Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)

19/10/2015

QUYỂN 3 Quyển này tiếp theo chương Tam giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt) 2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu,...

PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)
Phần 1

QUYỂN 3
Quyển này tiếp theo chương Tam giới.
2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)

2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu, đây là lượng sắc chất nhỏ nhất, chỉ có thiên nhãn, Bồ Tát và Luân vương mới nhìn thấy. Bảy hạt bụi trên mặt hồ A-nậu bằng một hạt bụi trên tấm đồng, bảy hạt bụi trên tấm đồng bằng một hạt bụi trên mặt nước, bảy hạt bụi trên mặt nước bằng một hạt bụi trên đầu cọng lông con thỏ, bảy hạt bụi trên đầu lông thỏ bằng một hạt bụi trên đầu lông dê, bảy hạt bụi trên đầu lông dê bằng một hạt bụi trên đầu lông trâu, bảy hạt bụi trên đầu lông trâu bằng một hạt bụi lăng xăng qua khe cửa. bảy hạt bụi lăng xăng qua khe cửa bằng một trứng rận, bảy trứng rận bằng một con rận. bảy con rận bằng một hạt lúa mạch lớn, bảy hạt lúa mạch lớn. Bằng một lóng tay, hai mươi bôn lóng tay bằng một trửu, bốn trửu là một cung, cách thôn xóm năm trăm cung là một câu-lô-xá, tám câu-lô-xá là một do-tuần Cho nên có bài kệ:
Bảy cực vi thành A-nậu
Bảy A-nậu thành bụi đồng
Bụi đầu lông thỏ, dê, trâu
Đều theo thứ tự gấp bảy”.
Trong luận dùng câu-lô-xá để định lượng thân các vị trời từ cõi Tứ Thiên Vương đến cõi A-ca-ni-trá, Trong đó thân chư thiên cõi Dục, theo luận Bà-sa, thân chư thiên cõi Tứ Thiên Vương cao một phần tư câu-lô-xá. Kinh Chính pháp niệm và luận Tì-đàm đều cho thân các vị trời cõi này đồng với bốn vị thiên vương, thân chư thiên cõi Tam Thập Tam cao nửa câu-lô-xá, thân Đế Thích cao một câu-lô-xá, thân trời Diêm-ma cao ba phần tư câu-lô-xá. Vì thời quá khứ Đế Thích chuyên tu nhân cung kính cho nên thân lượng cao hơn trời Diêm-ma. Thân trời Đâu-suất cao một câu-lô-xá, thân trời Hóa Lạc cao một cộng với một phần tư câu-lô-xá, thân trời Tha Hóa Tự Tại cao một câu-lô-xá rưỡi. 2.2.6.2. Thân lưọng chư thiên cõi Sắc Theo luận Tì-đàm, thân trời Phạm Chúng cao nửa do-diên, thân trời Phạm Phúc cao một do-diên, trời Đại Phạm cao một do-diên rưỡi, thân Quang thiên cao hai do-diên, thân trời Vô Lượng Quang cao bốn do-diên, thân trời Quang Âm cao tám do-diên, thân trời Thiểu Tịnh cao mười sáu do-diên, thân trời Vô Lượng Tịnh cao ba mươi hai do-diên, thân trời Biến Tịnh cao sáu mươi bốn do-diên, thân trời Phúc Khánh cao một trăm hai mươi lăm do-diên, thân trời Phúc Sinh cao hai trăm năm mươi do-diên, thân trời Quảng Quả và trời Vô Tưởng cao năm trăm do-diên, thân trời Vô Hi Vọng cao một nghìn do-diên, thân trời Vô Nhiệt cao hai nghìn do-diên, thân trời Thiện Kiến cao bốn nghìn do-diên, thân trời Thiện Hiện cao tám nghìn do-diên, thân trời sắc Cứu Cánh cao mười sáu nghìn do-diên.
Các vị trời cõi Vô sắc không có hình tướng, nên không đề cập đến. Nếu theo Đại thừa thì thân chư thiên cõi này cũng có sắc vi tế, nhưng các kinh luận không nói đến. 2.2.7. Y phục Hỏi: Y phục của chư thiên như thế nào?
Đáp: Như kinh nói chư thiên cõi Lục Dục đều đắp y trời, tự tại bay trên hư không, nhìn tựa như vải có đầy đủ màu sắc ánh sáng rực rỡ, tơ lụa thượng hạng thế gian cũng không thể sánh. Y phục của chư thiên cõi Sắc tuy gọi là y trời, nhưng giống như ánh sáng, cõi càng cao thì y phục càng tuyệt diệu không biết gọi tên gì.
Kinh Khởi thế ghi: “Thân trời Tứ Thiên Vương cao nửa do-tuần, y dài một do-tuần, rộng nửa do-tuần, nặng nửa lượng; trời Đế Thích cao một do-tuần, y dài hai do-tuần, rộng một do-tuần, nặng nửa lượng; trời Dạ-ma cao hai do-tuần, y dài bốn do-tuần, nặng một phần tám lượng; thân trời Đâu-suất-đà cao bốn do-tuần, y dài tám do-tuần, rộng bốn do-tuần, nặng một phần mười sáu lượng; thân trời Hóa Lạc cao tám do-tuần, y dài mười sáu do-tuần, rộng tám do-tuần, nặng một phần ba mươi hai lượng; thân trời Tha Hóa Tự Tại cao mười sáu do-tuần, y dài ba mươi hai do-tuần, rộng mười sáu do-tuần, nặng một phần sáu mươi bốn lượng; thân trời Ma-thân cao ba mươi hai do-tuần, y dài sáu mươi hai bốn do-tuần, rộng ba mươi hai do-tuần, nặng một phần trăm hai mươi tám lượng”.
Như vậy thân cao bao nhiêu, thì y phục cũng theo đó mà thích họp, không sai mảy may.
Kinh này còn ghi: “Y phục của chư thiên cõi Dục rất đẹp đẽ và trang nghiêm không thể diễn tả. Riêng chư thiên cõi Tha Hóa và Hóa Lạc tuỳ tâm ưa thích mà y phục lớn hoặc nhỏ, nặng hoặc nhẹ. Còn chư thiên cõi sắc không mặc y phục mà cũng như mặc, đầu chỉ có búi tóc, nhưng giống như mũ trời, không có thân tướng nam nữ”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Y của chư thiên cõi trời Đao-lợi nặng sáu thù, y của chư thiên cõi trời Dạ-ma nặng ba thù, y của chư thiên cõi trời Đâu-suất nặng một thù rưỡi, y của chư thiên cõi trời Hoả Lạc nặng một thù, y của chư thiên cõi trời Tha Hóa Tự Tại nặng nửa thù”.
Luận Thuận chính lí ghi: “Chư thiên cõi sắc lúc mới sinh, thân tướng đã hoàn hảo, như có đắp mặc y phục”.
Phần 2

2.2.8. Thọ lượng
2.2.8.1. Thọ lượng chư thiên cõi Dục
Luận A-tì-đàm ghi: “Năm mươi năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm trên cõi Tứ Thiên Vương, với số ngày tháng năm như thế, chư thiên cõi này thọ năm trăm năm. Chín trăm vạn năm ở nhân gian bằng một ngày một ngày một đêm ở địa ngục Đẳng Hoạt, với số ngày tháng năm như thế. chúng sinh trong địa ngục này thọ năm trăm năm. Một trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở cõi trời Ba Mươi Ba, với số ngày tháng năm như thế, chư thiên cõi này thọ một nghìn năm. Ba ức sáu trăm vạn năm ở nhân gian bằng một ngàỳ một đêm ở địa ngục Hắc Thắng, với số ngày tháng năm như thế. chúng sinh địa ngục này thọ một nghìn năm. Hai trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở cõi trời Diêm-ma, với số ngày tháng năm như thế. chư thiên cõi này thọ hai nghìn năm. Mười bốn ức bốn trăm vạn năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở địa ngục Đại Chúng Hợp, với số ngày tháng năm như thế, chúng sinh địa ngục này thọ hai nghìn năm
Bốn trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở cõi trời Đâu-suất, với số ngày tháng năm như thế, chư thiên cõi này thọ bốn nghìn năm. Năm mươi bảy ức sáu trăm vạn năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở địa ngục Hô, với số ngày tháng năm như thế, chúng sinh địa ngục này thọ bốn nghìn năm. Tám trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở cõi trời Hóa Lạc, với số ngày tháng năm như thế, chư thiên cõi này thọ tám nghìn năm. Hai trăm ba mươi ức năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở địa ngục Đại Hô, với số ngày tháng năm như thế, chúng sinh địa ngục này thọ tám nghìn năm. Một nghìn sáu trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại, với số ngày tháng năm như thế, chư thiên cõi này thọ một vạn sáu nghìn năm. Chín trăm hai mươi mốt ức sáu trăm vạn năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở đại địa ngục Nhiệt, với số ngày tháng năm như thế, chúng sinh địa ngục này thọ một vạn sáu nghìn năm. Chúng sinh ở đại địa ngục Nhiệt thọ nửa kiếp thì chúng sinh trong địa ngục Vô Trạch thọ một kiếp.
Loài súc sinh có thọ mạng dài lâu nhất cũng chỉ một kiếp, như trong luận Địa trì nói loài rồng, ngạ quỉ cực trường thọ là năm trăm năm.
2.2.8.2. Thọ mạng chư thiên cõi sắc
Thọ mạng chư thiên cõi này rất dài lâu, nên phải dùng kiếp số để tính, như chư thiên cõi Phạm Chúng thọ nửa kiếp, chư thiên cõi Phạm Phú-lâu thọ một kiếp, chư thiên cõi Đại Phạm thọ một kiếp rưỡi, chư thiên cõi Thiểu Quang thọ bốn kiếp, chư thiên cõi Quang Âm thọ tám kiếp, chư thiên cõi Thiểu Tinh thọ mười sáu kiếp, chư thiên cõi Vô Lượng Tịnh thọ ba mươi hai kiếp, chư thiên cõi Biến Tịnh tho sáu mươi bốn kiếp, chư thiên cõi Phúc Ái thọ môt trăm hai mươi lăm kiếp, chư thiên cõi Phúc Quang thọ hai trăm năm mươi kiếp, chư thiên cõi Quảng Quả và Vô Tưởng thọ năm trăm kiếp, chư thiên cõi Vô Hi Vọng thọ một nghìn kiêp, chư thiên cõi Vô Nhiệt thọ hai nghìn kiếp, chư thiên cõi Thiện Kiến thọ bốn nghìn kiếp, chư thiên cõi Thiện Hiện tho tám nghìn kiếp, chư thiên cõi sắc Cứu Cánh thọ mười sáu nghìn kiếp.
2.2.8.3. Thọ mạng chư thiên cõi Vô sắc
Trong đây chư thiên cõi Không Vô Biên thọ hai vạn kiếp, Thức Vô Biên thọ bốn vạn kiếp, Vô Sở Hữu thọ sáu vạn kiếp, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng thọ tám vạn kiếp.
Chúng sinh trong ba cõi đều có chết yểu, trừ chúng sinh cõi uất-đan-việt, chư thiên cõi Đâu-suất, bồ-tát thân cuối cùng và trời Vô Tưởng đều có thọ mạng nhất định, không chết yểu. Luận Thuận chính lí cũng đồng thuyết này, nhưng cho chúng sinh cõi Bắc uất-đan-việt có phúc lực mạnh nhất trong loài người, các phàm phu độn căn cũng hưởng được nhiều niềm vui, không phạm lỗi chấp trước, sau khi chết nhất định sẽ sinh vào các cõi trên. Còn những việc khác thì như trước đã nói.
2.2.8.4. Giải nghi
Hỏi: Khi kiếp hỏa nổi lên, thì trời Sơ Thiền cũng bị đốt cháy hết, vì sao luận lại nói Đại Phạm thiên vương thọ một kiếp rưỡi?
Đáp: đây là nói sáu mươi tiểu kiếp hợp thành một kiếp rưỡi, chứ không nói theo đại kiếp. Nêu nói theo đại kiếp thủy, hỏa, phong thì một kiếp gồm tám mươi tiểu kiếp, trong một tiểu kiếp lại có hai mươi tiểu kiếp khác, như vậy thì không trái với thọ mạng một kiếp rưỡi. Vì sao biết? Vì luận Câu-xá nói là kiếp biệt, luận Lập thế A-tì-đàm nói là tiểu kiếp, luận Tân Câu-xá, Tân Bà-sa thì gọi là trung kiếp. Tuy ba tên nhưng cũng chỉ một thể, đồng một lượng thời gian mà thôi. Kinh A-hàm cho rằng khoảng thời gian từ lúc con người thọ tám vạn bốn nghìn tuổi, một trăm năm giảm một tuổi, đến khi còn mười tuổi, lại từ mười tuổi, một trăm năm tăng một tuổi cho đến tám vạn bốn nghìn tuổi là một trung kiếp. Luận Câu-xá thì cho rằng trời đất trải qua một chu kì tam tai mới là một đại kiếp. Mỗi một tai kiếp thủy, hỏa, phong phải trải qua tám mươi trung kiếp; như một trung kiếp hoại, một trung kiếp thành, mười chín trung kiếp chúng sinh thứ tự trụ, hai mươi trung kiếp chính trụ, mười chín trung kiếp thứ tự hoại rồi không, thì trong một trung kiếp này, hễ gặp bất kì một kiếp thủy, hỏa, phong nào cũng hoại khí thế gian; và trong mười chín trung kiếp, gặp bất cứ kiếp đói khát, dịch bệnh, đao binh nào cũng hoại chúng sinh thế gian. Vì nghĩa này, luận A-tì-đàm nói: "Tận cùng kiếp trụ ở nơi này, cũng là khởi đầu cho kiếp không ở nơi này. Trụ xứ cuối cùng của chúng sinh là địa ngục A-tì, cõi thấp nhất của thế gian. Cuối cùng của kiếp không ở nơi này, cũng là khởi đầu cho chúng sinh trụ; nhưng việc này không nhất định, nếu gặp kiếp hỏa thì tại cõi trời Sơ Thiền, nếu gặp kiếp thủy thì tại Nhị Thiền, nếu gặp kiếp phong thì tại Tam Thiền. Như vậy một đại kiếp gom sáu mươi trung kiếp và hai mươi kiếp biệt cùa kiếp không, tổng cộng là tám mươi kiếp.
Ở đây nói trời Phạm Chúng cõi Sơ Thiền thọ nửa kiếp, đó là nói nửa kiếp gồm hai mươi trung kiếp của một biệt kiếp; trời Phạm Phụ thọ một kiếp, tức là nói một biệt kiếp gồm bốn mươi trung kiếp; trời Đại Phạm thọ một kiếp rưỡi, tức nói một biệt kiếp rưỡi gồm sáu mươi trung kiếp. Sơ Thiền như vậy, còn Nhị Thiền trở lên thì căn cứ đại kiếp tam tai để định tuổi thọ chư thiên, chứ không căn cứ theo trung kiếp.
Trong Nhị Thiền, chư thiên tầng trời thứ nhất là Thiểu Quang thọ hai kiếp, chư thiên tầng trời thứ hai là Vô Lượng Quang thọ bốn kiếp, chư thiên tầng trời thứ ba là Quang Âm thọ tám kiếp. Nếu nói thủy tai ngập đến Nhị Thiền, thì trời Quang Âm đâu thể thọ tám đại kiêp? Nên biết, sau bảy trận hỏa tai, mới khởi một trận thủy tai ngập đến Nhị Thiền, cho nên thọ mạng của chư thiên cõi Quang Âm có thê thọ đến tám đại kiếp.
Trong Tam Thiền, chư thiên tầng trời thứ nhất là Thiêu Tịnh thọ mười sáu kiếp, chư thiên tầng trời thứ hai là Vô Lượng Tịnh thọ ba mươi hai kiếp, chư thiên tầng trời thử ba là Biến Tịnh thọ sáu mươi bốn kiếp. Nếu nói phong tai nổi lên phá tan cõi Tam Thiền, thì trời Biến Tịnh đâu thể thọ sáu mươi bốn kiếp? Nên biết trải qua sáu mươi ba chu kì thủy và hỏa tai mới nổi một trận phong tai. Cho nên trời Biến Tịnh có thọ mạng sáu mươi bốn kiếp. Làm sao biết? Trong luận A-tì đàm nói rằng bảy lần hỏa tai mới có một lần thủy tai, bốn mươi chín lần hỏa tai mới cỏ bảy lần phong tai, tổng cộng là năm mươi sáu kiếp. Sau năm mươi sáu kiếp này, lại có bảy kiếp hỏa khởi lên rồi mới đến phong tai phá hoại trời Tam Thiền. Tồng cộng là sáu mươi bốn kiếp. Luận Tì-đàm có bài kệ:
Trải qua bảy hỏa tai
Mới cỏ một thủy tai
Bốn chín hỏa, bảy thủy
Thêm bảy hòa, đến phong.
Hòi: Trong bốn tầng trời cõi Vô sắc, thọ mạng chư thiên Thức Vô Biên gấp đôi cõi dưới là Không Vô Biên, nhưng vì sao hai cõi Vô Sở Hữu và Phi Tưởng không gấp đôi cõi dưới?
Đáp: Trong luận Bà-sa nêu ra thuyết của ba luận sư giải thích điều này:
Một vị cho rằng hai cõi Không và Thức, có hạnh vô lượng và các hạnh không vô lượng, tất cả đều xả bỏ các hành Nhất thiết nhập...vì thế có thọ mạng gấp đôi. Như Không Vô Biên nhờ có hạnh vô lượng, nên được thọ mạng một vạn kiếp, có hạnh không vô lượng nên thọ thêm một vạn kiếp, thành hai vạn kiếp. Thức xứ có hạnh vô lượng nên được thọ mạng hai vạn kiếp, lại có hạnh không vô lượng nên thọ thêm hai vạn kiếp, thành bốn vạn kiếp. Hai cõi trên không có hạnh vô lượng nên không được gấp đôi. Một vị khác cho rằng Không xứ và Thức xứ có hai hạnh định tuệ, nên thọ mạng gấp đôi. Trong đó Không xứ, vì có định nên được thọ một vạn kiếp, có tuệ nên thêm một vạn kiếp, thành hai vạn kiêp. Thức xứ có định nên được thọ hai vạn kiếp, có tuệ nên thêm hai vạn kiếp, thành bốn vạn kiếp. Hai cõi trên chỉ có định mà không có tuệ, nên thọ mạng không gấp đôi. Luận sư thứ ba cho rằng thọ mạng của chư thiên bốn cõi Vô sắc có tuổi thọ nhất định là hai vạn kiếp, nhưng do có vị li dục, có vị không li dục, nên thọ mạng có tăng và không tăng. Trong Không xứ, các vị trời chưa li dục của tự địa, nên chỉ thọ hai vạn kiếp. Tuổi thọ nhất định của chư thiên Thức xứ là hai vạn kiếp, nhưng do lìa dục của Không xứ, nên được thêm hai vạn kiếp, thành bôn vạn kiếp. Tuổi thọ nhất định của Vô Sở Hữu xử cũng chỉ hai vạn kiếp, nhưng do đã lìa dục của Không và Thức xứ, nên tăng thêm bốn vạn kiêp, tổng cộng thành sáu vạn kiếp. Tuổi thọ nhất định của Phi Tưởng xứ cũng chỉ hai vạn kiêp, nhưng do đã lìa dục của Không, Thức và Vô Sở Hữu xứ, nên tăng thêm sáu vạn kiêp, tông cộng thành tám vạn kiêp.

Phần 3

2,2.9. Trụ xứ
Hỏi: Trụ xứ của chư thiên như thế nào?
Đáp: Theo luận Tát-bà-đa, chư thiên có ba mươi hai trụ xứ, nhưng chỉ có hai mươi tám tầng. Vì chư thiên cõi Tứ Không đã lìa báo thân có hình sắc, nên không có trụ xứ riêng biệt, mà trú ở khắp hai cõi Dục và Sắc. Hễ chúng sinh nào ở hai cõi Dục và sắc thành tựu nghiệp Tứ không vô sắc, tùy theo nơi mạng chung, liền thụ báo Vô sắc giới, không có trụ xứ riêng biệt, không giống như Đại thừa nói chúng sinh Phi Tưởng cũng có sắc thân. Hai mươi tám tầng:
- Từ chân núi Tu-di trên mặt đất, lên cao một vạn do-tuần, vòng quanh núi rộng một vạn do-tuần là trụ xứ của trời Kiên Thủ.
- Từ trụ xứ của trời Kiên Thủ lên cao hai vạn do-tuần, vòng quanh núi tám nghìn do-tuần là trụ xứ của trời Trì Hoa Man.
- Từ trụ xứ của trời Trì Hoa Man lên cao ba vạn do-tuần, vòng quanh núi bốn nghìn do-tuần là trụ xứ của trời Thường Phóng Dật.
- Từ trụ xứ của trời Thường Phóng Dật lên cao bốn vạn do-tuần, vòng quanh núi bốn nghìn do-tuần là trụ xứ của trời Nhật Nguyệt Tinh Tú.
- Từ trụ xứ của trời Nhật Nguyệt Tinh Tú lên cao năm vạn do-tuần, vòng quanh núi bốn nghìn do-tuân là trụ xứ của trời Tứ Thiên Vương.
- Từ trụ xứ của trời Tứ Thiên Vương lên cao bốn vạn do-tuần thì đến đỉnh núi Tu-di. Nơi đây ngang dọc bốn vạn do-tuần, có thành Thiện Kiến ngang dọc một vạn do-tuần, mỗi mặt có một nghìn cửa. Đây là trụ xứ của trời Ba Mươi Ba.
- Từ đây lên cao trong hư không bốn vạn do-tuần, có một nơi như tầng mây bằng bảy báu, đó là trụ xứ của trời Diêm-ma.
- Từ đây lên cao năm vạn do-tuần, có một nơi như tầng mây bằng bảy báu, là trụ xứ của trời Đâu-suất-đà.
- Từ đây lên cao sáu vạn do-tuần, có một nơi như tầng mây bằng bảy báu, là trụ xứ của trời Hóa Lạc.
- Từ đây lên cao bảy vạn do-tuần, có một nơi như tầng mây bằng bảy báu, là trụ xứ của trời Hóa Tự Tại.
Như thế cho đến trời sắc Cửu Cánh, đều có mặt đất giống mây bằng bảy báu, khoảng cách mỗi mỗi theo thứ tự tăng lên như thế, không cần phải nêu lên.
Luận Thuận chính lí ghi: “Trụ xứ của trời Ba Mươi Ba nằm trên đỉnh núi Tô-mê-lô, mỗi cạnh dài hai mươi nghìn do-tuần, như vậy chu vi tám vạn do-tuần”. Các luận sư khác cho rằng mỗi cạnh trên đỉnh dài tám mươi nghìn do-tuần, tương đương với các cạnh đáy. Bốn góc trên đỉnh có bốn ngọn, mỗi ngọn cao rộng đều năm trăm do-tuần, trên đó có dược-xoa Kim Cang Thủ canh giữ bảo vệ chư thiên. Trên đinh núi này có cung Thiện Kiến, mỗi cạnh dài hai nghìn năm trăm du-thiện-na, chu vi là một vạn du-thiện-na, cao một du-thiện-na, mặt đất bằng phẳng do vàng ròng tạo thành, có trang hoàng một trăm lẻ một báu vật. Tuy vậy, khi chạm vào mặt đất thì có cảm giác mềm mại, như tơ trời đâu-la. Khi đi trên đó, thì mặt đất cao thấp tùy theo bước chân. Đây là đô thành lớn của trời Đế Thích. Tòa thành này có một nghìn cửa được trang hoàng rực rỡ, mỗi cửa có năm trăm dược-xoa mặc áo xanh, dũng mãnh, uy nghiêm, cao một du-thiện-na, mang giáp cầm vũ khí canh giữ. Trong thành có điện Thù Thắng, được trang hoàng nhiều báu vật, rực rỡ sáng soi cả thiên cung. Mỗi mặt của điện dài hai trăm năm mươi du-thiện-na, chu vi một nghìn du-thiện-na, là nơi đáng ưa thích trong thành. Bốn mặt ngoài thành có bốn khu vườn xinh đẹp, là nơi chư thiên dạo chơi. Một, vườn Chúng Xa, tùy phúc lực của mỗi trời mà một chiếc xe thích hợp hiện ra. Hai, vườn Thô Ác, khi chư thiên muốn đánh nhau, hễ cần vũ khí gì thì từ vườn này hiện ra các loại vũ khí ấy. Ba, vườn Tạp Lâm, chư thiên vào đây mà sở nguyện giống nhau, thì đồng sinh niềm vui thù thắng. Bốn, vườn Hỉ Lâm, những dục trần tốt đẹp nhất đều hiện đến, người xem không biết chán. Hình dáng bốn khu vườn này ngay ngắn vuông vức, chu vi đều một nghìn du-thiện-na. Trong đó có hồ Như Ý, diện tích mặt hồ rộng năm mươi du-thiện-na, chứa nước tám đặc tính. Tùy tâm ưa thích mà trong bốn khu vườn này xuất hiện các loài chim, hoa, hương, cây cối xinh đẹp quí hiếm. Nghiệp quả khác nhau, thật không thê nghĩ bàn, không thể dùng phúc thế gian mà lượng định phúc đức của chư thiên. Góc tây nam bên ngoài thành Thiện Kiến có Thiện Pháp đường, là nơi tất cả chư thiên cõi Ba Mươi Ba nhóm họp, bàn luận các việc chế phục a-tu-la... việc đúng pháp hay không đúng pháp”.
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vì sao gọi nơi chư thiên nhóm họp là Thiện Pháp đường? Vì khi chư thiên cõi Ba Mươi Ba nhóm họp nơi đây, chỉ luận về những ngôn từ thuần thiện hay đẹp, ý nghĩa sâu xa vi diệu, rồi tư duy kĩ lưỡng, cân nhắc quán sát chu đáo, tất cả đều là chính lí chân thật, là những pháp yếu tôn quí của thế gian. Vì thế chư thiên gọi nơi đây là ngôi nhà Thiện Pháp.
- Vì sao gọi là vườn Thô Sáp (Ba-lâu-sa-ca)? Vì khi ba mươi ba vị thiên vương vào trong khu vườn này, ngồi trên hai phiến đá Hiền và Thiện Hiền, thì chỉ luận bàn về những ngôn từ trào phúng, bất thiện xấu ác của thế gian.
- Vì sao gọi là vườn Tạp sắc Xa? Vì chư thiên vào vườn này, ngồi trên hai phiến đá Tạp Sắc và Thiện Tạp Sắc thì chỉ luận bàn với nhau vê các loại tạp sắc thế gian.
- Vì sao gọi là vườn Tạp Loạn? Vì vào ngày mồng tám, mười bốn và rằm, các thiên nữ vào trong vườn này cùng dạo chơi, tha hồ đùa giỡn với các vị trời nam, không cách biệt nam nừ, tự do hường thụ tất cả thú vui năm dục cõi trời.
- Vì sao gọi là vườn Hoan Hỉ? Vì khi chu thiên vào khu vườn này, ngồi trên hai tảng đá Hoan Hỉ và Thiện Hoan Hi, tâm tự nhiên vui vẻ và vô cùng sung sướng.
- Vì sao gọi là cây Ba-lợi-dạ-đát-la-câu-tì-đà-la? Vì nơi cội cây này có vị trời Mạt-đa an trú, ngày đêm luôn dung hợp đầy đủ tính chất năm dục cõi trời để thụ hưởng khoái lạc”.

Phần 4

2.2.10. Trụ xứ rộng hẹp
Hỏi: Các cung trời này rộng hẹp thế nào?
Đáp: theo luận Bà-sa, bề mặt đỉnh núi Tu-di rộng tám vạn bốn nghìn do tuần, nhưng vùng bằng phảng có thể cư trú thì ngang dọc chỉ bốn vạn do-tuần. Trời Diêm-ma rộng gấp đôi, tức ngang dọc tám vạn do-tuần. Cứ theo thứ tự bồi thêm như thế, cho đến trời Tha Hóa Tự Tại thì ngang dọc sáu mươi bốn vạn do-tuần. Cõi Tứ Thiền thì rộng hẹp không nhất định, có hai thuyết: một, cõi Sơ Thiền rộng bằng một tứ thiên hạ, Nhị Thiền rộng bằng tiểu thiên thể giới, Tam Thiền bằng trung thiên thể giới, Tứ Thiền bằng đại thiên thế giới. Thuyết thứ hai cho rằng Sơ Thiền rộng bằng tiểu thiên thế giới, Nhị Thiền rộng bằng trung thiên thế giới, Tam Thiền bằng đại thiên thế giới, còn Tứ Thiền thì rộng vô biên, không thể xác định được giới hạn. Trong ba thuyết, phần lớn cho thuyết thứ hai là chính xác.
Hỏi: Nói Sơ Thiền rộng bằng tiểu thiên thế giới, cho đến Tứ Thiền rộng vô biên, vậy chưa biết trên cõi đại thiên cùng có Sơ Thiền Phạm thiền cho đến sẳc Cứu Cánh thiên, hay là trên mỗi mỗi Tứ thiên hạ có riêng Sơ Thiền Phạm thiên cho đến Sắc Cửu Cánh thiên?
Đáp: Theo kinh Lâu , trên mỗi tứ thiên hạ có riêng các cõi trời như vậy, nhưng không giồng nhau. Cho nên kinh ấy nói: “Trong tam thiền đại thiên thế giới có trăm ức tứ thiên hạ với núi Tu-di. biển lớn, Thiết Vi, trời Tứ Thiên Vương, cho đến nói có trăm ức trời sắc Cứu Cánh”. Theo văn kinh này thì sẽ rõ, không cần phải nghi ngờ . luận Thuật chính lí ghi “Tiểu nghĩa là thấp, là dưới để phân biệt với cõi cao và trên, như trâu đã bị cắt sừng. Tích tiểu thiên thành trung-đại thiên thì từ Thiểu Quang trở lên cũng không thuộc đại thiên”.
Hỏi: Nếu trên mỗi tứ thiên hạ đều có Sơ Thiền cho đến Sắc Cứu Cánh, thì các cõi mỗi mỗi riêng biệt mà không chướng ngại nhau sao?
Đáp: Tuy mỗi mỗi tứ thiên hạ đều có trăm ức cõi đồng trụ một nơi, nhưng không chướng ngại nhau, giống như nhiều tia ánh sáng tiếp nối, giao thoa, ánh chiếu lẫn nhau mà không ngăn ngại nhau. Các cõi ấy cũng như vậy, vì thuộc sắc vi tế. Cho nên kinh ghi: “Chư thiên cõi sắc xuống nghe pháp, sáu mươi vị trời cùng ngồi trên đầu mũi kim mà không chật, không chướng ngại nhau”. Căn cử theo lời kinh này, thì đâu có gì nghi ngờ.
2.2.11. Trang hoàng trụ xứ
Luận Trí độ ghi: “Núi Tu-di cao ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, do bốn báu tạo thành. Trong đó, mặt đông là vàng ròng, mặt tây là bạch ngân, mặt nam là lưu li, mặt bắc là pha lê. Bốn mặt ở lưng chừng Tu-di có bốn núi Du-càn-đà đều cao bốn vạn hai nghìn do-tuần, mỗi thiên vương trụ tại mỗi núi”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Mặt bắc núi Tu-di do vàng cõi trời tạo thành, tỏa ánh sáng chiếu soi phương bắc; mặt tây do thủy tinh cõi trời tạo thành, tỏa ánh sáng chiếu soi phương tây; mặt đông do bậc cõi trời tạo thành, tỏa ánh sáng chiếu soi phương đông; mặt nam do lưu li cõi trời tạo thành, tỏa ánh sáng chiếu soi phương nam”.
Luận Trí độ ghi: “Mỗi vị thiên vương trụ trong một thành; thành phía đông tên là Thượng Hiền, thành phía nam tên là Thiện Kiến, thành phía tây tên là Chu La, phía bắc có ba thành: Khả úy, Thiên Kính và Chúng Qui”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Bàn-già-xí bạch Phật:
- Một lúc nọ, chư thiên cõi Đao-lợi tập hợp tại Thiện Pháp đường để luận nghị. Bốn vị Thiên vương tùy theo phương của mình mà an tọa, thiên vương Đê-đâu-lại-tra ngồi ở phía đông, mặt hướng vê tây, Đế Thích ở phía trước; thiên vương Tì-lâu-lặc-xoa ngồi ở phía nam, mặt hướng về bắc, Đế Thích ở phía truớc; thiên vương Tì-lâu-ba-xoa ngồi ở phía tây, mặt hướng về đông, Đế Thích ở phía trước; thiên vương Tì-sa-môn ngồi ở phía bắc, mặt hướng về nam, Đế Thích ở phía trước. Khi bốn vị Thiên vương đã an tọa, con mới ngồi”.
Luận Lập thể A-tì-đàm ghi: “Tường vây quanh thành Thiện Kiến trên cung trời Đao-lợi có chu vi bốn vạn mười nghìn do-tuần, do vàng ròng tạo nên. Tường này cao mười do-tuần, tường thấp trên mặt thành cao nửa do-tuần, trùng môn bên ngoài cao một do-tuần rưỡi, cứ cách mười do-tuần thì có một cổng. Bốn mặt thành có một nghìn cổng lầu cũng do các báu tạo thành, được trang hoàng bằng châu ma-ni. Trung ương có một tòa thành bằng vàng, bằng một phần tư thành lớn, là nơi cư trú của Đế Thích. Cứ hai mươi do tuần thì có một cổng bốn mặt có bốn trăm chín mươi chín cổng, lại có một cổng nhỏ với năm trăm cánh cửa, đó là hình tướng của thành. Nơi đây cũng có bốn loại quân canh giữ bảo vệ, lại có hàng rào, hào rãnh, cây cối, ao nước, vườn rừng, cung điện, có ca múa, hát xướng, các trò vui chơi cùng các mòn báu trang hoàng khác, không thể kể hết. Chính giữa tòa thành cùa Đế Thích có lầu gác báu nhiều tằng tên là Bì-thiền-diên, dài năm trăm do tuần. nặng hai trăm năm mươi do-tuần, chu vi một nghìn năm trăm do-tuần. Bốn phía lầu gác này có lầu báu đuổi địch, mặt đông có hai mươi sáu tòa, ba mặt kia có hai mươi lăm tòa tổng cộng là một trăm lẻ một tòa . tòa lầu đuổi địch ngang dọc đều hai do tuần, chu vi tám do tuần; trên lầu này lại có thêm một đài quan sát cao nửa do tuần, mỗi tòa lầu đuổi địch có bảy thiên nữ, mỗi thiên nữ có bảy thị nữ, trong tòa lầu gác báu này có một vạn bảy trăm phòng, mỗi phòng có bảy thiên nữ, mỗi thiên nữ cũng có bảy thị nữ tất cả đều là chính phi của Đế Thích. Như vậy trong lầu đuổi địch bên ngoài và lầu gác bên trong có tất cả bốn ức chín vạn bốn nghìn chín trăm chính phi, ba mươi bốn ức sán vạn bốn nghìn ba trăm thị nữ. Cả hai cộng lại là ba mươi chín ức năm vạn chín nghìn hai trăm thiên nữ. Trung ương tầng cao nhất của tòa lầu Bì-thiền-diên có một ngôi thất hình tròn, rộng ba mươi do-tuần, chu vi chín mươi do-tuần, cao bốn mươi lăm do-tuần, toàn bằng lưu li và được trang hoàng nhiều các báu vật khác, là nơi cư ngụ của Đế Thích”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Trong cung của Đế Thích có ngôi đại sảnh Tì-xà-diên cao bảy tầng, mỗi tầng có bảy phòng, mỗi phòng có bảy vị Thiên hậu, mồi Thiên hậu có bảy thị nữ. Tôn giả Mục-kiền-liên dạo qua tiểu thế giới, không có nơi nào trang nghiêm và tráng lệ như vậy”.
Kinh Khởi thế ghi: “Cung điện chư thiên chạm trổ tinh xảo, trang hoàng lộng lẫy, chư thiên vui thú hưởng thụ các món dục, không thể nói hết. Nơi đây là nơi ờ của Đế Thích và Xá-chi, con gái a-tu-la vương. Hóa thân của Đế Thích thì ở với các phi khác, nhưng họ nghĩ Đế Thích chỉ ở với mình. Nhưng thật ra thân chân thật của Đế Thích thì ở chung với Xá-chi. Trong thành này, bốn phía đều có nhà cửa, đường sá, chợ búa, tất cả đều thẳng tắp. Tùy phúc lực của chư thiên mà tất cả nhà cửa trong thành do các báu tạo thành, ngay ngắn xinh đẹp. Trong thành có năm trăm con đường, giao cắt, hàng lối phân minh, giống như bàn cờ. Bốn cửa liên thông, đông tây thấy nhau, chợ búa hàng quán bày biện rất nhiều hàng hóa quí báu. Trên cõi trời này có bảy khu chợ: chợ bán lúa gạo, chợ y phục, chợ bán hương, chợ bán thức ăn thức uống, chợ bán vòng hoa, chợ nghề nghiệp, chợ dâm nữ. Nơi nơi đều có quan quản lí chợ. Các vị trời nam nữ thường đến đây mua bán, trả giá mắc rẻ, mong được thêm bớt cân đong đo đếm; đầy đủ cách thức mua bán như ngôi chợ thế gian. Tuy vậy, các vị trời chỉ lấy đó làm vui, không nhận không trao, không có tâm ngã sỡ hữu, nếu thích hợp thì tùy ý lấy, nếu không thích hợp thì nói: “Vật này rất quí giá, tôi không dùng”. Đường sá trong chợ sạch sẽ, sáng bóng thật đáng ưa thích, nơi nơi trên đường đều có trang trí báu vật, treo vải trời, dựng cờ xí, tiếng nhạc luôn vang vọng bên tai, không bao giờ dứt. Lại có tiếng nói: “Mời đến! Mời đến! Muốn ăn, muốn uống, tôi sẽ cúng dường!”.
Trong thành Thiện Kiến của Đế Thích cũng phân châu, quận, huyện, thôn phân bố khắp nơi. Bên ngoài cửa bắc, cách thành này hai mươi do-tuần là vườn Thiện Hỉ. Chu vi vườn một nghìn do-tuần, trong đó có hồ Hoan Hỉ hình vuông, mỗi cạnh một trăm do-tuần, sâu cũng như vậy. Trong đó có nước cõi trời, đáy và bờ hồ được lát và xây bằng các loại báu vật. Ngoài cửa đông của thành có vườn Chúng Xa, trong đó có hồ Chất-đa-la. Ngoài cửa nam của thành có vườn Ác Khẩu với hồ cùng tên. Ngoài cửa tây của thành có vườn Tạp Viên và hồ cùng tên. Chu vi vườn và hồ cũng đồng như ở cửa bắc, nơi nơi trong vườn đều có hoa quả tốt tươi, chim chóc bay lượn, rừng cây xanh tốt, trang nghiêm tuyệt hảo, không thể diễn tả”.
2.2.12. Tâu trình
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Bấy giờ Đế Thích dẫn thiên chúng đến vườn dạo chơi rồi đến Thiện Pháp đường, chư thiên theo Thiên Đế vào vườn. Cạnh cây trụ trung tâm của Pháp đường có tòa su tử, Đế Thích thăng tòa, ba mươi hai vị thiên vương phân chia ngồi hai bên trái phải, các vị trời khác cũng ngồi theo thứ tự chức vị cao thấp của mình. Hai vị thái tử của Đế Thích là Chiên-đàn và Tu-tì-la cũng là hai đại tướng quân của trời Đao-lợi ngồi hai bên trái phải của ba mươi ba vị thiên vương. Lúc ấy thiên vương Đề-đầu-lại-tra cùng quan thuộc và quân chúng ngồi tại cửa đông, cung kính mời chư thiên vào ngồi; thiên vương Tì-lưu-lặc-xoa cùng quan thuộc và quân chúng ngồi tại cửa nam, cung kính mời chư thiên vào ngồi; thiên vương Tì-lưu-bát-xoa ngồi tại cửa tây; thiên vương Tì-sa-môn ngồi tại cửa bẳc cũng giống như vậỵ. Tại Thiện Pháp đường này, bốn vị thiên vương tấu trình những việc thiện ác thế gian lên Đế Thích và chư thiên cõi Đao-lợi.
Thế Tôn nói vào ngày mười bốn, mười lăm mỗi tháng, bốn vị thiên vương đi khắp thế gian xem xét bao nhiêu người thụ trì bát quan trai, bao nhiêu người bố thí, bao nhiêu người tu phúc đức, bao nhiêu người cung kính cha mẹ, sa-môn, bà-la-môn, tôn trưởng trong gia đình. Nếu tháng này không có nhiêu người thụ trì bát quan trai, bố thí, cung kính, bốn vị thiên vương đến Thiện Pháp đường tâu trình lại cho Để Thích biết. Đế Thích nghe điều này, trong lòng buồn bã và nói: ‘Đây chẳng phải là việc tốt, thế gian hành phi pháp, sẽ khiến cho tôn trưởng và quyến thuộc của chư thiên tổn giảm, bè đảng của a-tu-na sẽ tăng nhiều’. Nếu tháng nào có nhiều người thụ trì bát quan trai, bố thí, tu phúc, cung kính sa-môn, các bậc tôn trưởng, bốn vị thiên vương tâu trình Để Thích. Đế Thích vô cùng vui mừng, nói: ‘Việc này rất tốt, thế gian hành chính pháp, khiến cho quyến thuộc của chư thiên tăng nhiều, bè đảng a-tu-la giảm tổn”’.
Đức Phật thuyết kệ:
Đại thần của Tứ thiên
Mồng tám dạo thiên hạ
Tứ thiên vương, thái tử
Mười bốn xem thể gian
Ngày rằm, lúc tốt nhất
Tứ vương thích tiếng tăm
Đi khắp cõi thế gian
Tương ứng với đạo pháp
Nhiều người tu pháp thiện
Tu thí và Bồ Tát
Chế sân, hay tu đạo
Nam nữ tăng phúc đức
Thì chư thiên Đao Lợi
Biết tin rất vui mừng
Luôn khởi tâm tùy hỉ
Theo lời bốn vương nói
Quyến thuộc của chư thiên
Dần dần tăng thêm nhiều
Nguyện bè đảng Tu La
Ngày lại cảng tổn giảm
Luôn nhớ nghĩ chính giác
Phật, Pháp và thánh chúng
Chư thiên sống an lạc
Trong lòng luôn vui vẻ
Quả thế, xuất thế gian
Người đời đều đạt được
Khéo nương Phật, Pháp, Tăng
An trụ nơi Tam Bảo
Nay ta sẽ giảng nói
Tam hiền và thiện đạo
Nếu người cầu chân thật
Bỏ ác tu hạnh thiện
Có tài bảo như vậy
Từ ít gom thành nhiều
Các trời cõi đao lợi
Tu chút thiện sinh thiên
Đế thích và các trời
Đa văn, phúc đức lớn
Nhóm họp tại pháp đường
Và tại các nơi khác
Bốn thiên vương tâu trình
Những nam nữ hành thiện
Người thanh tịnh đáng ưa
Nhóm họp khắp cõi trời

Phần 5

2.2.13. Sức thần thông
Kinh Lâu thán ghi: “Khoảng giữa cõi Dục và Sắc có cung điện thiên ma. Thiên ma này lòng luôn đố kị, giống như cối đá mài mòn công đức. Cung điện này ngang dọc sáu nghìn do-tuần, có bảy lớp tường, cũng trang hoàng như cõi trời dưới. Chư thiên bảy tầng trời từ dưới đến đây có mười năng lực: Một, bay đến vô hạn; hai, bay đi vô hạn; ba, đi vô ngại; bốn, đến vô ngại; năm, thân không có da, gân mạch, máu thịt; sáu, không có các việc đại tiểu tiện bất tịnh; bảy, thân không mỏi mệt; tám, thiên nữ không sinh sản; chín, mắt không nháy; mười, tùy ý muốn thân màu xanh thì liền xanh, muốn vàng thì thành vàng... Lại có mười việc khác: một, bay đi vô tận; hai, trở về vô tận; ba, không trộm cắp; bốn, không nói đẹp xấu của thân; năm, không xâm hại nhau; sáu, răng bằng và đều; bảy, tóc màu tía xanh và bóng mượt, dài tám thước; tám, thân xanh thì tóc cùng xanh; chín, muốn thân trắng thì liền trắng; mười, muốn thân đen thì liền đen”.
Kinh Khởi thể ghi: “Tất cả các vị trời đều có mười năng lực: một, đến đi không giới hạn; hai, đến đi không ngăn ngại; ba, đi không nhanh không chậm: bốn. không có dấu chân; năm, thân không mỏi mệt; sáu, thân không có bóng; bảy, không có đại tiểu tiện: tám. không khạc nhổ; chín, thân sạch sẽ, kì diệu, không có da thịt, gân mạch, xương tủy, máu thịt: mười, tùy ý khiến thân cao thấp, lớn nhỏ, xanh vàng đỏ trắng, tất cả đều đẹp đẽ, đoan nghiêm, ai cũng yêu quí. Hơn nữa, thân trời cao lớn, rắn chắc, răng trắng, bằng đều và khít, tóc xanh ngay thẳng, không rối, mềm mượt và bóng. Thân có ánh sáng, có thần lục, bay dạo trong hư không, mắt nhìn không nháy, chuỗi báu tự nhiên trang sức trên thân, y phục không bao giờ bị nhiễm bẩn”.
Luận Thuận chính lí ghi: “Các trời Tứ Thiên Vương bay lên cõi Đao-lợi thấy chư thiên Ba Mươi Ba, nhưng chư thiên cõi Ba Mươi Ba bay lên không thể thày các trời Dạ-ma... Nhưng nếu các vị trời này có được thần thông từ định lực, hoặc nương theo tha lực thi có thể bay lên thấy các vị trời cõi trên. Nghĩa là chư thiên cõi dưới có thần thông, hoặc được các vị trên tiếp dẫn lên, rồi tùy chỗ thích hợp thì sẽ thấy được các vị trời ấy. Khi các vị trời cõi trên xuống cõi dưới nếu không hóa thành thân trời cõi dưới thì các vị trời cõi dưới không nhìn thấy, vì chẳng phải là cảnh giới của họ; như không cảm thấy có sự xúc chạm. Như vậy khi xuống cõi dưới, trời cõi trên phải hóa thân thì các trời cõi dưới mới nhìn thầy".
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Nếu không có thần thông và tha lực, người Diêm-phù-đề không thể thấy được sắc bên ngoài tường vách ngăn che. Người ba châu khác, nếu không nhờ tha lực cũng không thấy sắc bên ngoài tường vách ngăn che. Chu thiên cõi Dục nếu ở tại cõi của mình mà lìa thần thông và tha lực, không thể thấy được sắc bên ngoài tường vách ngăn che. Nếu lìa quán thì chỉ thấy các vật bên trong phạm vi núi Thiết Vi, không thể thấy sắc bên ngoài núi. Cũng vậy, chư thiên cõi trời Đại Phạn, nếu ở tại cõi cùa mình mà lìa thần thông và tha lực ắt không thể thấy được sắc bên ngoài tường vách ngàn che. Nêu lìa quán thì chỉ thấy các vât trong phạm vi một đại thiên thế giới”.
12.14. Ánh sáng của thân
Luận Trí độ ghi: “Do phúc báo mà thân các vị trời luôn có ánh sáng. Như các vị trời cõi Dục, do đời trước cúng dường đèn đuốc, minh châu cho nguôi trì giới, tu thiên thanh tịnh, nên nay thân luôn phát ánh sáng, không cần mặt trời mặt trăng chiếu soi. Các vị trời cõi Sắc do hành thiền định lìa dục, tu tập Hòa Quang tam-muội, nên thân luôn phát sáng. Ánh sáng này rực rỡ hơn cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng và ánh sáng quả báo của trời cõi Dục đã lìa dục. Tóm lại ánh sáng trên thân là do tâm thanh tịnh mà có. Thường quang của Phật chiếu sáng phạm vi một trượng. Ánh sáng của chư thiên, loại lớn nhất, tuy có thể phóng xa vô lượng do-tuần, nhưng khi đến gần ánh sáng một trượng của Đức Phật, thì không hiện được”.
Kinh ưu-bà-di tịnh hạnh ghi: “Như Lai có sáu loại ánh sáng: ánh sáng xanh, ánh sáng vàng, ánh sáng đỏ, ánh sáng trắng, ánh sáng hồng, ánh sáng tía. Ánh sáng chiếu soi rực rỡ”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Phật dạy các tì-kheo:
- Anh sáng đom đóm không bằng ánh sáng đèn, ánh sáng đèn không bằng ánh sáng đuốc, ánh sáng đuốc không bằng ánh sáng của đống lửa, ánh sáng của đổng lửa không bàng, ánh sáng của trời Tứ Thiên Vương. Ánh sáng từ cung điện, y phục và thân của trời Tứ Thiên Vương không bằng ánh sáng của trời Ba Mươi Ba, lần lượt cho đến ánh sáng của trời Sắc Cứu Cánh không bàng ánh sáng của trời Tự Tại, ánh sáng của trời Tự Tại không bằng ánh sáng của Đức Phật. Gom hết tất cả từ ánh sáng đom đóm cho đến ánh sáng của Phật cũng không bàng ánh sáng của khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Vì thế, này các tì-kheo! Muốn được ánh sáng, nên cầu ánh sáng khổ-tập-diệt-đạo.
- Thân con người có bảy màu: màu vàng ròng. màu lửa, màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu đen. Chư thiên và a-tu-la cũng có bảy màu như vậy”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Thân của nguời cõi Diêm-phù có nhiều màu khác nhau. Màu thân của người cõi Phất-ba-đề và Cù-da-di cũng giổng như người cõi Diêm-phù, chỉ trừ màu đen. Thần người cõi Ưất-đan-việt thì đều màu trắng. Thân trời Tứ Thiên Vương và các trời cõi Dục có bổn màu: tía xanh, đỏ, vàng và trắng. Vì sao? Vì lúc mới sinh, các trời này nếu thấy hoa màu tía xanh thì thân sẽ có màu tía xanh, nếu thấy các màu khác thì cũng như vậy”.
2.2.15. Mua bán-đổi chác
Kinh Khởi thế ghi: “Người Diêm-phù-đề dùng tiền bạc, châu báu, lúa gạo, vải vỏc, súc sinh để mua bán đổi chác. Người cõi Cù-đà-di thường dùng trâu dê, châu-ma-ni để mua bán đổi chác. Người Phất-ba-đề thường dùng tiền tài, vải lụa, ngũ cốc, chầu-ma-ni để mua bán đổi chác. Người uất-đan-việt không cò việc mua bán, tất cả các vật đều tự nhiên hiện đền theo ý muốn”. Chư thiên cõi Dục cũng có việc mua bán đổi chác, nhưng chi lấy đó làm vui, không giống thế gian, như đả nói ở trên.
2.2.16. Hôn phối và sinh con
Kinh Khởi thế ghi: “Ba châu thiên hạ đều có cưới gả, nhưng Ưất-đan-việt không có ngã và ngã sở, mỗi khi cành cây rủ xuống thì nam nữ kết hợp, chứ không có việc cưới gả. Loài rồng và chim cánh vàng cũng có cách thức cưới gả đại khái cũng như nhân gian. Chư thiên cõi Dục và Ma vương đều có việc này, như trước đã nói. Từ tầng trời này trở lên thì không có việc hôn nhân cưới gà, vì không phân biệt nam nữ.
Người trong bốn châu thiên hạ, khi hành dục thì hai căn giao tiếp, xuất chất bất tịnh. Loài rồng, chim cánh vàng, a-tu-la và chư thiên cõi Ba Mươi Ba khi hành dục cũng như thế, liền có cảm giác khoái lạc, nhưng chỉ xuất hơi gió, chứ không xuất chất bất tịnh. Chư thiên cõi Dạ-ma vừa nắm tay thì thành dục, chư thiên cõi Đâu-suất vừa nghĩ đến thì thành dục, chư thiên cõi Hóa Lạc nhìn chăm chú vào nhau liền thành dục, chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại nói chuyện với nhau liền thành dục, chư thiên cõi Ma-thân vừa nhìn nhau thì liền thành dục. Lủc ấy đều tất cả đều có cảm giác khoái lạc”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Khi chư thiên cõi Tứ Thiên Vương muốn có thiên nữ, nếu nhà thiên nữ chấp nhận thì liền đến rước về, lúc ấy hoặc là đổi chác hoặc là mua bán. Chư thiên cõi Dục cũng như vậy. Người bốn châu, chư thiên cõi Tứ Vương, Đao-lợi cần phải giao hợp mới thành dục; chư thiên cõi Dạ-ma ôm nhau liền thành dục; chư thiên cõi Đâu suất nắm tay nhau liên thành dục; chư thiên cõi Hoà Lạc cùng cười nhau liền thành dục; chư thiên cõi Tha Hóa nhìn nhau liền thành dục. Người châu Cù-đà-di thụ dục lạc nhiều gấp đôi người cõi Diêm-phù-đề. Như thế lần lượt đến chư thiên cõi Tha Hóa Tư Tại thụ dục lạc nhiều gấp đôi chư thiên cõi Hóa Lạc. Người bốn châu thiên hạ dùng các món ăn thô, nên có thai nhi dần lớn lên. Thiên nữ cõi Tứ Thiên Vương không dùng các thức ăn thô xấu, nên không có thai nhi dần lớn lên, cũng không có việc sinh con, không có việc ẵm bồng. Các vị trời nam nữ đều có thể sinh con tại đầu gối hoặc tại chỗ ngủ. Nếu đứa con được sinh tại đầu gối hay chỗ ngủ của thiên nữ, thiên nữ khởi ý niệm: ‘Đây là con ta!’, thiên nam cùng nói: ‘Đây là con ta!’. Thế thì vị tiểu thiên này chỉ có một cha một mẹ. Nếu sinh tại đầu gối hay chỗ ngủ của thiên nam, thì vị tiểu thiên này chi có một cha và tất cả thê thiếp của vị thiên nam này là mẹ. Cũng có vị tu hành đến chết mà không khởi dục. Chư thiên cõi Dục có vô lượng vô số lần hành dục trong một đời, nhưng cũng có người tu hành suốt đời vô dục. Tất cả người nữ được khoái lạc bởi sự xúc chạm, tất cả người nam được khoái lạc khi xuất chất bất tịnh, chư thiên cõi Dục khoái lạc khi xuất hơi gió”.
Luận Tán Bà-sa ghi: “Vào kiếp sơ, con người không có nam căn và nữ căn, hình tướng nam nữ giống nhau, về sau, khi con người ăn vị của đất mới hiện nam nữ căn, cũng từ đó có hình tướng nam nữ khác nhau. Chư thiên cõi sắc không dùng đoàn thực, nên không có hai căn này. Có thuyết cho rằng hai căn nam nữ chỉ có tác dụng ở cõi Dục, chứ ở cõi Săc không có. Vì thế chư thiên cõi sắc không có mũi và lưỡi. Có người hỏi: ‘Chư thiên cõi sắc là nam hay nừ? Đáp: ‘Đều là nam, tuy không có nam căn, nhưng đầy đủ các tướng trượng phu khác; vì đã lìa nhiễm, nên gọi là nam”.
2.2.17. Thức ăn-thức uống
Kinh Khởi thế ghi: “Tất cả chúng sinh nhờ bốn loại thức ăn mà giữ gìn được bốn đại: Một, đoàn thực và vi tế thực; hai xúc thực; ba, ý tư thực; bốn, thức thực. Như các loại cơm, đậu, thịt... mà người Diêm-phù-đề ăn là đoàn thực; chà xát, tắm rửa, thoa dầu... là vi tế thực. Người trong bốn thiên hạ và chư thiên cõi Dục đều dùng đoàn thực và vi tế thực. Chư thiên cõi Sắc và Vô sắc lấy thiền duyệt và pháp hỉ làm thức ăn, không có đoàn thực và vi tế thực.
Hỏi: Những loài chúng sinh nào lấy sự xúc chạm làm thức ăn?
Đáp: Những loài chúng sinh sinh từ trứng đều lấy sự xúc chạm làm thức ăn.
Hỏi: Những loài chúng sinh nào lấy ý tư làm thức ăn?
Đáp: Những loài chúng sinh nào nhờ ý tư thám tâm để nuôi lớn các căn, như cá, ba ba, rắn, cóc nhái, già-la-cù-đà... và những chúng sinh dùng ý thức tư duy để tăng trưởng các căn, kéo dài thọ mạng, đêu dùng ý tư làm thức án.
Hỏi: Những loài chúng sinh nào lấy thức làm thức ăn?
Đáp: Đó là các chúng sinh ở địa ngục và chư thiên cõi Thức Vô Biên xứ. Các chúng sinh này đêu nhờ thức giữ gìn thọ mạng.
Chư thiên cõi Dục đều dùng vị Tu-đà, buổi sáng ăn một nắm, buổi chiều ăn một nắm, thức ăn vừa vào bụng liền chuyển khắp thân. Vị Tu-đà này tự nhiên sinh tại các vườn rừng, ao hồ trên cõi trời. Chư thiên cõi sắc từ Sơ thiền đến Biến Tịnh thì dùng hỉ làm thức ăn. Chư thiên cõi Vô sắc thì dùng ý nghiệp làm thức ăn.
Hỏi: Thức ăn thức uống ấy như thế nào?
Đáp: Như kinh dạy: “Chư thiên cõi Dục tùy sang hèn mà được thức ăn ngon dở khác nhau. Nếu vị trời nào nhiều phúc, tự có đầy đủ thức ăn uống theo ý muốn, nào là cam lộ đầy li, thức ăn ngon tự đến. Vị trời thiếu phúc, tuy cũng có thức ăn uống, nhưng không vừa ý, và vì không no đủ, nên vẫn xuống cõi Diêm-phù kiếm thức ăn”. Kinh lại ghi: “Như chư thiên cùng dùng một loại bát báu để đựng cơm, nếu ai có phúc bậc thượng thì thấy cơm màu trắng, ai phúc bậc trung thì thấy cơm màu vàng, ai phúc bậc hạ thì thấy cơm màu đỏ”.
Chư thiên cõi sắc dùng thiền duyệt làm thức ăn. Nêu nói về bốn loại thức ăn thì cõi này chỉ có xúc thực.

Phần 6

2.2.18. Tùy tùng và vật cưỡi
Hỏi: về tùy tùng và vật cưỡi của chư thiên thì như thế nào?
Đáp: Chư thiên cõi Dục đều có hai loại này. Như có vua tôi, thê thiếp, sang hèn, trên dưới. Hèn thì hầu hạ sang, dưới thì phục vụ trên. Cõi Dục có các loại súc sinh, khi chư thiên muôn đi thì tùy tiện lấy cưỡi, hoặc là voi ngựa, hoặc khổng tước, hoặc là rồng...
Luận Bà-sa ghi: “Từ cõi Đao-lợi trở xuống thì có voi ngựa, vịt trời, nhạn, uyên ương, khổng tước, rồng. Từ cõi Diêm-ma trở lên không có loài bốn chân như voi ngựa... chỉ có loại chim Giáo phóng dật, chim Nói thật, chim Xích thủy... để quở trách chư thiên, răn tâm buông lung.
Hỏi: Nếu không có loài súc sinh bốn chân, vậy khi muốn đi đâu chư thiên cưỡi gì?
Đáp: Như luận đã nói, tuy không có voi ngựa, nhưng khi chư thiên cần, do phúc lực nên các con vật ấy tùy tâm hóa hiện, tùy ý sử dụng, xong việc thì cũng biến mất. Còn các loại chim Giáo phóng dật... có khắp các cõi trời Dục, thường làm thầy quở trách tâm buông lung của chư thiên, không chỉ từ cõi Diêm-ma trở lên mới có.
Hỏi: Chim là súc sinh, sao có thể làm thầy chư thiên?
Đáp: Theo kinh Chính pháp niệm, những chim này, đời trước khi còn làm người đã làm thầy giáo hóa khắp ba thiên hạ, còn chư thiên là những chúng sinh được giáo hóa. Do tin nhận lời dạy mà thực hành các hạnh bố thí, trì giới, nên các chủng sinh ấy được sinh về cõi trời. Còn vị thầy kia, vì danh lợi nên phá giới, tâm không chân thật, sau khi chết, do chút thiện căn giáo hóa, nên được sinh vào cõi trời làm chim. Do xưa làm thầy, nên nay cùng làm thầy chư thiên. Nếu thấy vị trời nào buông lung, chim liền đến quờ trách, vị trời ấy thấy nghe, trong lòng hổ thẹn, không còn buông lung.
2.2.19. Quyến thuộc
Hỏi: Chư thiên cỏ bao nhiêu quyến thuộc?
Đáp: Như luận giải thích thì chư thiên cõi sắc rất nhiều, không thể tính kể. Bởi chư thiên còi này chẳng phải nam chẳng phải nữ, không có việc hôn phối vợ chồng, hễ sinh thì hóa hiện, hễ chết thì hòa diệt, đầy đủ hai bảo y chính, cung điện luôn theo thân, lấy thiền định làm vui, cho nên không thể nói là có bao nhiêu.
Cõi Dục thì có trời nam nữ, có việc hôn phối. Cho nên kinh Đại Cát nghĩa chú ghi: “Bốn vị thiên vương hộ thế cai quản bốn phương. Trong đó, thiên vương Đề-đầu-lại-tra thống lành chúng Càn-thát-bà, thiên vương Tì-lưu-bác-xoa thống lãnh chúng Cưu-bàn-trà, thiên vương Tì-lưu-lặc-xoa thống lành chúng rồng, thiên vương Tì-sa-môn thống lãnh chúng Dạ-xoa. Mỗi thiên vương có chín mươi mốt vị trời con, tất cả đều đoan chính, có uy lực lớn, cùng một tên là Đế, tổng cộng bốn thiên vương có ba trăm sáu mươi bốn vị trời con, chia ra bảo vệ muời phương. Lại có Thích - đề - hoàn - nhân thống lảnh bốn phương phụ, Đại Phạm vương thống lãnh phương trên”.
Luận Trí độ ghi: “Tất cả quỉ thần quản lí núi sông, rừng rậm, đất đai, thành quách... đều thuộc quyền quản lí của bốn vị thiên vương, cho nên cùng theo đến. Bấy giờ có quỉ thần, vì không được quyển kinh Bát-nhã, nên đến nơi tôn trí Bát-nhã Ba-la-mật cúng dường lễ lạy thì cũng được lợi ích. Từ trời Đao-lợi trở lên thì quyến thuộc càng tăng, không thể tính biết. Như trời Đao-lợi trở xuống, thì Đế Thích có chín mươi ức na-do-tha thiên nữ, lại có vô lượng thiên tử và các quan thuộc. Như kinh ghi:
Đế Thích hiện thân cùng thiên nữ
Chín mươi hai ức na-do-tha
Mỗi mỗi thiên nữ tự cho rằng
Thiên đế chỉ vui với mình ta.
Vị trời có ít nhất cũng đến một vạn thiên nữ, chứ không ít hơn.

Phần 7

2.2.20. Sang hèn-giàu nghèo
Hỏi: Việc sang hèn của chư thiên thì sao?
Đáp: Chư thiên sáu tầng trời cõi Dục đều có sang hèn, vì có vua quan, thứ dân, thê thiếp khác nhau. Như trong cõi Đao-lợi, trời Đế Thích là vua, ba mươi hai vị trời kia là quan, còn lại đều là thứ dân. Trong hàng thiên nữ thì phu nhân Duyệt Ý là hoàng hậu, các thiên nữ khác là thiếp. Năm cõi trời còn lại cũng giống như vậy.
Cõi Sắc chỉ trong Sơ Thiền có phân biệt sang hèn. Như trời Đại Phạm là vua, trời Phạm Phụ là quan, trời Phạm Chúng là dân. Từ cõi này trở lên, chư thiên thụ phúc báo đồng nhau, nên không có sang hèn.
Hỏi: về giàu nghèo của chư thiên thì sao?
Đáp: Theo kinh Chính pháp niệm, từ cõi Diệm-ma lên đến hết cõi Sắc, chư thiên phúc báo đồng nhau, không phân biệt giàu nghèo. Từ cõi Đao-lợi trờ xuống thì có giàu nghèo sai biệt. Vị trời nào phúc dày thì thụ hưởng quả bảo có dư dật, nếu phúc mỏng thì dù có y phục và cung điện bảy báu, nhưng ăn uống thường không no đủ. Cho nên trong kình từng nói có một vị trời thiếu phúc, sợ bị đói, nền xuống cõi Diêm-phù hái trái táo chua để ăn, có nguời thấy thân hình khác lạ bèn hòi, vị trời đáp; “Ta chẳng phải là người, mà là vị trời bạc phúc. Tuy ta có cung điện bằng bảy báu, y phục thượng hạng, nhưng uống ăn thường không no đủ, vì thế xuống đây hái trái táo chua để ăn. Người không cần phải kinh ngạc!”. Đây là quả của nhân đời trước chỉ tu giỏi và nhẫn mà không biết bổ thí chiêu cảm.
2.2.21. Tống táng
Từ cõi Tứ Thiên Vương cho đến trời A-ca-ni-trá, nếu chư thiên qua đời, cũng không cần chôn, không cần thiêu, không phải ném ngoài rừng. Vì khi chư thiên qua đời cũng như ánh sáng tắt, không có thi hài, vì hóa sinh vậy. Chư thiên cõi Tứ Thiên Vương và Đao-lợi tự mình giết, hoặc bảo người giết nếu vật chết cũng không ăn thịt. Chư thiên từ cõi Dạ-ma lên đến trời A-ca-ni-trá không có việc tự mình sát sinh, cũng không bảo người khác sát sinh, nếu có súc sinh chết cũng không ăn thịt Vì họ hóa sinh, nên khi chết không có tử thi.
Có bài tụng:
Ba cõi mênh mang
Sáu đường mờ mịt
Qua lại không dừng
Chịu khổ vô kể
Quả báo buộc chặt
Thống khổ khắp thân
Thật do nghiệp ác
Rước nguy vong này
Chưa bị chìm đắm
Đâu biết thuyền bè
Không mang gánh nặng
Nào biết nhẹ bay
Nguyện thoát ta bà
Dạo chơi cõi Tịnh
Nhất tâm chính đạo
Thọ mạng vô cùng

Myanmar DMC

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục