Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI

19/10/2015

QUYỂN 2 Quyển này có một chương giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI 2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân,...

PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI
Phần 1

QUYỂN 2
Quyển này có một chương giới.
2. CHƯƠNG TAM GIỚI

2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân, biết chẳng ngoài sắc tâm; xét đến kết cục, rõ đều trờ về sinh diệt. Sinh diệt luân hồi chính là vô thường, sắc tâm như huyễn vốn là gốc khổ. Cho nên kinh Niểt-bàn gọi thế gian là dòng sông lớn, giáo Pháp hoa dụ ba cõi như nhà lửa. Thánh nhân khai ngộ, khiến chúng sinh thôi rong ruỗi để trở về cội nguồn, vượt ra ba cõi mà dần dần bước lên vị Thập địa. Xét về hình thể thế giới, là do bốn đại tạo thành, nghiệp và duyên hòa hợp đúng thời hưng khởi. Nhưng trải qua mấy tai kiếp, thế giới lại trở về chồ diệt tận. Đó gọi là đoản thọ mà cho là trường thọ, trường thọ lại thấy là đoản thọ.
Hư không vô hạn nên lượng thật vô biên, thế giới vô cùng nên hình trạng cũng vô số kể. Trong đó, đại thiên giới do Pháp vương thống lãnh, tiểu thiên giới do Phạm vương đứng đầu. Núi Tu-di lả nơi ở của Đế Thích, có Thiết Vi làm tường thành vây quanh, có biển lớn tưới ướt tám phương, nhật nguyệt soi sáng bốn phía. Quần sinh nhung nhúc lạy đây làm nhà, hàm thức nhỏ bé đều lâm thống khổ. Nhìn từ phương diện tục mê, thì đây là lời viển vông hoang đản, nhưng xét từ nghĩa lí của đạo lớn, thi việc này rất gần, như trong lòng bàn tay. Chỉ vì người đời xem trọng Chu Khổng, nể phục kinh thư, nhưng bàn về vũ trụ thi chỉ ức đoán, không rõ ràng. Kinh Dịch gọi Huyền thiên, vì lấy theo nghĩa sâu kín; Trang nói là Thương thiên, lấy theo màu sắc nhìn từ xa. Thế là người thường tin vào chỗ thấy mà cho trời xanh như ngọc bích, nho sĩ căn cứ vào kinh sách mà nói đất đen như sơn. Xanh và đen thật sai biệt, mà củng nghĩ không đúng về thể cùa vũ trụ. Nho sĩ và thứ dân tuy khác, nhưng cùng đồng là những kẻ không nhận biết về đất trời. Cho nên chúng sinh chỉ trọng danh từ Thiên mà không hiểu được sự thật. Họ đâu biết cảnh tráng lệ của trời Lục Dục, ánh sáng rực rở của Thập Phạm thiên'*. Than ôi! Việc trước mắt trong thế giới này mà còn không biết, thì diệu nghĩa không thể nghĩ bàn, chắc chán cũng như vậy thôi!
Trộm nghĩ: kinh điển Phương đẳng nói nhiều vê lí “không” sâu xa, còn A-hàm, Lâu thán thì nói rỗ về thế giới. Nhưng văn thì quá rộng, kệ tụng lại dài, thật khó cứu xét, vì thế ở đây lược dẫn, chỉ nêu lên những ý chính. 2.1.2. Giải thích tên gọi Kinh Trường A-hàm, kinh Khởi thế... ghi: “Trung tâm của bốn châu là Tu-di. Chân núi Tu-di có biển sâu tám vạn bốn nghìn do-tuần, kế đó có tám núi tám biển lớn vây quanh, cứ mỗi lớp núi thi đến một lớp biển. Lớp biển thứ nhất rộng tám nghìn đo-tuần, chứa nước có tám đặc tính: ngọt, mát, dịu, nhẹ, trong sạch, không hôi, uống vào không rát cổ, uống vào không đau bụng. Theo thứ tự nhỏ dần, cho đến ngoài lớp núi thứ bảy là biển rộng một nghìn hai trăm năm mươi do-tuần. Bên ngoài biên này là một biển nước mặn rộng vô bờ. Bên ngoài biển nước mặn lại có núi Thiết Vi vây quanh, với một mặt trời, một mặt trăng ngày đêm xoay chuyển chiếu sáng bốn thiên hạ. Như thế là một thế giới, một nghìn Thiết Vi như thế là một tiểu thiên, lại thêm một nghìn Thiết Vi nữa là một trung thiên, thêm một nghìn Thiết Vi nữa là đại thiên thê giới. Tính ra, trong đại thiên thế giới có vạn ức bốn châu, vạn ức Tu-di, vạn ức mặt trời, vạn ức mặt trăng, cho đên vạn ức trời Hữu Đỉnh. Đại thiên này hễ thành thì cùng thành, hoại thì đồng hoại, là còi giáo hóa của một vị Hóa Phật, cũng gọi là Tam thiên đại thiên thế giòi ta-bà thế giới. Ta-bà là âm tiếng Phạn, chính am là Sách-ha, Trung Ọuốc dịch là Nhẫn giới, vì chúng sinh cõi này tính tình cứng cỏi, không an nhẫn trước mọi việc, nên gọi là Nhẫn. Kinh Tự thệ gọi đó là thế giới Sa-ha, Đức Phật giáo chủ cõi này là Năng Nhân. Nếu dùng riêng để ước định chung thì gọi là Tam giới, đó là Dục giới, sác giới,Vô sắc giới. Dục giới có bốn loại dục là tình dục, sắc dục, thực dục và dâm dục; sắc giới có tình dục và sắc dục; Vô sắc giới chi có tình dục. Cõi thứ nhất, do tâm ưa dục mạnh, tâm ưa sác yếu, nên gọi là Dục giới; cõi thứ hai do tâm ưa sắc mạnh, tâm dục yếu, nên gọi là sắc giới; cõi thứ ba không có sắc và tâm dục cũng yếu kém, nên gọi là Vô sắc.
Phần 2

2.1.3. Lượng của đại địa
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Do vô lượng nhân duyên mà hình thành Tam thiên đại thiên thế giới”. Vả lại đại địa nương vào thủy luân, thủy luân nương vào phong luân, phong luân nương nơi không luân, không luân không nương vào đâu cả. Nhưng do nghiệp cảm của chúng sinh mà thế giới vẫn an định. Cho nên luận Trí độ ghi: “Tam thiên đại thiên thê giới lấy phong luân làm nên móng”.
Bản tân dịch kinh Bồ-tát tạng ghi: “Các Đúc Phật Như Lai thành tựu trí Bất tư nghị, biết được tướng trạng của gió mưa. Ngài biết the gian có ngọn gió Ô-lô-bác-ca, cho đến biết tất cả những cảm giác và cảm thụ của chúng sinh. Do gió này dao động, nên phong luân này cao ba câu-lô-xá. Lại trong hư không phía trên luồng gió này có nổi lên ngọn gió Vân phong luân cao năm câu-lô-xá. Lại trong hư không phía trên phong luân này có nổi lên ngọn gió Chiêm-bạc-ca cao mười du-thiện-na. Phía trên lại có ngọn gió Phệ-tố-phạ-ca cao ba mươi du-thiện-na. Phía trên nữa lại có ngọn gió Khứ Lai cao bốn mươi du-thiện-na. Cứ lần lượt như vậy, có đến sáu vạn tám nghìn câu-chi phong luân, Như Lai ứng Chính Đẳng Giác nương vào đại tuệ mà biết tất cả.
Này Xá-lợi-phất! Lớp phong luân trên cùng tên là Châu Biến, là chỗ nương cho lớp thủy luân phía trên. Lớp thủy luân này cao sáu mươi tám trăm nghìn du-thiện-na, là chỗ nương tựa cho đại địa phía trên. Lớp đại địa này dày sáu mươi tám nghìn du-thiện-na, bề mặt của đại địa này có một tam thiên đại thiên thế giới”.
Kinh Lâu thán ghi: “Lớp đại địa này sâu hai mươi ức vạn dặm, bên dưới theo thứ tự có lớp vị ngon của đất dày hai mươi ức vạn dặm, đến lớp kim túc sâu hai mươi vạn dặm, lớp thép cứng sâu hai mươi vạn dặm, lớp nước tám mươi ức vạn dặm, đên lớp gió vô cực sâu năm trăm hai ức vạn dặm. Tuy có sáu lớp, nhưng bốn lớp đầu thuộc địa luân, lớp thứ năm thuộc thủy luân, lớp thứ sáu là phong luân”.
Kinh Kim quang minh ghi: “Tầng đại địa này sâu mười sáu vạn tám nghìn do-tuần, bên dưới co tầng kim sa {kim sa chính là kim túc) rồi đến đất kim cang”.
Giải thích: Lớp phong luân cứng chắc, không thể phá hoại, một người có sức Đại lạc-ca dùng chày kim cang đánh vào, chày nát mà phong luân vẫn không suy tổn. Sức Đại lạc-na chính là sức Na-la-diên của đệ tứ Phạm vương, cũng là sức của thân Phật, cũng gọi là na-la-diên phong luân. Trên phong luân có thủy luân. Theo kinh Lập thế, thủy luân sâu một trăm mười ba vạn do-tuần, kém hơn phong luân ba mươi tám vạn do-tuần. Vì nghiệp lực của chúng sinh mà thủy luân không lưu tán, như thức ăn chua tiêu thì không rơi vào ruột già. Lại như kho chứa lúa gạo, được trong ngoài giữ gìn không để rơi rớt. Thủy luân cũng vậy, bên ngoài được phong luân giữ không để tan mất. Như ở đời người ta khuấy lạc thành tô, do sức gió này thuận xoay chuyển khiến nước dần dần đặc lại và trở thành vàng. Nước vốn sâu một trăm mười ba vạn do-tuần, thì bây giờ chi còn tám mươi vạn do-tuần, ba mươi ba vạn do-tuần biến thành đất vàng. Kim địa luân này từ ít dần dần biến thành nhiều, đến mười hai lạc-sa, một lạc-sa bằng mười vạn do-tuần. Địa luân này ngang dọc đều như nhau.
2.1.4. Lượng của núi
Các Đức Phật Thế Tôn từ bi hiện sinh hiện diệt khắp tam thiên đại thiên thế giới, giáo hóa tất cả thánh phàm. Một tứ thiên hạ là phạm vi một mặt trời một mặt trăng chiếu sáng, với núi Tô-mê-lô làm trung tâm. Núi này cao ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, do bốn báu tạo thành, mặt đông bằng vàng ròng, mặt nam bằng lưu li, mặt tây bạch ngân, mặt bắc bằng pha lê. Chân núi cắm sâu xuống biển cũng ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, nằm trên mặt kim luân.
Kinh Khởi thế ghi: “Quanh Tu-di có tám lớp núi theo thứ tự từ trong ra ngoài như sau:
- Núi Khư-đề-la cao bốn vạn hai nghìn do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách Tu-di tám vạn bốn nghìn do-tuần, chu vi vô lượng.
- Núi Y-sa-đà-Ia cao hai vạn một nghìn do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách núi Khư-đề-la bốn vạn hai nghìn do-tuần, chu vi vô lượng.
- Núi Du-càn-đà-la cao một vạn hai nghìn do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách núi Y-sa-đà-la hai vạn một nghìn do-tuân, chu vi vô lượng.
- Núi Thiện Kiến cao sáu nghìn do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách núi Du-càn-đà-la một vạn hai nghìn do-tuần, chu vi vô lượng.
- Núi Mã Bán Đầu cao ba nghìn do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách núi Thiện Kiến sáu nghìn do-tuần, chu vi vô lượng.
- Núi Ni-dân-đà-la cao một nghìn hai trăm do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách núi Mã Bán Đầu hai nghìn bốn trăm do-tuần, chu vi vô lượng.
- Núi Tì-na-da-ca cao sáu trăm do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách núi Ni-dân-đà-la một nghìn hai trăm do-tuần, chu vi vô lượng.
- Núi Chước-ca-la cao ba trăm do-tuần, rộng cũng như thế, do bảy báu tạo thành, cách núi Tì-na-da-ca một nghìn hai trăm do-tuần, chu vi vô lượng.
Giữa hai núi đều có biển lớn. Trên mặt biển trổ đầy hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma, hoa câu-mâu-đà, hoa bôn-trà-lợi-ca và các loài vật có hương thơm khác. Trên.vùng đất trống cỏ xanh phủ kín mặt đất, cách núi Chước-ca-la không xa, có một biển lớn. Phía bắc biển này có cây Diêm-phù; chu vi thân cây bảy mươi do-tuần, rễ cắm xuống đất sâu hai mươi mốt do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá che phủ một vùng rộng năm mươi do-tuần”.

Phần 3

Kinh Trường A-hàm ghi: “Trên vùng đất trống của núi Thiết Vi có biển Uất-thiền-na, dưới đáy biển có đường Chuyển luân thánh vương rộng mười hai do-tuần. Hai bên đường có bảy lớp tường thành, bảỵ lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tât cả đều bằng bảy báu. Khi Chuyển luân thánh vương xuất hiện trên cõi Diêm-phù thì nước biển biến mất, con đường này hiện ra. Cách biển này không xa có núi uất-thiền, cách núi này không xa lại có núi Kim Bích, qua khỏi núi này lại đến núi Tuyết. Núi này cao một trăm do-tuần, ngang dọc đều năm trăm do-tuần, chân núi cắm sâu xuống đất năm trăm do-tuần, trong núi lại có tòa núi báu cao hai mươi do-tuần. Trên đỉnh núi Tuyết có hồ A-nậu-đạt, ngang dọc đều năm mươi do-tuần, nước hồ rất trong và mát, không có cặn bẩn, quanh hồ được kè lát bằng những viên gạch bảy báu, đáy hồ toàn là cát vàng. Hoa sen trong hồ lớn như bánh xe, cọng như trục xe, nước ép từ ngó sen có màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Phía đông hồ có miệng trâu, tuôn nước ra thành sông Khắc-già; sông này cùng với năm trăm chi lưu đồng tuôn ra biển đông. Phía nam của hồ có miệng sư tử tuôn nước ra thành sông Tân-đầu, sông này cùng với năm trăm chi lưu đồng đổ ra biển nam. Phía tây hồ có miệng ngựa, tuôn nước ra thành sông Bạc-xoa; sông này cùng với năm trăm chi lưu đông tuôn ra biển tây. Phía bẳc hồ có miệng voi, tuôn nước ra thành sông Tư-đà; sông này cùng với năm trăm chi lưu đồng tuôn ra biển bắc”.
Truyện Táy quốc của pháp sư Huyền Trang ghi: “Trong châu Thiệm-bộ có hồ A-na-đáp-bà-đa nằm phía nam Hương sơn, phía bắc núi Đại Tuyết. Chu vi hồ tám trăm dặm, quanh bờ được lát vàng, bạc, lưu li, pha lê; cát vàng trải khắp đáy hồ, nước ( trong vắt, sạch sẽ, mặt hồ sáng như gương. Bô-tát Thập địa dùng sức nguyện hóa thành long vương ẩn nơi đây phun nước trong mát tưới ướt cõi Thiệm-bộ. Vì thế mặt đông của hồ có cửa khẩu Trâu bạc tuôn nước tạo thảnh sông Khắc-già; sông chảy quanh hồ một vòng rồi tuôn ra biển đông nam. Mặt nam của hồ có cửa khẩu Voi vàng tuôn nước tạo thành sông Tín-độ; sông chảy quanh hồ một vòng rồi tuôn ra biển tây nam. Mặt tây của hồ có cửa khẩu Ngựa lưu li tuôn nước tạo thành sông Phạ-sô; sông chảy quanh hồ một vòng rồi tuôn ra biên tây bắc. Mặt bắc của hồ có cửa khâu Sư Tử tuôn nước tạo thành sông Tỉ-đa; sông chảy quanh hồ một vòng rồi tuôn ra biển đông bắc. Có thuyết cho rằng nước chảy ngầm trong lòng đất rồi trào lên tại núi Tích Thạch, tạo thành sông Tỉ-đa, là nguồn của Hoàng Hà tại Trung Quốc.
Bây giở Luân vương chưa thuận ứng thời vận, cõi Thiệm-bộ có bốn chủ:
- Nam Tượng chủ: phương nam khí hậu nóng, thích hợp với loài voi.
- Tầy Bảo chủ: Phương tây gần biển nhiều châu báu
- Bắc Mã Chủ: Phương bắc khí hậu giá lạnh, thích hợp cho loài ngựa.
- Đông Nhân chủ: Phương đông khí hậu ôn hòa. an vui, thích hợp cho loài người.
Vỉ thể người dân nước Tượng chủ bản tính mạnh mè, thông thái, hiếu học và rất giỏi các dị thuật. Người dân nước Bảo chủ không biết lễ nghĩa, chi chuộng tài bảo; người dân nước Mã chủ bàn tính hung bạo, thích giết hại; người dân nước Nhân chủ thông mình cơ trí, sáng rực nhân nghĩa. Trong bốn chủ, về phong tục thì đông phương là bậc nhất, nếu làm nhà thì mở cửa về hướng đông, hằng ngày huớng về phương đông lễ lạy, bậc nhân chủ ngồi quay mặt về nam mà xưng đế. Phong tục mỗi vùng đều khác nhau, ở đây chỉ nêu khái quát, đến như lễ vua tôi trên dưới, phép tắc luật lệ, văn chương lễ nhạc thì cõi nước của Nhân chủ đã hoàn hảo, không cần phải thêm gì. Nhưng nếu nói về giáo làm trong sạch tâm, dứt phiền lụy, xuất li sinh tử thì nước của Tượng chủ là ưu việt nhất. Những điều này đều ghi rõ trong kinh, xin báo cho các bậc nhân sĩ thế gian hãy nghiên tầm kim cô, xét rõ những điều thấy nghe. Thế thì Phật xuất hiện tại tây phương, khi giáo pháp lưu truyền sang đông thổ, hẳn lời dịch có sai lầm, phương ngôn cũng lệch lạc. Lời đã sai thì nghĩa mẩt, chữ đã lệch thì lí không chính xác. Cho nên Luận ngữ có câu: “Tất dã chính danh hồ? cốt để không sai lầm vậy”.
Kinh Khởi thế ghi: “Trong hồ A-nậu-đạt có ngôi nhà năm trụ, là nơi long vương A-nậu-đạt cư trú. Đức Phật dạy:
- Vi sao gọi là A-nậu-đạt? Vi tất cả long vương trên cõi Diêm-phù đều có ba nỗi thống khổ, chỉ có long vương ở hồ này là hoàn toàn không. Ba nỗi thống khổ: một, gió nóng, cát nóng thổi tấp vào thân, đốt cháy từ da thịt đến tận xương tủy; hai, gió mạnh thổi vào cung rồng, làm bay y phục có trang sức châu báu đang mặc, khiến thân rồng lộ bày; ba, thường bị chim cánh vàng bay vào cung bắt khi đang cùng vui chơi, hoặc lúc mới sinh, chim cánh vàng tìm cách bắt rồng ăn thịt, khiến các rồng luôn lo sợ. Nhưng nếu vua chim cánh vàng khởi ý niệm muốn đến cung rồng hồ A-nậu thì liền mạng chung.
- Này các tì-kheo! Mặt phải của núi Tuyết có tòa thành Kim-tì-la, phía bắc thành có núi Thất Hắc, phía bắc Hắc sơn lại có Hương sơn. Trên núi này thường nghe có tiếng đàn ca. Trong núi có hai hang động là Tận và Thiện Tận do bảy báu cõi trời tạo thành, thơm sạch, chạm vào cảm thấy mềm mại như y trời. Càn-thát-bà Diệu Âm và năm trăm càn-thát-bà quyến thuộc trụ trong đó”.
Luận Thuận chính lí ghi: “Trong bốn châu, chỉ châu Diêm-phù là có tòa Kim cang. Tòa này, tựa trên kim luân xuyên lên đến mặt đất. Bồ-tát thân cuối cùng, khi sắp chứng Vô thượng chính đẳng bồ-đề, đều ngồi trên tòa này nhập định Kim Cang. Nhờ sức vô dư y và tất cả các lực kiên cố của những nơi khác giữ vững tòa này”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Có bốn đại thiên thần là Địa thần, Thủy thần, Phong thần và Hỏa thần. Bốn đại thiên thần này đều có trong nhau, nhưng Địa thần khởi ác kiến: ‘Trong địa không có thủy, hỏa và phong’. Ta biết điều này, liền đến nói: ‘Có phải ngươi từng nghĩ trong địa không có thủy, hỏa và phong?’. Địa thần đáp: ‘Thật không có thủy, hỏa và phong’. Ta nói: ‘Ngươi không nên có suy nghĩ này, vì sao? Vì trong địa có thủy, hỏa và phong; nhưng địa đại lớn và nhiều hơn, nên gọi là địa’. Ta đã trừ ác kiến cho Địa thần, đồng thời Thị giáo lợi hỉ, khiến thần này được Pháp nhãn tịnh. Như vậy trong thủy cũng có địa, hỏa và phong; trong hỏa cỏ địa, thủy và phong; trong phong có địa, thủy và hỏa. Hễ thành phần nào nhiều hơn, mạnh hơn, thì lấy tên đó.

Phần 4

2.1.5. Các khoảng cách
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Bên ngoài biển mặn lớn có núi Thiết Vi, chân cắm sâu xuống biển ba trăm mười hai do-tuần, cao khỏi mặt nước biển và rộng cũng như thế, chu vi ba mươi sáu ức một vạn ba trăm năm mươi do-tuần. Cự li từ mé nam Diêm-phù-đề đến núi Thiết Vi là ba ức sáu vạn sáu trăm sáu mươi ba do-tuần; cự li từ trung tâm Diêm-phù-đề đến trung tâm Phất-ba-đề là ba ức sáu vạn sáu trăm ba do-tuần; cự li từ từ trung tâm Diêm-phù-đề đến trung tâm Cù-da-ni là ba ức sáu vạn sáu trăm ba do-tuần; cự li từ mé bắc Diêm-phù-đề đến mé bắc Ưất-đan-việt là bốn ức bảy vạn bảy nghìn năm trăm ba do-tuần; cự li từ mé biển cực tây của núi Thiết Vi ' đến mé biển giáp núi Thiết Vi là mười hai ức hai nghìn tám trám hai mươi lăm do-tuần. Chu vi biển nước vây quanh núi Thiết Vi là ba mươi sáu ức tám nghìn bốn trăm bảy mươi lăm do-tuần. Khoảng cách từ biên đỉnh Tu-di này đến biên đỉnh Tu-di kia là mười hai ức ba nghìn bốn trăm năm mươi do-tuần; khoảng cách từ trung tâm núi Tu-di này đến trung tâm núi Tu-di kia là mười hai ức tám vạn ba nghìn 'bốn trăm năm mươi do-tuần; khoảng cách từ chân núi Tu-di này đến chân núi Tu-di kia là mười hai ức ba nghìn mười lăm do-tuần. Tất cả những số liệu này do Như Lai nói ra”.
2.1.6. Cõi nước, con người và sản vật
Theo các sách Phương chí thì con người có nhiều loại khác nhau, nhưng gom thành hai là thánh và phàm. Nhưng nếu phân chia theo phương hướng thì có bốn loại người, vì có bốn châu thiên hạ. Nếu phân biệt theo nơi ở, trong bốn thiên hạ có bốn nghìn tám trăm nơi thì cũng có chừng ấy giống người. Nếu chỉ xét trong một cõi Nam Diêm-phù, kinh Lâu thán ghi: “Cõi Diêm-phù-đề có ba mươi sáu nước lớn”, tức có ba mươi sáu dân tộc. Nếu chia nhỏ thì có hai nghìn năm trăm nước nhỏ, cũng sẽ có chừng ấy dân tộc. Lại trong một nước cũng có nhiều chủng tộc, nào là Hồ, Hán, Khương, Lỗ, Man, Di, Sở, Việt... mỗi mỗi đều tùy theo địa phương mà có hình sắc khác nhau, không thể kể hết. Cho nên kinh Lâu thán còn ghi: “Cõi Nam Diêm-phù-đề có khoảng sáu nghìn bốn trăm chủng tộc, chỉ nêu khái quát số lượng chứ không kể tên riêng”. Kinh Trường A-hàm ghi: “Bên ngoài bốn thiên hạ này có tám nghìn thiên hạ vây quanh, ngoài tám nghìn thiên hạ lại có biển lớn vây quanh, bên ngoài biển lớn lại cỏ hai lớp núi Kim Cang vây quanh, không gian giữa hai lớp núi này tăm tối, mờ mịt, ánh sáng mật trời, mặt trăng, các thiên thần có uy đức lớn cũng không thể chiếu đến nơi ấy”.
- Cõi Bắc ưất-đan-việt: Kinh Trường A-hàm ghi: “Tại bắc núi Tu-di có châu ưất-đan-việt. Thế đất nơi đây vuông vức, bằng phẳng, ngang dọc đều một vạn do-tuần, mặt con người nơi đây cũng vuông giống như hình thế của mặt đất. Cõi này có cây Yêm-bà-la cao một trăm do-tuần, chu vi thân bảy do-tuần, cành lá che phủ một vùng rộng năm mười do-tuần. Nơi đây cũng có rất nhiều sơn động, ao hồ, cây cối xanh tốt, hoa quả sum suê, vô số chim chóc hòa điệu, cỏ mềm mịn bò quanh theo chiều phải, trải khắp mặt đất, màu xanh như lông khổng tước, tỏa hương thơm như hoa Bà-sư mềm mại như vải cõi trời. Mặt đất bằng phẳng như lòng bàn tay, không cao thấp, khi dẵm chân, mặt đất lún bốn tấc, vừa nhấc chân thì trở lại như cũ. Một phía của cõi này có bốn hồ A-nậu-đạt, mỗi cạnh của hồ đều một trăm do-tuần, quanh hồ được lát gạch bằng bảy báu, chim chóc hót vang. Từ hồ tuôn ra bốn dòng sông lớn, lòng sông rộng mười do-tuần.
Vùng đất này không có hầm hố, gai gốc, muỗi mòng và các loài trùng độc; nhưng lại có nhiều châu báu, thời tiết điều hòa, bốn mùa thuận chuyển, trăm hoa đua nờ suốt năm, không có đông hạ. Lúa thóc tự sinh, không cần gieo cấy, gạo không có cám tấm, như đồng hoa trắng tinh khiết, như thức ăn của trời Đạo-lợi, đầy đủ các vị ngon bổ; lại có nồi tự nhiên và ma-ni Diễm Quang thay cho lửa đặt dưới nồi, khi cơm chín thì ánh sáng tự tắt, không cần nhúm lửa, chẳng nhọc sức người. Cõi này có một loại cây tên là Khúc Cung, lá mọc xen kẽ, sát nhau, che kín phía dưới, một giọt mưa cũng không thể lọt qua, mọi người trú dưới tàng cây này. Lại có cây Hương, cao bảy mươi hoặc sáu mươi, năm mươi, hoặc nhỏ nhất là năm dặm, cành lá xanh tốt, hoa trái sum suê; khi trái chín, vỏ tự nứt, hương thơm lan tỏa khắp nơi.
Lại cỏ cây Y phục cao bảy mươi hoặc sáu mươi, năm mươi, hoặc nhỏ nhất là năm dặm, cành lá xanh tốt, hoa trái sum suê. Khi trái chín, vỏ tự nứt tuôn ra các loại y phục. Lại có cây Trang Nghiêm cao bảy mươi hoặc sáu mươi, năm mươi, hoặc nhỏ nhất là năm dặm, cành lá xanh tốt, hoa trái sum suê; khi trái chín, vỏ tự nứt tuôn ra các vật trang sức thân. Lại có cây Khí cao bảy mươi hoặc sáu mươi, năm mươi, hoặc nhỏ nhất là năm dặm, cành lá xanh tốt, hoa trái sum suê. Khi trái chín, vỏ tự nứt, tuôn ra chén bát... Lại có cây tuôn ra thức ăn thức uống cũng như thế.

Phần 5

Nơi đây cũng có cả dòng sông và những chiếc thuyền báu. Muốn tắm rửa vui chơi, trước tiên mọi người cởi y phục để trên bờ, rồi chèo thuyền ra giữa dòng dạo chơi. Khi đã thỏa thích, thì đưa thuyền vào, ai lên trước thì mặc y phục trước, ai lên sau thì mặc y phục sau, không cần phải lấy đúng y phục mình đã mặc lúc trước. Kế đó đến bên cây Hương, cây tự rũ xuống, mọi người chỉ cần đưa tay lấy các loại nhạc khí, rồi cùng nhau hòa điệu, âm thanh tuyệt diệu vang lên, như thế họ cùng nhau đến vườn vui chơi.
Cứ vào nửa đêm, long vương hồ A-nậu-đạt giăng mây thanh tịnh khắp cõi nước, rồi rưới mưa cam lộ như sữa bò, khiến trong chốc lát nước tám vị thấm ướt cùng khắp. Sau nửa đêm thì hết mưa, bầu trời quang đãng, không một gợn mây, gió mát từ biển thổi vào, khiến thân tâm thật khoan khoái, dễ chịu. Đất đai nơi đây phì nhiêu, nhân dân đông đúc, khi cần ăn thì gạo tự hiện trong nồi, có châu Diễm Quang đun nấu, như nói ở trên. Nếu khách đến thì tự lấy dùng, nếu chủ nhà không đứng dậy thì cơm không hết, nếu chủ đứng dậy thì cơm sẽ hết. Cơm này trắng bóng, vị như cơm cõi trời, người ăn vào không sinh bệnh, mà giúp cho khí lực dồi dào, nhan sắc tươi đẹp, không đưa đến già suy.
Người cõi này dung mạo giống nhau, không thể phân biệt, tất cả đều như thanh niên hai mươi tuổi ở cỗi Diêm-phù-đề, răng trắng bóng, đều đặn, bằng và khít; tóc màu tía xanh, không dính bụi bẩn, dài tám lóng tay, phía trước rủ xuống ngang mày, không dài không ngắn. Nếu khởi tâm dục, thì họ sẽ nhìn chăm chú vào người nữ rồi bỏ đi, người nữ liền theo vào vườn rừng. Nếu người nữ ấy có quan hệ huyết thống với chú bác, cô dì, không nên quan hệ tình dục thì cây cối không rũ cành che mát, lúc ấy hai người tự xa. Nếu không phải người trong thân tộc thì cây cối rũ cành, hai người tùy ý gần gũi, vui chơi trong một, hai hoặc bảy ngày rồi thôi. Người nữ này mang thai bảy ngày thì sinh, bất kể là con trai hay con gái, đều đặt tại ngã tư đường rồi bỏ đi. Ai đi ngang qua đây đều đưa ngón tay cho đứa bé này mút. Sữa từ đầu ngón tay tuôn ra lưu chuyển khắp thân, nuôi lớn đứa bé. Sau bảy ngày đứa bé này lớn như một người bình thường, lúc ấy hễ là nam thì nó theo chúng nam, là nữ thì theo chúng nữ.
Người nơi đây khi chết, quyến thuộc không khóc than, chỉ trang điểm cho tử thi rồi đặt tại ngã tư đường rồi bỏ đi. Bấy giờ có con chim Ưu-úy-thiền-già cắp lấy tử thi này mang đến một nơi khác. Lại nữa, khi đại tiểu tiện thì mặt đất tự nứt ra, xong rồi thì mặt đất khép lại. Loài người nơi đây không có tâm luyến ái ràng buộc, không cất chứa mọi thứ, thọ mạng thường định, sau khi chết đều sinh về cõi trời. Vì sao thọ mạng thường định? Vì đời trước họ tu thập thiện, sau khi chết sinh vào cõi Ưất-đan-việt, thọ mạng một nghìn tuổi, không tăng không giảm, vì thế thọ mạng của họ đều như nhau. Nếu ai cúng dường sa-môn, bà-la-môn và bố thí cho những người bần cùng ăn xin, bệnh tật khốn khô những thứ như áo quần, xe cộ, vòng hoa, hương thoa, giường chiếu, phòng xá, lại tạo chùa tháp, đốt đèn cúng dường thì sau khi chết được sinh về cõi ụất-đan-việt. Nơi đây tuy không thụ thập thiện, nhưng tất cả hành động cử chỉ đều tự nhiên hợp thập thiện, sau khi chết sẽ sinh về cỗi trời. Vỉ thế, người nơi đây được cho là có cuộc sông tốt đẹp bậc nhât; cõi này đứng đầu trong ba thiên hạ, vì thể Trung Quốc dịch là Tối Thượng”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Người nước này da tráng, điểm bộ râu màu xanh đen, luôn căt tỉa thành chòm; năm ngày thì tóc mọc dài bảy lóng tay, không thêm không bớt”.
Luận Thuận chỉnh lí ghi: “Địa hình Bắc Câu-lô như tòa vuông, bốn cạnh bằng nhau, mỗi cạnh dài hai nghìn do-tuần”. Đã nói vùng đất này hình vuông, mỗi cạnh hai nghìn do-tuần thì cũng đã hiển rõ nghĩa. Bên cạnh châu này có hai trung châu là Củ-bà và Kiều-đê-bà, đều có người cư trú”.
- Châu Đông Phất-vu-đãi: Kinh Trường A-hàm ghi: “Phía đông núi Tu-di có một thiên hạ tên là Phất-vu-đãi, thế đất hình bán nguyệt, ngang dọc đều chín nghìn do-tuần, khuôn mặt con người giống như thế đất. Nơi đây có một cây lớn tên là Già-lam-phù cao trăm do-tuần, chu vi thân bảy do-tuần, cành lá : che phủ một vùng năm mươi do-tuần”.
Kinh Tạo thiên địa ghi: “Người ở phương đông có phúc báo tốt đẹp hơn người ở cõi Diêm-phù-đề. Nơi ấy người ta thường dùng vải lụa để giao dịch
Kinh Trường A-hàm ghi: “Con người nơi đây thọ hai trăm tuổi, ít có người thọ hơn, nhưng nhiều thọ người chưa đến. Họ ăn cơm và cá, thưởng dùng lúa thóc, vải lụa, châu ngọc để giao dịch; có vợ chồng, cưới gả”.
Luận Thuận chính lí ghi: “Địa hình châu Thẳng Thân, phía đông hẹp, phía tây rộng, có ba cạnh bằng nhau, giống hình nửa mặt trăng, cạnh phía đông dài ba trăm năm mươi do-tuần, ba cạnh kia đều dài hai nghìn do-tuần. Mé đông của châu Đông Thăng Thân rộng hơn mé nam của châu Nam Diêm-phù, cho nên Đông châu như hình nửa mặt trăng. Bên cạnh châu này có hai trung châu là Đề-ha và Tì-đề-ha, đều có người cư trú.

Phần 6

- Châu Câu-da-ni: kinh Trường A-hàm ghi: “Phía tây núi Tu-di có châu Câu-da-ni, hình thế như mặt trăng tròn, ngang dọc đều chín nghìn do-tuần, khuôn mặt con người giống như thế đất. Nơi đây có một cây lớn tên là Cân-đề cao trăm do-tuần, chu vi thân bảy do-tuần, cành lá che phủ một vùng năm mươi do-tuần. Con người thọ ba trăm tuổi, thường dùng trâu bò, ngựa, châu ngọc để giao dịch, có phúc báo tốt đẹp hơn người Diêm-phù-đề”.
Kinh Khởi thế ghi: “Dưới cây Cân-đề có một con trâu đá cao một do-tuần, nên gọi là châu Cù-đà-ni, Hán dịch Tây Ngưu Hỏa”. Luận Lập thế ghi: "Người nơi đây cũng tự sát sinh, hoặc bảo người sát sình, ăn thịt cá giống như người cõi Diêm-phù. Nếu thân thuộc chết thì đưa tử thi vào rừng núi thiêu đốt rồi bỏ đi, hoặc thả xuống sông, hoặc chôn xuống đất, hoặc để trên đất trống. Phong tục tập quán của hai châu Đông và Tây phần lớn giống Diêm-phù-đề, cũng có việc cưới gả. Người nhiều dục, trong một đời chỉ có mười hai lần giao hợp, trung bình thì khoảng mười lần, cũng có người tu hành suốt đời vô dục. Người cõi này để tóc xõa, thân mặc y phục”.
Luận Thuận chính lí ghi: “Hình thế cõi Tây Ngưu Hóa như mặt trăng tròn, đường kính hai nghìn năm trăm do-tuần, chu vi bảy nghìn năm trăm do-tuần. Bên cạnh châu này có hai trung châu là Xá-hào và Ốt-đát-la-mạn-lí-noa, đều có người cư trú”
- Châu Diêm-phù-đề: Kinh Trường A-hàm ghi: “Phía nam núi Tu-di có châu Diêm-phù-đề, địa hình phía nam hẹp, phía bắc rộng, ngang dọc đều bảy nghìn do-tuần, khuôn mặt con người giống như thế đất. Nơi đây có một cây lớn tên là Diêm-phù-đề cao trăm do-tuần, chu vi thân bảy do-tuần, cành lá che phủ một vùng năm mươi do-tuần. Lại có cây Câu-lợi-thiểm-bà-la của kim sí điểu chúa, cây Thiện Tận của a-tu-la-vương, cây Trú Độ của trời Đao-lợi; những cây này đều cao một trăm do-tuần, chu vi thân bảy do-tuần, cành lá che phủ một vùng năm mươi do-tuần”. Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Người 'cõi Diêm-phù-đề thọ một trăm tuổi, nhưng chết yểu cũng rất nhiều. Trong khoảng trăm năm tuổi đó, mười năm đầu còn bé thơ chưa biết gì, mười năm thứ hai tuy đă biết nhưng chưa thông, mười năm thứ ba thì tâm dục rất mạnh, mười năm thứ tư thì các hành vi không đúng, mười năm thứ năm thì không quên sót những điều đã học tập, mười năm thứ sáu tham tiếc tài sản, mười năm thứ bảy thì thân tâm chậm chạp, mười năm thứ tám thì không thích trang sức, mười năm thứ chín thì bệnh tật đau ốm, mười năm thứ mười thì các giác quan suy kiệt. Trải qua ba trăm mùa xuân-hạ-đông, ba vạn sáu nghìn bữa ngọ, nhưng trong số đó cũng có người không trải qua hêt”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: ‘"Người Diêm-phù-đề mặc nhiều loại y phục khác nhau. Còn về râu tóc, có người để tóc dài rồi thắt thành hai búi, có người cạo hết hoặc chỉ để lại một chỏm trên đỉnh gọi là Chu-la phát, có người nhổ sạch hoặc cắt tỉa râu tóc, có người thắt thành bím, có người xõa tóc, có người cắt phía trước xõa phía sau thành đầu tóc tròn; hoặc có người lõa thê, có người mặc áo quần trên che dưới lộ, hoặc trên lộ dưới che, hoặc toàn thân đều che kín, hoặc chỉ che trước và sau... về thức ăn thức uống mà người châu này dùng thì vô số, không thể kể hết. về những việc hiện tại như vợ chồng cưới gả, buôn bán giao dịch thì cũng có thể tự biết, về việc gần gũi nam nữ thì trong một đời, người Diêm-phù-đề có vô số lần, không giống người ở ba châu kia rất ít dục, nhưng cũng có người suốt đời tu hành vô dục”
Luận Thuận chính lí ghi: “Châu Diêm-phù-đề có hai châu phụ là Già-mạt-la và Phạt-la-già-la, đều có người cư trú”.
2.1.7. Chiều cao-tuổi thọ-y phục
Luận Lập thế ghi: “Khi tuổi thọ con người ở cõi Diêm-phù còn mười năm thì thân cũng cực thấp, chỉ hai hay ba gang mà thôi, nhưng đo với bàn tay của thân mình thì được tám gang”. Luận Tì-đàm ghi: “Khi người cõi Diêm-phù thọ một trăm tuổi, thân cao ba trửu rưỡi, hoặc bốn trửu. Thân người cõi Phất-ba-đề cao tám trửu, thân người cõi Cù-da-ni cao mười sáu trửu, thân người cõi Ưất-đan-việt cao ba mươi hai trừu”.
Theo luận Tì-đàm, tuổi thọ con người cỗi Điêm-phù không nhất định, nếu vào kiếp giảm, có thể chia làm ba bậc: Thượng thọ một trăm hai mươi lăm tuổi, trung thọ một trăm tuổi, hạ thọ sáu mươi tuổi, nhưng chết yểu cũng vô số. Nếu vào kiếp sơ thì tuổi thọ của họ vô lượng, hoặc tám vạn bốn nghìn tuổi.
Theo kinh Trường A-hàm, tuổi thọ con người cõi Diêm-phù và cõi Phất-vu-đãi là hai trăm năm, ỉuổi thọ con người cõi Cù-da-di là ba trăm năm, tuổi thọ con người cõi uất-đan-việt lả một nghìn năm, ba châu trước đều có người chết yểu, chỉ có châu này không có chết yểu,
Kình Khởi thế ghi: “Người Diêm-phù-đề cao ba trửu rưỡi y dài bảy trửu, rộng ba trửu rưỡi. Ngưòí Cù-đà-ni và Phất-ba-đề thân lượng và y cũng bàng người cõi Diêm-phù-đê. Người uất-đan-việt thân cao bảy trửu, y dài mười bổn trửu, rộng bảy trửu, thân A-tu-la cao một do-tuần, y dài hai do-tuần, rộng một do-tuần, nặng nửa ca-lợi-sa”.

Phần 7

2,1,8. Hơn kém
Kinh trường A-hàm ghi: “Người cõi Diêm-phù-đề có ba năng lực hơn người cõi Câu-da-ni: một. người dân dũng mãnh, nhớ dai, có khả năng tạo mọi việc; hai, người dân dũng mãnh, nhớ dai siêng tu Phạm hạnh; ba, dũng mãnh, nhớ dai, là nơi Đức Phật xuất thế.
Người cõi Câu-đa-ni có ba việc hơn người cõi Diêm-phù-đề: Một, nhiều trâu bò, nhiều dê, nhiều châu báu. Người cỗi Diêm-phù-đề có ba năng lực hơn người cõi Phất-vu-đãi: một, người dân dũng mãnh, nhớ dai, có khả năng tạo mọi việc; hai, người dân dũng mãnh, nhớ dai siêng tu Phạm hạnh; ba, dũng mãnh, nhớ dai, là nơi Đức Phật xuất thế. Người cõi Phất-vu-đãi có ba việc hơn người cõi Diêm-phù-đề: một, cõi nước cực rộng; hai, đất đai cục lớn; ba, quốc độ vô cùng tốt đẹp.
Người cõi Diêm-phù-đề có ba năng lực hơn người cõi uất-đan-việt: Một, người dân dũng mãnh, nhớ dai, cỏ khả năng tạo mọi việc; hai, người dân dũng mãnh, nhớ dai siêng tu Phạm hạnh; ba, dũng mãnh, nhớ dai, là nơi Đức Phật xuất thế. Người cõi uất-đan-việt có ba điều hơn người cõi Diêm-phù-đề: một, không bị trói buộc; hai, không có ngã sở; ba, tuổi thọ nhất định là một nghìn năm.
Người cõi Diêm-phù-đề cũng có ba năng lực như trên, hơn ngạ quỷ. Ngạ quỉ cũng có ba việc hơn người cõi Diêm-phù-đề: Trường thọ, thân cao lớn, người làm mà mình thụ dụng. Người cõi Diêm-phù-đề cũng có ba năng lực như trên, hơn loài chim cánh vàng. Loài chim cánh vàng cũng có ba việc hơn người cõi Diêm-phù-đề: trường thọ, thân lớn, cung điện trang nghiêm.
Người cõi Diêm-phù-đề cũng có ba năng lực như trên, hơn a-tu-la. A-tu-la cũng có ba việc hơn người cõi Diêm-phù-đề: cung điện cao rộng, cung điện trang nghiêm, cung điện thanh tịnh. Người cõi Diêm-phù-đề cũng có ba năng lực như trên, hơn chư thiên cõi Tứ Thiên Vương. Chư thiên cõi Tứ Thiên Vương cũng có ba việc hơn người cõi Diêm-phù-đề: trường thọ, đoan chính, nhiều niềm vui.
Người cõi Diêm-phủ-đề cũng có ba năng lực như trên, hơn chư thiên các cõi Đao-lợi, Diêm-ma, Đâu-suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại. Chư thiên các Cõi ấy cũng có ba việc hơn người cõi Diêm-phù-đề: trường thọ, đoan chính, nhiều niềm vui”.
2.2. CHƯ THIÊN
2.2.1. Luận về giai vị
Theo luận Bà-sa, về chư thiên thì có có ba mươi hai tầng, trong đó cõi Dục có mười, cõi sắc có mười tám, cõi Vô sắc có bốn.
- Mười tầng trời cõi Dục: Kiên Thủ, Trì Hoa Man, Thường Phóng Dật, Nhật Nguyệt Tinh Tú, Tứ Thiên Vương, Tam Thập Tam, Diêm-ma, Đâu-suất-đà, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại. Trong đó, trời Nhật Nguyệt Tinh Tú và bốn tầng trời sau cùng thì trụ trong hư không; các trời Kiên Thủ, Hoa Man, Thường Phóng Dật, Tứ Thiên Vương và Đao-lợi trụ tại núi Tu-di.
- Mười tám tầng trời cõi sắc: Gồm ba tầng thuộc Sơ Thiền: Phạm Chúng là thứ dân, Phạm Phụ là quan thần và Đại Phạm là quân vương; Đại Phạm vương không có tầng trời riêng, chỉ một mình ở trên đài cao, trang nghiêm, tráng lệ trong cõi Phạm Phụ; chỉ tầng trời này mới có phân biệt quan dân, các tầng trời khác không có. Ba tầng trời thuộc Nhị Thiền là Thiểu Quang, Vô Lượng Quang và Quang Âm. Ba tầng trời thuộc Tam Thiền là Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh và Biến Tịnh. Chín tầng trời Tứ thiền là Phúc Sinh, Phúc Ái, Quảng Quả, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiên, Thiện Hiện và Sắc Cứu Cánh.
Trời Vô Tưởng không có tầng riêng mà đồng tầng với trời Quảng Quả, nhưng ờ một nơi khác biệt, là nơi sinh về của các ngoại đạo.
- Bốn tầng trời Vô sắc: Không Xứ, Thức Xứ, Vô Sở Hữu, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Hỏi: Trong ba mươi hai tầng trời này, có mấy cõi phàm trụ máy cỗi thánh trụ?
Đáp: Hai nơi chỉ có phàm trụ, năm nơi chi có thánh trụ, hai mươi lăm nơi phàm thánh cùng trụ. Hai nơi chỉ có phàm trụ, một là Đại Phạm trong cõi Sơ Thiền, hai là Vô Tưởng trong Tứ Thiền.
Hỏi: Vì sao hai nơi này chỉ có phàm trụ?
Đáp: Vì trời Đại Phạm không thấu đạt nghiệp nhân, nên nói: “Ta có năng lực tạo ra trời đất, người vật”, rồi cậy vào tà kiến này, xem thường tất cả thánh nhân, vì thế thánh nhân không ở chung. Còn tầng trời Vô Tưởng thì chỉ là nơi sinh đến của ngoại đạo tu định Vô Tường; vì ngoại đạo này không thông đạt, nên khi được thọ mạng năm kiếp vô tâm, liền chấp đó là niết-bàn, sau khi phúc báo hết, liền khởi tà kiến, nên rơi vào địa ngục. Vì thế tất cả thánh nhân không sinh vào đây. Năm chỗ chi có thánh nhân cư trú là trời Ngũ Tịnh Cư, nơi đây là trụ xứ của riêng bậc thánh a-na-hàm và a-la-hán. Hễ muốn sinh về đó, chúng sinh cần phải tiến tu hướng đến a-na-hàm, thân đạt tứ thiền, phát vô lậu định, khởi tu thiền nghiệp, hoặc khởi một phẩm cho đến chín phẩm định mới được sinh. Hàng phàm phu không huân tu thiền nghiệp, nên không được sinh.
Hỏi: Như A-na-hàm sinh. về đó thì không có gì nghi, nhưng a-la-hàn đã vô sinh, tại sao còn nói sinh thiên?
Đáp: Ở đây nói a-na-hàm ở cõi Dục khi sinh về đó thì đắc quả A-la-hán, chứ không phải nỏi đắc quả A-la-hán rồi mới sinh về.
Còn hai mươi lăm nơi phàm thánh đồng cư thì không thể thuật hết. Nếu căn cứ chung cả Đại và Tiểu thừa, thì kinh Niết-bàn ghi: “Có bốn loại thiên: một, Thế gian thiên, như các quốc vương; hai, Sinh thiên, như các vị trời từ Tứ thiên vương cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng; ba, Tịnh thiên, như tu-đà-hoàn cho đến bích-chi-phật; Nghĩa thiên, như các đại bồ-tát Thập trụ. Do đó bồ-tát Thập trụ được gọi là Nghĩa thiên, vì thấu suốt pháp nghĩa, thấy tất cả pháp là nghĩa không.

Phần 8

2.2.2. Giải thích tên gọi
- Tứ thiên vương: theo kinh Trường A-hàm, thiên vương phương đông là Đa-la-trá, Trung Quốc dịch là Trị Quốc chủ, thống lãnh các thần tưởng Càn-thát-bà và Tì-xá-xà bảo vệ nhân dân châu Phất ba-đề, để không bị các duyên xấu xâm hại. Thiên vương phương nam là Tì-lưu-li, Trung Quốc dịch là Tăng Trưởng chủ, thống lành thần Cưu-bàn-trà và Bế-lệ, bảo vệ nhân dân cõi Diêm-phù-đề. Thiên vương phương tây là Tì-lưu-bạc-xoa, Trung Quôc dịch là Tạp Ngữ chủ, thống lãnh loài rồng và Phú-lị-đan-na, bảo vệ nhân dân cõi Cù-da-ni. Thiên vương phương bắc là Tì-sa-môn, Trung Quốc dịch là Đa Văn thiên, thống lãnh tất cả Dạ-xoa và La-sát, bảo vệ nhân dân cỗi Ưất-đan-việt”.
Luận Trí độ ghi: “Đế Thích, đúng âm tiếng Phạn phải viết là Thích-ca Đề-bà-na-nhân. Thích-ca, Trung Quốc dịch là Năng nhân, Đề-bà là Thiên, nhân là chủ, gọi chung là Năng Thiên chủ. Tu-dạ-ma thiên, Trung Quốc dịch là Diệu Thiện thiên; Đâu-suất-đà, Trung Quốc dịch là Diệu Túc; Tu-niết-mật-đà, Trung Quốc dịch là Hóa Lạc; Bà-xá-bạt-đề, Trung Quốc dịch là Tha Hóa Tự Tại; Phạm thiên vương Thi-khí, Trung Quốc dịch là Đại Đỉnh, Đại Khí; Thủ-đà-la, Trung Quốc dịch là Tịnh Cư.
Kinh Trung Á-hàm ghi: “Lúc ấy có một vị tì-kheo lạ đến lễ chân Phật rồi đứng qua một bên thưa:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao Đế Thích được gọi là Thích-đế-hoàn-nhân?
- Khi còn làm người, Thích-đề-hoàn-nhân đã hết lòng bổ thí thức ăn, thức uống, tiền của, thóc gạo, vải lụa, hoa hương, vật dụng trang sức, giường nằm, đèn đuốc cho sa-môn, bà-la-môn, người bần cùng khốn khổ, người đi đường, người xin ăn,. Vì có khả năng làm như vậy, nên gọi là Thich-đề-hoàn-nhân Đức Phật dạy.
- Bạch Thế Tôn! Vì sao Đế Thích được gọi là Phú-lan-đà-la?
- Vì khi còn làm người, Đế Thích thường bố thí y phục, thức ăn thức uống ... cho đến đèn đuốc. Vì thế gọi là Phú-lan-đà-la.
- Bạch Thế Tôn! Vì sao Đế Thích được gọi là Ma-già-bà?
- Khi còn làm người, Đế Thích tên là Ma-già-bà, nên nay gọi là Ma-già-bà.
- Bạch Thế Tôn! Vì sao Đế Thích được gọi là Bà-sa-bà?
- Khi còn làm người, Đế Thích luôn luôn bố thí, cúng dường y bà-sằn-hòa, nên Đế Thích có tên là Bà-sa-bà”.
- Bạch Thế tôn! Nhân duyên gì mà Đế Thích được gọi là Kiều-thi-ca?
- Khi còn làm người, Đế Thích thuộc dòng họ Kiều-thi, nên Đế Thích có tên là Kiều-thi-ca.
- Bạch Thế Tôn! Nhân duyên gì mà Đế Thích được gọi là Xá-chi-bát-đê?
- Nữ a-tu-la Xá-chi là đệ nhất thiên hậu cùa Đế Thích, nên Đế Thích được gọi là Xá-chi-bát-đê.
- Bạch Thế Tôn! Nhân duyên gì mà Đế Thích được gọi là Thiên Nhãn?
- Khi còn làm người, Đế Thích thông minh trí tuệ, ngồi một chỗ mà suy nghĩ, xem xét, cân nhắc nghìn nghĩa lí. Vì nhân duyên này nên Đế Thích còn gọi là Thiên Nhãn.
- Bạch Thế Tôn! Nhân duyên gì mà Đế Thích có tên là Nhân-đề-lợi?
- Đế Thích là vua cõi Tam Thập Tam, nên Đế Thích được gọi là Nhân-đế-lợi.
Đức Phật lại dạy:
- Khi còn làm người, Đế Thích đã hành trì bảy thụ, nên được làm Đế Thích. Bảy thụ là từ phụng dưỡng cha mẹ cho đến bố thí.
2.23. Nghiệp nhân
Hỏi: Tạo nghiệp gì mà sinh vào sáu đường?
Đáp: Theo luận Trí độ, sinh vào sáu đường không ngoài nghiệp thiện ác. Mỗi nghiệp có ba bậc, thượng thì sinh lên cõi trời, trung thì sinh vào cõi người, hạ thì rơi vào bốn cõi xấu ác còn lại.
Nếu vậy thì chỉ tạo nghiệp thiện bậc thượng, liền được sinh lên cõi trời, không phân biệt tán tám đỉnh tâm hay sao? Nhưng kính Nghiệp bảo sai biệt nói hành thập thiện thì sinh vào cõi trời, nhưng phân ra định tâm, tán tâm và ba cõi khác nhau. Kinh này ghi: “Có pháp thập thiện giúp chúng sinh được quả báo sinh vào trời cõi Dục; tức tu đủ thập thiện tăng thượng thì được báo này; đây là nghiệp tán thiện cõi Dục. Lại có pháp thập thiện giúp chúng sinh được quả báo Sắc giới thiên; tức tu thập thiện hữu lậu tương ứng với định; đây nghiệp định thiện cõi sác. Lại có bốn nghiệp giúp chúng sinh được quả báo Vô Sắc giới thiên:
- Vượt qua tất cả các tưởng về sắc, diệt trừ tất cả tưởng Hữu đối, nhập định Không xứ.
- Vượt qua tất cả định Không xứ, nhập định Thức xứ.
- Vượt qua tất cả định Thức xứ, nhập định Vô sử hữu xứ.
- Vượt qua tất cả định Vô sở hữu xứ, nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Hỏi: Nếu như thế, vì sao cõi này không đề cập đến thập thiện?
Đáp: Nên nói cõi này thuộc về quả báo vô sắc, lìa sắc mà tu, lìa thân và khẩu. Cho nên ở đây chỉ căn cứ vào cõi mà nói bốn nghiệp, chứ không căn cứ theo thập thiện. Nhưng những điều nói trên chỉ tương đương với kinh Phân biệt nghiệp báo và kinh Nhân quả. Nếu căn cứ theo kinh Thiện giới tăng giữ hai trăm năm mươi giới, ni giữ ba trăm bảy mươi tám giới cũng được sinh vào cõi trời. Cho nên luật Tứ phần có bài kệ:

Phần 9

Người trí hộ trì giới
Sẽ được ba niềm vui
Tiếng thơm và lợi dưỡng
Chết được sinh cõi trời.
Ở đây là nói về cõi Dục. Theo kinh Chính pháp niệm xứ, có người do giữ giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm mà được sinh về cõi trời. Đây cũng là sinh vào cõi trời Dục, là ý biệt thời, nhưng không giới hạn chỉ do ba nghiệp thiện này mới được sinh vào đó. Kinh Ôn thất cho rằng tạo nghiệp thanh tịnh cung cấp vật tắm cho tăng cũng được phúc báo sinh vào cõi trời Dục và các cõi trên. Đây cũng thuộc về ý biệt thời, chứ không phải nhờ tán thiện tắm tăng mà liền được sinh lên các cõi trời trên, chỉ là sinh vào trời Dục giới mà thôi.
Kinh Niết-bàn ghi: “Người mẹ nhảy xuống sông Hằng cứu con, nhưng chẳng may mẹ con đều chết chìm, cả hai đều được sinh về cõi trời”. Đây là lòng từ tán tâm, nếu không cỏ các định thiện khác trợ giúp thỉ đâu được sinh về cõi trời. Đây là nói theo nhân xa, không giới hạn từ tán tâm được sinh thiên. Cũng giống như nói: “Chỉ một lần nghe qua kinh Niết-bàn thì không rơi vào đường ác”.
Cho nên kinh Chỉnh pháp niệm ghi: “Nếu thân nghiệp không phạm sát-đạo-dâm, khẩu nghiệp không vọng ngữ, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu thì được sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, cũng được sinh lên cõi Tha Hóa Tự Tại”, ở đây có ba bậc thượng, trung và hạ, nếu giữ giới không sát sinh thì được sinh lên cõi Tứ Thiên Vương. Nếu giữ giới không sát sinh, không trộm cắp thì sinh lên cõi Tam Thập Tam. Nếu giữ giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm thì được sinh lên cõi trời Dạ-ma. Nếu giữ giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ thì được sinh lên cõi trời Đâu-suất. Nếu lãnh thụ giới thế gian, phụng hành giới Phật, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ thì được sinh lên cõi trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại”
Kinh Trường A’hàm ghi: “Lại còn có các Đại thiên thần khác, toàn là những người trước kia đã từng theo Phật tu Phạm hạnh, sau khi mệnh chung, được sinh lên cõi trời Đao-lợi, khiến cho chư thiên ở đó có thêm năm phúc: Tuổi thọ cõi trời, sắc đẹp cõi trời, danh tiếng cõi trời, âm nhạc cõi trời và oai đức trời”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Thời quá khứ, ở Câu-tát-la có một người đánh đàn tên là Thô Ngưu, du hành khắp nước. Một hôm ông dừng nghỉ tại một khu rừng vắng. Bấy giờ, có sáu thiên nữ từ cung trời rộng lớn đến chỗ Thô Ngưu nói: ‘Thưa cậu! Cậu hãy đánh đàn, chúng tôi sẽ ca múa theo’.
Thô Ngưu nói:
- Được! Tôi sẽ đánh đàn. Nhưng các cô là ai, từ đâu đến đây?
Thiên nữ nói:
- Cậu cứ đánh đàn, chúng tôi sẽ ca múa. Lời ca sẽ tự nói lên nhân duyên chúng tôi từ đâu đến đây.
Thô Ngưu gảy đàn, sáu thiên nữ kia liền ca múa theo.
Thiên nữ thứ nhất ca:
Nếu người nam, người nữ,
Bố thí y tốt đẹp
Do nhân duyên thí y,
Nơi sinh được thù thắng.
Bố thí vật mình quí
Theo ý muốn sinh thiên
Thấy cung điện tôi ở,
Nhẹ bay trong hư không
Thân trời như khối vàng
Đứng đầu trong thiên nữ
Xem xét phúc đức này,
Bậc nhất trong hồi hướng.
Thiên nữ thứ hai nói kệ:
Nếu người nam, người nữ,
Bố thí hương thượng hạng
Và vật mình yêu quí
Tùy muốn sinh thiên
Thấy cung điện tôi ở,
Nương hư không nhẹ bay
Thân trời như khói vàng,
Đứng đầu trong thiên nữ.
Xem xét phúc đức này,
Bậc nhất trong hồi hướng.
Thiên nừ thứ ba nói kệ:
Nếu người nam, người nữ,
Bố thí thức uống ăn
Vật mà mình quí mến
Theo ý muốn sinh thiên.
Xem cung điện tôi ở;
Nương hư không nhẹ bay
Thân trời như khối vàng,
Đứng đầu trong thiên nữ.
Xem xét phúc đức này,
Bậc nhất trong hồi hướng.
Thiên nữ thứ tư nói kệ:
Nhớ lại những đời trước,
Từng làm tôi tớ người
Không trộm, không tham ăn,
Siêng tu, không biếng nhác.
Lượng sức tự điều tiết
Chia sớt giúp người nghèo;
Xem cung điện tôi ở,
Nương hư không nhẹ bay.
Thân trời như khối vàng
Đứng đầu trong thiên nữ;
Xem xét phúc đức này
Bậc nhất trong cúng dường.
Thiên nữ thứ năm nói kệ:
Nhớ lại những đời trước
Từng làm vợ cùa người
Mẹ chồng tính hung bạo
Dùng lời lời thô mắng chửi
Vẫn giữ phận làm dâu
Khiêm tốn và vâng thuận
Nhìn cung điện tôi ở
Nương hư không nhẹ bay
Thân trời như khối vàng
Đứng đầu trong thiên nữ.
Xem xét phúc đức này
Bậc nhất trong cúng dường.
Thiên nữ thử sáu nói kệ:
Xưa từng thấy trên đường
Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni;
Liền theo họ nghe pháp
Một đêm giữ trai giới
Xem cung điện tôi ở
Nương hư không nhẹ bay-
Thân trời như khối vàng
Đứng đầu trong thiên nữ
Xem xét phúc đức này,
Bậc nhất trong hồi hướng
Nghe sáu thiên nữ nói xong. Thồ Ngưu nói kệ:
Tôi nay đến đúng lúc
Trong rừng Câu-tát-la
Gặp được các thiên nữ,
Thân trời thật tuyệt vời.
Đã thấy lại được nghe,
Phải tu thêm thiện nghiệp.
Nhờ nay tu công đức,
Cũng sẽ sinh lên trời.
Nói những lời này xong, các thiên nữ liền biến mất.

Phần 10

2.2.4. Thụ sinh
2.2.4.1. Tứ thiên vương thụ sinh
Kinh Trường A-hàm, luận Trí độ đều cho rằng cõi Tứ Thiên Vương có việc cưới gả, hành dục như loài người, nhưng hóa sinh tại đầu gối người mẹ. Lúc mới sinh, chư thiên như đứa bé hai tuổi ở nhân gian, không lâu sau thì biết đói. Bấy giờ bát báu chứa thức ăn ngon tự nhiên hiện đến trước mặt. Nếu vị lưỡi này nhiều phúc thì cơm trong bát có màu trắng, ít phúc hơn thì cơm hiện màu xanh, phúc mỏng thì cơm hiện màu đỏ. Nếu khát thì có chén báu chứa cam lộ tự nhiên hiện đến, màu sắc cũng hiện giống như cơm, uống vào bụng không giữ lại mà liền tan biến toàn thân, giống như bơ ném vào lửa. Ăn uống xong thì thân lượng tự nhiên cao lớn bằng chư thiên. Lúc mới sinh, chư thiên cõi này cũng nhớ được các nghiệp quá khứ, nhưng đần dần về sau, vì vui chơi cho nên quên hết.
2.2.4.2. Chư thiên cõi Đao-lợi thụ sinh
Kinh Ti-da-bà tiên nhân vấn Phật ghi: “Đại tiên nên biết! Chư thiên cõi Ba Mươi Ba dạo chơi trong rừng thấy các vị trời nam nữ cùng ngồi một nơi, lòng vô cùng vui mừng, mong được mau sinh về nơi ấy. Thế là liền sinh vào đó mà không sinh nơi khác, như chỉ xuyên châu, kéo chỉ thì châu liền theo. Khi đó các thiện nữ thấy hoa hiện trong bàn tay của mình, liền biết mình đã có con, liền trao cành hoa này cho chồng và nói: ‘Hôm nay có con, chàng nên vui mừng’. Vị trời nam nghe vậy niềm vui càng tăng, biết rằng vợ mình được con cõi trời. Hai vị trời nam nữ này vô cùng vui mừng, Bảy ngày sau, đồng tử này tóc mọc dài, thân sạch sẽ, không cáu bẩn, mặc y phục cõi trời. Trong bảy ngày sinh về cõi này, vị trời ấy nhớ biết mình từ cõi nào sinh đến đây, cha mẹ là ai, tạo nghiệp thiện gì, vì thế lòng vô cùng vui mừng. Đã vui mừng thì tâm dục sinh, thấy trong cung điện và nơi chư thiên đang vui chơi, liền muốn đến nơi ấy. Thế là như voi say bước đi, vị trời liền đến nơi ấy. Cánh tay vị trời như vòi voi, tròn thon và dài, ngực bằng phẳng. Cánh tay màu vàng ròng, phần trên và dưới thân thì lớn, khoảng giữa thon nhỏ, đi đứng an tường, tâm ý kiên định, mạnh mẽ, hông như cánh cung, lưng ngay thẳng, hai đùi lớn, tròn vả thon như thân cây chuối. Vị trời này biết rõ phép trời, râu ngắn và mượt, tỏa hương trời, móng tay mỏng và hồng, thân thể thơm sạch, không bệnh hoạn, lấy nhũng vật trang sức vô chủ để trang sức thân. Vị trời chậm chậm đi khắp nơi trong cung điện và gặp các thiên nữ vô chủ tại một nơi kia. Các thiên nữ ây thấv vị trời nam trẻ tuổi này liền đến vây quanh vả nói: ‘Ngài đến đây thật quí hóa quá! Đây là cung điện của ngài, chúng tôi đã xa chồng từ lâu, chỉ có con mà thôi, tự ý hiến dâng cho ngài. Chúng tôi còn trẻ, nhan sắc xinh đẹp, hai ngực như bình vàng, mặt như hoa sen vừa nở, đi như mây bay điện chớp, đoan chính đáng ưa. Chúng tôi là thiên nữ, nay đến hầu hạ ngài, để ngài tùy ý sai khiến, đây là nơi vui chơi’. Những thiên nữ như thế đến phụng sự hầu hạ vị trời nam kia.
Cõi trời Ba Mươi Ba có tòa Thiện Pháp, là nơi chư thiên nhóm họp. Tòa nhà này có tám vạn bốn nghìn cây trụ bẳng báu vật. Vào đây sẽ không bị các loài muỗi mòng... cắn đốt, không buồn ngủ, mỏi mệt, biếng trễ, vươn vai, ợ ngáp. Lại có vô lượng trăm nghìn thiên nữ khởi tâm ưa thích cười đúa vui vẻ, không có tâm ganh tị tranh đấu, đôi má sạch đẹp mịn màng, như vầng trăng sáng. Theo cách thức của thiên nữ, họ thường dùng nhiều màu sắc có mùi thơm trang điểm trên trán và đôi má, rồi cùng nhau ca múa vui chơi”.
Kinh Khởi thế ghi: “Các thiên tử, thiên nữ bỗng nhiên từ chỗ ngồi, hoặc giữa hai đầu gối, hoặc giữa hai đùi mà sinh ra các vị trời nam nữ. Nếu là nam thì được sinh từ chỗ ngồi hoặc đầu gối, nếu là nữ thì được sinh ra từ giữa hai đùi của thiên nữ. Vừa sinh ra, các thiên tử thiên nữ ấy liền nói: ‘Đây là con ta! Vị trời vừa sinh ra, do bản nghiệp mà có ba niệm: biết được mình mạng chung ở cõi nào; biết nay đã sinh vào cõi này; biết do vị thiên tử kia sinh, biết đây là nghiệp quả, đây là phúc báo. Sau đó họ nghĩ đến ăn uống, tức thời có bát báu đựng đầy các thức ăn có vị tô-đà nhiều màu tự nhiên hiện đến trước mặt. Nếu vị trời có phúc báu lớn thì vị tô-đà có màu trắng tinh khiết. Nếu phúc bậc trung thì vị tô-đà có màu hơi đỏ, nếu phúc quá mỏng thì vị tô“đà có màu đen. Vị trời dùng tay nắm lấy thức ăn đưa vào miệng, thức ăn liền tiêu hóa, như bơ ném vào lửa chảy tan, không còn gì. Nếu khát thì trước mặt tự nhiên có bình báu đựng rượu trời hiện đến, cũng tùy theo phúc nhiều ít mà màu rượu cũng như trên, khi uống vào miệng, rượu liền tan biến khắp thân cũng như đã nói. Sau khi ăn uống, thân vị trời này cao lớn bằng một vị trời bình thường, có thể tùy ý đi khắp nơi. Khi đến vườn xem cây cối, tự nhiên từ trên cây ấy rủ xuống y phục, chuỗi báu, vòng hoa, thức ăn uống, âm nhạc, vị trời tùy ý lấy dùng. Chư thiên và các thiên nữ trong vườn chưa từng thấy việc này từ trước, hôm nay nghiệp đã chín, nên họ thấy các việc đời trước rõ ràng như trong lòng bàn tay. Do nhìn các thiên nữ, say mê sắc đẹp, nên dần dần mất hết sự thấy biết chân thật, chi đắm trước cảnh dục hiện tại, miệng luôn nói: ‘Đây là ngọc nữ cõi trời ư? Đây là ngọc nữ cõi trời ư? Đó gọi là bị ái dục trói buộc”.
Luận Thuận chính lí ghi: “Lúc mới sinh, thân của chư thiên sáu tầng trời cõi Dục đã mau chóng hoàn hảo và theo thứ tự như đứa bé năm, sáu, bảy, tám, chín, mười tuổi ở nhân gian. Khi mới sinh ra, thân của chư thiên cõi sắc cũng đã hoàn hảo, đầy đủ y phục tốt đẹp. Tất cả thiên chúng đều nói ngôn ? ngữ Trung Ấn Độ thuộc Thiên Trúc; không cần học mà tự nhiên hiểu biết phép tắc ngôn từ”.

Phần 11

2.2.5. Khoảng cách các tầng trời
Kinh Khởi thế ghi: “Nơi chân núi Tu-di có ba bậc trụ xứ của các thần, bậc dưới cùng ngang dọc đều sáu mươi do-tuần, bậc ở giữa ngang dọc bốn mươi do-tuần, bậc trên cùng ngang dọc đều hai mươi do-tuần; mỗi mỗi đều có bảy lớp tường viện vây quanh, trong đó các loài chim phát ra những âm thanh tuyệt diệu. Trong ba bậc này đều có dạ-xoa cư trú. Từ chân núi lên khoảng bốn vạn hai nghìn do-tuần, tại lưng chừng núi thì có cung điện của Tứ thiên vương, đỉnh núỉ có cung điện của Đế Thích, trên Đế Thích là trời Dạ-ma, trên Dạ-ma là trời Đâu-suất, trên Đâu-suất là trời Hóa Lạc, trên Hóa Lạc là trời Tha Hóa Tự Tại, trên Tha Hóa là trời Phạm Thân, dưới Phạm Thân trên Tha Hóa thì có cung điện của La-ma Ba-tuần, trên Phạm Thân là trời Quang Âm, trên Quang Âm là trời Biến Tịnh, trên Biến Tịnh là trời Quảng Quả, trên Quảng Quả là trời Bất Thô, giữa Bất Thô và Quảng Quả là cung điện của trời Vô Tưởng, trên Bất Thô là trời Bất Phiền, trên Bất Phiền là trời Thiện Kiến, trên Thiện Kiến là trời Thiện Hiện, trên Thiện Hiện là Sắc Cứu Cánh tức A-ca-ni-trá, trên A-ca-ni-trá là trời Không Vô Biên, trên Không Vô Biên là trời Thức Vô Biên, trên Thức Vô Biên là Vô Sở Hữu, trên Vô Sở Hữu là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Giới phận như thế, chúng sinh cư trú, hoặc đến hoặc đi, hoặc sinh hoặc diệt, cùng tận bờ mé. Tất cả chúng sinh trong thế giới này, khi sinh già bệnh chết đều an trú trong đó, không thể vượt qua. Đó là thế giới Ta-bà, vô lượng cõi nước ở mười phương thế giới khác cũng như vậy”.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Dưới châu Diêm-phù hai vạn do-tuần là địa ngục Vô gián, dưới một vạn do-tuần là địa ngục thế gian của vua Diêm-ma. Giữa hai địa ngục này còn có các địa ngục khác. Từ Diêm-phù lên bốn vạn do-tuần là trụ xứ của trời Tứ Thiên Vương, lên tám vạn do-tuần là trời Ba Mươi Ba, lên mười sáu vạn do-tuần là trời Dạ-ma, lên ba ức hai vạn do-tuần là trời Đâu-suất, lên sáu ức bốn vạn là trời Hóa Lạc, lên mười hai ức tám vạn do-tuần là trời Tha Hóa Tự Tại.
Có một vị tỉ-kheo hỏi Đức Phật:
- Bạch Thế Tôn! Từ cõi Diêm-phù-đề đến Phạm xứ cách xa hao nhiêu?
Này tì-kheo! Từ đây đến đó, thật rất cao rất xa, thí như vào ngày rằm tháng chín, mặt trăng tròn đầy, có một người đứng ở Phạm xứ buông một tảng đá trăm trượng vuông xuống cõi dưới, không có gì chướng ngại thì qua rằm tháng chín năm sau. tảng đá ấy mới rơi xuống cõi Diêm-phù. Sau đó theo thứ tự khoảng cảch từ Phạm xứ đến trời Vô Lượng Ọuang gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Vô Lượng Quang đến trời Biến Thắng gấp đôi đoạn truớc. Khoảng cách từ trời Biến Thắng đến Thiều Tịnh gấp đôi đoạn trước, khoảng cách từ trời Thiều Tịnh đến Vô Lượng Tịnh gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Vô Lượng Tịnh đến Biến Tịnh gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Biến Tịnh đên Vô Vân gấp đôi đoạn trước Khoảng cách từ trời Vô Vân đến Phúc Sinh gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Phúc Sinh đến Quảng Quả gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Quảng Quả đến Vô Tưởng gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Vô Tưởng đến Thiện Hiện gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Thiện Hiện đến Thiện Kiến gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Thiện Kiến đến Bất Phiền gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Bất Phiền đến Bất Thiêu gấp đôi đoạn trước. Khoảng cách từ trời Bất Thiêu đến Sắc Cứu Cánh gấp đôi đoạn trước. Đức Phật nói kệ
Từ cõi Sắc Cứu Cánh
Xuống đến Diêm Phù Đề
Buông một tòa núi lớn
Không có gì chướng ngại
Qua sáu vạn năm nghìn
Năm trăm băm lăm năm
Mới chạm đến diêm phù
Luận Trí độ ghi: “từ danh giới thấp nhất của cõi Sắc buông tảng đá lớn một trượng vuông, trải qua một vạm tám nghìn ba trăm tám mươi ba năm mới đến mặt đất cõi diêm phù.

buddha-Myanmar

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục