Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 11 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)

29/10/2015

QUYỂN 11 Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật. 5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt) 5.12. THÀNH ĐẠO 5.12.1. Lời dẫn Từng nghe, bậc Đại Thánh đúng thời xuất hiện, chúng sinh có cảm liền ứng. Ngài chở che khắp mười phương, giáo hóa...

PUCL QUYỂN 11 - CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)
Phần 1

QUYỂN 11
Quyển này tiếp theo chương Thiên Phật.
5. CHƯƠNG THIÊN PHẬT (tt)

5.12. THÀNH ĐẠO 5.12.1. Lời dẫn Từng nghe, bậc Đại Thánh đúng thời xuất hiện, chúng sinh có cảm liền ứng. Ngài chở che khắp mười phương, giáo hóa cùng ba cõi, là đạo sư của bốn loài, là thuyền bè của sáu thú. Cho đến thị hiện các việc: sinh lên Đâu-suất, diệt độ ở Diêm-phù, gá thai, trụ thai, đản sinh, niết-bàn, ở vườn Lâm-tỳ-ni hiện bày ba mươi hai tướng, nơi cội Tất-lợi-xoa phóng mười đạo hào quang, dạo chơi bốn cửa thành, dứt trừ năm món duc, bỏ vương cung một mình vào rừng vắng, nương cội cây đạt ngộ Bồ-đề, hợp bốn bát ở sông Ni-liên, độ năm anh em nơi Lộc uyển, rửa hết ái nhiễm thế gian, tẩy sạch vô minh nhiều kiếp. Từ đó, mặt trời trí tuệ chiếu soi, tám ngục không còn chúng sinh khổ; đức lớn hóa độ vô cùng, lòng từ đượm nhuần chúng sinh. Ngài chỉ diễn nói một ngôn ngữ mà muôn loài đều thấu hiểu. Thời Tượng giáo hưng khởi đến nay đã lâu rồi.
5.12.2. Khất thực
Luật Tứ phần ghi: “Bấy giờ, bồ-tát từ nước Ma-kiệt-đà dần dần đi đến thành Ba-la-duyệt rồi dừng lại nghỉ đêm ở đó. Sáng hôm sau, với dung mạo đoan chính, đầy đủ oai nghi, bước chân khoan thai, mắt hướng thẳng không nhìn hai bên, bồ-tát đắp y mang bát vào thành La-duyệt khất thực. Lúc ấy, vua nước Ma-kiệt cùng với quần thần đang ngồi trên lầu cao, xa thấy bồ-tát vào thành, khoan thai đĩnh đặc, vua bèn nói kệ khen ngợi bồ-tát rồi sai người đến hỏi:
- Tỳ-kheo muốn đến đâu?
Bồ-tát đáp:
- Tôi sẽ đến nghỉ ở núi Ban-đồ-bà.
Sứ liền trở về tâu vua. Nghe xong, vua bèn chuẩn bị xe voi cùng với các quan đến đỉnh lễ bồ-tát. Bấy giờ, vua nói với bồ-tát:
- Nay Ngài có thể ở lại nơi đây, khắp đất nước này đều là của ngài. Tôi sẽ trao mũ báu để Ngài ngồi vào vương vị giáo hóa nhân dân, còn tôi xin phụng sự ngài.
Bồ-tát đáp:
- Tôi đã bỏ ngôi Chuyển luân vương để xuất gia học đạo, lẽ nào lại ở trong thế tục làm vua một nước vùng ven này sao? Nay vua nên biết, giống như có người đã thấy nước biển lớn, lại có thể ham thích nước trong dấu chân trâu sao? Ở đây cũng như thế, lẽ nào tôi đã bỏ ngôi vị Chuyển luân lại làm vua các nước nhỏ? Việc ấy chẳng thể.
Vua lại thưa:
- Nếu Ngài thành Vô thượng đạo thì hãy đến thành La-duyệt độ tôi trước!
Bồ-tát đáp:
- Vâng!
Thế rồi, vua đỉnh lễ dưới chân bồ-tát, nhiễu ba vòng rồi trở về”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bồ-tát nói với vua nước Ma-già-đà:
- Nay chúng ta thật chẳng sợ rắn độc, chẳng sợ sấm sét, cũng chẳng sợ lửa lớn gặp gió mạnh thổi cháy rừng rậm, đầm hoang; chỉ sợ năm dục bức bách. Vì sao? Vì năm dục vô thường giông như giặc cướp tất cả công đức. Thế rồi, bồ-tát liền nói kệ:
Năm dục vô thường hại công đức
Sáu trần hư huyễn tổn chủng sinh
Quả bảo hữu lậu vốn dối người
Ai là bậc trí nên dừng lại.
Ngu sống cõi trời chưa vừa ý
Huống ở cõi người sao thỏa lòng?
Đắm trước dục nhơ không nhận biết
Giống như lửa dữ đốt cỏ khô.
Ngày xưa thánh vương Đinh Sinh kia
Chinh phục bốn châu bằng kim luân
Đế Thích nhường cho nửa tòa báu
Chợt khởi tâm tham liền bị đọa.
Giả như làm vua cả cõi này
Lòng còn muốn chiếm những cõi khác
Người đời tham dục không biết chán
Ví như biển lớn chứa các dòng.
Đại vương nên biết! Ở chân núi Tu-di có hai anh em a-tu-la. Do tham dục, họ cùng yêu một cô gái đẹp, rồi tranh giành dẫn đến đánh giết nhau, kết cục cà hai đều chết. Bồ-tát liền nói kệ:
Ngày xưa, hai anh em tu-la
Vì cô gái đẹp giết hại nhau
Cốt nhục do si thành oán ghét
Người trí thấy rõ chẳng tham cầu.
Bồ-tát lại nói:
- Hoặc có người vì muốn hưởng năm dục mà sinh cõi trời hay cõi người, lại vì năm dục nên gieo thân xuống nước, lao minh vào lửa, hoặc vì năm dục nên tự chuốc lấy oán thù. Bồ-tát nói kệ:
Người ngu, ái dục nên bần cùng
Chịu khổ trói buộc và giết hại...
Vì lòng cầu dục, sinh muôn việc
Phần 2

