PUCL QUYỂN 6 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
29/10/2015
QUYỂN 6 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.4. QUỈ THẦN 4.4.1. Lời dẫn Tính của quỉ thần chỉ thích việc yêu tà, ở chốn tối tăm mang nhiều tội lỗi. Có loài ở vách núi thẳm, hoặc có loài nương nơi...

QUYỂN 6
Quyển này tiếp theo chương Lục đạo.
4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
Lại có kẻ thờ trong đền miếu ở chín châu, trong linh từ của vạn quốc, nào là Thái Bá ở Cô Tô, Quí Tử ở Diên Lăng, Văn Mệnh ở Vũ Xuyên; hoặc làm chúa nơi hang đầm, hoặc Thuỷ Nhược-Sơn Tinh, thần mưa thần gió, các thần sầm chớp; hoăc kẻ hết phúc lộc mất ngôi hầu, hoặc kẻ cưỡi trúc làm rồng bay, hoặc cưỡi chim thay tiên hài; hoặc kẻ thân nương nơi đền miếu, hình gá trên lầu cao; hoặc tuôn mưa mà đến đi, hoặc phân gió mà lên xuống; cho đến Hoàng đầu đại tướng, hoặc Châm phát qui thần, hoặc túc-lợi-mật-đa, lặc-na-xí-xá, hoặc cưu-bàn-trà, hoặc loài la-sát cùng ba nghìn quyến thuộc, năm trăm đồng đảng. Các loài này chúng ta cũng nên thay cho họ mà sám hối.
Lại có kẻ tội chướng cực trọng, đó là ngạ quỉ, ánh mắt như điện chớp, cổ nhỏ như cây kim, chưa từng nghe đến danh từ nước, vĩnh viễn đoạn tuyệt vị cơm canh, các chi trên thân đồng thời phát hỏa, khi di chuyển như năm trăm cỗ xe chấn động. Ngày hôm nay đồng nhuần thấm căn lành; nên nguyện cho loài quỉ đói được được thức ăn uống tự nhiên, yêu mị quỉ thần chẳng còn xu phụ, lại còn làm rạng rỡ Phật pháp, ủng hộ thế gian, bảo vệ kinh tượng, cúng dường dài lâu, ghi điều thiện, chép điều ác, để được mãi mãi huân tu.
4.4.2. Giải thích danh từ quỉ
Luận A-tì-đạt-ma Tì-bà-sa ghi:
Hỏi: Vì sao gọi là quỉ?
Đáp: Theo luận Lập thể : “Qui, tiếngPhạn gọi là Thiểm-đa; vì vua Diêm-ma tên là Thiểm-đa, quỉ đồng loại sinh với Diêm-ma, nên cũng gọi là Thiểm-đa. Lại có thuyết cho rằng đối với các cõi khác, quỉ thường qua lại, thiện ác đều có liên quan, nên gọi là Thiểm-đa”.
Hỏi: Vì sao gọi quỉ là Bế-lệ-đa?
Đáp: Theo luận Thi thiết: “Như ngày nay, vua của thế giới quỉ gọi là Diêm-ma, cũng vậy, vào kiếp sơ vua của thế giới quỉ có tên là Bỉ-đa. Vì thế, các hữu tình đến nơi ấy, sinh vào cõi ấy đều được gọi là Bế-lệ-đa, đây là hàm nghĩa hiện hữu trong cõi Bỉ-đa. Từ đó về sau đều gọi qui theo tên này”.
Có thuyết cho rằng do tạo tác, làm tăng trưởng, nuôi lớn mạnh tâm tham lam bòn xẻn và các hành vi ác của thân miệng ý mà sinh vào cõi quỉ, chiêu cảm nghiệp đói khát, trải qua trăm nghìn năm không nghe đến danh từ cơm nước, nói gì thấy, cho đến xúc chạm; loài này bụng lớn như núi, cổ nhỏ như cây kim, dù gặp thức ăn uống, nhưng không thê thụ dụng.
Có thuyết cho rằng do bị sai khiến, nên gọi là quỉ. Tức luôn bị chư thiên sai khiến, chạy rảo khắp nơi. Lại vì có mong cầu, nên gọi là quỉ, tức trong năm đường, không có loài nào mong cầu ở các hữu tình khác nhiều bằng loài này”.
Trong luận Bà-sa còn giải thích quỉ là úy, tức sợ hãi. Bởi loài này tính khiêp nhược, hay lo sợ. Lai nói quỉ tức mong cầu, vì loài này luôn cầu xin thức ăn uống từ các hữu tình khác để nuôi sống thân mạng.
4.4.3. Trụ xứ của quỉ
Luận Bà-sa nói ngạ quỉ có hai trụ xứ là chính và phụ. về trụ xứ chính thì có nhiều thuyết khác nhau. Trong luận này nói cõi nước của ngạ qui nằm sâu dưới Diêm-phù-đề năm trăm do-tuần, do Diêm-la vương cai quản. Kinh Thiện Sinh ưu-bà-tắc cũng đồng với luận này, và cho rằng sâu dưới năm trăm do-tuần của cõi Diêm-phù có thành của Diêm-la quỉ vương, chu vi bảy vạn năm trăm nghìn do-tuân. Diêm-la vương trụ trong thành này thống lãnh chúng quỉ. Kinh Ngũ đạo khổ nói loài ngạ quỉ chính trụ ở khoảng giữa hai núi Thiết Vi. Cho nên có bài kệ:
Giữa hai núi Thiết Vi
Tối tăm không nhật nguyệt
Ngạ quỉ sống trong đó
Đền trả tội ngày xưa.
Trụ xứ phụ, luận Bà-sa nói có hai trường hợp, nếu là loài ngạ quỉ có uy đức thì ở trong hang núi, hoặc trên hư không, hoặc vùng bờ biển, mỗi nơi đều có cung điện, có phúc báu hơn loài người. Còn loài không có uy đức thì không có nhà cửa, chỉ ở những nơi dơ dáy, hoặc nương đầu cỏ ngọn cây, hoặc nghĩa địa, hoặc nhà xí, đồng hoang... phúc báo kém hơn loài người. Luận ấy cũng cho rằng, khắp bốn thiên hạ đều có trụ xứ của quỉ; trong đó hai phương đông tây có đủ trụ xứ của hai loại, phương bắc chỉ có trụ xứ của loài quỉ uy đức, vì quả báo tốt hơn nên được trụ nơi đây. Cho đến cõi Đao-lợi cũng có quỉ thần uy đức cư trú, vì để chư thiên sai khiến, nhưng trên cõi này thì không có trụ xứ của loài quỉ.
Cho nên luận Bà-sa bản tân dịch ghi: “Trên cõi Tứ Thiên Vương và Đao-lợi chỉ có các loài quỉ uy đức lớn cư trú, lãnh nhiệm vụ giữ cửa, đi tuần, dẫn đường, lao dịch”. Có thuyết nói phía tây châu Thiệm-bộ có năm trăm bãi đất, tạo thành hai hàng riêng biệt, trong đó có năm trăm thành, một nửa là trụ xứ của quỉ uy đức, một nửa là của quỉ không uy đức. Cho nên, ngày xưa chuyển luân vương Nhĩ-di nói với người đánh xe Ma-đát-lợi:
• Ta muốn du lãm, ngươi cho xe xuất phát từ đây, đi khắp nơi để ta xem các hữu tình thụ báo thiện ác!
Ma-đát-lợi vâng lệnh, khi dẫn xe đi qua hai bãi đất, Luân vương thấy các qui thần uy đức, đầuđội vòng hoa, mặc thiên y, ăn thức ăn ngon như cõi trời, cưỡi xe voi, xe ngựa dạo chơi khắp nơi. Luân vương lại thấy loài quỉ không có uy đức, đầu tóc rối bời, thân không mảnh vải, dùng tóc che hình, sác diện tiều tụy, tay cầm bát sành xin ăn khắp nơi. Thấy thế, luân vương càng tin sâu nghiệp quả thiện ác.
Hỏi: Hình dáng loài quỉ như thế nào?
Đáp: Phần lớn giống như loài người, nhưng trong đó cũng có loài đi ngang, mặt giống heo, hoặc giống các loài cầm thú khác như các hình vẽ trên vách ngày nay.
Hỏi: Ngôn ngữ thế nào?
Đáp: Vào kiếp sơ, quỉ cũng dùng ngôn ngữ Trung Thiên Trúc, nhưng về sau nếu sinh nơi nào thì dùng ngôn ngữ nơi ấy. Có thuyết nói từ cõi nào mạng chung để sinh vào loài quỉ, thì mang thân hình và dùng ngôn ngữ cõi ấy.
Bàn rằng: Điều này không đúng! Bởi những chúng sinh từ cõi Vô sắc mạng chung sinh vào làm quỉ, hóa ra không có thân hình và ngôn ngữ sao! Nên nói sinh vào loài nào thì thụ thân và dùng ngôn ngữ loài ấy.
4.4.4. Số lượng
Theo kinh Chỉnh pháp niệm, tổng quát có ba mươi sáu loài quỉ, do tạo nghiệp nhân bất đồng, nên thụ quả báo cũng sai biệt. Đó là:
1. Quỉ Hoạch thang, do đời trước nhận lời người khác thuê mướn sát sinh, nên nay bị nấu luộc trong vạc nước sôi. Hoặc nhận vật của người gửi mà không chịu trả, nên thụ quả báo này.
2. Quỉ Châm khẩu, do đời trước dùng tiền thuê mướn người khác sát sinh, nên nay phải chịu quả báo cổ nhỏ như cây kim, một giọt nước nhỏ cũng không trôi qua.
3. Quỉ Thực thổ, do đời trước làm vợ mà ngăn cản, không cho chồng bố thí, chỉ biết cất chứa tài sản, cho nên nay chịu quả báo ăn thức ăn đã nôn mửa.
4. Quỉ Thực thổ phẩn, do đời trước làm vợ mà dối chồng, tự do ăn uống, khinh chê chồng, nên bị quả báo ăn phân và thức ăn đã nôn mửa.
5. Quỉ Thực hỏa, do đời trước ngăn cấm lương thực, khiến cho người phải chết đói, cho nên phải lãnh quả báo lửa đổt cháy cổ, chịu khổ khát nước.
6. Quỉ Thực khí, do đời trước ăn món ngon mà không cấp cho vợ con, nên đời này chịu quả báo đói khát, chỉ ngửi mùi mà thôi.
7. Quỉ Thực pháp, do đời trước thuyết pháp để cầu tài lợi, nên đời này thường bị đói khát, thân chỉ còn da bọc xương, chỉ mong nghe chư tăng thuyết pháp để giữ mạng sống.
8. Quỉ Thực thủy, do đời trước dùng rượu nhạt như nước lã, lừa bán cho người ngu, không giữ trai giới, nên đời này chịu quả báo khát cháy cổ.
9. Quỉ Hi vọng, do đời trước mua bán dìm giá, lừa dối lấy vật của người, nên nay luôn sợ đói khát, khi cúng tế tiên linh mới được ăn uống.
10. Quỉ Thực thóa, đời trước dối chư tăng, dâng cúng thức ăn bất tịnh, nên nay thân luôn đói khát; bị lửa đốt cháy, chỉ cầu người nhổ nước bọt để ăn và cũng ăn các vật dơ uế.
11. Quỉ Thực man, do đời trước trộm tràng hoa của Phật để trang sức, nếu người bắt gặp, thì đền lại tràng hoa dâng cúng, nên nay phải chịu ăn tràng hoa.
12. Quỉ Thực huyết, do sát sinh cúng tế mà không thí cho vợ con, nên nay thụ thân quỉ, ăn những vật cúng có thoa máu.
13. Qui Thực nhục, do đời trước cắt thịt chúng sinh cân lường, bán buôn lừa dối. Do đó nay chịu quả báo xấu ác, gian trá, ai cũng không thích nhìn; cúng tế nhiều loại thịt quỉ này mới ăn được.
14. Quỉ Thực hương, do bán hương xấu mà lại đắt, nên nay chỉ ngửi mùi hương, mai sau lại bị nghèo cùng khốn khổ.
15. Qui Tật hành, do đờn trước phá giới mà đắp pháp phục, dối gạt lấy tiền thí chủ, nói cúng chongười bệnh, nhưng lại để mình dùng. Nên nay thụ báo này, thường ăn đồ bất tịnh, tự đốt thân mình.
16. Quỉ Tứ tiện, do đời trước mưu mô, lừa dối lấy tiền bạc của người khác, không tu phúc nghiệp, nên thụ quả báo lỗ chân lông toàn thân phát hỏa, ăn hút khí lực và vật dơ uế của người để sống.
17. Qui Hắc ám, do đời trước bẻ cong phép nước để cầu tài lợi, bắt giam người vô tội, khiến mắt họ không nhìn thấy, phát ra những lời ai oán, cho nên bị quả báo ở những nơi tối tăm, đầy dẫy rắn độc, chịu nỗi khổ như dao cắt.
18. Quỉ Đại lực, do đời trước trộm cắp để cung cấp cho kẻ ác, không cúng vào phúc điền, do đây thụ báo có đại lực thần thông, nhưng cũng chịu nhiều khổ đau.
19. Quỉ Xí Nhiên, do đời trước phá thành cướp bóc, giết hại bách tính, nên nay thụ khổ toàn thân bị lửa đốt, kêu la khóc lóc; nếu mai sau được làm người thì luôn bị cướp đoạt.
20. Quỉ Tứ hài nhi tiện, do đời trước giết trẻ con, khởi tâm sân hận, nên nay chịu quả báo luôn rình tìm chỗ sơ hở của người để sát hại trẻ con.
21. Quỉ Dục sắc, do đời trước hiếu sắc, có được tiền tài mà không chịu tạo phúc điền, nên nay thụ quả báo đi khắp nhân gian giao hợp với người, vọng tác yêu tác quái để cầu sống.
22. Quỉ Hải chử, do đời trước đi trên đồng vắng, gặp người bệnh, liền lừa gạt lấy tiền tài, cho nên nay sinh vào vùng bờ biển chịu khổ lạnh nóng, gấp bội loài người.
23. Quỉ Diêm-la vương chấp trượng, do đời trước làm đại thần thân cận quốc vương, ỷ thế làm nhiều điều bạo ác, nên nay phải chịu quả báo là quỉ cầm gậy cho Diêm vương sai khiến.
24. Quỉ Thực tiểu nhi, do đời trước làm chú thuật gạt người lấy tài vật, giết hại heo dê, sau khi chết đọa địa ngục thụ quả báo thường ăn thịt trẻ con.
25. Quỉ Thực nhân tinh khí, do đời trước dối trá làm bạn thân, hứa bảo vệ, khiến bạn dốc sức, nhưng rốt cuộc thất trận mà chết, lại không chịu cứu giúp, cho nên nay bị quả báo này.
26. Quỉ La-sát, do đời trước sát sinh để tổ chức hội lớn, nay phải bị lửa đói khát thiêu đốt.
27. Qui Hỏa thiêu thực, do đời trước tham lam bòn xẻn, thích dùng thức ăn của chúng tăng, nên sau khi chết rơi vào địa ngục, sau khi ra khỏi địa ngục lại làm qui bị lửa đốt thân.
28. Qui Bất tịnh hạng mạch, do đời trước dâng cúng thức ăn bất tịnh cho người tu Phạm hạnh, nên bị quả báo làm quỉ ăn chất bất tịnh ở những nơi làng xóm, đồng ruộng.
29. Quỉ Thực phong, do đời trước thấy người xuất gia đến khất thực, hứa cúng nhưng không cúng, do đó nay bị quả báo luôn có nỗi khổ đói khát, giống như địa ngục.
30. Quỉ Thực thán, do đời trước làm chủ ngục, cấm tù nhân ăn uống, nên nay phải chịu quả báo làm quỉ ăn than cháy đỏ.
31. Quỉ Thực độc, do đời trước cho người dùng thức ăn có độc, khiến họ phải chết, nên phải đọa vào địa ngục, sau khi ra khỏi địa ngục thì làm quỉ luôn bị đói khát, phải ăn lửa độc, lửa đốt cháy thân.
32. Quỉ Khoáng dã, do đời trước đào ao hồ trên đồng vắng cung cấp cho người đi đường, nhưng lại dùng lời ác mắng chửi, phá lấp, khiến người chịu khát, cho nên nay bị quả báo đói khát, lửa đốt cháy thân.
33. Quỉ Trủng gian thực khôi thổ, do đời trước trộm hoa cúng Phật để bán lấy tiền nuôi thân mạng, cho nên nay bị quả báo ăn thịt người chết, nằm trong đống tro nóng thiêu xác chết.
34. Quỉ Thụ hạ trụ, do đời trước thấy người trồng cây che mát, nhưng khởi tâm ác đốn chặt, bán lấy tiền sử dụng, cho nên nay bị quả báo sống nơi gốc cây, chịu khổ lạnh nóng.
35. Qui Giao đạo, do đời trước trộm lương thực của người đi đường, cho nên nay bị quả báocưa sắt cắt thân, lại phải nhận thức ăn cúng tế bên đường để tồn tại.
36. Quỉ Ma-la thân, do đời trước tu theo tà đạo, không tin chính đạo, cho nên nay bị quả báo làm ma quỉ, thường phá pháp thiện của mọi người.
Luận Thuận chính lí ghi: “Có ba loại quỉ: Vô tài, Thiểu tài và đa tài. Quỉ Vô tài lại có ba: Cự khẩu, Châm khẩu và Xú khẩu. Quỉ Cự khẩu thì miệng thường tuôn ra lửa, cháy rực mãi không dừng, thân như cây đa-la cháy đen, do quá bỏn xẻn mà chiêu cảm nỗi khổ này. Quỉ Châm khẩu bụng lớn như hang núi, miệng nhỏ như cây kim, tuy thấy các loại thức ăn thức uống ngon, nhưng không thể thụ dụng, đói khát không thể chịu nổi. Quỉ Xú khẩu thì trong miệng luôn phát ra mùi hồi thối, hơn cả phân dơ trong nhà xí, do khí độc uất kết trong bụng, nên thường ợ và có cảm giác nôn mửa, nên dù gặp thức ăn, cũng không thể thụ dụng, lại bị khát nước bức bách nên hay kêu la, chạy loạn.
Quỉ Thiểu tài cũng có ba loại là Châm mao, Xú mao và Anh. Quỉ Châm mao, lông trên thân rất cứng, bén và nhọn, không loài nào có thể đến gần, lông này đâm lại thân và bắn vào loài khác, như nai trúng tên độc sợ hãi chạy loạn khắp nơi, bỗng gặp được vật bất tịnh, liền ăn để tạm thời cứu mạng. Quỉ Xú mao thì lông trên thân vô cùng hôi thối, hun chín thịt xương, chưng nát lục phủ ngũ tạng, xông lên yết hầu rôi nôn ợ ra ngoài, vô cùng thống khổ, khôngthể chịu nổi, nên cào cấu thân thể, bứt tóc nhổ lông khiến da thịt rách nát, thống khổ càng tăng gấp bội; bấy giờ may gặp được vật bất tịnh, vội ăn để tạm thời cứu mạng. Quỉ Anh, quỉ này do sức của ác nghiệp, nên cổ hiện ung nhọt lớn, nóng rát, đau đớn, nên nắm bứt lẫn nhau, khiến máu mủ hôi thối vỡ chảy, liền tranh nhau lấy ăn để tạm qua cơn đói khát.
Quỉ Đa Tài cung có ba loại là Hi Từ, Hi Khí và Đại Thế.
Quỉ Hi Từ luôn đến các đền miếu, hưởng thụ phẩm vật người khác cúng tế, từ nơi sinh có thể tự nhiên đi khắp mọi nơi, như chim bay lên hư không, đến đi không ngăn ngại. Do đời trước có tâm tin hiểu mà lập nguyện: “Nếu ta mạng chung, con cháu nhất định sẽ cúng tế ta các vật dụng sinh hoạt, thức ăn thức uống”. Do sức tin hiểu, nên sinh vào loài quỉ này. Lại do nghiệp thiện xưa, nên cảm được đền miếu thờ phụng cúng tế. Hoặc có người đời trước yêu thương thân thuộc, vì muôn giúp cho họ có đầy đủ vật dụng sinh hoạt, đã không như pháp cất chứa tài sản, tâm tính bỏn xẻn, không chịu bố thí, nên sinh vào loài quỉ này, thường ở trong nhà xí dơ uế, gần phòng nhà của mình khi xưa. Nếu lúc ấy thân thuộc nhớ nghĩ, liền thỉnh sa-môn, Phạm chí, người cô độc nghèo hèn đến để bố thí cúng dường tạo phúc. Quỉ kia thấy vậy, liền khởi ý niệm người thân và tài sản ấy là của mình, lại thấy được quả báo bỏn xẻn trước mặt, liền khởi tâm tịnh tín đối với ruộng phúc đãgieo, tâm ấy liên tục tăng trưởng, dần dần xa lìa ác nghiệp tương ứng. Do đây thành tựu Thuận hiện pháp thụ nghiệp, lại nương vào năng lực này mà chiêu cảm đầy đủ các vật dụng sinh hoạt.
Quỉ Hi Khí, loài quỉ này thường ăn những phân tiểu còn thừa và thức ăn đã nôn mửa của người, nhưng chúng cũng đầy đủ các vật dụng sinh hoạt. Do đời trước tham lam bỏn xẻn, nên những nơi có thức ăn uống, loài quỉ lại thấy toàn là vật dơ uế hoặc không có gì, thích tịnh thì thấy uế, nhưng cũng do phúc hiện tại, nên đầy đủ những vật mong cầu. Thức ăn thức uống, vật dụng đều tự nhiên hiện đến nơi sinh, nhưng thụ dụng khác nhau, không thể suy tìm và nói đến nguyên nhân. Như thân dị thục sinh ở địa ngục bị chém đứt tự nhiên nối liền, chúng sinh cõi khác không có năng lực này. Như cõi người có Thắng niệm trí tu tập Phạm hạnh, cõi khác không có; như chư thiên cõi trời, hễ muốn thì các vật dụng liền hiện đến. Những việc như thế, tự nhiên hiện ra ở nơi sinh, không thể tìm cầu định lượng.
Còn về quỉ Đại thế thì giống như luận Bà-sa đã nói ở trên. Luận Du-già ghi: “Cõi quỉ có ba loại: Quỉ Ngoại chướng, đời trước hữu tình này có tâm bỏn xẻn sâu nặng, nên nay sinh vào loài ngạ quỉ, luôn bị đói khát, thân hình chỉ còn da bọc xương, giống như hòn than cháy đỏ, đầu tóc rối bời, môimiệng khô nứt, thường lè lười liếm môi mặt, đói khát khốn khổ chạy khắp nơi tìm cầu. Khi đến được gần ao hồ, sông suối thì bị các hữu tình khác cầm đao gậy canh giữ, không cho nhìn, hoặc nước nơi đó biến thành máu mủ, không thể uống được. Quỉ Nội chướng là loài quỉ có miệng như cây kim cháy đỏ, bụng rất lớn, dẫu gặp được thức ăn cũng không thể thụ dụng. Quỉ Vô chướng, tức loại ngạ quỉ Mãnh diêm phát; loài này hễ thức ăn đưa vào miệng thì đều biến thành lửa, do đó luôn bị đói khát, khốn khổ vô cùng. Nếu làm thiện có lợi ích cho người thì cảm quả báo vui, nếu làm ác gây tổn hại cho người, thì cảm quả báo hư hoại. Nhưng làm thiện thì khó như leo núi, còn tạo ác thì dễ như rơi rụng. Vì thế cung trời rộng lớn, mà hiếm người lên, địa ngục chật hẹp mà người tranh vào.
4.4.5. Nghiệp nhân
Luận Trí độ ghi: “Ác có ba bậc: Một, tạo ác bậc hạ thì sinh vào ngạ quỉ, như luận Thập địa đã nói. Tức trong mười nghiệp ác, hễ tạo bất cứ một nghiệp nào, trước tiên sinh vào ba đường khổ, sau đó mới được thân người”. Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu đối với chúng sinh mà khởi tâm tham lam, ganh tị, tà kiến, dua nịnh, siểm khúc, khinh khi dối trá, hoặc tham lam bỏn xẻn cất chứa tiền tài mà không bố thí thì sau khi chết sinh vào loài ngạ qui. Hết nghiệp ngạ quỉ thi sinh vào loài súc sinh làm chim Già-trá-ca, luôn bị nỗi khổ đói khát, chỉ ngửaCổ uống nước mưa mà thôi, không thể uống các loại nước khác.
Kinh Nghiệp bảo sai biệt ghi: “Tạo mười nghiệp sau đây thì sinh vào loài ngạ quỉ: Một, thân tạo nghiệp ác nhẹ; hai, miệng tạo nghiệp ác nhẹ; ba, ý tạo nghiệp ác nhẹ; bốn, tham lam bỏn xẻn; năm, khởi ác tham (phi phần); sáu, siểm khúc ganh tị; bảy, tà kiến; tám, tham đắm vật dụng sinh hoạt mà mạng chung; chín, đói khổ mà chết; mười, khô khát mà chết”.
Kinh Phân biệt công đức ghi: “Có sa-môn tu tập thiền quán, khi ngồi trong nghĩa địa quán tử thi, ban đêm thấy quỉ đói đánh vào một thây chết, sa-môn hỏi:
- Vì sao ngươi đánh thây chết?
- Thây chết này làm tôi khốn khổ như vậy, nên tôi mới đánh! Quỉ đáp.
- Vì sao không đánh tâm ngươi, lại đánh thây chết. Đánh nó có ích gì! Sa-môn nói.
Lát sau, lại thấy một vị trời rải hoa mạn-đà-la lên tử thi hôi thối này. Sa-môn hỏi:
- Vì sao ngài lại rải hoa lên tử thi này?
- Do tử thi này mà tôi được sinh về cõi trời; đây vồn là bạn tốt của tôi, hôm nay tôi đến rải hoa để báo ân xưa.
- Sao không rải hoa trong tâm ông mà lại rải trên tử thi này! Phàm thiện ác đều do tâm tạo, sao các ông lại bỏ gốc tìm ngọn? Sa-môn dạy”.
4.4.6. Thân lượng và thọ mạng
Kinh Ngũ đạo ghi: “Về thân lượng của ngạ quỉ, loại lớn nhất cao một do-tuần, đầu như núi lớn, tóc rối, cổ chỉ bằng cây kim, thân hình khô gầy, chống gậy mà đi, số lượng ngạ quỉ này rất đông. Loại quỉ nhỏ nhất thì chỉ bằng đứa bé đã hiểu biết, hoặc chỉ cao khoảng ba tấc”. Như kinh đã nói, không thể thuật hết.
Theo kinh Quán Phật tam-muội có loài ngạ quỉ sống rất lâu, đến tám vạn bốn nghìn năm, còn ngắn thì không nhất định. Luận Thành thật thì cho rằng loài ngạ quỉ sống lâu nhất khoảng bảy vạn năm, còn ngắn cũng không nhất định. Kinh ưu-bà-tắc cho rằng ngạ quỉ sống lâu nhất là một vạn năm nghìn năm. Năm nghìn năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở cõi ngạ quỉ. Vậy một vạn năm nghìn năm bằng hai nghìn bảy trăm vạn năm ở nhân gian. Kinh Chính pháp niệm thì nói ngạ quỉ có thọ mạng năm trăm năm, mà mười năm nhân gian băng một ngày một đêm cõi ngạ quỉ, vậy năm trăm năm bằng một trăm tám mươi hai vạn hai nghìn năm nhân gian.
4.4.7. Đẹp xấu-khổ vui-sang hèn
Luận Bà-sa ghi: “Loại ngạ quỉ hình mạo đẹp là loài có uy đức. Dung mạo ngạ quỉ này rât đoanchính, không khác gì chư thiên. Nói chung tất cả quỉ thần có dung mạo đoan chính sông trong năm núi, bốn sông, biển cả ao hồ đều thuộc loại quỉ đẹp. Loại quỉ xấu xí, tức là loài không có uy đức, hình dáng vô cùng xấu xí, không thể nói, thân như bụng chó đói, đầu giống tóc rối bay, cổ như cây kim bé xíu, chân như cây gỗ mục, miệng thường chảy nước bọt, mùi luôn tuôn nước giải, trong lô tai đây mủ, măt thường tuôn máu, đó gọi là Đại quỉ”.
Luận Bà-sa ghi: “Loại quỉ thụ khổ là loài không có uy đức; loài này phải luôn chịu đói khát, nhiều năm không từng nghe đến danh từ nước, nói gì đến việc thấy. Dầu gặp sông lớn, muốn uống thì nước sông liền biến thành lửa, nếu vào được miệng thì đốt cháy ruột gan. Như thế há không khổ sao? Loại quỉ được hưởng niềm vui là loài có uy đức; loài này giàu có sung túc, thức ăn thức uống tự nhiên hiện đến, mặc y phục và thụ dụng thức ăn cõi trời, dáng vẻ thong dong, đến đi nhẹ nhàng, mặc tình dạo chơi, không khác chư thiên. Như thế há không vui sao?”.
Hỏi: Vui sướng như vậy còn hơn cả loài người, tại sao kinh nói người và quỉ khác đường?
Đáp: Kinh nói có hai điều quỉ thần không bằng loài người: Một, thụ báo ẩn hiện không bằng người, vì qui thần ban ngày ẩn, ban đêm mới xuất hiện đến đi. Hai, tâm yếu hèn thưòng lo sợ, không bàng người. Loài này tuy có uy đức nhưng hèn kém, thường sợ loài người, dẫu ban đêm có gặp thì cũng tránh.
Hỏi: Đã kém hơn người, vì sao có oai đức và phúc báo đồng chư thiên?
Đáp: Do đời trước bố thí nhiều, nên có uy đức; do siểm khúc, không chân thật nên đọa vào loài quỉ.
Luận Bà-sa ghi: “Loài có uy đức thì sang, không uy đức thì hèn kém; làm quỉ vương thì sang, làm quỉ nô dịch thì hèn. Loài có uy đức thì đầy đủ y phục, thức ăn thức uống, tự do sai khiến, đó gọi là giàu; còn loại luôn bị kẻ khác sai khiến, thức ăn dở còn chưa nghe nói, y phục thô xấu còn khó gặp, huống gì nhìn thấy, đó gọi là nghèo”.
4.4.8. Nhà cửa
Luận Bà-sa ghi: “Loài có uy đức thì nhà cửa cao rộng, có bảy báu trang hoàng, tất cả các thần núi thần sông đều có nhà cửa để trú ngụ. Loài không có uy đức thì trôi dạt khắp nơi, đói khát khốn khổ, không nhà không cửa, tạm gá chốn mồ hoang, rừng vắng, lùm cây, hang động”.
Luận Trang nghiêm ghi: “Đức Phật dạy:
- Thuở xưa, ức-nhĩ là con của một khách buôn giàu có ra biển tìm châu báu. Sau khi tìm được của báu, anh ta trở về. Trên đường đi, ban đêm anh ta thường tìm chỗ ngủ riêng. Một hôm, sau khi thức dậy, đồng bạn đã đi hết, anh ta không biết đường về, sợ hãi vô cùng, đói khát khổ sở. Lúc ấy, thấy từ xa có một cái thành, anh ta cho là nơi đó có nước, vội đến xin; nhưng trong thành này đều là thành quỉ đói. Khi đến nơi, anh ta thấy ở ngã tư đường, nơi mọi người thường nhóm họp thì hoàn toàn trông vắng. Bị đói khát bức bách, anh ta la lên “Nước, nước!”.
Bọn quỉ đói nghe tiếng “nước” liền nói: “Ai có lòng từ bi muốn cho ta nước đó?”. Thế là chúng tụ tập lại. Các quỉ đói này thân như cây đuốc, tóc tự buộc thân, chạy đến chắp tay nói:
- Cho tôi xin nước đi!
ức-nhĩ nói:
- Tôi khát quá, đến đây tìm nước uống!
Các qui đói nghe ức-nhĩ bị khát bức bách, tìm đến đây xin nước, nên tất cả đều tuyệt vọng. Chúng thờ dài nói:
- Ông không biết thành này là quỉ đói hay sao mà còn tìm đến đây xin nước?
Chúng nói kệ:
Chúng tôi ở thành này
Qua trăm nghìn vạn năm
Chữ “nước ” còn không nghe
Huống gì đến được uống!
Ví như rừng đa-la
Bị lửa thiêu đốt rụi
Chúng tôi cũng như vậy
Khắp thân đều bốc lửa
Đầu tóc rối tung lên
Toàn thân đều hủy hoại
Chỉ nhớ việc ăn uống
Bức bách chạy khắp nơi
Chịu đói khát khổ sở
Há miệng chạy cầu xin
Có người tay cầm gậy
Truy đuổi bắt đánh đập
Bởi chịu nỗi khổ này
Làm sao có được nước
Mà cung cấp cho người
Bởi đời trước chúng tôi
Bỏn xẻn, tham, đố kị
Chưa từng thí cho ai
Chút cơm và nước uống
Của mình đã không cho
Còn ép người không cho
Vì nghiệp quá sâu nặng
Nay phải chịu khổ này.
4.4.9. Cảm ứng
4.4.9.1. Đời Tống, Tư Mã Văn Tuyên: Văn Tuyên người Hà Nội, Trung Quốc, suốt đời rất kính tin Phật pháp. Niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (432), mẹ qua đời, em ruột cũng mất. Một buổi sáng sớm ngày rằm nọ, Văn Tuyên thấy em mình hiện trên linh tòa, hình dáng như lúc còn sống, chập chờn qua lại, than thở cầu thức ăn thức uống. Văn Tuyên thử ướm lời:
- Lúc sống em siêng năng tu thập thiện, nếu như kinh dạy, lẽ ra em được sinh về cõi trời, thấp lắm cũng trở lại cõi người, chứ sao lại sinh vào loài quỉ!
Bóng ma chỉ trầm ngâm suy nghĩ, chứ không trả lời. Tối hôm đó, ông mộng thấy em mình hiện về báo:
- Lúc còn sống em tu thiện, nên được phúc báo sinh về cõi trời. Hình dáng anh thấy buổi sáng chính là ma quỉ, chứ không phải em. Sợ anh nghi ngờ giáo pháp, nên về thưa lại.
Sáng hôm sau, ông thỉnh chư tăng đến tụng kinh Lăng-nghiêm, sai người đánh bắt, quỉ vội chạy trốn dưới giường, rồi chạy ra ngoài. Thấy thân hình quỉ vô cùng thô xấu, mọi người vô cùng kinh hãi, quát mắng đuổi đi. Quỉ liền nói: “Tôi đói quá, chỉ xin thức ăn!”. Nhiều ngày sau quỉ mới chịu đi.
Ít lâu sau, trên linh sàng của mẹ ông, xuất hiện một con quỉ, thân hình cao lớn, da màu đỏ, Văn Tuyên thở dài. Hiếu Tổ hỏi han qua lại, quỉ đáp rất đầy đủ và rõ ràng. Lúc đầu còn e ngại và sợ hãi, nhưng sau dần dần cũng quen. Quỉ cũng vậy, dần dần thân gần với mọi người, ăn ở ra vào như người trong nhà. Việc này lan truyền khắp kinh đô, nên rất nhiều người đến xem. Bấy giờ có vị sa-môn ở chùa Nam Lâm và sa-môn Tăng Hàm ở chùa Linh Vị cũng đã trao đổi chuyện trò rất ân cần với quỉ. Quỉ nói:
- Đời trước tôi cũng từng là người cao quí, nhưng vì phạm tội, thụ báo chưa hết, nên chiêu cảm thân quỉ này. Năm Dần vừa qua, có bốn trăm quỉ, gieo rắc dịch bệnh khắp nơi, nhưng không xúc phạm đến đạo nhân. Người bị dịch bệnh này sẽ rất nhiều, sợ lạm đến người phúc thiện, cho nên quan trên sai ta đến giám sát.
Các vị tăng trao thức ăn, nhưng quỉ không nhận và nói:
- Ta tự có lương thực, không thể dùng thức ănnày.
- Chắc quỉ biết nhiều, vậy ta sinh từ đâu đến đây, vì nhân duyên gì mà được làm đạo nhân? _ Tăng Hàm hỏi.
- Sư từ loài người sinh đến; do nguyện xưa mà xuất gia làm tăng_ Quỉ đáp.
hành sự có khuyết là không lo liệu việc nhà”, rồi phạt ông năm roi. Người nhà và hàng xóm đều nghe tiếng nói và tiếng roi đánh, lại thấy dấu roi trên thân ông, nhưng không thấy hình. Chỉ có ông thấy được. Người chú lại nói:
- Ta chưa đáng chết, nhưng cõi u minh cần ta tính toán sổ sách của loài quỉ, nên mời ta. Hôm nay rất đông quân lính, sứ giả đi theo, nhưng sợ làm kinh động xóm làng, nên ta không đưa về.
Ông cũng thấy rất nhiều quỉ thần đang ồn náo bên ngoài thôn. Bỗng nhiên người chú từ biệt và nói:
- Ngày mồng bảy tháng bảy sang năm ta lại trở về, muốn dẫn ngươi xem qua chốn u đồ, hầu biết quả báo tội phúc. Ngươi không cần phải sắm sửa gì cho hao phí, nếu thấy khó chịu thì chỉ cần dâng nước trà là được.
Đúng ngày đã hẹn, người chú về nói với cả nhà của ông:
- Ta dẫn Vương Hồ dạo xem xong sẽ đưa về, các ngươi chớ lo!
Thế là Vương Hồ nằm ngay ra giường, giống như đã chết. Người chú liền đưa ông đi xem khắp các núi, thấy hết những việc quỉ quái. Sau đó đến Tung sơn, các quỉ thấy ông liền dọn cơm mời dùng, các mùi vị đều giống thế gian, chỉ có gừng là rất giòn và ngon, ông muốn giấu mang về một ít. Cácquỉ chung quanh thấy vậy đều cười và nói: “Chỉ ăn ở đây thôi, không được mang về!”.
Cuối cùng, ông đến một tòa nhà cao lớn, phòng ốc tráng lệ, màn trướng chiếu chăn thật sạch đẹp, có hai vị sa-môn trụ nơi đây. Khi ông đến, hai vị sa-môn bày biện các loại trái cây và quả cau tiếp đãi. Đi đã lâu và cũng xem hết các quả báo tội phúc, khổ vui, nên ông muốn trở về. Người chú dặn dò:
- Cháu đã biết rõ, cần phải tu thiện như thế nào rồi! Như vậy, là cư sĩ tại gia cháu có thể lễ đầu-đà Bạch Túc, ngài là bậc giới hạnh tinh nghiêm, đạo đức cao vời. Vì vị đạo nhân này có bàn chân rất trắng, nên người đời gọi là Bạch Túc A-luyện, rất được Ngụy vương kính trọng và tôn làm thầy.
Vương Hồ nghe theo lời khuyên này, đến chùa kia thì thấy hai vị tăng trẻ trong ngôi chùa trên Tung sơn trước kia đang du học tại đây, trong lòng vô cùng kinh ngạc, bèn thuật lại những ngày xa cách, rồi hỏi:
- Các thầy đến đây lúc nào?
Hai vị tăng đáp:
- Chúng tôi vốn trụ tại núi này, không nhớ ngày xưa có quen biêt thí chủ chăng?
Ông liền thuật lại lần gặp gỡ ở núi cao, hai vị tăng vội nói:
- Thí chủ nhận lầm rồi! Đâu có việc này!
Đến sáng hôm sau, hai vị tăng tự nhiên bỏ đi mất. Ồng báo với đại chúng, thuật lại những điều thấy biết ở Tung sorn ngày trước. Đại chúng đều kinh ngạc, liền truy tìm hai vị tăng, nhưng không biết đã đi đâu, lúc này mới biết là thần nhân.
4.4.93. Đời Tống, Lí Đán: ông tự là Thế Tắc, người ở Quảng Lăng. Ông nổi tiếng trong làng với bản tính thật thà chất phác, cung kính hiếu thuận. Ngày mười bốn tháng giêng niên hiệu Nguyên gia thứ ba (426), ông qua đời. Vì nơi ngực còn ấm, mọi người không nhập quan, bảy ngày sau ông sống lại. Lúc đầu chỉ ăn cháo, hôm sau thì bình phục như cũ. Bấy giờ ông kể:
- Hôm ấy có một người cầm tín phan đến đứng bên đầu giường tôi và bảo Phủ quân gọi. Tôi liền theo người này đi thẳng về hướng bắc, đường sá rất bằng phảng. Đến một tòa thành, trong đó lầu gác cao rộng, nguy nga tráng lệ, giống như hoàng cung. Từ trong đó có vị quan ra thăm hỏi và bảo tôi đi về phía trước. Khi đến một đại sảnh, tôi thấy có ba mươi người mặc áo đơn, đầu vấn khăn xanh, đang ngồi theo thứ tự rất nghiêm chỉnh. Một người phía đông, khoác trường bào, ngồi sau bàn, chung quanh cỏ khoảng hơn trăm thị vệ. Vừa thấy tôi, vị ấy nói với những người đang ngồi:
- Nên chỉ các ngục cho Thế Tắc biết!
Vừa nghe như vậy, tôi ngẩng nhìn chung quanh thì không còn thấy cảnh trước mắt nữa, ma đang ở trong địa ngục. Lúc ấy tôi thấy rất nhiều người tội thụ khổ, đang rên rỉ, kêu gào, thật không nỡ nhìn. Bồng có vị quan đến truyền lịnh:
- Phù quân bảo ngài có thể trở về, nên lại đến đây đón! Nhân đó tôi được sống lại.
Đến tháng sáu, niên hiệu Nguyên Gia thứ sáu (429), ông lại qua đời, bảy ngày sau sống lại, cũng kể những điều thấy biết ở địa ngục đại khái giống như lần trước. Nhưng có người tội gởi lời nhờ ông nói với gia đình của họ tạo phúc chuộc tội lúc họ còn sống đã tạo. Những người ấy cũng nói danh tính, thân thuộc, quê hương làng xóm. Ông y theo lời dặn, tìm đến thì đều đúng cả. Ông còn nói: Năm Giáp Thân sẽ có dịch bệnh, giết chết vô số kẻ ác. Đệ tử Phật nên thụ Bát quan trai, giữ giới tu thiện thì thoát nạn.
Ông vốn là một đạo sĩ của Đạo gia, qua việc này, ông liền bỏ hành pháp của Đạo giáo, nhưng các tín đồ khuyên ngăn, nên ông tin thờ cả hai đạo. Tuy vậy ông thường khuyên mọi người tu Bát quan trai.
4.4.9.4. Đời Tống, Thượng thư tả bộc xạ Trịnh Tiên Chi: Niên hiệu Nguyên Gia thứ tư (427), ông theo vua tuần thú vùng kinh đô. Buổi tối khi vừa đến kinh, ông bị bạo bệnh qua đời. Sau đó ông nhập vào một nguời và nói:
- Thọ mạng của tôi đã hết từ lâu, nhưng do mấy năm gần đây, một lòng kính tin Phật pháp, thường phóng sinh bố thí, nhờ công đức này mà tuổi thọ kéo dài được mấy năm. Việc âm dương báo ứng như bóng tùy hình, như vang theo tiếng. Các vị nên buông bỏ bớt việc đời, chuyên tâm nơi Đại giáo! Bấy giờ có rất nhiều quan gia, quí tộc nghe thấy.
4.4.9.5. Đời Đường, Tuy Nhân Thiến: Ông quê ở Cam Đan, lúc nhỏ theo Nho học, không tin quỉ thần. Vì muốn thử xem thật có quỉ thần hay không, nên ông đến một người có năng lực thấy quỉ để học theo. Trải qua hơn hơn mười năm, ông vẫn không thấy. Sau ông dời nhà đến huyện Hướng, trên đường đi, ông thấy một người như quan cõi trời, áo mão rực rỡ, cưỡi ngựa quí, có năm mươi kị mã theo hầu. Người này thấy ông nhưng không nói hỏi gì. Từ đó về sau, trong khoảng thời gian mười năm, hai bên gặp nhau mấy mươi lần, nhưng cũng như vậy. Bỗng một hôm, người ấy dừng ngựa gọi ông đến nói:
- Lâu nay đã gặp bạn nhiều lần, nên trong lòng ta rất mến mộ, mong được kết giao!
Ông vái chào và hỏi:
- Ngài là ai?
- Ta là thần, họ Thành, tên Cảnh, vốn người Hoằng Nông, làm Biệt giá thời Tây Tấn. Nay làm quan Trưởng sử nước Hồ.
Ông lại hỏi quốc gia ấy nằm ở đâu, vua nước ấy tên họ là gì.
- Vùng đất từ Hoàng hà trở về phương bắc đều thuộc nước Hồ, kinh đô đóng tại Sa châu, tây bắc Lâu Phiền. Vua nước này chính là Vũ Linh vương nhà Triệu thời xưa, thuộc quyền cai quản của Thái sơn Phủ quân. Mỗi tháng các sứ giả đều lên hội kiến tại Thái sơn. Vì thế mấy năm nay, ta thường đi ngang qua đây và đã gặp ngươi. Ta có thể giúp ích cho ngươi, khiến ngươi biết trước được tai họa mà tránh, khỏi bị chết oan. Chỉ có vận mệnh sinh tử, quả báo họa phúc thì không thể dời đổi.
Nhân Thiến liền vâng theo. Nhân đó Thành Cảnh bảo một kị mã tùy tùng là Thường chưởng sự luôn đi theo Nhân Thiến và dặn dò: “Nêu có việc gì thì báo trước cho Nhân Thiến, còn việc gỉ không biết thì đến hỏi ta”. Việc xong hai bên từ biệt, từ đó Chưởng sự đi theo Nhân Thiến như một thị giả, có gì muốn hỏi thì đều biết trước.
Niên hiệu Đại Nghiệp thứ nhất (605), sầm Chi Tượng người Giang Lăng có con trai tên Văn Bản tuổi chưa được hai mươi. Một hôm Chi Tượng mời Nhân Thiến đến nhà dạy Văn Bản viết chữ. Thiến bèn nói việc này cho Văn Bản biết và bảo:
- Thành trưởng sử nói với ta: ‘Có một việc thật hổ thẹn, bạn không được nói cho ai biết, nhưngđã kết giao rồi thì không thể không nói. Đó là quỉ thần cũng phải ăn uống, nhưng không lúc nào được no đủ, thường bị khổ đói khát. Nếu được thức ăn của loài người thì no trong một năm. Chúng quỉ thường hay trộm thức ăn của con người, nhưng ta thuộc hàng tôn quí, nên không thể trộm được. Nên nay xin bạn một bữa cơm!’.
Nghe Nhân Thiến nói vậy, Văn Bản liền chuẩn bị thức ăn, với những món ngon nhất. Nhân Thiến lại nói:
- Quỉ không thể vào nhà của người, nên đến bờ sông giăng màn, đặt bàn rồi bày biện thức ăn rượu thịt trên đó.
Văn Bản làm đúng như vậy. Đến giờ, Nhân Thiến thấy Thành Cảnh cùng với hai yị khách và hơn trăm tùy tùng đến ngồi vào tiệc. Văn Bản hướng về đó lễ lạy, tạ lỗi vì thức ăn không được ngon. Nhân Thiến cũng truyền lại lời cảm tạ của Thành Cảnh.
Lúc mới chuẩn bị thức ăn, Nhân Thiến xin vàng và lụa để tặng các quỉ thần, Văn Bàn hỏi:
- Nên tặng những gì?
- Những vật mà quỉ sử dụng khác với loài người. Chỉ có vàng và lụa là thông dụng, nhưng cũng chẳng bằng vật giả, đó là dùng màu vàng thoa lên thỏi thiếc lớn làm vàng, dùng giấy làm lụa, như thế là vô cùng quí giá với loài quỉ.
Văn Bản làm đúng như vậy. Thành Cảnh ăn xong, bảo những quỉ đi theo thay mình ngồi vào bàn ăn. Văn Bản liền dâng tặng vàng và lụa, Thành Cảnh vui mừng, cảm tạ và nói:
- Do Nhân Thiến mà phiền cậu phải cung cấp muốn biết thọ mạng của mình không?
- Dạ thưa, không muốn!
Thành Cảnh cười mỉm cười rồi từ biệt. Vài năm sau, Nhân Thiến bị bệnh, tuy không nặng lắm, nhưng không ngồi dậy được. Hơn tháng sau, Nhân Thiến hỏi Thường chưởng sự, Thường không biết, lại đến hỏi Trưởng sử. Trưởng sử báo:
- Trong nước không ai biết. Tháng sau các nước đồng triều kiến tại Thái sơn, ta dò la tin tức rồi sẽ báo cho biết.
Một tháng sau, Trưởng sử Cảnh đến báo:
- Một người họ Triệu cùng quê của huynh làm quan chủ bạ ở Thái sơn. Hiện nơi đây đang khuyết một chức này, người này đã tiến cử huynh nhận chức đó, cho nên đang soạn thảo công văn triệu tập.Nếu công văn đen thì huynh sẽ chết.
Nhân Thiến xin được xem vàn án, Cảnh nói:
- Thọ mạng của huynh đến hơn sáu mươi, nay mới bốn mươi, nhưng vỉ Triệu chủ bạ bỗng dung trưng dụng, ta đã vi huynh cầu xin, nhưng Triệu chủ bạ nói: “Huynh Nhân Thiến là bạn đổng học khi xuavới ta, có ân tình rất sâu nặng. Hôm nay ta may mắn được làm chủ bạ ở Thái Sơn, gặp lúc nơi đây khuyết một viên chủ bạ, Minh phủ đang tuyển chọn người bổ sung, ta đã tâu với Phủ quân, ngài đã đồng ý trọng dụng huynh ấy. Huynh ấy đã không thể trường thọ, nhất định phải chết; nếu khi chết gặp lúc nơi đây đã đầy đủ quan viên, thì chưa hẳn được làm quan. Sao lại tiếc một hai mươi năm thọ mạng, muốn sống lâu ư? Nay văn thư đã phát, không thể dừng được, xin huynh nhất định làm theo ý này, không nên nghi ngờ nữa! Nhân Thiến nghe nói vậy, trong lòng buồn rầu lo sợ, nên bệnh càng nặng thêm. Thành Cảnh nói:
- Triệu chủ bạ nhất định muốn triệu tập huynh, huynh hãy đến Thái Sơn bày tỏ với Phủ Quân, may ra có thể thoát chết.
- Làm sao gặp được Phủ Quân?
- Làm quỉ mới gặp được! Huynh đến miếu Thái Sơn, đi về phía đông vượt qua một tòa núi nhỏ, thì đến nơi một bằng phẳng, đó là kinh đô của Phủ Quân. Huynh đến đó tự nhiên sẽ gặp được!
Nhân Thiến báo cho Văn Bản, Văn Bản chuẩn bị hành trang. Vài ngày sau, Cảnh đến báo:
- Văn thư sắp đến, dù huynh cỏ bày tỏ lên Phủ Quân, e rằng cũng không tránh được. Hãy tạo gấp một tượng Phật thì văn thư kia tự tiêu.
Nhân Thiến bảo Văn Bản dùng ba nghìn đồng để họa một tượng Phật ngồi trên vách phía tây của chùa. Sau đó Thành Cảnh đến báo: “Huynh đã thoát chết rồi!”.
Nhân Thiến vốn không tin Phật, qua việc này mà lòng vẫn nghi. Nhân đó hỏi Thành Cảnh:
- Trong Phật pháp nói có nhân quả ba đời, điều này thật hay giả?
- Đều thật cả! Cảnh đáp.
- Như vậy, người chết sẽ phân vào sáu đường, đâu thể tất cả đều làm quỉ, mà nay Triệu Vũ Linh vương và huynh vẫn còn làm quỉ?
- Trong huyện của huynh có bao nhiêu hộ?
- Khoảng một vạn hộ.
- Trong ngục có bao nhiêu tù nhân? Cảnh lại hỏi.
- Thường có khoảng dưới hai mươi người
- Trong một vạn hộ có bao nhiêu quan ngũ phẩm?
- Không có người nào cả.
- Từ cửu phẩm trở lên được mấy người? Cảnh hỏi.
- Khoảng vải chục người ,_Nhân Thiến đáp. Thành Cảnh lại nói:
- Đạo lí phân sinh trong sáu đường hoàn toàn giống như vậy. Vạn người không có một người sinh vào cõi trời, giống như trong huyện của huynh không có một người làm quan ngũ phẩm. Được sinh vào loài người thì vạn người được vài mươi người, như trong huyện của huynh có vài mươi người làm quan cửu phẩm. Sinh vào địa ngục, trong vạn người cũng vài mươi người, như vài mươi tù nhân trong ngục ở huyện của huynh vậy. Chỉ có sinh vào loài quỉ và súc sinh thì rất nhiều vô kể, như những hộ dân làm lao dịch trong huyện. Nhưng trong mỗi mỗi cõi đều có thứ bậc khác nhau. Như những quỉ chúng tùy tùng ta đây thì không bằng ta, còn quỉ này cũng hơn rất nhiều những quỉ khác.
- Quỉ có chết không?
- Dĩ nhiên có chết!
- Sau khi chết sinh về đâu?_Nhân Thiến hỏi.
- Không biết! Như loài người chỉ biết sinh mà không biết việc sau khi chết.
- Như Chương tiêu của Đạo gia cỏ ích lợi gì chăng?
- Nói về đạo, thì thiên đế tổng quản lục đạo, gọi là Thiên tào. Diêm-la vương giống như thiên tử ở nhân gian. Thái Sơn Phủ Quân giông như Thượng thư lịnh. Các vị thần quản lí ghi chép năm đườnggiống như các thượng thư. Các nước của chúng tôi cũng như các châu quận lớn, thường phân xử các việc của nhân gian. Mỗi khi Đạo gia dâng sớ cầu phúc, như cầu thần ban ơn, thì Thiên Tào thu nhận rồi hạ lệnh cho Diêm vương:
- Vào ngày đó tháng đó, nhận được văn thư của người đó bày tỏ như vậy, như vậy... Diêm vương nên xử lí cho đúng, chớ để oan uổng.
Diêm vương cung kính lãnh chiếu phụng hành, giống như người thế gian phụng chiếu vua vậy. Nếu vô lí thì không thể cầu xin miễn tội, nếu có oan uổng thì nhất định sẽ được minh oan. Như vậy Chương tiêu đâu có ích gì!
- Trong Phật pháp, người tu phúc thì như thế nào?_ Nhân Thiến lại hỏi.
- Phật là bậc Đại thánh, không có văn thư ban hành xuống các cấp. Nhưng người tu phúc thì trời thần cung kính, nên đều được khoan hồng. Nếu người tạo phúc sâu dày, dù có ghi tên ở đường ác, nhưng vẫn không được truy bất. Điều này tôi chẳng biết và cõng không rõ vì sao như thế.
Nói xong Thành Cảnh từ biệt. Vài hôm sau, Nhân Thiến hết bệnh. Sau đó, vì cha mất, nên Văn Bản trở về quê hương. Bấy giờ Nhân Thiến gửi cho Văn Bản một phong thư, trong đó có ghi: “Quỉ thần tham lam, nịnh hót, ngày trước vì muốn được thức ăn thức uống của cháu, nên mói thiết tha như thế.
Nay biết không còn lợi lộc gì nữa, nên chẳng muốn đến gặp nhau nữa, nhưng vẫn thấy Thường chưởng sự đi theo. Một hôm huyện của bác bị giặc cướp đánh chiếm, chúng giết chết gần hết dân trong huyện, may bác được Chưởng sự dẫn đường lẫn tránh, tuy có gặp, nhưng giặc không thấy. Vì thế bảo toàn được mạng sống gia đình”.
Ngày mồng tám tháng chín niên hiệu Trinh Quán mười sáu (642), các quan văn được hoàng đế ban hiệu tại Huyền Vũ môn. Bấy giờ Văn Bản là Trung thư thị lang, cùng với anh ruột là Thái phủ Hương, Trị thư thị ngự Mã Điều, cấp sự trung Vi Côn cùng ngồi với Lâm, và Bản đã kể lại việc này.
4.4.9.6. Yêu mị vùng Lâm Xuyên: Các huyện miền núi ở vùng Lâm Xuyên hay có yêu mị xuất hiện vào những lúc mưa to gió lớn. Loài này phát ra tiếng hú, có thể bắn độc vào người. Nếu trúng vào người nào, trong chốc lát toàn thân sưng phù, vì cực độc. Chúng gồm hai loại là đực và cái, độc của con đực thì phát tác rất nhanh, chi trong khoảng một buổi; độc của con cái thì chậm hơn, trong khoảng một đêm. Nếu có người bên cạnh thì cứu được, nhưng nếu chậm một tí thi không kịp, mọi người gọi là quỉ Đao Lao.
Cho nên sách thế gian có nói: “Quỉ thần là loài chứng nghiệm họa phúc hiện bày ở thế gian”. Lão Tử nói: “Xưa có những thành phần đã được Nhất: trời được Nhất thì trong, đất được Nhất thi yênđịnh, thần được Nhất thì linh, khe hang được Nhất thì đầy, vương hầu được Nhất thì làm chủ thiên hạ”. Thế thì trời đất, quỉ thần đồng sinh với ta vậy. Nếu khí đã phân thì tính sẽ khác biệt, cõi đã lập thì hình chẳng đồng, không ai có thể gồm đủ. sống thì thuộc về dương, chết thì thuộc về âm. Chỗ gá nương của tính, mỗi mỗi đã định đặt ở một phương cõi riêng biệt. Vì thế trong chốn u minh có linh vật tồn tại.
4.4.9.7. Các quỉ thần trong nhân gian: ngoại truyện ghi: “Người chết làm quỉ. Qui là quỉ, tức trở về. Tính khí trở về với trời, da thịt trở về với đất, máu trở về với nước, mạch trở về với ao đầm, tiếng nói trở về với sấm, động tác trở về với gió, mắt trở về với nhật nguyệt, xương trở về với núi, răng trở về với đá, mỡ trở về với sương móc, sương móc trở về với cỏ cây, hơi thở ra vào lại trở về với con người”,
* Thiên Tế nghĩa trong Lễ kí ghi: “Tể Ngã nói:
- Con nghe nói đến danh từ quỉ thần, nhưng không biết đó là gì?’
Khổng Tử dạy:
- Khí là thần đầy đủ nơi thân, phách là quỉ sung mãn nơi thể. Quỉ và thần hợp là chỗ cùng tột của giáo.
Tiền Lương lục trong Thập lục quốc xuân thu của Thôi Hồng ghi:
- Trương Khuynh người ở Mã Thị, An Định giết Khúc Kiệm. Lúc sắp chết, Kiệm oán hận nói: ‘Trong ánh trăng thấy chó trắng!’. Đêm hôm sau, Khuynh thấy chó trắng, liền rút kiếm chém, nhưng không trúng, lại té nằm trên đất, không đứng dậy được. Lúc ấy mọi người nhìn thấy Kiệm đứng bên cạnh; không lâu sau Khuynh chết.
* Thần dị kinh ghi: “Phương đông bắc có ba trăm gian thạch thất của quỉ, bên cửa chung của thạch thất có ghi: “Quỉ môn”, nhưng ngày đêm đóng kín, buổi tối nghe nơi đây có tiếng người và có ánh sáng xanh phát ra”.
4.4.9.7. Nam Dương, Tống Định Bá: Lúc còn niên thiếu, mỗi khi đi ban đêm gặp quỉ, ông liền hỏi: “Ai?”; quỉ hỏi vặn lại: “Ngươi lại là ai?”; Định Bá nói dối: “Ta là quỉ!”; quỉ lại hỏi: “Muốn đi đâu?”; Bá đáp: “Đến Uyển Thị!”; quỉ nói: “Tôi cũng muốn đến đó!”. Thế là cả hai đi cùng đi.
Được vài dặm, quỉ lại nói: “Đi bộ lâu quá, chúng ta có thể cùng thay nhau cõng đi”. Bá nói: “Tốt lắm!”. Qui liền cõng Định Bá đi được vài dặm thi nói: “Huynh nặng quá, lẽ nào chẳng phải là quỉ!”. Định Bá đáp: “Ta là quỉ mới, nên thân hơi nặng”. Định Đá lại cõng quỉ, quả thật quỉ không nặng chút nào, thay nhau ba lần như vậy, Định Bá lại hỏi: “Ta là quỉ mới, nên không biết loài quỉ chúng ta úy kị những gì?”. Quỉ đáp: “Chỉ không thích con người phun nước bọt”.
Thế là cả hai đi tiếp, khi đi qua dòng sông, Bá lại bảo quỉ lội qua trước. Quỉ lội mà không nghe tiếng, còn Bá lội qua thì có tiếng nước bì bõm. Qui hỏi: “Tiếng gì thế?”. Bá đáp: “Ta là quỉ mới, không quen qua sông, nên mới như vậy, chớ lấy làm lạ!”. Khi sắp đến Uyển Thị, Định Bá liền đặt quỉ trên đầu và giữ chặt. Quỉ la lớn, đòi thả xuống, nhưng Bá không nghe. Khi vào chợ, Bá đặt quỉ xuống đất, bỗng nhiên hóa thành một con dê. Sợ quỉ lại biến hóa, Bá liền phun nước bọt vào dê rồi rao bán được một nghìn năm trăm đồng.
* Triệu Thái truyện ghi: “Có lần Thái bỗng nhiên qua đời, lúc đầu có hai sứ giả u minh dẫn đi về phía tây đến một dinh quan với lầu cao mái ngói, ba lớp cửa sơn đen, chu vi đến mấy mươi dặm. Hôm ấy cũng có năm sáu nghìn nam nữ chết đang đứng bên ngoài cổng. Có một sứ giả mặc áo đơn bằng lụa cầm bút ghi tên họ, nam ghi bên trái, nữ ghi bên phải. Vị này bảo: “Chớ vọng động! Ta sẽ dẫn ngươi vào trình diện Thái Sơn phủ quân”. Tên của Thái tại thứ hai mươi trong danh bạ. Phủ quân ngồi quay mặt vê hướng tây, bên cạnh có thị vệ cầm đao, quan chủ bạ đứng hai bên trái phải chiếu theo danh sách gọi đến chỗ của Phủ quân. Phủ quân theo phán định tội nặng nhẹ mà đưa vào ngục”.
Bảo Phác Tử nói: “Theo Cửu đinh kí và Thanh linh kinh, người và vật chết đều có thể thành quỉ”.
* Khi Tôn Tử Ân phản nghịch, vùng Ngô Hưng loạn lạc. Bấy giờ có một thanh niên, vì cấp bách tránh nạn, nên đã đột nhập vào miếu Tưởng hầu. Vừa bước vào cửa, anh ta đã bị tượng gỗ giương cung bắn chết. Người giữ miếu và người đi đường đều thấy.
4.5. SÚC SINH
4.5.1. Lời dẫn
Thân súc sinh là do nghiệp nhân ngu si mà chiêu cảm, trong đó chủng loại đã nhiều, chi phái cũng chẳng phải một. Đã nhận thân dơ uế, sinh vào đường ác thì đã sớm mất tuệ minh, chỉ còn sân hận. Vì thế loài ong, bò cạp thân mang nọc độc; rắn rết tính thường sân hận; bồ câu, chim sẻ thì đa dâm; lang sói lại quá độc ác; hoặc mang lông đội sừng, ngậm ngọc nuốt châu; hoặc mỏ lớn sắc nhọn, móng vuốt bén dài; hoặc chở vật lại qua, bị người sai khiến; hoặc làm chó ban đêm siêng sủa, làm gà sáng sớm gáy vang; hoặc là trâu khốn khổ cày ruộng, làm ngựa lao nhọc kéo xe, khiến cho thân thịt phải tiêu hao, da lông rơi rụng; hoặc có loài ẩn náu trong đầm hoang cỏ rậm, lại bị lưới vây; hoặc loài nương trong ao hồ cũng bị người giăng bủa. Tất cả các loài như thế, chúng ta đều thay cho mà sám hối. Cho đến loàiđại bàng thân lớn, loài trùng kiến bé hình, hoặc loài chuột đồng uống nước sông, hồng tước làm tổ trên cành, hoặc các loài sống dưới nước hay trên đất liền; hoặc là chim là thú; hoặc loài cá thân gấm vảy tía, mang đỏ đuôi xanh. Tất cả các loài như thế, chúng ta đều thay cho mà sám hối, khiến cho chúng tín căn thanh tịnh, lìa bỏ thân xấu ác này, được tuệ mạng trang nghiêm, khôi phục phúc báo cõi ười, không còn nỗi khổ bức ép ruổi rong, vĩnh viễn lìa xa lòng bi hận bị chém chặt, mặc tình tiêu dao, tùy tâm vui thú, uống ăn tự tại, đàm luận an nhiên, ra khỏi lồng chật hẹp, thoát được nạn lớn trói cùm.
4.5.2. Giải thích danh từ Súc sinh
Luận Bà-sa ghi: “Súc sinh, sinh là chúng sinh, súc tức là nuôi dưỡng; nghĩa là loài hoành hành kia bẩm tính ngu si, không thể tự lập, phải nhờ người nuôi dưỡng mới tồn tại, nên gọi là súc sinh”.
Hỏi: Nếu cho rằng do nuôi dưỡng mà gọi là súc sinh, vậy loài rồng và các loài sống trong nước, trên đất liền, hay trên không trung đâu có được người nuôi dưỡng, mà vẫn gọi là súc sinh?
Đáp: Phạm vi được nuôi dưỡng rất rộng, bao trùm cả nhân gian và sáu tầng trời cõi Dục; còn phạm vi không được nuôi dưỡng hẹp hơn, giới hạn trong các vùng đầm lầy, núi rừng hoang dã ở nhângian. Ngày xưa loài rồng cũng được con người nuôi dưỡng, như trong các bộ sử đã ghi. Nay chiếu theo số nhiều được nuôi dưỡng, nên gọi là súc sinh. Hơn nữa luận Lập thế A-tì-đàm cũng ghi: “Súc sinh, tiếng Phạn là Để-túc-xa; do tạo nhân siểm khúc nên chiêu cảm sinh vào đường này... Loài chúng sinh này, khi đi thân úp xuống đất, nên gọi Để-túc-xa”.
Luận Tân Bà-sa ghi: “Gọi loài chúng sinh này là bàng sinh.
Hỏi: Vì sao gọi là bàng sinh?
Đáp: Thân của loài này nằm ngang (bàng) song song với mặt đất, khi đi thân cũng nằm ngang, nên gọi là bàng sinh.
Có thuyết cho rằng do các hữu tình tạo tác và làm tăng trưởng ác hạnh thân ngữ ý ngu si, nên sinh vào loài này; hoặc cho rằng do ngu si vô trí, nên gọi là bàng sinh. Loài này có khắp trong năm đường. Trong đó địa ngục có loài súc sinh không chân Nương-củ-tra, loài hai chân như chim mỏ sắt, loài bốn chân như ngựa ô non, loài nhiều chân như trùng bách túc.. .Trong cõi quỉ có súc sinh không chân như độc xà....; loài hai chân như quạ và diều hâu; loài bốn chân hồ li, voi, ngựa...; loài nhiều chân như thú sáu chân, trăm chân...Trong ba châu cùa loài người có súc sinh không chân như tất cả loại đi bằng bụng; loài hai chân như chim hồng, chim nhạn...; loài bốn chân như voi, ngựa...; nhưng không có loài không – chân và nhiều chân, vì đây là nơi chỉ có chúng sinh thụ nghiệp quả không não hại an trú mà thôi. Trong cõi Tứ Thiên Vương và Tam Thập Tam thiên chỉ có loài súc-sinh hai chân là chim Diệu sắc và loài bốn chân như voi, ngựa... mà không có các loài khác, như trước đã giải thích. Bốn cõi trời trên chỉ có loài súc sinh hai chân là chim Diệu sắc, không có tất cả các loài khác, vì Không cư thiên rất thù thắng.
Hỏi: Nếu các cõi trời ấy không có voi ngựa... thì chư thiên cưỡi gì? Hơn nữa cũng có nghe nói chư thiên cưỡi voi ngựa, sao lại nói không?
Đáp: Do phúc lực của mình, chư thiên cõi ấy tạo ra các hình tượng ngựa voi vô tình làm vật cưỡi để tự vui mà thôi!”.
Kinh Lâu thán ghi: “Súc sinh có rất nhiều, nhưng có thể tổng gom thành ba loại chính là cá, chim và thú. Trong đó cá gồm sáu nghìn bốn trăm chủng loại, chim gồm bốn nghìn năm trăm chủng loại, thú gồm hai nghìn bốn trăm chủng loại”. Trong kinh chỉ nêu tổng số chứ không nêu tên từng loại. Trong kinh Chính pháp niệm cũng chỉ nói có bốn mươi ức loại súc sinh khác nhau, chứ không kể riêng từng loại.
4.5.3. Trụ xứ của súc sinh
Luận Bà-sa ghi:
Hỏi: Loài bàng sinh vốn trụ nơi đâu?
Đáp: Súc sinh vốn ở trong biển lớn, nhưng về sau lưu chuyển khắp các đường.
Hỏi: Thân hình thế nào?
Đáp: Phần lớn thân nằm ngang hoặc nghiêng, nhưng cũng có vài loại thân đứng, như Khẩn-nại-lạc, Tất-xá-già, Hê-lô-sách-ca...
Hỏi: Súc sinh dùng ngôn ngữ gì?
Đáp: Lúc thế giới mới hình thành, súc sinh đều nói ngôn ngữ Trung Ấn Độ. về sau, vì mỗi loại hữu tình dùng thức ăn thức uống khác nhau, thế gian ngày càng xấu ác, tâm dối trá, dua nịnh tăng trưởng, nên mới có nhiều ngôn ngữ, cho đến có loài không thể nói năng. Luận Cựu Bà-sa ghi: “Súc sinh có hai trụ xứ là chính và biên. Chính thì ở trong chỗ tối tăm giữa hai lớp núi Thiết Vi, hoặc trong biển lớn, trên các cồn bãi. Biên thì trụ trong năm đường, như trong phần giải thích danh từ súc sinh đã nói. Ngoài ra súc sinh hai chân, bốn chân, thì trong loài quỉ uy đức có đủ voi, ngựa, lừa..., quỉ không uy đức thì chỉ có chó mà thôi. Súc sinh trong cõi A-tu-la cũng như trong loài quỉ. Nhưng trong đó cũng có súc sinh do nghiệp báo, cũng có do hóa sinh, không nhất định.
4.5.4. Thân lưọng
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: ‘Thứ nhất, không loài chim nào lớn bằng chim đại bàng cánh vàng. Từ đầu đến đuôi cách nhau tám nghìn do-tuần, cao cũng như thế. Chim này bay một mạch từ núi Tu-di này đên núi Tu-di kia mà không cần dừng nghỉ”. Thứ hai, không loài thú nào lớn bằng rồng. Theo kinh A-hàm, long vương Nan-đà và Bạt-nan-đà có thân hình rất lớn, có thể quấn quanh núi Tu-di bảy vòng, đầu vươn lên đến đỉnh, đuôi cắm sâu xuống biển. Thứ ba, không loài cá nào lớn bằng cá Ma-kiệt, thân dài ba trăm hoặc bốn trăm do-tuần, cho đến con lớn nhất có thể bảy trăm do-tuần; cho nên kinh A-hàm ghi: “Mắt cá Ma-kiệt như mặt trời mặt trăng, mũi cao to như núi lớn, miệng như hang rộng sâu màu đỏ”. Thiên Tiêu dao du trong Nam hoa kinh của Trang Tử ghi: “Có loài đại bàng thân hình cực lớn, lưng của nó không biết rộng dài bao nhiêu dặm; khi sắp bay thì vỗ dậy sóng ba
nghìn dặm, cánh như vầng mây che bâu trời, xoáy gió mà vút lên cao chín nghìn dặm rồi mới bay xa. Nó bay từ biển bắc đến biển nam một mạch sáu tháng mà không dừng nghỉ”(Đây là chim cánh vàng loại nhỏ được nói trong kinh luận, thế gian không biết cho nên mới cho là có một loài đại bàng khác).
Sách thế gian còn nói: “Loài thú sống dưới nước không loài nào lớn bằng rùa Cự Linh, đứng đầu ở Bồng Lai, thường dạo chơi trong biển lớn”.
Tuy vậy sách không nói rùa này dài ngắn, cao lớn bao nhiêu (Rủa này chưa bằng cá Ma-kiệt hạng nhỏ, cũng không thể so sảnh hơn kém được). Nam hoa kinh của Trang Tử ghi: “Chim nhỏ nhất không loài nào hơn chim Tiêu Minh, nó đẻ trứng trên đầu vòi con muỗi, khi trứng nở mà vẫn không rơi” (Loài này vẫn chưa phải là nhỏ nhất. Kinh điển cho rằng những chúng sinh thụ báo có thân nhỏ nhất chỉ bằng hạt bụi, thiên nhãn mới nhìn thấy. Cho nên trong luật ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo lọc nước rồi mới được uống. Xá-lợỉ-phất nghe lời Phật, lọc nhiều lần mà vẫn còn vi trùng. Do đó trải qua bảy ngày tôn giả không uống nước, khiến thân hình khô gầy. Đức Phật biết nhưng vân hỏi:
- Tại sao ông tiều tụy như thế?
- Bạch Thế Tôn! Ngài bảo lọc nước rồi mới uổng, nhưng đệ tử lọc nhiều lần, rồi dùng thiên nhãn quán sát, vẫn thấy còn vi trùng trong bát, giống như cát trôi trong nước. Vì bảo vệ sinh mạng, cho nên đệ tử không uống nước. Do vậy mà thân thế tiều tụy.
- Nếu dùng thiên nhãn quán sát, thì tất cả nhãn dân không ai có thể sinh sống được! Từ nay về sau chỉ cho phép dùng nhục nhãn để kiểm tra nước trong sạch hay chưa. Nếu thấy không có sinh vật thì cho phép uống ”.
Cho nên biết, chúng sinh thân nhỏ hiện hữu khắp mọi nơi, chứ đâu chỉ như chim Tiêu Minh).
4.5.5. Thọ mạng và nghiệp nhân
Ti-đàm ghi: “Về thọ mạng của súc sinh, loài sống lâu nhất không vượt quá một kiếp, như long vương Trì Địa, long vương Ưu-bát-la...; loài có tuổi thọ ngắn nhất là phù du, sáng sinh tối diệt, không đến một ngày. Còn nằm ở khoảng giữa dài và ngắn thì không thể thuật hết”.
Luận Trí độ ghi: “Đức Phật bảo Xá-lợi-phất quán đời quá khứ và vị lai của chim bồ câu. Xá-lợi-phất quán về quá khứ tám vạn kiếp, quán đến vị lai cũng tám vạn kiếp, nhưng thấy chúng sinh này vẫn chưa xả thân bồ câu”.
Cho nên biết, thọ mạng của súc sinh cũng rất dài lâu, hàng phàm phu không thể tính biết được.
Kinh Nghiệp báo sai biệt ghi: “Nếu tạo đủ mười nghiệp sau đây thì sau khi chết sẽ đọa vào loài súc sinh: thân tạo ác, miệng nói lởi ác, ý khởi niệm ác, từ phiền não tham mà tạo nghiệp ác, từ phiền não sân mà tạo nghiệp ác, từ phiền não si mà tạo nghiệp ác, mắng chửi chủng sinh, làm tổn hại chúng sinh, bố thí vật không thanh tịnh, tà dâm”.
Kinh Chính pháp niệm cho rằng có rất nhiều loại súc sinh, nên cũng có rất nhiều nghiệp nhân và thụ báo khác nhau, như trong kinh nói rõ, ở đây không thuật thêm. Nếu theo luận Địa trì, mười nghiệp ác, mỗi mỗi nghiệp đều có thể đưa chúngsinh vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, về sau nếu được làm người, vẫn còn mang tập khí tàn dư.
4.5.6. Thụ báo
Kinh Hiền ngụ ghi: “Khi Đức Phật an trú tại Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên, nước Xá Vệ. Bấy giờ, Xá-lợi-phất ngày đêm ba thời thường dùng thiên nhãn quán sát thế gian. Ngài thấy người nào đáng độ liền đến độ họ. Lúc ấy, có các thương nhân đi đến nước khác buôn bán, họ đem theo một con chó. Lúc họ dừng lại nghỉ, nhân lúc mọi người không để ý, chó ăn vụng thịt của các thương nhân. Họ tức giận, nên đánh và bẻ gãy chân nó, bỏ nơi hoang vắng, rồi tiếp tục lên đường.
Tôn giả Xá-lợi-phất từ xa dùng thiên nhãn quan sát thấy một con chó. Chân nó bị bẻ quắp, nằm trên đất, đói khát bức bách sắp chết. Ngài đắp y, ôm bát vào thành khất thực. Được thức ăn, ngài liền bay đến, khởi lòng thương xót lấy thức ăn cho nó. Chó được thức ăn, mạng sống vẫn còn, nên vô cùng mừng rỡ. Xá-lợi-phất thuyết giảng diệu pháp cho chó nghe. Chó liền mạng chung, sinh vào nhà bà-la-môn ở nước Xá-vệ.
Ngày kia, một mình Xá-lợi-phất đi khất thực, bà-la-môn gặp, liền hỏi:
- Tôn giả đi khất thực một mình, không có sa-di đi theo ư?
Xá-lợi-phất hỏi:
- Tôi không có sa-di, nghe ông có đứa con trai, ông có thể cho tôi được không?
- Tôi có một bé trai tên là Quân-đề, nó còn quá nhỏ chưa thể làm được gì, khi nó lớn tôi sẽ cho ngài.
Bảy năm sau, ngài lại đến nhà bà-la-môn xin đứa bé. Bà-la-môn liền đồng ý cho đứa bé được xuất gia. Xá-lợi-phất liền nhận, dẫn về Kì-hoàn cho làm sa-di, rồi dần dần nói pháp vi diệu cho Quân-đề nghe. Quân-đề được khai ngộ, chứng A-la-hán, đầy đủ công đức. Sau khi Quân-đề đắc đạo, tự dùng trí lực, quán sát đời quá khứ mình đã tạo hạnh nghiệp gì mà được thụ thân này, được gặp thánh sư, chứng đạo quả. Quân-đề quán sát thân trước của mình là một con chó đói, nhờ gặp tôn giả Xá-lợi-phất cho ăn và khai ngộ, nên nay được thân người và chứng quả. Thấy vậy, Quân-đề vui mừng nghĩ: “Ta nhờ ân thầy mà thoát được thống khổ, nay ta suốt đời hầu hạ ngài, sẽ làm sa-di mãi, không thụ giới tì-kheo”.
A-nan thưa:
- Bạch Thế Tôn! Không biết đời trước Quân-đề đã gây nghiệp ác gì mà đọa làm thân chó, tạo công đức gì mà được giải thoát?
Đức Phật dạy:
- Này A-nan! Vào thời Đức Phật Ca-diếp ở quá khứ, các tì-kheo cùng trụ chung một trú xứ. Trongđó, một tì-kheo trẻ có tiếng nói thanh nhã, giỏi tán tụng, ai cũng thích nghe. Có một tì-kheo lớn tuổi đã chứng A-la-hán, đầy đủ công đức, nhưng âm giọng khàn đặc, không thể xướng tụng; dù vậy vẫn thường ngồi một mình xướng tụng làm vui. Tự cậy mình có âm giọng hay nên, tì-kheo trẻ chê:
- Trưởng lão này giọng như tiếng chó sủa!
Vị tì-kheo lớn tuổi liền gọi đến hỏi:
- Ông biết ta là ai không?
- Tôi biết rất rõ, ông là tì-kheo thời Phật Ca-diếp!
- Nay ta đã chứng A-la-hán, đầy đủ các phép tắc sa-môn.
Tì-kheo trẻ nghe vậy, vô cùng sợ hãi, toàn thân rúng động, hoảng hốt tự trách, liền đến trước tì-kheo già sám hối tội lỗi của mình. Tì-kheo lớn tuổi nhận lời sám hối ấy. Nhưng vì lời nói ác kia mà trong năm trăm đời thường thụ thân chó. Lại do xuất gia, giữ giới thanh tịnh, nên nay gặp Ta mà được giải thoát”.
Luận Trí độ ghi: “Do quá ngu si, nên thụ thân các loài trùng chim ngu xuẩn, như giun kiến, bọ cạp, cú mèo, chim sáo...”. Bồ-tát Long Thọ nói: “Vì tâm dâm sâu nặng, nên thụ thân le le”, hoặc cho rằng do tâm si sâu nặng nên thụ thân le le. Vậy hai loại le le này là giống hay khác?
Đáp: Từ phiền não dục sinh thì thuộc các loài chim sống nơi sông nước như vịt trời, le le. Nếu từ phiền não si sinh thì thuộc các loài chim sống trên đất liền như chim cú. Hoặc có loài ban ngày nhìn thấy, ban đêm không thấy; vì từ dục sinh nên luôn bay liền nhau, như các loài chim sống trên mặt nước; hoặc có loài ban đêm thấy mà ban ngày không thấy, do từ si sinh nên luôn bay ban đêm rình tìm loài chuột. Chim Si có hai loại, nếu từ phiền não dục sinh thì làm lão si, tức diều hâu, ban ngày nhìn thấy mà ban đêm không nhìn thấy; nếu từ phiền não si sinh thì làm cú mèo, ban đêm nhìn thấy mà ban ngày không nhìn thấy.
Theo kinh Trường A-hàm và Tăng nhất A-hàm, có bốn loài chim cánh vàng: noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh. Đời trước các hữu tình này đều tu bố thí rộng lớn, nhưng do tâm kiêu mạn, luống làm khổ não chúng sinh, lòng nhiều sân hận, khinh mạn, nên sau khi chết đọa làm loài này; tuy vậy thân có trang sức chuỗi báu, biến hóa muôn hình, làm việc gì cũng thành tựu, thân cao bốn mươi dặm, y rộng tám mươi dặm, dài bốn mươi dặm nhưng chỉ nặng có hai lượng rưỡi, lấy các loại ba ba, cá sấu làm đoàn thực; lấy việc tắm rửa và mang y phục làm tế hoạt thực. Loài chim cánh vàng cũng có hôn nhân, hai thân chạm nhau tức thành âm dương, thọ mạng một kiếp, hoặc ít hơn một kiếp.
Bên bờ bắc biển lớn có cây Cứu-la-sân-ma cao một trăm do-tuần, bóng cây che phủ một vùng rộng năm mươi do-tuần. Phía đông cây này có cung điện của loài rồng noãn sinh và cung điện của loài chim cánh vàng noãn sinh. Phía nam cây này có cung điện của loài rồng thai sinh và cung điện của loài chim cánh vàng thai sinh. Phía tây cây này có cung điện của loài rồng thấp sinh và cung điện của loài chim cánh vàng thấp sinh. Phía bắc cây này có cung điện của loài rồng hóa sinh và cung điện của loài chim cánh vàng hóa sinh. Mỗi cung điện ngang dọc đều sáu nghìn do-tuần, cũng được trang hoàng rực rỡ như trên đã nói. Khi muốn ăn, loài chim cánh vàng noãn sinh từ trên cây cao bay xuống, vỗ cánh xẻ nước biển dạt sang hai bên sâu hai trăm do-tuần rồi bay xuống bắt loài rồng noãn sinh tùy ý ăn nuốt. Các loài thai, thấp và hóa sinh cũng như vậy. Bây giờ có một con rồng hóa sinh, thường giữ Bát quan giới trong sáu ngày trai, chim cánh vàng bắt rồng này để ăn thịt, nhưng ngậm trong miệng bay lên cây lớn ở phía bắc Tu-di cao mười sáu vạn dặm mà vẫn không tìm thấy đuôi của rồng này. Bấy giờ chim nghe được năm giới, nên cũng cung kính lãnh thụ.
Kinh Quản Phật tam-muộỉ ghi: “Vua chim cánh vàng tên là Chính Âm, tự do hưởng vui thú trong loài chim. Mỗi ngày trong cõi Diêm-phù-đề, nó ăn một con rồng chúa và năm con rồng nhỏ, nó cứ xoay vòng ngày ngày ăn loài rồng trong bốn thiên hạ nhưthế. Trải qua tám nghìn năm thì tướng chết hiện ra Bấy giờ loài rồng nhả độc, khiến nó không thể ăn thịt, nên đói khát khốn khổ, lòng sợ hãi và vô cùng bất an. Nó liền bay đến núi Kim Cang lao mình xuống mé thủy luân, cho đến phong luân. Tại đây nó bị gió mạnh thổi bay trở lại đỉnh Kim Cang. Bảy lần qua lại như thế thì nó chết. Chất độc từ thân nó tuôn ra làm mười núi báu đồng loạt cháy rực. Long vương Nan-đà sợ núi này thiêu rụi, nên tuôn mưa lớn, hạt mưa lớn như trục bánh xe khiến toàn thân Chính Âm tiêu hết chi còn quả tim. Quả tim này cũng bay lên xuống bảy lần như trước rồi dừng lại tại đinh núi Kim Cang, long vương Nan-đà liền lấy quả tim này làm minh châu, rồi Chuyển luân thánh vương lấy làm bảo châu Như ý. Người niệm Phật, quả tim cũng như thế”.
Kinh Lâu thán và kinh Trường A-hàm cũng ghi: “Có bốn chủng loại rồng, tất cả đều do tâm sân hận, siểm khúc, không ngay thẳng, nhưng lại bố thí lớn mà thụ thân này. Vì bố thí nên được ở trong cung điện bảy báu, thân cao bốn mươi dặm, y dài bốn mươi dặm, rộng tám mươi dặm, nặng hai lượng rưỡi, có thần lực tự tại, thức ăn thức uống đủ các vị ngon, nhưng một miếng sau cùng thì biên thành cóc nhái. Nêu tự hóa độ quyến thuộc phát tâm đạo, bố thí y phục màu đen, lại có thể khiến các rồng cúng dường, thì không bị nạn mưa cát tấp vào thân và tránh được các hoạn nạn
Chỉ có mười sáu long vương không bị chim cánh vàng ăn thịt: long vương Ta-kiệt-la, Nan-đà, Bạt-nan-đà, Y-na-bà-la, Đề-đầu-lại-trá, Thiện Kiến, A-lô, Già-câu-la, Già-tì-la, A-ba-la, Già-ố-thố, Cù-già-thổ, A-nậu-đạt, Thiện Trụ, Ưu-thiểm-già-ba-đầu, Đắc-xoa-ca.
Kinh Lâu thán và kinh Hoa nghiêm đều ghi: “Long vương Ta-kiệt-la trụ dưới đáy biển sâu, phía bắc núi Tu-di. Cung điện vua rồng này ngang dọc đều tám vạn do-tuần, do bảy báu tạo thành, chung quanh có bảy lớp tường vách, bảy lớp lan can, lưới báu giăng kín phía trên. Trong đó còn có ao suôi vườn rừng, chim chóc đua nhau hòa vang; tường bằng vàng cửa bằng bạc. Cửa cao hai nghìn bốn trăm dặm, rộng hai nghìn hai trăm dặm, được chạm trổ khắc họa tinh xảo, màu sắc rực rỡ, luôn có nám trăm quỉ thần bảo vệ. Vị long vương này có thể tùy ý tuôn mưa, các rồng khác không thể sánh được”.
Kinh Hải long vương ghi: “Long vương bạch Đức Phật:
- Từ thời kiếp sơ, con đã trụ trong biển lớn, đến thời Phật Câu-lâu-tần, vợ và con cái trong biển còn ít, nhưng nay thì quyến thuộc đã rất đông.
Đức Phật bào:
- Như người xuất gia theo Phật pháp, nếu trái phạm giới cảm nhưng không hủy chính kiến, sau khi chết không rơi vào địa ngục mà sinh vào loài rồng.
Vào thời Phật Câu-lâu-tần, có chín mươi tám ức gia đình xuất gia trái phạm giới cấm, sau khi chết đều sinh vào loài rồng. Vào thời Phật Câu-na-hàm Mâu-ni có tám mươi ức gia đình xuất gia hủy phạm giới cấm, tâm ý buông lung, sau khi chết đều sinh vào loài rồng. Vào thời Phật Ca-diếp có sáu mươi bốn ức gia đình xuất gia trái phạm giới cấm, sau khi chết đều sinh vào loài rồng. Vào thời của ta có chín trăm chín mươi ức gia đình xuất gia, nhưng tranh đấu, phỉ báng kinh giới, sau khi chết đều sinh vào loài rồng. Đến nay loài rồng đã sinh sản thêm, vì thế trong biển có vô số vợ con quyến thuộc, không thể tính đếm được. Sau khi Ta niết-bàn, lại có rất nhiều ưu-bà-tắc trái phạm giới cấm, sau khi mạng chung, hoặc sinh vào loài rồng, hoặc sinh địa ngục”.
Kinh Tăng Hộ ghi: “Đức Thế Tôn bảo tì-kheo
Tăng Hộ:
- Ồng thấy long vương sống ngoài biển chăng? Những long vương ấy thụ thân rồng có đủ nanh vuốt, vảy sừng, thật đáng sợ. Lại thêm hôi thối không thể đến gần. Mang thân súc sinh rất chướng ngại pháp xuất gia, không tránh được nạn chim
cánh vàng ăn thịt. Tính loài rồng hay sân hận, lại có năm trường hợp không thể ẩn thân: Khi sinh ra, khi chết đi, khi giao phối, khi sân hận, khi ngủ nghỉ. Lại có bốn chất độc, nên không thể tu hành đúng pháp: một, độc từ âm thanh, nếu rồng phát âm thanh, người nào nghe thì chết; hai, độc do nhìn, nếu ainhìn thân rồng thì người ấy phải chết; ba, độc từ hơi thở, nếu rồng phun khí trúng vào ai, thì người ấy chết; bốn, độc do xúc chạm, nếu ai chạm thân rồng thì người ấy phải chết”.
4.5.7. Tu phúc
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Đức Phật bảo bồ-tát Trí Tích:
- Cách đây vô số kiếp quá khứ, có một kiếp ta làm vua chim cánh vàng, có đầy đủ cung điện, vườn rừng, ao hồ bằng bảy báu, tự tại như Chuyển luân thánh vương, thường xuống biển bắt rồng để ăn thịt. Bấy giờ trong biển có một con rồng thuộc loài hóa sinh, vào ngày trai, nó thụ trì bát quan giới. Vua chim cánh vàng ta đây, thân dài tám nghìn do-tuần, mỗi cánh rộng bốn nghìn do-tuần. Ta dùng đôi cánh ấy đập mạnh, xẻ đôi nước biển, vọt xuống đáy ngậm lấy rồng, rồi bay lên mà nước chưa kịp hợp lại. Thông thường, chim bắt đầu nuốt từ đuôi rồng dần dần đến đầu. Nhưng chim ngậm rồng bay lên đậu trên cây sắt lớn phía bắc núi Tu-di, cao sáu vạn dặm mà không tìm thấy đuôi rồng để nuốt. Trải qua một ngày đêm, sáng hôm sau, rồng mới cho xuất hiện đuôi của mình và nói với chim:
- Ta chính là rồng hóa sinh đây! Nếu ta không thụ tri bát quan trai giới thì thân ngươi đả thành tro bụi rồi!”.
Chim cánh vàng nghe nói, liền hối hận tự trách và nói: ‘Oai thần của Phật thật sâu xa không thể lường. Cung điện của ta ở gần đâỵ, hãy cùng đến đó vui chơi!’. Rồng liền theo chim đến đó. Vua chim cánh vàng lại nói: ‘Quyến thuộc của tôi nơi đây chưa được nghe pháp bát quan trai của Như Lai, cúi xin rồng chỉ dạy và trao oai nghi, giới cấm cho chúng tôi. Để sau khi mạng chung, loài chim chúng tôi được sinh vào loài người!’. Thế là rồng liền tụng đọc toàn văn cấm giới và nói kệ:
Ta là con long vương
Tu đạo bảy vạn kiếp
Vì đâm nát lá cây
Phạm giới sinh làm rồng.
ung điện ta dưới biển
Cũng bảy báu tạo thành
Có ma-ni, lưu li
Châu minh nguyệt, vàng bạc
Ngươi theo ta đến đó
Tham quan và tu đạo
Để tăng thêm căn lành
Và lòng từ thấm khắp.
Nghe rồng nói, chim liền thụ pháp bát quan trai, tự nói: ‘Từ nay cho đến cuối đời, con không sát sinh như chư Phật đã dạy’. Sau khi quyến thuộc củavua chim cánh vàng thụ Tam qui y, tất cả cùng theo rồng đến cung điện Hải long vương. Chim thấy nơi đây có tháp bảy báu, cất giữ tạng pháp sâu xa mà chư Phật đã tuyên thuyết, lại có hòm bảy báu chứa đầy kinh Phật. Lại có các vật cúng dường không khác gì cõi trời. Rồng con hóa sinh nói với chim cánh vàng:
- Ta mang thân rồng từ đó đến nay, chưa từng sát sinh và quấy nhiễu loài thủy tộc.
Bấy giờ tâm ý của tất cả loài rồng được khai sáng, sau khi mạng chung đều sinh về cõi nước của Đức Phật A-di-đà.
4.5.8. Khổ vui và ưa ghét
Như kinh nói loài rồng phúc đức thì y báo tốt đẹp, đầy đủ các món vui chơi, đầy đủ vợ con, thê thiếp, kĩ nữ, áo quần, thức ăn, thức uống, voi ngựa, kiệu xe, bảy báu, không thiếu món gì, khổ vui tự tại, hơn cả loài người. Ngoài loài rồng, trên cõi trời Lục Dục cũng có các loài chim thú tự tại an vui. Lại có loài rồng phúc mỏng, ngày ngày bị cát nóng tấp vào thân, lại bị trùng nhỏ cắn rỉa, ăn thịt, đau khổ vô cùng. Lại như các loài súc sinh ở nhân gian luôn bị người xua đuổi, đánh đập, mang nhiều chở nặng rong ruồi đó đây, luôn bị sai khiến, không được tự do; cho đến các loài sống trên đất, dưới nước, trong hư không, thiếu thốn cỏ nước, tàn hại lẫn nhau; lại như loài súc sinh cư trú ờ khoảng giừa hai núi ThiếtVi, chịu cảnh tối tăm, triền miên thống khổ, không một sát-na hưởng thụ niềm vui.
Như kinh nói, các loài rồng, kì lân, phượng hoàng, khổng tước, anh vũ, gà rừng, chim trĩ luôn được con người yêu quí; còn các loại khỉ vượn, sài lang, cọp, tê giác, rắn, bò cạp, quạ, cú mèo... thì luôn bị người ghét bỏ, không thích nhìn thấy, không thích nghe tiếng. Các loài được ưa hay bị ghét như thế rất nhiều, sang hèn cũng như vậy, không thể kể hết.
4.5.9, Cảm ứng
4.5.9.1. Quỉ hiện dọa người: Vào một đêm trong niên hiệu Hoàng Sơ (220-226) đời Tào Ngụy, có người đang phi ngựa tại địa phận Đốn Khâu, bỗng thấy bên đường có một vật như con thỏ, hai mắt chiếu sáng như gương, đang nhảy lên xuống phía trước, ngăn không cho ngựa đi. Người này kinh hãi đến nỗi ngã ngựa chết giấc, quỉ liền đến nắm chân. Hồi lâu tỉnh dậy, thì quỉ đã biến mất. ông ta lên ngựa đi tiếp, được vài dặm lại gặp một người. Sau khi thăm hòi, ông ta thuật lại việc vừa xảy ra, và bào rằng nay được kết bạn cùng đi thì thật vui mừng. Người kia cùng nói:
Tôi đi một mình, bây giờ gặp và kết bạn với huynh, thật vui không gì bằng. Huynh cưỡi ngựa thì nên đi trước, tôi sẽ theo sau.
Thế là cả hai cùng đi, được một lát, người mới gặp hỏi:
- Vật mà huynh vừa gặp như thế nào mà khiến huynh sợ hãi như thế?
- Vật ấy giống con thỏ, mắt sáng như gương, thân hình rất ghê sợ_Người cưỡi ngựa đáp.
- Huynh hãy thử quay lại nhìn tôi xem, có giống không?_ Quỉ bảo.
Người ấy quay lại nhỉn thì đúng là vật gặp lúc trước. Quỉ liên nhảy lên xuống phía trước, người trên ngựa sợ hãi té xuống đất chết giấc. Con ngựa quay về nhà một mình, gia nhân lấy làm lạ, bèn đi tìm, thì thấy ông ta đang nằm bên đường, một lát sau thì tỉnh, ông ta kể lại mọi chuyện cho mọi người nghe.
4.5.9.2. Gia quốc ở đất Thục: Trên vùng núi cao tây nam đất Thục có một loài vật giống như khỉ, dài bảy thước, có thể đi như người, rất giỏi rượt đuổi người, gọi là Gia quốc, Mã hóa, Quắc viên. Loài này thường rình chờ người nữ đi đường, nếu thấy có người nữ trưởng thành liền lén bát dẫn đi, mọi người không hay biết. Nếu có người đi qua bên cạnh, thì nó dùng dây dài kéo đi, cho nên vẫn không thoát được. Loài này có thề phân biệt mùi nam nữ, cho nên bắt nữ mà nam không hay
biết. Nếu bắt được nữ thì nólấy làm vợ, như không có con thì sống với nó suốt đời; sau mười năm thì thân hình giống như nó, tâm ý cũng mê muội, không nghĩ đến việc trở về. Nếu có con thì cho ôm con về nhà. Con cũng giống như người, nếu không nuôi dưỡng thì người mẹ sẽ chết, do đó ai cũng sợ và phải nuôi. Đứa con này lớn lên y như người, và đều lấy họ Dương. Ngày nay tại Thục Trung có nhiều xóm họ Dương, tất cả đều là con cháu của Giả quốc.
4.5.9.3. Trị ô ở đất 'Việt: Trong núi sâu vùng này có một loài như chim cưu, lông màu xanh, tên là Trị ô. Nó đục cây lớn để làm tổ; tổ rộng như cái bát năm sáu thăng, miệng tổ có đường kính khoảng một tấc, chung quanh tô đất trắng. Đỏ trắng phân minh, giống như tấm bia bắn tên. Những người đốn gỗ, khi thấy cây này đều tránh xa. Nếu đêm tối, chim biết người không thấy mình, liền gọi: “Ô! Ô! Lên đi!”, sáng hôm sau mọi người nên lên gấp. Nếu gọi: Ô! Ô! Xuống đi!”, sáng sớm hôm sau mọi người nên xuống gấp. Nếu không bảo gì thì chỉ nói cười mà thôi, bấy giờ mọi người nên dừng việc chặt cây. Nếu cỏ kẻ xấu ác đến chỗ nó trú ngụ thì sẽ có cọp đến giữ suốt đêm, người không chịu rời khỏi thì nó sẽ hại. Loài này, ban ngày nhìn thấy hình thì giống như chim, ban đêm nghe kêu cũng như tiếng chim. Bấy giờ có người đến nghe nó ca, nó liền hóa thành người cao khoảng ba thước, vào khe suối băt Thạchgiải, mang đến đống lửa của người mà nướng, nhưng người không thể xúc phạm nó được.
Dân xứ Việt cho loài này là tổ của một loại nhạc khí tên là Chúc của nước Việt.
4.5.9.4. Quái của cây, đá...: Lí Hoàn Tử đào giếng nhặt được một cái vò, trong đó có dê và ngựa, liền hỏi Trọng Ni: “Tôi đào giếng gặp chó, là thế nào?”. Trọng Ni đáp: “Như ta nghe nói, ông gặp được dê mà! Ta từng nghe, quái của gỗ đá gọi là Khâu chi và Võng lượng, quái trong nước là Long võng, quái trong đất là Phần dương”.
Hạ đỉnh chí ghi: “Võng tượng (thủy quái) giống như đứa bé ba tuổi, mắt đỏ, thân đen pha đỏ, tai lớn, tay dài, móng đỏ. Dùng dây bắt trói, có thể làm thức ăn”. Vương tử nói: “Tinh của gỗ là Du quang, tinh của vàng là Thanh minh”.
4.5.9.5. Đời Tấn, loài Tê khuyển: Trong khoảng niên hiệu Nguyên Khang (291-300), những người trong gia đình Hoài Dao tại huyện Lâu, quận Ngô bồng nghe trong lòng đất có tiếng chó con sủa, dò lần theo tiếng sủa đó có một huyệt nhỏ bằng con giun thông lên mặt đất. Dao dùng que chọc sâu vài thước, cảm thấy như chạm một vật gì, bèn đào lên thì thấy hai con chó nhỏ, giống như chó thường, một đực một cái, mỗi con đều có một mắt chưa mở. Mớm cho thức ăn thì ăn, người trong làng đều đến xem. Có vị bô lão nói:
Đây là loài Tê cẩu, ai bắt được nó thì gia đình giàu sang, hưng vượng, nên nuôi dưỡng nó cẩn thận.
Vì một mắt chưa mở, nên gia đình lại đặt vào hang, dùng phiến đá mài đậy phía trên. Hôm sau nhìn lại xem thì không thấy lỗ huyệt ở đâu, thế là chúng đi mất. Từ đó về sau, trải qua nhiều năm, gia đình Dao không gặp tai họa gì.
Khoảng niên hiệu Thái Hưng (318-322), đời Tấn người ta bắt gặp hai con chó như trên trong phủ xá quận Ngô, sau đó thì thái thú Trương Mậu bị quân binh Ngô Hưng giết chết. Thi Tử nói: “Chó sống trong đất gọi là Địa lang, có người cho là Vô thương”. Hạ đinh chí ghi: “Đào đất, nếu gặp chó thì gọi là Cô, gặp heo thì gọi là Tà, gặp người thì gọi là Tụ, Tụ tức Vô thương. Đây là những vật tự nhiên, không nên cho là quỉ thần mà lấy làm lạ”. Thế thì Địa lang và Tê khuyển chỉ là một vật mà khác tên gọi. Hoài Nam Tử ghi: “Gan dê nghìn năm hóa thành Địa tể, cóc ăn được niễng, khi chết biến thành chùn cút. Đó dều do khí tạo thành, vì cảm nhau nên bị mê hoặc”.
4.5.9.6. Tổ tiên của Man Di: Vào thời vua Đế Khốc Cao Tân (2436BC- 2367BC), Trung Quốc, có một cụ bà sống trong vương cung. Bà bị bệnh đau tai đã nhiều năm. Một hôm thầy thuốc chữa trị cho bà, đã khêu ra được một con trùng Đỉnh, lớn như cái kén. Cụ bà bỏ con trùng Đỉnh này vào trong một trái bầu rồi dùng mâm đậy lại. Không bao lâu con trùng này biến thành một con chó, lông năm màu, nhân đó bà đặt tên cho nó là Bàn Hồ và nuôi dưỡng nó.
Bấy giờ Nhung Ngô rất cường thịnh, nhiều lần xâm chiếm biên cảnh, vua sai các tướng chinh phạt, nhưng không thắng. Nhà vua bèn hạ chiếu chiêu mộ người trong nước: “Nếu ai có thể lấy đầu tướng quân của Nhung Ngô, trẫm sẽ thưởng một nghìn cân vàng ròng, phong ấp 18vạn hộ, lại gả con gái út!”. Không bao lâu, Bàn Hồ ngậm một cái đầu đến cung vua. Vua vội ra xem thì thấy đúng là đầu tướng quân Nhung Ngô. Thật là tiến thoái lưỡng nan, biết làm thế nào đây? Quần thần can:
- Bàn Hồ là loài súc sinh, không thể nhận quan tước, lại không thể gả vợ. Tuy có công lao, nhưng không thể ban ân huệ.
Cô gái út nghe vậy, liền đến tâu vua cha:
- Đại vương đà dùng thân con để báo đáp ân lớn của thiên hạ, nay Bàn Hồ đă ngậm đầu giặc đến, vì nước trừ hại. Mệnh trời khiến như thế, nào phải sức của chó đâu? Làm vương thì phải trọng lời nói, làm Bà thì phải trọng chữ tín. Không thể vì một thân hèn mọn của con mà đại vương trái lời giao ước với bách tính trong thiên hạ, đó là mầm họa của quốc gia!
Vua nghe con gái nói thế, lòng sợ hãi, bất đắc dĩ gả công chúa út cho Bàn Hồ. Thế là Bàn Hồ dẫn công chúa lên Nam sơn. Nơi đầy cây cối xanh tốt, um tùm, không một dấu chân người. Bây giờ công chúa bỏ y phục sang trọng, mặc quần áo thô xấu, giữ thân phận nô bộc, theo Bàn Hồ lên núi, vào hang, cuối cùng trú tại một động đá.
Vua buồn nhớ con gái, nên sai người đi tìm, nhưng trời bỗng nổi gió, tuôn mưa, núi non chấn động, mây giăng tối tăm, sứ giả không lên được, đành phải trở về. Trải qua ba năm, công chúa sinh được sáu gái và sáu trai. Sau khi Bàn Hồ qua đời, chúng tự phối ngẫu theo từng đôi mà thành vợ chồng. Chúng dùng vỏ cây tạo thành sợi, dùng các loại cỏ và hạt làm thuốc nhuộm, rồi dệt ra những tấm vải, tự cắt may, tạo thành những bộ y phục năm màu rất đẹp.
Một thời gian lâu, công chúa trở về thăm phụ vương, vua sai tìm về các cháu trai, cháu gái của mình, bấy giờ trời không tuôn mưa nữa. Chúng mặc y phục màu sác sặc sỡ, áo quần liền nhau, ngôn ngữ rất quái dị khó hiểu, khi ăn uống thì ngồi chồm hôm,thích sống nơi núi rừng, ghét ở thành thị. Vua thuận theo ý muốn của chúng, hạ chiếu ban cho chúng những vùng núi non đầm rộng và đặt hiệu là Man Di. Man tức bên ngoài thì ngu si, bên trong thì thông tuệ. Khi chúng đã an định lãnh thổ, vua lại ban thưởng trọng hậu, vì chúng nhận được linh khí nơi thiên mệnh vậy. Vua cho chúng theo luật pháp riêng, làm ruộng và bán buôn không phải chịu thuế má, không cần giấy thông hành, thẻ nhập quan. Quân trưởng mỗi quận đều được ban cho ấn và đai, mũ thì may bằng da hải cẩu, bắt từ loài du thực ở sông nước. Con cháu Bàn Hồ ngày trước, nay chính các bộ tộc Di sống ở các vùng Lương, Hán, Ba, Thục, Vũ Lăng, Trường Sa, Lô giang. Họ dùng tấm trộn với cá, gõ máng
làm hiệu lịnh để cúng tế Bàn Hồ, tục lệ này đến nay vẫn còn. Cho nên mọi người nói xích bê hoành quân là con cháu của Bàn Hô.
4.5.9.7. Tây quốc kí của pháp sư Huyền Trang ghi: “Nước Tăng-già-la vốn là một bãi châu báu, cũng có rât nhiều quỉ thân cư ngụ. Về sau con gái của một vị quốc vương thuộc Nam Ấn Độ được gả cho một người ở quốc gia lân cận. Vào một ngày nắng đẹp, công chúa được đưa về nhà chồng. Trên đường đi, họ gặp sư tử, tât cả thị vệ đều sợ hãi bỏ công chúa để chạy thoát thân. Công chúa ngồi trênkiệu cam lòng chịu chết. Bấy giờ sư tử bắt công chúa, mang vào hang sâu trong núi. Hằng ngày sư tư bắt nai, hái quả về cung cấp cho công chúa. Trải qua bao năm tháng, công chúa sinh ra một trai, một gái. Hình dáng chúng như người, nhưng tính tình lại giống thú. Đứa con trai dần dần lớn lên, sức mạnh có thể đối địch thú dữ. Năm hai mươi tuổi, hai người con mới phát khởi tri thức của con người, nên chúng hỏi mẹ mình: “Chúng con là gì? Cha là dã thú, mẹ là con người. Đã chẳng thuộc chủng loại nào, làm sao lấy vợ gả chồng?”.
Người mẹ liền thuật lại chuyện xưa rồi bảo:
- Người và súc sinh khác nhau, chúng ta nên trốn thoát! Ngày xưa mẹ cũng đã từng trốn, nhưng không thể được.
Các người con theo cha sư tử lên núi vượt non, dò xét những nơi sư tử đi ở để dễ bề trốn thoát. Một hôm biết cha đã đi, liền cõng mẹ rời núi, xuống xóm làng. Người mẹ dặn dò:
- Các con nên cẩn thận, chớ nói ra thân phận và nguồn gốc của mình, mọi người sẽ khinh bỉ chúng ta.
Khi công chúa dẫn con về đến nước của cha mình, thì đất nước đã đổi ngôi, tông miếu đã bị hủy hoại, bèn vào thôn xóm tạm nương. Mọi người hỏi:
- Các vị là ngươi nước nào?
- Chúng tôi vốn người nước này, nhưng li tán đến nước khác. Hôm nay mẹ con chúng tôi dắt nhau về thăm cố hương.
Mọi người nghe vậy đều thương xót, chung nhau giúp đỡ mọi vật cần dùng. Khi sư tử cha trở về kiếm tìm không thấy vợ con, nó buồn bã thương nhớ đến nỗi lòng tràn đầy phẫn hận. Thế là nó rời hang núi, xông vào làng xóm, gầm rống thị uy, tàn hại người vật, phá hoại mọi vật. Người dân vừa xuất hiện, nó liền giết chết. Thế là mọi người phải đánh trống thổi tù và, mang cung tên, giáo mác, tập hợp thành đoàn mới không bị hại. Bấy giờ vua lo sợ lòng nhân từ không nhuần thấm, cho nên cho phép thợ săn vào núi, mong bắt được sư tử, còn mình dẫn bốn binh chủng, tìm mọi cách bất ngờ đột nhập rừng núi, bao vây sơn cốc. Sư tử thấy vậy, nổi giận gầm rống khiến người ngựa hoảng sợ tránh xa. Thế là vua đành phải chiêu mộ người trong thiên hạ: “Nếu ai bẳt được sư tử, trừ hại cho đất nước thì sẽ được trọng thưởng, lập nên công lao to lớn”. Người con trai nghe lịnh vua như thế, liền thưa mẹ:
- Chúng ta đói khát khốn khổ đã lâu, vì thế nên đáp ứng lời chiêu mộ này!
- Không được! Sư tử tuy là loài thú, nhưng cùng là cha của con, đâu chỉ vì gian khổ mà làm chuyện ác nghịch như vậy? Người mẹ nói.
- Người và súc sinh khác loài, thì có lề nghĩa gỉ? Chúng ta đã chối bỏ, thỉ lòng này có khác gì?
Thế là người con liền giắt một con dao nhỏ, ra mặt nhận lời chiêu mộ. Bấy giờ nhà vua huy động thiên quân vạn mã ùn ùn kéo đến. Sư tử chiếm cứ trong rừng, nhưng không ai dám vào. Thấy vậy, người con liền tiến đến, sư tử thuần phục bày tỏ lòng thương yêu, quên đi nỗi giận hờn. Người con thừa dịp ấy đâm vào bụng sư tử, đến đây mà sư tử vẫn còn tỏ lòng từ ái, không mảy may phẫn hận, đến nỗi tự phanh bụng chịu đau mà chết. Vua thấy vậy liền hỏi:
- Người ấy là ai mà có những hành động lạ như thế?
Vua liền dùng danh lợi dụ dẫn, dùng tai họa để dọa sợ, người con mới tỏ bày ngọn nguồn sự việc. Vừa nghe xong, vua quát lớn:
- Đại nghịch thay! Cha mình mà còn hại huống gì người khác! Súc sinh khó thuần, ác tâm dễ động. Trừ hại cho dân, công ấy rất lớn, nhưng giết cha thì tâm ấy thật quá độc. Nay ta trọng thưởng để đền đáp công lao, đày đi xa để trị tội ác nghịch. Như thế thì quốc pháp sẽ trọn vẹn, vua sẽ không phạm lỗi hai lời.
Thế là nhà vua cho người mẹ ở lại kinh đô để triều đình chu cấp thưởng công. Lại cấp cho trai gái mỗi người con một chiếc thuyền lớn với đầy dỏ (lương thực và vật dụng, cho theo dòng trôi nổi. Thuyền của người con trai tấp vảo một bãi châu báu, thấy nơi đây rất nhiều bảo vật, liền dừng lại sinh sống, về sau các thương nhân tìm châu, ghé lại bãi này, người con trai giết chết các thương chủ, chỉ chừa lại những người nữ để lấy làm vợ. Từ đó con cháu ngày càng nhiều, bèn thành lập chế độ vua tôi, để định trên dưới, xây dựng kinh đô, châu quận, ấn định cương vực. Vì tổ tiên bắt được sư tử, nên đặt quốc hiệu là Nguyên Công.
Còn thuyền của người con gái trôi lạc đến nước Ba-lạt-tư-tây, bị quỉ thần mê hoặc, sinh ra rất nhiều con gái, về sau cũng thành một nước, đó là Tây Vương Nữ quốc. Vì thế hình dáng người dân nước Sư Tử thấp và đen, má vuông, trán rộng, bản tính hung bạo, tàn nhẫn độc ác và rất dũng mãnh. Đó cũng là thừa hưởng bản tính của dã thú vậy.
Nếu theo Phật pháp, thì kinh Khởi thế cho rằng thành sắt lớn ở bãi châu báu này, ngày xưa là trụ xứ của năm trăm la-sát nữ.
Trong ao lớn trước đền thờ trời, phía bắc một tòa thành thuộc đông nước Khuất-chi có loài rồng sinh sống. Rồng thường biến thành thân người giao hợp với ngựa cái mà sinh ra long câu. Bấy giờ mọi người mới thuần hóa giống ngựa này để cưỡi. Vì thế nước này có rất nhiều ngựa hay.
Từng nghe các bậc tiền bối nói: “Gần đây có vua Kim Hoa, vì trị quốc rất sáng suốt, nên cảm được rồng hiện đến làm vật cưỡi. Lúc vua sắp băng, đã đánh vào tai rồng, cho nên rồng ẩn mất cho đến hôm nay. Vì trong thành không có giếng, nên phảilấy nước tại ao kia, lúc ấy rồng hóa thành người rồi giao hợp các phụ nữ. Những người con sinh ra từ đây rât kiêu dũng, chạy nhanh bằng ngựa phi. Từ đó về sau, kế tiếp giao hợp, cho nên tất cả dân trong thành dần dần thuộc giống rồng. Cậy sức mạnh, tác oai tác quái, dân trong thành này không phục tùng lệnh vua. Vua bèn cấu kết với nước Đột Quyết đánh chiếm giết hết dân thành này, già trẻ lớn bé không còn một ai. Ngày nay thành này hoang văng, không một bóng người”.
* Lòi bàn
Nhiều lần nghe các kẻ ngu si tin vào tà thuyết cho rằng: “Sang hèn không đồng, người vật khác nhau, đâu có chuyện người làm súc sinh, súc sinh hóa thành người. Lời Phật hư dối, không đáng tin theo!”. Nếu các ông cứ ngu si, không tin lời Phật, vậy sao các sử sách thế tục vừa nêu trên đều có thuật đầy đủ. Chính mắt trông thấy mà còn không tin sao? Như thi ân, nhẫn chịu, thì giống như Sở Tử nuốt đĩa bị bệnh nan y lại lành. Tống công không cầu đảo mà sao xấu tan biến. Nếu tạo ác thì như Lã hoàng hậu giết Triệu vương Như Ý, bị thiên cẩu cào vào nách. Tề Tương công giết Bành Sinh, bị heo đứng gây tai họa. Những việc xảy ra gần đây mà còn như thế, huống gì do tạo nghiệp báo thiện ác, xuống lên khác đường, thì chắc chắn mãi mãi phải chịu tai ương!
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/10/2015
PUCL QUYỂN 10 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
QUYỂN 10 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.9. NẠP PHI 5.9.1. Lời dẫn Pháp thân vô hình, tùy ứng mà hiện; cơ duyên vô số, nên dấu tích giáo hóa cũng chẳng phải một. Hoặc lìa dục mà thụ đạo...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 9 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 9 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.5. XUẤT THAI 5.5.1. Lời đẫn Kính nghĩ! Đức Phật Định Quang thụ kí vào đời tương lai có Phật hiệu là Năng Nhân. Thầm hợp lời huyền kí, nên bồ-tát...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 8 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 8 Quyển này cỏ một chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT 5.1. THẤT PHẬT 5.1.1. Lời dẫn Từng nghe: Chín cõi chẳng đồng, bốn loài sai khác, việc ác dễ nhiễm, nghiệp tuệ khó thành. Chúng sinh từ lâu trôi nổi nơi sôn...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 7 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực....
29/10/2015
PUCL QUYỂN 5 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO
QUYỂN 5 Quyển này có một chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO 4.1. CÕI TRỜI 4.1.1. Lòi dẫn Luận về phúc báo cõi trời, thì nào là sự thấy biết đầy đủ cao xa, y phục trang sức rực rỡ, thân hình xinh đẹp nhẹ nhàng. Nhưng trên...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 4 - CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ
QUYỂN 4 Quyển này có một chương Nhật nguyệt tinh tú. 3. CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ 3.1. LỜI DẪN Trước khi thế giới hình thành, Nhị nghi còn mờ mịt; sau khi chúng sinh trữ lương thực, tam quang mới rực sáng. Do đó cảm đến...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)
QUYỂN 3 Quyển này tiếp theo chương Tam giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt) 2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu,...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI
QUYỂN 2 Quyển này có một chương giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI 2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân,...
