghĩa: thông minh, hơn hết, ý vi tế, chính giác, trí tuệ tăng trường, có khả năng phân biệt thật giả, có căn khí nhận lãnh thánh đạo, do nghiệp thông tuệ sinh ra”.
Luận Tân Bà-sa ghi:
Hỏi: Vì sao gọi cõi này là Mạt-nô-sa?
Đáp: Ngày xưa Chuyển luân thánh vương Mạn-thú-đa thông báo với nhân dân: “Các người muốn làm việc gì, trước nên suy nghĩ, xem xét và cân nhắc kĩ”. Nhân dân trong nước nghe dạy đều thực hành theo. Từ đó mà thành thạo các nghề, kĩ thuật tinh xảo. Vì nhân dân chuyên tâm suy nghĩ, xem xét việc làm cho nên gọi là Mạt-nô-sa. Có thuyết cho rằng do trước tạo tác làm tăng trưởng diệu hạnh của thân miệng ý bậc hạ mà hướng đến nơi ấy, sinh nơi ấy, khiến nơi sinh nối tiếp không gián đoạn, cho nên gọi là Nhân thú. Có thuyết cho rằng vì quá kiêu mạn nên gọi là Nhân, nghĩa là trong năm đường, loài người kiêu mạn nhất. Có thuyết cho rằng vì có năng lực làm cho tâm ý vắng lặng nên gọi là Nhân; nghĩa là trong năm đường, không loài nào có khả năng làm cho tâm ý vắng lặng hơn loài người, nên gọi là Nhân. Cho nên khế kinh ghi: “Loài người có ba năng lực vượt chư thiên: một là dũng mãnh, hai là năng lực ghi nhớ, ba là Phạm hạnh.
4.23. Trụ xứ
Luận Tân Bà-sa ghi: “Loài người trong bốn thiên hạ an trú tại bốn châu lớn: Diêm-phù, Tì-đề-ha, Cù-đà-di và Câu-lô; cũng trụ tại bốn châu vừa: Cự-lạp-bà và Kiêu-lạp-bà thuộc châu Câu-lô, Đề-ha và Tô-ha thuộc châu Tì-đề-ha, Xá-tri và Ốt-đát-la-mạn-đát-lí-noa thuộc châu Cù-đà-di, Già-mạt-la và Phiệt-la-già-mạt-la thuộc châu Diêm-phù. Thân người ở tám châu này rất nhỏ bé, giống người lùn ở cõi này. Có thuyết cho rằng loài người ở bảy châu, còn la-sát-bà ở châu Già-mạt-la. Có thuyết cho rằng tám châu này là tên gọi khác của bốn châu mà thôi, vì mỗi một châu đều có hai tên gọi. Nói vậy, đúng như lúc đầu đã trình bày, trong tám châu này, mỗi châu có năm trăm châu nhỏ phụ thuộc, trong đó hoặc loài người trú, hoặc phi nhân trú, hoặc không có loài nào”
Hỏi: Hình mạo con người như thế nào?
Đáp: Thân người đứng thẳng, nhưng khuôn mặt người châu Diêm-phù giống thùng xe, khuôn mặt người châu Tì-đề-ha như nửa mặt trăng, khuôn mặt người châu Cù-đà-di giống trăng rằm, khuôn mặt người châu Câu-lô giống ao vuông.
Hỏi: về ngôn ngữ thì thế nào?
Đáp: Lúc thế giới mới hình thành, loài người đều nói ngôn ngữ Trung Ấn Độ. về sau, vì mỗi loại hữu tình dùng thức ăn thức uống khác nhau, thế gian ngày càng xấu ác, tâm dối trá, dua nịnh tăng trưởng, nên mới có nhiều ngôn ngữ, cho đến có người không thể nói năng.
4.2.4. Nghiệp nhân
Kinh Nghiệp báo sai biệt ghi: “Có bốn trường hợp:
1. Người do nghiệp mà được quả báo thân vui nhưng tâm không vui, đó là các phàm phu có phúc.
2. Người do nghiệp mà được quả báo tâm vui nhưng thân không vui, đó là các vị a-la-hán thiếu phúc.
3. Người do nghiệp mà được quả báo thân tâm đều vui, đó là các vị a-la-hán có phúc.
4. Người do nghiệp mà có quả báo thân tâm đều không vui, đó là các phàm phu bạc phúc”.
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Thế Tôn nói với trưởng giả Hiền Thủ:
- Ông nên biết, Ta quán thấy chúng sinh thế gian bị mười nỗi khổ bức ép: sinh, già, bệnh, chết, sầu, oán, khổ thụ, ưu, thống khổ phiền não, sinh từ lưu chuyển. Vì muốn đạt được Vô thượng Bồ-đề, xa lìa các nỗi khổ bức ép đó, nên Ta khởi lòng tin thanh tịnh, rời nhà họ Thích, hướng đến đạo vô thượng. Này trường giả! Ta còn quản thấy tất cà chúng sinh từ vô số kiếp đến nay đã tạo trăm nghìn na-dữu-đa lỗi lầm thường bị trúng mười mũi tên độc: ái, vô minh, dục, tham, lỗi lầm, ngu si, mạn, kiến, hữu, vô hừu. Ta thấy vậy, nên cầu Vô thượng Bồ-đề, cầu đoạn lìa các mũi tên độc ấy mà khởi lòng tin thanh tịnh rời nhà họ Thích, hường đến đạo vô thượng”.
4.2.5. Sang hèn-Giàu nghèo
Luận theo bốn châu, Bắc uất-đơn-việt không có sang hèn, vì nơi ấy không có người làm tôi tớ. Ba châu khác đều có kẻ sang người hèn, vì có vua tôi và thứ dân, chủ và tớ khác nhau. Tổng quát về sang hèn, thì gồm có sáu hạng: một, sang bậc thượng, như các luân vương; hai, sang bậc trung như Túc Tán vương; ba, sang bậc hạ như các quan; bốn, cực hèn như đầy tớ bất tài, tiểu đồng...; năm, hèn bậc trung như nô tì...; sáu, hèn bậc hạ như hầu thiếp... Lược phân chia như vậy, nếu phân biệt chi tiết thì không thể thuật hết.
Luận theo bốn châu, thì Bắc Ưất-đan-việt nhân dân đều rất giàu và đồng nhau, hai châu Đông và Tây thì giàu trung bình, nhưng cũng cỏ kẻ hơn người kém, Nam Diêm-phù-đề thì cực nghèo. Như vậy bốn châu, giàu nghèo không giống nhau, như kinh đã nói, ở đây không thể thuật hêt. Riêng cõi Diêm-phù-đề thì có thể chia làm ba bậc:
1. Giàu bậc thượng: Như Chuyển luân vương, sự giàu ấy có thể cho là trùm cả bốn phương, gom hết bốn biển, tất cả vật dụng không thiếu món nào. Như kinh nói phúc lực của Luân vương rất lớn, nếu xuất thế thì cảm được năm điều kì đặc, bảy báu tự nhiên hiện đến. Năm điều kì đặc: Một, mặt đất bằng phẳng, sạch sẽ, nơi nơi đều có ao hồ, sông suối. Hai, cam lộ cõi trời rơi xuống cung điện, khi khát vua uống, thân thể nhẹ nhàng, không có bệnh tật. Ba, nước biển lớn giảm một do-tuân, bên bờ tự nhiên xuất hiện con đường cát vàng, luân vương theo đó đi khắp thiên hạ. Bốn, hương Ngưu Đầu chiên-đàn sinh bên bờ biển, vua lấy đốt, hương xông thơm ngát, theo gió lan xa bốn mươi dặm, người chết được hương này xông đến liền sống lại. Năm, chim Ca-chân-lan-đà sống trong biển, khi vua xúc chạm vào chim thì thân tâm vui thích, hơn nghe được nhạc trời Lục Dục. Vì thế cho nên trong luận Vãng sinh có bài kệ: "Cỏ công đức bảo tính, mêm mại xoay về phải, người chạm tâm an vui, hơn cả Chân-lân-đà”. Còn bảy báu và một nghìn người con dũng mãnh thì như kinh trên đã nói.
2. Giàu bậc trung thì như các Túc Tán vương.
3. Giàu bậc hạ như vua Thụ-đề-già.
4.2.6. Thụ khổ
Loài người chỉ có khổ, không có vui, kẻ ngu cho là vui, người trí cho là khổ. Chỉ vọng thấy là vui, thật xét thì là khổ. Kinh Phó pháp tạng ghi: “Thế gian đều là khổ, không thế tìm vui, thân này không bền chắc, mong manh dễ hoại. Thân này như bọt nước chớp mắt liền tan, dung nhan xinh đẹp đáng ưa, khi già suy đến vẻ đẹp ấy còn đâu! Thân này, bên ngoài được bọc bởi lóp da mỏng cho là tốt đẹp, bên trong chứa toàn máu mủ bất tịnh. Thân hữu vi vô thường mau chóng, trong chớp mắt bốn trăm lẻ bốn bệnh phát sinh; giống như trên hư không, bỗng nhiên nổi sấm chớp, kéo mây đen, thổi gió lớn, rồi trong phút chốc chợt tan, năm dục không bền lâu cũng như vậy. Mọi người đang cùng nhau vui chơi, an ổn khoái lạc, bỗng chốc vô thường kéo đến thì còn ai! Thế gian quá nhiều đau khổ, chẳng thể ở lâu”.
Cho nên biết, thân người vô thường, khổ, theo lẽ nên sinh tâm nhàm chán, mau chóng cầu giải thoát. Tất cả thân hữu lậu đều chứa nhóm các khổ, như ung nhọt, như nhà xí, như tim trúng tên độc, sinh già bệnh chết xoay chuyển không cùng tận, là pháp vô thường bại hoại, chóng mục nát. Thân như tù nhân sắp chết, mạng chẳng còn bao lâu; thân như tù nhân không có gì đáng ưa thích, như cây ăn quả trồng bên đường, mãi bị người ném đá; thân này đáng nhàm chán, cuối cùng sẽ trở về chỗ hoại diệt, bấy giờ mặc cho quạ, kền kền, lang sói tranh nhau đến cắn xé; mặc cho gió thổi, nắng thiêu, trương sình hôi thối, rồi tóc lông, răng móng vung vãi khấp nơi. Thân như vậy đó, có gì đáng quí tiếc, nên siêng năng tu tập chóng cầu giải thoát. Dầu giàu sang như các vị trời, cuối cùng rồi cũng sẽ bỏ thân. Nhìn bên ngoài tựa như vui sướng, nhưng trong lòng vạn mối lo toan. Cho nên Đại trang nghiêm luận có câu kệ: Như người đeo khóa vàng, tuy có thể trói người,nhưng lòng luôn lo sợ, vương vị cũng như thế, vi bảo vệ cũng khổ, khi mất lại càng ưu sầu. Cũng nhờ nhờ áo quần ngăn nóng lạnh, thức ăn uống trừ đói khát mà cho là sung sướng. Đó là trong khổ đau mả khởi ý niệm vui thú. Cho nên a-la-hán Tân-đầu-lô thuyết pháp cho vua Ưu-đà-diên bằng lời kệ :
Vương vị tuy tôn nghiêm
Nhưng luôn đổi, chẳng bền
Nhanh chóng như tia chớp
Chớp mắt liền hoại diệt.
Vương vị cực giàu sang
Kẻ ngu lòng đắm trước
Bỗng đâu bị hủy hoại
Đau khổ hơn kẻ hèn.
Vua chúa ngự vị cao
Danh tiếng vang khắp chốn
Thân đoan chính đáng ưa
Trang sức nhiều báu vật
Cũng như người sắp chết
Đeo vòng hoa, chuỗi báu
Mạng sống chẳng còn lâu
Vương vị cũng như vậy.
Làm vua giống như chim
Trong lòng luôn sợ hãi
Trong mọi lúc mọi nơi
Đi, đứng và ngồi nằm,
Dù người thân kẻ sơ
Lòng luôn luôn nghi sợ.
Quan dân, hoàng hậu, phi
Ngựa xe và châu báu
Đất nước và tất cả
Đều là vật của vua
Một khi vua xả mạng
Bỏ hết chẳng mang theo.
Tôn giả lại nói:
- Đại vương! Ngài nên quán sát thật kĩ, đâu có năm dục nào mà thường còn, đâu có vương vị nào mà bền lâu, đâu có cõi nước nào mà không biến diệt, đâu có báu vật nào không lưu tán, đâu có dục lạc nào mà thường còn không mất, đâu có cuộc hội họp nào mà không li tan. Thể tính của năm dục là khổ, đều từ vọng tưởng mà sinh vui. Cho nên vương vị cũng khổ, không có gì an.
Như cảnh thấy trong mộng, thức dậy biết không thật. Vì thế người trí khởi tâm nhàm lìa, liền biết được các pháp trong ngoài thay đổi, đều thuộc vô thường. Tuy thô tế khác nhau, nhưng đều không dừng trụ trong từng sát-na, điều nảy thì không saibiệt. Cho nên kinh ghi: “Sắc khổ có mười giai đoạn từ khi hình thành bào thai cho đến già chết: mô, bào, pháo, hòn thịt, có chi thể, bé mới sinh, nhi đồng thiếu niên, tráng niên, già suy”. Nếu không có cac giai đoạn vô thường này, thì đâu có tiến trình từ bào thai đến già chết? Do lửa mạnh ba độc liên tục đốt tâm, cho nên mới có các khổ này.
Kinh Niết-bàn có bài kệ:
Tất cả các thế gian
Hễ sinh thì phải chết Dù thọ mạng vô lượng
Cũng có ngày chấm dứt.
Đã thịnh ắt cỏ suy
Hội họp rồi li biệt
Thời tráng niên ngắn ngủi
Sức mạnh, bệnh làm suy
Mạng bị chết ăn nuốt
Không pháp nào mãi còn.
Đế vương được tự do
Thế lực không ai bằng
Rồi cũng sẽ biến diệt
Thọ mạng cũng như thế.
Các khổ luôn lưu chuyển
Mãi mãi không dừng nghỉ
Ba cõi đều vô thường
Các hữu có gì vui
Tính tướng pháp Hữu vi
Tất cả đều rỗng không
Pháp hiển hoại lưu chuyển
Thường có những nỗi lo
Sợ hãi và tội lỗi
Già bệnh chết, sầu lo
Tất cà đều không cùng
Dễ hoại, oán thù xâm
Phiền não luôn trói buộc
Giống như tằm trong kén
Tại sao người có trí
Lại ưa thích chốn này
Thân này khổ nhóm họp
Tất cà đều bất tịnh
Ung nhọt... những hiểm nguy
Căn bản không lợi ích
Dù là thân chư thiên
Cũng đều giống như vậy
Các dục đều vô thường
Nên Ta không đắm trươc
Lìa dục, tư duy sâu
Mà chứng đạo chân thật
4,2.7. Cảm ứng
* Xuân Thu diễn Khổng đồ ghi: “Khổng Tử cao mười thước, lưng rất lớn; khi đứng thì dáng như trâu kéo xe, đến gần thì ngước nhìn như sao Mão sao Đẩu”.
* Ngô Việt Xuân Thu ghi: “Ngũ Tử Tư gặp Ngô vương Liêu, từ xa Liêu thấy nhan sắc Tử Tư rất đảng sợ, thân cao một trượng, lưng rất lớn, hai chân mày cách nhau một thước. Ngô vương Liêu đàm luận với Tử Tư ba ngày, ngôn từ không có người thứ hai. Tư biết Liêu rất thích. Mỗi lần vào luận bàn, Tử Tư luôn thể hiện khí thế mạnh mẽ, đĩnh đạc”.
* Lương kí ghi: “Lã Quang tự là Thế Minh, thường kết giao với các người quyền quí, thích chiêu hiền đãi sĩ. Quang cao tám thước bốn tấc, mắt có hai con ngươi, khuỷu tay trái có con dấu thịt, tính trầm tĩnh, đơn giản, khoan dung, độ lượng. Người bấy giờ không biết, chỉ có Vương Mãnh xem trọng Quang lúc còn hàn vi và từng nói: “Đây là bậc phi phàm!”.
* Hà đồ ngọc bản ghi: “Từ Côn Lôn đi về hướng bắc chín vạn dặm thì đến nước Long Đá; người nước này cao ba mươi trượng, sống một vạn tám nghìn tuổi mới chết. Từ Côn Lôn đi về phía đông thi đến nước Đại Tần, người nơi đây cao mười trượng. Từ nước nảy cũng đi về phía đông mười vạn dặm thi gặp nước Điêu, người nơi đây cao ba mươi trượng năm thước. Từ dây di về phía đông thêm mười vạn dặm là đến nước Trung Tần, người nơi đây cao một trượng”.
* Long ngư Hà đồ ghi: “Mỗi cực đông tây nam bắc trên trời đều có ba nghìn ức vạn quân tinh nhuệ, mỗi người cao ba nghìn vạn trượng; ba nghìn ức vạn kim cang cảm tử lực sĩ, mỗi lực sĩ cao ba nghìn vạn trượng. Kinh đô Thái Bình ở trung tâm cõi trời có ba nghìn ức vạn quân Giáp đô thực qui thiết diện, mỗi quân cũng cao ba nghìn vạn trượng".
* Hồng phạm ngũ hành truyện ghi: “Vào thời Tần Thủy Hoàng có một người cao năm trượng, dấu chân dài sáu thước”.
* Ngụy chỉ ghi: “Người Thiên Trúc cao một trượng tám thước, còn nam nữ nước Li-xa đều cao tám thước”. Lại ghi: “Niên hiệu Hàm Hi thứ hai (265) đời Tào Ngụy, Tương Vũ dự ngôn: sẽ có một người cao lớn xuất hiện. Người này cao ba trượng, dấu chân dài ba thước hai tấc, tóc tráng, mặc áo đơn màu vàng, vấn khăn màu vàng, cầm gậy kêu gọi nhân dân’. Vua bèn nói: Nay đang là lúc thái bình’”.
* Thần dị kỉ ghi: “ở phương đông nam có một người đi khắp thiên hạ. Người này tên là Thiên Quách, còn gọi là Thực Tà, Hoàng Phụ cao bảy thước, bụng rất lớn, đầu tóc rối, không ăn cơm, buổi sáng nuốt ba nghìn con quỉ, buổi tối nuốt ba trăm con quỉ, chì nuốt chứ không cắn xé. Ngưởì này chỉ lây quỉ làm thức ăn, lấy sương móc làm thức uống"
* Thần dị kinh ghi: “Biển Tây bắc có một người cao hai nghìn dặm, hai bàn chân cách nhau một nghìn dặm, chu vi bụng một nghìn sáu trăm dặm, chỉ uống năm thăng rượu trời, không ăn ngũ cốc, cá thịt. Nếu bỗng nhiên đói thì hướng lên trời liền no. Người này thường đi khắp núi sông, không xâm phạm nhân dân, cũng không làm tổn thương vạn vật, đồng sinh ra với trời đât. Người này có tên là Vô Lộ, vì quá cao lớn không thể làm đường cho đi; tên là Nhân, vì có lòng nhân; tên là Tín, vì luôn thành thật; tên là Thần, vì sinh cùng trời đất mà không chểt.
* Thục vương bản kỉ ghi: “Vào thời Tần Tương vương, huyện Đăng Cừ có hiến một người cao hai mươi trượng sáu thước”.
* Ngoại quốc đồ ghi: “Người dân nước Đại Tần cao một trượng năm thước, tay như vượn, lưng dài, giỏi cưỡi lạc đà”.
* Thi hàm thần vụ ghi: “Vùng cực đông bắc có giống người chỉ cao chín tấc”.
* Quốc ngữ ghi: “Khổng Tử nói: Người Tiêu Kiêu chỉ cao ba tấc, thật quá lùn”.
* Ngụy Lược, Tây Vực truyện ghi: “Đất nước cùa người lùn nằm ở vùng tây bác Khương Cư, nam nữ chỉ cao ba thước, dân số rất đông. Các vị trưởng lão Khương Cư truyền ràng: Từng có thương nhân lạc đường đi vào nước này, khi trở về nói rằng nước này rất nhiều châu báu, minh châu dạ quang. Thương nhân lượng tính nước này cách Khương Cư hơn vạn dặm”.
Sách này lại ghi: “Phía nam nước Oa có nước Chu Nho, cách nước Nữ Vương hơn bốn nghìn dặm, người dân ở đây chỉ cao ba bốn thước”.
* Ngoại quốc đồ ghi: “Người nước Tiêu Kiểu cao một thước sáu tấc, đón gió thì ngả ngửa, xuôi gió thì ngã sấp, đầy đủ mắt mũi, ngủ đêm ngoài đồng vắng. Có thuyết cho rằng người Tiêu Kiểu cao ba thước. Nước này mùa hạ cây cối khô héo, mùa đông cây cối sinh trưởng, cách nước Cửu Nghi ba vạn dặm”.
* Liệt Tử nói: “Từ Trung Châu đi về đông bốn nghìn dặm thì gặp nước Tiêu Kiểu, con người nơi đây chỉ cao một thước năm tấc. Vùng cực đông bắc có giống người Tĩnh, thân cao chín tấc. Đời Tần Thủy Hoàng, năm thứ hai mươi sáu (221BC), xuất hiện những người thân cao năm trượng, dấu chân dài sáu thước, Di Địch đều qui phục, có mười hai người như thế xuất hiện ở Lâm Thao. Khổng Tử nói người nước Tiêu Kiểu chi cao ba thước, thật quá lùn. Người cao nhất cũng không hơn mười thước, đây là so cùng tột rồi. Nay lại có người cao năm trượng, thì không do loài người sinh. Năm này Tần mới gồm thâu sáu nước, nên vui mừng cho là điềm lành, bèn đúc mười hai pho tượng bằng vàng để tượng trưng. Đất Tần bây giờ, nam thì trấn giữ Ngũ Lĩnh, bắc thì xây dựng Trường thành, Tây thì đến Lâm Thao, đông thì đến Liêu Đông, xuyên qua mấy nghìn dặm, cho lên người cao lớn xuất hiện ở Lâm Thao, rõ ràng là điềm hoạn loạn sắp khởi. Thật vậy mười hai năm sau nhà Tần diệt vong
* Sau khi Vương Mãng lập quốc bốn năm, tại vùng Trì Dương có người lùn tên Cảnh, thân cao hơn một thước, có lúc ngồi xe có khi đi bộ, chuyên giữ gìn vạn vật, lớn nhỏ đều tự xưng làm Tam Nhật Chỉ
* Quan Tử nói” Đầm khô mấy trăm năm, nước trong hang đổ xuống không dừng, từ đó sinh Khánh Kị, Khánh Kị giống như người, cao bốn tấc mặc áo vàng, đội mũ vàng, che lọng vàng, cưỡi ngựa nhỏ, thích phóng nhanh. Người biết kêu tên nó, có thể sai nó đi xa nghìn dặm, trong một ngày khi trở về báo. Cảnh ở Trì Dương, hoặc giả làm Khánh Kị chăn? Lại ghi: Tinh của sông nhỏ khô cạn sinh ra Chi, có một đầu hai thân, giống như rắn, dài tám thước. Kêu tên nó, có thể sai nó bắt cá rùa
4.3. A-TU-LA
4.3.1. lời dẫn
Những người sinh vào nơi này, đời trước phần nhiều có tâm địa siểm khúc, hoặc cử binh tranh đoạt, hoặc dàn trận đánh nhau, chúng sinh cõi này thân hình vĩ đại, luôn có nỗi khốn khổ đói khát, dáng mạo thô xấu, lòng đầy sân hận, cao thật đáng sợ, lớn quá kinh người, thường hiện ba đầu, thêm tám cánh tay, bước qua non, đạp biển ...bạt mặt trời, xua tan mây, lên trời tìm thức ăn, Xuống biển khuấy thành rượu. Những a-tu-la như thế nay đều đã qui y Phật. Đó là các a-tu-la vương Thiểm-bà-lợi, quyến thuộc của Tì-ma-chất-đa, đồng bọn của Khư-la-tái-đà, cho đến bằng hữu của Bà-tri, La-hầu, Xá-chi, Bạt-đà đều nguyện dứt trừ tập khí kiêu mạn, lìa bỏ tâm siểm khúc, khiến cho cung điện rực sáng, hoa cỏ khắp nơi, chiến tranh chấm dứt, ngăn sân hận phòng tâm tham. Từ đỏ vĩnh viễn dứt nỗi khổ trốn vào cọng sen, không còn nỗi lo sợ binh đao, chinh chiến, thích nghe chính pháp, khát ngưỡng Đại thừa, bỏ thân xấu ác, được tướng đoan nghiêm, giữ gìn cõi nước, bảo vệ nhân dân, dựng lập pháp thành, tăng trưởng tuệ nhật.
4.3.2. Giải thích từ A-tu-la
Hỏi: A-tu-la đạo là gì?
Lập thế A-tì-đàm luận thích ghi: “A-tu-la, tức không thể nhẫn chịu làm điều thiện, cũng không thể nhất tâm hòa ý, khi nghe giáo hóa, tâm không chút lay động; lại vì kiêu mạn, cho nên chẳng phải là Thiện kiện nhi, vì chẳng phải trời, nên gọi là a-tu-la”. Các kinh khác gọi là a-tu-luân, nay căn cứ theo luận Bà-sa để giải thích. Theo chính âm tiếng Phạn, tố-lạc, Trung Hoa dịch là thiên, vì loài này chẳngphải thiên, nên gọi là a-tố-lạc ( Trung Quốc dịch là vô, phì)',tố-lạc nghĩa là đoan chính, loài này không đoan chính nên roi là a-tố-lạc.
Kinh Trường ghi: “A-tu-la nữ thi xinhđẹp, nam thì thô xấu, cho nên gọi là Bất đoan chính. Gọi là Bất ẩm tửu, có hai cách giải thích: Một, do quá khứ giữ giới không uống rượu, đến nay sức của tập tính còn sót lại, nên không uống rượu. Hai, do quá khứ thích uống rượu, nên đi khắp bốn thiên hạ hái các loại hoa bỏ vào biển, mong tạo thành rượu, nhưng đã không được rượu mà nước biển trở thành mặn, nhân dịp này liền bỏ rượu, nên gọi là Bất ẩm
Luận Bà-sa ghi: “Có thuyết cho rằng a-tu-la thuộc cõi trời, nhưng tâm siểm khúc, không có tính quyết định; có thuyết cho rằng a-tu-la thuộc quỉ, nhưng vì có Xá-chi, nên được giao du với cõi trời”. Cho nên Gia-đà kinh ghi: “Vừa là quỉ, vừa là súc sinh, vừa là trời”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Vừa là quỉ, vừa là súc sinh; hoặc cho là vị trời kém phúc, như trời Tì-ma-chất-đa. Tì-ma-chất-đa, Trung Quốc dịch là Hưởng Cao, Huyệt Cư. Vì tận dưới đáy biển lớn phát tiếng kêu lớn: ‘Ta là Tì-ma-chất-đa’, nên gọi là Cao Hưởng; lại vì sống trong hang dưới đáy biển, nên gọi là Huyệt Cư”.
4.3.3. Trụ xứ
Kinh Chính pháp niệm ghi: “A-tu-la trú tại năm nơi: một, trong núi Chúng Tướng trên mặt đất, loài này sức lực kém nhất; hai, La-hầu a-tu-la vương thống lãnh vô lượng a-tu-la trú dưới biển sâu hai vạn một nghìn do-tuần, phía bắc núi Tu-di; ba, Dũng Kiện a-tu-la trú dưới biển sâu bốn vạn hai nghìn do-tuần, bắc núi Tu-di; bốn, Hoa Man a-tu-la trú dưới biển sâu sáu vạn ba nghìn do-tuần, phía bắc núi Tu-di; năm, Tì-ma-chất-đa a-tu-la trú dưới đáy biển sâu tám vạn bốn nghìn do-tuần, phía bắc núi Tu-di”.
về mẹ của Tì-ma-chất-đa, theo kinh Trường A-hàm, lúc kiếp mới thành, trời Quang Âm vào biển tắm gội, tinh chất của nước nhập thân, sau đó sinh ra một quả trứng. Trải qua tám nghìn năm, trứng nở ra một cô gái, thân như núi Tu-di, có chín trăm chín mươi chín đầu, một nghìn con mắt, chín trăm chín mươi chín miệng, mỗi miệng có bốn răng nanh phóng ra lửa, tuôn sấm sét, lại có hai mươi bốn chân, chín trăm chín mươi chín tay. Khi thân nữ này vui chơi trên mặt biển lại bị tinh chất của nước nhập thân, về sau sinh ra một quả trứng thịt. Trải qua tám nghìn năm trứng thịt này sinh ra Tì-ma-chất-đa chín đầu, nghìn mắt, chín trăm chín mươi chín tay, tám chân, miệng thường phun nước. Tì-ma-chất-đa cưới càn-thát-bà nữ ở Hương sơn sinh ra Xá-chi La-hầu. Xá-chi về sau là thiên hậu của Đế Thích. La-hầu a-tu-la cũng gọi là Chướng Nhật. Bởi do ngày xưa, khi tiền quân của Đế Thích bắn ánh sáng mặt trời vào mắt các a-tu-la, khiến họ không thấy thiên chúng, vị a-tu-la này liền dùng bàn tay che chắn, nên gọi là Chướng Nhật. Lại nữa, Chướng Nhật có uy lực lớn, nên hay đánh nhau với thiên chúng.
Luận Tân Bà-sa ghi:
Hỏi: Các a-tố-lạc khi lui quân, đã trụ tại nơi nào?
Đáp: Có thuyết cho rằng trong lòng núi Diệu Cao có một nơi rỗng, hình dáng như cái bát báu úp, trong đó có một tòa thành, đây chính là nơi các a-tu-la trú ngụ.
Hỏi: Như vậy, vì sao kinh nói nói vùng biển mà a-tu-la cư trú đồng một vị mặn?
Đáp: Đó là nơi của các chúng a-tu-la thuộc hạ. còn a-tu-la vương thì trụ trong núi kia. Có thuyết cho rằng, trên Kim luân trong biển nước mặn có một đài bằng vàng, cao rộng mỗi chiều đều năm trăm du-thiện-na, trên đài có một tòa thành là nơi a-tu-la cư trú. A-tu-la vương có bốn khu vườn: Khánh Duyệt, Hoan Hỉ, Cực Hỉ, Khả Ái; như Đế Thích có cây Ba-lợi-dạ-đát-la, a-tu-la vương cũng có cây để an trú như thế.
Hỏi: Thân hình a-tu-la như thế nào? Dùng ngôn ngữ gì? Thuộc cõi nào?
Đáp: Thân a-tu-la thẳng đứng, dùng ngôn ngữ Trung Thiên trúc; có thuyết cho a-tu-la thuộc cõi trời, cũng có thuyết cho là thuộc cõi quỉ.
Kinh Khởi thế ghi: “Cách mặt đông núi Tu-di hơn một nghìn do-tuần, dưới đáy biển lớn có cung điện của a-tu-la Tì-ma-chất-đa. Nơi đây ngang dọc đều tám vạn do-tuân, có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng có kết linh vàng bạc. Bên ngoài có bảy lóp cây đa-la, tất cả đều bằng bảy báu, trang nghiêm rực rỡ, không thể diễn tả. Trong thành có một tòa cung điện riêng tên là Thiết-ma-bà-thí, thành quách vây quanh, ngang dọc đều một vạn do-tuần, với bảy lớp tường vách bảy báu, dày năm mươi do-tuần. Vườn rừng hoa quả tốt tươi, ao nước trong mát, chim chóc hòa vang... Cách mặt nam của Tu-di sơn vương hơn một nghìn do-tuần, dưới đáy biển lớn có cung điện của a-tu-la Dũng Dược, ngang dọc đều tám vạn do-tuần. Cách mặt tây của Tu-di sơn vương hơn một nghìn do-tuần, dưới đáy biển lớn có cung điện của a-tu-la Xa-bà, ngang dọc đều tám vạn do-tuần. Cách mặt bắc của Tu-di sơn vương hơn một nghìn do-tuần, dưới đáy biển lớn có cung điện của a-tu-la La-hầu-la, ngang dọc đều tám vạn do-tuần. Tại thành Ma-bà-đế, nơi vị a-tu-la vương này trụ có một nơi dùng để hội họp gọi là Thất Đầu. Nơi đây ngang dọc đều tám vạn do-tuần, có bảy lớp tường vách, lan can bằng bảy báu; chung quanh gần tòa thành đều có các chủng tiểu a-tu-la cư trú”.
4.3.4. Nghiệp nhân
Kinh Nghiệp báo sai biệt có thuật đầy đủ mười nghiệp nhân cảm quả báo làm a-tu-la:
- Thân nghiệp tạo ác nhẹ
- Khẩu nghiệp tạo ác nhẹ
- Ý nghiệp tạo ác nhẹ
- Khởi tâm kiêu mạn
- Khởi tâm ngã mạn
- Khởi tâm tăng thượng mạn
- Khởi tâm đại mạn
- Khởi tà mạn
- Khởi mạn mạn
- Hồi hướng các căn lành đã tạo về đường a-tu-la”.
Kinh Chính pháp niệm có nói rộng về nghiệp nhân sai biệt của bốn loại a-tu-la; còn các kinh khác thì cho rằng do ba nghiệp nhân: Sân, mạn và nghi mà chịu quả báo sinh vào loài a-tu-la.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Sở dĩ sinh vào loài a-tu-la là do đời trước làm người tham lam. Người này sống gần bên sông, hằng ngày vượt sông lấy củi. Một hôm nước sông dâng cao, cuồn cuộn chảy xiết, người này nhiều lần bị nước cuốn trôi gần chết mới thoát được. Bấy giờ có một vị Bích-chi-phật đến nhà khất thực, người này vui vẻ cúng dường. Vị bích-chi-phật thụ thực xong, bay lên hư không đi mất. Người này thấy vậy liền phát nguyện: ‘Cầu cho đời sau, thân tôi cao lớn hơn tất cả, nước biển lớn không quá đầu gối’. Do nhân duyên nàỵ, đời sau người ấy được thân cao lớn, nước bốn biển không vượt quá đầu gối, đứng trong biển mà thân vút cao hơn núi Tu-di, tay vịn đỉnh núi nhìn xuống cõi trời Đao-lợi”.
4.3.5. Quyến thuộc
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Thứ nhất là a-tu-la La-hầu, vị này có bốn ngọc nữ được sinh ra từ ý niệm: Như Ảnh, Chư Hương, Diệu Lâm, Thắng Đức. Mỗi ngọc nữ có mười hai na-do-tha thị nữ làm quyến thuộc, tất cả đều vây quanh a-tu-la vương cùng nhau vui thú, mặc tình hưởng thụ niềm vui. Thứ hai là a-tu-la Dũng Kiện, uy thế hơn La-hầu. Thứ ba là Hoa Man, uy thế càng hơn Dũng Kiện. Thứ tư là Tì-ma-chất-đa, uy thế và quyến thuộc hơn gấp nhiều lần, không thể tính kể, các thần thuộc, thê thiếp, nô tì, bộc sử cũng nhiều vô lượng. Như vậy bốn loại a-tu-la sang hèn khác nhau, không thể tính đồng.
4.3.6. Y phục và thức ăn
Kinh Chính pháp niệm xứ ghi: “Áo mão, cân đai của a-tu-la đều tự nhiên mà có, tất cả đều bằng bảy báu, sáng sạch như chư thiên. Thức ăn thức uống theo ý niệm mà sinh, thơm ngon đủ vị như cõi trời”. Đại luận ghi: “Y phục của a-tu-la tuy tốt đẹp hơn loài người, nhưng khi ăn thì không bằng loài người; nghĩa là miếng sau cùng sẽ biến thành bùn đen. Cũng như long vương tuy ăn món ngon đủ vị, nhưng miếng cuối cùng, thức ăn tự nhiên biến thành cóc nhái”.
4.3.7. Chiến đấu
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thế Tôn dạy các tì-kheo:
- Chúng sinh có thân hình lớn, không loài nào hơn a-tu-luân vương. Thân a-tu-luân vương cao tám vạn bốn nghìn do-tuần, miệng rộng một nghìn do-tuần. Khi muốn chạm mặt trời, a-tu-la biến thân cao mười sáu vạn do-tuần, đến trước Nhật thiên, Nguyệt thiên. Hai vị trời này thấy vậy, trong lòng vô cùng sợ hãi, không an định được trụ xứ, vì sao? Vì thân a-tu-luân thật đáng sợ. Do sợ nên không phát ánh sáng, nhưng a-tu-luân không dám tiến đến bắt lấy mặt trời, mặt trăng, vì sao? Vì uy đức của Nhật thiên và Nguyệt thiên rất lớn, có đại thần lực, thọ mạng dài lâu, dung mạo đoan chính, thụ lạc vô tận, trụ được một kiếp. Lại nữa, bấy giờ chúng sinh thế gian tu phúc nhiều, nên Nhật thiên và Nguyệt thiên không bị a-tu-la quấy phả. Thế là a-tu-luân buồn rầu biến thân thoái lui”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “A-tu-la vương suy nghĩ: ‘Ta có uy lực lớn mà thiên vương Đao-lợi, Nhật thiên và Nguyệt thiên đi trên đầu ta, ta thề bắt Nhật-Nguyệt thiên về làm vòng đeo tai’. Nghĩ vậy, a-tu-la vương dần nổi cơn đại thịnh nộ, càng muốn đánh chư thiên. Thế là là a-tu-la vương lập tức mời hai a-tu-la vương khác như Xá-ma-lợi, Tì-ma-chất-đa và các đại thần trang bị vũ khí, chuẩn bị đánh chư thiên. Bấy giờ long vương Nan-đà và Bạt-nan-đà quấn thân chặt quanh núi Tu-di bày vòng, khiến núi non chấn động, giăng mây khắp nơi. Hai long vương dùng đuôi đập xuống biển lớn làm sóng dậy lên cao rồi dội xuống đỉnh Tu-di. Trời Đao-lợi nói: ‘A-tu-la muốn đánh nhau!’. Bấy giờ các loài rồng, quỉ thần đều cầm binh khí lần lượt đến giao đấu, nhưng đều bại trận bỏ chạy đến cung Tứ Thiên Vương. Tứ thiên vương chuẩn bị ngựa xe nghinh chiến, nhưng trước đó đã báo cho Đế Thích, Đế Thích báo lên đến trời Tha Hóa Tự Tại: Thế là vô số trời, rồng, quỉ thần cùng theo đến trước Đế Thích. Đế Thích ra lệnh:
- Nếu quân ta thắng, nên trói năm chỗ trên thân a-tu-la Tì-ma-chất-đa rồi dẫn về Thiện Pháp đường, ta muốn gặp hắn!
A-tu-la cũng nói:
- Nếu quân ta thắng, nên trói năm chỗ trên thân của Đế Thích rồi dẫn về Thất Diệp đường, ta muốn gặp hắn!
Hai bên đồng loạt xuất chiến, nhưng không ai bị tổn thương, chỉ do xúc chạm thân thể mà sinh đau đớn. Bấy giờ Đế Thích hiện thân có nghìn mất, cầm chày kim cang, trên đầu phun khói lửa. A-tu-la thấy vậv liền lui tan, chư thiên bắt trói Ti-ma-chất-đa dẫn về. Từ xa thấy Đế Thích, Ti-ma-chất-đa liến dùng lời ác mắng chửi. Đế Thích nói: ‘Ta muốn nói đạo lí với ngươi, đâu cần phải ác khẩu! Thọ mạng các ngươi là một nghìn năm, ít ai vượt qua số này, mà phần lớn chưa đến. Ngươi khởi tâm ác, thích đánh nhau, dù không phá giới, tu bố thí, nhưng do siểm khúc nên phải thụ thân này”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “A-tu-la vương Tì-ma-chất-đa-la thường theo cách ăn của quỉ, chi dùng bùn vả ngó sen. Đứa bé dần dần lớn lên, nó thấy chư thiên có các thiên nữ vây quanh, liền hỏi mẹ:
- Ai cũng có vợ, sao chỉ mình con không có?
Mẹ nó đáp:
- Con gái của thần Càn-thát-bà tại Hương sơn dung nhan tuyệt mĩ, trắng hơn bạch ngọc, từ các lỗ chân lông trên thân thường phát ra âm thanh vi diệu,rất hợp ý ta. Ta sẽ cưới cho con, đúng ý nguyện của con chăng?
A-tu-la đáp: ‘Hay lắm! Hay lắm! Xin mẹ đến đó cầu hôn cho con!’.
Thế là mẹ a-tu-la đến Hương sơn thưa với Nhạc thần:
- Con trai của tôi uy lực vô song, trong tứ thiên hạ không ai bằng. Có thể gả con gái ngài cho con trai tôi!’.
Cô gái nghe được, lòng rất vui thích xin được theo về. A-tu-la cưới con gái Nhạc thần làm vợ, không bao lâu thì vợ mang thai, trải qua tám vạn năm thì càn-thát-bà nữ sinh ra một bé gái có dung nhan tuyệt mĩ, trên trời hay dưới đất không ai sánh bằng, trên mặt có tám vạn bốn nghìn nét đẹp, bên trái, bên phải, phía trước, phía
sau cũng có tám vạn bốn nghìn nét đẹp. A-tu-la thấy vậy, trong lòng cảm thấy rất lạ, con gái mình như mặt trăng ngự giữa các vỉ sao, vô cùng kì đặc. Kiều-thi-ca nghe nói, liền xuống cầu hôn, a-tu-la vui mừng chấp thuận. Đế Thích đặt tên cho vợ là Duyệt Ý. Chư thiên thấy Duyêt Ý, đều khen là xinh đẹp chưa từng có, đến nỗi họ nhìn đông thì quên tây, nhìn nam thi quên bắc, các lỗ chân lông trên thân họ cũng đều có cảm giác an vui. Khi thấy Đế Thích đến vườn Hoan Hì vui chơi cùng các thiên nũ, Duyệt Ý khởi tâm ghen tị, sai năm dạ-xoa trở về thưa với cha là nay Đế Thíchkhông thương yêu mình nữa, chỉ cùng vui chơi với các thiên nữ. A-tu-la nghe vậy, liền nổi giận, điều bốn binh đến đánh Đế Thích. A-tu-la đứng trong biển lớn, tựa vào đỉnh Tu-di, đồng loạt đưa chín trăm chín mươi chín tay rung thành Thiện Kiến, lắc núi Tu-di, khiến nước bốn biển cùng lúc nổi sóng lớn. Đế Thích vô cùng kinh hãi, không biết chạy nơi đâu. Bấy giờ thần giữ cung điện tâu Đế Thích:
- Xin ngài chớ sợ hãi, các Đức Phật quá khứ có thuyết kinh Bát-nhã ba-la-mật. Nếu ngài tụng trì kinh này, quân chúng a-tu-la sẽ tự thoái lui.
Đế Thích nghe theo, ngồi tại Thiện Pháp đường, đốt các loại hương thơm, phát thệ nguyện: ‘Nếu Bát-nhã ba-la-mật-đa là thần chú có ánh sáng rực rỡ, là thần chú vô thượng, là thần chú tuyệt đỉnh không gì sánh, chân thật không hư dối, thì nay con tụng trì pháp này, sẽ thành Phật đạo, khiến quân chúng a-tu-la lui tan!’. Vừa phát nguyện xong, trong hư không bỗng nhiên xuất hiện bánh xe đao, hạ xuống, bay ngang dọc trong hàng ngũ quân chúng a-tu-la, cắt đứt tai mũi, tay chân của chúng, khiến máu chảy đỏ cả biển lớn. Thấy vậy a-tu-la vô cùng kinh hãi không biết chạy nơi đâu, bèn chui vào cọng sen trốn thoát”.
43.8. Cảm ứng
Tây quốc chí ghi: “Trong khe đá nơi ngọn núi tây nam nước Chiêm-ba, Trung Ấn Độ, có a-tu-la cưtrú. có người vào núi tu đạo, ngẫu nhiên vào hang này, thấy cung điện của a-tu-la vô cùng tráng lệ, không khác gì thiên cung. Nào là vườn tược, ao hồ, rừng cây, hoa trái tươi tốt sum suê, không thể kể hết. Các a-tu-la thấy có người muốn đến đây, liền hỏi: ‘Ông có thể ở lại nơi đây lâu chăng?’. Đáp: ‘Tôi muốn trở về quê’. A-tu-la biết người này không chịu ở lại, liền trao cho một quả đào, sau khi người này ăn xong, a-tu-la bảo: ‘Ồng hãy rời khỏi nơi này gấp, sợ rằng thân ông quá lớn hang này không thể dung chứa được!’. Vừa nghe nói, người này vội chạy đi, nhưng sức tăng trưởng quá nhanh, khiến thân hình vô cùng cao lớn, vì thế đầu đã ra khỏi, nhưng thân bị kẹttại miệng hang. Từ đó đến nay đã trải qua mấy trăm năm, chỉ thấy cái đầu như vò lớn. có người vào nủi thấy vậy đến hỏi nguyên do, người này thuật lại nhân duyên xưa, tất cả đều xót thương, nên nói: ‘Chúng tôi sẽ đục núi giúp thân ông thoát ra ngoài, việc này thế nào, ông muốn chăng?’. Đáp: ‘Đội ơn các ông!’.
Mọi người về tâu trình quốc vương, vua tôi bàn bạc và cuối cùng cho rằng: ‘Đây là người phi phàm, sức địch muôn người, nếu chúng ta đục núi giúp thoát thân, ví như sau này có tâm phản nghịch thì biết lấy ai kháng cự đây!’. Thế là vẫn để nguyên như cũ. Người bấy giờ gọi người này là tiên nhân Đại Đầu.
Sứ giả nhà Đường là Vương Huyền Sách ba lần đến đây, đã sờ đầu và nói chuyện với người này, ngôn từ rõ ràng rành mạch. Có lần lửa rừng lan đến, đốt đầu cháy đến, nhưng vẫn không chết.
Truyện Pháp sư Huyền Trang ghi: “Trong vùng núi phía đông và tây đô thành nước Đà-na-yết-trách-ca, Nam Ấn Độ đều có các ngôi chùa lớn. Trong chùa có luận sư Bà-tì-phệ-già, Trung Quốc dịch là Minh Biện đối trước tượng bồ-tát Quán Tự Tại nhịn ăn, chỉ uống nước suốt ba năm, phát nguyện cầu gặp được bồ-tát Di-lặc. Thế là bồ-tát Quán Tự Tại hiện sắc thân, bảo đến chỗ của thần Chấp Kim Cang trên vách núi lớn phía nam thành tụng chú Kim cang. Luận sư nghe lời dạy của bồ-tát, trải qua ba năm, thần Chấp Kim Cang hiện đến trao cho phương pháp bí mật và dặn dò:
- Bên trong vách núi này có cung điện của a-tố-lạc, luận sư y như pháp ấy hành trì, cầu thỉnh thì vách núi tự nhiên mở ra, luận sư hãy vào đó đợi Phật Di-lặc xuất thế. Khi Phật xuất thế ta sẽ báo cho luận sư biết!
Lại trải qua ba năm, cuối cùng luận sư trì chú vào hạt cải rồi đập vào vách núi, vách núi tự nhiên mở toang. Nghìn vạn người thấy vậy đều kinh hãi, luận sư an nhiên đưa chân bước vào, đồng thời cũng nhiều lần khuyên:
- Ta từ lâu chí thành cầu thỉnh được lưu thân đợi gặp Phật Di-lặc. Bậc thánh đã hiển linh giúp đời, nguyện lớn nay mới thành, các vị có thể cùng vào đây đợi gặp Phật, được chăng?
Tuỵ vậy cũng chỉ có sáu người cùng theo vào, còn lại đều cho rằng đó là hang rắn độc, nên sợ hãi không dám. Sau khi mọi người vào, vách đá khép lại như cũ”.
Truvện lại ghi: “Đời Đường, niên hiệu Trinh Quán mười ba (639), ngài Huyền Trang đang trú tại chùa Na-lan-đà, nước Ma-già-đà, Trung Ấn Độ. Một hôm có một cư sĩ đến thưa:
- Ngày trước có một người háo sắc, nghe trong kinh nói a-tu-la nam thì xấu xí, a-tu-la nữ thì rất xinh đẹp, lại nghe tại tòa núi kia có hang động a-tu-la, trong đó cung điện huy hoàng tráng lệ, không khác gì cung trời, nên muôn lấy a-tu-la là vợ. Thế là anh ta siêng năng trì chú suốt ba năm. Trọn ba năm ước nguyện thành tựu. Anh ta vôn là bạn thân của con, nên lúc sắp lên đường, anh ta gọi con đến làm bạn đồng hành. Con chấp thuận cùng đi, chú có linh nghiệm, nên đưa cả hai đến trước cửa cung. Nơi đây có người canh gác thật nghiêm ngặt, anh ta chí thành cầu xin người giữ cửa thông báo cho phu nhân. Người gác cửa liền thông báo và thuật lại đầy đủ ước nguyện của anh ta. Nữ a-tu-la nghe vậy, vui mừng hỏi: ‘Mấy người đến đây?’. Đáp: ‘Hai người!’. Nữ a-tu-la bảo: ‘Đưa người có tụng chú vào, còn đồng bạnthì đứng bên ngoài’. Người gác cửa thông báo rồi dẫn anh bạn kia vào. Vừa thấy anh ta được dẫn vào thì bất giác con đã thấy mình về đến nhà mình, đang đứng trước cửa phía nam. Từ đó đến nay, con không nhận được tin tức gì về anh ta. Cũng nhân đây, con phát tâm xuất gia tu đạo, nguyện tạo già-lam cúng dường Tam bảo.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/10/2015
PUCL QUYỂN 10 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
QUYỂN 10 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.9. NẠP PHI 5.9.1. Lời dẫn Pháp thân vô hình, tùy ứng mà hiện; cơ duyên vô số, nên dấu tích giáo hóa cũng chẳng phải một. Hoặc lìa dục mà thụ đạo...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 9 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 9 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.5. XUẤT THAI 5.5.1. Lời đẫn Kính nghĩ! Đức Phật Định Quang thụ kí vào đời tương lai có Phật hiệu là Năng Nhân. Thầm hợp lời huyền kí, nên bồ-tát...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 8 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 8 Quyển này cỏ một chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT 5.1. THẤT PHẬT 5.1.1. Lời dẫn Từng nghe: Chín cõi chẳng đồng, bốn loài sai khác, việc ác dễ nhiễm, nghiệp tuệ khó thành. Chúng sinh từ lâu trôi nổi nơi sôn...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 7 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực....
29/10/2015
PUCL QUYỂN 6 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 6 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.4. QUỈ THẦN 4.4.1. Lời dẫn Tính của quỉ thần chỉ thích việc yêu tà, ở chốn tối tăm mang nhiều tội lỗi. Có loài ở vách núi thẳm, hoặc có loài nương nơi...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 4 - CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ
QUYỂN 4 Quyển này có một chương Nhật nguyệt tinh tú. 3. CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ 3.1. LỜI DẪN Trước khi thế giới hình thành, Nhị nghi còn mờ mịt; sau khi chúng sinh trữ lương thực, tam quang mới rực sáng. Do đó cảm đến...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)
QUYỂN 3 Quyển này tiếp theo chương Tam giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt) 2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu,...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI
QUYỂN 2 Quyển này có một chương giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI 2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân,...