Bỗng chốc sức tàn khổ đời sau
Kinh Bản hạnh ghi: “Bồ-tát nói kệ:
Như cùng ở lâu trong ân ái
Thời đến mạng hết phải biệt li
Biết được vô thường trong thoáng chốc
Nên tôi vĩnh viễn muốn xa lìa ”.
5.12.3. Học định
Luật Tứ phần ghi: “Bấy giờ, bồ-tát đến chỗ A-lam-ca-lam học định Bất dụng xứ, ngài tu tập tinh tiến, không lâu chứng đắc được định này. Thế rồi, Bồ-tát đi đến chỗ ông Ưất-đầu-lam học định Hữu tưởng vô tưởng, ngài tu tập tinh tiến, không lâu chứng đắc pháp này. Lúc ấy, bồ-tát nghĩ: ‘Hai định này chẳng phải niết-bàn, chẳng phải là chỗ vĩnh viền bặt dứt phiền não’. Chẳng vừa lòng với pháp ấy, bồ-tát bèn rời hai vị đạo nhân đi tìm pháp thù thắng. Pháp thù thắng mà bồ-tát cần tìm chính là pháp vô thượng vĩnh viễn bặt dứt phiền não. Lúc ấy có năm người đi theo bồ-tát nghĩ thầm: ‘Nếu bồ-tát thành đạo thì sẽ nói pháp cho chúng ta”’.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Tiên nhân A-ca-la bảo bồ-tát:
- Phàm phu do dính mắc nơi tham dục nên chịu các khổ như trói buộc... Tất cả đều do đắm trước trần cảnh mà như thế.
Thế rồi, tiên nhân nói kệ:
Sơn dương bị giết vì tiếng kêu
Thiêu thân vào đèn do màu lửa
Con cá cắn câu vì miếng mồi
Người chết do cảnh dục kéo lôi ”.
Luận Tân Bà-sa ghi: “Khi còn làm bồ-tát, Đức Phật đã nhàm chán lão, bệnh, tử, vượt thành Kiếp-ti-la-phạt-tốt-đổ cầu trí vô thượng. Bấy giờ, vua Tịnh Phạn sai năm người họ Thích đi theo hầu. Trong số đó, hai người thuộc họ mẹ, ba người thuộc họ cha. Hai người thuộc họ mẹ chấp rằng hưởng lạc sẽ được thanh tịnh; ba người thuộc họ cha cho rằng khổ hạnh sẽ được thanh tịnh. Vì thế, lúc bồ-tát tu khổ hạnh hai người thuộc họ mẹ không chịu được liền bỏ đi. Sau đó, bồ-tát biết khổ hạnh là con đường sai lầm, nên bỏ hạnh này, ngài trở lại thụ thực, uống sữa, dùng dầu xoa thân, tu tập hạnh xử trung. Do đó ba người thuộc họ cha đều cho rằng Bồ-tát cuồng loạn thất chí, lại cũng bỏ đi. Sau khi thành đạo Thế Tôn nghĩ: ‘Năm người này đều là thân thuộc của cha mẹ ta, trước đây họ đã cung kính cúng dường ta, nay ta muốn báo ân mà chẳng biết họ nơi nào?’. Chư thiên liền bạch: *
- Nay họ đều ở tại vườn Nai, nơi của các tiên nhân, thuộc nước Bà-la-ni-tư.
- Vì sao tên là Bà-la-ni-tư?
- Đây là tên một dòng sông. Thành này cách sông không xa, nên thành cũng có tên Bà-la-ni-tư.
- Vì sao nơi ấy gọi là Tiên Nhân Luận xứ?
Đáp: Có hai thuyết: một, vì Phật là bậc tiên nhân tối thắng, các Ngài đều sơ chuyển pháp luân nơi đây nên gọi chỗ này là Tiên nhân luận xứ. Hai: Có thuyết cho rằng chư Phật không nhất định chuyển pháp luân nơi đây, nên nói nơi đây là Tiên Nhân trụ xứ. Bởi vì Phật xuất thế thì có Phật đại tiên và chúng thánh tiên đệ tử an trú. Phật không xuất thế thì có bậc độc giác tiên ờ đây. Nếu không có bậc độc giác thì có tiên nhân ngũ thông ở. Vì nơi này thường có chư tiên đã ở, đang ở và sẽ ở nên gọi là Tiên Nhân trụ xứ.
Còn có thuyết cho rằng nên gọi nơi đây là Tiên Nhân đọa xứ, vì ngày xưa có năm trăm vị tiên đang bay trên không trung khi ngang qua đây gặp nhân duyên xấu nên rơi xuống.
- Vì sao gọi là vườn Nai?
Đáp: Ở vườn này thường có đàn nai sinh sống, nên gọi là vườn Nai. Xưa có vua tên Phạm-đạt-đa dành khu vườn này cho đàn nai sinh sống, nên gọi nơi này là vườn Nai. Như trưởng giả Yết-lan-đạc-ca ở trong rừng trúc thuộc thành Vương Xá đào một cái ao cho chim Yết-lan-đạc-ca đùa giỡn, nhân đó gọi ao ấy là ao Yết-lan-đạc-ca. Ở đây cũng như thế, nên gọi là vườn Nai.
5.12.4. Khổ hạnh
Bấy giờ, bồ-tát đến vườn Nai, chỗ của năm anh em Kiều-trần-như để tu khổ hạnh. Trải qua sáu năm, bồ-tát nhịn đói, thực hành lối sống hết sức khắc nghiệt, hơn cả thầy mình, nhưng không đắc đạo, chỉ uổng công nhọc xác. Vì thế, kinh Niết-bàn ghi: “Bồ-tát dùng pháp khổ hạnh để dứt trừ tâm tham dục, ngày ăn một hạt mè, trải qua bảy ngày như thế. Bồ-tát ăn hạt gạo, hạt đậu hồng, hạt gai, hạt kê, cho đến hạt đậu trắng, mỗi thứ bảy ngày. Bồ-tát tu khổ hạnh lâu ngày khiến thân thể khô gầy, chỉ còn da bọc xương, như trái bầu đem phơi ngoài nắng, mắt của bồ Tát hõm sâu như đáy giếng. Thịt tiêu, gân lộ như nhà tranh hư mục, xương sống lồi lên như sợi dây thừng. Chỗ bồ-tát ngồi như dấu chân ngựa, muốn ngồi thì mọp xuống, muốn đứng thì ngã nghiêng. Tuy chịu sự khổ vô ích như thế, mà Bồ-tát vẫn không lui sụt tâm Bồ-đề”.
Kinh Bồ-tát xử thai ghi: “Phật bảo bồ-tát Khổ Hạnh: Xưa Ta chịu vô số hạnh khổ, trải qua sáu năm tu khổ hạnh bên bờ sông Ni-liên, ngày ăn một hạt mè, hạt gạo. Việc này là do trong một kiếp quá khứ Ta đã phạm bốn lỗi của miệng, làm cho vị duyên giác không được cúng dường, nên phải chịu quả báo nhẹ như thế”.
Kinh Đại tập ghi: “Bấy giờ, bồ-tát Quang Vị nói kệ với đại chúng:
Thế Tôn quá khứ hằng sa kiếp
Bố thí cúng dường nhiều vô lượng
Trì giới thanh tịnh và nhẫn nhục
Tinh tiến, tọa thiền, hành trí tuệ
Làm cho chúng sinh thảy an lạc
Vô số gian khổ đều nhẫn chịu.
Sáu vạn mĩ nữ hầu trong cung
Rũ bỏ xuất gia như cởi giày
Một mình sáu năm tu khổ hạnh
Ngày ăn một hạt mè hoặc gạo.
Đêm ngày tinh tiến chẳng hề ngủ

Phần 3

Thân hình tiều tụy da bọc xương
Bên gốc Bồ-đề ngồi tư duy
Thiên ma cả thảy tám mươi vạn
Kéo đến vây quanh khắp mười phương
Tám mươi do-tuần đều đông nghịt.
Như thể ma quân và quyến thuộc
Muốn đến phá hoại đều qui hàng
Bồ-đề vô thượng Ngài tựu thành
Đệ nhất nghĩa đế đã chứng đắc
5.12.5. Ăn cháo sữa
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Sáu năm đã mãn, vào mùa xuân, ngày mười sáu tháng hai, bồ-tát thầm nghĩ: ‘Nay Ta chẳng nên dùng thức ăn này để chứng A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Hôm nay, Ta sẽ đến ai để xin thức ăn ngon, ai có thể cho Ta thức ăn ngon ấy để ta chứng A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề?’.
Khi ấy, có một thiên tử biết được ý ngài, liền đi đến nhà hai cô gái con của trưởng thôn Thiện Sinh bảo: ‘Các cô nên biết, hiện nay bồ-tát cần thức ăn ngon, sau khi ngài dùng xong sẽ chứng A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Bây giờ chính là lúc các cô chuẩn bị mười sáu phần cháo sữa ngon’.
Hai cô gái nghe thiên tử nói như vậy vui mừng vô hạn, lập tức vắt sữa một nghỉn con bò cái, đem sữa ấy cho năm trăm con bò uống. Ngày sau vắt sữa năm trăm con bò này đem cho hai trăm năm mươi con bò uống; ngày kế vắt sữa hai trăm năm mươi con bò này đem cho một trăm hai mươi lăm con bò uống; ngày kế vắt sữa một trăm hai mươi lăm con bò này đem cho sáu mươi con bò uống; ngày kế vắt sữa sáu mươi con bò này đem cho ba mươi con bò uống; ngày kế vắt sữa ba mươi con bò này đem cho mười lăm con bò uống; ngày kế vắt sữa mười lăm con bò này và lấy một chút gạo tẻ nấu thành cháo sữa dâng cúng bồ-tát. Lúc hai cô gái nấu cháo sữa thì trong nồi cháo hiện ra nhiều tưởng: hoặc hiện binh đầy hoa, hoặc hiện nước sông có tám tính chất, hoặc hiện chữ vạn, hoặc hiện bánh xe nghìn căm, hoặc hiện trâu chúa, hoặc hiện voi chúa, rồng chúa, hoặc hiện cá, hoặc hiện đại trượng phu, hoặc hiện Đế Thích, hoặc hiện Phạm vương, hoặc hiện cháo sữa sôi, phun lên nửa cây đa-la rồi bỗng chốc hạ xuống, hoặc hiện cháo sữa sôi, phun cao đến một cây đa-la rồi lại hạ xuống, hoặc hiện cháo sữa sôi, phun cao một trượng rồi lại vào nồi, không rơi một giọt ra ngoài. Lúc ấy, có một thầy tướng giỏi đi đến, thấy nồi cháo sữa xuất hiện các hình tướng như thế, bèn nói: ‘Thật hi hữu! Ai ăn cháo sữa này chẳng bao lâu sẽ chứng được diệu dược Cam lộ’
Sáng sớm ngày hai mươi ba tháng hai, bồ-tát đi đến nhà trưởng thôn, im lặng đứng ngoài cổng khất thực. Con gái của trưởng thôn thấy bồ-tát, liền lấy bát vàng đựng đầy cháo sữa hòa với mật đi đến chồ bồ-tát, tự tay dâng lên, bạch: ‘Xin ngài thương xót con mà nhận bát cháo sữa hòa mật này’.
Bồ-tát nhận bát cháo sữa, mang đến sông Ni-liên thiền. Có một rồng nữ tên là Ni-liên-đồ-da từ đất vọt lên, cẩm thuyên đề của cõi trời dâng cúng bồ-tát. Bồ-tát nhận rồi ngồi lên đó dùng bát cháo sữa. Dùng xong, nhờ phúc báo đời quá khứ tu khổ hạnh, nên thân thể bồ-tát hồi phục như xưa, đầy đủ ba mươi hai tướng quí và tám mươi vẻ đẹp, không khuyết giảm.
Sau đó, bồ-tát ném bát vàng xuống sông. Lúc ấy, trong lòng Hải Long vương cho rằng rất hiếm có và rất kì lạ, vì Bồ-tát khó xuất hiện trên đời. Ông bèn cầm lấy bát vàng định đem về long cung cúng dường, nhưng thiên chủ Thích-đề-hoàn-nhân hóa thành chim cánh vàng đoạt lấy bát vàng đem về cung trời Đao-lợi để cúng dường. Cõi trời Tam Thập Tam đặt ra một ngày lễ gọi là Cúng dường bát vàng của bồ-tát. Từ đó đến nay, ngày lễ ấy vẫn duy trì.
Dùng cháo sữa xong, bồ-tát từ tòa đứng dậy thong thả đi đến cây bồ-đề, còn thuyên đề ấy được con gái long vương thâu lại đem về cung rồng cúng dường.
Có bài kệ:
Bồ-tát như pháp dùng cháo sữa
Con gái Thiện Sinh đem cúng dường
Dùng xong hoan hỉ đến đạo tràng
Quyết tâm muốn chứng đạo bồ-đế ”.
Đạo Tuyên luật sư trụ trì cảm ứng kí đã trinh bày rõ về nhân duyên Thế Tôn thành đạo, và cũng đẵ được ghi trong phần Quán Đới quyển mười Pháp uyên châu lâm.
Cảm ứng kí ghi: “Tứ thiên vương nói với luật sư:
- Mười một năm sau khi thành đạo, một hôm Thế Tôn cùng đệ tử ở trong vườn của trường giả Tu-ma thuộc thành Vương Xá, Ngài bảo các đại bồ-tát cùng các đại đệ tử: ‘Khi ta vượt thành xuất gia đến đất nước của vua Bình-sa, trên đường gặp một người nữ chăn trâu. Ta nói:
- Tôi cảm thấy hơi đói, cô hãy cho tôi thức ăn?
Người nữ hỏi:
- Ngài đến đâu?
- Tôi muốn đến Bồ-đề
Người nữ lại hỏi:
- Ngài tên là gì?
- Tôi tên Tất-đạt!_Thế Tôn nói.
Người nữ lại thưa:
- Tôi đọc sách Phệ-đà, thấy trong đó có ghi: ‘Không lâu sau sẽ có bậc đại trí thành Chính giác’ Tôi thấy giọng nói và tướng mạo cùa ngài là tướng của chư Phật. Tôi là vị thần núi ở đây, đã trải qua sáu mươi đại kiếp được thân cận hầu hạ các Đức Phật quá khứ. Ngài đi theo tôi đến nơi ở, tôi sẽ dâng ngài thức ăn. Vào thời quá khứ, lúc Đức Phật Ca-diếp nhập niết-bàn, ngài trao cho tôi một chiếc bình đựng nước, trên cổ chiếc binh có vẽ cặp rồng quấn quanh, phía dưới có con sư tử ngồi, Chiếc bình này được chế tạo từ thời Phật Câu-lưu-tôn, các ngài lần lượt giao cho tôi giữ đến thời Phật Lâu-chí. Trong chiếc bình rồng này có chứa nước tám tính chất. Nếu lúc đói khát uống nước này, thì có thể diệt trừ phiền não, tăng trưởng bồ-đề. Ngài cũng chớ xem thường chiếc bình nhỏ này, giả sử đổ hết nước bốn biển vào, bình cũng còn chưa đầy. Trong đó, có long vương và di pháp của ba vị Phật đầu tiên tại kiếp Hiền, bình này cũng không khác với cung rồng Ta-kiệt-la.

Phần 4

Lại nữa, Đức Phật Ca-diếp giao cho tôi một lò hương và một chiếc hộp bằng vàng ròng để trao cho ngài. Mặt trước lò hương này có mười sáu đầu, trong đó có tám đầu sư tử và tám đầu voi trắng, ở trên những đầu thú ấy, lại đặt một đài sen. Xung quanh lò lại có sáu tòa lầu bạc, trên lầu có thiên đông cao khoảng hai thốn, tổng cộng có chín mươi sáu thiên đồng. Mỗi lúc đốt hương, các thiên đồng thay phiên nhau châm hương vào lò. Mặt sau của lò có con sư tử ngồi xổm hướng đầu ra ngoài, trên đầu sư tử có chín con rồng vây quanh cùng đội một hoa sen vàng phía trên, trong hoa có đài vàng, đài chính là bảo tử. Bảo từ có báu mươi ba vạn ức cung điện lớn bằng chân châu, chứa đầy hương quí.
Lại có mười ba vạn lá vàng khắc tạng tì-ni, trong đó có tì-kheo nhập định Diệt tận. Đến lúc đốt hương, thì các đồng tử ở đầu lò đi đến đài báu, mỗi vị đều hát khúc Thiêu hương. Cửa đài tự mở, các tì-kheo xuất định, lấy hương ở cung điện chân châu trao cho các thiên đồng rồi cửa đài tự đóng lại.
Chín con rồng ngậm lầu bạc vây quanh đài. Trong đài bạc có thiên đồng thường trỗi nhạc trời ca ngợi đốt hương, âm thanh êm dịu không gì sánh bằng, chúng sinh nghe được khởi lòng tin và ngộ đạo. Mỗi lúc thuyết pháp, Như Lai cầm lò hương đứng trước đại chúng, thiên đồng lấy hương đến trao cho Phật để Ngài cúng dường.
Còn trong hộp vàng có cất giữ bộ kinh Đại Bát-nhã, với ba mươi ức bài kệ, khắc trên lá vàng, đường kẻ bằng bạch ngọc, chữ bằng bạch ngân. Hộp ấy dài ba thốn, bên trong có hình hai vị tì-kheo với tư thế nhập định Diệt tận. Hộp này và lò hương đều được chế tạo từ thời Phật Câu-lưu-tôn, rồi các ngài lần lượt giao tôi giữ, cho đến Phật Lâu-chí. Chư Phật sắp xuất thế đều mở hộp này để xem kinh điển, vì nhờ sức bát-nhã, thiên ma chẳng thể nhiễu hại, mau chứng chính giác. Nay tôi giao lại cho Ngài, Ngài hãy cố gắng giữ gìn chớ đề hư mất.
Ta nhận bảo vật đó rồi, ở nơi cội bồ-đề, sáu năm khổ hạnh thường uống nước trong bình ấy nên trừ được đói khát, phiền não cũng chẳng còn.
Lại nữa, lúc Như Lai sắp thành đạo, xuống sông tắm gội, nhận bát cháo sữa của hai người con gái, đến cội bồ-đề muốn ngồi lên tòa kim cang. Sơn thần đến chỗ ta nói:
- Nay Ngài thành đạo, nên theo phép tắc của chư Phật thời quá khứ. Nếu sắp thành đạo muốn ngồi tòa kim cang thì trước nên cầm lư hương nhiễu quanh chỗ ngồi bảy vòng, chư Phật trong mười phương, mỗi vị đều niêm hương rồi cắm vào lư. Nay Ngài đã đến lúc thành đạo, nên theo phép tắc của chư Phật trước đây.
Phật theo pháp ấy, nhiễu quanh đạo tràng Bồ-đề ba mươi hai vòng. Lúc ấy, mười phương chư Phật cũng đến trao hương rồi bảo hàng bồ-tát Thập địa, vua trời cõi Phạm, vua trời Đế Thích, bốn vị thiên vương, vua cõi người, vua cõi rồng đến trước lư trao hương. Phật dùng oai thần làm hương lan tỏa khắp mười phương lên đến trời Hữu Đỉnh, chúng sinh thụ khổ ngửi được mùi hương đều giải thoát, các căn đầy đủ, trí tuệ tăng trưởng... Những thần biến vô lượng không thể kể hết.
Chư Phật lại bảo Phạm vương rót nước bình rồng ấy lên chân đức Thế Tôn. Các vị vua Ma Phạm, Đế Thích, Tứ thiên vương cùng vua cõi người lần lượt rửa chân đức Thế Tôn. Lúc ấy, mặt đất chấn động sáu cách. Như Lai ngồi trên tòa sen sắc vàng, từ bàn chân phóng ra hào quang sắc vàng. Chư Phật trong mười phương đều đến trao hương. Trong ánh hào quang, Đức Phật Lô-xá-na đưa tay sắc vàng xoa đỉnh Phật Thích-ca. Ngài lại nói diệu pháp: ‘Ta nay đối trước chư Phật trong mười phương trao giai vị Vô thượng pháp vương cho Phật Thích-ca Văn”.
Thế là chư Phật tác pháp yết-ma tại kim đàn, vô lượng hằng sa trời người nghe chư Phật tác pháp tức thì thân tâm liền vắng lặng, như tì-kheo vào tứ thiền. Chư Phật làm pháp yết-ma trao ngôi vị Pháp vương rồi, mặt đất lại chấn động sáu cách. Phật phóng ánh sáng chiếu khắp mười phương, làm các Phật sự lợi ích thánh phàm không thể kể hết’”.
5.12.6. Tòa cỏ
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Sau khi bồ-tát tắm rửa và dùng cháo sữa xong, sắc diện tươi nhuận, thân thể khỏe mạnh như xưa, Ngài thong thả đi đến cội bồ-đề. Bồ-tát suy nghĩ: ‘Nơi đạo tràng bồ-đề này ta nên ngồi tòa gì?’. Ngài lại nghĩ: ‘Ta nên ngồi trên tòa cỏ’. Bậy giờ, trời Tịnh Cư bạch bồ-tát: ‘Chư Phật quá khứ sắp thành tựu Bồ-đề đều ngồi tòa cỏ mà thành tựu chính giác’. Bồ-tát lại nghĩ: ‘Ai là người có thể trải tòa’ cho ta?' rồi Ngài nhìn quanh.
Lúc ấy, vua trời Đao-lợi dùng thiên trí biết được tâm niệm của bồ-tát, liền hóa thành người cắt cỏ, tay cầm bó cỏ đứng bên phải bồ-tát, cách chẳng gần chăng xa. Bó cỏ thơm sạch, ngọn luôn quay về phía phải, màu sắc rất đẹp giống như lông cổ con công chúa, mềm mại bóng mượt giống như vải mịn nước Ca-thi. Bồ-tát hỏi:
- Này nhân giả! Ông tên gì?
Người ấy đáp:
- Tôi tên là Cát Lợi.
Bồ-tát nghĩ: ‘Nay ta muốn tự thân được cát tường và lợi ích (cát lợi) và cũng vì người khác mà cầu cát lợi. Nay cát lợi đang ở trước mặt ta, ta quyết định chứng đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề’.
Thế rồi, bồ-tát nói với người ấy:
- Ngươi có thể cho ta bó cỏ này không?
Người ấy nói:
- Vâng, tôi xin dâng Ngài.
Thế rồi, người ấy dâng bó cỏ lên bồ-tát.
Lúc bồ-tát nhận bó cỏ, mặt đất chấn động sáu cách. Khi bồ-tát mang bó cỏ đến cội bồ-đề, chợt có năm trăm con thanh tước từ mười phương bay đến nhiều quanh bồ-tát ba vòng rồi lại đi theo. Kế đó lại xuất hiện năm trăm chim Câu-sí-la, năm trăm chim khổng tước, năm trăm ngỗng trắng, năm trăm hồng hạc, năm trăm bạch âu, năm trăm chim Ca-lăng-tần-già, năm trăm chim cộng mạng, năm trăm voi trắng sáu ngà, năm trăm ngựa trắng, đầu tai màu đen, lông bờm rẽ, lông đuôi xòe rũ, đều rất dài và màu đỏ, năm trăm trâu chúa đều có u cổ giống như mây đen.
Lại có năm trăm đồng tử, năm trăm đồng nữ đều đeo những chuỗi báu đẹp, năm trăm thiên tử, năm trăm thiên nữ, năm trăm bình báu đựng đầy những nước thơm tuyệt hảo, không có người mang mà tự bay trên không và tất cả những điềm lành ở trong thế gian từ bốn phương tụ lại, tất cả đều theo phía phải nhiễu quanh bồ-tát ba vòng rồi đi theo Ngài. Tất cả âm nhạc trời từ trên không trung đồng trỗi lên vui mừng ca ngợi bồ-tát”.
Kinh Thụy ứng bản khởi ghi: “Thích-đề-hoàn nhân hóa thành người cầm bó cỏ sạch mềm mại đến gần bồ-tát. Bồ-tát hỏi:
- Ồng tên gì?
Đáp:

Phần 5

- Tôi tên Cát Tường.
Bồ-tát nghe thế lòng rất vui mừng, vì phá bất tường thành cát tường”.
Kinh Quán tam-muội ghi: “Bồ-tát vừa trải tòa cỏ thì mặt đất chấn động mạnh, chư Phật hóa thành tám vạn tòa sư tử, mỗi tòa đều ở tại một cây bồ-đề. Cây bồ-đề cao lớn không đồng, có cây cao tám nghìn dặm,
bốn nghìn dặm, có cây cao trăm nghìn do-tuần, có tất cả tám vạn cây. Nay cây bồ-đề của Thích-ca thấp nhất, lại có nhiều thiên y trải tòa”.
Kinh Phật Tam-muộỉ ghi: “Đức Phật thưa với vua cha:
- Con ra khỏi vương cung đến cây a-du-đà cách thành Già-da không xa.
Lúc ấy, trăm nghìn thiên tử như thiên tử Cát An đều nghĩ: ‘Nếu bồ-tát ngồi đây thì nhất định phải cần tọa cụ, nay ta nên dâng cỏ trời để làm tọa cụ cho ngài’. Các vị thiên tử liền dâng cỏ trời thơm sạch, mềm mại tên là Cát Tường. Bồ-tát nhận cỏ rồi trải tòa ngồi. Bấy giờ, chư thiên lại thấy giữa chặng mày của Phật có sợi lông trắng cuộn tròn về phía phải, đường kính khoảng ba thốn, lóng lánh trăm nghìn màu sắc, ảnh hiện các cảnh tượng. Các thiên tử đều nghĩ: ‘Nay bồ-tát chỉ nhận cỏ của ta, không nhận cỏ của người khác’; Lúc ấy, trong tướng lông trắng lại có trăm ức bồ-tát ngồi kết già, mỗi vị đều lấy cỏ trời trải ngồi nơi cội cây bồ-đề. Mỗi vị thiên tử đều thấy trong cuộn lông trắng đều có cảnh tượng như vậy.
Có một vị thiên tử tên là Duyệt Ý thấy cỏ mọc từ đất xuyên qua thịt bồ-tát lên đến khuỷu tay bèn bảo các vị thiên tử: ‘Này các vị! Lạ thay, bồ-tát khổ hạnh như thế, chẳng ăn nhiều bữa, chẳng nghe tiếng gọi, cỏ mọc chẳng biết!’. Thế rồi, vị trời ấy dùng tay phải duỗi thẳng sợi lông trắng của bồ-tát. Khi duỗi thẳng lông trắng dài một trượng bốn thước năm thốn, trong suốt giống như bạch ngọc của chư thiên. Chư thiên lại thấy bên trong lông trắng có trăm ức tia sáng, ánh sáng ấy vi diệu không thể nói hết. Thấy như thế, chư thiên đều ca ngợi cho rằng chưa từng có, liền buông tay để lông trắng cuộn trở lại rồi trở về cõi trời.
Bấy giờ, Bồ-tát đã hàng phục quân ma, chúng kéo nhau về cung trời, sợi lông trắng phóng theo đến cung trời thứ sáu. Vô số các vị trời nam nữ thấy bên trong sợi lông trắng rỗng tròn rất đẹp như bảo tràng của vua trời cõi Phạm.
Như Lai có vô lượng tướng quí và vẻ đẹp, nhưng công đức của các tướng ấy không bằng một phần nhỏ công đức của tướng sợi lông trắng”.
5.12.7. Hàng phục quân ma
Kinh Nhân quả ghi: “Vào ngày mồng bảy tháng tư, lúc mặt trời đã lặn, trăng non bắt đầu lên Thế Tôn hàng phục ma quân. Hoa quả trong rừng tươi tốt như vào mùa xuân”.
Luận Trí độ ghi: “Bấy giờ, thiên ma dẫn tám mươi vạn quân đến quấy nhiễu Phật. Từ giữa chặng mày, Phật phóng hào quang khiến chúng đều tan biến”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Ma vương giận dữ muốn xông thẳng đến chỗ bồ-tát. Con của ma vương can ngặn: ‘Phụ vương chẳng tội gì phải chuốc khổ vào mình. Bồ-tát nhập định vững như quả đất, khó làm dao động, thế thì phá hoại làm gì?”’.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Ngày xưa Như Lai ở nơi cội bồ-đề, ác ma Ba-tuần dẫn tám mươi ức quân ma đến phá Phật. Ma vương nói:
- Sao ngươi lại ngồi đây một mình? Hãy mau đứng dậy! Nếu không, ta nắm chân ngươi ném xuống biển.
Phật đáp:
- Ta xem khắp thế gian, chẳng ai có thể ném được ta. Kiếp trước, ở tại một ngôi chùa nọ, ngươi đã phát nguyện thụ trì tám giới trong một ngày, lại cúng dường một bát cơm cho bích-chi phật, do nhân này nên người sinh lên làm ma vương ở tầng trời thứ sáu cõi Dục. Còn ta ở trong ba a-tăng-kì kiếp cũng từng cúng dường các bậc thanh văn, duyên giác chẳng thể tính kể.
Ma vương nói:
- Ngươi nói ngày xưa ta từng trì giới một ngày, cúng dường cơm cho bích-chi phật, điều đó là thật, ta cũng tự biết và ngươi cũng biết ta; còn việc của ngươi cúng dường thì ai chứng biết?
Phật bèn đưa tay chỉ xuống đất nói:
- Quả đất này làm chứng cho ta.
Lúc Phật nói lời này, tất cả đại địa chấn động sáu cách. Thần đất từ lớp kim cang xuất hiện chắp tay bạch Phật:
- Con xin làm chứng! Từ khi có quả đất đến nay con thường ở trong đó, lời của Thế Tôn chân thật không dối.
Phật nói với ma Ba-tuần:
- Nay nếu ngươi có thể nhấc được bình nước của ta thì ngươi mới ném được ta ra biển.
Thế rồi, ma Ba-tuần hợp lực với tám mươi ức quân ma, nhưng không thể lay động được chiếc bình của Phật. Ma vương ma quân đều té ngã và tự tiêu tan”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bấy giờ con trưởng của ma vương Ba-tuần tên là Thương Chủ đỉnh lễ dưới chân bồ-tát và tỏ bày sám hối: ‘Quí thay, Đại Thánh! Mong Ngài cho phép cha của con tỏ bày sám hối. Chúng con phàm phu ngu muội, cạn hẹp giống như đứa bé không hiểu biết. Chúng con dẫn quân ma biến hiện nhiều tướng trạng uy hiếp, quấy phá bậc Thánh. Trước đó, con đã thưa với cha rằng: ‘Thái tử Tất-đạt với tâm trung chính như thế, dù là người trí thông suốt các đạo thuật cũng không thể hàng phục được, huống là chúng ta’. Nay xin bậc thánh rộng lòng tha thứ cho cha con! Cha con vô trí không biết đạo lí, uy hiếp bậc thánh, thì làm sao giữ được sinh mạng này? Đại Thánh vương! Mong thệ nguyện của Ngài chóng thành tựu, sớm đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”.
5.12. 8. Thành đạo
Kinh Phổ Diệu ghi: “Bồ-tát ngồi nơi gốc cây bồ-đề, vào lúc sao mai vừa mọc bỗng nhiên đại ngộ. Bồ-tát mười chín tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành đạo”.
Bát-nhã thích luận ghi: “Bồ-tát thành Phật ở trong rừng Âu-lâu-tần-loa”.
Kinh Tự thệ tam-muội ghi: “Lúc bồ-tát mới thành Phật, chư Phật trong mười phương đều tặng ca-sa, Đức Phật hợp tất cả thành một chiếc y. Chiếc y ấy nay được cúng dường ở Phạm thiên”.
Kinh Không hành tam-muội ghi: “Phật A-di-đà đắc đạo trước ta bốn kiếp. Phật Duy-vệ đắc đạo trước ta ba kiếp. Phật Năng Nhu ba mươi tuổi diệt độ, Phật Ca-diếp mười tám tuổi đắc đạo, còn ta hai mươi bảy tuổi đắc đạo”.

Phần 6

Nay đa phần đều cho rằng bồ-tát xuất gia năm mười chín tuổi, ba mươi tuổi thành đạo. nên chấp nhận thuyết này bởi đó hợp với các thuyết khác.
Luật Thiện Kiến ghi: “Ba ngày sau khi sinh, bồ-tát đắc Nhất thiết trí”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Phật đản sinh, xuất gia và đắc đạo đều ngày mồng tám tháng tư”. Nay cho thuyết này là chính xác.
5.12.9. Chư thiên tán thán Kinh Hoa nghiêm ghi: “Bấy giờ Như Lai dùng thần lực tự tại, chẳng rời chỗ ngồi mà đến điện Diệu Thắng ở trên đỉnh Tu-di, rồi lên điện Bảo Trang Nghiêm ở trời Dạ-ma, đến điện Nhất Thiết Bảo Trang Nghiêm ở cõi Đâu-suất. Lúc ấy, vua trời Đâu-suất nương thần lực của Phật nói kệ:
Vô ngại, Như Lai tợ trăng rằm
Đệ nhất điềm lành nay ứng hiện
Đi vào cung điện báu trang nghiêm
Thế nên nơi đây rất an lạc
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Bấy giờ, đo thần lực của Như Lai, tất cả thế giới chứ Phật trọng mười phương, những cõi Diêm-phù-đề trong các tứ thiên hạ đều có Như Lai ngồi ở nơi cội bồ-đề và tất cả đều hiện bày. Thế Tôn dùng thần lực chẳng rời khỏi tòa, mà bay lên đỉnh Tu-di đến cung điện Đế Thích. Lúc ấy, Đế Thích nói kệ:
Bảy Phật như Đức Phật Định Quang
Điềm lành đệ nhất trong điềm lành
Phật ấy từng đi đến chốn này
Thế nên nơi đây cát tường nhất.
Thế Tôn lại dùng sức oai thần, chẳng rời cây bồ-đề mà bay lên cung điện Đế Thích, rồi lại đến cung điện Bảo Trang Nghiêm ở trời Dạ-ma. Lúc ấy, vua trời Dạ-ma nói kệ:
Danh tiếng Như Lai vang mười phương
Điềm lành đệ nhất trong điềm lành
Đi đến cung điện báu ma-ni
Thế nên nơi này rất cát tường
5.12.10. Biến hóa
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Phật tử! Trong mỗi niệm của chư Phật đều có thể sinh mười trí vô tận. Thế nào là mười trí vô tận:
1. Bồ-tát mạng chung ở cõi trời Đâu-suất, ngay trong một niệm hiện đến hết thảy thế giới.
2. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát đản sinh.
3. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát xuất gia.
4. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát thành chính giác nơi đạo tràng bồ-đề.
5. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát chuyển pháp luân.
6. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát tùy cơ ứng thân hóa độ tất cả chúng sinh làm cho đều được giải thoát.
7. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát hiện thân trang nghiêm ứng hợp với chúng sinh.
8. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát hiện vô lượng trang nghiêm và vô số trang nghiêm nhất thiết trí tạng tự tại của Như Lai.
9. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát hiện chúng sinh thanh tịnh trong tất cả thế giới.
10. Trong một niệm hiện tất cả thế giới, bồ-tát vì vô lượng chư căn, tinh tiến, dục tính mà hiện bày chủng tính của ba đời chư Phật thành Đẳng chính giác, hóa độ chúng sinh.
Phật tử! Đó là chư Phật ở trong mỗi niệm mà thành tựu mười vô tận trí”.
Luận Trí độ ghi: “A-tì-đàm nói: Trong một lúc chẳng khởi hai tâm. Khi hóa Phật nói thì hóa chủ im lãng, khi hóa chủ nói thì hóa Phật im lặng. Nhưng cũng một lúc Phật có thể nói sáu ba-la-mật?
Đáp: Đó là cách biến hóa của ngoại đạo và Thanh văn. Còn Phật biến hóa là do sức vô lượng tam-muội chăng thể nghĩ bàn, nên lúc Phật tự nói thì vô lượng thiên vạn ức hỏa Phật cũng đều nói.
Lại nữa, các ngoại đạo và thanh văn chỉ một lớp biến hóa mà thôi, còn Phật Thế Tôn đã biến hóa rồi từ chỗ biến hóa lại biến hóa. Vì thế, các ngoại đạo, thanh văn sau khi thân diệt chẳng thể để lại hóa thân, còn Phật, sau khi diệt độ lưu lại hóa Phật có thể biến hóa như Phật thật không khác.
Trong A-tì-đàm nói trong một lúc chẳng khởi hai tâm. Nay Phật cũng thế, lúc hóa Phật nói cũng chẳng có hai tâm, tâm Phật nghĩ đến hóa Phật, muốn hóa Phật nói thì hóa Phật liền nói.
5.13. THUYẾT PHÁP
5.13.1. Lời dẫn
Từng nghe, Đại Thánh ứng cơ hiện hình không nhất định, nơi nào Ngài hiện đến đều được lợi ích. Thế nên, đế thì chia chân tục, sự lại định hình tâm, nương giả và thật mà thượng cầu, mượn quyền và thừa để hạ hóa. Do sinh lão bệnh tử chưa thể xa lìa, nên Bồ-đề niết-bàn cần có tu chứng. Nhưng nội điển vô biên đều do ứng cơ mà nói. Đầu tiên, Phật chuyển pháp luân ở nước Ba-la-nại, độ năm anh em Kiều-trần-như, cho đến độ huynh đệ Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... Thanh thế Phật pháp lan rộng từ Tây Vực sang đông phương, khiến cho hai mươi tám vị thiên chủ và mười sáu vị quốc vương đều theo đạo, dốc lòng chắp tay hướng về.
Thế rồi, nơi cung trời Tha Hóa ngài nói pháp Thập địa, trên hang núi Linh Thứu mở bày giáo nghĩa ba thừa. Thiện Cát bàn chân tông vô đắc, Tịnh Danh hiện yếu chỉ không lời. Hàng phục mười tiên ngoại đạo, nhiếp hóa lục quần tì-kheo. Tướng chữ vạn thâu phóng khắp biển sông, lòng bàn tay lay động rừng núi.
Nhân địa tu tập của Ngài, luận về kiếp thì nhiều kiếp thạch cũng không thể bằng; luận về thân, dù tính hết số vi trần cũng không thể sánh. Ngài là bậc đạo sư của ba cõi không ai sánh bằng, tôi là kẻ tầm thường làm sao thuật hết. Dù cho Lễ-Nhạc

Phần 7

của Chu công, Dịch-Thi của thánh Khổng, lời trong Dư Tứ, văn của Thương Yển cho đến Tả Nguyên Phóng, Cát Hiếu Nguyên, Lão Đam, Hà Thượng Công, Trang Chu... cũng đều là pháp thế gian đâu có gì đáng nói? Pháp của thầy chúng ta là qui tắc của trời người, là khuôn vàng của ba cõi, khi truyền đến Trung Hoa, làm lợi ích vô cùng, trị sạch ba độc, thắp sáng trăm đèn, kế thừa không dứt, đâu thể nói hết
5.13.2. Hợp với căn cơ
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Như Lai xuất thế giống như mặt trời mọc, trước tiên chiếu các núi chúa, kế đó chiếu các núi cao, kế tiếp chiếu núi báu kim cang, sau đó mới chiếu lên mặt đất. Ánh sáng mặt trời không tự nghĩ: Trước ta nên chiếu núi chúa sau mới chiếu đất bằng. Do núi có cao thấp nên chiếu có trước sau, Như Lai cũng thế, bình đẳng cứu độ khắp tất cả, nhưng căn cơ chúng sinh có lợi, độn nên cảm giáo pháp của Ngài có trước sau, do thấy nghe chẳng đồng, nên có Tiểu thừa, Đại thừa sai biệt”.
Luật Sa-di-tắc ghi: “Phật đã đắc đạo, trải qua bảy ngày tận hưởng pháp lạc giải thoát. Lúc ấy, có năm trăm cỗ xe chở đường phèn của hai anh em thương nhân người ngoại quốc là Đề-vị và Ba-lợi đi ngang qua cội cây Ngài ngồi. Hai người phát tâm dâng bột đường, Tứ thiên vương dâng bát. Phật thụ nhận rồi nói tam qui cho hai anh em nghe. Bảy ngày tiếp theo long vương Văn Lân dâng thức ăn của loài phi nhân và bảy ngày tiếp theo Tư-na dâng thức ăn, bốn chị em cùng thụ nhị qui y. Sau bảy ngày này Phạm vương đên thỉnh Phật chuyển pháp luân”.
Kinh Phổ diệu ghi: “Bấy giờ, Phạm vương cùng với sáu vạn tám nghìn quyến thuộc đi đến chỗ Phật, thành kính đinh lễ cầu thỉnh Ngài chuyển pháp luân. Phật nhận lời rồi nói: ‘Kiếp trước ta ở Ba-la-nại cúng dường sáu trăm ức Đức Phật, nên chuyển pháp luân đầu tiên ở đó’. Sau khi thành đạo, Phật ngồi quán cội cây bảy ngày để báo ân của cây, nên chưa thuyết pháp”.
Luận Trí độ ghi: “Sau khi thành đạo, Ngài chưa vội thuyết pháp. Trong năm mươi bảy ngày Phật xem xét cơ duyên, sau đó mới thuyết pháp. Bảy ngày đầu Ngài muốn dùng pháp Đại thừa để hóa độ. Bảy ngày thứ bảy, Ngài suy nghĩ dùng pháp Tiểu thừa để dẫn dắt chúng sinh”.
Kinh Bồ-tát anh lạc ghi: “Thế Tôn đang chuyển pháp luân tại vườn Thanh Minh Lộc Dã, vì những người lâu ngày khát ngưỡng chính pháp mà Ngài rưới nhuần pháp cam lộ”.
Kinh Trung bản khởi ghi: “Thế Tôn thầm nghĩ: ‘Ngày xưa, Ta xuất gia từng nhờ phạm chí A-lan-ca-lan dẫn đường. Ông rất kính mến Ta, nay nên đem giáo pháp nói cho vị ấy trước’. Đang lúc suy nghĩ thì trên không trung có tiếng thưa:
- Người ấy đã mất cách đây bảy ngày.
Phật lại nghĩ: ‘Nên độ uất-đầu-lam-phất’. Chư thiên lại thưa:
- Người này cũng vừa mất tối hôm qua.
Ngài lại nghĩ: ‘Xưa vua cha sai năm người Câu-lân, Át-bệ, Bạt-đề, Thập-lực-ca-diếp, Ma-nam-câu-lợi theo hộ trì ta. Những người này là ân nhân, ta nên đến độ họ”’.
Kinh Chuyển pháp luân ghi: “Lúc Phật ở nơi cội cây trong vườn Lộc Dã, tự nhiên có bánh xe từ không trung bay đến, xoay tròn trước mặt Phật. Phật vỗ vào bánh xe, nói: ‘Ta từ xưa đến nay lưu chuyển vì danh sắc, nay ái dục đã tận, không còn lưu chuyển’. Bánh xe liền dừng”.
Kinh Thập nhị du ghi: “Sau khi thành đạo, năm thứ nhất, từ ngày mồng tám tháng tư đến ngày mười lăm tháng bảy, Phật ngồi nơi cội cây bồ-đề.
Năm thứ hai, Phật thuyết pháp cho năm người tại vườn Nai.
Năm thứ ba, Phật thuyết pháp cho ba anh em uất-tỳ Ca-diếp. Bấy giờ, chúng đệ tử tổng cộng một nghìn người.
Năm thứ tư, Phật thuyết pháp cho quỉ rồng tại núi Tượng Đầu.
Năm thứ năm, Ngài độ Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Xá-lợi-phất bảy ngày đắc A-la-hán, Mục-kiền-liên mười lăm ngày thì đắc A-la-hán.
