PUCL QUYỂN 8 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
29/10/2015
QUYỂN 8 Quyển này cỏ một chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT 5.1. THẤT PHẬT 5.1.1. Lời dẫn Từng nghe: Chín cõi chẳng đồng, bốn loài sai khác, việc ác dễ nhiễm, nghiệp tuệ khó thành. Chúng sinh từ lâu trôi nổi nơi sôn...

QUYỂN 8
Quyển này cỏ một chương Thiên Phật.
5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT
Từ khi Thích Tôn chuyển pháp luân ở vườn Nai, nhập niết-bàn cạnh dỏng Kim hà, đều là những minh chứng đê chúng sinh thời Tượng pháp qui hướng. Tuy dấu tích của nghìn Đức Phật khác nhau, nhưng cùng đồng nhất trí, bình đẳng đại bi; luôn tùy theo tính dục của chúng sinh mà làm lợi ích, dùng nguyện rộng lớn để trang nghiêm, vận thuyền từ cứu người chìm đắm. Chúng sinh có cảm thì cơ duyên nhất định khế hợp.
5.1.2. Thời gian Phật xuất thế
* Lời bàn
Nay chia kiếp Hiền thành bốn thời: thành, trụ, hoại, không. Trong bốn thời này, kiếp thành đã qua, kiêp hoại, kiếp không chưa đến. Nay đang ở kiếp trụ, nên có nghìn Phật xuất hiện.
Nói khái quát thì có ba Đức Phật đã qua, nay là thời giáo pháp của vị Phật thứ tư là Đức Thích Tôn. Trong bốn thời này, mỗi thời phân thành hai mươi tiểu kiếp, tổng cộng là tám mươi tiểu kiếp. Khời đầu là một đại kiếp thủy hỏa, là kiếp Hiền, chính là hai mươi tiểu kiếp trong kiếp trụ.
Luận Lập thế A-tì-đàm ghi: “Mười một tiểu kiếp ở vị lai, tám kiếp ở quá khứ, nay Đức Thích-ca Mâu-ni thành Phật trong tiểu kiếp thứ chín”.
Hỏi: Trong kiếp Hiền, tại sao ba kiếp thành, hoại, không chẳng có Phật xuất thế mà chỉ ở kiếp trụ Phật mới xuất thế? Chỉ trong mười một tiểu kiếp vị lai thuộc kiếp trụ này, vì sao có đến chín trăm chín mươi sáu Phật đồng thời ra đời?
Đáp: Đúng như lời ông hỏi, xưa nay nói về việc chư Phật xuất thế cũng có chút trở ngại này và cũng hơi khó khi dung hợp ý nghĩa. Nay căn cứ vào các kinh Dược Vương Dược Thượng, kinh Phật danh... mà biết khái quát thứ tự xuất thế của các Đức Phật. Trước sẽ dẫn chứng văn kinh Dược Vương Dược Thượng, sau dẫn kinh Phật danh và cuối cùng là dung hội các ý.
Kiếp có dài, ngắn khác nhau, do đó kinh Dược Vương Dược Thượng ghi: “Bấy giờ, Phật Thích-ca Mâu-ni bảo đại chúng:
- Vô số kiếp trước, Ta từng xuất gia học đạo trong thời mạt pháp của Phật Diệu Quang. Sau khi được nghe năm mươi ba danh hiệu Đửc Phật, Ta sinh tâm vui mừng, chắp tay cung kính, lại nói cho người khác nghe và thụ trì. Người ấy nghe rồi lại tiếp tục dạy người khác, dần dần được ba nghìn người. Tất cả đồng xướng ‘nhất tâm kính lễ”. Nhờ công đức này, những người ấy đều tiêu trừ tôi chướng trong vô số ức kiếp sinh tử.
Một nghìn vị Phật thứ nhất, đầu tiên là Phật Hoa Quang cho đên cuối cùng là Phật Tì-xá-phù thành tựu Phật quả ở kiếp Trang Nghiêm, cũng chính là nghìn vị Phật trong quá khứ. Một nghìn vị Phật tiếp theo, đầu tiên là Phật Câu-lưu-tôn và cuối cùng là Lâu-chí Như Lai thành Phật trong kiếp Hiền ở hiện tại. Một nghìn vị Phật sau cùng, đầu tiên là Nhật Quang Như Lai và cuối cùng là Phật Tu-di Tướng thành Phật quả trong kiếp Tinh Tú ở vị lai”.
Theo kinh Phật danh, chín mươi mốt kiếp quá khứ có Phật Tì-bà-thi Như Lai xuất thế, ba mươi kiếp quá khứ có Phật Thi-khí Như Lai xuất thế. ở kiếp Hiền này lại có Phật Tì-xá-phù Như Lai xuất thế.
- Chín mươi mốt kiếp này là đại hay là tiểu kiếp?
Đáp: Là đại kiếp.
Hỏi: Vì sao biết?
Đáp: Luận Cựu Bà-sa ghi: “Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni khi còn ở giai vị tu nhân thời Phật Tì-bà-thi, Ngài đã tu nhân tướng hảo, đến kiếp thứ chín của kiếp trụ này là trải qua chín mươi mốt đại kiếp”. Luận Cựu Câu-xághi: “Bồ-tát Thích-ca nhờ tinh tiến lễ Phật Đề-sa mà viên mãn quả Phật trước chínđại kiếp”. Vậy chín mươi mốt kiếp lẽ nào chẳng phải là đại kiếp?
Lại kinh Dược Vương Dược Thượng ghi: “Kiếp Trang Nghiêm, kiếp Hiền, kiếp Tinh Tú mỗi kiếp đều có một nghìn vị Phật xuất thế”. Như vậy biết được kiếp này cũng là đại a-tăng-kì kiếp.
Kinh còn ghi: “Nếu thiện nam, thiện nữ cùng hết thảy chúng sinh nghe được danh hiệu của năm mươi ba vị Phật, thì trong trăm vạn ức a-tăng-kì kiếp không đọa vào ác đạo”. Theo đây mà xét thì kiếp Trang Nghiêm, kiếp Hiền, kiếp Tinh Tú đều có một nghìn vị Phật xuất thế; cho nên biết ở đây đã vượt qua a-tăng-kì đại kiếp. Đến nay kiếp Hiền có bốn Đức Phật đã xuất thế cũng là a-tăng-kì kiếp, chứ chẳng phải là tiểu kiếp thuộc kiếp trụ. Đã là Đại kiếp nên nghìn Đức Phật xuất thế trong kiếp Hiền là điều chẳng còn nghi gì nữa.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Chín mươi mốt kiếp quá khứ, Phật Tì-bà-thi xuất thế. Ba mươi mốt kiếp quá khứ lại có Phật Thi-khí xuất thế. Ba mươi mốt kiếp quá khứ lại có Phật Tì-xá-phù xuất thế”. Phật Thi-khí và Phật Tì-xá-phù đối chiếu với kinh Phật danh cũng không khác, tức là ở trong kiếp Hiền có hai vị Phật xuất thế. Hoặc cho rằng khi phiên dịch kinh A-hàm đã dịch thiếu câu ba mươi mốt kiếp này.
Lại có thuyết giải thích: Căn cứ vào luận Lập thế A-tì-đàm thì tám kiếp quá khứ trong hai mươi kiếp trụ đã có ba Đức Phật xuất thế, Đức Phật Thích-ca xuất thế ngay trong kiếp thứ chín hiện tại. Như thế, chín kiếp đã qua có bốn Đức Phật xuất thế; vậy còn mười một kiếp ở vị lai sẽ không có nhiều Phật xuất thế sao? Nên kinh nói hoặc ở trong một kiếp có vô lượng Phật xuất thế, hoặc trong vô số kiếp mà chẳng có một vị Phật xuất thế. Từ đó suy ra, dù là tiểu kiếp, nhưng có nhiều Phật xuất thế thì cũng không trở ngại gì. Bởi căn cơ chúng sinh có thượng hạ, nên cảm được gặp Phật chẳng đồng.
* Lời bàn
Phạm vi giáo hóa của nghìn Đức Phật xuất thế ờ kiếp Hiền này bao trùm tam thiên đại thiên thế giới, trụ xứ của các Ngài tại trung ương. Vì Phật là người giáo hóa, tâm thật hư trung; người được giáo hóa, nơi chốn giáo hóa cũng đều “trung” nên ờ đó có tòa Kim cương; nơi khác không có như vậy, nên Phật không cư trú.
Kinh Thụy ứng ghi: “Cõi này nằm ở trung ương của ba nghìn mặt trời mặt trăng và một vạn hai nghìn thế giới. Oai thần của Phật rất lớn nên chẳng sinh biên địa, nếu Phật ở biên địa thì trái đất sẽ bị nghiêng lệch. Thế nên xưa nay Phật đều xuất thế ờ cõi này”. Chúng sinh đồng một tâm cảm này, nên có thể lấy đây làm minh chứng.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Chín mươi mốt kiếp quá khứ có Phật Tì-bà-thi xuất thế, tuổi thọ của con người bấy giờ là tám vạn năm. Lại ba mươi mốt kiếp quá khứ có Phật Thi-khí xuất thế, tuổi thọ của con người lúc ấy là bảy vạn năm. Lại ba mươi mốt kiếp quá khứ có Phật Tì-xá-phù xuất thế, tuổi thọ của con người lúc ấy là sáu vạn năm. Lại trong kiếp Hiền thời quá khứ có Phật Câu-lâu-tôn xuất thế, tuổi thọ của con người lúc ấy là năm vạn năm. Trong kiếp Hiền có Phật Câu-na-hàm xuất thế, tuổi thọ của con người lúc ấy là bốn vạn năm. Lại trong kiếp Hiền có Phật Ca-diếp xuất thế, tuổi thọ của con người lúc ấy là hai vạn năm. Ta nay xuất thế, tuổi thọ của con người là một trăm năm, tuổi thọ còn lại rất ngắn”.
Luận Trí độ và luận Ca-diên ghi: “Khi tuổi thọ con người còn một vạn năm, Phật Thích-ca không xuất thế. Đó là vì chư Phật quán chúng sinh từ một vạn tuổi về sau không có cơ duyên được độ. Đến khi tuổi thọ con người còn lại một trăm năm, chúng sinh gặp phải các khổ bức bách, kiếp sắp tận, nên Phật xuất thế”. Do đó luận nói: “Kiếp sắp tận thì Phật xuất thế, kiếp vừa mới hình thành thì Chuyển luân vương xuất hiện”. Hai việc ấy khác nhau, sẽ nói rõ trong chương Luân vương ở sau.
5.13. Họ và tên
Kinh Tăng nhất A-hàm và kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự ghi: “Thứ nhất Phật Duy-vệ, thứ hai Phật Thức-khí, thứ ba Phật Tùy-diếp, ba vị Phật nàycùng họ Câu-lâu; thứ tư Phật Câu-lâu-tần, thứ năm Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, thứ sáu Phật Ca-diếp ba vị Phật này cùng họ Ca-diếp; nay thứ bảy Phật Thích-ca Mâu-ni họ Cù-đàm.
5.1.4. Giai cấp
Phật Duy-vệ, Phật Thức-khí, Phật Tùy-diệp vị Phật này cùng thuộc dòng Sát-đế-lợi. Phật Câu-lâu-tân, Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, Phật Ca-diếp đề là dòng Ba-la-môn; còn ta, Phật Thích-ca Vẫn là dòng Sát-đế-lợi.
Phật Duy-vệ, cha là Bàn-biểu Sát-lợi vương, mẹ là Bàn-đầu-mạt-đà, cai trị nước Sát-mạt-đề.
Phật Thức-khí, cha là A-luân-noa Sát-lợi vương, mẹ là Ba-la-ha-việt-đề, cai trị nước A-lâu-na-hòa-đề.
Phật Tùy-diếp, cha là Tu-ba-la-đề-hòa Sát-lơi vương, mẹ là Da-xá-việt-đề, trị nước A-nậu-ưu-ma.
Phật Câu-lâu-tần, cha là A-chi-đạt-đâu, dòng Bà-la-môn, mẹ là Tùy-xá-ca ờ nước Luân-ha-lợi-đề-na do vua Tu-ha-đề cai trị.
Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, cha là Da-thiểm-bát-đa, dòng Bà-la-môn, mẹ là uất-đa-la, ở nước Sai-ma-việt-đề, do vua Sai-ma cai trị.
Phật Ca Diếp, cha tên A-chi-đạt-đa, dòng Bà-la-môn, mẹ tên Đàn-na-việt-đề-da, ở nước Ba-la-tư do vua Kỳ-tùy cai trị
Nay ta là Phật Thích-ca Văn, cha tên là Duyệt-đầu-đàn, dòng Sát-đế-lợi, mẹ tên Ma-ha-ma-da, cai trị nước Ca-duy-la-vệ, tổ phụ là đại vương Bà-đề
Tóm lại có bốn giai cấp; Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Tì-xá, Thủ-đà, hai giai cấp sau thấp hèn, chẳng phải là nơi để bậc thượng tôn thác sinh. Hai giai cấp đầu cao quí, chính là nơi đấng chính giác thác sinh. Bà-la-môn đức hạnh thanh cao, Sát-đế-lợi uy quyền và ân đức trùm khắp. Luận Trí độ nói “tùy theo từng thời đại thích hợp mà chư Phật chọn một trong hai giai cấp đó để gá sinh. Đức Phật-thíc-ca xuất thế gắp đời ác năm trược, chúng sinh cang cường nên thác sinh vào vương tộc uy quyền. Phật Ca-diếp xuất thế gặp thời thuần thiện nên thác sinh dòng Tịnh hạnh để nêu cau tri đức”
5.1.5 Cội cây đắc đạo
Phật Duy-vệ đặc đạo nơi cội cây Ba-đà-la
Phật Thức-khí đắc đạo nơi cội cây Phân-đồ-lợi
Phật Tùy-diếp đặc đạo nơi cội cây Bồ-tát-la
Phật Câu-lâu-tần đặc đạo nơi cội cây Tư-lợi
Phật Câu-la-hàm Mâu-ni đắc đạo nơi cội cây Ô-tạm
Phật Ca-diếp đặc đạo nơi cội cây Câu-loại
Phật Thích-ca Mâu-ni đắc đạo nơi cội cây A-bái-đa-la.
Gấm vóc lụa là, nhà cửa khang trang chẳng phải là chỗ người xuất gia gá nương; bóng tùng che mát, nệm cỏ lót ngồi ấy là thanh qui để vào đạo. Vì sao? Vì thế tục quí tiếc hình hài, nên dựng nhà đẹp để dưỡng thân, đạo nhân cho rằng nhà cửa là vướng lụy, nên vứt bỏ. Bậc thức giả trong thiên hạ, có ai không học mà biết! Nhưng bậc Điều Ngự sư của ta được gọi là Sinh trí, từ sơ sinh, thành đạo, thuyết pháp, niết-bàn, đều ở gốc cây, chính là nghĩa này. Như thế, nếu có người xuống tóc, từ quan, bỏ cuộc sống vinh hoa, xuất gia tu đạo, há không một lòng ngưỡng mộ sao?
5.1.6. Ánh sáng thân Phật
Như kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Thân Đức Phật Tỳ-bà-thi cao sáu mươi do-tuần, viên quang rộng một trăm hai mươi do-tuần. Thân đức Phật Thi-khí cao bốn mươi do-tuần, viên quang rộng bốn mươi lảm do-tuần, ánh sáng toàn thân tỏa rộng một trăm do-tuần. Thân đức Phật Tỳ-xá-bà cao ba mươi hai do-tuần, viên quang rộng bốn mươi hai do-tuần, ánh sáng toàn thân tỏa rộng sáu mươi hai do tuần. Thân đức Phật Câu-lưu-tôn cao hai mươi lăm do-tuần, viên quang ba mươi hai do-tuần, ánh sáng toàn thân tỏa rộng năm mươi do-tuần. Thân đức Phật Câu-na-hàm-mâu-ni cao hai mươi lăm do-tuần, viên quang ba mươi do-tuần, ánh sáng toàn thân tỏa rộng bôn mươi do-tuân. Thân đức Phật Ca-diếp cao mười sáu trượng, viên quang rộng hai mươi do-tuần. Thân đức Phật Thích-ca Mâu-ni cao trượng sáu, viên quang bảy thước. Thân của bảy vị Phật đều màu vàng ròng”.
Kính nghĩ: Pháp thân Phật bình đẳng không có hơn kém, chỉ theo căn cơ nghiệp quả của chúng sinh khác nhau mà hỏa hiện chẳng đồng. Thế nên Đức Phật Thích-ca Mâu-ni hiện thân vàng ròng mà nghìn vị tì-kheo đều thấy là màu nâu, mười sáu ưu-bà-tắc lại thấy màu tro. Đó là do tự họ thấy khác chứ Phật vẫn là một, như thế mà cho ràng không có cảm hiện sao?
Kinh Di-Iặc hạ sinh ghi: “Thân Phật cao nghìn thước, viên quang rộng hai mươi trượng”.
5.1.7. Các hội thuyết pháp
Phật Duy-vệ thuyết pháp ba hội, hội thứ nhất có mười vạn tì-kheo đác quả A-la-hán. Hội thứ hai có ; chín vạn tì-kheo đắc quà A-la-hản. Hội thứ ba có tám vạn tì-kheo đắc quả A-la-hán.
Phật Thi-khí cũng thuyết pháp ba hội. Hội thứ nhất có chín vạn tì-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thứhai có tám vạn ti-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thứ ba có bảy vạn ti-kheo đắc quả A-la-hán
Phật Tùy-diếp thuyết pháp hai hội, hội đầu có bảy vạn tì-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thứ hai có sáu vạn tì-kheo đắc quả A-Ia-hán.
Phật Câu-lâu-tần thuyết pháp một hội, có bốn vạn tì-kheo đắc quả A-la-hán.
Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thuyết pháp một hội, có ba vạn tì-kheo đắc quả A-la-hán.
Phật Ca-diếp thuyết pháp một hội, có hai van tỳ kheo đắc quả A-la-hán.
Nay ta Thích-ca Mâu-ni Phật thuyết pháp một hội, có một nghìn hai trăm năm mươi vị tì-kheo đác quả A-la-hán.
* Lời bàn
Phần trên là các kinh Tiểu thừa trình bày số người mà bảy Đức Phật thuyết pháp hóa độ. Lúc mới thành đạo, Như Lai giáo hóa ngoại đạo bỏ tà vê chính, lấy các đệ tử Thanh văn làm người thân cận, nên nêu số lượng như thế. Nếu căn cứ vào một đời Như Lai thuyết pháp hóa độ ba thừa, thì có vô số người được vào đạo, không thế tính kể. Cho nên pháp sư Huyền Trang nói: “Theo Tây vực, thì một đời thuyết pháp của Phật Thích-ca gồm có ba thời:
Thời thứ nhất, Ngài nói pháp hữu tướng cho các thanh văn, phá tà chấp ngoại đạo khiến họ được khai ngộ đắc đạo.
Thời thứ hai, Ngài thuyết pháp vô tướng cho hàng bồ-tát tiểu hạnh, phá chấp cho Thanh văn, khiến họ ngộ pháp vô tướng của Đại thừa.
Thời thứ ba, Ngài thuyết pháp hữu tướng vô tướng cho hàng bồ-tát đại hạnh, phá chấp hữu tướng và vô tướng, khiến ngộ trung đạo cứu cánh viên giáo.
Như thế ba thời, mỗi mỗi tùy cơ mà hóa độ vô lượng người, hoặc đệ tử của Ngài sau khi đắc đạo lại tiếp tục hóa độ. Nên số đệ tử ba thừa nghe pháp đắc đạo nhiều như bụi, không thể diễn đạt trong một câu văn , không thể giới hạn trong một nghĩa.
5.1.8. Đệ tử
Kinh A-hàm ghi: “Phật Tỳ-bà-thi cỏ hai đệ tử là Khiên-đồ và Đề-xá. Phật Thi-khí có hai đệ tử là A-tỳ-phù và Tam-bà-bà. Phật Tỳ-xá-bà có hai đệ tử là Phù-du và uất-đa-ma. Phật Câu-lâu-tôn có hai đệ tử là Tát-ni và Tỳ-lâu. Phật Câu-na-hàm cỏ hai đệ tử làưu-ba-tiển-la và uất-đa-lâu. Phật Ca-diếp có hai đệ tử là Đề-xá và Bà-la-bà. Còn ta cũng có hai đệ tử la Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên.
Phật Tỳ-bà-thi có đệ tử thị giả tên Vô ưu. Phât Thi-khí đệ tử thị giả tên Nhẫn Hạnh. Phật Tỳ-xá-bà có đệ tử thị giả tên Tịch Diệt. Phật Câu-lưu-tôn có đệ tử thị giả tên Thiện Giác. Phật Câu-na-hàm có đệ tử thị giả tên An Hòa. Phật Ca-diếp có đệ tử thị giả Thiện Hữu. Còn ta có đệ tử thị giả tên A-nan.
Phật Tỳ-bà-thi có một người con tên Phương Ưng. Phật Thi-khí có một người con tên Vô Lượng. Phật Tỳ-xá-bà có một người con tên Diệu Giác. Phật Câu-lâu-tôn có một người con tên Thượng Thắng. Phật Câu-na-hàm có một người con tên Đạo Sư. Nay ta cũng có một người con tên La-hầu-la”.
5.1.9. Lâu mau
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Sau khi Phật Tỳ-bà-thi nhập diệt, chính pháp trụ thế hai mươi nghìn năm. Sau khi Phật Thần-văn nhập diệt, chính pháp trụ thế qua sáu mươi nghìn năm. Sau khi Phật Câu-lâu-tôn-đà Như Lai, chính pháp trụ thế năm trăm năm. Sau khi Phật Câu-na-hàm Mâu-ni nhập diệt chính pháp trụ thế hai mươi chín ngày. Sau khi Phật Ca-diếp nhập diệt, chính pháp trụ thế bảy ngày. Sau khi Phật Thích-ca Như Lai nhập diệt, chính pháp trụthế năm trăm năm, thời tượng pháp trụ thế cũng năm trăm năm.
5.2. NHÂN DUYÊN
5.2.1. Lời dẫn
Nghìn Phật phóng ánh sáng, vạn linh được chiếu soi, xét căn cơ để giáo hóa, là ân lớn của đấng Chí tôn. Vì thế thánh nhân dạy điều phúc, khuyên làm lành, chỉ điều họa, răn việc ác. Hàng phàm phu cho điều thiện là vô ích mà không làm, cho điều ác là không hại nên chẳng bỏ. Song có kẻ cho có họa có phúc là hư dối, nói không ích không hại thì thật có bằng chứng. Vì thế bậc Đại thánh thương xót những kẻ ngu si ấy mà lập sáu độ mong tiếp dẫn bốn loài, giảng hai đế để trừ độc cho ba cõi, rủ lòng từ vô lượng, ứng nhân duyên nơi kiếp Hiền.
5.2.2. Dẫn chứng
Kinh Ngũ tiên nhân ghi: “Vô số kiếp xa xưa, có năm tiên nhân trú tại một vùng sơn dã. Trong đó có một vị siêng năng hầu hạ bốn vị khác chưa từng biếng trễ. Một hôm, tiên nhân đi hái quả ở xa về quá giờ ngọ, vì quá bữa nên bốn vị kia giận dữ nguyền rủa. Do lời nguyên rủa ấy, vị tiên nhân này chết. Sau khi chết tiên nhân sinh làm người. Có thầy tướng đoán đứa bé ấy sau này làm vua. Đúng như thế, vua ấy chính là tiền thân của ta, bốn vị tiên nhân kia là Phật Câu-lưu-tần, Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, PhậtCa-diếp và Phật Di-lặc. Vị Phạm chí đoán tướng chính là Điều-đạt”.
Luận Trỉ độ ghi: “Vào kiếp tận, lửa đốt cháy tất cả, khiến thế gian trống rỗng. Sau đó do phúc lực của chúng sinh nên gió từ mười phương thổi đến thế giới này. Gió xung đột nhau, kiềm chế nhau, nâng giữ một lượng nước lớn. Trên mặt nước có một người nghìn đầu, hai nghìn tay và chân gọi là Vi-nữu thiên. Từ rốn vị này xuất hiện một đóa hoa nghìn cánh sắc vàng, hào quang chói sáng như vạn mặt trời hội tụ. Trong hoa có người ngồi kiết già, phóng ra vô lượng ánh sáng, đó chính là Đại Phạm vương. Từ tim của Đại Phạm vương sinh ra tám người con, tám người con này sinh ra đất trời và loài người. Do Đại Phạm vương ngồi trên tòa sen, nên chư Phật thuận theo thế tục, cũng ngồi kiết già trên hoa sen báu mà nói sáu pháp ba-la-mật”.
Kinh Đại bi ghi: “Phật bảo A-nan:
- Vì sao gọi là kiếp Hiền? Lúc kiếp sắp thành, tam thiên đại thiên thế giới này toàn là nước. Bấy giờ, trời Tịnh Cư dùng thiên nhãn xem thế giới này chỉ toàn là nước, lại thấy một nghìn đóa sen, mỗi một hoa sen đều có nghìn cánh, màu vàng, ánh sáng vàng chiếu rực rỡ, hương thơm lan tỏa đáng ưa. Thấy thế, trời Tịnh Cư rất vui mừng, ca ngợi là việc chưa tửng có, biết chắc trong kiếp ấy sẽ có nghìn Phật xuất
hiện ở đời. Vì nhân duyên như thế nên gọi kiếp này là Hiền. Sau khi ta diệt độ trong kiếp Hiền sẽ có chín trăm chín mươi sáu vị Phật xuất hiện ở đời. Trong một nghìn vị Phật xuất hiện ở kiếp Hiền, Phật Câu-lưu-tôn là đầu tiên, Ta là thứ tư, kế ta là Di-lặc cho đến cuối cùng là Lô-già Như Lai, thứ tự như thế ông cần phải biết”.
5.2.3. Nghiệp nhân
Kinh Thiên Phật nhân duyên ghi: “Khi Thế Tôn ở núi Kì-xà-quật thuộc thành Vương Xá, Ngài từ thạch thất đi ra hỏi A-nan:
- Các thanh văn và các bồ-tát đang bàn luận gì thế?
A-nan bạch Phật:
- Thế Tôn, mỗi bồ-tát tự nói nhân duyên đời trước của mình.
Lúc ấy, bồ-tát Bạt-đà-bà-la bạch Phật:
- Hôm nay con có một vấn đề nhỏ muốn hỏi Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy!
Lúc bồ-tát này nói như thế, có tám vạn bốn nghìn bồ-tát cởi chuỗi báu rải cúng dường Phật, tất cả những chuỗi báu đều tụ lại phía trên đỉnh đầu của Phật, như ngọn núi Tu-di, trông rất đẹp. Lại có nghìn hóa Phật ngồi ở trong hang núi. Bấy giờ, các bồ-tát bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Nghìn vị Phật ở kiếp Hiền vào thời quá khứ đã gieo trồng công đức gì mà thường sinh vào một cõi, chung một nhà và trong một kiếp mà lần lượt thành tựu bồ-đề, hóa độ chúng sinh?
Thế Tôn dạy:
- Nay Ta sẽ nói rõ cho các ông nghe! Vào kiếp Đại Bảo ở quá khứ lâu xa cách nay hơn vô lượng trăm nghìn vạn ức a-tăng-kì kiếp, thế giới này gọi lả Đại Trang Nghiêm, giáo chủ là Phật Bảo Đăng Diệm Vượng Như Lai. Đức Phật thọ nửa kiếp, chính pháp trụ thể một kiếp, tượng pháp trụ thế hai kiếp. Trong thời tượng pháp, vua Quang Đức dùng mười điều lành hóa độ nhân dân như chuyển luân thánh vương, dạy dân chúng tụng kinh Tì-đà. Lúc ấy trong lớp học có một nghìn đồng tử khoảng tuổi mười lăm, thông minh hiểu rộng. Khi nghe các tì-kheo ca ngợi Phật, pháp, tăng, đồng tử Liên Hoa Đức thưa tì-kheo Thiện Xưng:
- Thế nào gọi là Phật, pháp, tăng?
Ti-kheođáp:
Đầy đủ ba-la-mật
Tính tịnh, tuệ giác ngộ
Thành tựu tâm bồ-đề
Nên có hiệu là Phật.
Thanh tịnh, tính không nhiễm
Vĩnh viễn lìa thế gian
Quán năm ấm vô thường
Nên gọi đó là pháp.
Thân tâm thường vô vi
Đoạn dứt bốn thứ thực
Là ruộng phúc cho đời
Nên gọi tì-kheo tăng.
Một nghìn đồng tử nghe đến tên Tam bảo liền mang hương hoa theo tì-kheo vào tháp lễ bái. Thấy tượng Phật, các vị đồng tử nằm vóc sát đât lạy Phật rồi phát nguyện lớn: ‘Nguyện chúng con trải qua số kiếp nhất định thành tựu A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề như Thế Tôn ngày nay’.
Các đồng tử này tuy thọ mạng dài ngắn khác nhau, nhưng nhờ duyên lành nghe tên Tam bảo, nên trừ dược nghiệp sinh tử trong năm mươi mốt kiêp. Sau khi mạng chung, các đồng tử này sinh vào cõi Phạm Thế, đều nhớ được kiếp quá khứ nhờ nghe Tam bảo mà nay sinh thiên. Bấy giờ, một nghìn vị Phạm vương đều cỡi cung điện của mình và mang hoa bảy báu đến cúng dường tượng tháp, dùng kệ tán thán:
Đấng Tuệ Nhật danh vang
Thường trụ cõi thiện tịch
Nghe danh trừ các ác
Tự nhiên sinh Phạm Thế
Con nay thành kính lễ
Qui y Đại Giải Thoát.
Nói kệ xong, họ trở về cõi Phạm. Bạt-đà-bà-la! Ông nên biết, vị quốc vương giáo hóa mười điều thiện cho dân chúng lúc ấy chính là Tý-bà-thi Như Lai đã thành Phật từ lâu, tì-kheo Thiện Xưng là Thi-khí Như Lai, một nghìn đồng tử lúc ấy nay là Phật Câu-lâu-tần cho đến sau cùng là Lâu-chí Như Lai. Ta cùng một nghìn bồ-tát kiếp Hiền nghe tên Tam bảo từ chỗ Phật ấy, mới phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
Phật bảo bồ-tát Tu-bạt-đà-la:
- Vô số a-tăng-kì kiếp về thuở quá khứ, vua Phạm Đức nước Ba-la-nại ở thế giới Ta-bà dùng mười điều thiện giáo hóa dân chúng. Sau đó, vua giao đất nước cho con, xuất gia học đạo, chứng quả Bích-chi phật, bay lên hư không hiện mười tám món thần biến. Lúc ấy, một nghìn Phạm vương dùng khăn vắt vai chứa hoa đẹp đến rừng Ưu-đàm cúng dường, rồi thưa: ‘Đại đức! Xin Ngài hãy nói pháp cho chúng con nghe!’.
Bấy giờ vị bích-chi phật bay lên hư không, hiện mười tám món thần biến, như duỗi tay, hiện chân... Lúc ấy, Phạm vương Tuệ Kiến nói với các vị khác: ‘Tôi thấy bích-chi phật thụ trì năm giới, nay chúng ta dùng pháp trai giới thực hành mười điều thiện và quán lí duyên khởi, rồi hồi hướng căn lành này về A-nậu Bồ-đề sâu xa vi diệu. Nguyện khi thành Phật, hơn hẳn vị bích-chi phật này trăm nghìn vạn ức lần’.
Sau khi mạng chung một nghìn Phạm vương thác sinh làm một nghìn vị chuyển luân thánh vương ở một nghìn tứ thiên hạ tại thế giới Ta-bà, thọ mạng tám vạn bốn nghìn tuổi. Bấy giờ, trong Tuyết sơn có một bà-la-môn thông minh trí tuệ, thọ mạng nửa kiếp. Trước đây ông từng nghe Phật quá khứ là Chiên-đàn Trang Nghiêm Như Lai nói về đàn-ba-la-mật sâu xa vi diệu là không thấy có người cho và người nhận, tâm hành bình đẳng. Do đó ông liền đến chỗ của một nghìn Chuyển luân vương ca ngợi về pháp bố thí. Thế là một nghìn vị này giao đất nước lại cho thái tử rồi xuất gia học đạo. Mỗi vị lập một am cỏ ở Tuyết sơn tu tập cầu đạo vô
thượng. Họ chứng được năm thứ thần thông, có thể bay lên hư không, thọ mạng một kiếp.
Lúc ấy, trong Tuyết sơn có một đại quỉ dạ-xoa thân cao bốn nghìn dặm, răng nhọn chĩa lên cao tám mươi dặm, mặt mười hai dặm, măt phóng ánh sáng màu huyết như nước đồng nung cháy, tay trái cầm kiếm, tay phải cầm chĩa, đứng trước các vị Chuyển luân thánh vương, cất cao giọng:
- Nay ta đói khát, không có thức ăn, mong các vị mở lòng thí cho một ít thức ăn!
Một nghìn thánh vương bảo dạ-xoa:
- Chúng tôi thệ nguyện bố thí tất cả.
Thế rồi, mỗi vị đều lấy nước rửa tay cho dạ xoa, và bố thí hoa quả cho dạ-xoa ăn. Dạ-xoa giận dữ ném trái cây xuống đất, bảo các thánh vương:
- Cha ta là dạ-xoa chuyên ăn tinh khí của người, mẹ ta là la-sát thường ăn tim và uống máu nóng của người. Ta rất đói, chỉ cần tim và máu người, đâu cần trái cây!
Một nghìn thánh vương bảo dạ-xoa:
- Không có vật gì khó xả hơn xả thân này. Vì thế, chúng tôi không thể cho ông tim được.
Bấy giờ, dạ-xoa bèn nói kệ:
Quán tâm không tướng tâm
Do bốn đại tạo thành
Có thể bỏ tất cả
Mới đúng hạnh Bồ-tát.
Có một bà-la-môn ở trong núi Tuyết tên là Lao-dộ-bạt-đề thưa dạ-xoa:
- Cúi mong đại sư thuyết pháp cho tôi nghe, tôi sẽ dâng máu và tim của mình.
Nói xong, bà-la-môn ấy bèn cởi áo đơn trải làm tòa rồi thỉnh dạxoa bước lên. Dạ-xoa liền nóikệ:
Muốn cầu đạo vô thượng
Chẳng tiếc quả tim này
cắt xẻ chịu nhiều khổ
Nên an nhẫn như đất.
Cũng chảng thấy người nhận,
Cầu pháp chẳng hối hận
Tất cả không xẻn tiếc
Như cứu lửa cháy đầu
Cứu chúng sinh đói khát
Mới xứng hạnh Bồ-tát.
Lao-độ-bạt-đề nghe bài kệ này rồi, thân tâm vui mừng, liền lấy kiếm bén rạch ngực moi tim. Lúc ấy, địa thần từ dưới đất vọt lên nói với Lao-độ-bạt-đề:
- Cúi mong đại tiên thương xót chúng tôi cùng thần cây thần núi, chớ bố thí thân mạng cho quỉ.
Lao-độ-bạt-đề nói với địa thần:
Thân này như ánh chớp
Vừa hiện rồi tan biến
Giống như vang theo tiếng
Tiếng dứt vang không còn.
Sức bốn đại, năm ấm
Biến diệt. chẳng trụ lâu
Trong nghìn vạn ức năm
Chưa từng chết vì pháp
Ta nay chính vì pháp.
Bố thí máu và tim
Chớ cố ngăn cản ta
Làm chướng tuệ vô thượng.
Nhờ sự bố thí này
Thệ nguyện thành Phật đạo
Sau khi ta thành Phật
Sẽ đến độ ông trước.
Nói kệ xong, bà-la-môn ấy nằm trước mặt dạ-xoa, dùng kiếm đâm vào cổ bố thí máu, rồi lại khoét ngực bố thí tim. Bấy giờ, mặt đất chấn động, mặt trời lu mờ, không mây nhưng sấm sét rền vang. Có năm dạ-xoa từ bốn phương đến tranh nhau ăn thịt bà-la-môn. Ăn xong, chúng hét lớn rồi vọt lên hư không bảo với một nghìn thánh vương:
- Ai có thể thực hành bố thí như Lao-độ-bạt-đề? Hạnh bố thí như thế, có thể thành tựu quả Phật.
Một nghìn thánh vương sợ hãi, đạo tâm lui sụt, không muốn cầu bồ-đề và muốn về nước.
Năm dạ-xoa lại nói kệ:
Không sát là giòng Phật
Tám từ là thuốc hay
Đại từ thường an ổn
Chẳng còn sợ già chết.
Những loài có thân mạng
Sợ kẻ ác độc giết
Thế nên các bồ-tát
Dạy tôi giữ giới sát.
Nếu các ông sợ chết
Thì giữ hạnh chẳng giết
Cớ sao muốn về nước
Bỏ tịnh cầu ồn náo?
Bấy giờ, một nghìn vị thánh vương nghe bài kệ ấy, đêu im lặng ở lại.
Phật bảo bồ-tát Bạt-đà-bà-la:
- Ông nên biết! Bà-la-môn ca ngợi đàn ba-la-mật chính là Phật Định Quang Minh Vương ở quá khứ; Lao-độ-bạt-đề chính là Phật Nhiên Đăng thời quá khứ. Một nghìn thánh vương xuất gia học đạo gặp Phật Nhiên Đăng, thực hành các hạnh khổ, tâm sinh hối hận, bị đọa địa ngục một kiếp. Tuy bị đọa vào địa ngục, nhưng nhờ nguyện lực bồ-đề trang nghiêm tâm, nên lửa chẳng thể đốt cháy họ. Sau đó nghe bồ-tát Đăng Minh Vương thuyết pháp, họ thoát khỏi địa ngục. Bồ-tát lại ca ngợi nghìn Phật quá khứ, từ Phật Giải Thoát Xưng Trang Nghiêm cho đến Phật Tự Tại Vương. Một nghìn thánh vương nghe một nghìn danh hiệu Phật, lòng vui mừng kính ỉễ. Nhờ nhân duyên đó họ vượt qua tội sinh tử trong chín ức na-do-tha hằng hà sa kiếp.
Bạt-đà-bà-la! Một nghìn thánh vương lúc ấy chính là một nghìn vị Phật trong kiếp Hiền như Ta”.
5.3. DÒNG HỌ
5.3.1 Lời dẫn
Bạch Tịnh vương nối dòng Ý-sư-ma vương, Chuyển luân thánh vương đời đời tiếp nối càng rực rỡ. Đức Thích-ca phương tiện thị hiện giáng sinh, gửi hình hài vào dòng họ đã vẻ vang, để về sau càng thêm hưng thịnh, ứng tại thành Ca-tỳ, thân vàng trượng sáu, hiện ba mươi hai tướng, thống lĩnh giáo hóa tam thiên. Ngài thương xót chúng sinh trôi nổi trong bốn dòng, lái con thuyền lục độ để cứu vớt.
5.3.2. Họ vua
Kinh Trường A-hàm ghi: “Thuở thế giới mới hình thành, chư thiên xuống trần gian ăn vị của đất ở nơi này và trở thành người phàm. Từ đó có sự tranh đoạt, họ bàn luận phải lập ngôi vua, chọn một người xuất chúng thuộc dòng dõi cao quỵ nhất phong làm quốc vương để trị trăm họ. Vị vua ấy chính là tổ tiên của dòng họ Thích-ca”.
Kinh Lâu thán ghi: “Những vị vua kế tiếp trị vi không bằng vua trước, nên tuổi thọ loài người từ tám vạn tuổi giảm dần xuống một vạn tuổi, rồi trăm tuổi”.
Theo luật Tứ phần, từ kiếp sơ đến nay bắt đầu từ vua Đại Nhân Tướng tính tổng cộng có tám vạn bốn ngàn hai trăm năm mươi ba vua. Trong đó, có mười vị Đại Chuyển luân thánh vương, cai trị bốn thiên hạ, còn các vua khác không thể liệt kê đầy đủ”.
về tên các vị tổ trong bảy đời của Như Lai, các kinh luật ghi như sau:
Luật Ngũ phần ghi: “Thời quá khứ, uất-ma vương có bốn người con trai là: Chiếu Mục, Thống Mục, Điều Tượng và Ni-lâu. Ni-lâu có con trai tên Ô-đầu-la; vua Ô-đầu-la có con trai tên Cù-đầu-la; vua Cù-đầu-la có con trai tên Thi-hưu-la; vua Thi-hưu-la có bốn người con trai là: Tịnh Phạn, Bạch Phạn, Hộc Phạn và Cam Lộ Phạn”.
Kinh Trường A-hàm, luật Tứ phần đều ghi: “Vua Sư Tử Giáp có 4 người con trai, tám cháu nội.
1. Tịnh Phạn vương có hai người con trai là bồ-tát Thích-ca và Nan-đà.
2. Bạch Phạn vương có hai người con trai là Điều-đạt và A-nan.
3. Hộc Phạn vương có hai người con trai là Ma-ha-nam và A-na-luật.
4. Cam Lộ Phạn vương có hai người con trai là Sa-bà và Bạt-đề”.
Luận Trí độ ghi: “Vua Sư Tử Giáp có một người con gái tên là Cam Lộ Vị. Cam Lộ Vị có một con trai tên là Thi-bà-la”.
Kinh Tạp A‘hàm ghi: “Cô của Thế Tôn có một người con trai là tỳ-kheo Đê-sa”. Luận Phán biệt công đức ghi: “A-nan có em gái xuất gia làm tỳ-kheo ni. Vị ni này oán giận trưởng lão Ca-diếp đã trách tội và cho A-nan là đứa bé”. Kinh Đại phương tiện ghi: “Dòng chính của Bạch Tịnh vương từ kiếp sơ đến nay nối nhau làm Chuyển luân vương, hai đời gần đây không làm Chuyển luân vương mà làm vua cõi Diêm-phù-đề”.
Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Ta phát tâm vô thượng ở Phật Thích-ca và hoàn thành a-tăng-kỳ đầu tiên ở Phật Bảo Đỉnh, hoàn thành a-tăng-kỳ thứ hai ở Phật Nhiên Đăng, hoàn thành a-tăng-kì thứ ba ở Phật Ca-diếp”.
5.33. Dòng tộc
Kinh Thập nhị du ghi: “Vô số kiếp trước, có vị bồ-tát làm quốc vương, cha mẹ mất sớm, bồ-tát nhường ngôi cho em để cầu đạo. Từ xa, ông trông thấy vị bà-la-môn họ Cù-đàm, liền đến hỏi đạo. Bà-la-môn nói: “Hãy cởi bỏ vương phục, mặc y phục như ta và lấy họ là Cù-đàm”. Thế là từ đó bồ-tát mang họ Cù-đàm, vào núi sâu ăn hoa quả, uống nước suối, tọa thiền học đạo. Khi bồ-tát vào nước mình khất thực, quan dân cả nước không ai nhận ra, gọi ngài là Tiểu Cù-đàm. Bồ-tát dựng ngôi tinh xá trong vườn mía bên ngoái thành và ở đó một mình.
Một hôm, hơn năm trăm tên trộm lấy cắp đồ trong cung vua, khi đi ngang qua tinh xá của bồ-tát, chúng đánh rơi một số vật. Sáng ra, quan quân triều đình truy tìm bọn cướp, thấy dấu vết bên thất của bồ-tát, quan quân liền bắt giữ ngài. Theo luật, hình phạt dành cho kẻ trộm là đóng cây xuyên qua thân rồi dùng làm bia để cho người bắn tên. Bồ-tát bị cây xuyên thầu, máu tuôn thấm đất. Lúc ấy, Đại Cù-đàm dùng thiên nhãn thấy biết, liền vận thần túc bay đến hỏi: ‘Con phạm tội gi mà phải chịu hình phạt tàn khốc như thế? Con không có con cháu, ai sẽ là người nối dõi?’. Bồ-tát đáp: ‘Mạng sống chỉ còn trong chốc lát, nói gì đên cháu con’. Vua lại ra lệnh bắn tên giết chết ngài.
Đại Cù-đàm buồn khóc, mang nhục thân Bồ-tát tẩm liệm vào quan tài, lấy máu còn đọng trên đất trộn với bùn rồi vò thành viên, chứa trong hai cái bát, máu tuôn bên trái thì đựng vào bát bên trái, máu tuôn bên phải đựng vào bát bên phải rồi mang về tình xá. Đến nơi, Đại Cù-đàm nói:
- Nếu đạo nhân này là người chí thành cầu đạo, thiên thần sẽ làm cho máu này biến thành người.
Hơn mười tháng sau, máu đựng trong hộp trái biến thành người nam, máu đựng trong hộp phải biên thành người nữ, nhừng người này đều mang họCù-đàm. Trong đó có một người tên Xá-di”. Đó là việc của đời trước, e văn tự dài dòng nên không thuật đầy đủ.
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Trước đời vua Cam Giá có một vị vua tên là Đại Mao Thảo, vị này giao ngôi vua cho các đại thần để xuất gia. Ngày vua đi, mọi người vây quanh đưa tiễn. Vua ra khỏi thành liền cạo bỏ râu tóc, mặc y phục của người xuất gia, trì giới thanh tịnh, chuyên tâm, dũng mãnh tu học, vì thế đà thành tựu bốn thiền, đầy đủ năm thông, trở thành Vương tiên, thọ mạng dài lâu.
Đến lúc tuổi già, Vương tiên lưng còng, thân thể gầy yếu, dù chống gậy nhưng chẳng thể đi xa Một hôm, những đệ tử của Vương tiên muốn đi xa khất thực, bèn lây cỏ mềm lót vào lồng tre, đặt Vương tiên vào đó, rồi treo lên một cành cây để côn trùng, thú rừng không làm hại. Khi các đệ tử Vương tiên đi khất thực, có một thợ săn vào núi, nhìn xa thấy Vương tiên lầm tường là chim hạc, liền giương cung bắn. Vương tiên bị trúng tên, hai giọt máu rơixuống đất và ngài mạng chung.
Các đệ tử đi khất thực về, thấy Vương tiên bị tên bắn chết, lại thấy có hai giọt máu rơi xuống đất, liền mang Vương tiên xuống hỏa thiêu, nhặt xương dựng tháp tôn thờ, dâng hương hoa cúng dường tháp, kính cẩn tán thán. Hai giọt máu rơi xuống đất của Vương tiên liền mọc lên hai chồi mía. Chồi mía dần dần lớn lên, gặp sức nóng của mặt trời liền nứt ra. Một cây mía hiện ra một bé trai, cây mía kia hiện ra một bé gái, cả hai đều đoan chính đáng yêu, thế gian chẳng ai sánh bằng. Các đệ tử Vương tiên thấy vậy, suy nghĩ: Lúc Vương tiên còn tại thế, ngài không có con cái, nay hai đứa bé này là dòng dôi Vương tiên’. Thế là họ nuôi dưỡng, chăm sóc hai đứa trẻ và báo cho các quan biết.
Các đại thần mời thầy tướng bà-la-môn giỏi đến xem và đặt tên. Thầy tướng xem xong, liền nói: ‘Bé trai này là do mặt trời chiếu nóng cây mía mà sinh ra nên đặt tên là Thiện Sinh, lại từ cây mía sinh ra nên có tên thứ hai là Cam Giá Sinh, lại do mặt trời nướng nóng cây mía sinh ra nên gọi là Nhật Chủng. Còn bé gái tên là Thiện Hiền, còn gọi là Thủy Ba, cũng cùng một dòng tộc. Thế rồi, các quan làm lễ quán đỉnh cho Thiện Sinh và đưa lên làm vua. Khi Thiện Hiền đến tuổi trưởng thành thì phong làm vương phi thứ nhất của Thiện Sinh”.
53.4. Cầu hôn
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Cách thành Ca-tỳ-la-vệ không xa là kinh thành Thiên Tý. Trong thành ấy, có một trưởng giả họ Thích, tên là Thiện Giác vô cùng giàu có, châu báu đầy kho, đầy đủ uy đức, mọithứ như ý tự nhiên hiện đến, không chút thiếu thốn, nhà cửa như cung điện Tỳ-sa-môn vương
Vị trưởng giả này cỏ tám người con gái: Vi Ý, Vô Tỷ Ý, Đại Ý, Vô Biên Ý, Phát Ý, Hắc Ngưu, sấu Ngưu và người nhỏ tuổi nhất là Ma-ha Ba-xà-ba-đề. Ngày mới sinh ra, Ma-ha Ba-xà-ba-đề được nhũng vị bà-la-môn giỏi xem tướng đoán rằng lớn lên lấy chồng, nếu sinh con trai thì người con ấy chắc chắn sẽ làm Chuyển luân thánh vương, làm vua bốn thiên hạ, bảy báu tự nhiên hiện đến, con cháu đủ đầy, cho đến không dùng hình phạt để trị dân.
Con gái út của Thiện Giác dần trưởng thành, có thể lập gia thất. Một hôm, vua Bạch Tịnh nghe nói trong nước có nhà họ Thích giàu có, sinh được tám người con gái, đoan chính ít ai sánh bằng, thầy tướng còn đoán người con gái ấy sẽ sinh quý tử, ông liền nói: ‘Nay ta muốn người con gái ây làm vương phi của ta, để dòng dõi Chuyển luân thánh vương họ Cam Giá không đoạn dứt’. Thế là, vua Tịnh Phạn sai sứ đên nhà trưởng giả Thiện Giác, nói rằng: ‘Đại vương muốn cưới Đại Tuệ, tức Ba-xà-ba-đề làm vương phi!’.
Thiện Giác nói với sứ giả: ‘Xin ông về tâu đại vương giúp tôi. Tôi có tám người con gái, người thứnhất tên là Vi Ý, cho đến người thứ tám tên là Đại Tuệ, tại sao đại vương cầu hôn người nhỏ nhất? Xin đại vương đợi tôi gả bảy người con gái lớn xong rồi sẽ gả con út Đại Tuệ cho đại vương làm phi’. Tịnh Phạn vương lại sai sứ giả hồi đáp: ‘Nay ta không đợi ông gả bảy người con gái mà ta cưới cả tám người con gái của ông’.
Trưởng giả Thiện Giác đáp lại: ‘Nếu vậy, tôi xin tuân lệnh, đại vương tùy ý rước đi. Tịnh Phạn vương sai người đến đón tám người con gái về cung. Vua lấy Vi Ý và Đại Tuệ làm phi; còn sáu người kia gả cho ba em trai của mình, mỗi người cưới hai cô gái làm phi. Từ khi cưới chị em Vi Ý về cung, Tịnh Phạn vương vui vẻ hường lạc và theo phép nước trị ví thiên hạ”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Vương phi thứ hai của vua Cam Giá, xinh đẹp đoan trang, sinh được bốn người con, người thứ nhất tên Cự Diện, người thứ hai tên Kim Săc, người thứ ba tên Tượng Chúng, người thứ tư tên Biệt Thành. Vương phi thứ nhất Thiện Hiền chỉ sinh được một người con trai, tên là Trường Thọ đoan chính đáng yêu, thế gian ít ai bì kịp, nhưng cốt cách không thể làm vua. Vương phi Thiện Hiền nghĩ: ‘Cam Giá vương có bốn người con trai, anh em Cự Diện khỏe mạnh, còn ta chỉ có một đứa con trai rất đoan chính, chẳng ai sánh bằng, nhưng tướng phần của nỏ không thê làm vua, ta phải làm cách gì để con trai ta được nổi ngôi’. Rồi bà lạinghĩ: ‘Cam Giá vương vốn đã sủng ái, saỵ đắm, buông lung tình ý với ta. Nay ta phải trang điểm thật lộng lẫy để vua càng mê say. Khi vua đẹp lòng, ta sè ở nơi vắng vẻ mà cầu xin*. Nghĩ như vậy, vương phi Thiện Hiền liền tô điểm làm cho nhan sắc cực ki diễm lệ, rồi đến bên vua.
Vua thấy vương phi đến, lòng vô cùng ưa thích, đắm say. Biết vua vừa ý, nhân khi nằm ngủ, vương phi nhẹ nhàng thưa:
- Đại vương! Thiếp cầu xin đại vương một điều, mong đại vương thuận ý!
Vua nói:
- Đại phi! Ta sẽ thuận ý này, nàng muốn gì ta sẽ đáp ứng!
Vương phi nói:
Nếu đại vương đã hứa thì không được hối tiếc!
Vua nói:
- Điều gì đã hứa cho nàng, nếu sau này ta hối tiềc đầu ta sẽ bị vỡ thành bảy mảnh!
Vương phi nói:
Đại Vương! Thiếp muốn đại vương trục xuất bốn anh em Cự Diện ra khỏi nước, đưa Trường Thọ con trai thiếp lên làm vua.
Vua Cam Giá liền nối:
Bốn đứa con trai của ta không phạm lỗi. chúng ở trong nước có gì không tốt mà phải đuổi đi?
Vương phi nói:
- Đại vương đã thề, nếu hối hận thi đầu bị vỡ làm bảy mảnh.
Vua nói:
- Ta giữ lời hứa, cho nàng được toại nguyện!
Sáng sớm, vua triệu tập bốn người con trai lạira lệnh:
- Từ nay các con không được ở trong nưóc nữa, hãy đi thật xa qua nước khác!
Bốn người con nghe vậy, vội quỳ xuồng chắp tay thưa:
- Phụ vương! Bốn anh em chúng con vô tội cũng không làm gì lỗi lầm, sao bỗng nhiên phụ vương trục xuất chúng con ra khỏỉ nước?
Vua đáp:
- Ta biết các con thật chẳng có lỗi lầm, nhưng đây không phải ý ta. Đuổi các con là ý của đại phi Thiện Hiền, bà ấy cầu xin, ta không thể làm trái, đành phải để các con ra đi
Bấy giờ, mẹ của bốn vương từ cằn xin vua được đi theo con trai, vua nói:
- Tùy ý nàng!
Quyến thuộc của vương phi, các quan, dân chúng đều tâu vua:
- Nay đại vương trục xuất bốn vương tử ra khỏi nước, chúng tôi cũng xin được đi theo họ
Vua đáp:
- Tùy ý các khanh!
Rồi vua căn dặn các vương tử:
- Từ nay trở đi, nếu kết hôn, không được lấy người bên ngoài, phải lấy người trong họ, chớ để dòng dõi Cam Giá đoạn dứt!
Các vương tử vâng lời phụ vương, dắt mẹ và quyến thuộc, mang theo một số tài vật ngựa, xe..., cùng đi về phương bắc. Đến chân núi Tuyết thì dừng nghỉ, rồi vượt qua sông lớn Bà-kì-la-di, lên đinh Tuyết sơn. Đoàn người dừng lại ngắm nhìn, thấy
ở đây có sông rộng, đất đai bằng phẳng, không có hầm hố, gò đồi, cỏ xanh mềm mượt, rừng cây, hoa quả xanh tốt, bình lặng đáng ưa. Các vương tử xem xong, nói với mọi người: ‘Chúng ta có thê xây dựng thành trì cai trị nơi đây!’.
Khi đã có nơi ở an ổn, nhớ lời phụ vương dạy không được lấy vợ ngoài dòng tộc, nên các vương tử kết hôn cùng với dì hay chị em gái của minh. Các vương tử làm như vậy vì hai lý do: thứ nhât là theo lời phụ vương dạy; thứ hai là sợ dòng họ Thích bị pha tạp. Bấy giờ, vua Cam Giá triệu tập vị quốc sư đại bà-la-môn đến hỏi:
Này đại bà-la-môn! Bốn vương tử của ta nay ở đâu?
Quốc sư đáp:
Tâu Đại vương! Bốn vương tử của ngài sau khi ra khỏi nước đi về phương bắc, nay đã có con trai con gái đoan chính.
Vua Cam Giá vì yêu thương các con, muốn gặp mặt, nghe quốc sư nói vậy trong lòng vui mừng, nói:
- Các vương tử của ta có khả năng lập kế sách đựng nước và trị vì thiên hạ.
Các vương tử ấy tự lập họ là Thích-ca. Vì dòng hộ Thích-ca trụ nơi đại thụ tốt tươi, sum suê cành lá, nên lấy tên là Xa-di-kì-da. Vì nơi đây vốn là trụ xứ của tiền nhân Ca-tỳ-la, nên lấy tên ấy đặt tên cho thành mới, gọi là thành Ca-tỳ-la-bà-tô.
Thời gian sau, ba vương tử của vua Cam Già chết, chỉ còn lại một vương tử là Ni-câu-la”,
Kinh Trường A-hàm ghi: “Các vương tử ở trong rừng cây, nên gọi Thích Lâm. Phụ vương nghe nói các con cùa vương tử đoan chính, đã thốt lên: 'Đúng là con cháu của dòng họ Thích”,
5.4. GIÁNG THAI
5.4.1. Lòi dẫn
Bên trong thành tâm cảm thì bậc Chí giác vẫn thường hiện hữu; bên ngoài dốc sức của thần thì pháp thể gần trong gang tấc. Thế nên, bổn sư Năng Nhân tùy duyên ứng cơ mà giáo hóa. Ngài thươngnhà lửa bị thiêu cháy, xót dục lưu cuộn chảy, nên vào cung vua Tịnh Phạn, gá thai hoàng hậu Ma-da tỏa ánh sáng vàng ròng, chiếu phá vô minh. Ngài ở trong tam hoặc mà thị hiện thân huyễn mộng; dạo bốn cửa thành mà kinh ngạc cho phù vân dễ mất.
5.4.2. Hiện tướng suy
Kinh Nhân quả ghi: “Bấy giờ, công hạnh đã viên mãn, bồ-tát Thiện Tuệ bước lên giai vị Thập địa, làm bậc Nhất sinh bổ xứ, gần đạt Nhất thiết chủng trí. Bồ-tát lại sinh ở cõi trời Đâu-suất hiệu là Thánh Thiện, nói hạnh Nhất sinh bổ xứ cho các thiên chủ; đồng thời hiện vô số thân hình khắp các cõi nước trong mười phương, tùy nghi thuyết pháp cho chúng sinh.
Khi đến thời hạn hạ sinh làm Phật, bồ-tát quán xét năm việc:
1. Cơ chúng sinh đã thành thục hay chưa.
2. Đã đến lúc hay chưa.
3. Nước nào nằm ở trung tâm.
4. Chủng tộc nào tôn quí nhất.
5. Quán nhân duyên quá khứ, ai là người đích thực thích hợp làm cha mẹ.
Xem xét năm việc này rồi, liền hạ sinh. Bồ-tát không còn làm lợi ích rộng lớn cho chư thiên, nhưng vẫn hiện năm tướng suy, khiến các thiên tử đều biết đã đến lúc bồ-tát hạ sinh làm Phật. Năm tướng ấy là:
1. Mắt máy động.
2. Hoa trên đầu bị héo.
3. Áo bị dính bụi.
4. Nách toát mồ hôi.
5. Không thích chỗ ngồi của mình.
Chúng chư thiên thấy bồ-tát có những tướng lạ này, lòng rất lo sợ, các lỗ chân lông tuôn máu như mưa, họ nói với nhau: ‘Chẳng bao lâu nữa bồ-tát sẽ bỏ chúng ta mà đi’.
Bấy giờ bồ-tát lại hiện năm điềm lành:
1. Phóng ánh sáng lớn chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.
2. Mặt đất có mười tám tướng rung động, khiến núi Tu-di, biển lớn, cung điện các cõi trời đều rung chuyển.
3. Nơi ở của các ma đều bị che lấp.
4. Mặt trăng, mặt trời, các sao đều không phát sáng.
5. Thân của tám bộ chúng đều bị rung động không thể kiềm chế.
Chúng trời thấy thân bồ-tát hiện năm tướng suy, lại thấy xuất hiện năm trạng thái hi hữu như thế họ cùng nhau đến đỉnh lễ ngài sát đất rồi thưa:
- Tôn giả! Hôm nay chúng tôi thấy những tướng này, toàn thân rung động không an. Xin ngài giải thích vì nguyên nhân gì có những điềm như thế?
Bồ-tát nói:
- Thiện nam! Nên biết các hành đều vô thường, không lâu nữa ta rời cung trời này và sinh xuống cõi Diêm-phù.
Nghe thế, chư thiên buồn khóc, tâm rất sầu não, toàn thân máu chảy, nằm bất động trên đất, than oán nỗi khổ vô thường. Lúc ây có vị thiên tử nói bài kệ:
Bồ-tát ở nơi đây
Mở pháp nhãn chúng ta
Nay ngài sắp đi xa
Ta như mù không thầy.
Lại như muốn qua sông
Bất chợt mất cầu, thuyền
Như quạ con mồ côi
Mẹ hiền đã ra đi.
Chúng ta cũng như vậy
Mất đi chỗ tựa nương
Trôi nổi trong sinh tử
Không cơ hội thoát ra.
Bao kiếp rồi tăm tối
Trúng mũi tên ngu si
Đã mất thầy thuốc giỏi
Ai sẽ cứu chúng ta.
Mê ngủ giường vô minh
Mãi chìm biển ái dục
Không nghe lời Ngài dạy
Biết ngày nào thoát ra.
Bồ-tát cũng đáp bằng bài kệ:
Ta ở đây không lâu
Sẽ hạ sinh Diêm phù
Nước Ca-tỳ-la-thi
Nơi cung vua Bạch Tịnh.
Rời cha mẹ người thân
Bỏ ngôi vua Chuyển luân
Xuất gia cầu học đạo
Được Nhất thiết chủng trí.
Dựng ngọn cờ chính pháp
Tát cạn biển phiền não
Đóng cửa ba nẻo ác
Mà bày đường bát chính
Làm lợi ích trời người
Nhiều không thể tính kể
Chính vì lý do này
Các vị chớ sầu khổ!
Luận Trí độ ghi:
Hỏi: Tại sao bồ-tát chỉ sinh đúng vào cõi trời Đâu-suất mà không phải là cõi cao hơn hoặc thấp hơn? Bô-tát là bậc phúc lớn, lẽ ra tùy ý thác sinh bất cứ nơi nào?
Đáp: Có người nói công hạnh của bồ-tát đã thuần thục nên ứng sinh ở Đâu-suất. Nếu sinh vào cõi dưới, thì phiền não sâu dày, như sinh lên cõi trên phiền não nhẹ mỏng. Cõi trời Đâu-suất, phiền não không sâu dày, không nhẹ mỏng, trí tuệ an ổn. Mặt khác, sinh ở Đâu-suất thì thời điểm Phật xuất thế không bị trôi qua. Nếu sinh ở cõi dưới thọ mạng ngắn ngủi, chưa đúng lúc Phật xuất thế. Nếu sinh ở cõi trên thọ mạng dài lâu nên lại vượt quá thời điểm Phật cần xuất thế. Cõi trời Đâu-suất ở giữa Lục thiên và Phạm thiên, trên ba tầng trời, dưới ba tầng trời; sinh vào trung tâm của châu này, nửa đêm giáng thần, nửa đêm rời nước Ca-tỳ-la, thực hành trung đạo, đác Bồ-đề, thuyết pháp trung đạo chongười, nửa đêm nhập Vô-dư niết-bàn, vì ưa pháp trung nên bồ-tát sinh lên cõi trời Đâu-suất.
5.4.3. Quán xét căn cơ.
Khi giáng thai, bồ-tát quán sát bốn điều khổ ở nhân gian:
1. Quán thời cơ: Thời có tám loại. Sau khi Phật xuất thế, tuổi thọ con người được tám vạn bốn nghìn năm là thời thứ nhất, cho đến thời thứ tám là con người thọ hơn một trăm năm. Bồ-tát nghĩ: “Con người thọ trăm tuổi là đã đến lúc Phật xuất thế”.
2. Quán đất đai: Chư Phật thường sinh cõi nước trung tâm, nơi sung túc có nhiều của cải, đất đai tốt sạch.
3. Quán chủng tộc: Phật sinh vào hai chùng tộc, hoặc Sát-đế-lợi hoặc Bà-la-môn. Vì dòng Sát-đế-lợi thế lực lớn, dòng Bà-la-môn trí tuệ sâu. Tùy thời, dòng nào được tôn quí thì Ngài sinh vào dòng đó.
4. Quản nơi sinh: Những người mẹ nào có thể mang thai bồ-tát sức mạnh phải như Na-la-diên, lại cùng có thể tự giữ giới thanh tịnh. Xem xét xong, chỉ thấy hoàng hậu vua Tịnh Phạn nước Ca-tỳ-la có thể mang thai bồ-tát. Thế rồi, bồ-tát từ cung trời Đâu-suất, không mất chính tuệ đi vào trong thai mẹ”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Có thiên từ Kim Đoàn ở cõi Đâu-suất đã nhiều lần xuống cõi Diêm-phù, Bồ-tát bổ sứ Hộ Minh hỏi Kim Đoàn
- Thiên tử Kim Đoàn! ông đã nhiều lần xuống cõi Diêm-phù, chắc biết rõ dòng dõi vua chúa trong cac làng xóm, thành ấp. Vậy bồ-tát Nhất sinh bổ xứ nên sinh vào nhà nào?
Thiên tử Kim Đoàn đáp:
- Tôn giả! Tôi biết rất rõ. Nay tôi sẽ nói, Tôn giả lắng nghe!
- Được, tốt lắm!
- Trong tam thiên đại thiên thế giới này, Bồ-đề đạo tràng thuộc nước Ma-kiệt-đà ở cõi Diêm-phù. Đây là nơi mà trước kia chư Phật đắc đạo. Kim Đoàn lần lượt trình bày rất nhiều nơi, nhưng đều không vừa ý Bồ-tát.
Thiên tử Kim Đoàn lại nói:
- Tôi đi khắp cõi nước, xem xét hết tụ lạc của các vương, thành ấp của dòng Sát-đế-lợi trong cõi Diêm-phù này, song Sát-đê-lợi lại tạo vô lượng nghiệp. Vì tôn giả, tôi đi khắp nơi như thế, trải qua vô lượng nhọc nhằn khổ não, tâm mê ý loạn, không thể xem xét những chỗ khác, chì thấy có một chùng tộc Sát-đế-lợi từ xưa đến nay được mọi người tôn kinh, thuộc dòng dỏi đời đời làm Chuyển luân thánh vương; là con cháu của dòng Cam Giá, đến nay vẫn còn nối tiếp kế thừa. Tại đô thành Ca-tỳ-la-bá-tô, dòng tộc này hiện có vua Sư Tử Giáp từ họ Thích sinh ra, con là Thâu-đầ-đàn nổi tiêng trong thế gian, tôn giả có thể làm con vị này.
Bồ-tát Hộ Minh nói:
- Hay lắm, hay lắm! Thiên tử Kim Đoàn, ông khéo quán sát dòng dõi các vua, ta cũng nghĩ nên sinh vào nhà này, ý ta hợp với lời cùa ông. Kim Đoàn nên biết! Ta chắc chắn sẽ sinh làm con nhà này. Thuở xưa, gia đình mà bồ-tát Nhất sinh bổ xứ thác sinh phải có đủ sáu mươi công đức:
1. Luôn luôn thuộc dòng dõi thanh tịnh, cao quí.
2. Được hết thảy các bậc thánh quán sát,
3. Không làm các việc ác.
4. Những thành viên sinh ra trong gia đình này đều thanh tịnh.
5. Dòng dõi chân chính, không tạp.
6. Dòng chính nối tiếp kế thừa không dứt.
7. Xưa nay đều làm vua.
8. Cảc vị vua sinh ra trong gia đình này đều trồng căn lành sâu dày.
9. Những người sinh vào nhà này luôn được các thánh khen ngợi.
10. Những người sinh vào nhà này đều có oai đức lớn.
11. Con gái đều là đoan chính.
12. Con trai đều có trị tuệ
13. Những người sinh từ nhà này đều có tâm tính nhu hòa kính thuận
14 Những người sinh từ nhà này đều khôngthích đùa cợt.
15 Những người sinh từ nhà này đều không sợ hài điều gì.
16. Những người sinh từ nhà này chưa từng khiếp nhược.
17. Nhừng người sinh từ nhà này đều thông minh đa trí.
18. Những người sinh từ nhà này đều tinh thông nhiều nghề.
19. Những người sinh từ nhà này đều không phạm lỗi lầm.
20. Những người sinh từ nhà này đều không làm những nghề hỗn tạp thế gian, cũng không tham của để mưu sinh
21. Những ngườì sinh từ nhà này đều có bạn bè tốt
22. Những người sình từ nhà này đều không hại các loài trùng và thú để nuôi thân.
23. Những người sinh từ nhà này đều luôn ân nghĩa
24. Những người sinh từ nhà này đều thường tu khổ hạnh
25. Những người sinh từ nhà này đều không bị người khác làm lung lạc.
26. Những người sinh từ nhà này đều chưa từng có tâm oán hận.
27. Những người sinh từ nhà này đều không bị ngu si trói buộc.
28. Những người sinh từ nhà này đều không vì sợ hãi mà thuận theo người khác.
29. Những người sinh từ nhà này đều sợ việc giết hại người khác.
30. Những người sinh từ nhà này đều không có tai họa.
31. Những người sinh từ nhà này đều khất thực được nhiều.
32. Ai đến nhà này thì không bị vô cớ xua đuổi.
33. Những người sinh từ nhà này đều kiên cường, khó khuất phục.
34. Phép tấc nhà này thường chế định ra lễ vàluật
35. Thường thích bố thí cho chúng sinh.
36. Siêng năng tạo nhân được quả.
37. Luôn sinh ra những người mạnh mẽ, kiên cường ở thế gian.
38. Thường cúng dường hết thảy tiên thánh.
39. Thường cúng dường thần linh.
40. Thường cúng dường chư thiên.
41. Thường củng dường bậc trượng phu.
42. Nhiều đời không có oán thù.
43. Tiếng tăm lẫy lừng mười phương.
44. Lớn nhất trong các dòng họ.
45. Những người sinh ra trong nhà này đều thuộc dòng Thánh.
46. Những người sinh ra trong nhà này đứng đầu trong hàng Thánh.
47. Những người sinh ra trong nhà này thuộc dòng Chuyển luân thánh vương.
48. Những người sinh ra trong nhà này có oai đức lớn.
49. Những người sinh ra trong nhà này có vô lượng quyến thuộc luôn gần gũi.
50. Những người sinh ra trong nhà này, quyến thuộc không bị phá hoại.
51. Quyến thuộc nhà đó hơn hẳn mọi người.
52. Những người sinh ra trong nhà này luôn hiếu dưỡng mẹ.
53. Những người sinh ra trong nhà này luôn thuận thảo với cha.
54. Những người sinh ra trong nhà này thường cúng dường tẩt cả sa-môn.
55. Những người sinh ra trong nhà này thường cúng dường hết thảy bà-la-môn.
56. Những người sinh ra trong nhà này, các loại lương thực luôn đầy kho.
57. Những người sinh ra trong nhà này có nhiều vàng bạc, xà cừ, mã não, mọi của cải không thiếu.
58. Những người sinh ra trong nhà này có nhiều người giúp việc và nuôi nhiều gia súc như voi ngựa, bò dê...
59. Những người sinh ra trong nhà này chưa từng phụng thờ người khác.
60. Những người sinh ra trong nhà này, tất cả mọi việc đều đầy đủ, không hề thiếu bất cứ thử gì trong thế gian.
Phật bào thiên tử Kim Đoàn:
- Người mẹ phải có đủ ba mươi hai phẩm chất mới có thể mang thai bồ-tát Nhất sinh bổ xứ:
1. Đức hạnh đoan chính.
2. Thân thể hoàn hảo.
3. Đức hạnh trọn vẹn.
4. Nơi sinh ra thích hợp.
5. Hiền thục giỏi giang.
6. Dòng dõi thanh tịnh
7. Đoan chính hơn người.
8. Có danh tiếng,
9. Thân hình cân đổi.
10. Chưa từng sinh sản.
11. Có công đức lớn.
12. Thường nghĩ đến điều vui.
13. Tâm luôn thuận theo tất cả việc thiện.
14. không có tâm tà vạy.
15. Thân, miệng và ý tự nhiên thuần thiện.
16. Tâm không sợ hãi.
17. Học rộng biết nhiều.
18. Là người phụ nữ khéo léo nhất.
19. Tâm không siểm khúc.
20. Tâm không dối trá.
21. Tâm không sân giận.
22. Tâm không ganh tị.
23. Tâm không bỏn xẻn.
24. Tâm không nóng nảy vội vàng
25 Tâm kiên định, không lay động
26 Thân thể có tướng chí đức
27. Tâm luôn nhẫn nhục.
28. Tâm biết hổ thẹn.
29. Tâm dâm, nộ, si cạn mỏng.
30. Là người vợ không lỗi lầm với người tronggia đinh.
31. Là người vợ hiếu thuận với chồng.
32. Luôn tạo tất cả các công đức.
Người mẹ đầy đủ các hạnh như vậy, mới có thể kham nhận nuôi dưỡng bồ-tát Nhất sinh bổ xứ. Khi sắp vào thai mẹ, bồ-tát chọn ngày có sao Quý xuất hiện để vào thai. Trước khi mang thai bồ-tát Nhất sinh bổ xử, người mẹ phải thụ Bát quan trai giới, bồ-tát mới nhập thai. Bồ-tát Hộ Minh lại nói: ‘Ta thụ thân cõi này không vì tất cả tiền tài, năm món dục lạc thế gian mà là chỉ muốn đem an lạc cho chúng sinh, vì thương xót chúng sinh khổ não'”.
5.4.4. Hiện đỉềm lành
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Lúc bấy giờ mùa đông đã qua, bước vảo đầu xuân, cảnh vật tuyệt đẹp, cây cối đơm bông kết trái, không khí trong lành ấm áp cỏ non xanh mềm mại trải khắp mặt đất. Bồ-tát Hộ Minh chọn đúng ngày sao Quý xuất hiện, nói pháp yếu cho chư thiên, khiến tất cả đều vui vẻ. Khi ấy, thiên chủ cõi trời tịnh cư nói với chúng trời; các ông nay thấy Bồ Tát Hộ Minh sắp hạ sinh vào nhân gian chớ sinh buồn khổ! Vì sao? Vì khi sinh vào cảnh giới kia, chắc chắn Bồ Tát sẽ thành tựu A-nậu-bồ-đề. Sau khi thành đạo, ngài sẽ trở lại thiên cung này, giảng pháp cho các ông, như thuở xưa Đức Phật Tỳ bà thi cho đến Phật Ca-Diếp cũng từ nơi đây mà xuống nhân gian rồi cũng trở lại thuyết pháp cho các ông’.
Vào đêm bồ-tát giáng thần nhập thai, thánh mẫu Ma-da thưa vua Tịnh Phạn:
- Đại vương nên biết! Từ đêm nay thần thiếp muốn được thụ trì tám trai giới thanh tịnh. Đó là không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu, không nói đôi chiều, không nói ác, không nói thêu dệt; lại nguyện không tham dục, không sân khuể, không ngu si, không tà kiến, thiếp phải thực hành chính kiến. Các giới cấm và trai pháp, thiếp đêu xin được thụ trì. Kể từ nay thiếp luôn một lòng tinh tấn tu tập, luôn khởi tâm từ với chúng sinh.
Vua Tịnh Phạn liền đáp:
- Phu nhân cứ thực hành theo điều mình thích. Nay ta cũng lìa bỏ địa vị quốc chủ, theo nàng thực hành hạnh trai giới.
Có bài kệ:
Vua thấy mẹ bồ-tát,
Liền cung kính đứng dậy
Xem như mẹ, chị, em
Không sinh khởi ý dục.
Bồ-tát chính niệm từ cung trời Đâu-suất gá vào hông bên phải của hoàng hậu Ma-da mà vào thai. Chính đêm hôm ấy, trong giấc ngủ hoàng hậu mộng thấy có một voi trắng sáu ngà, đầu voi màu đỏ thẫm, bảy chi vững chác, ngà bịt vàng rất đẹp, từ không trung bay xuống vào hông phải. Phu nhân bất chợt tỉnh giấc.
Sáng hôm sau, phu nhân thuật lại giấc mộng cho vua nghe:
- Đại vương biết không, đêm qua thần thiếp mộng thấy thế này: có một voi báu vào bên hông phải, thiếp cảm thấy rất khoan khoái sung sướng, cảm giác này trước đây chưa từng có. Từ nay trở đi thần thiếp không màng đến những khoái lạc thế gian nữa. Thầy tướng nào có thể giải mộng cho thiếp?
Bấy giờ, vua Tịnh Phạn cho gọi một quan nội thị đến bảo:
- Ngươi nhanh chóng ra ngoài truyền sắc lệnh của ta bảo quốc sư Đại-ma-la-tử cho gọi tám bà-la môn là bậc đại sư đoán mộng đến. Người ấy thi hành, lát sau
tám vị bà-la-môn đến. Vua hỏi về điềm mộng, họ biết đó là các tướng tốt lành và trình bày:
- Tâu đại vương! Như chỗ thấy biết của chúng thần, điềm mộng này có ghi trong kinh sách của tiên và trời như bài kệ sau:
Nếu người mộng thấy,
Mặt trời và hông phải.
Người con này sinh ra,
Ắt thành Chuyển luân vương.
Như người mẹ mộng thấy
Mặt trăng vào hông phải
Người con này sinh ra
Là vị vua đệ nhất.
Nếu người mẹ mộng thấy
Voi trắng vào hông phải
Người con này sinh ra
Là bậc thầy ba cõi.
Làm lợi ích chúng sinh
Oán thân đều bình đẳng
Độ thoát nghìn muôn chúng
Vượt biển sâu phiền não.
Họ lại thưa:
- Giấc mộng của phu nhân là điềm rất tốt đại vương hãy vui mừng vì phu nhân chắc chắn sẽ sinh bậc thánh. Người con ấy sau này thành tựu Phật đạo. danh tiếng vang xa.
Nghe thế, vua rất vui mừng, liền dâng cúng tiền bạc của quý lên các vị bà-la-môn. Vua lại cho người đến bốn cửa thành Ca-tì-la và các ngã tư đường, hẻm nhỏ, những nơi có người ở mà thiết bày hội lớn cúng dường, bố thí các thức ăn uống, tiền bạc, nhá cửa, sủc vật...
Tiên nhân ngũ thông A-tư-đà biết bồ-tát chính niệm từ cung trời Đâu-suất-đà vào hông phải Ma-da phu nhân tại cung vua Tịnh Phạn. Lúc vào thai, phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp cả thế giới trời người. Sau đó, mặt đất hiện sáu cách, mười tám tưởng chấn động. Đây là việc mà ông chua bao giờ thấy nên vô cùng kinh hãi, rúng động toàn thân, ông lại nghĩ: ‘Nay có duyên gì mà đại địa chấn động? Sẽ hiện quả báo gì?’. Tiên nhân nhập định trong chốc lát, rồi đứng yên, lòng vô cùng vui mừng, không thể kiềm chế, buộc miệng: ‘Hi hữu thay! Đại thánh chẳng thể nghĩ bàn, thế gian sẽ xuất hiện bậc Đại Phú-già-la!’.
Bồ-tát khi mới từ cung trời Đâu-suất vào hông phải mẹ, lúc ấy có một vị trời tên là Tốc Vãng vào các địa ngục cất tiếng xướng lớn: ‘Tất cả các ngươi nên biết! Bồ-tát từ cung trời Đâu-suất vào thai mẹ, cho nên các ngươi hãy mau chóng phát nguyện sinh vào cõi người’.
Những chúng sinh khi xưa tạo nghiệp thiện, lại tạo nhiều tạp nghiệp, do nghiệp ác mạnh nên đọa vào địa ngục, nay họ thấy mặt nhau và khởi tâm chán ghét cảnh địa ngục, lại được ánh sáng chiếu đến khiến thân tâm an lạc, được nghe tiếng của Tốc Vãng, họ liền bỏ địa ngục sinh trong loài người. Những chúng sinh nào trong tam thiên đại thiên thế giới từ trước đến nay có trồng căn lành đều được sinh chung quanh thành Ca-tỳ-la-vệ”.
5.4.5. Giáng thai
Kinh Niết-bàn ghi: “Lúc bồ-tát xuống nhân gian, chư thiên cõi Dục, cõi sắc đều đến hầu hạ, tiễn đưa, cất tiếng lớn ca ngợi. Gió phát ra từ miệng họ đã làm chấn động đại địa”.
Kinh Niệm Phật tam-muội ghi: “Khi bồ-tát sắp vào trong thai mẹ, tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách”.
Kinh Nhân quả ghi: “Lúc bồ-tát sắp vào trong thai mẹ, từ cung trời Đâu-suất, ngài cưỡi voi trắng sáu ngà đi xuống. Khi ấy, có chư thiên trỗi nhạc trời, đốt hương quí, rải hoa đẹp theo bồ-tát đầy khắp hư không. Bồ-tát phóng ánh sáng chiếu khắp cảmười phương thế giới. Ngày mùng tám tháng tư, khi sao mai vừa xuất hiện, Bồ-tát giáng thần vào thai mẹ. Khi ấy, hoàng hậu Ma-da đang an giấc thì mộng thấy bồ-tát cưỡi voi trắng sáu ngà từ trên hư không vào bên hông phải, toàn thân Bồ-tát ảnh hiện ra ngoài như ở trong lớp lưu li. Thân tâm phu nhân an ổn khoái lạc như vừa được uống cam lồ. Bà nhìn lại, thấy thân mình như mặt trời, mặt trăng tỏa chiếu, lòng càng vui mừng tột độ. Mộng thấy thế rồi, phu nhân chợt tinh giấc. Cho là điều kì lạ hiếm có, nên bà thuật lại giấc mộng cho vua Tịnh Phạn nghe.
Vừa nghe kể xong, vua Tịnh Phạn vui mừng vô cùng, không thể kiềm chế. Lập tức triệu tập bà-la-môn giỏi xem tướng đến giải mộng và biết rằng sau khi ra khỏi thai mẹ, bô-tát sẽ xuất gia thành Phật, làm lợt ích cho khắp cả trời người không thể kể hết. Lúc ẩy, chư thiên cõi trời Đâu-suất nghĩ: ‘Bồ-tát đã sinh vào trong cung vua Tịnh Phạn, chúng tôi cũng sẽ sinh xuống nhân gian. Bồ-tát đắc quả Phật, chúng tôi sẽ làm quyến thuộc nghe pháp của Ngài trước nhất Thế là chư thiên liền sinh xuống nhân gian.
Như vậy, có chín trăm mười chín ức chư thiên sinh xuống nhân gian. Từ các thiên vương cõi trời Tha Hóa Tự Tại, cho đến Tứ Thiên Vương và thiên vương cõi Sắc, cùng với quyến thuộc cũng sinh xuống nhân gian, số lượng không thể tính kể. Bồ-tát ở trong thai đi, đứng, nằm, ngồi không bị ngăn ngại, chẳng làm cho mẹ đau khổ. Bồ-tát từ sáng sớm ở trong thai nói vô lượng pháp cho chư thiên cõi sắc, đến trưa nói pháp cho chư thiên cõi Dục, đến xế chiều nói pháp cho quỉ thần. Đến đêm cũng có ba thời như vậy”.
Kinh Phổ Diệu ghi: “Bồ-tát ở trong thai mẹ mười tháng đã giáo hóa ba mươi sáu tải trời người,khiến họ an trụ trong hạnh Thinh văn và các hạnh Đại thừa”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Khi bồ-tát ở trong thai mẹ, chúng sinh trong tam thiên đại thiên đều thấy bồ-tát trụ trong thai như thấy mặt mình trong gương sáng”.
5.4.6. Giáo hóa
Kinh Bồ-tátxử thai ghi: “Phật bảo bồ-tát Hỉ Kiến:
- Ông muốn biết cõi nước diệt và chảng diệt của chư Phật quá khứ chăng? Nên biết, thân quá khứ của Ta không thể tính kể. Phật dùng thần lực thông vào cảnh giới thấp sinh với đầy đủ các tướng, trải qua vô-số-a-tăng-kì kiếp thuyết pháp cho loài này. khiến chúng theo sở nguyện đều được giải thoát. Ngài lại vào cảnh giới
của loài hóa sinh và noãn sinh khiến cho chúng tùy theo sở nguvện mà được giải thoát. Ngài lại dùng thần túc thông đi vào cảnh giới của bốn loài trong đời hiện tại và vị lai. Khiến mỗi mỗi lại cũng được giải thoát như trước. Như ngày nay, lúc Ta ở trong thai mẹ thuyết pháp bất thoái chuyển hi hữu cho các bồ-tát chứng thần thông trong mười phương nghe. Ta cũng dùng thân vào cảnh giới của bốn loài cõi trời, vào cảnh cảnh giới của bốn loài địa ngục, vào cảnh giới của bốn loài ngạ quỷ, vào cảnh giới bốn loài súc sinh mà giáo hóa khiến chúng giải thoát. Trong bốn loài thì hai loài thai sinh và hóa sinh mau hết các lậu. Còn hai loài thấp sinh và noãn sinh thì dần dần mới trừ hết. Hóa sinh, thai sinh chính là người lợi căn; thấp sinh, noãn sinh là người độn căn.
Phật bảo A-nan:
- Ông hãy lắng nghe và suy nghĩ kĩ, Ta nay sẽ nói rõ hạnh khó làm của đại sĩ.
A-nan thưa:
- Con rất muốn được nghe!
Phật bảo A-nan:
- về phương đông nam cách đây một ức một vạn một ngàn sáu mươi hai hằng hà sa cõi, có nước Tư Lạc, Đức Phật Hương Diệm Như Lai thị hiện nhập niết-bàn ở nước này rồi sinh lên cung trời Đao-lợi. Trải qua ba mươi sáu a-tăng kì kiếp làm vua trời Đại Phạm, ba mươi sáu a-tăng kì kiếp trở lại làm thân Đế Thích, ba mươi sáu a-tăng-kỳ-kiếp làm Chuyển luân thánh vương để độ chúng sinh không rơi vào hàng Nhị thừa và các cõi ác. Vì sao? Vì đó là nơi mà trí tuệ chư Phật cảm hiện.
Phật bảo A-nan:
- Như Lai có hay không có thai phần?
A-nan Thưa Phật:
- Thân Như Lai không có thai phần.
Phật bảo A-nan:
- Nếu Như Lai không có thai phần, vì sao Như Lai ở trong thai mười tháng, giáo hóa thuyết pháp?
A-nan thưa với Phật:
- Như Lai có thai phần cũng ở nơi tịch lặng, không thai phần cũng ở nơi tịch lặng.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn liền dùng thần túc hiện tướng ngồi, nằm, kinh hành và bày tòa lớn dài rộng tám nghìn do-tuần trong thân mẹ Ma-da.
Bấy giờ, các bậc thềm bằng vàng, bạc, bảo cái lọng lụa trời treo khắp cả hư không, tiếng nhạc ca ngâm không thể kể hết. Phật lại hiện thần túc khiến tất cả bồ-tát ở phương đông, cách thế giới Ta-bà một vạn tám nghìn cõi nước đều đến tụ hội. Phương nam, tây, bắc và bốn phương phụ cũng như vậy. Lại có các bồ-tát thần thông ở sáu mươi hai ức cõi nước phương dưới, các bồ-tát ở bảy mươi hai ức cõi nước phương trên cũng vân tập vào trong thai.
Lúc ấy, bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
- Các bồ-tát đại sĩ vân tập ở đây muốn được nghe pháp bất khả tư nghị của đức Thế Tôn. Trong ức nghìn na-do-tha tam-muội, nay Như Lai nhập tam-muội gì mà ở trong thai nói pháp bất khả tư nghị cho các đại sĩ?
Phật bảo Văn-thù:
- Nay ông quán sát hàng bồ-tát Nhất sinh bổ xứ nhầt trụ, nhị trụ cho đến thập trụ ở các phương, mỗimỗí đang ở đúng vị trí của mình không lẫn lộn. Nay hội chúng này đều thanh tịnh không tạp loạn, cành lá gásinh cũng không nhơ uế. Naỵ trên tòa này chẳng có một người tạp uế, thối chuyển. Vì sao? Vì là bậc lợicăn không ở nơi sinh tử.
Phật lại hỏi Di-lặc:
- Tâm vừa khởi niệm thì có bao nhiêu niệm, bao nhiêu tướng thức?
Di Lặc thưa:
- Trong khoảng thời gian khảy móng tay có ba mươi hai ức trăm nghìn niệm. Niệm niệm thành hình, mỗi hình đều có thức, niệm thức rất vi tế không thể nắm bắt. Oai thần của Phật nhập thức vi tế đó, khiến cho tất cả đều được độ. Ngài từ thức ấy mà giáo hóa, chứ chẳng phải là vô thức.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/10/2015
PUCL QUYỂN 10 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
QUYỂN 10 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.9. NẠP PHI 5.9.1. Lời dẫn Pháp thân vô hình, tùy ứng mà hiện; cơ duyên vô số, nên dấu tích giáo hóa cũng chẳng phải một. Hoặc lìa dục mà thụ đạo...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 9 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT
QUYỂN 9 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.5. XUẤT THAI 5.5.1. Lời đẫn Kính nghĩ! Đức Phật Định Quang thụ kí vào đời tương lai có Phật hiệu là Năng Nhân. Thầm hợp lời huyền kí, nên bồ-tát...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 7 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 7 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.6. ĐỊA NGỤC 4.6.1. Lời dẫn Địa ngục tối tăm đau khổ, vô cùng bi thương; nào là rừng đao cao vút, núi kiếm thấu trời, vạc sôi sùng sục, lò lửa hừng hực....
29/10/2015
PUCL QUYỂN 6 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt)
QUYỂN 6 Quyển này tiếp theo chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO (tt) 4.4. QUỈ THẦN 4.4.1. Lời dẫn Tính của quỉ thần chỉ thích việc yêu tà, ở chốn tối tăm mang nhiều tội lỗi. Có loài ở vách núi thẳm, hoặc có loài nương nơi...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 5 - CHƯƠNG LỤC ĐẠO
QUYỂN 5 Quyển này có một chương Lục đạo. 4. CHƯƠNG LỤC ĐẠO 4.1. CÕI TRỜI 4.1.1. Lòi dẫn Luận về phúc báo cõi trời, thì nào là sự thấy biết đầy đủ cao xa, y phục trang sức rực rỡ, thân hình xinh đẹp nhẹ nhàng. Nhưng trên...
29/10/2015
PUCL QUYỂN 4 - CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ
QUYỂN 4 Quyển này có một chương Nhật nguyệt tinh tú. 3. CHƯƠNG NHẬT NGUYỆT TINH TÚ 3.1. LỜI DẪN Trước khi thế giới hình thành, Nhị nghi còn mờ mịt; sau khi chúng sinh trữ lương thực, tam quang mới rực sáng. Do đó cảm đến...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 3 - CHƯƠNG TAM GIỚI (tt)
QUYỂN 3 Quyển này tiếp theo chương Tam giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI (tt) 2.2. CHƯ THIÊN 2.2.6. Thân lượng 2.2.6.1. Thân lượng chư thiên cõi Dục A-tì-đàm tạp tâm luận ghi: “Bảy cực vi trần bằng một hạt bụi trên mặt hồ A-nậu,...
19/10/2015
PUCL QUYỂN 2 - CHƯƠNG TAM GIỚI
QUYỂN 2 Quyển này có một chương giới. 2. CHƯƠNG TAM GIỚI 2.1. BỐN CHÂU 2.1.1. Lời dẫn Đã xác định sinh vào ba cõi, phân chia trong sáu đường, hẳn có diện mạo đẹp xấu sai biệt, cảm thụ vui khổ khác dòng. Quán nguyên nhân,...
