PUCL QUYỂN 10 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
29/10/2015
QUYỂN 10 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.9. NẠP PHI 5.9.1. Lời dẫn Pháp thân vô hình, tùy ứng mà hiện; cơ duyên vô số, nên dấu tích giáo hóa cũng chẳng phải một. Hoặc lìa dục mà thụ đạo...

QUYỂN 10
Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật.
5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
Kinh Duy-ma ghi: “Trước dùng ái dục lôi kéo, sau dẫn dắt họ vào đạo”. 5.9.2. Quán đỉnh Kinh Nhân quả ghi: “Đến lúc thái tử trưởng thành, phụ vương ban sắc lệnh cho các nước, đến ngày mùng tám tháng hai làm lễ quán đỉnh cho tháitử, tất cả phải tập hợp đông đủ. Khi sắc lệnh truyền đến, vua và quần thần của các nước đều nhóm họp đúng giờ xem việc lập thái tử và ban ân lớn”.
Luật sư Đạo Tuyên cư ngụ tại chùa Tây Minh ở Trường An, đức độ sáng chói trong hàng Tăng, đạo nghiệp cao siêu vượt trên Phạm chúng, tinh tiến khổ hạnh cho đến cuối đời. Sư sớm được theo thầy, đến hơn năm mươi tuổi, ngừng đi hỏi đạo, chỉ lo trụ trì và quan tầm đến việc biên tập, giúp xiển dương Tam bảo. Thế là sư gom tập, biên soạn hơn một trăm quyển nói về phép tắc thiền môn và tất cả những điều quan trọng có ý thú sầu xa.
Đến tiết Trọng Xuân, niên hiệu Càn Phong thứ hai (667) đời Đại Đường, sư trụ tại chùa Tịnh Nghiệp ở cung Thái Thanh, kinh sư để tĩnh tu. Đến tuổi già, khí lực sắp suy, sư thường nghĩ đến tứ sinh, luôn nhớ về ba hội. Bỗng một hôm vì nhân duyên đời trước mà chúng sinh u linh đến bái phong và hầu hạ, nhân đây sư dần dần khỏi bệnh. Từ đó sư nỗ lực tu tập, nên được ứng nghiệm. Bấy giờ có các thuộc quan của Tứ thiên vương đến trước cửa phòng luật sư, giống như có tiếng chân người bước đi. Luật sư hỏi:
- Ai đó?
- Đệ tử là Trương Quỳnh. Vị trời đáp.
- Đàn việt ở đâu? Luật sư lại hỏi.
- Đệ tử là con thứ mười lăm của Nam Thiên vương ở tầng trời thứ nhất, thuộc cõi Dục. Vua có chín mươi mốt người con, mỗi vị đều anh minh, mưu lược, thần vũ, trấn giữ một nước, thống lãnh tăng tục trong thiên hạ, phân biệt rõ trì phạm. Nhưng họ đều đích thân học hỏi giáo pháp của Phật, khuyến thiện trừng ác, khiến cho giáo pháp hưng thịnh, vun bồi công đức. Theo kinh thì đệ tử là con của Tì-lưu-li vương ở phương nam trong Hộ thế tứ thiên vương, luôn theo hộ trì pháp sư chứ không phải nói suông.
Luật sư hỏi:
- Đàn việt đã không chê tôi công đức kém cỏi mà đến gặp, tại sao lại đứng ngoài cửa không vào?
Đáp: Không được sự cho phép của thầy, đệ tử không dám vào!
Luật sư nói:
- Xin mời vào ngồi!
Vị trời vào đỉnh lễ luật sư rồi ngồi xuống. Luật sư lại hỏi:
- Đàn việt đã dốc lòng tin Tam bảo, lại vâng theo lời dặn dò của Phật hộ trì Tam bảo, nay đã đến gặp tôi, tại sao không hiện hình?
Đáp:
- Báo thân của đệ tử và loài người khác nhau, lại phát ánh sáng lạ, có thể làm kinh động mọi ngườinên không hiện. Con cùng thầy bàn luận, không cần phải hiện thân.
Luật sư lại hỏi:
- Bần đạo từ đầu xuân đến nay cảm thấy khí lực dần dần suy yếu, thuốc men không còn công hiệu, không biết xả mạng lủc nào!
- Báo thân luật sư sắp hết, không cần dùng đến thuốc thang. Vị trời nói.
Luật sư lại hỏi:
- Báo thân này ngày nào chấm dứt?
- Đâu cần phải nói lúc nào? Chỉ cần biết không lâu nữa thọ mạng của luật sư chấm dứt, được sinh lên cõi trời thứ tư, chỗ Phật Di-lặc. Vị trời đáp.
Luật sư hỏi:
- Còn người đi cùng với đàn việt là ai?
- Trương Dư, anh thứ ba của đệ tử. Vị này thông minh trí tuệ, kính tin Phật pháp. Anh ấy soạn bộ kinh Kì-hoàn đồ, hơn một trăm quyển; nhưng chỉ nêu việc tại cung trời, không nghe nóỉ đến địa phủ.
Luật sư nghe những lời này trong lòng vô cùng vui mừng, ý muốn xin thuật lại để khai thị cho đạo tục ở thế gian. Lại có vị trời Vi Côn là một trong tám đại tướng quân Nam Thiên vương, vị này cũng là đứng đầu trong ba mươi hai vị tướng của tứ thiên vương. Lúc mới sinh đã thông tuệ, sớm lìa dục trân, tu hành chân chính, Phạm hạnh thanh tịnh, tu nghiệpđồng chân, đích thân lãnh thụ lời phó chúc của Phật, hộ trì Phật pháp, thống lãnh ba châu, bảo vệ nhân dân là nhiệm vụ chính. Quên thân, quên nghỉ, lo lắng cho bốn bộ chúng, biết rõ căn cơ và pháp giáo hóa, luôn giúp đõ hàng Ngũ thừa. Vì thế, bốn lần Phật giáo sắp diệt vong, chư tăng và tượng Phật, bồ-tát gặp nguy hiểm đều được ông bảo vệ. Vị này luôn mong được gặp mặt pháp sư để trình bày đầy đủ phép tắc giáo hóa. Vị trời lại khen ngợi việc luật sư đã nối tiếp phong cách biên soạn của người xưa, lược soạn một tập sách nói về thánh tích trụ trì ở thế gian.
Thế là, luật sư y theo lời dặn dò của chư thiên, tuy thân còn bệnh, nhưng vẫn cầm bút ghi lại những điều đã nghe, tất cả gom thành mười quyển. Luật sư lo sợ báo thân này sắp hết, lại nghĩ vị trời sắp đi, nên chăm chú viết nhanh, không còn nghĩ đến việc khác. Do đó, lời văn giản lược. Nhưng ở đây chỉ cân đạt thánh ý, không cần lời văn trau chuốt. Nếu có những điều chưa rõ vê việc thánh tích trụ trì thế gian,
thì sư thưa hỏi để dứt sự nghi ngờ, mờ tâm mê muội. Chép xong gom lại có ba nghìn tám trăm điều, chia thành mười thiên:
1. Nghi thức kết tập
2. Kệ tụng của thiên nữ
3. Phó chức xá-lợi
4. Phó chúc y bát
5. Phó chúc kinh tượng
6. Phó chúc vật của Phật
7. Kết tập trước sau
(Thiên thứ tám và chín không có vân).
10. Thánh tích trụ trì thế gian
Luật sư đối diện nghe truyền đạt, đích thân thụ nhận lời chỉ bảo, càng nghe càng vui, mắt tai tuy mỏi, nhưng sư không cảm thấy mệt nhọc, chỉ hận mình biết quá muộn, văn nghĩa không lãnh thụ trọn vẹn. Nay theo lời của vị trời nói không trái với giáo pháp trong ba tạng, nên sư ghi chép lại đầy đủ. Tuy nghe vị trời truyền lại, nhưng cũng giống như Phật thuyết. Từ đầu tháng hai đến tháng sáu, hằng ngày vị trời đều đến truyền trao không gián đoạn.
Đến đầu mùa đông, ngày mùng ba tháng mười, khí lực cùa luật sư suy giảm. Bấy giờ hương thơm phảng phất, tràng phan đầy cả hư không, thánh chúng, chư thiên cùng nói: “Chúng tôi từ cõi trời Đâu-suất đến thỉnh luật sư!”. Luật sư ngồi ngay thẳng, một lòng chắp tay, nét mặt trang nghiêm mà thị tịch. Lúc ấy hơn một trăm vị đạo tục đều thấy hương hoa đầy trời rước sư bay lên hư không.
Luật sư là bạn đồng học của tôi, đăng đàn thụ giới cùng ngày, thụ học cùng một thầy. Tuy việc làm có hơn kém khác nhau, nhưng đều thích biên soạn.
Do đó tôi căn cứ vào nhừng việc đã thấy nghe, tùy lí tùy sự, gom tập các bài kí, tóm lược những yếu tập rồi biên soạn thành điều chương, mong giáo pháp Đức Phật trụ lâu ở đời làm lợi ích chúng sinh.
Tứ thiên vương thưa luật sư: “Lúc sắp nhập niết-bàn, Như Lai cùng đại chúng trời người ở tại tinh xá Ngưu Đầu, phía nam ao A-nậu-đạt, trên đỉnh Hương sơn. Bấy giờ, Ngài bảo Đại Ca-diếp:
- Ông đưa Tu-bồ-đề lên đỉnh núi Tu-di thổi đại pháp loa triệu tập các vị bồ-tát Thập địa, chúng thanh văn khắp mười phương, trăm ức Phạm vương, Đế Thích, bốn vị thiên vương v.v..., đồng thời cũng thỉnh các Đức Phật khắp mười phương vân tập tại Hương sơn.
Ca-diếp làm theo lời Phật dạy, đại chúng vãn tập đông đủ. Bấy giờ Thế Tôn ngồi kiết-già, nhập định Kim Cang tam-muội, mặt đất chấn động sáu cách. Ngài lại phóng ánh sáng giữa chặng mày chiếu khắp đại thiên, trải qua bảy ngày. Đại chúng đều nghi, không biết có việc gì. Thế Tôn ra khỏi tam-muội, vui vẻ mỉm cười bảo đại chúng:
- Lúc Ta mới vượt thành ra khỏi hoàng cung, bên ngoài có càn-thát-bà vương thống lĩnh thuộc hạ, tấu trăm nghìn khúc nhạc trời, đến chồ Ta và hỏi:
- Ngài muốn đến đâu?
Ta đáp:
- Muốn cầu đạo Bồ-đề.
Càn-thát-bà vương hỏi:
- Ngài định thành Phật! Đức Phật Câu-lưu-tôn, lúc sắp nhập niết-bàn có giao cho tôi chiếc bình vàng, trong bình ấy có ngôi bảo tháp giữ ấn bảy báu. Trong số đỏ, có hai ấn bằng vàng ròng, năm ấn bàng trăm thứ bạch ngân. Ngài bảo tôi giữ gìn và trao lại cho Tất-đạt-đa.
Tất-đạt-đa nói:
- Lúc Ta thành Chính giác, sẽ y theo lời nói của ngươi, đến nhận chiếc bình. Không lâu sau, Tất-đạt-đa thành đạo, Đại Phạm thiên vương và địa thần Kiên Lao ở phía nam cây bồ-đề, dùng vàng ròng và bạch ngọc làm một pháp đàn kim cang lớn, dùng các thử báu trang hoàng.
Bấy giờ, càn-thát-bà vương bạch các Đức Phật mười phương:
- Con thấy các Đức Phật trong quá khứ, lúc mới thành đạo đều lên đài kim cang, dùng bình vàng đựng đầy nước rưới trên đỉnh đầu, để thành tựu giai vị Pháp vương. Nay thấy Phật Thích-ca mới thành Phật, cũng như các Đức Phật trước, lên đài kim cang. Nhưng con nghe trong bảy lớp biển xanh quanh núi Tu-di có loại nước đầy đủ tám tính chất. Thuở xưa, các Đức Phật sắp thành ngôi vị Phápvương đều lên đài kim cang, dùng nước rưới trên đỉnh đầu, nên nay con đến đó lấy nước rưới lên đỉnh đầu đức Thích-ca.
Thế là càn-thát-bà vương mở bình lấy tháp ấn ra, rồi mang bình đi múc nước. Lúc ấy, các Đức Phật mười phương bảo Ta lên đài nhiễu ba vòng; đi lên từ hướng nam, chuyển sang hướng tây, rồi dừng lại ở hướng bắc. Sau đó Ta đến giữa đàn trải Ni-sư-đàn, đỉnh lễ mười phương Phật. Các Đức Phật bảo Ta ngồi nhập Kim Cang tam-muội.
Các Đức Phật mười phương đến bảo long vương Bà-kiệt:
- Ngươi lên hang đá Kim Cang ở đỉnh núi Tần-già-la, xuống đáy biển lớn ở châu Bảo Mã Vương, nơi đó cất giữ cái chung của Chuyển luân vương và Pháp vương. Tất cả đều làm bằng vàng ròng, có bạch ngọc bảy báu đậy trên. Các Đức Phật xuất thế đều dùng nghìn cái chung này chứa nước rưới trên đỉnh. Luân vương xuất hiện cũng dùng nghìn cái chung này chứa nước rưới lên đỉnh. Ông mang cái chung của Phật đến đây, chứa đầy nước có tám tính chất rưới trên đỉnh đầu của Phật Thích-ca!
Long vương nghe Phật dạy như vậy, liền lấy chung vàng trao cho các Đức Phật mười phương. Các Ngài nhận xong, bảo càn-thát-bà vương:
- Ngươi mang nước kia đến đổ trong chung vàng của chúng Ta!
Khi các Đức Phật thụ nhận, mặt đất chấn động sáu cách, mười phương các Đức Phật đều phóng ánh sáng từ tướng lông trắng từ giữa chặng mày, trong ánh sáng đó ca ngợi công đức Phật bảo. Lúc ấy Ta ra khỏi tam-muội, cũng phóng ánh sáng giữa chặng mày, hợp với ánh sáng của các Đức Phật tạo thành một cái lọng báu, che cả tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả mặt trời, mặt trăng, các vì sao, biển lớn, núi non và chúng sinh thụ nghiệp báo đều hiện rõ trong lọng; trong lọng báu đó cũng có trăm ức cõi Phật. Các Đức Phật bảo Ta đứng trên đàn vàng, đỉnh lễ các Đức Phật mười phương.
Bấy giờ, các Đức Phật mười phương lại bảo long vương Hòa Tu:
- Ồng đến đỉnh núi Tần-già, trên đó có một cái hang cất giữ tòa củạ các Đức Phật và tòa luân vương, đều làm bằng vàng ròng như núi Tu-di, nhưng tòa của Phật thì có chín con rồng nhiễu, tòa của Luân vương có năm con rồng nhiễu. Ông chỉ lấy tòa của Pháp vương đăng vị mang về đây.
Các Đức Phật mười phương lại sai Đại Ma vương, Đại Phạm vương cùng khiêng tòa của các Đức Phật đến đặt trên đàn vàng. Các Đức Phật bảo Ta ngồi, Ta vâng theo liền bước lên ngồi. Lúc ấy, các Đức Phật mười phương dùng chung vàng đựng đầy nước rưới lên đỉnh đầu của Ta. Các Đức Phật rưới nước xong, lần lượt đến Tứ thiên vương, Đế Thích, Ma vương, Phạm vương rưới.
Quán đỉnh xong, Ta chứng Tịnh tam-muội, vô lượng Phật pháp cùng lúc hiện tiền, mặt đất chấn động mạnh, trăm ức loài ma đến qui phục; Phạm vương trong mười phương đều cầm nhạc khí cõi trời tấu khúc “Phật thành đạo”, từ loại nhạc khí đó phóng ánh sáng diễn đạt sáu pháp ba-la-mật.
Bấy giờ càn-thát-bà vương mang ấn bảy báu đến trao cho các Đức Phật mười phương. Các Ngài nhận xong, liền ấn lên bảy lỗ ở mặt của Ta và nói:
- Ấn bảy lỗ trên mặt của ông, từ nay ông đầy đủ bảy giác chi.
Đầu tiên ấn diện môn là để phân biệt chọn lựa phiền não và các tâm sở. Cứ như thế lần lượt ấn lên mắt, tai, mũi... Càn-thát-bà lại lấy ấn bằng vàng ròng trao cho các Đức Phật mười phương. Các Ngài nhận xong, ấn lên ba nơi trên ngực của Ta, do được pháp ấn, nên chứng trí Tam không, thấu suốt các Phật pháp. Kế đó mang ấn bạch ngân trao cho các Đức Phật mười phương. Các Ngài nhận xong, ấn lên đỉnh đầu và tay chân, Ta liền chứng được Vô lậu trí, đầy đủ ngũ phần Pháp thân. Các Đức Phật ấn xong, đều đưa cánh tay sắc vàng xoa đỉnh đầu Ta, liền chứng trăm nghìn tam-muội, được nghìn pháp minh môn.
Hết thảy các Phật pháp này, Ta đã chứng biết từ lâu, nhưng vì tất cả chúng sinh mới hiện giống tướng Chuyển luân vương. Ta lại hiện điềm lành hi hữu là từ đỉnh đầu và tay chân, phóng ánh sáng năm màu, trong mỗi tia sáng đều có trăm nghìn điện đài, lầu gác. Các Đức Phật phân thân của Ta đều hiện trong đó; tất cả mọi việc đều giống như lúc Ta thụ ẩn lên ngôi vị Đại Pháp Vương. Từ lúc thành đạo đến nay, Ta luôn giữ bình vàng đựng tháp này, chưa từng nói cho mọi người, nay mới hiển bày.
Phật bảo đại sĩ Phổ Hiền:
- Ông hãy mở bình và lấy tháp báu ra!
Phổ Hiền vâng theo lời Phật, rồi đến đứng trước đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đỉnh lễ thì cửa tháp tự mở, trong đó có khoảng mười ba vạn lầu quán bằng chân châu. Mỗi lầu quán tạo thành một cái ấn và có mười ba vạn tạng luật viết trên vải dệt bằng sợi vàng. Trong tháp cũng có năm vị tì-kheo nhập Diệt tận định.
Phật báo Văn-thù:
- Ông lấy ốc pháp mạ vàng ròng của Ta, đến chỗ các tì-kheo thổi khúc Phật xuất thế và khúc
Khởi thâm định. Văn-thù vâng lời Phật, thổi ốc pháp, các tì-kheo nghe tiếng nhạc, liền xuất định, hỏi Văn-thù-sư-lợi:
- Hôm nay Phật xuất thế ư?
Văn-thù đáp:
- Trong kiếp Hiền này, Đức Phật thứ tư là Thích-ca xuất thế.
Tì-kheo lại nói:
- Chúng tôi là đại đệ tử thanh văn của Phật Câu-lưu-tôn. Lúc Đức Phật nhập niết-bàn, bảo chúng tôi ở trong tháp này giữ gìn các ấn cho đến lúc Phật Lâu-chí xuất hiện mới nhập niết-bàn.
Bấy giờ, các tì-kheo liền từ chỗ ngồi đứng dậy, từ xa đỉnh lễ vấn an Thế Tôn, rồi thưa bồ-tát Văn-thù:
- Đức Phật Câu-lưu-tôn bảo chúng tôi: ‘Đến lúc Phật Thích-ca sắp nhập niết-bàn, trong số ấn đó, ông lấy hai mươi ba cái giao cho Phật Thích-ca. Vì sau khi Phật Thích-ca diệt độ, chúng sinh cấu uế nặng, tà kiến, không giữ giới cấm, nên chư thiên, rồng, thần đều không bảo vệ, khiến cho bốn bộ chúng không có uy đức. Ta trao lại những ấn này để Phật Thích-ca bảo các vị đại bồ-tát trong đời sau dùng nó ấn vào tất cả di pháp của Phật, ấn vào bốn bộ chúng để họ không hủy phạm. Nếu người thích đọc tụng kinh, dùng ấn này ấn vào miệng thì người kia không quênsót. Người nào tu định hành trực tâm cũng dùng ấn này ấn vào, khiến người kia sau khi mạng chung thi thể không bị hủy hoại, hoặc có ánh sáng. Các chúng sinh ác trông thấy các điềm lành trên đều sinh lòng hoan hỷ!’.
Các tì-kheo nói xong thì cửa tháp tự đóng".
5.9.3. Cầu hôn
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Thái tử dần dần trưởng thành, đến năm mười chín tuổi, vua Tịnh Phạn xây ba cung điện theo mùa cho thái tử, một là cung điện ấm áp để nghỉ mùa đông; hai là cung điện mát mẻ để nghỉ hạ, ba là cung điện ôn hòa để nghỉ ngơi vào mùa xuân và thu. Nơi hậu viên, vua cho tạo một cái hồ lớn, lầu các và trồng nhũng loại cây hoa trái, ca múa tấu nhạc, ngày đêm hầu hạ thái tử, không thiếu thứ gì. Vua Tịnh Phạn nhớ lại lúc thái tử mới sinh, thầy tướng A-tư-đà đoán thái tử làm Luân vương, hoặc bậc Uy vương, hoặc thành đạo. Vì thế ông tìm cách ngăn thái tử xuất gia để nắm giữ ngôi vua. Những người trong dòng họ Thích tâu: ‘Đại vương, nên nhanh chóng xây riêng cho thái tử một cung thất, rồi bảo các thể nữ vui đùa, thái tử sẽ không bò nhà xuất gia’.
Họ nói kệ:
A-tư-đà tiên đoán
Nhất định không dời đổi
Các quan khuyên xây điện
Hy vọng không xuất gia
Vua Tịnh Phạn bảo các thân tộc họ Thích:
- Các ngươi xem thử người con gái họ Thích nào có thể làm phi thái tử?
Năm trăm đại thần họ Thích đều nói:
- Con gái thần có thể làm phi của thái tử.
Vua lại suy nghĩ: ‘Nếu bất ngờ đưa con gái người khác về làm phi, như không hợp thì thành ra trái ý thái tử. Nếu bàn với thái tử thì hoàn toàn không thể’. Vua lại suy nghĩ: ‘Nay ta dùng các vật báu làm cái hộp Vô Ưu để thái tử tặng cho các cô gái,
rồi âm thầm sai người quan sát ý của thái tử, mắt nhìn chăm chú cô gái nào thì ta chọn làm thái tử phi’.
Vua liền cho người đi khắp thành Ca-tì-la-vệ lắc chuông và tuyên cáo: ‘Trong vòng bảy ngày, thái tử muốn gặp các người con gái họ Thích để tặng hộp Vô Ưu làm bằng các vật báu có trang trí’. Bấy giờ, tất cả cô gái dòng họ Thích trang điểm lộng lẫy, nhóm họp trước cửa cung, muốn gặp thái tử. Song vì uy đức của thái tử quá lớn, nên các cô không dám nhìn thẳng, chỉ nhận tặng vật rồi cúi đầu nhanh chóng đi qua.
Khi tặng vật đã hết, có một thiếu nữ dòng họ Thích, con đại thần Bà-tư-tra Ma-ha Na-ma tên làDa-du-đà-la đi đến cùng các tì nữ. Từ xa trông thấy thái tử uy nghi, nàng đưa mắt nhìn thẳng, bước đi thong thả, dần tiến đến gần thái tử như người đã quen biết từ lâu, không e thẹn, tự nhiên thưa:
- Thái tử có thể cho tôi hộp báu Vô Ưu.
Thái tử nói:
- Nàng đến muộn rồi, ta đã cho hết!
Nàng ấy lại thưa:
- Tôi có lỗi gì mà ngài nói không cho tôi hộp báu?
Thái từ đáp:
- Ta không dối nàng, bởi vì nàng đến sau, nên hết rồi!
Khi đó, thái từ rút chiếc nhẫn giá trị trăm nghìn đang đeo ở ngón tay ban cho Da-du-đà-la. Da-du-đà-la lại thưa:
- Thái từ chỉ tặng tôi vật nhỏ mọn này thôi sao? Thái tử nói:
- Ta chi còn chuỗi ngọc đang đeo trên người, nàng có thể tùy ý lấy.
Da-du-đà-la nói:
- Tôi đâu thể lấy hết, hãy để lại cho Thái tử.
Nói xong, trong lòng không vui, nàng liền quay trở về.
Sau khi Thế Tôn thành đạo, tôn giả ưu-đà-di bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tại sao lúc ở vương cung, Ngài ban chuỗi ngọc vô giá trên thân cho Da-du-dà-la mà nàng không vui?
Phật bảo tôn giả Ưu-đà-di:
- Ngươi hãy lắng nghe, Ta sẽ nói.
Ưu-đà-di thưa:
- Cúi xin Thế Tôn nói cho con nghe!
Phật bảo Ưu-đà-di:
- Ta nhớ thuở xưa vô lượng kiếp, ở thành Ba-la-nại thuộc nước Ca-thi-la, có một vị vua tin theo tà đạo, cai trị nhân dân. Người con của vua ấy chỉ phạm chút tội mà bị phụ vương đuổi ra khỏi nước. Vợ chồng vương tử này đến trú tại một đền thờ chư thiên, lương thực đem theo cũng đã hết sạch, vương tử săn bắn các loài vật để sinh sống. Một hôm, vương tử thấy một con cá sấu liền rượt theo bắt giết, lột da lấy thịt bỏ vào nồi nấu. Luộc sắp chín thì nước cạn hết, vương tử bảo vợ:
- Thịt chưa được chín, nàng hãy đi lấy thêm nước.
Vợ đi lấy nước chưa về, vì đói quá, vương tử liền ăn hết thịt trong nồi, không để dành một chút nào. Vợ vương tử lây nước về hỏi chồng:
- Thịt trong nồi đầu rồi?
Vương tử đáp:
- Con cá sấu đột nhiên sống lại và đã chạy đi.
Vợ vương tử không tin, sao lại có chuyện cá sấu bị nấu chín mà còn chạy được. Trong lòng cô không tin và tự nghĩ chắc là chồng mình đói quá đã ăn hết, rồi nói dối là nó chạy mất. Người vợ giận hờn, lòng thường không vui.
Vài năm sau, vua cha thăng hà, các quan đại thần rước vương tử về làm lễ quán đỉnh, nối ngôi cha lên làm vua. Khi làm vua rồi, vương tử đem châu báu, kì trân, y phục và các vật báu vô giá ban cho vương phi. Vương phi tuy nhận, song vẫn không vui.
Lúc ấy, vua nói với vương phi:
- Ta ban cho nàng tất cả vật báu vô giá, tại sao sắc mặt nàng không vui?
Phu nhân nói kệ đáp:
Đại vương tối thắng nghe!
Xưa kia khi săn bắn
Giương tên hoặc cầm dao
Bắn giết cá sấu hoang
Lột da nấu sắp chín
Sai tôi lấy thêm nước
Ăn hết chẳng để dành
Dối tôi nói nó chạy!
Phật bảo ưu-đà-di:
- Ngươi nên biết, vị vua lúc ấy chính là Ta; vương hậu kia, nay là Da-du-đà-la. Khi ấy Ta xúc phạm nàng chút ít, nay tuy ban cho vô lượng tiền bạc, châu báu, lụa là nàng cũng không vui”.
Kinh lại ghi: “Thấy thái tử tài trí tuyệt luân, thông thạo mọi thứ, xứng đáng là bậc nhất, đại thần Ma-ha Na-ma liền nói:
- Cúi xin thái tử cho tôi sám hối, vì trước đây tôi nói thái tử không có tài năng gì, nên không gả con. Tôi nay đã biết, xin thái tử nhận con gái tôi làm phi.
Bấy giờ, thái tử xem ngày lành sao tốt, tự trang sức chuỗi báu, sắm sửa đầy đủ lễ vật, xứng hợp gia môn, rồi cùng năm trăm thể nữ tháp tùng với uy thế đại vương nghinh đón Da-du-đà-la về cung, cùng sống hạnh phúc, hưởng thụ ngũ dục. Có bài kệ:
Da-du-đà-la con đại thần
Tài sắc vẹn toàn vang khắp nơi
Ngày lành sao tốt chọn làm phi
Rước đón đưa nàng về nội điện
Thái tử cùng nàng hưởng dục lạc
Ngày đêm bên nhau không biết chán
Cùng như thiên chủ Kiểu-thi-ca
Cùng vợ Xá-chi, hưởng hoan lạc.
Lúc Thế Tôn thành đạo, ưu-đà-di bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Con chưa rõ kiếp trước Thế Tôn và nàng Cù-đa-di họ Thích có nhân duyên gì, khiến nàng chẳng màng các thanh niên kia, chỉ chọn Ngài mà lòng vui sướng, tại sao như thế?
Phật bảo Ưu-đà-di:
- Ưu-đà-di hãy lắng nghe, cô gái họ Thích Cù-đa-di chẳng những đời nay mà quá khứ cũng đã không thích các người kia mà chỉ thích Ta!
- Ta nhớ thuở xưa, ở dưới núi Tuyết có vô lượng vô biên các loài thú, chúng đều theo nhau đi tìm thức ăn. Trong loài thú, có một con hổ cái với bộ lông rực rỡ rất đẹp, không thú nào sánh bằng, khiến cho nhiều con thú khác muốn sở hữu, chúng đều nói:
- Nàng thuộc về ta! Nàng thuộc về ta!
Lại có các thú tự bảo nhau:
- Các ngươi hãy đợi, chớ có tranh nhau. Hãy để hổ cái kia tự chọn kẻ làm bạn. Con thú được chọn đó chính là vua của chúng ta.
Trong các loài thú đó, có một con trâu chúa nói với hổ cái bằng kệ:
Người đời đều lấy phân của ta
Trét lên nền đất cho thanh tịnh,
Vì thế hỗ cái hiền xinh đẹp
Nên chọn lấy ta đế làm chồng.
Hổ cái liền đáp:
Cổ ngươi thô xấu lại cao to
Chỉ hay kéo xe và mang ách
Làm sao thân hình xấu như thế
Muốn làm phu chủ của ta đây!
Khi đó, có một con voi trắng lớn nói kệ:
Ta là tượng vương trên núi Tuyết
Nhờ ta trăm trận chảng hề thua
Ta có uy lực lớn như thế
Sao nàng chưa chịu làm vợ ta?
Hổ cái lại nói kệ đáp:
Nếu ngươi nghe thấy sư tử vương
Khiến uy kinh hãi chạy tứ tán
Phân tiểu tuôn ra tung bừa bãi
Làm sao có thể làm chồng ta.
Trong ấy, có một con sư tử là vua các loài thú nói với hổ cái:
Cô xem hình tướng của ta đây
Phần trước nở nang sau nhỏ thon
Song trong núi này thật tự tại
Lại hay cứu giúp hết các loài
Ta là chúa tể cùa muôn sinh
Không có thú nào hơn được ta
Nếu nhìn thấy ta và nghe tiếng
Các thú thảy đều sợ chạy tan
Ta đây sức mạnh thật vô cùng
Uy thần rất lớn chẳng thể lường
Bởi thế, nàng hổ cần phải biết
Nên làm vợ hiền của ta đây
Hổ cái nói kệ đáp sư tử Vương:
Đại lực dũng mãnh và oai thần
Thân thể hình dung thật đoan nghiêm
Nếu nay ta được chồng như thế
Tất sẽ hết lòng mà kính phụng.
Bấy giờ, Phật bảo Ưu-đà-di:
- Ưu-đà-di! Sư tử vương nay chính là Ta, hổ cái nay là cô gái họ Thích Cù-đa-di, còn những con thú khác nay là năm trăm thanh niên họ Thích. Khi ấy, cọp cái chẳng thích những con thú kia, khi nghe nói kệ bèn chịu làm vợ Ta. Ngày nay cũng thế, nàng không thích năm trăm thanh niên họ Thích mà chọn Ta làm chồng”.
Kinh Nhân quả ghi: “Năm thái từ mười bảy tuổi, vua cho nhóm họp các vị đại thần cùng bàn về việc chọn vợ cho thái tử. Lúc ấy có người nữ tên Da-thâu-đà-la, con của một vị bà-la-môn họ Thích tênMa-ha Na-ma. Người nữ này dung mạo xinh đẹp, thông minh hơn người. Vua liền cho người chuẩn bị đầy đủ lễ, chọn cô gái đức độ nấy làm vợ thái tử. Tuy thái tử cưới nàng làm vợ, cùng sống chung, nhưng đi đứng nằm ngồi chưa từng khởi ý niệm dục vọng thế tục. Thái tử chỉ tu thiền quán”.
Kinh Phổ diệu ghi: “Bấy giờ các Lực Sĩ và trưởng giả dòng họ Thích tâu vua:
- Nếu thái tử làm Phật thì chấm dứt dòng dõi thánh vương.
Vua nói:
- Phải tìm đâu ra một ngọc nữ để cưới cho thái tử và tìm cách gì khiến họ thi tài. Vua liền sai một thợ giỏi nắn bức tượng thái tử màu vàng đẹp và viết rằng: ‘Người nữ nào nghi đức giống như tôi, thì tôi có thế chọn làm vợ!’. Vua sai quân lính và Phạm chí đưa bức tượng đi tìm khắp nước Ca-tì-la-vệ, bỗng thấy một ngọc nữ thuần khiết như hoa sen, giống ngọc nữ bảo. Ngọc nữ đó là con gái của Chấp Trượng dòng họ Thích, tên là Cù-di. Cù-di thấy tượng thái tử có uy đức khác lạ. Sau đó họ chọn Cù-di làm vợ thái tử.
Lại nữa, năm thái tử mười bảy tuổi, vua vì chọn phi cho thái tử, tuyển chọn mấy nghìn người nữ, cuối cùng cũng có một người nữ tên Cừu-di xinh đẹp tuyệt trần, dung nghi đầy đủ, đó là cô gái bán hoa kiếp trước. Tuy thái tử cưới vợ đã lâu mà chưa từnggần gũi ăn ngủ chung. Người vợ có ý muốn gần, thái tử nói: ‘Nàng là người nữ, thân ô uế, nhất định sẽ làm dơ tấm chăn quí này’. Người vợ nghe Thái từ nói nên không dám. Bấy giờ các người nữ đều nghĩ thái tử không phải là nam. Thái tử lấy tay chỉ vào bụng vợ và nói: ‘Sáu năm sau, nàng sẽ sinh một bé trai’, từ đó người vợ có thai”.
Kinh Ngũ mộng ghi: “Thái tử có ba vợ: vợ thứ nhất dòng họ Cù-đàm, là con gái của trưởng giả Thủy Quang ở Xà-di, tên Dư Minh, nhà ở gần thành. Khi mới sinh người nữ này, gặp lúc mặt trời sắp lặn, nhưng ánh nắng chiều còn sót lại chiếu sáng khắp nhà, nên đặt tên con là Cù-di (Hán dịch: Minh Nữ). Người vợ thứ hai dòng họ La-vân, tên Da-đàn, cũng có tên là Da-thâu, cha cô là trưởng giả Di Thí (kinh Thụy ứng bản khởi thiện quyền chủng và luận Đại trí độ đều ghi: “Sinh La-hầu-la là vợ thứ hai tên Da-thâu Kinh Ngũ mộng và kinh Thập nhị du đều ghi: “Vợ thứ nhất sinh La-hầu-la”). Người vợ thứ ba tên Lộc Dã, cha của nàng tên Thích trưởng giả. Thái tử vì người vợ thứ ba, mà xin vua Tịnh Phạn xây cung điện theo ba mùa. Mỗi cung điện có hai vạn thế nữ để vui đùa với thái tử. Nếu thái tử không xuất gia, sẽ làm Chuyển luân vương, có biệt danh là Già-ca-việt vương (Còn gọi là Phi hành hoàng đế)
5.9.4. Nghi ngờ và phỉ báng
Luận Đại Trí độ ghi: “Bồ-tát có hai vị phu nhân, một tên Cù-tì-da, vị này không có con; vị thứhai tên là Gia-thâu-đà-la, vừa cưới xong đêm đó bồ-tát xuất gia. Có người nói: ‘Thái tử xuất gia, làm sao cô ta có thai được?’. Họ cho là cô làm ô nhục thanh danh dòng họ Thích, nên muốn đào một hầm lửa đốt hai mẹ con Gia-thâu-đà-la. Gia-thâu-đà-la oán hận, vì mình không có việc này, nên lập thệ: ‘Nếu tôi vì tà hạnh mà có đứa bé trong bụng, thì hai mẹ con bị lửa đốt thành tro!’. Gia-thâu-đà-la phát nguyện xong, liền nhảy vào hầm lửa, thì lửa tắt, hầm lửa biến thành ao sen, Gia-thâu-đà-la ngồi trên tòa sen. Thấy vậy, mọi người biết việc này không hư dối.
Sau đó, Gia-thâu-đà-la sinh đứa bé ra giống như bồ-tát Tất-đạt-đa. Phụ vương rất vui, cho làm viên Hoan hỷ trăm vị để dâng cúng Phật. Lúc đó Phật biến năm trăm tì-kheo đều giống như Phật, nhưng La-hầu-la cầm viên Hoan hỷ đặt đúng vào bát của Phật, từ đó mới biết không hư dối”.
Kinh Đại thiện quyền ghi: “Nghi bồ-tát là huỳnh môn, nên lấy con gái họ Thích tên Cù-di. La-hầu-la là do vị trời chết rồi hóa sinh, không do cha mẹ giao hợp mà có”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Sau khi sắm sửa lễ vật cúng tế, Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với Da-du-đà-la bế La-hầu-la đến chỗ thần Lư-đề-la-ca, vườn của vị thần này cũng tên Lư-đề-la-ca. Ngày xưa khi còn tại gia, bồ-tát thường đến vui chơi và hay ngồi nằm trên tảng đá lớn ở vườn này. Bấy giờ, Da-du-đà-la đặt La-hầu-la nằm trên tảng đá ấy rồi đẩy xuốngnước, nàng lập thệ: ‘Nay tôi xin thề không gian dối, chỉ trừ thái tử, không có đàn ông nào khác chung sống với tôi. Đứa bé này đúng là con của thái tử. Nếu đúng như thế thì tảng đá này nổi trên mặt nước’. Đúng như lời thề, tảng đá nổi trên mặt nước như tàu lá chuối nổi bồng bềnh. Mọi người cho là việc hi hữu, nên reo hò, nhảy múa, ca hát, trỗi nhạc, mừng sinh nhật La-hầu-la.
Lúc Da-du-đà-la sinh con là nhằm ngày a-tu-la vương La-hầu-la nuốt mặt trăng, trong khoảnh khác liền nhả ra, vì thế đặt tên là La-hầu-la. Diện mạo đứa bé rất đoan nghiêm dễ thương, ai thấy cũng đều hoan hỉ, da dẻ sáng chói như vàng ròng, đỉnh đầu như cái lọng, mũi cao thẳng như mỏ chim anh vũ, hai tay thòng tới gối, thân thể không khuyết tật, thật hoàn hảo .
5.9.5. Nạn ở trong thai sáu năm
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Như Lai xuất gia sáu năm, Da-du-đà-la mới sinh La-hầu-la. Ngày Như Lai trở về thăm phụ vương thì La-hầu-la được sáu tuổi”.
Hỏi: Tại sao La-hầu-la ở trong thai mẹ sáu năm?
Đáp: Thuở xưa, La-hầu-la làm vua, dẫn một vị tiên nhân vào vườn dạo sáu ngày không ra, nên ở trong thai mẹ sáu năm.
Hỏi: Vì sao Da-du-đà-la mang thai sáu năm?
Đáp: Kinh Phật bản hạnh ghi: “Đức Phật dạy:
- Các tì-kheo, Ta nhớ thuở xưa, cách nay hơn vô lượng đời, có một gia đình nuôi bò. Một hôm vợ ông chủ nuôi bò dẫn con gái đến vắt sữa đầy hai bình. Bình lớn, bà bảo con gái vác, bình nhỏ bà tự mang, trên đường bà giục con gái:
- Con đi nhanh lên, đoạn đường này nguy hiểm, rất đáng sợ!
Cô gái nói;
- Bình này nặng quá, con đâu thể đi nhanh được!
Bà mẹ thúc giục đôi ba lần:
- Con đi nhanh lên, đoạn đường này rất đáng sợ!
Cô gái nghĩ: ‘Đã bảo mình vác bình nặng mà còn thúc hối đi cho nhanh’, nên nàng nổi giận nói:
- Mẹ hãy vác luôn bình sữa này đi! Con muốn đi đại tiểu tiện.
Bà mẹ vác luôn bình sữa đi sáu câu-lô-xá, cô gái thong thả theo sau.
Phật bảo các tì-kheo:
- Cô thiếu nữ nổi giận bảo mẹ vác nặng đi sáu câu-lô-xá không ai khác, chính là Thích nữ Da-du-đà-la. Bởi nghiệp báo sai mẹ vác nặng đi sáu câu-lô-xá, nên ở trong sinh tử phiền não chịu vô lượng đau khổ, do nghiệp còn sót lại nên đời này phải mang thai sáu năm”. (Có kinh nói: Do đời quá khứ lấp hang chuột sáu ngày không cho chuột ra, nên La-vân phải ở trong thai mẹ sáu năm).
5.9.6. Thần dị
Luận Quán Phật tam-muội ghi: “Bấy giờ, Da-du-đà-la và năm trăm tì nữ suy nghĩ:
- Thái tử sinh ở đời có rất nhiều việc kì lạ, nhưng chỉ có một việc làm cho chúng ta nghi ngờ. Trong số đó, có việc thể nữ Tu-mạn-na một hôm thưa vương phi: ‘Thái
tử là một vị thần! Nô tì phục vụ thái tử nhiều năm mà không thấy được năm căn của ngài, nói gì đến người thế gian!’.
Lại có một tì nữ tên Tịnh Ý thưa: ‘Nô tì phục vụ trong cunng, đến nam thái tử mười tám tuổi mà chưa từng thấy ngài đi đại tiểu tiện, huống gì các việc khác!’.
Mỗi mỗi tì nữ đều nói khác nhau và cho thái tử là hàng Bất năng nam. Thái tử ngủ ban ngày nghe các tì nữ nói muốn thấy tướng âm mã tàng của mình. Bấy giờ thái tử cho xuất hiện một hoa sen trắng ở chỗ nam căn của mình, có hoa màu hồng, trên dưới có hai ba hoa nối nhau. Các tì nữ thấy vậybèn nói với nhau: ‘Vị thần này có tướng liên hoa, sao trong tâm lại nhiễm ô được!’. Họ vừa nói như vậy thì cổ họng nghẹn không thể thốt nên lời. Lúc ấy trong hoa sen bỗng xuất hiện thân căn, hình dáng bằng thân căn của đồng tử. Các người nữ thấy vậy liền nói: ‘Hôm nay thái tử hiện ra các việc kì dị. Bỗng xuất hiện thân căn như trượng phu!’. Thế là họ vô cùng vui mừng. Lúc thái tử hiện tướng này, Da -du-đà-la thấy nơi thân căn kia có vô số hoa sen nối tiếp nhau như hoa kiếp-bối cõi trời. Trên mỗi hoa có vô số bồ-tát thân lớn cầm hoa sen trắng đứng vây quanh thân căn, xuất hiện rồi biến mất, giống như đứng trước mặt trời. Đây gọi là tướng âm mã tàng của bồ-tát.
Bấy giờ lại có các kĩ nữ đều nói: ‘Cù-đàm không có nam căn’. Phật nghe nói, tức thời như mã vương dần dần lộ thân căn. Lúc mới hiện ra, nhỏ bằng thân căn đứa bé tám tuổi, dần dần lớn lên bằng thân căn của thiếu niên, các người nữ thấy vậy đều vui mừng. Sau đó, thân căn dần dần lớn như tràng hoa sen, giữa mỗi tầng có trăm ức hoa sen, mỗi hoa sen có trăm ức màu, trong mỗi màu có trăm ức Hóa Phật, trong mỗi Hóa Phật có trăm ức bồ-tát và vô lượng đại chúng làm thị giả. Lúc ấy các Hóa Phật chê trách lỗi ác dục của người nữ rồi nói kệ:
Nếu có các nam tử
Tuổi mười lăm, mười sáu
Mạnh khỏe nhiều sức lực
Sô ấy nhiều vô lượng
Đem cấp cho người nữ
Cũng không thỏa mãn họ
Các người nữ nghe nói như vậy, trong lòng hổ thẹn, buồn rầu, ngã quị trên đất, lấy tay vò đầu và nói:
- Than ôi! Dục vọng tà ác, mới khiến chư Phật nói việc này. Chúng ta có lòng tà ác, đắm nhiễm dục lạc ô uế mà không biết đó là họa. Nên mới khiến Đức Phật nghe được mà quở trách, khuyên nhàm lìa ác dục!
Thế là họ đều nhàm chán thân nữ. Bốn nghìn người nữ phát tâm bồ-đề, hai nghìn người nữ xa Ha câu uê, chứng được Pháp nhãn tịnh, hai nghìn người nữ đến đời vị lai sẽ chứng Bích-chi-phật.
Phật bảo A-nan:
- Lúc Ta mới thành đạo bên bờ sông Hi-liên, có năm Ni-kiền-từ dẫn bảy trăm năm mươi đệ tử đến chỗ Ta, tự xưng là đã đắc đạo, quấn thân căn quanh thân bảy vòng, rồi lót cỏ ngồi và nói: ‘Chúng tôi đã vô dục, nên thân căn như vậy, như Tự Tại thiên. Nay thần đạo của chúng ta hơn xa sa-môn trăm nghìn vạn ức lần’.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Ni-kiền-tử:
- Các ông không biết thân của Như Lai, nếu muốn thấy thì tùy ý xem. Như Lai nhiều kiếp tu hành Phạm hạnh, lúc còn tại gia cũng đã không nghĩ đến ái dục, tâm không đắm nhiễm nên được quả báo này, giống như ngựa báu ẩn hiện vô thường. Nay Ta vì các ông mà tạm hiện thân phần!
Thế Tôn từ hư không hạ xuống đất, hóa bốn dòng nước giống như bốn biển lớn; trong bốn biển đó có núi Tu-di. Phật nằm giữa và ngay thẳng trên núi Tu-di, toàn thân phóng ánh sáng màu vàng. Ánh sáng ấy chiếu rực rỡ đến thân của các vị trời, tướng âm mã tàng dần dần lộ ra quấn quanh núi bảy vòng, giống như hoa sen vàng, các hoa sen nối tiếp nhau cao lên đến trời Phạm Thế. Từ thân Phật lại xuất hiện một ức na-do-tha hoa sen bằng nhiều báu vật, giống như tràng phan hoa che phủ âm mã tàng, một ức hoa sen này có mười ức tầng, mỗi tầng có vô lượng Hóa Phật, mỗi Hóa Phật có trăm ức bô-tát và vô số tì-kheo đứng hầu. Hóa Phật phóng ánh sáng khắp cõi nước mười phương.
Các Ni-kiền-tử thấy vậy đều kinh hãi và kính phục, đều cho rằng tướng Phạm hạnh của Phật như thế, thật không thể nghĩ bàn, thân Ngài đã không xấu mà lại giống như hoa sen. Nay chúng ta đỉnh lễ công đức rộng lớn của Phật, cầu xin xuất gia và mong chứng đạo quả!”.
5.10. NHÀM CHÁN KHỔ
5.10.1. Lời dẫn
Biết rằng: Ba cõi phân chia, bốn loài khác tính; tất cả chúng sinh, cho đến loài côn trùng nhỏ bé, đều mãi rơi trong nhà lửa, đắm chìm trong biển dục. Vì thể, đấng Pháp vương hiện đúng vận khí Diêm-phù, bậc Giác giả hợp thời cơ thuyết pháp, dẫn dắt những đứa trẻ ham vui trở về cõi tốt đẹp. Xót xa cho lưới tục, vui thương đạo xuất li, vì thế xem kỉ nữ như tử thi, ngộ cung vàng như nghĩa địa. Thở than cho nỗi khổ sinh già bệnh, mến mộ niềm vui xuất thế vĩnh hẵng, vì thế bỏ quốc thành mà đi xa, phá ma quân để thành đạo.
5.10.2. Thăm đồng ruộng
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Một hôm, vua Tịnh Phạn cùng với các thiếu niên họ Thích và thái tử ra ngoài dạo chơi, ngắm nhìn đồng ruộng. Thái tử thấy người nông phu để thân trần, nhọc nhằn cày ruộng, dưới những đường cày, lúc nhúc côn trùng xuất hiện, những con chim bay xuống tranh nhau bắt ăn. Thái từ than: ‘Ôi! Chúng sinh ở thế gian đã chịu nhiều khổ đau như sinh, già, bệnh, chết, lại còn phải chịu bao nhiêu khổ não này; cứ quanh quẩn trong đó không ra khỏi. Tại sao họ không mong xa lìa các khổ?’. Sau khi xem việc đồng áng, vua Tịnh Phạn cùng các thiếu niên đi vào một khu vườn. Khi đó, thái tử lặng lẽ quan sát và dạo quanh, muốn tìm nơi yên tĩnh. Chợt thấy cây Diêm-phù cành lá sum suê, thái từ rất vui và bảo thị vệ:
- Các ngươi hãy tránh xa, ta muốn đi một mình!
Thấy mọi người đã đi khỏi, thái tử liền đến bên gốc cây, ngồi xếp bằng trên cỏ, lắng lòng suy nghĩ: ‘Chúng sinh có các nỗi khổ sinh già bệnh chết’. Thế là Ngài phát lòng từ bi, liền được định tâm, xa lìa các dục, diệt tất cả pháp bất thiện, lậu Dục giới đã sạch liền chứng Sơ thiền. Tất cả chư thiên, Đế Thích v.v... thấy thái tử ngồi dưới bóng cây, bay xuống đỉnh lễ và nói kệ khen rồi về trời.
Vua Tịnh Phạn không thấy thái tử, trong lòng không vui, hỏi mọi người:
- Thái tử ta ở đâu mà bỗng nhiên chẳng thấy?
Các quan đại thần chạy tìm khắp nơi, nhưng không biết ở đâu? Có một đại thần từ xa nhìn thấy thái tử tọa thiền dưới bóng cây Diêm-phù; lại thấy tất cả các bóng cây chuyển theo ánh mặt trời, chỉ có bóng cây Diêm-phù đứng yên che mát thái tử. Đại thần thấy việc hi hữu khó nghĩ bàn này, ông rất vui mừng, vội chạy đến chỗ vua, quì nói kệ:
Đại vương! Thái tử ở đằng kia
Đoan tọa dưới bóng cội Diêm-phù
Nghiêm trang tư duy vào tam-muội
Quang minh rực rỡ như mặt trời
Đây thật là bậc đại trượng phu
Bóng cây đứng yên chẳng di động
Cúi xin đại vương đến quan sát
Tướng mạo thái tử ngồi thế nào!
Ví như Đại Phạm các thiên vương
Cũng như Đao-lợi trời Đế Thích
Uy thần vòi vọi soi rực rỡ
Sáng chói khắp cả các rừng cây.
Nghe xong, vua liền đi đến chỗ cây Diêm-phù. Từ xa, vua nhìn thấy thái tử ngồi kiết già dưới bóng cây, ví như trong đêm tối nhìn thấy đống lửa lớn trên đỉnh núi, ánh sáng chiếu rực rỡ, uy đức vòi vọi; cũng giống như vầng trăng bỗng xuât hiện giữa đám mây, như ngọn đèn sáng trong nhà tối.
Thấy thế, vua cho là hi hữu, toàn thân rúng động, đỉnh lễ thái tử, lòng vui mừng khôn xiết và nói: ‘Quí thay! Quí thay! Thái tử ta có uy đức lớn!’. Rồi vua nói kệ khen ngợi:
Như đống lửa trên núi về đêm
Như trăng sáng rực giữa mây mù
Nay thấy thải tử đang thiền định
Bất giác rúng động cả toàn thân.
Nói kệ xong, vua lại cúi đầu đinh lễ thái tử và nói kệ:
Ta đây lần nữa cúi thân mình
Đỉnh lễ bàn chân có bức luân
Từ khi sinh ra nay mới thấy,
Thái tử nơi đây ngồi tư duy.
Khi đó, có một đám trẻ con cầm bẫy thỏ đi theo vua cười nói ồn ào, một vị đại thần quở mắng:
- Các con không được làm ồn!
Chúng nói với đại thần:
- Tại sao không cho chúng con cười đùa?
Vị đại thần nói kệ đáp đám trẻ:
Ánh nắng mặt trời tuy gay gắt
Cũng không ảnh hưởng bỏng mát kia
Có luồng ánh sáng rất nhiệm mầu
Uy đức thế gian không gì sánh
Ngồi lặng tư duy dưới cội cây
Bất động vững chãi như Tu-di
Thâm tâm thải tử Tất-đạt-đa
Ưa thích bóng cây chẳng muốn rời ”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bồ-tát nói với vua Bạch Tịnh:
Giống như nhà giàu bị lửa thiêu
Như uống canh ngon hòa thuốc độc
Như ao đầy hoa có thuồng luồng
Ngôi vua khoái lạc sau này khổ”.
5.10.3. Ra thành du ngoạn
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Thiên tử Tác Bình vì muốn thái tử đến vùng rừng núi quan sát cảnh tượng tốt xấu để sinh tâm nhàm chán, nên dần dần khuyên xa lìa. Khi thái tử nghe những lời kệ ấy, liền khởi tâm muốn đi, bèn gọi người đánh xe ngựa bảo:
- Ngươi mau sửa soạn xe báu, ta muốn đi đến vườn rừng du ngoạn.
Vua Tịnh Phạn liền ra lệnh cho quan dân thành Ca-tì-la, phải quét dọn cho sạch sẽ, trang hoàng những hoa thơm, nam nữ ăn mặc lộng lẫy, người già, bệnh, chết và sáu căn không đủ đều đuổi đi. Bấy giờ người đánh xe ngựa trang hoàng xe lộng lẫy và chọn ngựa tốt, rồi thưa:
- Thưa thái tử, xe ngựa đã chuẩn bị xong!
Trong lúc thái tử ra cửa phía đông, đang trên đường đến vườn rừng du ngoạn, thiên tử Tác Bình biến thành một cụ già lưng khòm đầu cúi, đi phía trước Thái tử.
Thấy việc ấy, thái tử bèn hỏi người đánh xe:
- Đây là người gì mà thân thể tiều tụy, da nhăn nheo dơ dáy xấu xí, mắt trũng đổ ghèn, răng rụng, không giống những người khác?
Thái tử nói kệ:
Người khéo đánh xe nay lắng nghe!
Người gì đang đi ở trước ta
Thân thể gầy gò đầu tóc hói
Là sinh ra có, hay vì già.
Người đánh xe nói kệ đáp:
Đây chính già nua nỗi khổ lớn
Già cướp sắc đẹp và niềm vui
Các căn hư hoại, hay quên sót
Đứng đi sinh hoạt chẳng tùy tâm.
Thái tử lại hỏi người đánh xe:
- Chỉ có một người này bị già hay là tất cả mọi người đều như thế?
Người đánh xe thưa:
- Thái tử nên biết! Chẳng phải một người này già mà tất cả chúng sinh trong thế gian đều phải già suy. Sang hèn tuy khác, song đã sinh ra, tất nhiên không ai tránh khỏi sự già nua.
Thái tử hỏi:
- Nếu như thân ta cũng không thoát khỏi sự già nua thì hãy mau quay xe trở về cung. Pháp già chưa thoát khỏi sự già nua, làm sao có thể an tâm du ngoạn?
Vua Tịnh Phận hỏi người đánh xe, người đánh xe tâu hết mọi việc. Vua thầm nghĩ: ‘Thật hi hữu! Đúng như lời tiên tri của tiên nhân A-tư-đà, e ràng thái tử sẽ bỏ nhà xuất gia, ta phải gia tăng ngũ dục!’.
Nhưng thái tử nhàm chán ngũ dục, chỉ quán việc già khổ.
Một thời gian sau, thái tử xin vua đi ra cửa thành phía nam, đến vườn rừng để ngắm cảnh. Vua lệnh cho người quét dọn đường sá sạch sẽ hơn trước. Lúc đó, thiên từ Tác Bình hóa thành một người bệnh nằm bên đường, người này toàn thân chỉ còn da bọc xương, khốn khổ, mạng sống không còn bao lâu, đang lăn lộn rên rỉ trên đống phân, không gượng dậy nổi, tiếng nói phều phào đứt quãng xin đỡ tôi dậy!’.
Thấy thế, thái tử liền hỏi người đánh xe:
- Đây là người gì mà bụng to như cái nồi lớn, lúc thở toàn thân run rẩy, đau đớn kêu la, không nỡ nghe thấy? Người đánh xe thuật đủ nhân duyên cho thái tử nghe. Lại có bài kệ:
Thải tử gạn hỏi người đánh xe
Người này cớ sao chịu khổ ấy
Người đảnh xe tâu bày mọi việc
Bốn đại bất hòa, nên bệnh sinh.
Một thời gian sau, thái từ đi ra cửa thành phía tây. Thiên tử Tác Bình ở trước hóa thành một tử thi nằm trên giường, có người khiêng và rất đông người thân vây quanh khóc lóc, có người vò đầu, có người đâm ngực, có người kêu gào bi ai, nước mắt đầm đìa nức nở nghẹn ngào, thấy nghe không chịu nổi.
Thái tử nhìn thấy vậy, lòng vô cùng sầu thảm, hỏi người đánh xe:
- Đây là người gì mà nằm trên giường, mọi người khiêng đi, khóc lóc ai oán. Có bài kệ:
Vương tử xinh đẹp, thân đoan chính
Hỏi người đánh xe đây là ai?
Nằm ở trên giường bốn người khiêng
Người thân vây quanh khóc thảm thiết.
Người đánh xe nói kệ đáp:
Đã bỏ tâm ý và các căn
Thi hài vô thức như gỗ đá
Người thân gào khóc, lại vây quanh
Ân ái từ nay mãi li biệt.
Thái tử lại hỏi: Ta cũng bị chết chăng?
Người đánh xe dùng kệ đáp:
Tất cả chủng sinh, đây hết nghiệp
Trời người sang hèn đều như thế
Tuy ở đời sau tạo lành dữ
Vô thường đến rồi chẳng khác nhau.
Một thời gian sau, thái tử đi ra cửa thành phía bác. Thiên tử Tác Bình dùng sức thần thông hóa làm một người cạo bỏ râu tóc, đắp tăng-già-lê , tay phải cầm tích trượng, tay trái ôm bát, ung dung bước đi trước xe không xa.
Thái tử nhìn thấy hỏi người đánh xe:
- Đây là người gì, ở trước mặt ta dáng vẻ trang nghiêm, đi đứng khoan thai, nhìn thẳng phía trước, không ngó hai bên, giữ gìn tâm hạnh, không giống kẻ khác; lại cạo bỏ râu tóc, sắc áo thuần đỏ, không giống người thế tục; ôm bình bát tía xanh bóng như thạch đại.
Người đánh xe thưa thái tử:
- Đây là người xuất gia. Người này luôn thực hành pháp lành, xa lìa pháp ác, giỏi điều phục các căn, hay ban sự vô úy, có tâm đại từ bi, không giết hại chúng sinh mà luôn nhớ nghĩ bảo vệ.
Thái tử nghe người đánh xe nói thế, liền bảo:
- Ngươi hãy cho xe đến gần người xuất gia kia!
Người đánh xe vâng lệnh, đưa thái tử đến chỗ người xuất gia. Thái từ hỏi:
- Ông là người gì?
Vị xuất gia nói kệ đáp:
Ta quán thế gian là diệt pháp
Muốn cầu vô tận cõi niết-bàn
Một tâm bình đẳng chằng oán thân
Dục lạc thế gian không chung sống
Nương náu cội cây chốn núi rừng
Lại trú nghĩa địa nơi hoang vắng
Hữu vi các pháp thảy xa lìa
Quán niệm chân như sống khất thực.
Thái tử vì kính pháp nên xuống xe, đến bên vị tu sĩ cung kính đỉnh lễ và nhiễu ba vòng rồi lên xe trở về cung. Khi đó trong hoàng cung, Lộc Nữ từ xa nhìn thấy thái tử trở về, cô khởi dục tâm và nói kệ:
Đại vương Tịnh Phạn thụ khoái lạc
Ma-ha Ba-xà chẳng lo buồn
Trong cung thể nữ rất đẹp đẽ
Ai được ở bên thánh tử này”.
Kinh Đại thiện quyền nhân quả ghi: “Lúc thái tử dần dần khôn lớn, đến lúc xuất gia, nên xin phụ vương ra bốn cửa thành du ngoạn, ba cửa đầu gặp cảnh chán nản, chỉ thích cửa thứ tư khi gặp người xuất gia. Các thầy tướng đều tiên đoán, nếu qua bảy ngày sau, thái tử không xuất gia, thì sẽ làm Chuyển luân thánh vương, thống lĩnh bốn châu thiên hạ, bảy báu tự hiện. Bốn cửa thành, mỗi cửa có một nghìn người canh giữ, trong phạm vi một du-xà-na bên ngoài thành, bố trí rất đông người canh giữ”.
Bài tụng về việc thái tử ra cửa đông gặp người già:
Như thân chuối dễ gãy
Giống dây leo sắp đứt
Một cành vừa khô héo
Tuổi xuân cũng chia li
Đã giống tuấn mã phi
Lại đồng hoa hồng rụng
Xinh đẹp bỗng chốc hoại
Luống uổng đời đơn côi.
Bài tụng về việc thái tử ra cửa nam gặp người bệnh:
Nằm bệnh tiếc thời gian
Đớn đau thân dễ hoại
Cỏ bờ Tuyết chẳng nương
Động núi Mang luống về
Lục phủ bị tiêu khát
Đau đớn khắp thân hình
Sao thọ mạng ngắn ngủi
Sầu khổ chẳng tạm vơi.
Bài tụng về việc thái tử ra cửa tây gặp ngườichết:
Dụng tâm tuy sai biệt
Thân mất đâu kém, hơn
Tùy theo gió nghiệp dứt
Cuối cùng cũng luống bày
Năm ấm thật giá dối
Sáu đường há có dừng
Chết rồi vế một chốn
Lo nghĩ buộc cánh không.
Bài tụng về việc thái tử ra cửa bắc gặp vị tăng:
Tục huyễn sinh cảnh không
Buộc vây tâm trần nhiễu
Ngay đây dẹp bổn triển
Đuối hết cầu Vô thượng
Bậc hạ không để tâm
Mới từ biệt tăm tối
Đã xót cảnh tướng không
Lại tạo ao “không diệt”.
5.10.4. Chán khổ
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Lúc nghe Lộc Nữ nói bài kệ, toàn thân thái tử run rẩy, tuôn lệ như mưa, ưa thích cảnh vui niết-bàn, các căn thanh tịnh. Thái tử chỉ muốn xuất gia, không muốn ở đời, nên vua và các vị đại thần mưu trí, cung nhân, thể nữ tìm mọi cách mê hoặc. Lúc bấy giờ, con của quốc sư là Ưu-đà-di đang bảo vệ thái tử, ông dạy những thể nữ dùng thủ thuật mê hoặc, nói kệ:
Các cô thể nữ xinh
Có nhiều cách khéo lẻo
Dụ do mê hoặc người
Khéo hiện khả năng mình
Dù là bậc li dục
Các tiên nhân chân chính
Nhưng nhìn thấy như vậy
Tám dục vẫn nổi lên
Huống chi thái tử này
Nhìn các cô vui chơi
Mà chẳng hưởng năm dục
Thật là điều vô lí
Cội gốc của ái tình chính là dục, người nữ chỉ mong được phái nam yêu kính là vui mừng. Tâm không đắm nhiễm vinh hoa phú quí mới là việc khó, Ưu-đà-di nói kệ:
Đối với người phụ nữ
Vui nhất được yêu thương
Có sắc không được yêu
Như cây không trổ hoa.
Thái tử nói kệ đáp:
Vinh hoa tuy vui sướng
Nhưng vẫn còn bốn khổ
Sinh, già, bệnh, chết ấy
Tâm tôi làm sao vui?
Nếu trong bốn khổ đau
Sinh, già, bệnh, chết ấy
Mà sinh tâm vui thích
Không khác gì cầm thú
Thái tử cùng ưu-đà-di đàm luận tới lúc mặt trời sắp lặn, thì vào cung với các thể nữ vây quanh thụ hưởng ngũ dục, khoái lạc vui vẻ. Ngay đêm ấy, thái từ phi là Da-du-đà-la cảm thấy có thai. Sau một thời gian, thái tử sinh tâm nhàm chán xa lìa ngũ dục, chỉ muốn cầu xuất gia, ngài nói kệ:
Thế gian nhơ uế lắm điều mê
nhưng chẳng gì hơn tình nữ nhân,
Chuỗi ngọc, y phục đồ trang sức
Ngu si kề cận dục tâm sinh
Như thế, người nào quán sát kĩ
Tợ như huyễn mộng chẳng thật chân
Chóng bỏ vô minh không phóng túng
Hẳn được giải thoát công đức thân.
Kinh Thụy ứng ghi: “Năm thái tử mười bốn tuổi, xin vua cha ra ngoài thành du ngoạn”.
Kinh Nhân quả ghi: “Con của bà-la-môn tên Ưu-đà-di, thông minh trí tuệ. Vua bảo ưu-đà-di kết bạn với thái tử và dặn:
- Ngươi có thể thuyết phục thái tử, chớ để xuất gia.
Ưu-đà-li vâng lệnh vua, đến gặp thái tử và nói:
- Vua bảo tôi kết bạn cùng ngài. Kết bạn cần phải có ba điều: Một, thấy bạn phạm lỗi thì khuyên bảo, can ngăn; hai, thấy bạn làm việc tốt thì vui theo; ba, gặp cảnh khổ nguy không bỏ nhau. Nay nói những lời này ra, nguyện không sai trái. Ngày xưa, các vua đều hưởng thụ ngũ dục, sau đó mới xuất gia, tại sao thái tử nhiều lần không đoái hoài đến?’_ Thái tử đáp:
- Các vua đều không thoát khỏi khổ, cho nên tôi không làm theo”.
5.11. XUẤT GIA
5.11.1. Lời dẫn
Trộm nghĩ, nhân duyên giả hữu là gốc chấp trước của chúng sinh, các pháp vốn chẳng sinh là lí vi diệu của bậc thánh. Do đó, chúng sinh trong ba cõi, sáu đường luôn tạo nghiệp chướng mà tự mê; bậc Bát giải, Thập trí đạt đến cội nguồn mà được rỗng lặng. Vì thế, Đức Phật tùy duyên giáo hóa, thương nhà lửa đang bốc cháy, xót cõi Dục mãi mịt mù, nương cung vua Tịnh Phạn mà thị hiện thân màu vàng ròng; ở trong chốn đầy phiền não lại hiện sắc hình giả huyễn; kế đó dạo chơi bốn cửa thành, nhàm chán cảnh đời như mây trôi chẳng bền vững. Ngài tự than thở: “Đời người đổi thay bất chợt đến như thế!”. Thế rồi, chư thiên nâng ngựa trắng vượt thành, Xa-nặc mạng mão báu về cung khuyết. Ngài đã vút bỏ tất cả để đi tìm chân lí như thế!
Tuy ở Trung Quốc, đời Tần có Tiêu Sử, đời Chu có Tử Tấn, đời Nghiêu Thuấn có Hứa Do rửa tai ở Ky Sơn, Trang Chu sống an bần thủ đạo ở Bộc Thủy, họ đều từ bỏ thế tục như thế, nhưng đâu có ai khinh thường? Ngược lại, còn có người ngưỡng mộ đức của họ mà bỏ ác để tu thân, khâm phục phong thái của họ mà giữ mình trong sạch để tu thiện. Cho nên, để thành tựu chí nguyện mà phải hủy hoại dung mạo, cạo bỏ râu tóc; để lĩnh hội đạo cả mà phải lìa xa thế tục, từ bỏ ngôi vua. Tuy thân không phụng dưỡng cha mẹ, nhưng lòng luôn hiếu thảo; dù không trọn lễ thờ vua, nhưng lòng thường nhớ nghĩa. Ân huệ thấm đượm cả kẻ oán người thân để thành tựu đại pháp; phúc trạch gội nhuần hai cõi âm dương, đâu câu nệ lỗi nhỏ nhặt!
Bậc thượng trí y theo lời Phật nên được lợi ích, hàng phàm phu phụ lời Ngài nên bị tổn hại. Trừng trị ác thì người buông lung tự sửa đổi, khuyên tu thiện thì cảm hóa được mọi người. Cho nên, rừng Tiên là nơi thái tử xuất gia, dòng Ni-liên là chốnbồ-tát tu khổ hạnh. Ngài tắm gội thân vàng trong dòng sông thanh tịnh, đến ngồi tòa cỏ nơi Bô-đê đạo tràng, thức ăn nhờ cô gái phụng cúng, tòa cỏ được người hiền dâng. Thê mà trí Thập lực viên mãn, đây đủ sáu thần thông, thành đạo Chính giác, quân ma cuốn cờ bỏ chạy.
5.11.2. Lìa dục vọng
Kinh Nhân quả ghi: “Lúc bấy giờ, thái tử nghĩ:
- Ta đã mười chín tuổi, hôm nay là ngày mùng bảy tháng hai, đã đúng lúc Ta phải tìm cách xuất gia.
Nghĩ như thế, toàn thân thái tử phóng ánh sáng chiếu soi đến cung trời Tứ Thiên Vương và trời Tịnh Cư, nhưng người thế gian không thấy được ánh sáng đó. Các vị trời thấy ánh sáng, đều biết đã đến lúc thái tử xuất gia, liền xuống nhân gian, cúi đầu đỉnh lễ và chắp tay thưa thái tử:
- Ước nguyện tu tập của ngài từ vô lượng kiếp, hôm nay đã đúng lúc!
Thái tử nói với các vị trời:
- Các ngươi nói nay đã đúng lúc, nhưng phụ vương ra lệnh cho các quần thần trong ngoài canh giừ nghiêm ngặt, ta muốn đi cũng không được.
Các vị trời thưa:
- Chúng tôi tự sắp xếp mọi việc để Ngài ra đi mà không ai biết.
Nói xong, họ dừng thần lực, khiến cho các quần thần đều ngừ say.
Lúc đó, Da-du-đà-la trong lúc nằm ngủ, mộng thấy ba điều: mặt trăng rơi xuống đất, răng rụng, mất cánh tay phải.
Bà giật mình tỉnh giấc, trong lòng lo sợ, liền thuật lại với Thái tử.
Thái tử nói:
- Trăng vẫn ở trên trời, răng không bị rụng, tay vẫn còn đây. Nàng nên biết, các điềm mộng đều là giả dối chẳng thật, nàng không nên vọng sinh lo lắng.
Da-du-đà-la lại nói:
- Thiếp tự nghĩ, giấc mộng này là điềm báo thái tử sẽ xuất gia.
Thái tử lại nói:
- Nàng cứ an tâm ngủ đi, đừng nghĩ ngợi nhiều!_Da-du-đà-la nghe nói như thế thì liền ngủ”.
Kinh Phổ diệu ghi: “Đêm đó bồ-tát quan sát thân kĩ nữ rỗng không giống như cây chuối, chín lỗ bất tịnh, không một thứ gì đáng ưa. Đến lúc sao mai vừa mọc, thái tử bảo Xa-nặc chuẩn bị Kiền Trắc. Khi thái tử vừa nói lời này thì Tứ thiên vương và vô số dạ-xoa, rồng v.v... đều mặc áo giáp từ khắp nơi đến. Họ đỉnh lễ bồ-tát và nói:
- Tất cả nam nữ trong thành đều rất mệt mỏi, các chim khổng tước cũng mệt và ngủ say”.
Kinh Bàn khởi ghi: “Chư thiên đều nói:
- Thái tử hãy ra đi, mau tránh xa đống lửa lớn này! Chậm trễ e có trở ngại.
Thái tử suy nghĩ như thế, đến cuối đêm, vua trời Tịnh Cư và các vị trời ở cõi Dục hiện khắp hư không, nói:
- Thưa Thái tử! Quyến thuộc trong ngoài đều đã ngủ say, bấy giờ chính là lúc ngài xuất gia!
Thế là, thái tử liền đến chỗ Xa-nặc. Do thần lực của chư thiên, nên Xa-nặc tự thức dậy
Thái tử nói:
- Ngươi hãy dẫn ngựa Kiền Trắc đến đây cho ta!
Xa-nặc nghe thế, toàn thân run rẫy, trong lòng lưỡng lự; một là không muốn trái ý Thái tử, hai là sợ lệnh vua nghiêm ngặt. Suy nghĩ hồi lâu, ông rơi lệ nói:
- Đại vương ra nghiêm lệnh, lại đêm khuya thế này chẳng phải lúc đi dạo, cũng không phải lúc đi đánh dẹp kẻ địch, tại sao bỗng nhiên Thái tử bảo dắt ngựa đến. Ngài định đi đâu?
Thái tử lại nói:
- Nay ta vì tất cả chúng sinh và hàng phục giặc phiền não, ngươi không nên trái ý ta!
Nghe vậy, Xa-nặc cố khóc lớn tiếng, muốn cho Da-du-đà-la và hàng quyến thuộc biết Thái tử sẽ ra đi, nhưng do thần lực của trời, nên họ ngủ mê man, không hay biết.
Xa-nặc liền đi dẫn ngựa đến, thái tử từ từ đi ra. Ngài nói với Xa-nặc và Kiền Trắc:
- Tất cả sự ân ái, hội tụ cũng có lúc chia lìa, việc thế gian muốn thành tựu thì rất dễ, nhưng nhân duyên xuất gia rất khó thành.
Xa-nặc nghe rồi im lặng, Kiền Trắc cũng không kêu.
Thái tử thấy trời gần sáng, toàn thân phóng ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đồng thời cất giọng như tiếng sư tử rống:
- Pháp xuất gia của chư Phật đời quá khứ như thế nào, nay ta cũng sẽ làm như vậy!”
Lúc ấy, các vị trời nâng bốn chân ngựa và đỡ Xa-nặc bay đi, Thích-đề-hoàn-nhân cầm bảo cái bay theo che. Các vị trời khiến cửa thành phía bắc tự nhiên mở, không có tiếng động. Xa-nặc lại buồn thương nghĩ, cửa đang đóng mà ai mở đây. Lúc ấy các quỉ thần, a-tu-la tự mở ra. Thái tử từ cửa này ra đi, trên hư không các vị trời bay theo ca ngợi. Đến lúc trời sáng thì thái tử đi được ba do-tuần. Các vị trời theo thái tử đến nơi rồi thì bỗng nhiên biến mất. Thái tử đến chỗ tiên nhân Bạt-già tu khổ hạnh trong rừng. Đến nơi, ngài xuống ngựa, vỗ lưng nó và nói:
- Việc khó làm ngươi đã làm xong!
Lại quay qua nói với Xa-nặc:
- Ngươi là người duy nhất có thể theo ta. Thật hi hữu! Nay ta đã đến nơi yên tĩnh, ngươi có thể dẫn Kiền Trắc về cung!
Xa-nặc nghe thái tử nói vậy, than khóc thảm thiết, mê ngất ngã trên đất không thể tự kiềm chế. Kiền Trắc nghe bị đuổi về, liền quì xuống liếm chân thái tử, nước mắt chảy như mưa. Xa-nặc nói:
- Nay tôi đâu thể bỏ thái tử ở đây một mình được?
Thái tử bảo:
- Pháp thế gian, một mình sinh ra thì một mình chết đi, đâu có bạn, nay ta vì chấm dứt các khổ, cho nên đến đây. Lúc các khổ chấm dứt, Ta mới kết bạn với tất cả chúng sinh”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bấy giờ, Hộ thế Tứ thiên vương và Đế Thích biết đã đến lúc thái tử xuất gia, nên chuẩn bị đầy đủ các trang sức và thống lĩnh trăm nghìn vạn quyên thuộc đứng chật cả hư không, tất cả đồng trỗi âm nhạc từ bốn phương kéo đến, nhiễu quanh thành Ca-tì-la-vệ ba vòng, rồi chắp tay cúi mình hướng về thái tử. Lại thấy sao Quỉ hợp với mặt trăng.
Các vị trời cùng hô lớn:
- Đại Thánh thái tử, sao Quỉ đã hợp với mặt trăng. Đã đến lúc đi! Ngài muốn cầu thắng pháp thì không nên ở đây!
Thái tử nghe nói thế, quan sát các thể nữ, thấy toàn thân ô uế bất tịnh, ngủ mê man. Xa-nặc dùng tay giật tóc họ, lại dùng chân đạp, nhưng họ vẫn chẳng biết gì.
Khi thái tử ra khỏi thành cất giọng giống như sư tử rống:
- Ta thệ chứng được Chân như Bồ-đề, sau đó trở về giáo hóa mọi người!
Ở đó có một vị thần trú nơi cây Ni-câu-đà cao lớn nói kệ:
Nếu người muốn chặt các cây cối
Cần phải đào sạch hết gốc rể,
Các vật như vậy phải chặt đứt
Qua sông phải đến được bờ kia
Một lời nói ra không được dối
Đã gây oán xong, chớ vui mừng.
Thái tử đáp lại thụ thần:
Núi Tuyết kia còn có thể dời
Đại dương có thể sẽ cạn khô
Hư không có thể rơi xuống đất
Ta nay chân thật chẳng dối lời.
Thái tử lấy mũ báu trên đầu xuống trao cho Xa-nặc mang về báo với đại vương, rồi nói kệ:
Giả sử ở lâu cùng ân ái
Thời đến ắt cũng phải biệt li
Vô thường sẽ đến trong khoảnh khắc
Vì thế nay ta cầu xa lìa.
Xa-nặc nghe, liền dùng kệ đáp:
Dù cho tâm cứng như sắt đá
Nghe lời thệ nguyện cương quyết kia
Cũng không tránh khỏi lòng đau xót
Huống tôi yêu kỉnh sinh cùng ngày.
Thái tử liền nói kệ đáp:
Dù cho thân này với máu thịt
Cùng các chi phần gân, mạch, da
Tất cả suy hao, tiêu vong hết
Cho đến tính mạng chẳng bảo toàn,
Nếu ta chẳng trút gánh nặng này
Vượt qua các khổ, tới cội nguồn
Chưa ngồi đạo tràng, trọn giải thoát
Quyết không như thế gặp lại người.
Xa-nặc khóc lớn, thưa:
- Ngựa này tuy là loài súc sinh mà còn biết đau khổ rơi lệ, quì xuống liếm hai chân thái tử, huống chi quyến thuộc của Thánh tử sẽ khổ biết dường nào?
Thái tử lấy tay xoa đầu Kiền Trắc. Có bài kệ:
Tay phải mềm mại tướng võng la
Hình thiên bức luân chữ Vạn hiện
Sắc vàng, mềm mại tay thanh tịnh
Xoa đầu Kiền Trắc, ngựa quỉ yêu
Như hai người bạn cùng tâm sự
Kiền Trắc ngựa ngươi sinh cùng ngày
Chớ quá khóc thương, lòng áo não
Ngươi đã hoàn thành nhiệm vụ lớn
Chuyên chở thân ta đến nơi đây
Mai này chứng được cam lộ vị
Pháp mầu vi diệu ta giảng nói
Chân thành đáp tạ ân nghĩa ngươi.
5.11.3. Cạo tóc
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Khi ấy, thái tử đến bên Xa-nặc lấy cây dao bằng bảy báu, được trang sức các thứ ma-ni, dùng tay phải rút dao ra khỏi vỏ, tay trái nắm búi tóc xoắn ốc đen nhánh, đưa dao cắttóc, rồi ném lên hư không. Lúc đó, trời Đế Thích thấy việc hiếm có, mừng rỡ vô cùng, vội bắt lấy búi tóc thái tử không cho rơi xuông đất, rôi dùng thiên y bọc lấy. Bấy giờ, chư thiên dâng những thức ăn ngon cúng dường.
Chư thiên cõi Tịnh Cư ở cách thái tử không xa, hiện một tràng hoa Tu-mạn-na rơi xuống thế gian, hóa làm người thợ cắt tóc cầm dao cạo bén, đứng gần thái tử. Thái tử hỏi người thợ cắt tóc:
- Ngươi có thể cạo tóc cho ta không?
Thợ cắt tóc thưa:
- Tôi rất sẵn sàng!
Thế là người thợ cắt tóc dùng dao bén cạo búi tóc xoắn ốc đen nhánh của thái tử. Khi ông đang cạo tóc, vua trời Đế Thích cũng cho là việc hiếm có, nên không để một sợi tóc nào rơi xuống đất, mỗi mỗi dùng thiên y đựng lấy đem về cõi Tam Thập Tam để cúng dường. Từ đó đến nay, chư thiên đặt ra ngày lễ Cúng dường tóc bồ-tát
Đạo Tuyên luật sư cảm ứng kí ghi: “Chư thiên nói với luật sư:
- Như Lai mới thành đạo khoảng mười ba năm, lúc Ngài trú tại tinh xá Kì-hoàn, Đại Phạm thiên vương thỉnh Phật chuyển pháp luân. Bây giờ chư Phật trong trăm ức cõi nước mười phương đều vân tập, các bồ-tát, thanh văn, bát bộ rồng thần... trong tam thiên đại thiên thế giới cũng vân tập tại Kì-hoàn.
Lúc bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân bạch Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Con thấy Đại Phạm thiên vương thỉnh Phật chuyển pháp luân, nay con muốn tắm thân Phật, cúi xin Ngài cho phép!
Phật cho phép, Đế Thích liền làm một cung điện bằng bảy báu và chuẩn bị nước thơm ấm v.v... Sắp tắm, Phật bảo A-nan:
- Ồng lấy con dao cạo tóc bằng bảy báu và bồn tắm bằng kim cang tại ngôi tháp phía tây tòa kim cang nơi cội Bồ-đề đến đây, Ta muốn cạo tóc.
A-nan vâng lời, lấy mọi thứ đến cho Như Lai. Phật nhận dao cạo xong, bảo khắp đại chúng:
- Từ khi Ta thành Phật đến nay, chưa từng nói về nhân duyên của con dao này cho các ông biết. Nay các ông hãy lắng nghe! Lúc Ta mới ra khỏi thành, cách cung phụ vương khoảng sáu mươi dặm, Xa-nặc bảo hơi mệt xin Ta dừng lại nghỉ một lát. Ta nghe Xa-nặc nói thế, liền dừng lại nghi. Ở đó có ao của rồng lớn, chu vi khoảng bôn mươi dặm, trong ao có rất nhiều hoa sen năm màu, quanh bờ mọc đầy cỏ hoa đẹp lạ khiến mọi người ưa thích. Ta đến lấy nước trong ao đó rửa mặt, bỗng có hai vị thiếu niên đến chỗ Ta hỏi:
- Ngài muốn đến nơi đâu?
Ta đáp:
- Cầu đạo Bồ-đề!
Hai vị thiếu niên nói:
- Tôi là long vương ở ao này. Bộ sách Vi-đà chép rằng trong kiếp Hiền này có một nghìn vị Phật xuất thế, tôi đã làm thân rồng trải qua mười đại kiếp, thường thấy các đức Thế Tôn thành đạo và nhập niết-bàn. Đến lúc Đức Phật Câu-lưu-tôn nhập niết-hàn, tôi mang hộp kim cang màu vàng ròng này, trong đó có cây dao cạo. Từ Đức Phật thứ ba trong kiếp Hiền trờ về sau, dao cạo và hộp kim cang được lần lượt trao phó. Nay tôi muốn thỉnh tôn giả vào cung thiết trai cúng dường, xin tôn giả hứa khả!
Ta theo hai vị kia về cung nhận cúng dường, đồng thời họ mang dao bằng bảy báu dâng cho Ta và nói:
- Nay Ngài tu đạo sẽ có rất nhiều ma quấy nhiễu. Nếu lúc suy nghĩ, thường cầm cây dao này đặt trên đầu gối bên phải, nó sẽ phóng ánh sáng chiếu toàn thân Ngài, rồi biến cao nghìn vạn trượng. Ánh sáng ấy lại hiện thành một bức màn che quanh thân Ngài. Trên bức trướng có trăm nghìn vị lực sĩ cầm dao hộ vệ, ma thấy kinh hãi, không dám khởi tâm ác. Đến lúc Ngài thành đạo, khi muốn cạo tóc, tôi sẽ tự mang hộp kim cang đến.
Lúc Ta mới thành đạo, xuống sông tám gội, rồng kia mang hộp ấy đến bên Ta.
Phật bảo Phạm vương mang con dao này lên cung trời và bảo địa thân Kiên Lao xây đài kim cang từ mé kim cang lên cao bảy nghìn do-tuần để Như Lai ngồi.
Phật lại bảo long vương Sa-kiệt:
- Ông có thể hóa thân thành tám vạn bốn nghìn con rồng màu vàng, đầu làm bằng bảy báu, thân bằng vàng ròng, đến chân núi Tu-di lấy nước tám đặc tính đến rưới trên đỉnh đầu Thế Tôn!
Ngài lại bảo thiên ma gội tóc, bảo Thích-đề-hoàn-nhân cầm hộp kim cang đựng tóc Thế Tôn, bảo vua trời Hóa Lạc biến ra một cái lọng bằng bạc che trên đỉnh đầu Như Lai.
Lúc đó, Ta cầm dao bằng bảy báu. Chư Phật mười phương đều đến chỗ Ta, ngồi trên đài kim cang. Chư Phật mười phương dùng tay sắc vàng xoa trên đỉnh đầu Ta, Ta liền chứng được trăm nghìn Tam-muội.
Các chư Phật bảo Phạm thiên vương:
- Ông có thể lấy dao cạo tóc Thế Tôn!
Bấy giờ, Đại Phạm thiên vương cầm dao, sắp cạo thì không thấy đỉnh đầu của Như Lai, nhìn lên trời Hữu Đỉnh cũng không thấy.
Phật bào Phạm vương:
- Ta thấy chư Phật trong đời quá khứ đều tự cạo tóc, tất cả phàm thánh đều không thể thấy đinh đầu của Ta. Thế là Ta tự cạo sạch râu tóc, chỉ còn hai cọng râu mép cạo không đứt. Khi cạo xong, Ta xuống sông tắm gội, lúc ấỵ Phạm vương, Đế Thích, long vương... tranh nhau lây tóc cùa Ta.
Phật bảo đại chúng:
- Các ông có thể trao cho Phạm vương, Đế Thích, ma vương, rồng, vua Tịnh Phạn v.v... mỗi người một ít râu tóc.
Các Đức Phật mười phương lại bảo Ta:
- Phạm Thiên vương là đại đàn việt của ông, ông có thể hiện tướng đỉnh đầu cho Phạm vương cầm dao cạo lại râu tóc.
Ta nghe nói vậy, liền hiện tướng đỉnh đầu, rồi cầm dao này trao cho Phạm vương. Lúc ấy mặt đất chấn động sáu cách, cây dao phát ánh sáng chiếu rực trăm ức cõi Phật. Tuy Ta hiện tướng đỉnh đầu, nhưng cao lên đến trời Hữu Đỉnh cõi sắc. Phạm vương lên trời Hữu Đinh mới cạo được tóc của Ta. Sau cùng cạo hai sợi râu mép của Ta, hai sợi râu liền đứt và phóng ánh sáng chiếu xuống cõi Diêm-phù, hóa thành hai tháp báu cao đến trời Hữu Đỉnh, trang nghiêm rực rỡ. Từ khi Ta thành Phật đên nay, đây là ngôi tháp đầu tiên.
Các Đức Phật mười phương cùng lúc bảo Ta:
- Ông mang hai tháp râu mép này giao cho Phạm vương giữ gìn!
Ta lại sai địa thần Kiên Lao tạo một tháp bàng kim cang nhô để cất dao cạo và hộp vàng này.
Địa thần Kiên Lao thưa:
- Con thấy chư Phật quá khứ, lúc thành Chính giác, đầu tiên đều độ năm người, dùng dao báu này cạo tóc cho họ. Tuy dùng dao cạo, nhưng dao không đụng tóc, chỉ cần đọc: ‘Thiện lai!’ là râu tóc tự rụng. Nay Thế Tôn đã thành đạo, có thể cầm dao này đến vườn Nai độ năm người, như chư Phật thời quá khứ.
Ta đến vườn Nai, dùng dao này cạo tóc cho năm anh em Kiều-trần-như. Từ đó Ta đều nói ‘Thiện lai’ để độ đệ tử. về sau mới có pháp Yết-ma.
Phật bảo Tu-bồ-đề:
- Ông đến giới đàn, đốt lửa chiếu sáng, tập hợp trăm ức chư Phật và các Đức Phật phân thân của Ta tại giới đàn.
Tu-bồ-đề vâng lời Phật tập họp xong. Đức Như Lai cầm dao cạo từ giảng đường đi ra, A-nan bưng hộp vàng, đại chúng trời người đến giới đàn nhiễu quanh ba vòng, rồi từ hướng bắc bước lên giới đàn.
Phật bảo Đại Phạm thiên vương:
- Ông tìm cho Ta người thợ giỏi và sắt của cõi trời để làm con dao cạo.
Phật lại bảo địa thần Kiên Lao:
- Ông cho kim cang, Ta muốn làm một cái tháp nhỏ để đựng dao báu này.
Phật lại bảo long vưomg Sa-kiệt:
- Thợ rồng của ông rất tinh xảo, có thể làm cho Ta hộp đựng dao báu.
Các trời y theo lời này mà phụng cúng. Như Lai vận thần lực, trong chừng khoảng bữa ăn thì ba việc trên đều xong. Tổng cộng có tám vạn bốn nghìn con dao cạo, đều được đặt vào hộp báu, an trí trong tháp bằng kim cang. Phật lại bảo chư Phật mười phương cúng dường tháp dao. số tháp cúng dường đến tám mươi ức tòa. Đức Phật trao tất cả cho Văn-thù và Phổ Hiền, đồng thời dặn:
- Sau khi Ta nhập niết-bàn, các ông hãy mang những tháp này đến khắp tám mươi ức nước lớn trong tam thiên đại thiên thế giới, một nước đặt một tháp. Người cõi Diêm-phù-đề có đủ tám vạn bốn nghìn trần lao, đều mong giải thoát, tháp này sẽ giúp họ được xuất gia, vượt khỏi sinh tử, làm lợi ích không thể kể hết.
Phật bảo Văn-thù:
- Trải qua một năm, ông mang tháp dao của Ta đến an trí tại hang Kim Cang ở núi Thanh Lương, nước Chấn-đán.
Phật lại bảo A-nan:
- Ông đến cung phụ vương lấy tóc của Ta giao cho Đế Thích.
A-nan vâng lời Phật, lấy về giao cho Đế Thích.
Phật bảo Đế Thích:
- Ông muốn tạo bao nhiêu tháp thờ tóc của Ta?
Đế Thích bạch Phật:
- Tùy theo số tóc của Như Lai, một búi tóc là xây một tháp.
Phật bảo Long vương:
- Ông làm một cái bình bằng mã não và chiếc hộp bằng vàng ròng rồi trao cho Đế Thích đựng búi tóc.
Bấy giờ, Đế Thích sai thợ giỏi ở cõi trời làm, trải qua hai mươi mốt ngày mới xong. Nhưng do thần lực của đức Như Lai, nên mọi người thấy như trong khoảng bữa ăn đã hoàn thành hai mươi sáu vạn tháp tóc.
Phật bảo Đế Thích:
- Ông để lại cõi trời ba trăm tháp cho chư thiên giữ gìn; còn các tháp khác, sau khi Ta nhập niết-bàn, ông mang bốn vạn tám nghìn tháp giao cho Văn-thù-sư-lợi phân bố làm lợi ích tại các nước có giáo pháp Ta lưu truyền ở cõi Diêm-phù-đề.
Phật lại bảo A-nan:
- Tất cả có sáu mươi bốn cọng râu mép, hai cọng đã cho Phạm vương, còn bao nhiêu ông đến chỗ phụ vương mang về đây, Ta muốn xây tháp cúng dường.
A-nan vâng lời, đến lấy cho Thế Tôn.
Phật bảo các vị La -sát:
- Ta cho các ngươi hai cọng râu hãy làm hộp bảy báu và tạo một cái tháp băng đựng râu mép cúng dường. Vì râu mép này có Oai lực khiến cho các ngươi được thức ăn.
La-sát bạch Phật:
- Nhờ ân của Phật cho râu mép và bảo tạo tháp báu, nhưng chưa biết tháp cao khoảng bao nhiêu?
Phật bảo La-sát:
- Các ngươi có thể làm cao bốn mươi do-tuần.
Còn sáu mươi cọng rầu mép cũng theo đó mà xây tháp và tạo hộp, có thể cao khoảng ba trượng. Các vị la-sát v.v... y theo lời Phật dạy, cùng hoan hỷ tạo tháp cúng dường.
Phật lại bảo các vị la-sát:
- Các ngươi giữ gìn thật kĩ, chớ để ngoại đạo, kẻ ác, ma quỉ, rồng độc phá hoại tháp của Ta, các tháp này là mạng sống của các ngươi. Vì các ngươi giữ tháp, nên luôn đầy đủ thức ăn uống. Các tháp này, một năm phóng ánh sáng ba lần chiếu đến thân các ngươi, nhờ oai lực ánh sáng này, nên trời thường mưa lúa gạo, đường phèn, rau trái và những thứ cần dùng. Nếu khởi tâm ác thì ánh sáng sẽ tắt và thức ăn uống tự biến mất. Nếu các ngươi thấy hiện tượng xấu này, nên thống lãnh các la-sát ấy đến tháp ănnăn sám hối. Lúc ấy tháp lại phóng ánh sáng và đầy đủ thức ăn uống.
Lúc nhập niết-bàn, Thế Tôn đã trao sáu mươi tháp râu mép này cho bồ-tát Vô Ngôn giữ gìn, không để ác vương phá hoại. Sáu mươi nước lớn trong cõi Diêm-phù-đề, những nơi có văn tự, một nước an trí một tháp, bảo địa thần Kiên Lao làm tháp bằng kim cang cao khoảng ba trượng để đựng hộp râu mép. Trước đó chọn những danh sơn trong sáu mươi nước ấy, đục đá tạo thành khảm, đặt tháp vào rồi bít kín, không để các vua ác đời sau mở”.
5.11.4. Y phục
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Thái tử vừa cạo tóc xong, trời Tịnh Cư liền hóa thành người thợ săn đắp ca-sa hoại sắc, tay cầm cung tên đi đến.
Thái tử thấy vậy, liền nói:
- Ông có thể cho tôi áo ca-sa hoại sắc này chăng? Nếu ông cho, ta sẽ trao ông áo lụa ca-thi-ca giá trị trăm nghìn ức tiền vàng, lại được xông ướp bằng các thứ hương chiên-đàn. Thái tử nói kệ:
Đây là áo thánh nhân giải thoát
Người cầm cung tên mặc không hợp
Vui lòng cho ta áo ca-sa
Đừng tiếc ca-sa đổi thiên y.
Thợ săn nói với Bồ-tát:
- Quí thay! Tôi thật không tiếc!
Khi ấy, trời Tịnh Cư cởi ca-sa trao cho bồ-tát và đổi lấy áo lụa ca-thi-ca quí hiếm, rồi bay lên hư không, trong khoảnh khắc về tới cõi Phạm thiên cúng dường diệu y của bồ-tát. Bồ-tát thấy thế rất hoan hỉ.
Bồ-tát cạo tóc, đắp ca-sa, hình thể thay đổi, dung nghi nghiêm chỉnh, rồi phát lời thệ rộng lớn: “Hôm nay ta mới đúng là chân thật xuất gia!’”.
5.11.5. Bảo Xa-nặc trở về
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Lúc đó Xa-nặc và Kiền Trắc rơi lệ từ biệt thái tử, Xa-nặc nói kệ:
Bồ-tát ra đi đúng nửa đêm
Xa-nặc giã từ dắt Kiền Trắc
Bởi khổ bức bách mất uy nghi
Trải tám ngày đường mới đến cung.
Về đến thành, thấy cảnh vật im vắng, hai dòng lệ Xa-nặc chảy dài. Xa-nặc và Kiền Trắc đến cửa cung, muốn vào xem chỗ thái tử ngủ, nhưng không thấy thái tử, nên khóc lóc nước mắt đầm đìa.
Tất cả quyến thuộc, nhân dân trong thành chi thấy Xa-nặc và Kiền Trắc trở về cung, họ huơ tay khóc gào thảm thiết, nước mát đầm đìa mà nói kệ:
Tất cá thể nữ quá đau buồn
Trông mong thái từ trở về cung
Chỉ thấy Xa-nặc và Kiền Trắc
Nên oà lên khóc lệ đầm đìa
Cởi bỏ chuỗi ngọc, y phục đẹp
Đầu tóc rối bù, thân tiều tụy
Giơ cả hai tay lòng vô vọng
Khóc than không ngủ suốt năm canh.
Bấy giờ, quyến thuộc trong cung đau buồn sầu thảm. Da-du-đà-la nói với Xa-nặc:
- Ta là người nữ không chồng, thấy thái tử quyết chí bỏ nhà vào chốn núi rừng, khiến ta cô độc ở trong căn phòng vắng, làm sao lòng ta không tan nát được!
Bà liền nói kệ:
Thân tâm thiếp đây thật cang cường
Như sắt như vàng chẳng đổi thay
Chàng bỏ vào rừng, cung trống vắng
Làm sao tim thiếp chẳng vỡ tan?
Vua Tịnh Phạn vì nhớ thái tử, đau khổ bức bách thân thể, bất tỉnh ngã trên đất. Có bài kệ:
Vua nghe bồ-tát thệ nguyện sâu
Vừa thấy Xa-nặc, Kiền Trắc về
Bỗng nhiên bất tỉnh ngã trên đất
Như cờ Đế Thích chợt gãy lìa.
Một lát sau, vua tỉnh dậy và nói kệ:
Kiền Trắc ngươi hãy đi nhanh lên!
Đưa ta đến đó rồi trở về
Không có con ta, đâu thể sống
Như người bệnh nặng chẳng thuốc thang"
Kinh Phổ diệu ghi: “Khi bồ-tát vừa ra khỏi cửa thành, tất cả mọi người trong nước Ca-tì-la-vệ đều biết; họ cùng nhau bàn luận, lòng rất vui mừng. Sáng hôm sau, Cù-di thức dậy, từ xa nghe mọi người nói, biết thái tử đã đi. Nghe có tiếng nói lớn, vua Tịnh Phạn tìm kiếm không thấy bồ-tát, Xa-nặc và Kiền Trắc, nên tâm thần mê muội, té ngã trên đất và than trách:
- Thái tử đã vĩnh viễn xa lìa, ta biết nương cậy vào đâu?
Cù-di từ trên giường lăn xuống đất, vò đầu bứt tóc, cởi tất cả chuỗi báu trên thân ra và than:
- Sao đau khổ thế này! Thái tử là bậc đạo sư của ta, nương tựa vững như đất trời, mà lại bỏ ra đi. Ta sống làm gì nữa? Ân ái chưa bao lâu, lại phải chia lìa!
Bà khóc than nước mắt đầm đìa, không thể kiềm chế. Không thấy bồ-tát, mọi người đều đau buồn, tất cả cây cối trong nước đều héo tàn, không còn hoa và trái, những chỗ đất sạch bỗng trở nên dơ uế.
Vua nghe được việc này, vội cùng quần thần và quyến thuộc đến khu vườn, không thấy bồ-tát, tất cà vô cùng sầu khô. Cù-di mong bô-tát trở về. Xa-nặc nói:
- Bồ-tát bảo thưa vua và Cù-di, đến lúc chứng Phật đạo ngài mới trở về gặp hai người.
Vua nhìn Xa-nặc mang áo báu và dẫn Kiền Trắc trở về mà không thấy thái tử, liền ngã quị trên đất và than: ‘Ôi! Con ta thông minh, hiểu tất cả các kinh điển và các dị thuật thế gian. Nay đã bỏ đất nước và muôn dân!’. Vua lại hỏi Xa-nặc:
- Bồ-tát đi đâu, ai mở cửa, trời người cúng dường như thế nào?
Xa-nặc tâu:
- Con đang ngủ thì cửa thành đã mở, bồ-tát bảo con dẫn ngựa, muôn dân trong thành đều ngủ say không hay biết. Lúc ấy Đế Thích mở cửa, Tứ thiên vương bảo bốn vị thần nhấc bốn chân ngựa bay đi, trăm nghìn vị trời, Đế Thích, Phạm vương dọn dẹp đường sá sạch đẹp, chiếu ánh sáng rực rỡ, rải hoa, đốt hương, trỗi các nhạc trời. Bồ-tát lướt trên hư không, chư thiên vây quanh đưa thái tử đi. Đến một nơi xa vắng, thái tử cởi y báu, chuỗi ngọc và dẫn Kiền Trắc trao cho con, bảo mang về tâu vua và tạ lỗi với vương phi. Đến lúc thành Phật, ngài mới trở về thăm, mọi người chớ lo buôn!
Cù-di nghe Xa-nặc nói thế, càng thêm đau buồn, vuốt đầu Kiền Trắc và ai thán: ‘Thái tử cưỡi ngươi, sao ngươi bỏ về một mình? Thái tử dung mạo đẹp lạ như vâng trăng tròn, tướng quí trang nghiêm, lại bỏ đi một mình, mọi người gần xa đều đau buồn thương xót. Tại sao thái tử đi một mình, không cho ai theo? Xa-nặc! Ngươi vô cớ móc hai mắt ta rồi!’.
Xa-nặc thấy vua và Cù-di nói khổ sở quá, càng buồn bã hơn, khóc lóc nước mắt đâm đìa và trình bày những lời của mình can ngăn thái tử trước đó. Xa-nặc lại thưa: ‘Thái tử vì đạo pháp, xin vua và vương phi chớ quá đau buồn!’”.
5.11.6. Vua Tịnh Phạn ngăn cản thái tử xuất gia
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Vua Tịnh Phạn sai hai người vào núi khuyên thái tử trở về, họ nói kệ:
Đầu gai sắc nhọn do ai mài
Chìm muông sặc sỡ ai vẽ nên
Tùy theo nghiệp lực mà chuyển biến
Thế gian không có người tạo tác.
Bấy giờ, thái tử sai người về khuyên vua phải tin sâu nhân quả”.
Kinh Phổ diệu ghi: “Phụ vương nghe thái tử muốn xuất gia, đau xót khóc lóc, nước mắt đầm đìa mà hỏi:
- Con có chí nguyện gỉ? Lúc nào con trở về? Hãy thề với ta! Ta đã già, quốc gia không có người nối nghiệp.
Thái tử nói:
- Muốn con không xuất gia, phụ vương phải đáp ứng được bốn điều kiện sau:
1. Không già.
2. Suốt đời không bệnh.
3. Không chết.
4. Không chia lìa.
Dù thần tiên chứng ngũ thông trụ được một kiếp, nhưng cũng không tránh khỏi cái chết.
Vua nghe xong, càng thêm đau buồn. Bốn nguyện vọng này xưa nay không người nào làm được. Ai có thể chấm dứt được những điều này?”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Vua Thâu-đầu-đàn bảo các người họ Thích:
- Nếu các ngươi biết lẽ, thì mỗi nhà đều phải có người xuất gia. Nếu trong nhà có năm anh em thì ba người xuất gia, hai người ở nhà. Nếu trong nhà có bốn người thì hai người xuất gia, hai người ở nhà. Nếu trong nhà có ba người thì hai người xuất gia, một người ở nhà. Nếu nhà có hai người thì một người xuất gia, một người ở nhà. Nếu trong nhà chỉ có một người thì không được xuất gia, vì sao? Vì không được đoạn diệt dòng họ Thích”.
5.11.7. Tóc Phật
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Trên đầu của Như Lai có tám vạn bốn nghìn sợi tóc, mỗi sợi đều rất đẹp, phân biệt rõ ràng, bổn mặt phân minh; mỗi một lỗ chân tóc phát ra ánh sáng năm màu nhập vào ánh sáng bốn mươi màu trước. Ngày xưa, lúc còn ở trong cung, một hôm nhũ mẫu đang gội đầu cho Ta, thì Đại Ái Đạo đến. Bà thầm nghĩ: ‘Lúc Tất-đạt-đa sinh có nhiều việc kì lạ, nếu có người hỏi tóc thái tử dài bao nhiêu, ta sẽ đáp thế nào? Nay ta phải đo thử’. Bà liền bảo nhũ mẫu duỗi tóc Ta ra, rồi lấy thước đo. Lúc đó tóc Ta dài một trượng ba thước năm tấc, đều xoay về bên phải, xoắn thành hình xoắn ốc. Khi sắp nạp phi, đo lại cũng dài một trượng ba thước năm tâc. Lúc Ta xuât gia, thiên thân nâng lên cũng dài một trượng ba thước năm tấc. Nay phụ vương thấy tóc của Như Lai, liền dùng tay duỗi ra thì dài từ tinh xá Ni-câu-lâu-đà đến cung phụ vương, màu như lưu li tía xanh, quấn quanh thành bảy vòng. Mọi người đều thấy tóc của Phật có ánh sáng nghìn màu, không thể diễn tả hết. Tóc Phật đều xoắn về bên phải, trên đỉnh đầu có búi tóc xoắn ốc”.
Luật Tăng-kì ghi: “Lúc Phật còn tại thế, bốn tháng Ngài cạo tóc một lần”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Tuy Phật bốn tháng cạo tóc một lần, nhưng tóc Ngài chỉ dài bằng tóc tăng chúng vừa cạo bảy ngày”.
Kinh Văn-thù-sư-lợi vấn ghi: “Tóc chúng tăng, khi dài bàng hai lóng tay là phải cạo. Nếu đã hai tháng tóc vẫn ngắn mà cạo là bồ-tát không tu học; nếu dài quá hai lóng tay mà không cạo là bồ-tát không tu học. Móng tay không được để dài, chì bằng hạt lúa nằm ngang để gãi chồ ngứa”.
Luật Tứ phần ghi: “Phật dạy:
- Cho các tì-kheo cắt móng tay, dài tối đa là bằng một hạt lúa là phải cắt. Nửa tháng cạo tóc một lần, dài tối đa bằng hai lóng tay, hoặc hai tháng cạo một lần”.
(Thang ở đây là có trăng và không trăng, mọi tháng chỉ có mười lăm ngày, tức ba mươi ngày là hai tháng)
Kinh Tì-ni-mẫu ghi: “Phật bảo đại chúng:
- Tóc này không thể dùng y bát cũ đựng, phải dùng các vật mới.
Lúc ấy có con của vua Cù-ba-la theo Thế Tôn xin tóc. Ngài bảo:
- Ngươi nên dùng bát bằng bảy báu để đựng tóc mà cúng dường”.
Luật Tứ phần ghi: “Bấy giờ A-nan cầm bát cũ đựng tóc Thế Tôn. Ngài bảo:
- Không nên dùng bát cũ đựng tóc Như Lai, nên dùng bát và y lụa mới mà đựng.
Lúc ấy có vương tử Cù-ba-li dẫn quân lính, muốn đi khắp nơi chinh phạt, ông đến xin tóc Thế Tôn. Ngài cho. Ồng bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tóc này không biết để ở đâu?
Phật dạy:
- Ông đề trong tháp bằng vàng, bạc, bày báu, hoặc trong y bằng tơ lụa.
Ỏng bạch Phật:
- Không biết cất giữ thế nào?
Phật dạy:
- Ông để trên đầu xe ngựa, voi, hoặc mang trên vai. Vươmg tử mang tóc Thế Tôn đi chinh phạt, đại thắng trở về nước, xây tháp thờ tóc Thế Tôn. Ngài cũng cho phép các tì-kheo giữ tóc Thế Tôn và cách an trí để đi cũng giống như trước.
Có người thưa Thế Tôn:
- Người kia đại tiểu tiện mà không rửa sạch nơi ấy lại giữ tháp tóc Phật!
Phật dạy:
- Không được! Nên rửa cho thật sạch sẽ rồi mới được mang giữ tháp tóc.
- Có người đặt tháp Như Lai trong phòng xấu, còn mình ở phòng tốt.
Phật dạy:
- Không được! Nên an trí tháp Như Lai trong căn phòng tốt, còn mình thì ở phòng xấu hơn.
- Có người an trí tháp Như Lai ở phòng thấp, còn mình ngủ phòng trên.
Phật dạy:
- Không được! Nên an trí tháp Như Lai ở phòng trên, còn mình ngủ phòng dưới.
- Có người để tháp Như Lai chung trong phòng minh ngủ.
Phật dạy:
- Không được! Người kia vì giữ gìn tháp vững chắc, nên lo lắng không dám ngủ. Phật cho phép an trí tháp tóc trên cành cây, hoặc đặt một bên đầu lúc ngủ. Nếu vì giữ tháp thì cho phép ngủ trong tháp. Nêu vì giữ kĩ đồ vật, nên cho đặt vật trong tháp và cũng cho ngủ trong đó.
- Có người mang và xách giày vào trong tháp.
Phật dạy:
- Không được! Cho phép ngồi ăn dưới tháp, nhưng không được làm dơ tháp. Nếu có các vật bất tịnh, phải nhóm qua một bên, ăn xong mang đi bỏ.
Hỏi: Có người đi chinh phạt, tuy không có tóc Phật để mang theo, nhưng với tâm tốt tạo một pho tượng nhỏ, hoặc xá-lợi hay quyển kinh nhỏ mang theo và đặt vào búi tóc được không?
Đáp: Thánh giáo không có ghi điều này, nhưng nếu có tâm tốt muốn mang kinh tượng và xá-lợi theo, cũng cho phép y theo cách trên, nếu tạo tháp nhỏ để an trí thì càng tốt. Nhung nghèo không có tiền làm, cũng cho phép gói trong tơ lụa sạch an trí trên đầu xe ngựa, voi để mang đi. Khi đến nơi hoặc mang trên vai hay mang trên cành cây. Nếu để tháp nhò trong búi tóc, sợ tóc dơ uế, xông lên mùi hôi bất tịnh: hoặc khi hành quân trên đường, đại tiểu tiện gấp không kịp tháo tháp xuống Như trước đã nói, tóc Phật không cho để chỗ đại tiểu tiện ô uế. Việc an trí kinh tượng cũng giông như vậy.
5.11.8. Thời gian xuất gia|
Kinh Thập nhị du, Tăng nhất A-hàm, Trường A-hàm v.v... đều ghi: “Thái tử xuất gia hai mươi chín tuổi”. Tăng nhất A-hàm ghi: “Hai mươi tuổi học pháp ngoại đạo”. Nay suy ra thì đa số cho rằng Như Lai trụ thế bảy mươi chín năm. Nếu hai mươi chín tuổi mới xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành đạo thì giáo hóa chúng sinh được bốn mươi lăm năm. Nhưng kinh Thiền yếu ghi: “Đức Phật Thích-ca một đời giáo hóa chúng sinh được ba mươi chín năm”. Các kinh phần nhiều đều nói Ngài xuất gia năm mười chín tuổi là đúng. Kinh Vị tang hữu ghi: “Da-du-đà-la nói: ‘Thái tử cưới ta chưa được ba năm’”.
Kinh Thụy ứng nói thái tử cưới vợ năm mười bảy tuổi thì chứng minh năm mười chín tuổi xuất gia là đúng. Rất ít kinh nói thái tử hai mươi chín tuổi xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành đạo. Hơn nữa nếu nói thái tử học pháp ngoại đạo hai mươi năm, vậy đến năm mươi tuổi mới thành đạo sao? Đủ biết điều này sai. Bởi vì sự hiểu biết của chúng sinh không đồng, nên thấy cũng khác nhau.
5.11.9. Hội thông
* Lòi bàn
Cho rằng, trải qua nhiều triều đại lâu xa, âm giọng của mỗi miền có sai biệt, lại thêm người dịch không đồng, nghe nói sai lạc. Tuy muôn dung thông, nhưng hoàn toàn không có tiêu chuẩn nhất định. Sách vở trong một đời của các bậc hiền truyền nối nhau mà văn tự còn sai lạc, huống gì trong và ngoài nước. Kinh sách thì nhiều vô số, nên việc truy cầu thật khó được vẹn toàn. Lại như Hoàng Đế ba mặt, Lạc Thần một chân, ngôn ngữ thì không phân Phạn-Hán, nhưng sự việc lại có Sở-Việt; huống gì tà nghiệp dễ tiếp thu, chính pháp khó thông hiểu. Tiếng thì có trung quốc và biên địa, lại hoán đổi chữ viết, nếu được thẩm định, há không có sai biệt sao?
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/10/2015
PUCL QUYỂN 9 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 9 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.5. XUẤT THAI 5.5.1. Lời đẫn Kính nghĩ! Đức Phật Định Quang thụ kí vào đời tương lai có Phật hiệu là Năng Nhân. Thầm hợp lời huyền kí, nên bồ-tát...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 8 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 8 Quyển này cỏ một chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT 5.1. THẤT PHẬT 5.1.1. Lời dẫn Từng nghe: Chín cõi chẳng đồng, bốn loài sai khác, việc ác dễ nhiễm, nghiệp tuệ khó thành. Chúng sinh từ lâu trôi nổi nơi sôn...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 7 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực....
29/10/2015
PUCL QUYỂN 6 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 6 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.4. QUỈ THẦN 4.4.1. Lời dẫn Tính của quỉ thần chỉ thích việc yêu tà, ở chốn tối tăm mang nhiều tội lỗi. Có loài ở vách núi thẳm, hoặc có loài nương nơi...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 5 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO
QUYỂN 5 Quyển này có một chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO 4.1. CÕI TRỜI 4.1.1. Lòi dẫn Luận về phúc báo cõi trời, thì nào là sự thấy biết đầy đủ cao xa, y phục trang sức rực rỡ, thân hình xinh đẹp nhẹ nhàng. Nhưng trên...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 4 - CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ
QUYỂN 4 Quyển này có một chương Nhật nguyệt tinh tú. 3. CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ 3.1. LỜI DẪN Trước khi thế giới hình thành, Nhị nghi còn mờ mịt; sau khi chúng sinh trữ lương thực, tam quang mới rực sáng. Do đó cảm đến...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)
QUYỂN 3 Quyển này tiếp theo chương Tam giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt) 2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu,...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI
QUYỂN 2 Quyển này có một chương giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI 2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân,...