Năm thứ sáu, Tu-đạt và Kì-đà dâng cúng tinh xá cho Phật. Tinh xá có mười hai viện, bảy mươi hai giảng đường, ba nghìn sáu trăm phòng, năm trăm lầu gác.
Năm thứ bảy, Phật thuyết kinh Bát-nhã cho tám người như bồ-tát Bà-đà-hòa... tại vườn Câu-da-ni.
Năm thứ tám, Phật thuyết pháp cho em vua Độn-chân-đà-la tại Liễu Sơn.
Năm thứ chín, Phật thuyết pháp cho A-quật-ma ở đầm uế.
Năm thứ mười, Phật đến nước Ma-kiệt-đà thuyết pháp cho vua Phất-sa.
Năm thứ mười một, Phật thuyết kinh Bản khởi cho Di-lặc tại cây Khủng Cụ.
Năm thứ mười hai, Phật trở về quê hương thuyết pháp cho tám vạn bốn nghìn người họ Thích”.
Kinh Trung bản khởi ghi: “Thế Tôn ở nước Ma-kiệt-đề sáu năm. Lúc Phật sắp về thăm quê, vua Tịnh Phạn sai Ưu-đà-diên rước Phật”. Tôi nghi thuyết này khác với thuyết trước, nhưng chưa xác định được.
Kinh Phổ diệu ghi: “Vua sai Phạm chí Ưu-đà đón Phật. Xa cách mười hai năm, vua luôn mong ngóng được gặp Phật. Bảy ngày sau, Phật trở về quê hương”.
Kinh Phân biệt công đức ghi: “Phật trở về quê hương, phi hành trên hư không cao bằng đầu người, khiến cho vua cha chạm chân Ngài chứ Ngài không muốn cha phải cúi mình”.
Kinh Đại tập ghi: “Mười sáu năm sau khi Phật thành đạo, Ngài biết các bồ-tát có thể duy trì được tạng pháp nên ở giữa Dục giới và sắc giới, Ngài hiện ra thềm báu lớn khiến đại chúng vào đó rồi bay lên hư không”.
Kinh Phân biệt công đức ghi: “Về nơi thuyết kinh, sở dĩ không nói chỗ khác mà chỉ nói Xá-vệ là vì Phật ở nước này hai mươi lăm năm, so với các nước khác thì Ngài ở đây lâu nhất. Lại vì nước này có nhiều vật trân quí kì đặc, con người có đạo nghĩa. Tinh xá Kì Thụ có những ứng nghiệm thần dị, lúc chúng tăng vân tập thì khỉ và mấy nghìn con chim đủ loại cùng đến nghe pháp, yên lặng không một tiếng động. Sau khi nghe pháp xong, chúng liền trở về nơi ở. Khi nghe đánh kiền chùy chủng lại bay đến nghe pháp. Do đất nước này có nhiều bậc nhân từ, nên các loại chim thú đến nương tựa”.
Luận Trí độ ghi: “Thành Xá-vệ có chín mươi vạn hộ, ba mươi vạn hộ được diện kiến Phật, ba mươi vạn hộ chỉ tin mà không thấy Phật, ba mươi vạn hộ không thấy cũng không nghe’. Đức Phật ở thành này hai mươi lăm năm mà có lợi ích như vậy, huống gì Đức Phật ở lâu hơn nữa, thì lợi ích vô cùng”.

Phần 8

5.13.3. Lợi ích của thuyết pháp
Kinh Bồ-tát tùng Đâu-suất thiên giáng thần mâu thai thuyết quảng phổ ghi: “Bấy giờ, Thế Tôn hiện tướng kì đặc, biến tất cả các bồ-tát đều thành thân Phật, đầy đủ hào quang, đồng lời nói pháp. Các vị Phật kính trọng lẫn nhau và đồng ngồi tòa cao bảy báu tuyệt đẹp. Pháp hội thứ nhất thuyết pháp cho thính chúng toàn là người nam không có người nữ. Hội thứ hai thuyết pháp, thính chúng toàn là người nữ không có người nam. Hội thứ ba thuyết pháp chỉ độ người chính kiến. Hội thứ tư thuyết pháp chỉ độ người tà kiến. Hội thứ năm thuyết pháp độ số người nam và người nữ bằng nhau. Hội thứ sáu thuyết pháp độ số người tà kiến và chính kiến bằng nhau.
Ngay lúc ấy, pháp pháp đều thành tựu mà không có ai thành tựu được đạo quả của Như Lai. Theo phép thường, chư Phật luôn thuyết pháp, thuyết nghĩa, thuyết thần túc. Pháp hội thứ bảy nói tám vạn bốn nghìn pháp môn Không hạnh. Pháp hội thứ tám nói tám vạn bốn nghìn pháp môn Vô tướng. Pháp hội thứ chín nói tám vạn bốn nghìn pháp môn Vô nguyện. Mỗi một pháp môn có vô lượng nghĩa, giống như người trí tuệ, thân có nghìn đầu, mỗi đầu có nghìn lưỡi, mỗi lưỡi nói nghìn nghĩa. Nếu muốn nắm hết nghĩa lí của chín pháp hội này thì trong trăm nghìn phần chưa được một phần. Thế nên, tạng pháp sâu kín tinh diệu của chư Phật đều do nhiều kiếp trước học rộng mà thành tựu”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục