Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)

29/10/2015

QUYỂN 7 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực....

PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
Phần 1

QUYỂN 7
Quyển này tiếp theo chương Lục đạo.
4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)

4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực. Ban ngày, tội nhân bị nhốt trong thành sắt, ban đêm ôm cột đồng cháy đỏ. Người tội bị nhốt đầy kín trong đó. Họ sợ hãi, khốn khổ, kêu gào thảm thương. Lại thêm ngục tốt đầu trâu trừng mắt, nhe răng, chỉa ba đâm hông, tim gan bị giã nát, hoặc lửa dữ đốt thân, da thịt cháy hết; hoặc giã đầu, đập chân, nấu phách, đun hồn, cắt mật, rút ruột, mổ thân, bằm thịt. Những thống khổ như thế, sao nói hết được!
Có những người tội chìm nổi trong vạc sôi, vẫy vùng trong lò lửa, da thịt tiêu hết dưới lưỡi đao, xương cốt nát vụn bên thi thê, đâu thê ngủ yên trên giường sắt, dựa lâu giữa hai cột đồng; lại trong mắt bốc lửa, nên khóc mà lệ chẳng rơi; miệng phải ngậm khói, nên thốt mà chẳng ra lời. Những nơi như thế còn cho là nhẹ
Đến như trong băng lạnh bỗng gặp gió ấm trong lửa nóng lại có hơi lạnh thì cảm thây khoái lạc an vui. Hoặc thụ thân tại A-tì mới là kinh khiếp, đó là phải chịu thống khổ trong tường sắt, chu vi tám vạn do-tuần, tiếng lửa dữ réo kinh hồn, khói hôi thối bốc lên ngùn ngụt. Tội nhân như cá trong lò, mỡ máu cháy khô, toàn là cảnh khổ, không có một giây phút an vui, lại còn bị trói chặt, không thể cử động. Cứ như thế xoay chuyển khắp đông tây, trên dưới. Đến khi kiếp hoại thì dời qua thế giới khác, cứ như thế mãi. Khi thế giới ấy kiếp tận thì sinh về thế giới này, trải qua vô lượng kiếp.
Nay xin tu phúc, sám hối tội lỗi, nguyện vạc sôi sùng sục biến thành ao sen, lò lửa hừng hực hóa thành lọng thơm, rừng kiếm cao vút thành rừng Quỳnh, núi đao rậm rạp biến thành núi Thứu chân như, trụ đồng đổi sắc hóa thành cờ, lưới sắt biến hình mở ra cõi Tịnh. Đồng thời quỉ sứ đầu trâu ném dao mà qui y Tam bảo, ngục tốt mặt ngựa bỏ roi mà thụ nhận năm giới. Oan gia hóa giải, há mãi mang săc diện hận thù; trái chủ vui vẻ, nào còn nét sân khuể! Tội nhân mất đầu do đây mà được lại, thit nát xương tan nhờ thê mà bình phục.
4.6.2. Giải thích danh từ Địa ngục
Hỏi: Địa ngục là gì?
Đáp: Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Địa ngục, tiếng Phạn là Nê-lê-da, nghĩa là không an vui, không sung sướng, không thoát khỏi, không có phúc đức. Do không dứt trừ nghiệp ác nên rơi vào đó”.
Lại nói: “Địa ngục là nơi thấp hèn nhất trong cõi Dục, nên gọi là phi đạo. Vì vậy, nên gọi địa ngục là Nê-lê-da”.
Luận Bà-sa gọi địa ngục là không tự tại, nghĩa là người tội bị ngục tốt quản thúc, không được tự do, cũng gọi là nơi không đáng ưa thích.
Lại nữa, địa (đắt) là đáy, nơi thấp nhất trong muôn vật; ngục là bó buộc, nơi không được tự tại, nên gọi là địa ngục.
Lại nữa, Nê-lê là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Vô hữu, nghĩa là trong địa ngục không có mảy may lợi ích.
Hỏi: Địa ngục có nhiều loại, hoặc ở dưới lòng đất, hoặc ở trên mặt đất, hoặc giữa hư không, vì sao đều gọi là địa ngục?
Đáp: Cựu dịch địa ngục là những nơi chật hẹp, không thuộc trên mặt đất hay trong hư không. Nay căn cứ vào các kinh luận tân dịch, chính âm bản Phạn là Na-lạc-ca, hoặc Nại-lạc-ca, nghĩa là tất cả nhừng nơi mà con người chiêu cảm quả khổ.
Lại nữa, luận Tân Bà-sa ghi:
- Hỏi: Vì sao nơi ấy gọi là Nại-lạc-ca?
Đáp: Những chúng sinh trong đó không vui, không biết yêu thương, sống vô nghĩa, không lợi ích, không vui sướng, nên gọi là Nại-lạc-ca.
Có thuyết nói những chúng sinh kia vào thời quá khứ, thân khẩu ý đã gây tạo nghiệp ác sâu dày đến địa ngục lại tiếp tục tạo ác, nên gọi là Nại-lạc ca.
Lại có thuyết nói vì chúng sinh nơi ấy bị treo ngược nên gọi là Nại-lạc-ca.
Có bài tụng:
Trong ngục bị treo ngược,
Chân trên, đầu trút xuống,
Do hủy báng chư Phật,
Bậc tịnh tu khổ hạnh.
Có thuyết cho Nại-lạc là người, ca là ác. Người ác sinh vào nơi này nên gọi Nại-lạc-ca.
Hỏi: Vì sao gọi nơi rộng lớn và thấp nhất là địa ngục Vô gián?
Đáp: Nơi ấy thường chịu khổ báo, không có giây phút nào vui sướng, nên gọi là Vô gián.
Hỏi: Trong các địa ngục khác, phải chăng có ca múa, ăn uống, hưởng quả báo vui sướng dị thục, nên không gọi là Vô gián?
Đáp: Trong các địa ngục khác, tuy không có quả vui dị thục, nhưng có niềm vui đẳng lưu.
Luận Thi thiết ghi: “Trong địa ngục Đẳng hoạt, có khi gió mát thổi đến làm máu thịt của tội nhân sinh trở lại, có lúc phát ra âm thanh ‘Đẳng hoạt’ {sống lại), thì những chúng sinh trong đó bỗng nhiên sống lại. Chỉ trong thời gian máu thịt sinh ra và sống lại như thế, tội nhân tạm được vui sướng, gián đoạn đau khổ, nên không gọi là Vô gián”.
4.6.3. Thụ quả báo
Luận Tân Bà-sa ghi:
2 Hỏi: Địa ngục ở đâu?
Đáp: Phần lớn ở dưới lòng đất châu Nam Thiệm-bộ
Phần 2

Hỏi: Bố trí thế nào?
Đáp: Có thuyết cho rằng, từ châu Nam Thiệm-bộ này thẳng xuống dưới bốn mươi nghìn do-tuần là đáy của địa ngục Vô gián.
Địa ngục Vô gián dài, cao, rộng đều hai mươi nghìn do-tuần. Phía trên địa ngục này, trong khoảng mười chín nghìn do-tuần, có bảy địa ngục. Theo thứtự từ dưới lên trên là địa ngục Thiêu nướng lớn, địa ngục Thiêu nướng, địa ngục Kêu gào lớn, địa ngục Kêu gào, địa ngục Chúng hợp, địa ngục Dây đen, đia ngục Đẳng hoạt. Bảy địa ngục này, mỗi ngục dài rộng mười nghìn do-tuần. Một nghìn do-tuần còn lại, thì năm trăm do-tuần là đất sét trắng, năm trăm do-tuần là đất bùn.
Có thuyết cho là dưới lớp đất bùn này, có địa ngục Vô gián nằm ở giữa, còn bảy địa ngục kia vây quanh, giống như các thôn làng bao quanh thành lớn”.
Hỏi: Như vậy, luận Thi thiết ghi chu vi của châu Nam Thiệm-bộ là sáu nghìn lẻ ba phẩy năm do-tuần, mà ở đây nói mỗi một địa ngục dài rộng như thế. Vậy dưới lòng đất của châu này làm sao có thể dung chứa hết được?
Đáp: Châu Nam Thiệm-bộ này trên nhỏ, dưới lớn, giống như đống lúa, nên có thể dung chứa. Do đó, trong kinh thường nói bốn biển lớn càng xuống càng sâu. Lại nữa, mỗi một địa ngục lớn có thêm mười sáu địa ngục Du tăng. Tức là mỗi địa ngục lớn có bốn cửa, bên ngoài mỗi cửa có thêm bốn địa ngục:
1. Địa ngục tro nóng: trong địa ngục này, tro nóng ngập đến đầu gối người tội
2. Địa ngục Phân tiểu: Địa ngục ngập đầy phân và nước tiểu.
3. Địa ngục Dao nhọn: Địa ngục này có ba loại: một, địa ngục con đường dao, trong địa ngục này, trải dao nhọn làm đường; hai, địa ngục rừng lá kiếm, nghĩa là lá cây trong rừng ở đại ngục này như mũi kiếm bén nhọn; ba, địa ngục rừng gai sắt, những khu rừng trong địa ngục này toàn là gai sắt bén nhọn, dài mười sáu ngón tay. Ba loại này tuy khác dạng, nhưng đều là rừng sát, cho nên thuộc về địa ngục Du tăng.
4. Địa ngục Sông nóng lớn: Trong địa ngục này có bôn sông lớn, nước trong đó vừa nóng vừa mặn.
Mười sáu địa ngục Du tăng cộng với địa ngục chính, thành mười bảy địa ngục. Như vậy, tám địa ngục lớn và các địa ngục nhỏ phụ thuộc, tổng cộng có một trăm ba mươi sáu địa ngục. Cho nên, kinh nói có một trăm ba mươi sáu Nại-lạc-ca.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Có tất cà tám địa ngục lớn, mỗi địa ngục lớn có mười sáu địa ngục nhỏ vây quanh. Giống như bên ngoài bốn châu thiên hạ có tám nghìn thiên hạ bao quanh. Bên ngoài tám nghìn thiên hạ lại có biển lớn. Bên ngoài biển lớn lại có núi Đại Kim Cương. Bên ngoài núi Đại Kim Cương lại có núi cũng tên là Kim Cương (kinh Lâu thán gọi là núi Thiết Vi lớn). Khu vực giừa hai núinày tối tăm, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và hào quang của chư thiên cũng không thể soi chiếu đến.
Tám địa ngục lớn:
1. Địa ngục Tưởng có mười sáu địa ngục nhỏ. Chúng sinh trong địa ngục này có móng tay sắt, do lòng sân hận nên dùng móng cào cấu nhau, làm cho thịt theo móng tay rớt xuống. Thế rồi, họ tưởng mình đã chết, nên gọi là địa ngục Tưởng. Chúng sinh trong địa ngục này có ý nghĩ tàn hại, nên cầm dao kiếm đâm chém lẫn nhau, lóc da, xẻ thịt, bằm nát thân thể, nát nhừ trên đất. Thế rồi, họ tưởng mình đã chết, nhưng bỗng cơn gió lạnh thổi đến làm họ sống lại và liền nghĩ: “Ta nay đã sống lại”.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Tưởng, lại hốt hoảng cầu cứu, nhưng không ngờ lại vào địa ngục Cát đen. Bấy giờ, một con gió nóng bốc lên dữ dội, thổi cát đen nóng bay tấp vào thân người tội, thiêu cháy da thịt tận cả xương tủy. Sau đó, thân họ có lửa dữ nổi lên, toàn thân bị thiêu cháy. Nhưng vì tội lỗi chưa hết, nên tội nhân không thể chết được..
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Cát đen, lại vào địa ngục Phân tiêu. Trong địa ngục này, có những hòn sắt bằng phân tiểu tự nhiên hiện đầy trước mặt, ngục tốt đuổi bắt bức ép người tội phải ôm hòn sắt nóng, làm thiêu cháy thân thể và tay chân; lại khiến người tội bốc hòn sắt nóng bỏ vào miệng, từ cổ họng đến bụng, thẳng xuống dưới đều bị đốt cháy. Lại có trùng mỏ sắt ria thịt đến tận xương tủy, đau đớn vô cùng. Nhưng vì tội lỗi chưa hết, nên tội nhân không thể chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Phân tiểu, lại vào địa ngục Đinh sắt. Bấy giờ, ngục tốt bắt tội nhân nằm trên sắt nóng, căng thân họ ra rồi đóng đinh vào tay chân, đồng thời đóng năm trăm cái đinh khắp cả thân thể. Họ đau đớn kêu gào mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Đinh sắt, lại vào địa ngục Đói. Ngục tốt bắt tội nhân nằm trên giường sắt nóng, rót nước đồng sôi vào miệng, từ cổ họng đến bụng, thẳng xuống dưới đều bị đốt cháy. Nhưng vì chưa hết tội lỗi, nên tội nhân không thể chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Đói, lại vào địa ngục Khát. Ngục tốt bắt tội nhân nằm trên sắt nóng, lấy hòn sắt nóng bỏ vào miệng, đốt cháy môi miệng, thẳng đến dưới đều bị thiêu đốt. Họ đau đớn vô cùng, khóc la thảm thiết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Khát, lại vào địa ngục Một chảo đồng sôi. Ngục tốt trừng mắt, xách ngược người tội ném vào trong chảo, theo nước sôi sùng sục, trồi lên hụp xuống, toàn thân chín rục, muôn khổ ập đến mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Một chảo đồng sôi, lại vào địa nguc Nhiều chảo đồng sôi. Ngục tốt xách ngược tội nhân ném vào trong chảo, theo nước sôi sùng sục trồi lên hụp xuống, toàn thân chín rục; lại dùng móc sắt móc tội nhân ném qua chảo khác. Họ đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiểt mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Nhiều chảo đồng sôi, lại vào địa ngục Cối đá. Ngục tốt bắt người tội nằm trên đá nóng, kéo dang tay chân, dùng tảng đá nóng lớn đè lên thân người tội, chà đi xát lại làm cho xương thịt tan nát. Họ đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục cối đá, lại vào địa ngục Máu mủ. Tội nhân chạy đông chạy tây ở trong máu mủ sôi trào, toàn thân bị phỏng, đầu mặt tan nát; lại tự uống nước máu mủ, nuốt thẳng, xuống ruột gan. Họ đau đớn không thể chịu nổi mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Máu mủ, lại vào địa ngục Đong lửa. Có đống lửa lớn cháy hừng hực, ngục tốt đuổi bắt, bức ép người

Phần 3

tội, tay cầm hộc sắt nóng để đong lửa. Tội nhân bị lửa cháy khắp thân, nóng bức đau đớn, rên rỉ khóc la mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, mới ra khỏi địa ngục Đong lửa, lại vào địa ngục Sông tro. Địa ngục này ngang, dọc, sâu, rộng năm trăm do-tuân, nước tro sôi sùng sục, khí độc xông lên ngùn ngụt, sóng lớn cuồn cuộn, phát ra âm thanh đáng sợ. Từ đáy sông lên đến mặt sông dẫy đầy gai sắt, trên bờ thì có rừng cây kiếm, cành lá hoa quà đều là gươm đao. Tội nhân ở dưới sông, theo sóng nổi chìm lên xuống, gai sắt đâm khắp thân, máu mủ tuôn chảy, đau đớn muôn phần mà vẫn không chết.
Tội nhân ra khỏi Sông tro, bước lên bờ, bị đao kiếm đâm chém, thân thể tan nát. Lại có chó sói đến cắn, ăn tươi nuốt sống xương thịt. Tội nhân leo lên cây thì đao kiếm chĩa xuống; khi tuột xuống thì đao kiếm chĩa lên, tay nắm thì tay dứt, đạp thì chân đứt, da thịt rơi xuống, chỉ còn xương và gân dính liền nhau. Bấy giờ, trên cây, lại có quạ mỏ sắt mổ đầu, ăn não người tội. Họ đau đớn vô cùng, khóc la thảm thiết mà vẫn không chết, lại vào sông tro lần nữa. Tội nhân theo sóng lặn hụp, bị gai sắt đâm khắp thân, đau đớn muôn phần, da thịt tan nát, máu mủ tuôn chày, chi còn xương trắng trôi nổi bồng bềnh. Khi ấy, gió lạnh thổi đến, họ liền đứng dậy.
Nhưng do tội quá khứ lôi kéo, bất giác tội nhân lại vào địa ngục Hòn sắt. Ngục tốt đuổi bắt, bức ép người tội nắm lấy hòn sắt nóng, khiến cho tay chân tan nát, toàn thân bốc lửa, muôn khổ ập đến mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Hòn sắt, lại vào địa ngục Búa rìu Ngục tốt băt người tội nằm trên sắt nóng, dùng búa sắt nóng bằm chặt tay chân, tai, mũi. Họ đau đớn vô cùng, khóc la thảm thiết mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Búa rìu, lại vào địa ngục Chó sói. Có bầy chó sói tranh nhau chạy đến cắn xé người tội, làm cho xương nát thịt rơi, máu mủ tuôn chảy. Họ đau đớn muôn phần mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Chó sói, lại vào địa ngục Rừng kiếm. Khi tội nhân vào rừng kiếm, gió mạnh nổi lên, thổi lá kiếm rơi đâm thân họ, khiến cho đầu, mặt, thân thể đều bị thương tổn. Lại có quạ mỏ sắt mổ hai mất người tội. Họ đau đớn vô cùng, khóc la thảm thiết mà vẫn không chết.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài mới ra khỏi địa ngục Rừng kiếm, lại vào địa ngục Băng lạnh. Có cơn gió lạnh buốt thổi vào người tội, làm cho toàn thân rét cóng, da thịt rơi rụng. Họ đau đớn vô cùng, kêu la thảm thiết, sau đó mạng chung.
Thân, khẩu, ý tạo nhiều điều ác sẽ bị rơi vào địa ngục Tường này. Đau khổ như thế, nghĩ sợ vô củng!
2. Địa ngục Dây đen lớn có mười sáu địa ngục nhỏ vây quanh, mỗi ngục dài, rộng năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Dây đen? Bởi ở đó, ngục tốt bắt người tội nằm trên sắt nóng, căng thân thể ra, dùng dây sắt nóng vạch thành đường thẳng làm dấu, rồi theo vết sợi dây lấy búa sắt nóng chặt người tội thành trăm nghìn đoạn; lại dùng dây sắt vạch thành đường, rồi lấy cưa xẻ; lại treo dây sắt nóng ngang dọc, đuổi bắt, bức ép người tội đi giữa những sợi dây. Bỗng có cơn gió lốc nổi lên, thổi những sợi dây sắt quấn quanh thân người tội, đốt da, lóc thịt, cháy xương, sôi tủy, đau đớn muôn phần. Nhưng vì chưa hết tội cũ, nên tội nhân không thể chết được. Vì vậy nên gọi là địa ngục Dây đen.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, mới ra khỏi địa ngục Dây đen, lại vào địa ngục Cát đen, cho đến địa ngục Băng lạnh, sau đó mạng chung, ra vào như thế không thể kể xiết.
Sự hành hình và thụ khổ trong mười sáu địa ngục kia cũng giống như trước, nhưng càng gấp bội. Do có tâm ác đối với cha mẹ, Phật và thanh văn, nên người nàỵ bị rơi vào địa ngục Dây đen, đau đớn không thể kể xiết.
3. Địa ngục lớn Ép chặt cũng có mười sáu địa ngục nhỏ bao quanh, mỗi ngục dài rộng năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Ép chặt? Trong ngục này, có núi đá lớn, từng cặp đối nhau. Tội nhân vào đây, núi tự nhiên khép lại, ép chặt thân họ, làm choxương thịt tan nát, rồi núi trở lại vị trí cũ. Họ đau đớn muôn phần, nhưng không thể chết được.
Lại có voi sắt lớn, toàn thân bốc lửa gào rống chạy đến giẫm đạp, chà xát người tội, làm cho thân thê tan nát, máu tuôn chảy. Họ đau đớn kêu gào khóc la thảm thiết mà vẫn không chết.
Ngục tốt lại bắt người tội nằm trên tảng đá lớn, rồi lấy tảng đá lớn khác đè lên; lại bắt người tội nằm trên đất, rồi dùng chày sắt giã từ đầu đến chân, da thịt tan nát, máu tuôn chảy, muôn khổ ập đến. Nhưng vì chưa hết tội cũ, nên tội nhân không thể chết được. Vì vậy gọi là địa ngục Ép chặt.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, mới ra khỏi địa ngục Ép chặt, lại vào địa ngục Cát đen, cho đến địa ngục Băng lạnh, sau đó mạng chung. Do tạo ba nghiệp ác (sát sinh, trộm cắp, tà dâm), không tu ba nghiệp thiện, nên bị rơi vào địa ngục Ép chặt, đau đớn không thể kể xiết.
4. Địa ngục lớn Kêu gào cũng có mười sáu địa ngục nhỏ bao quanh, mỗi ngục dài, rộng năm trăm do-tuần. Vì sao gọi là địa ngục Kêu gào? ơ đây, ngục tốt bắt người tội ném vào chảo lớn, lại bỏ trong nồi sắt lớn, nước sôi sùng sục, nấu rục tội nhân. Họ kêu la khóc lóc, đau đớn thống khổ; lại bắt người tộilên vỉ nướng lớn, trở qua trở lai trên ngon lửa hồng.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, mới ra khỏi địa ngục Kêu gào, lại vào địa ngục Cát đen, cho đến địa ngục Băng lạnh, sau đó mạng chung. Do sân hận, có tâm ác độc, làm các việc ác nên bị rơi vào ngục Kêu gào.
5. Địa ngục Kêu gào lớn cũng có mười sáu ngục nhỏ bao quanh, chu vi cũng giống như trước. Vì sao gọi là địa ngục Kêu gào lớn? Ở đây, ngục tốt bắt người tội bỏ vào nồi sắt lớn, lại bỏ trong chảo sắt, nước sôi sùng sục, nấu rục tội nhân; lại ném người tội lên vỉ nướng, trở qua trở lại trên ngọn lửa hồng. Họ kêu gào khóc la, đau đớn thống khổ. Nhưng vì chưa hết tội cũ, nên tội nhân không thể chết được. Vì vậy gọi là địa ngục Kêu gào lớn.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, mới ra khỏi địa ngục Kêu gào lớn, cho đến địa ngục Băng lạnh, sau đó mạng chung. Do huân tập tà kiến, bị lưới ái lôi kéo, làm các việc đê tiện, nên bị rơi vào địa ngục Kêu gào lớn.
6. Địa ngục Thiêu nướng cũng có mười sáu địa ngục nhỏ bao quanh chu vi cũng giống như trước. Vì sao gọi là địa ngục Thiêu nướng? Ở đây, ngục tốt bắt người tội bỏ vào thành sắt, thành sắt phát hỏa, trong ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng người tội; lại bỏ tội nhân trên lầu sát, lầu sắt phát hòa, trong ngoài đều đỏ rực; lại ném người tội vào lò sắt lớn, lò sắt phát hỏa, trong ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng người tội, da thịt tiêu tan, muôn khổ ập đến.Nhưng vì chưa hết tội cũ, nên tội nhân không thể chết được. Vì vậy gọi là địa ngục Thiêu nướng.

Phần 4

Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, ra khỏi địa ngục Thiêu nướng, cho đến địa ngục Băng lạnh sau đó mạng chung. Do thiêu nướng chúng sinh, nên người này bị rơi vào ngục Thiêu nướng, nhiều kiếp chịu sự thống khổ thiêu nướng như thế.
7. Địa ngục Thiêu nướng lớn cũng có mười sáu ngục nhỏ bao quanh, chu vi cũng giống như trước. Vì sao gọi là địa ngục Thiêu nướng lớn? ở đây, ngục tốt bắt người tội bỏ vào thành sắt, thành sắt phát hỏa, trong ngoài đều đỏ rực, thiêu nướng người tội, da thịt tiêu tan, muôn khổ ập đến. Lại có hầm lửa lớn, cháy đỏ hừng hực. Hai bên bờ hầm này lại cỏ núi lửa lớn. Ngục tốt bắt người tội ghim vào chĩa sắt, rồi dựng đứng trong lửa, lửa lớn thiêu đốt, da thịt tan nát. Nhưng vì chưa hết tội cũ, nên tội nhân không thể chết được.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, ra khỏi địa ngục Thiêu nướng lớn, lại vào các địa ngục khác cho đến địa ngục Băng lạnh, sau đó mạng chung. Do bỏ điều thiện, làm các việc ác, nên bị rơi vào ngục Thiêu nướng lớn.
8. Địa ngục Vô gián cũng có mười sáu địa ngục nhỏ bao quanh. Vì sao gọi là Vô gián? ơ đây, ngục tốt lột da người tội từ chân đến đầu, lấy da ây quấn thân họ, rồi đem bỏ trên nền sắt nóng, lại có bánh xe lửa nghiền nghiến qua lại, làm cho thân thể tiêu tan, da thịt nát nhừ, muôn khổ ập đến. Nhưng vì chưa hết tội cũ, nên tội nhân không thể chết được.
Lại có thành sắt, bốn bề nổi lửa, cháy từ đông sang tây, từ tây sang đông, nam, bắc, trên, dưới cũng lại như vậy. Lửa dữ cháy khắp, không sót chỗ nào. Tội nhân chạy đông chạy tây, toàn thân bị thiêu nướng, da thịt tiêu tan, đau đớn khổ sở.
Tội nhân ở trong địa ngục này một thời gian dài thì cửa tự nhiên mở, các tội nhân liền chạy đến đó, tất cả đốt xương trên thân đều bốc lửa, nhưng gần đến cửa, thì cửa tự nhiên đóng lại. Vì chưa hết tội cũ, nên tội nhân không thể chết được.
Lại nữa, tội nhân ở trong địa ngục này, mắt thấy toàn cảnh dữ, tai nghe tiếng dữ, mũi ngửi mùi hôi, thân xúc chạm toàn là những cảnh gây ra đau đớn, ý nghĩ điều ác, chịu khổ liên tục, dù trong khoảnh khắc cũng không gián đoạn. Vì vậy gọi là địa ngục Vô gián.
Tội nhân chịu khổ trong thời gian dài, ra khỏi địa ngục Vô gián, lại vào các địa ngục khác, cho đến địa ngục Băng lạnh, sau đó mạng chung. Do tạo nghiệp ác, mang tội cực nặng, nên bị rơi vào ngục Vô gián, chịu khổ không thể kể xiết.
Đây là tám địa ngục lớn, mỗi ngục đều có mười sáu địa ngục nhỏ và tội nhân thụ khổ như trên”.
Kinh Quán Phật tam-muội hải ghi:
- Địa ngục A-tì dài rộng tám nghìn do-tuần, có bảy lóp thành sắt, bảy tầng lưới sắt. Dưới có mười tám ngăn, mỗi ngăn có bảy lớp rừng đao, bảy lớp cây kiếm vây quanh. Bốn góc có bốn chó đồng lớn, thân dài rộng bốn mươi do-tuần, mắt như điện chóp, nanh như cây kiếm, răng như núi dao, lưỡi như gai sắt, lông bốc lửa dữ, xông mùi khói hôi hám. Có mười tám ngục tốt, miệng như miệng dạ-xoa, có sáu mươi bốn con mắt đỏ rực như những hòn sắt nóng. Răng nanh chĩa lên cao bốn do-tuần. Đầu mỗi nanh phun ra lửa, đốt xe sắt phía trước. Căm xe cũng phun ra lửa, phát ra đao kiếm bén nhọn, đốt cháy thành A-tì đỏ rực như đồng nung. Mỗi ngục tốt có tám đầu, mười sáu sừng. Trên mỗi sừng phun ra lửa, lửa biến thành thép, lại thành bánh xe đao, nối nhau xoay tròn trong vòng lửa cháy, đầy cả thành A-tì.
Trong thành có bảy phướn sắt. Từ phướn, lửa mạnh vọt lên như nước sôi, khiến sắt chảy tràn khắp cả thành A-tì. Trên bốn cửa thành, có mười tám chảo đồng sôi, chảy tràn ra khắp thành A-tì. Trong mỗi ngăn ngục, có tám vạn bốn nghìn con rắn sắt lớn,phun ra nọc độc và lửa dữ, thân lớn đầy cả thành. Những con rắn này gầm thét như sấm dậy, tuôn ra những hòn sắt lớn đầy cả thành. Lại có năm trăm dạ-xoa, năm trăm ức con trùng, mỗi con trùng có tám vạn bốn nghìn cái mỏ. Đầu mỏ có lửa phun ra như mưa xối xuống khắp thành A-tì. Khi những con trùng ấy rơi xuống, lửa dữ ở ngục A-tì bùng cháy, đốt nóng tám vạn bốn nghìn do-tuần, xông thẳng lên núi Ốc Tiêu dưới đáy biển lớn, khiến những giọt nước biển như trục xe biến thành mũi thép nhọn đầy cả ngục A-tì.
Nếu người nào giết cha, hại mẹ, lăng nhục lục thân thì khi mạng chung, chó đồng há miệng, biến hóa ra mười tám xe giống như xe vàng trên có che bảo cái. Những ngọn lửa dữ hóa thành ngọc nữ. Tội nhân từ xa trông thấy, sinh tâm vui mừng muốn đến. Bấy giờ, gió lạnh thổi đến, tội nhân tê cóng, kêu rên: ‘Thà ngồi trên xe chịu lửa dữ đốt cháy’. Thế rồi, lửa bùng cháy mạnh, họ liền mạng chung. Tội nhân lại thấy mình ngồi trên xe vàng ngắm nhìn ngọc nữ, nhưng bị ngọc nữ cầm búa sắt chém đứt thân thể, chỉ trong thời gian co duỗi cánh tay, rơi thẳng xuống địa ngục A-tì.
Như bánh xe lửa xoay tròn, tội nhân từ ngăn trên rớt xuống ngăn dưới, thân đầy cả ngăn. Chó đồng sủa lớn, rồi nhai xương, nuốt tủy người tội. Ngục tốt la-sát cầm chĩa sắt lớn, xóc đầu dựng người tội dậy, toàn thân lửa cháy, đầy cả ngục A-tì.
Bấy giờ, vua Diêm-la lớn tiếng quát: ‘Kẻ ngu si kia gieo nhân địa ngục. Khi ở nhân gian, ngươi bất hiếu cha mẹ, tà kiến, kiêu mạn, ác độc, nên nay đọa vào địa ngục A-tì. Như thế xoay vần trải qua vô số thống khổ, không thể nói hết.
Một ngày một đêm, người này chịu tội ở địa ngục bằng sáu mươi tiểu kiếp ở cõi Diêm-phù-đề. Như vậy, thọ mạng đến hết một đại kiếp. Người phạm đủ năm tội nghịch phải chịu tội cả năm đại kiếp.
Lại có chúng sinh phạm bốn giới trọng, uổng nhận của tín thí, phỉ báng Tam bảo, tà kiến, không tin nhân quả, không học Bát-nhã, khinh chê mười phương Phật, trộm vật của chúng tăng, dâm dật, bạo ngược, cưỡng bức tì-kheo-ni giữ giới thanh tịnh, hủy nhục chị em, bà con thân thích, làm các việc ác. Những người này khi mạng chung, phải chịu tội báo trải qua bốn mươi tám nghìn đại kiếp.
Họ lại vào trong mười ngăn ngục ở phương đông, cũng chịu khổ như trên; phương nam, tây, bắc cùng lại như vậy. Thân người tội đầy cả địa ngục A-tì, bốn chi trải khắp mười tám ngăn ngục.
Địa ngục A-tì có mười tám địa ngục nhỏ. Mỗi địa ngục nhỏ lại có mười tám địa ngục Băng lạnh, mười tám địa ngục Tối tăm, mười tám địa ngục Nóng ít, mười tám địa ngục Xe đao, mười tám địa ngục Xe kiếm, mười tám địa ngục Xe lửa, mười tám địa ngục Phân sôi, mười tám địa ngục Nước sôi, mười tám địa ngục Sông tro, năm trăm ức địa ngục Rừng kiếm, năm trăm ức địa ngục Rừng gai, năm trăm ức địa ngục Cột đồng, năm trăm ức địa ngục Máy sắt, năm trăm ức địa ngục Lưới sắt, mười tám địa ngục Hang sắt, mười địa ngục Hòn sắt, mười tám địa ngục Đá nhọn, mười tám địa ngục uống nước đồng sôi.

Phần 5

Như vậy, trong địa ngục lớn A-tì có mười tám địa ngục nhỏ. Mỗi địa ngục nhỏ lại có mười tám ngăn địa ngục, bắt đầu từ địa ngục Băng lạnh cho đến địa ngục uống nước đồng sôi, tổng cộng có một trăm bốn mươi hai ngăn địa ngục. Tội nhân tuy tạo nghiệp không giống nhau, nhưng đều trải qua các địa ngục này để chịu khổ”.
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Trong địa ngục cực lớn A-tì cũng có mười sáu địa ngục nhỏ phụ thuộc bao quanh. Mỗi địa ngục nhỏ, dài rộng năm trăm do-tuần. Những chúng sinh trong đó, có người mới đến, có kẻ đang ở, có kẻ đã ra khỏi, có kẻ đang chịu tội. Do quả báo nghiệp ác mà họ đã tạo, nên tự nhiên xuất hiện các ngục tốt. Các ngục tốt này lại bắt lấytội nhân ném trên nền sắt nóng, lửa cháy hừng hực xông thẳng lên trên; lại lật úp mặt tội nhân xuống đất, dùng dao nhọn khoét gót chân cho gân lộ ra rồi lấy tay rút gần kéo đến cổ, khiến đau đớn thấu đến tim gan. Rút gân ra rồi, móc vào xe sắt mà kéo chạy, xe ấy lửa cháy hừng hực. Những nơi tội nhân đi qua toàn là đường hiểm sắt nóng lửa cháy đỏ rực. Họ đi qua đi lại theo ý ngục tốt, không lúc nào tạm dừng, muốn họ đi về hướng nào thì ngục tốt kéo lôi đến đó, chưa từng rời khỏi. Họ đến đâu cũng bị đốt cháy, máu thịt toàn thân đều tiêu tan. Vì trước đây, khi làm người hoặc làm loài khác, họ tạo nghiệp ác nên phải nhận lấy quả báo như thế.
Những chúng sinh trong địa ngục này vi quả báo của nghiệp bất thiện, nên từ phương đông có đống lửa lớn bỗng nhiên nổi lên, cháy đỏ, hừng hực liên tục; phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, hai phương trên, dưới cũng đều như vậy. Các đông lửa lớn bao quanh tội nhân, từ từ tiến sát lại làm họ đau đớn vô cùng.
Từ tường phía đông nổi lên ngọn lửa hừng hực, phóng thẳng sang tường phía tây, rồi dừng lại ở đó. Từ tường phía tây nổi lên ngọn lửa hừng hực, phóng thẳng sang tường phía đông, rồi dừng lại đó ờ. Từ tường phía nam nổi lên ngọn lửa hừng hực, phóng thăng sang tường phía bắc. Từ tường phía bắc nổi lên ngọn lửa hừng hực, phóng thẳng sang tường phía nam. Từ dưới phóng lên trên, từ trên phóngxuống dưới, ngang dọc giao nhau, trên dưới tiếp nhau, sức nóng và ánh sáng phóng ra mãnh liệt. Bấy giờ, ngục tốt bắt các tội nhân ném vào trong sáu đống lửa lớn này, tội nhân đau khổ cùng cực, nhưng vẫn không chết. Vì nghiệp bất thiện chưa trả xong, nên họ ở mãi trong đó chịu mọi sự thống khổ.
Những chúng sinh trong địa ngục cực lớn A-tì này, vì quả báo của nghiệp bất thiện, nên trải qua vô số kiếp trong cảnh tối tăm. Tội nhân chịu đủ các cảnh khổ rồi, thì bốn cửa địa ngục tự nhiên mở ra. Khi cửa ngục vừa mở, các tội nhân nghe thấy, liền chạy đến và nghĩ: ‘Nay chúng ta chắc chắn sẽ thoát’. Thế là họ liền tuôn chạy, thân thể biến thành lửa dữ phực cháy. Thí như người khỏe mạnh, cầm bó đuốc khô đi ngược gió, bó đuốc đã cháy, lại càng cháy mạnh. Cũng vậy, các chúng sinh đi qua đi lại trong địa ngục này, tất cả bộ phận trên thân đều bôc cháy. Khi tội nhân sắp nhấc chân lên, máu thịt đêu tan nát, lúc sắp để đặt chân xuống, máu thịt lại sinh ra. Lúc họ chạy gần đến cửa ngục thì cửa tự nhiên đóng lại, không ra được, nên tâm mê loạn, hai tay che mặt, té ngã trên đất. Người tội bị thiêu đốt, da thịt cho đến xương tủy. Khói hun mịt mù, xông lên nghi ngút, lửa cháy đỏ hừng hực, khói và lửa quyện vào nhau làm tội nhân đau đớn gấp bội phần. Tội nhân ở trong đó chịu khô cùng cực, nhưng nghiệp ác chưa hết nên phải nhận lấy tất cả nỗi khổ.
Trong địa ngục cực lớn A-tì này, không lúc nào tạm được an vui, dù chỉ trong khoảng khắc móng tay, người tội lần lượt chịu đủ các cảnh khổ như thế.
Đức Phật lại bảo các tì-kheo:
- Các ông nên biết, giữa các thế giới này còn có mười địa ngục:
1. Địa ngục Át-phù-đà.
2. Địa ngục Nê-la-phù-đà.
3. Địa ngục A-hô.
4. Địa ngục Hô-hô-bà.
5. Địa ngục A-tra-tra.
6. Địa ngục Tao-kiện-đề-ca (Tu-càn-đề).
7. Địa ngục Ưu-bát-la.
8. Địa ngục Ba-đầu-ma (Bát-đầu-ma).
9. Địa ngục Bôn-trà-lợi (Phân-đà-lợi).
10. Địa ngục Câu-mâu-đà (Câu-vật-đầu).
Vì thân của tội nhân trong địa ngục này như bọt nước, nên gọi là địa ngục Át-phù-đà.
Vì thân của tội nhân trong địa ngục này như cục thịt, nên gọi là địa ngục Ni-la-phù-đà.
Vì tội nhân trong địa ngục này, khi chịu sự thống khổ cùng tột bức bách, phát tiếng kêu la “A hô”, vô cùng đau đớn, nên gọi là địa ngục A hô.
Tội nhân trong địa ngục này, khi chịu sự thống khổ cùng tột bức bách, phát tiếng kêu la “Hô-hô-bà”, nên gọi là địa ngục Hô-hô-bà.
Tội nhân trong địa ngục này, do khổ đau cùng tột bức bách thân thể, chỉ còn thốt lên tiếng “A-tra-tra”, nhưng tiếng tắt nghẽn, không phát ra được, nên gọi là địa ngục A-tra-tra.
Tội nhân trong địa ngục này bị ngọn lửa dữ màu đen như màu hoa Tao-kiện-đề-ca đốt cháy, nên gọi là địa ngục Tao-kiện-đề-ca.
Tội nhân trong địa ngục này bị lửa dữ màu xanh như màu hoa Ưu-bát-la đốt cháy, nên gọi là địa ngục ưu-bát-la.
Tội nhân trong địa ngục này bị lửa dữ màu hồng như màu hoa Câu-mâu-đà đốt cháy, nên gọi là địa ngục Câu-mâu-đà.
Tội nhân trong địa ngục này bị lửa dữ màu trắng như màu hoa Bôn-trà-lợi đốt cháy, nên gọi là địa ngục Bôn-trà-lợi.
Tội nhân trong địa ngục này bị lửa dữ màu độ như màu hoa Ba-đầu-ma đốt cháy, nên goi là địa ngục Ba-đầu-ma”.
Luận Tam pháp độ ghi: “Địa ngục có ba loại: nóng, lạnh và biên.
* Địa ngục nóng, theo Tát-bà-đa bộ có tám địa ngục lớn:
1. Địa ngục Đẳng hoạt: Còn gọi là địa ngục Cánh hoạt. Tội nhân trong địa ngục này hoặc do ngục tốt xướng “Sinh”, hoặc gió lạnh thổi mà sống lại. Hai duyên này khác nhau nhưng đều khiến tội nhân sống lại, nên gọi là Đẳng hoạt.

Phần 6

2. Địa ngục Dây đen: Tội nhân nơi đây bị trói rồi bị búa chém chặt.
3. Địa ngục Chúng hợp: Còn gòi là địa ngục Chúng hợp, tội nhân nơi đây bị hai núi ép chặt.
4. Địa ngục Hô hô: Còn gọi là địa ngục Kêu gào, tội nhân nơi đây bị ngục tốt bức ép xua đuổi, nên kêu gào mà chạy.
5. Địa ngục Đại hô: Còn gọi là địa ngục Kêu gào lớn, tội nhân nơi đây bị lửa dữ khắp nơi đốt cháy, không có đường thoát.
6. Địa ngục Nóng: Còn gọi là địa ngục Thiêu nướng, tội nhân nơi đây bị thiêu nướng giữa các lá sắt nóng.
7. Địa ngục Chúng nhiệt: Cũng gọi là địa ngục Thiêu nướng lớn, tội nhân nơi đây bị lửa núi lớn chạm nhau rồi bắn ra thiêu đốt.
8. Địa ngục Vô trạch: Còn gọi là địa ngục Vô gián, tội nhân nơi đây bị ném vào lửa dữ, không có một khoảnh khác gián đoạn, tức chịu khổ liên tục, không có nơi để chọn lựa!
Tám địa ngục này xếp chồng lên nhau phía dưới Diêm-phù-đề.
Luận Tam pháp độ ghi: “Trong tám địa ngục lớn, hai địa ngục trước có người cai quản, ba địa ngục kê ít người cai quản, ba địa ngục sau không người cai quản. Mỗi mặt của những địa ngục này có bốn địa ngục nhỏ, vậy mỗi địa ngục có mười sáu địa ngục nhỏ vây quanh. Tổng cộng địa ngục nóng có một trăm ba mươi sáu ngục, tội nhân chịu thống khổ nóng bức.
* Địa ngục lạnh cũng có tám ngục lớn:
1. Địa ngục Át-phù-đà: Tội nhân bị lạnh rét, nên da thịt nổi những mụt nhỏ.
2. Địa ngục Nê-lại-phù-đà: Do gió lạnh thổi nên toàn thân tội nhân sưng phù.
3. Địa ngục A-trá-trá: Môi tội nhân không mấp máy, chỉ có lưỡi cử động phát ra tiếng a-trá-trá.
4. Địa ngục A-ba-ba: Lưỡi tội nhân không động, chì có môi mấp máy phát ra tiếng a-ba-ba.
5. Địa ngục Âu-hầu: Lưỡi môi tội nhân không động, chỉ yết hầu phát ra tiếng áu-hầu.
6. Địa ngục uất-ba-la: Trung Quốc dịch là hoa sen xanh, vì thịt tội nhân như hoa này đang nở.
7. Địa ngục Ba-đầu-ma: Trung Quốc dịch là hoa sen đỏ, do thịt tội nhân nứt ra như hoa sen đỏ nở.
8. Địa ngục Phân-đà-lợi: Trung Quốc dịch là hoa sen trắng, do xương của tội nhân nứt ra, giống như hoa này đang nở.
Hai địa ngục đầu do thân thụ khổ mà đặt tên, ba địa ngục kế do âm thanh mà đặt tên, ba địa ngục sau do vết thương trên thân mà đặt tên.
Cho nên luận Câu-xá ghi: “Chúng sinh trong tám địa ngục này chịu lạnh rét bức ép. Do thân, âm thanh, vết thương biến dị, nên lấy đó mà đặt tên”.
Luận Tam pháp độ ghi: “Hai địa ngục đầu có thể kêu la, ba địa ngục kế chẳng thể kêu la, ba địa ngục sau không kêu la. Tám địa ngục này ở dưới núi Thiết Vi, cõi Diêm-phù-đề”.
*Địa ngục Biên
Luận Tam pháp độ ghi: “Những địa ngục này ở ba nơi: Trong núi, trong biển và nơi hoang vắng, tội nhân thụ nghiệp báo riêng, chịu khổ nóng lạnh xen kẽ, thọ mạng có dài ngắn”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Đức Thế Tôndạy:
- Có địa ngục lớn tên là Hắc ám ở bên ngoài các thế giới. Không có gì ngăn che mà chúng sinh trong đó cũng không trông thấy bàn tay của mình. Cho dù ánh sáng của mặt trời và mặt trăng cực mạnh cùng không thể soi chiếu đến được. Chư Phật ra đờiphóng hào quang chiếu khắp, nhờ ánh sáng này nên chúng sinh có thể nhìn thấy nhau.
Nằm giữa hai thế giới, bên ngoài Thiết Vi là địa ngục Băng lạnh.
Giữa hai núi Kim Cuơng, lại có mười địa ngục, một là Át-phù-đà, cho đến mười là Ba-đầu-ma. Tội nhân trong địa ngục Át-phù-đà này di chuyển theo chiều ngang, giống như loài thủ cung, nhưng khởi tưởng hướng lên trên. Bên ngoài núi Thiết Vi, tội nhân thường di chuyển theo chiều ngang, thân thể của họ như bọt nước lớn. Do gió lạnh thổi đến, thân họ vỡ ra như quả dưa chín rã, như đám lau bị lửa dữ thiêu đốt, phát tiếng tra-tra. Cũng như vậy, tội nhân bị gió lạnh xúc chạm, làm cho xương vỡ vụn, phát tiếng tra-tra vang khắp. Nhờ tiếng la này và do tới lui xúc chạm, nên họ nhận biết lẫn nhau mà nghĩ: ‘Có chúng sinh thụ sinh nơi đây’. Những chúng sinh chết ở đây phần nhiều sinh đến địa ngục Băng lạnh.
Những chúng sinh ở thế giới khác, phần nhiều là các thế giới ngoài núi Thiết Vi, sau khi chết, rơi vào địa ngục Băng lạnh. Giữa hai thế giới, chỗ hẹp nhất là tám mươi nghìn do-tuần, dưới không có đáy, trên không có mái che, chỗ rộng nhất là một trăm sáu mươi do-tuần”.
4.6.4. Thời gian thụ tội
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật dạy:
- Ví như có hai mươi hộc mè, có một người cứ một trăm năm nhặt một hạt mè ném sang nơi khác. Ném hết số mè trong hai mươi hộc rồi mà tuổi thọ của các tội nhân trong địa ngục kia vẫn chưa hết. Vả lại, dùng số đó để tính một thọ mạng ở địa ngục Át-phù-đà. Như vậy. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục Át-phù-đà là một thọ mạng ở địa ngục Nê-la-phù-đà. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục Nê-la-phù-đà là một thọ mạng ở địa ngục A-hô. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục A-hô là một thọ mạng ở địa ngục Hô-hô-bà. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục Hô-hô-bà là một thọ mang ở địa ngục A-tra-tra. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục A-ưa-tra là một thọ mạng ở địa ngục Tao-kiên-đề-ca. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục Tao-kiền-đề-ca là một thọ mạng ở địa ngục Ưu-bát-la. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục Ưu-bát-la là một thọ mạng ở địa ngục Câu-mâu-đà. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục Câu-mâu-đà là một thọ mạng ở địa ngục Bôn-trà-lợi. Hai mươi thọ mạng ở địa ngục Bôn-trà-lợi là một thọ mạng ở địa ngục Ba-đầu-ma, tức là một trung kiếp”.
Kinh Na-tiên tì-kheo vấn Phật ghi: “Sức nóng của lửa thế gian không bằng lửa địa ngục. Như lấymột hòn đá nhỏ bỏ vào lửa thế gian, từ sáng đến chiều viên đá vẫn không tiêu hủy, nhưng lấy một tảng đá lớn bỏ vào lửa địa ngục thì lập tức cháy tiêu. Cũng như người làm ác, chết rơi vào địa ngục, đến mấy nghìn vạn năm vẫn không chết. Hoặc như các loài rồng, rắn lớn... ăn cát đá, cát đá tiêu ngay. Nhưng người mang thai, thai nhi vẫn không tiêu mất.

Phần 7

Đó đều là do sức nghiệp thiện, ác mà tiêu hay không tiêu. Những việc thiện ác con người đã tạo luôn theo họ như bóng theo hình. Người ấy chết đi chỉ mất thân này, nhưng hành nghiệp của họ vẫn không mất. Thí như ban đêm đốt đèn viết chữ, đèn tắt nhưng chữ vẫn còn, đèn sáng chữ hiện. Đời này tạo nghiệp thiện ác, đời sau mới nhận lấy quả báo.
Trong địa ngục Bát-đầu-ma, lửa cháy hừng hực, dù người tội đứng cách ngọn lửa một trăm do-tuần vẫn bị lửa thiêu cháy. Nếu người tội cách sáu mươi do-tuần thì hai tai bị điếc, nếu người tội cách năm mươi do-tuần thì đôi mắt bị mù.
Tì-kheo Cù-ba-lợi dùng tâm độc ác hủy báng Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, sau khi mạng chung, phải đọa vào địa ngục Bát-đầu-ma này”.
Kinh Khởi thể ghi: “Nếu các chúng sinh cách địa ngục Ba-đầu-ma một trăm do-tuần thì bị lửa dữ đốt cháy, nếu cách năm mươi do-tuần thì bị lửa xông lên làm mù hai mắt, nếu cách hai mươi lăm do-tuầnthì máu thịt bị thiêu đốt tan nát. Đó là do khởi tâm vẩn đục, tâm não hại, tâm ác độc, tâm không ích lợi, tâm không từ bi, tâm không thanh tịnh đối với người xuất gia Phạm hạnh, nên tự chuốc lấy họa này. Vì vậy, các ông nên khởi thân khẩu ý nghiệp từ hòa đối với tất cả những vị tu Phạm hạnh, để thường được an lạc.
Thế Tôn nói kệ:
Những người sống tại thế gian này
Tự nhiên trên lưỡi sinh dao búa
Bởi miệng tuôn ra lời ác độc
Trở lại tổn hại bản thân mình.
Không ca ngợi người đáng ca ngợi
Lại ca ngợi kẻ chẳng ra gì
Đó gọi là tranh đấu nơi miệng
Khiến cho mọi người không an lạc.
Nếu người cờ bạc mà thắng cuộc
Là việc tranh nhỏ ở thế gian,
Nếu khởi ý xấu người tịnh hạnh
Là tranh đấu lớn nơi cửa miệng.
Đọa vào ba mươi sáu trăm nghìn
Các địa ngục Nê-la-phù-đà
Rồi năm địa ngục Át-phù-đà
Sau đọa địa ngục Ba-đầu-ma
Do thân miệng ý gây nghiệp ác
Chê bai Thánh nhân nên như thế.
4.6.5. Vua quản ngục
Kinh Vấn địa ngục và kinh Tịnh độ tam-muội ghi: “Cả thảy có một trăm ba mươi bốn địa ngục. Trước hết nói về tên gọi và nơi ở của vị chủ ngục. Vua Diêm-la đời trước là vua nước Tì-sa, từng chiến đấu với vua Duy-đà-thỉ-sinh, nhưng vì thua trận, nên lập thệ: ‘Ta nguyện làm chủ địa ngục’. Lúc ấy, mười tám đại thần thống lãnh trăm vạn người đầu có sừng, đều oán hận và cùng lập nguyện: ‘Sau này chúng tôi sẽ giúp vua trị tội bọn kia’.
Vua Tì-sa thuở ấy nay là vua Diêm-la, mười tám đại thần nay là các vua nhỏ, trăm vạn chúng là những ngục tốt”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Trong núi Kim Cang ở Nam Diêm-phù-đề có cung điện vua Diêm-la, chu vi sáu mươi do-tuần. Ngày đêm ba lần, có vạc đồng lớn tự nhiên hiện ra. Nếu thấy vạc xuất hiện trong cung thì vua sợ hãi, bỏ ra ngoài cung. Nếu vạc xuất hiện ngoài cung thì vua vào trong cung. Có ngục tốt cao lớn bắt vua nằm trên giường sắt nóng, lấy móc sắt tách miệng, nước đồng sôi rót vào, chảy xuống chỗ nào thì chỗ ấy tan rã. Thụ tội xong, vua cùng vui chơi với thê nữ. Những đại thần dù có thụ hưởng phúc báo cũng chịu khổ như thê”.
Kinh vấn địa ngục ghi: - Mười tám vua nhỏ tức là mười tám vị thống lãnh mười tám địa ngục:
1. Vua Ca-diên quản ngục A-tì.
2. Vua Khuất-tuân quản ngục Núi dao.
3. Vua Phí-tiến-thụ quản ngục Cát nóng.
4. Vua Phí-khúc quản ngục Phân sôi.
5. Vua Ca-thế quản ngục Tai đen.
6. Vua Cái-tha quản ngục Xe lửa.
7. Vua Thang Vị quản ngục Vạc nước sôi.
8. Vua Thiết-ca-nhiên quản ngục Giường sắt.
9. Vua Ác Sinh quản ngục Núi cái.
10. Địa ngục Băng lạnh{kinh ghi thiếu tên vị quản ngục).
11. Vua Tỳ-ca quản ngục Lột da.
12. Vua Diêu Đầu quản ngục Súc sinh.
13. Vua Đề-bạc quản ngục Đao binh.
14. Vua Di Hỏa quản ngục cối sắt.
15. Vua Duyệt-đầu quản ngục Băng lạnh.
16. Vua ngục Ong sắt{kinh ghi thiếu tên vị quản ngục)-
17. Vua Danh Thân quản ngục Giòi bọ.
18. Vua Quán Thân quản ngục Nước đồng sôi.
Kinh Tịnh độ tam-muộỉ ghi: “Ba mươi địa ngục, mỗi ngục đều có vị chủ ngục, nhưng không ghi ra, chỉ nêu tên năm vị:
1. Quan Tiên trị tội sát sinh.
2. Quan Thủy trị tội trộm cắp.
3. Quan Thiết trị tội tà dâm.

Phần 8

4. Quan Thổ trị tội nói hai lưỡi.
5. Quan Thiên trị tội uống rượu”.
Kinh Vấn địa ngục ghi: “Bốn mặt của cung điện vua Diêm-la đều có địa ngục. Ánh sáng nhật nguyệt không chiếu đến đây. Khi con người mạng chung, liền thụ thân trung ấm. Thân trung ấm là thân trung gian giữa tử ấm và sinh ấm. Người tội nương thân trung ấm mà vào thành Nê-lê. Thành này là nơi tụ tập của những người tội khi chưa chịu hình phạt. Đến khi gió thổi đến thì tùy nghiệp mà thụ thân lớn hoặc nhỏ. Nếu ngọn gió hôi thối thổi đến thì thành thân hôi thối, nếu gió hương thơm thổi đến thì thành thân thơm”.
4.6.6. Cung điện của vua Diêm-la
Kinh Khởi Thế ghi: “Bên ngoài hai núi Thiết Vi, ở phía nam cõi Diêm-phù-đề, có cung điện của vua Diêm-la. Cung điện này dài rộng sáu nghìn do-tuần, có bảy lớp tường vách, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới có treo linh. Ngoài cùng lại có bảy lớp hàng cây đa-la bao bọc chung quanh. Lại có vô số cảnh vật xinh đẹp đều do bảy báu tạo thành. Bốn phía cung thành có bốn cửa. Mỗi cửa đều có đài gác, cung điện, vườn hoa, ao hồ. Trong vườn có nhiều loại cây, quả ngon trĩu cành, hương thơm theo gió xông khăp, vô số chim chóc ca hót líu lo.
Vua Diêm-la vì nghiệp ác nên chịu quả bất thiện, đêm ngày sáu thời đều có nước đồng sôi tự nhiên hiện ra trước mặt. Khi ấy, cung vua liền biến thành sắt, phúc báo năm dục đều ẩn mất. Thấy vậy, vua sợ hãi, bất an, toàn thân rúng động, liền đi ra ngoài. Nếu cảnh này hiện bên ngoài thì vua trở vào cung, lúc ấy ngục tốt bắt vua Diêm-la, nhấc bổng đặt trên nền sắt nóng, lửa dữ hừng hực, cháy sáng đỏ rực. Sau đó, ngục tốt lấy kiếm sắt cạy miệng, rồi rót nước đồng sôi vào, khiến vua Diêm-la bị thiêu cháy từ môi miệng, đến lưỡi, cổ họng, ruột già, ruột non... từ trên xuống dưới đều bị cháy rụi.
Lúc đó, vua nghĩ: ‘Tất cả chúng sinh do đời trước thân làm việc ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, nay ta và các chúng sinh cùng tạo nghiệp ác như thế, nên phải chịu nỗi khổ này. Xin nguyện từ nay, sau khi ta xả thân này, thụthân khác, được sinh làm người có lòng tin hiểu giáo pháp của Như Lai, cạo bỏ râu tóc, mặc ca-sa, xuất gia tu học. Sau khi xuất gia, ta chứng đạo quả, sinh tử sẽ dứt, Phạm hạnh sẽthành, những việc cần làm sẽ làm xong, không còn thụ thân sau’.
Sau khi vua Diêm-la khởi các niệm thiện như thế, cung điện vua đang ngự liền trở lại thành bảy báu, giông như cõi trời, phúc báo năm dục hiện ra đầy đủ. Vì ba nghiệp đều thiện nên được an vui”.
Luận Tân bà-sa ghi:
Hỏi: Trong địa ngục, những gì là hữu tình, những gì là vô tình?
Đáp: Những kẻ vừa đọa vào địa ngục bị khóa sắt trói buộc giam hãm, đưa đến trước mặt vua Diêm-la được gọi là hữu tình; còn những khí cụ khốc liệt dùng để bức hại các tội nhân trong địa ngục, được gọi là vô tình.
Bên dưới châu Nam Thiệm-bộ có địa ngục lớn, phía trên châu này có địa ngục Biên và địa ngục Cô độc, hoặc ở trong hang, hoặc là trong núi, hoặc nơi đồng trống, hoặc giữa hư không. Ba châu còn lại chỉ có địa ngục Biên và địa ngục Cô độc, không có địa ngục lớn. Vì sao? Bởi vì chúng sinh châu Nam Thiệm-bộ tạo nghiệp thiện rất lớn mà tạo nghiệp ác cũng rất nhiều, không giống như các châu kia.
Có thuyết cho là ở châu Bắc Câu-lô cũng không có địa ngục, vì đó là nơi thụ nhận nghiệp quả hoàn toàn thanh tịnh.
Hỏi: Nếu ba châu kia không có địa ngục lớn, thì những hữu tình ở các châu ấy tạo nghiệp Vô gián, đoạn mất căn lành, sẽ thụ báo ở đâu?
Đáp: Họ sẽ thụ báo nơi địa ngục lớn ờ dưới châu Nam Thiệm-bộ này.
Hỏi: Tướng mạo của những hữu tình ở địa ngục như thế nào?
Đáp: Tướng mạo giống như người.
Hỏi: Tiếng nói ra sao?
Đáp: Lúc mới thác sinh, họ đều nói tiếng Thiên Trúc. Sau đó, trong thời gian thụkhổ, thì phát ra những âm thanh đau đớn, khổ não, cho đến không thể thốt ra được một lời, mà chỉ có những âm thanh ghê rợn của sự đâm chém, cưa xẻ”.
4.6.7. Nghiệp nhân
Kinh Thập luân ghi: “Năm tội nghịch là nghiệp ác nặng nhất. Đó là cố ý giết hại cha, mẹ, a-la-hán, phá hòa hợp tăng, ác tâm làm thân Phật chảy máu. Nếu người nào phạm một trong năm tội nghịch này thì không được xuất gia, thụ giới cụ túc. Nếu đã xuất gia, thụgiới cụ túc thì nên tẩn xuất, chứ không đánh đập hay giam giữ. Nếu cho xuất gia, người cho phạm tội trọng.
Lại có bốn tội lớn tương đương với bốn tội nghịch, là tội căn bản. Đó là giết bích-chi phật, cưỡng dâm tì-kheo-ni a-la-hán, sử dụng tài vật củaTam bảo, người ác kiến phá hoại hòa hợp tăng. Nếu người nào phạm một trong bốn tội căn bản này thì không cho xuất gia trong Phật pháp. Giả sử đã xuất gia thì không cho thụ giới cụ túc; nếu đã thụ giới cụ túc thì nên tẩn xuất, chứ không đánh đập hay giam giữ, giết hại. Đây gọi là phạm tội căn bản, chẳng phải nghịch tội.
Có trường hợp vừa phạm tội căn bản, đồng thời là tội nghịch. Như hại mạng của người xuất gia, người thụ giới cụ túc, bậc chứng được quả thánh thì vừa phạm tội nghịch và tội căn bản. cần phải đuổi người ấy khỏi tăng đoàn của Ta.
Có trường hợp phạm tội căn bản chẳng phải tội nghịch. Như hại mạng của người xuất gia phàm phu thì chỉ phạm tội căn bản.
Tội phân chia vật của tứ phương tăng không đồng đều, chẳng thuộc về tội căn bản cũng chẳng phải tội nghịch.
Như có chúng sinh nghi ngờ Tam bảo, xuất gia trong Phật pháp, khi thấy người khác đọc tụng kinh điển mà cố ý cật vấn cho dù một bài kệ, thì chẳng phải tội căn bản cũng chẳng phải tội nghịch, mà phạm tội cực ác gần kề với tội nghịch. Nếu không sám hối để diệt trừ tội chướng thì trọn không cho xuất gia trong Phật pháp. Giả sử người ấy đã xuất gia, thụ giới cụ túc mà không sám hối tội lỗi thì cũng nên đuổi đi. Vì sao? Vì người này không tin chính pháp, hủy báng Tam thừa, phá hoại con mắt chính pháp, muốn tắt đèn chính pháp, dứt giống Tam bảo, làm giảm tổn sự lợi ích của trời người, đọa vào đường ác. Hai hạng người này gọi là phỉ báng chính pháp, khinh chê thánh hiền, tăng lớn pháp ác, sẽ phải ở mãi trong địa ngục. Đây gọi là phạm tội căn bản cực lớn.
Lại có tội phạm giới căn bản, như tì-kheo dâm dục, cố ý giết hại người phàm, không cho mà lấy, nói lời dối trá. Nếu người nào phạm một trong bốn tội này thì không được nhận tứ phương tăng vật, cũng không được dùng chung vật dụng của

Phần 9

chư tăng, như món ăn, thức uống, đồ nằm... Song vua quan không nên xử phạt, trừng trị, cho đến giết hại họ. Sao gọi là phạm tội trọng căn bản? Vì người tạo các nghiệp này, khi mạng chung, sẽ đọa vào đường ác. Đó là gốc rễ của đường ác, nên gọi là tội căn bản. Thí như hòn sắt tuy được ném vào hư không, không thể dừng lại mà nhanh chóng rơi xuống đất.
Trên đây là năm tội nghịch, bốn giới trọng, tội hủy hoại chính pháp và chê bai thánh hiền. Nếu người nào phạm một trong mười một tội này, khi mạng chung, sẽ bị rơi vào địa ngục A-tì”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Sự khổ trong địa ngục A-tì gấp nghìn lân hơn trước, vì người tội phải trải qua một kiếp sống trong bảy địa ngục lớn, thân người tội lớn năm trăm do-tuần. Người tạo bốn tôi nghịch thân lớn bốn trăm do-tuần; người tạo ba tôi nghịch thân lớn ba trăm do-tuần; người tạo hai tội nghịch thân lớn hai trăm do-tuần; người tạo một tội nghịch thân lớn một trăm do-tuần. Người tạo năm tội nghịch khi sắp chết, miệng kêu gào, dưới chảy phân, khí tắt cổ họng rồi chết, liền thụ thân trung ấm, nhưng không thấy được người đối diện. Thân trung ấm giống như đứa bé tám tuổi bị vua Diêm-la lấy dây sắt nóng quấn cổ, rồi trói hai tay, cho đi ngược. Do đi ngược suốt hai nghìn năm, nên lửa nóng thiêu đầu, cháy rụi hết tóc, rồi đến thiêu thân, mùi hôi khét bốc lên, khiến cho chư thiên sáu tầng trời cõi Dục đều phải tránh xa. Vì sao? Vì chúng sinh trong địa ngục A-tì hết sức tanh hôi”.
Kinh Quán Phật tam-muộỉ.hảỉ ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Nếu chúng sinh nào giết cha, hại mẹ, mắng chửi lục thân, trong khoảng tâm thức mờ mịt lúc mạng chung, liền rơi thẳng xuống địa ngục A-tì nhanh như khoảng thời gian người lực sĩ co duỗi cánh tay. Bấy giờ, vua Diêm-la hiện ra, quát lớn: ‘Người ngu si kia gieo nhân địa ngục. Khi ở nhângian, ngươi bất hiếu cha mẹ, tà kiến, kiêu mạn, không có đạo đức, nên nay đọa vào địa ngục này’.
Nói xong, vua Diêm-la biến mất. Khi ấy, ngục tốt đuổi bắt người tội từ ngăn dưới lên ngăn trên, trải qua tám mươi bốn nghìn ngăn như thế. Người tội phải đu mình mà qua đến biên lưới sắt, một ngày một đêm vượt khắp hết địa ngục A-tì.
Một ngày một đêm ở địa ngục A-tì bằng sáu mươi tiểu kiếp ở cõi Diêm-phù-đề. Như vậy, thọ mang hết là một đại kiếp. Người phạm đủ năm tội nghịch phải chịu tội cả năm đại kiếp.
Lại có chúng sinh phạm bốn giới trọng, luống nhận của tín thí, phỉ báng Tam bảo, tà kiến, không tin nhân quả, không học bát-nhã, khinh chê mười phương Phật, trộm vật của chúng tăng, dâm dật, bạo ngược, cưỡng bức tì-kheo-ni gỉữ giới thanh tịnh, hủy nhục chị em, bà con thân thích, không biết hổ thẹn, chê bai họ hàng, làm các việc ác. Những người này khi mạng chung, gió lạnh xẻ thân, chỉ trong phút chốc, thân như hoa sắt, đầy cả mười tám ngăn. Mỗi một hoa có tám mươi bốn nghìn cánh, trên mỗi cánh đều có đầu, mình, bốn chi mỗi phần trải mỗi ngăn. Như thế, thân người tội vừa đủ lớn để đầy cả địa ngục A-tì, trải qua tám mươi bốn đại kiếp.
Khi địa ngục A-tì này hoại, người tội lại vào mười tám ngăn ngục ở phương đông, cũng chịu khổ như trên. Phương nam, tây, bắc của địa ngục A-tì,mỗi phương người tội cũng trải qua mười tám ngăn như vậy.
Người hủy báng kinh Đại thừa, phạm đủ năm tội nghịch, phá hoại giới cấm, làm ô nhục tì-kheo, tì-kheo-ni, dứt các căn lành... thân đầy cả ngục A-tì, bốn chi trải khắp mười tám ngăn ngục. Địa ngục A-tì này chỉ thiêu đốt chúng sinh phạm các tội trọng trên.
Khi kiếp sắp hết, cửa ngục phương đông mở ra, người tội thấy bên ngoài có suối nước trong mát, rừng cây, hoa quả hiện ra đầy đủ. Những người tội từ ngăn dưới nhìn ra, mắt chợt bừng sáng, từ ngăn dưới trườn mình, uốn thân bò lên ngăn trên, tay vịn bánh xe dao. Lúc ấy, trên không trung tuôn xuống những hòn sắt nóng. Người tội vội chạy đến cửa ngục phía đông, vừa đến cửa, ngục tốt la-sát liền cầm chĩa sắt móc mắt người tội, chó sắt cắn tim, khiến họ chết ngất. Chết rồi, sống lại, người tội thấy cửa ngục phía nam mở ra, chịu tội cũng như trước. Cửa ngục phía tây, phía bắc cũng lại như thế. Như vậy, tội nhân thụ khổ trải qua nửa kiếp.
Sau khi chết ở địa ngục A-tì, người tội rơi vào địa ngục Băng lạnh; chết ở địa ngục Băng lạnh, rơi vào địa ngục Hắc ám, tám mươi nghìn năm mắt không trông thấy vật gì. Mãn kiếp ở đây, người tội thụ thân trùng lớn, trườn bụng để di chuyển, tâm trí ngu tối, không chút hiểu biểt, bị trăm nghìn loài chồn cáo tranh nhau ăn thịt. Sau khi mạng chung, kẻ ấy sinh vào loài súc sinh, làm thân chim thú trải qua năm mươi nghìn kiếp; sau đó, được sinh làm người, lại bị mù, điếc, câm, ngọng, ghẻ lở, ung nhọt, bần cùng, hèn hạ, tất cả bệnh dữ đều mang vào thân. Chịu thân hèn hạ như thế đến năm trăm đời, rồi sinh vào loài ngạ quỷ, gặp các đại bồ-tát thiện tri thức quở trách: ‘Trong vô lượng kiếp trước, ngươi tạo vô số tội lỗi, phỉ báng Tam bảo, không tin nhân quả, nên bị rơi vào địa ngục A-tì, chịu các khổ não không thể kể xiết. Nay ngươi cần phải phát tâm bồ-đề’.
Nghe lời ấy, các ngạ quỷ niệm: ‘Nam-mô Phật’. Nhờ công đức này, chẳng bao lâu, chúng mạng chung, sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, ăn năn tự trách những tội đã tạo và phát tâm Bồ-đề.
Ánh sáng từ bi của Phật không bỏ các ngạ quỷ này, tiếp độ chúng cũng như La-hầu-la, dạy tránh xa địa ngục”.
Cho nên trong kinh Khởi thế có bài kệ:
Nếu người ba nghiệp tạo lỗi lầm,
Mạng chung sẽ đọa vào đường ác,
Chịu khổ ở nơi ngục Đằng hoạt,
Kinh sợ, hãi hùng rợn tóc gáy.
Trải qua vô số nghìn ức năm,
Chết ròi, sống lại trong chốc lát,
Oán thù chồng chất mãi trả vay,
Vì thế, chúng sinh giết nhau hoài.
Nếu khởi tâm ác với cha mẹ,
Hoặc Phật, bồ-tát và thanh văn,
Thế là đọa địa ngục Dây đen,
Nơi ấy chịu khổ vô cùng tận.
Khiến người đoan chính thành tà dâm,
Cố ý phá hoại người làm thiện,
Người này cũng đọa ngục Dây đen.
Lưỡng thiệt, ác khẩu và vọng ngữ,

Phần 10

Ba nghiệp thích tạo các việc dữ,
Không chịu tu tập những nghiệp lành,
Người ngu như thế hẳn phải đọa,
Vào ngục Chúng hợp, chịu khố lâu.
Hoặc giết dê, ngựa, cùng loài trâu,
Gà, heo và những cầm thú khác,
Lại giết trùng kiến, loài bé nhỏ,
Người ấy cũng đọa ngục Chúng hợp.
Khi sống khiến nhiều loài sợ hãi,
Thường hay não loạn các chúng sinh,
Chết sẽ rơi vào ngục Núi đá,
Chịu khổ ép chặt và xay giã.
Do ba kết sử tham, sân, si,
Chuyển xoay chỉnh pháp thành tà vạy,
Phán thị thành phi, trái giới pháp,
Kẻ ấy chịu khổ ngục Đao kiếm.
Cậy thế, ỷ quyền cướp của người,
Có sức, không sức đều đoạt lấy,
Thường làm các việc bức não ấy,
Quả báo voi sắt giày đạp thân.
Nếu thích giết hại các chúng sinh,
Tâm ác, thân hình vấy máu tanh,
Thường tạo các nghiệp bất thiện ấy,
Kẻ này sẽ đọa ngục Kêu gào.
Dùng muôn nghìn cách hại chúng sinh,
Trong ngục Kêu gào bị thiêu nấu.
Do lòng dối gạt và gian xảo,
Rừng rậm tà kiến phủ che tâm,
Lưới ác đan dày, luôn chìm đắm,
Những nghiệp ác ấy mãi gây ra,
Kè kia đọa ngục Kêu gào lớn.
Đã rơi vào chốn khổ ải này,
Thành sắt cháy đỏ, thật ghê rợn,
Lại thêm phòng nhà đều bằng sắt,
Người vào nơi ấy đều bị thiêu.
Nếu ở thế gian tạo nghiệp ác,
Thường làm não loạn các chúng sinh,
Kẻ ấy sẽ đọa ngục Thiêu nướng,
Muôn kiếp phải chịu cảnh cháy thiêu.
Nếu thường xúc não, làm buồn khổ,
Các bậc sa-môn, bà-la-môn,
Cha mẹ, tôn trưởng, người già cả,
Sẽ bị rơi vào ngục Thiêu nướng.
Ở đời không chịu tu thập thiện,
Ruồng bỏ mẹ cha, người thân thiết,
Những kẻ thích làm các việc này,
Nhất định rơi vào ngục Thiêu nướng.
Ác tâm đối với Bà-la-môn,
Sa-môn, cha, mẹ và người thiện,
Hoặc là làm hại bậc tôn quý,
Trong ngục Thiêu nướng bị cháy tiêu.
Người hay gây tạo các nghiệp ác,
Chưa từng phát khởi chút thiện tâm,
Sẽ bị rơi thẳng ngục A-tì,
Phải chịu vô số điều khổ não.
Nếu nói chính pháp thành phi pháp,
Nói điều phỉ pháp thành chính pháp,
Không làm tăng trưởng các việc lành,
Người ấy sẽ đọa ngục A-tì.
Đẳng hoạt, Dây đen và Hợp hội
Kêu gào, Kêu gào lớn, thành năm,
Bức bách và Thiêu nướng là bảy,
Địa ngục A-tì là thứ tám.
Trên đây là tám địa ngục lớn,
Mười sáu ngục nhỏ lại vây quanh,
Khổ đau khốc liệt không chịu được,
Đều do gây tạo các nghiệp ác”.
4.6.8. Khuyên răn

Phần 11

Kinh Khởi thế ghi:” Đức Phật dạy:
- Này các tì-kheo, ở nhân gian có ba vị thiên sứ là già, bệnh và chết. Nếu chúng sinh nào buông lung, ba nghiệp tạo ác, sau khi mạng chung sẽ rơi vào địa ngục. Lúc đó, ngục tốt dẫn người tội đến trước vua Diêm-la và tâu:
- Thưa đại vương! Chúng sinh này khi xưa ở nhân gian buông lung vô độ, ba nghiệp tạo ác, nay đưa vào đây, cúi xin đại vương răn dạy.
Vua Diêm-la hỏi người tội:
- Khi ở nhân gian, vị thiên sứ thứ nhất đã khéo dạy bảo, quở trách ngươi, ngươi không thấy vị ấy xuất hiện sao?
Người tội đáp:
- Thưa đại vương, tôi thật không thấy!
Vua lại hỏi:
- Xưa ở nhân gian, khi làm người, ngươi không thấy người nam, người nữ có các tướng già nua hiện ra ư? Nào đầu bạc, răng long, da dẻ nhăn nheo, đồi mồi khắp thân, tợ như hạt mè, tay quắp, lưng còng, đi đứng lom khom, nghiêng qua ngã lại, cổ nhỏ da dùn, xệ xuống hai bên giống như yếm bò, môi lưỡi khô cháy, cổ đau rát, thân thể ốm gầy, khí lực suy kiệt, hơi thở khò khè giống như kéo cưa, thân muốn đổ về trước, phải chống gậy đi. về già, khí lực càng suy yếu, xương thịt khô teo, gầy gò, ốm yếu, đi đứng nặng nề, tâm trí tán loạn, thân thường run rẩy, khớp xương rã rời. Ngươi có thấy không?
Người tội đáp:
- Thưa đại vương! Tôi thật thấy thế!
Lúc ẩy, vua bảo:
- Ngươi là kẻ ngu si, không có trí tuệ, xưa đã từng thấy như thế, tại sao không nghĩ: ‘Ta nay không thể tránh khỏi các tướng già nua này, nên phải làm việc thiện để được lợi ích, an lạc lâu dài’.
Người tội lại đáp:
- Thưa đại vương! Tôi thật không nghĩ như thế, vì tâm mãi buông lung, làm điều xằng bậy.
Vua Diêm-la nói:
- Ngươi là kẻ ngu si, không làm việc thiện, nên nay phải chịu tội buông lung này. Quả báo khổ này chẳng phải do người khác làm mà do ngươi tự gây ra, nên nay phải tự chuốc lấy.
Lần thứ hai, vua Diêm-la hỏi người tội:
- Ngươi không thấy vị thiên sứ thứ hai xuất hiện ở thế gian sao?
Người tội đáp:
- Thưa đại vương, tôi thật không thấy!
Vua lại hỏi:
- Xưa ở nhân gian, khi làm người, hẳn ngươi phải thấy người nam, người nữ đang lúc bốn đại điều hòa, bổng nhiên chông trái, bệnh tật bức bách, vây ép khổ đau, hoặc nằm trên giường, tiêu tiểu tại chỗ, lăn lộn trên phản tiểu nhơ nhớp. Mọi việc không thể tự làm, đứng ngồi ngủ nghỉ, giặt giũ quét dọn, những việc trong ngoài, kể cả ăn uống, đều phải nhờ người. Ngươi có thấy không?
Người tội đáp:
- Thưa đại vương, tôi thật thấy thế.
Vua lại nói:
- Này kẻ ngu si! Ngươi thấy như vậy, sao không tự nghĩ: ‘Ta nay cũng chịu quy luật như thế, không thể thoát khỏi các bệnh tật này, nên làm việc thiện để sau này được lợi ích, an lạc lâu dài’.
Người tội đáp:
- Tôi thật không nghĩ như thế, vì tâm mãi buông lung, làm điều xằng bậy.
Vua Diêm-la nói:
- Này kẻ ngu si! Ngươi đã buông lung, không làm việc thiện, nên chuốc lấy quả khổ này, chẳng phải do người khác làm, mà là quả báo do ngươi gây ra, tự mình gánh chịu.
Lần thứ ba, vua Diêm-la quở trách người tội:
- Ngươi là kẻ ngu si! Xưa ở nhân gian, ngươi không thấy vị thiên sứ thứ ba xuất hiện ở thế gian sao?
Người tội đáp:
- Thưa đại vương, tôi thật không thấy!
Vua lại hỏi:
- Xưa ở nhản gian, khi làm người, hẳn ngươi phải thấy người nam, người nữ khi thân hoại mạng chung được đặt trên giường, liệm bằng áo nhiềumàu, đưa ra khỏi thôn xóm, giương cờ, dựng phướn... Người thân vây quanh, đưa tay bứt tóc, bụi đất dính đầy đầu, sắc diện thật là áo não, lớn tiếng kêu gào, than van thảm thiết, đấm ngực, khóc la, đau đớn, nghẹn ngào. Ngươi không thấy sao?
Người tội đáp:
- Thưa đại vương, tôi thật thấy thế.
Khi ấy, vua bảo:
- Này kẻ ngu si! Trước đây, ngươi đã thấy như vậỵ, sao không tự nghĩ: ‘Ta cũng phải chết, không thể thoát khỏi, nay nên làm thiện để ta mãi mãi được lợi ích lớn’.
Người tội đáp:
- Thưa đại vương, tôi thật không nghĩ như thế, vì tâm mãi buông lung.
Bấy giờ, vua bảo:
- Ngươi đã buông lung, không làm việc thiện, tự mình gây tạo nghiệp ác này, chứ không phải do người khác, nên phải chuốc lây quả báo.

Phần 12

Sau khi mượn dụ ba vị thiên sứ để dạy bảo, quở trách tội nhân, vua Diêm-la ra lệnh ngục tốt đưa người tội đi. Thế là, ngục tốt lập tức xách ngược người tội, từ xa ném vào trong các địa ngục”.
Ngăn dòng chảy không bằng lấp nguồn, khuấy nước sôi cho nguội không bằng dập tát lửa. Bởi vì nguồn tạo thành dòng, không lấp nguồn thì dòngchảy mãi; lửa đỏ nước sôi, không dập lửa thỉ nước sôi hoài. Cho nên, có người lấp nguồn thì không cần ngăn dòng mà nước tự khô; có kẻ dập lửa thì không cần khuấy nước sôi mà nước tự nguội. Theo đây thì sẽ rõ về việc đoạn dứt nhân quả. Nhưng nhàm chán quả đâu bằng đoạn dứt ngay nhân, lo sợ khổ đau bằng không làm ác. Nhân sinh quả, chưa đoạn nhân thì quả vẫn còn; ác gây nên khổ, chưa dứt ác thì khổ kéo dài. Thế nên, kẻ sĩ đoạn nhân thì không cần nhàm quả mà quả tự diệt; bậc hiền không làm ác thì không cần sợ khổ mà khổ tự lìa. Phàm bậc quân tử viết ra những điều này là để răn nhắc người đời vậy.
Có bài tụng:
Sinh đến tử đưa đi,
Ngày tháng xoay vần mãi,
Gió vô thường dấy động,
Theo sóng cả đổi dời.
Kẻ ngu bỏ đường chính,
Nổi chìm trong vực sâu,
Đã vào nơi tăm tối,
Muôn kiếp chịu khổ đau.
Luân hồi trong sáu nẻo,
Ba nghiệp chẳng làm lành,
Trôi dạt nào ai cứu!
Thảm thương! Tự xót xa.
Quán kỹ các hiện tượng,
Mới biết là không thật,
Muốn vượt biển khổ sâu,
Phải lên thuyền bát-nhã.
4.6.9. Cảm ứng
4.6.9.1. Đời Tấn, cư sĩ Triệu Thái: Cư sĩ tự là Văn Hòa, người Bối Khâu, Thanh Hà; ông nội làm Thái thú Kinh Triệu. Được chọn làm Hiếu liêm ở quan phủ, nhưng ông không nhận. Ông chuyên nghiên cứu kinh sách, nổi tiếng khắp làng. Lớn tuổi, ông mới chịu ra làm quan, nhận chức Trung tán đại phu. Vào năm ba mươi lăm tuổi, một hôm bị cơn đau tim, ông đột ngột qua đời. Mọi người đặt thi thể nằm trên đất, nhưng tim ông vẫn còn ấm, thân thể mềm dịu, nên không tẩn liệm. Sáng ngày thứ mười, trong cổ ông bỗng nhiên phát ra tiếng như tiếng mưa, một lát sau, ông sống lại và kể:
- Khi mới chết, tôi mộng thấy một người đến gần, lại có hai người cỡi ngựa màu vàng; hai tùy tùng xốc nách tôi đi về hướng đông. Trải qua không biết bao nhiêu dặm, đến một thành rộng lớn, cao vút, màu xanh đen giống như thép. Họ dẫn tôi vào thành, qua hai lớp cửa, ở đây có vài nghìn căn nhà ngói, mỗi nhà có vài nghìn người nam nữ lớn nhỏ đứng xếp hàng, có năm sáu vị quan mặc áo đen ghi chép họ tên trình lên Phù quân. Tôi là người thứ ba mươi.
Không bao lâu, họ dẫn tôi và vài nghìn người trong phòng đến diện kiến Phủ quân. Phủ quân ngồi quay mặt hướng về tây, nhìn qua danh sách xong, rồi sai người đưa tôi đi về phía nam, vào một tòa nhà màu đen. Ở đó có người mặc áo đỏ thắm, ngồi giữa một gian phòng lớn, lần lượt gọi tên mọi người và hỏi những việc khi còn sống, gây nghiệp tội gì? Tạo phúc thiện gì? Lại bảo:
- Cho phép các ông nói ra những lời chân thật, ở đây ta thường sai sứ giả trong sáu bộ ghi chép đầy đủ những việc thiện ác trong nhân gian, có văn trạng đầy đủ, không hư dối.
Đến phiên, tôi đáp:
- Cha và anh tôi làm quan, mỗi người hưởng bổng lộc hai nghìn thạch. Tôi còn nhỏ nên ở nhà tu học, không làm gì cả, cũng chẳng gây tội!
Vị quan này bèn sai tôi làm Thủy quan giám tác sứ, dẫn hai nghìn người chuyển cát lên bờ, ngày đêm siêng năng lao khổ. Sau đó, cho tôi làm Thủy quan Đô đốc trông coi những việc ở các ngục, lại cấp kị binh đi tuần xét các địa ngục. Những thống khổ ở địa ngục khác nhau, hoặc kim đâm qua lưỡi, máu tuôn khắp người; hoặc người tội xóa tóc, lõa thể, chân đất bị kéo đi, có người cầm gậy lớn đằng sau thôi thúc; có người tội bị ép nằm hoặc nằm giường sắt, ôm trụ đồng nung nóng, khiến thân cháy tan, rồi liền sống trở lại; hoặc lò lửa, vạc lớn nungnấu tội nhân, thân thể tan rã, chìm nổi trong nước sôi, quỉ cầm chĩa ba theo thứ tự xiên ba bốn trăm tội nhân đang đứng gần ném vào vạc, họ ôm nhau khóc lóc; hoặc cây nhọn như kiếm, cao vút, rễ, thân, cành, lá đều nhọn, những tội nhân mắng chửi nhau, rồi leo lên cây; nếu kẻ nào thích tranh giành thì thân thể bị chặt ra nhiều khúc.
Gặp ông nội, cha mẹ, hai người em ở trong ngục này, tôi rơi lệ. Tôi vừa rời ngục thì thấy hai người đem văn thư đến nói với quan coi ngục:
- Trong ngục này có ba người, gia đình họ treo cờ phướn, đốt hương nơi chùa tháp để cầu họ thoát khỏi tội, có thể rời Phúc xá.
Trong chốc lát, ba người được thả ra, tự nhiên trên người họ quần áo tươm tất.
Tôi đi về phía nam, đến một cánh cửa có ghi ‘Khai quang đại xá’, qua ba lớp cửa màu đỏ rực thì thấy ba người vừa rồi vào nhà; tôi theo vào. Phía trước có đại điện trang nghiêm bằng trân bảo rực rỡ. Tôi thấy một vị thần to lớn kì lạ, tướng hảo khác người đang ngồi trên tòa vàng đính ngọc quí, có nhiều sa-môn chung quanh, lại thấy Phủ quân đến cung kính đinh lễ. Tôi hỏi một vị quan:
- Vị này là ai mà Phủ quân cung kính đến thế?
Vị quan đáp:
- Vị này hiệu là Thế Tôn, bậc cứu độ chúng sinh, từng phát nguyện khiến chúng sinh trong đường ác đều được nghe kinh, lúc ấy có trăm vạn chín nghìn người đều thoát khỏi địa ngục, vào trong thành rộng trăm dặm. Những người đến đây đều là chúng sinh tôn kính pháp, tuy còn khiếm khuyết nhưng vẫn được độ. Cho nên kinh

Phần 13

ghi: ‘Trong bảy ngày, tùy nghiệp thiện ác nhiều ít đã tạo, theo thứ tự cũng được ra khỏi’.
Khi còn ở đó, tôi thấy cả nghìn người bay lên hư không rồi đi. Ra khỏi tòa nhà này, tôi lại thấy thành Thụ Biến Hình, chu vi hai trăm dặm. Khi tra xét xong, tội nhân phải vào thành này chịu nhiều quả báo. Tôi vào thành này và thấy vài nghìn khu nhà mái ngói vách đất, mỗi khu có đường lớn, chính giữa có một tòa nhà cao lớn, tráng lệ, lan can rực rỡ, có vài trăm cơ quan. Vị quan đối chiếu văn thư nói:
- Kẻ sát sinh phải làm loài phù du, sáng sinh tối chết. Kẻ trộm cướp phải làm heo dê, bị người mổ xẻ. Kẻ tà dâm phải làm hạc, le le, mang, nai. Kẻ nói hai lời phải làm chim cú. Kẻ mắc nợ phải làm lạc đà, lứa, trâu, ngựa.
Đi tuần xét xong, tôi trở về chỗ sảnh của Thủy quan. Quan chủ quản nói:
- Ông là con trưởng giả, vì tội gì mà đến đây?
- Ông nội, cha mẹ, anh em tôi đều hưởng bổng lộc hai nghìn thạch. Tôi được cử làm Hiếu Liêm ở công phủ nhưng từ chối, quyết chí tu thiện, không nhiễm những việc ác.
- Ông không gây tội, nên cử ông làm Thủy quan Đô đôc. Nêu không, ông đã bị hình phạt không khác gì tội nhân ở địa ngục.
- Tôi phải tu tập thế nào để khi chết được phúc báo an lạc?
- Ông nên kính thờ Phật, pháp, chư tăng, tinh tiên giữ giới thì sẽ được phúc báo an lạc, không bị xử phạt.
- Sau khi kính thờ Phật pháp, những tội lỗi trước đây có được diệt trừ không?
- Đều diệt trừ.
Nói xong, quan chủ quản mở hòm, lấy sổ sách xem lại tuổi thọ của tôi thì thấy còn hơn ba mươi năm. Sau đó, ông sai người đưa tôi trở lại trần gian. Trước khi từ biệt, quan chủ quản nói:
- Ông đã thấy tội báo ở địa ngục rồi, khi về nên kể lại khiến mọi người làm thiện. Thiện ác theo người như bóng theo hình, há chẳng cẩn thận ư!
Bấy giờ, có năm sáu mươi người thân thích nghe ông kể lại. Ông cũng ghi chép lại việc này để cho mọi người đương thời biết. Ngày mười ba tháng bảy niên hiệu Thái Thỉ thứ năm (269), ông thiết lập trai hội, thỉnh chư tăng đến cầu siêu cho ông bà, cha mẹ và hai người em, đồng thời khuyên bảo con cháu phụng thờ Phật pháp, tinh tiến tu tập.
Nghe tin ông chết mà sống lại, nhiều người bấy giờ thấy thật có tội phúc, họ kéo nhau đến thăm hỏi. Trong đó có mười người như Thái trung đại phu, Nội hầu Vũ Thành Tôn, Hác Bá Bình ở Thường sơn, v.v... Ông ân cần trả lời, mọi người sợ hãi và phát tâm kính thờ Phật pháp.
4.6.9.2. Đời Tấn, sa-môn Chi Pháp Hành: Sư sống vào đầu đời Tấn. Một hôm, sư bị bịnh, trải qua mười ngày thì mạng chung. Ba ngày sau, sư sống lại và kể:
- Khi chết, có người đến dẫn tôi đến mấy nơi giống như quan phủ, tôi không vâng lời họ. Trong khoảnh khắc, có một bánh xe gắn những móng sắt, tự phía tây chạy nhanh như gió đến, không cần người điều khiển. Một vị quan bảo tội nhân đứng ngay trước bánh xe, bánh xe chuyển đến cán qua, rồi lùi lại, khiến tội nhân bị nghiền nát. Sau đó, vị quan này gọi tôi:
- Mời đạo nhân đến đứng trước bánh xe!
Tôi sợ hãi, hối hận trước đây không tinh tiến tu tập, nay phải rơi vào nơi này! Vị quan nói:
- Đạo nhân có thể rời khỏi đây.
Tôi ngước nhìn lên thì thấy phía trên có lỗ hổng, tự nhiên tôi bay vọt lên, chui qua lỗ, hai tayvịn hai bên, nhìn chung quanh thì thấy cung điện bảy báu và chư thiên ở khắp nơi. Tôi rất phấn chấn, nhưng không thể lên được. Không bao lâu, tôi mệt mỏi và hạ xuống.
Vị quan cười và nói:
- Ngài thấy những thứ gì? Chẳng thể lên đó được sao?
Nói xong, quan giao tôi cho vị thuyền trưởng. Vị này cho thuyền ra khơi và bảo tôi chèo thuyền. Tôi nói:
- Tôi chẳng thể cầm vững tay chèo.
Có vài trăm chiếc thuyền theo sau. Tôi chẳng hiểu gì, cứ chèo và vướng vào cồn cát. Quan trưởng ti đẩy sư ra và nói:
- Ông chèo sai rồi, theo phép tắc thì phải bị xửtrảm.
Họ dẫn tôi lên bờ, gióng trống, chuẩn bị chém. Bỗng có hai con rồng năm màu đẩy thuyền ra khỏi cồn cát, thế là vị quan miễn tội cho tôi. Thuyền đi về phía bắc, được khoảng ba mươi dặm thì đến một thôn xóm, có vài vạn ngôi nhà, đều là những người sống lưu vong. Tôi lén lên bờ, bầy chó trong làng xông đến muốn cắn. Quá hoảng sợ, tôi nhìn xa về hướng tây bắc thấy một giảng đường có rất nhiều sa-môn và nghe tiếng tụng kinh, tôi chạy nhanh đến . Giảng đường này có mười hai bậc, tôi vừa bước lên bậc thứ nhất thì thấy thầy của mình là sư Pháp Trụ đã tịch trước đây. Pháp sư ngồi trên Hồ sàng và nói:
- Đệ tử của ta. Sao con lại đến đây?
Khi tôi sắp bước lên bậc nữa thì pháp sư lấy khăn tay phất vào mặt tôi và nói: “Chớ lên!”.
Tôi rất muốn lên, vừa nhấc chân thì pháp sư Trụ đẩy xuống. Cứ thế, mãi đến lần thứ ba, tôi mới lên được. Nơi đây, tôi thấy có một cái giếng sâu ba bốn trượng, được xây bằng gạch rất kín. Tôi thầm nghĩ: “Giếng này tự nhiên có”. Bên cạnh giếng có người nói: - Nếu chẳng tự nhiên, sao thành giếng được?
Do chỉ thấy sư Pháp Trụ, nên tôi rất mong gặp lại. Người này nói:
- Ngài có thể theo đường cũ trở về, bầy chó không cắn đâu!”
Tôi liền men theo bờ sông, nhưng chẳng thấy chiếc thuyền đâu cả. Bỗng cảm thấy khát nước, tôi liền bước xuống sông, nhân đó mà sống lại”.
Sau đó, ông xuất gia, giữ giới, ăn chay, ngày đêm tinh tiến tu tập, trở thành sa-môn đức hạnh và nhận tì-kheo Pháp Kiều làm đệ tử.
4.6.9.3. Nước Triệu, cư sĩ Thạch Trường Hòa: Cư sĩ là một cao tài của nước Triệu. Năm lên mười chín tuổi, cư sĩ bịnh, hơn một năm thì qua đời. Vìgia đình nghèo khó, chưa kịp tân liệm, thì bôn ngày sau Hòa sống lại và kể:

Phần 14

- Vừa mới mất, tôi đi về phía đông nam thì thấy cách mình khoảng năm mưoi bước có hai người đang quét dọn đường,. Tôi đi nhanh thì họ quét nhanh, đi chậm thì họ quét chậm, luôn giữ khoảng cách năm mươi bước. Lại thấy hai bên đường nhiều gai nhọn um tùm, giống như móng chim ưng, có rất nhiêu người bị thương chạy trong rừng gai đó, máu chảy đầỵ mặt đất. Thấy tôi một mình đi trên đường bằng phẳng, họ than thở: “Đệ tử Phật đi một mình trên con đường rộng lớn”. Tôi đi tiếp thì thấy vài nghìn ngôi nhà lầu lớn, trong đó có một tòa rất cao. Tôi bước lên thì gặp một người cao lớn mặc áo dài đen bốn thân, ngồi bên cửa sổ. Tôi đến lễ bái, người trên gác nói:
- Ông Thạch đến đây ư? Vừa mới li biệt mà đã hơn hai mươi năm.
Bấy giờ, tôi nhớ lại buổi chia tay này, tôi có biết người chăn ngựa tên là Mạnh Thừa, vợ chồng họ đã qua đời nhiều năm. Người trên gác hỏi:
- Ông biết Mạnh Thừa chăng?
- Dạ biết! Tôi đáp.
- Khi còn sống, Mạnh Thừa không tinh tiến tu hành, nên nay phải phục dịch quét dọn trụ sở của ta, còn vợ Mạnh Thừa tinh tiến, nên nay ở nơi rất sung sướng.
Nói xong, vị này đưa tay chỉ về một căn phòng ở hướng tây nam và nói:
- Vợ ông ta ở đây!
Khi ấy, vợ Thừa mở cửa sổ. Thấy tôi, bà ta thân mật hỏi thăm tin tức tất cả người trong gia đình có bình an chăng, sau đó bà ta yêu cầu: “Khi trở về, ông Thạch ghé qua nhà tôi”. Nhân đó, bà gởi cho tôi một phong thư. Không lâu, thấy Mạnh Thừa một tay cầm chổi, một tay cầm sọt, từ phía tây gác đến và hỏi thăm tin tức gia đình. Vị trên gác nói:
- Ta nghe nói ông rất tinh tiến tu tập, có thật thế chăng? Ông tu tập như thế nào?
- Tôi không ăn cá, thịt, không uống rượu, thường tụng kinh, cứu giúp những người bịnh tật thống khổ.
- Lời đồn chẳng sai!
Nói chuyện hồi lâu, vị này hỏi vị trưởng Đô lục:
- Ông thẩm tra lại hồ sơ ông Thạch xem sao, chớ sai sót!
Vị trưởng Đô lục tra hồ sơ và thưa:
- Còn sống hơn ba mươi năm.
Vị trên gác nói với tôi:
- Ông muốn trở về nhà chăng?
- Xin ngài cho tôi trở về!
Vị này bèn bảo vị trưởng Đô lục lấy xe ngựa và saihai vị quan đưa tôi trở về. Tôi bái từ, lên xe về nhà. Trên đường có một trạm dừng chân với đầy đủ các vật dụng ăn uống tiếp đãi quan dân. Bỗng chốc, tôi đã đến nhà, nghe mùi hôi của tử thi, nên không muốn đến gần, tôi đứng ở đầu tử thi, bỗng nhiên bị người em ở đằng sau chạy đến đẩy tôi làm cho ngã vào mặt tử thi, nhân đó tôi sống lại”.
Nghe Hòa kể lại, Chi Pháp Sơn bèn quyết định xuất gia.
4.6.9.4. Uất khí: Khi Hán Vũ đế tuần du về phía đông, trên đường đi đến ải Hàm Cốc, thì gặp một con vật lạ nằm chắn đường. Con vật này dài vài mươi trượng, giống như con trâu, mắt rất sáng màu xanh, bốn chân lún sâu vào đất, nên chỉ cử động mà không thể bước đi, khiến các quan đều sợ hãi. Đông Phương Sóc bèn xin vài chục đấu rượu tưới vào con vật, nó liền biến mất. Đế hỏi nguyên do, ông đáp:
- Con vật này do khí u buồn, lo sợ uất kết mà sinh ra. Nơi đây nhất định là ngục của nhà Tần khi xưa, hoặc là u khí của tội nhân lao dịch uất kết. Rượu có tác dụng tiêu trừ lo buồn, cho nên khi tưới rượu vào thì con vật biến mất.
- Ôi Ông đúng là nhà thông thái, Đế cangợi.
4.6.9.5. Suối nước nóng ở nước Thổ-phồn: Vương Huyền Sách hành truyện ghi:
- Phía tây nam nước Thổ-phồn có một suối, phun nước vọt lên cao năm sáu thước, rất nóng, nếu đem thịt đến luộc thì chín ngay. Hơi nước bốc thẳng lên trời, giống như sương mù. Có một ông lão người Thổ-phồn nói: “Mười năm trước, suối này phun lên cao hơn mười trượng, rồi tỏa ra chung quanh. Một hôm, có một người cỡi ngựa đuổi theo con nai, chạy thẳng vào suối này, từ đó về sau, suối này không còn phun lên cao nữa”.
Trong suối thường có xương người vọt ra, nếu lấy lụa hứng nước thì trong phút chốc tấm lụa rách nát, nên gọi là suối nước nóng. Cách suối này sáu bảy mươi dặm về phía tây bắc có một suối khác cũng nóng như thế, nước luôn luôn sôi, phát ra tiếng như tiếng sấm. Những con suối nhỏ ở đây cũng thường nóng như thế. Ngày nay, khắp Chấn-đán có nhiều suối nước nóng. Vì thế trong phần cuối của luật Tứ phần, Đức Phật nói: “Phía bắc thành Vương Xá có suối nóng bắt nguồn từ địa ngục. Ở thượng nguồn, nước rất nóng, chảy càng xa, nước lạnh dần, vì những dòng nước khác hòa vào”.
4.6.9.6. Đời Đường, Liễu Trí Cảm: Ông người Hà Đông, khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650) làm huyện lịnh Trường Cử. Một đêm nọ, ông bỗng qua đời, đến sáng hôm sau thì sống lại và kể:
- Ban đầu, bỗng có minh quan bắt tôi dẫn đến một phủ quan rộng lớn, diện kiến Diêm vương. Diêm vương nói: “Ở đây còn thiếu một chức quan, nên thỉnh ngài nhậm chức đó”. Tôi từ chối vì còn cha mẹ già và còn thọ mạng, chưa đến lúc chết. Vua sai người tra cứu thì đúng như thế. Vua nói: “ông chưa đến số chết, nên có thể tạm làm Phán quan lục sự”.
Tôi đồng ý và bái tạ. Sứ giả đưa tôi đến nha môn. Ở đây có năm tòa của năm Phán quan liền kề nhau và tòa thứ sáu là của tôi. Đại sảnh là chỗ ngồi của trưởng quan, gồm ba gian đều có bàn dài, rất nhiều hồ sơ. Tòa phía tây không có phán quan. Sứ giả thỉnh tôi ngồi vào chỗ đó. Các vị quan đem văn thư, sổ sách đến lấy lời phê của tôi, nhưng họ đều đặt trên bàn, rồi lùi ra đứng ở phía dưới. Tôi hỏi nguyên do, các quan đáp: “Nếu đứng gần, âm khí sẽ bức bách tổn hại ngài, nên chúng tôi phải đứng xa để trả lời”. Tôi duyệt qua các hồ sơ, như khi còn làm việc ở nhân gian, rồi phê vào đó. Không lâu sau, có người đem cơm đến, các phán quan đều dùng, tôi cũng muốn đến, nhưng họ nói: “Ngài là Phán quan tạm thời không nên ăn ở đây!”. Tôi nghe theo, không dám ăn.
Hết ngày, vị quan tiễn tôi về nhà, khi sống lại thì trời vừa sáng. Đến tối, sứ giả lại đến đón tôi đến quan sở của minh phủ, thì ở đó lại là buổi sáng. Cho nên biết răng cõi âm, cõi dương ngày đêm trái nhau. Từ đó, ban đêm tôi phán xét việc ở cõi u minh, ban ngày tôi đến làm việc ở huyện.

Phần 15

Vào một ngày kia, tại quan sở ở minh phủ, khi đến nhà xí, tôi thấy bên tây đường có một phụ nữ xinh đẹp, đoan chính, quần áo sạch sẽ, khoảng ba mươi tuổi, đang đứng che mặt mà khóc. Tôi hỏi:
- Bà là ai?
- Tiện dân là vợ của Tư thương Tham quân Hưng châu, bị bắt đưa đến đây, vì xa cách chồng con, nên buồn khổ. Bà ta đáp.
Tôi hỏi sứ giả, vị này đáp: “Quan bắt phụ nữ này đưa đến đây, có điều cần xét hỏi, đồng thời làm chứng cho việc làm của chồng bà ta”. Nhân đó, tôi nói với bà:
- Tôi làm huyện lịnh Trường Cử. Nếu phu nhân bị thẩm vấn thì xin nói rõ sự thật, không nên làm liên lụy đến chồng, để cả hai đều chết, thì thật vô ích!
- Thật ra tôi không muốn liên lụy đến chồng. Sợ quan bức ép.
- Mong phu nhân chớ làm liên lụy đến chồng, đừng lo bị bức ép!
Bà ta đồng ý. Sau đó, tôi trở về châu phủ và hỏi:
- Vợ của quan Tư thương có bịnh chăng?
- Vợ tôi còn trẻ, không có bệnh. Quan Tư thương đáp.
Tôi diễn tả hình dáng, y phục của vợ quan Tư thương và khuyên tạo phúc. Quan Tư thương vội vê nhà, thấy vợ mình đang khỏe mạnh ngồi dệt, nên chẳng tin. Hơn mười ngày sau, người vợ bịnh nặng và qua đời. Lúc ấy, quan Tư thương sợ hãi, mới tạo phúc.
Lại có hai vị quan ở châu Hưng, sau khi khảo hạch thành tích phải lên kinh đô để ứng tuyển. Họ đến hỏi tôi:
- Ngài phán xét việc u minh, xin ngài hỏi thăm kì này chúng tôi được tuyển làm chức quan gì?
Tôi đến quan sở ở u minh, đưa tên tuổi của họ cho quan Lục sự kiểm tra. Quan Lục sự nói:
- Sổ sách đều niêm phong và đựng trong hộp đá, hai ngày mới có tin báo.
Hai ngày sau, quan Lục sự báo với tôi về chức quan mà hai người đó sẽ đảm nhận trong năm nay. Tôi thuật cho họ, họ lên kinh và được tuyển làm Lại bộ, không đồng với tin báo của tôi. Nghe tin này, trưởng quan ở châu Hưng nói cho tôi nghe. Tôi hỏi quan Lục sự, quan Lục sự kiểm tra so sách, nhấtđịnh không sai lầm. Không bao lâu, triều đình tuyển Môn hạ bèn hủy chức ở Lại bộ của họ mà cho làm Môn hạ, trùng với sổ sách ở u minh! Kiểm lại lời báo của tôi, mọi người đều tin phục.
Tôi thường xem sổ sách ở u minh, nếu thấy tên tuổi, việc làm, cho đến năm tháng ngày giờ chết của những người thân quen thì báo tin để họ tu phúc, nhiều người thoát nạn. Sau ba năm tôi giữ chức Phán quan, một hôm có sứ giả đến nói:
- Quan Lí tư hộ ở Long châu đã được trao chức Chính Phán quan ở đây thay ông, ông không làm Phán quan nữa!
Tôi đến cơ quan nói với thứ sử Lí. Lí Đức Phụng sai người đến Long châu kiểm tra, thì quan Tư hộ đã qua đời, hỏi thăm ngày chết thì đúng ngày sứ giả đến nói với tôi. Từ đó, tôi không còn xuống xử lí việc u minh nữa.
Một hôm, quan trưởng châu sai Cảm áp giải tù nhân lên kinh. Khi đến Phụng châu, bốn tù nhân trốn thoát, Cảm lo buồn, sai lính tìm bắt nhưng không được. Buổi tối, Cảm dừng chân ở quán trọ thì thấy sứ giả ấy đến nói: “Tội nhân sẽ bắt được hết, một người chết, ba người trốn trong hang phía tây Nam sơn, đều sẽ bị bắt trói. Xin ông chớ lo buồn!”.
Dứt lời, sứ giả từ biệt. Cảm sai lính vào hang phía tây Nam sơn, thì bắt được bốn tù nhân. Họ biết không thể chạy thoát, nên chống lại, Cảm tiến đến giết một tội nhân, ba tên còn lại chịu trói. Đúng như lời sứ giả đã báo.
Sau đó, Trí Cảm nhậm chức Tư pháp ở Từ châu

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục