Buddha.com.vn

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI

17/02/2016

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM HẰNG GIÀ ĐỀ BÀ - THỨ NĂM MƯƠI CHÍN Bấy giờ trong đại chúng có một nữ nhân tên Hằng Già Đề Bà, từ c...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI
Phần 1

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM HẰNG GIÀ ĐỀ BÀ - THỨ NĂM MƯƠI CHÍN

Bấy giờ trong đại chúng có một nữ nhân tên Hằng Già Đề Bà, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai hữu, gối hữu chấm đất, chắp tay bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Tôi sẽ hành sáu ba la mật để tịnh Phật quốc độ, đúng như lời dạy cùa đức Phật trong Bát nhã ba la mật".
Nữ nhân này đem hoa vàng, hoa bạc, cùng hoa tươi dưới nước, trên đất với những món cúng dường trang nghiêm và hai tấm thảm dệt bằng chỉ vàng, trải trên đức Phật. Trên hư không ngay đảnh đức Phật, những món của nhân vừa rải để cúng dường đó liền hóa thành bốn cột đài báu ngắn ngắn xinh đẹp. Nữ nhân này đem công đức cúng dường Phật cùng chung với tất cả chúng sinh hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Khi đó đức Phật biết rõ thâm tâm của nữ nhân này nên liền mỉm cười, đúng như cách thức của chư Phật, những tia sáng nhiều màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng từ miệng đức Phật chiếu khắp mười phương vô lượng vô biên Phật độ, những tia sáng ấy xoay trở về nhiễu quanh bên hữu đức Phật ba vòng rồi nhập vào đảnh đức Phật.
Ngài A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối hữu, chắp tay thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà đức Phật mỉm cười? Theo pháp của chư Phật, không bao giờ vô cớ mà cười".
Đức Phật phán dạy: "Này A Nan! Hằng Già Bà Đề này sẽ thành Phật ở đời vị lai trong kiếp Tinh Tú, hiệu là Kim Hoa Phật.
Này A Nan! Nữ nhân này sau khi chết sẽ thọ thân nam tử, sinh về nước Diệu Hỷ của đức Phật A Súc. Ở nước Diệu Hỷ đó tu phạm hạnh thanh tịnh.
Này A Nan! Ở nước Diệu Hỷ, Bồ Tát đó hiệu là Kim Hoa. Khi mãn báo ở nước Diệu Hỷ, Bồ Tát Kim Hoa sẽ sinh về cõi nước chư Phật khác, mãi mãi chẳng xa rời chư Phật.
Như Chuyển Luân Thánh Vương từ một hành cung này đến một hành cung khác, trọn đời chân Vương chẳng đạp đất.
Cũng vậy, từ một nước Phật đến một nước Phật, mãi đến khi thành Vô thượng Bồ đề, Kim Hoa Bồ Tát chưa có lúc nào chẳng thấy Phật".
Ngài A Nan thầm nghĩ Kim Hoa đại Bồ Tát sau này thành Phật, phải biết đại hội Bồ Tát cũng như pháp hội của Phật.
Đức Phật bảo Ngài A Nan: "Đúng như chỗ ngươi vừa nghĩ, thời kỳ Phật Kim Hoa, đại hội Bồ Tát phải biết là như pháp hội của Phật.
Này A Nan! Thuở Phật Kim Hoa, Tỳ Kheo Tăng đông vô lượng vô biên, chẳng đếm được, có thể là ngàn trăm, ngàn vạn ức na do tha. Trong nước đó không có những thứ xấu uế như đây".
- Bạch đức Thế Tôn! Từ nơi nào mà nữ nhân này gieo cội phước đức, trồng căn lành?
- Này A Nan! Từ nơi Phật Nhiên Đăng, nữ nhân này mói đầu phát tâm Bồ đề, trồng căn lành, hồi hướng Phật đạo.
Lúc đó, nữ nhân này cũng dùng hoa vàng, rải cúng dường Phật Nhiên Đăng để cầu Vô thượng Bồ đề.
Này A Nan! Như lúc đó chính ta dùng năm cành hoa, rải cúng dường Phật Nhiên Đăng để cầu Vô thượng Bồ đề. Phật Nhiên Đăng biết thiện căn của ta đã thành tựu nên thọ ký Vô thượng Bồ đề cho ta. Nữ nhân này nghe ta được thọ ký liền nguyện rằng: Cầu mong cho tôi ở đời sau cũng được thọ ký Vô thượng Bồ đề như đại Bồ Tát này.
Này A Nan! Ngươi nên biết rằng từ nơi Phật Nhiên Đăng, nữ nhân này mới đầu phát Bồ đề tâm.
- Bạch đức Thế Tôn! Phải chăng nữ nhân này từ lâu đã tu tập Vô thượng Bồ đề?
- Đúng như vậy. Này A Nan! Từ lâu nữ nhân này đã tu tập Vô thượng Bồ đề".

PHẨM HỌC KHÔNG BẤT CHÚNG - THỨ SÁU MƯƠI

Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Muốn hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát học không tam muội và nhập không tam muội thế nào? Học vô tướng tam muội, vô tác tam muội và nhập vô tướng, vô tác tam muội thế nào? Học tứ niệm, xứ nhẫn đến học bát thánh đạo và tu tứ niệm xứ nhẫn đến tu bát thánh đạo thế nào?”.
- Này Tu Bồ Đề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát phải quán sắc không, phải quán thọ, tưởng, hành, thức không, phải quán thập nhị nhập, thập bát giới không, nhẫn đến phải quán Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới không.
Lúc quán như vậy chớ cho tâm tán loạn.
Nếu tâm chẳng tán loạn, đại Bồ Tát chẳng thấy pháp ấy. Nếu chẳng thấy pháp ấy thì chẳng chứng. Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát này khéo học tự tướng không, chẳng có gì khác, chẳng có ai, phần chứng pháp chứng đều chẳng thể thấy được.
- Bạch đức Thế Tôn! Như đức Phật dạy: Đại Bồ Tát chẳng nên ở nơi không pháp mà tác chứng.
Bạch đức Thế Tôn! Tại sao đại Bồ Tát an trụ trong không pháp mà tác chứng?
- Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát quán không được đầy đủ, trước hết nguyện như vầy: Nay tôi chẳng nên ở nơi không mà tác chứng, nay là lúc tôi học, chẳng phải lúc tôi chứng. Đại Bồ Tát chẳng chuyên nhiếp tâm cột ở trong cảnh duyên, vì thế mà đại Bồ Tát chẳng thối chuyển trong Vô thượng Bồ đề, cũng chẳng chứng lấy quả vô lậu.
Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát rất khéo hành như vậy, thời diệu pháp được thành tựu. Tại sao vậy? Lúc an trụ trong không pháp, đại Bồ Tát tự nghĩ nay là lúc tôi học, chằng phải lúc chứng.
Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát phải nghĩ rằng: Nay là lúc tôi học Đàn ba la mật nhẫn đến lúc tôi học Bát nhã ba la mật, chẳng phải là lúc chứng, là lúc tôi tu tứ niệm xứ, chẳng phải là lúc chứng, nhẫn đến là lúc tu bát thánh đạo, chằng phải là lúc chứng, là lúc tu ba tam muội, chằng phải là lúc chứng, là lúc tu mười trí lực, chẳng phải là lúc chứng, nhẫn đến là lúc tôi học nhất thiết chủng trí, chằng phải là lúc chứng quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến quả A La Hán cùng đạo Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Như thế đó, đại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật học không quán, an trụ trong không, học vô tướng, vô tác, tu tứ niệm xứ nhẫn đến tu bát thánh đạo chẳng chứng tứ niệm xứ nhẫn đến chẳng chứng lấy bát thánh đạo.
Đại Bồ Tát này dầu học, dầu hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo mà chẳng tác chứng quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến chẳng tác chứng quả Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Ví như tráng sĩ dũng mãnh, giỏi binh pháp sáu mươi bốn môn, tay nắm chặt binh khí đứng yên bất động, nghệ thuật giỏi, tướng đẹp sạch, mọi người ai cũng yêu kính, tạo sự nghiệp ít, được hưởng lợi nhiều. Do cớ này mà được đại chúng cung kính, tôn trọng, ca ngợi. Thấy mọi người kính trọng, tráng sĩ này lại càng hoan hỉ, vì sự duyên ít nên sẽ đến xứ khác để giúp đỡ kẻ già yếu qua khỏi chỗ hiểm nạn khủng bố. Giữa đường hiểm trở có nhiều giặc cướp núp ngầm cưóp hại. Do tráng sĩ đó đầy đủ trí lực nên mọi người qua được đường hiểm trở, về đến nhà chẳng bị cướp hại, đều an ổn vui mừng.
Này Tu Bồ Đề! Cũng vậy, đại Bồ Tát ở trong tất cả chúng sinh, tâm từ bi hỉ xả tràn đầy cùng khắp, khi đó đại Bồ Tát an trụ trong bốn tâm vô lượng, đầy đủ sáu ba la mật, chẳng chứng lấy quả vô lậu, học nhất thiết chủng trí, nhập ba môn giải thoát: không, vô tướng, vô tác. Bấy giờ Bồ Tát chẳng theo tất cả các tướng, cũng chẳng chứng vô tướng tam muội. Vì chẳng chứng vô tướng tam muội nên chẳng sa vào các bậc Thanh Văn và Bích Chỉ Phật.
Này Tu Bồ Đề! Ví như chim có đủ cánh, bay lượn trong hư không chẳng bị rơi rớt, dầu chim ở trong hư không mà chẳng an trụ trong hư không.
Phần 2
Cũng vậy, đại Bồ Tát dầu học không, vô tướng, vô tác giải thoát môn mà chẳng tác chứng. Vì chẳng tác chứng nên chẳng sa vào bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật Dầu chưa đủ mười trí lực, đại từ, đại bi, vô lượng Phật pháp, nhất thiết chủng trí mà cũng chẳng chứng lấy không, vô tướng, vô tác giải thoát môn.
Này Tu Bồ Đề! Ví như xạ thủ đại tài, bắn tên lên hư không lại nối tiếp bắn tên lên ghim lấy tên trước, các mũi tên ghim giữ nhau chẳng cho rơi xuống đất theo ý của xạ thủ đó, nếu cho rớt thì thôi không bắn tên lên nữa, bấy giờ các mũi tên mới rớt xuống đất.
Cũng vậy, đại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật. Vì Vô thượng Bồ đề do sức phương tiện, lúc các thiện căn chưa đầy đủ thì chẳng chứng lấy thật tế, nếu thiện căn đã đầy đủ mói chứng lấy thật tế.
Thế nên, Tu Đồ Đề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát nên như vậy mà quán pháp tướng của các pháp.
- Bạch đức Thế Tôn! Chỗ làm của đại Bồ Tát thật là rất sâu. Tại sao vậy? Vì dầu đại Bồ Tát học các pháp tướng ấy, học thật tế, học như, học pháp tính, học rốt ráo không, nhẫn đến học tự tướng không và ba môn giải thoát mà trọn chẳng giữa đường sa vào bậc Nhị thừa: Thanh Văn, Bích Chi Phật Thật là ít có vậy.
- Này Tu Bồ Đề! Vì chẳng rời bỏ tất cả chúng sinh nên đại Bồ Tát này phát nguyện như vậy.
Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát nghĩ rằng tôi chẳng nên rời bỏ tất cả chúng sinh. Tất cả chúng sinh chìm trong pháp vô sở hữu, tôi phải cứu độ họ. Lúc đó Bồ Tát liền nhập không giải thoát môn, vô tướng giải thoát môn, vô tác giải thoát môn. Phải biết đại Bồ Tát này thành tựu sức phương tiện, lúc chưa được nhất thiết chủng trí, hành ba môn giải thoát mà chẳng giữa đường chứng lấy thật tế.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát muốn quán những pháp thậm thâm, đó là nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ nhẫn đến ba môn giải thoát. Bấy giờ đại Bồ Tát phải có tâm niệm như vầy: Các chúng sinh mãi đi trong tướng ngã nhẫn đến tướng tri giả, kiến giả, dính nơi pháp sở đắc, tôi vì dứt các tướng này cho chúng sinh nên lúc được Vô thượng Bồ đề tôi sẽ thuyết pháp. Bấy giờ đại Bồ Tát hành không vô tướng, vô tác giải thoát môn mà chẳng chứng thật tế. Vì chẳng chứng nên sa vào bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đềỉ Do tâm muốn thành tựu thiện căn như vậy nên đại Bồ Tát chẳng giữa đường tác chứng thật tế, chẳng mất tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ định, tứ niệm xứ, nhẫn đến chẳng mất mười tám pháp bất cộng. Khi đó đại Bồ Tát thành tựu tất cả pháp trợ đạo, nhẫn đến thành tựu Vô thượng Bồ đề trọn chẳng hao, chẳng giảm. Vì có sức phương tiện nên Bồ Tát này thường tăng ích pháp lành, căn trí thông lợi hơn cả căn trí của A La Hán và Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát nghĩ rằng: Các chúng sinh mãi dính nơi bốn điên đảo: chấp thường, chấp lạc, chấp tịnh và chấp ngã. Vì các chứng sinh này mà tôi cầu nhất thiết chủng trí. Lúc tôi được Vô thượng Bồ đề, sẽ vì họ mà nói pháp vô thường, khổ, bất tịnh và pháp vô ngã. Đại Bồ Tát thành tựu tâm nguyện như vậy, dùng sức phương tiện Bát nhã ba la mật, dầu chưa được Phật tam muội, chưa đầy đủ mười trí lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí, đại từ đại bi, mười tám pháp bất cộng, nhưng chẳng chứng lấy thật tế. Lúc ấy tu vô tác giải thoát môn, dấu chưa được Vô thượng Bồ đề nhưng chẳng chứng lấy thật tế.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát nghĩ rằng: các chúng sình mãi chấp trước pháp sở đắc. Đó là ngã, chúng sính nhẫn đến trí giả, kiến gỉả. Ấy là sắc, là thọ, tưởng, hành, thức, là nhập, là giới, là tứ thiền, lậ tứ vô lượng tâm, là tứ định, là tu hành như vậy. Lúc tôi được Vô thượng Bồ đề, sẽ làm cho chúng sinh chẳng chấp pháp sở đắc như vậy.
Bồ Tát thành tựu tâm đó, dùng sức phương tiện hành Bát nhã ba la mật, lúc chưa đầy đủ mười trí lực nhẫn đến mười tám pháp bất cộng thì chẳng chứng lấy thật tế, khi đó Bồ Tát tu không tam muội đầy đủ.
Lại này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát nghĩ rằng: Chúng sinh mãi mãi đi trên các tướng, đó là những tướng nam, nữ, sắc, vô sắc. Nếu lúc tôi được Vô thượng Bồ đề, sẽ làm cho chúng sinh không có nhận thức các tướng sai lầm như vậy. Bồ Tát thành tựu tâm đó, dùng sức phương tiện hành Bát nhã ba la mật, lúc chưa đầy đủ mười trí lực nhẫn đến pháp bất cộng thì không chứng lấy thật tế. Khi đó Bồ Tát tu vô tướng tam muội đầy đủ.
Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát học sáu ba la mật, học nội không nhẫn đến học vô pháp hữu pháp không, học tứ niệm xứ nhẫn đến học ba giải thoát môn, học mười trí lực, bốn vô úy, bốn vô ngại, đại từ đại bi, học mười tám pháp bất cộng, thành tựu trí huệ như vậy thì chẳng bao giờ chấp trước những pháp tạo tác hoặc trụ trước trong tam giới.
Lúc đại Bồ Tát này học pháp trợ đạo cùng hành pháp trợ đạo, nên thử hỏi rằng: Đại Bồ Tát muốn được Vô thượng Bồ đề sao lại học quán các pháp không mà chẳng chứng lấy thật tế, vì chẳng chứng lấy nên chẳng sa vào hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật. Quán vô tướng, vô tác, vô khởi, vô sinh, vô sở hữu, cũng chẳng chứng lấy thật tế mà tu Bát nhã ba la mật?
Này Tu Bồ Đề! Lúc thử hỏi như trên, nếu đại Bồ Tát đó đáp thế này: Đại Bồ Tát chỉ nên quán không, chỉ nên quán vô tướng, vô tác, vô khởi, vô sinh, vô sở hữu, Đại Bồ Tát chẳng nên học không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô khởi, vô sở hữu, chẳng nên học pháp trợ đạo.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết Bồ Tát đó chưa được chư Phật thọ ký Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy? Vì người này chẳng nói được chỗ sở học của bậc Bồ Tát bất thối chuyển, chẳng trình bày được, chẳng giải đáp được.
Nếu đại Bồ Tát đó nói được, giải đáp được chỗ sở học của bậc bất thổi chuyển, phải biết đó là bậc đã học đạo Bồ Tát, nhập bậc Bạc địa như chư đại Bồ Tát bất thối chuyển khác".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Chừng có Bồ Tát chưa được bất thối chuyển mà giải đáp được chăng?”.
Đức Phật phán dạy: "Có. Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát đó nơi Bát nhã ba la mật hoặc đã nghe hoặc chẳng nghe, có thể giải đáp được như bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển”.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Rất đông Bồ Tát cầu Phật đạo mà ít có Bồ Tát giải đáp được như các bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển trong hàng hữu học và vô học như vậy”.
Đức Phật phán dạy: "Đúng như vậy. Bồ Tát rất ít Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát ít có được thọ ký bậc Càn Huệ bất thối chuyển. Nếu người nào được thọ ký thì có thể giải đáp được. Thiện căn của người đó sáng rõ. Tất cả chư thiên cùng người đời không ai phá hoại được”.

PHẨM MỘNG TRUNG BẤT CHỨNG - THỨ SÁU MƯƠI MỐT

Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Nếu đại Bồ Tát nhẫn đến trong chiêm bao, chẳng tham muốn bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng chẳng tham muốn ba cõi. Quán các pháp như mộng, như ảo, như hưởng, như diêm, như hóa, cũng chẳng chứng lấy.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết đó là tướng bất thối chuyển của đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát trong chiêm bao thấy Phật cùng vô số Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Thiên, Long, Quỷ, Thần. Thấy đức Phật thuyết pháp cho đại chúng. Bồ Tát này theo Phật nghe pháp liền hiểu nghĩa trong đó rồi thật hành theo pháp.
Phải biết đó là tướng bất thối chuyển của đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Trong chiêm bao, đại Bồ Tát thấy đức Phật đủ ba mưoi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo, phóng ánh sáng vọt lên không trung thuyết pháp cho chúng đại Tỳ Kheo, rồi hiện đại thần lực biến làm hóa nhân đến Phật độ khác mà làm Phật sự.
Phải biết đó là tướng bất thối chuyển của đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Nếu trong chiêm bao, đại Bồ Tát thấy giặc nổi dậy đánh phá xóm làng, thành thị, hoặc phóng hỏa, hoặc thấy những ác thú cọp, sói, sư tử, hoặc thấy có kẻ muốn đến chặt đầu mình, hoặc thấy cha mẹ, anh chị, bạn hữu chết. Dầu thấy bao nhiêu sự dữ hung, khổ sầu như vậy mà chẳng kinh sợ, buồn lo. Sau khi thức giấc liền suy gẫm ba cõi hư vọng đều như cảnh chiêm bao thôi. Lúc tôi được Vô thượng Bồ đề, sẽ vì chúng sinh mà giảng nói ba cõi như chiêm bao.
Phải biết đó là tướng bất thối chuyển của đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Thế nào mà biết là đại Bồ Tát bất thối chuyển lúc được Vô thượng Bồ đề, trong nước không có ba ác đạo?
Trong chiêm bao, nếu đại Bồ Tát thấy các Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục liền nghĩ rằng tôi phải siêng năng tình tấn, lúc được Vô thượng Bồ đề, trong cõi nước tôi
Phần 3

không có ba ác đạo. Tại sao vậy? Vì cảnh chiêm bao cùng các pháp không hai, không sai khác.
Phải biết đó là tướng bất thối chuyển của đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Trong chiêm bao, đại Bồ Tát thấy lửa Địa ngục nấu chúng sinh liền phát thệ: Nếu tôi thật là bậc bất thối chuyển, nguyện lửa này liền tắt.
Nếu lửa Địa ngục liền tắt theo lời nguyện, phải biết đó là tướng bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Ban ngày đại Bồ Tát thấy thành thị bị hỏa hoạn liền nghĩ rằng: Trong chiêm bao, tôi thấy hạnh, loại, tướng mạo bất thối chuyển, nay tôi thật có như vậy. Tự lập thệ rằng: Xin cho lửa này liền tắt.
Sau khi lập thệ, nếu lửa liền tắt thì phải biết đó là đại Bồ Tát được thọ ký Vô thượng Bồ đề, trụ bậc bất thối chuyển.
Nếu lửa đó chẳng liền tắt, đốt cháy từ nhà này đến nhà khác, từ xóm này đến xóm khác, này Tu Bồ Đề! Phải biết những nhà bị cháy là do đời trước nghiệp nhân phá pháp sâu dầy nên đời nay mang tai họa thừa ấy.
Do nhân duyên đó, phải biết là tướng bất thối chuyển của đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Nay đức Phật lại vì người mà nói hạnh, loại, tướng mạo của đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Nếu có nam tử hay nữ nhân bị quỷ thần dựa. Khi đó Bồ Tát tự nghĩ: Nếu tôi được chư Phật quá khứ thọ ký, tâm tôi thanh tịnh cầu Vô thượng Bồ đề, hành chính đạo thanh tịnh, xa rời tâm cầu Thanh Văn, Bích Chi Phật, đáng được Vô thượng Bồ đề. Tôi quyết chắc sẽ được Vô thượng Bồ đề, chẳng phải là không được. Hiện tại chư Phật ở mưòi phương quốc độ không gì chẳng biết, chẳng thấy, chẳng hiểu, chẳng chứng. Chư Phật biết thâm tâm tôi định chẳc quyết sẽ được Vô thượng Bồ đề. Do lòng chí thành phát thệ ấy, nam tử hay nữ nhân bị quỷ thần dựa não hại đây sẽ được khỏi khổ nạn, quỷ thần sẽ rời xa.
Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát phát thệ như vậy, nếu quỷ thần chằng rời đi, thì phải biết Bồ Tát đó chưa được chư Phật quá khứ thọ ký Vô thượng Bồ đề. Nếu quỷ thần rời thì phải biết đã được chư Phật quá khử thọ ký Vô thượng Bồ đề.
Do những hạnh, loại, tướng mạo đó mà biết là đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bõ Đề! Đại Bô Tát xa rời sáu ba la mật và sức phương tiện, tu hành tứ niệm xứ nhẫn đến ba môn tam muội chưa lâu, chưa nhập địa vị Bồ Tát. Bồ Tát đó bị ác ma nhiễu hại bèn thệ rằng, nếu tôi thật được chư Phật thọ ký thì quỷ thần này phải rời đi. Ác ma có oai lực hơn quỷ thần nên quỷ thần liền rời đi. Bồ Tát này nghĩ rằng do sức thệ nguyện của tôi mà quỷ thần phải rời đi, chứ chẳng biết là sức của ác ma. Vì cậy chỗ chứng đắc đó nên khinh dễ các Bồ Tát khác: Tôi đã được chư Phật thọ ký, còn các Ngài thì chưa. Sinh lòng tăng thượng mạn. Do đây mà xa lìa nhất thiết chủng trí, xa lìa Vô thượ ng Bồ đề.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết người đó sa vào hai bậc: hoặc bậc Thanh Văn, hoặc bậc Bích Chi Phật.
Do nhân duyên luống thệ như trên, không có sức phương tiện nên mà sự phát khỏi. Người đó vì chẳng thân cận, y chỉ thiện tri thức, chẳng hỏi rành tướng mạo bất thối chuyển nên bị ma trói buộc càng thêm kiên cố.
Tại sao vậy? Vì Bồ Tát đó hành sáu ba la mật chẳng được lâu nên không có sức phương tiện.
Phải biết đó là ma sự của Bồ Tát
Này Tu Bồ Đề! Thế nào là Bồ Tát hành sáu ba la mật chẳng được lâu, nhẫn đến chưa nhập địa vị Bồ Tát, bị ác ma nhiễu hại?
Này Tu Bồ Đề! Ác ma hóa hiện các thứ thân hình đến bảo Bồ Tát rằng: Ở chỗ chư Phật, Ngài được thọ ký Vô thượng Bồ đề. Ngài tên ấy, cha tên ấy, mẹ tên ấy, anh chị em tên ấy, bảy đời cha mẹ của Ngài tên họ như vậy, Ngài sinh trong ấp ấy, làng ấy, thành ấy, nước ấy, tại địa phương ấy. Nếu thấy Bồ Tát tính hạnh hòa nhu, ác ma nói: Đời trước Ngài cũng hòa nhu. Nếu thấy Bồ Tát thấy tính nóng gấp, ác ma nói: Đời trước ngài cũng như vậy. Nếu thấy Bồ Tát tu hạnh tịch tịnh, ác ma nói: Đời trước Ngài cũng tu như vậy. Nếu thấy Bồ Tát khất thực, nạp y, chiều chẳng uống tương, một lần ngồi ăn, ăn một bát, ở nơi gò mả, ở chỗ trống, ở dưới cây, ngồi luôn chẳng nằm, ngồi kiết già, chỉ thọ ba y, hoặc thiểu dục, hoặc tri túc, hoặc tu hạnh xa lìa, hoặc chẳng thoa chân, hoặc ít nói chuyện, ác ma bèn nói: đời trước Ngài cũng có hạnh như vậy, đời nay Ngài có công đức Đầu Đà này, đời trước Ngài cũng có công đức như vậy.
Bồ Tát nghe nói việc đời trước và họ tên, lại nghe khen ngợi công đức Đầu Đà liền vui mừng, sinh lòng kiêu mạn.
Bấy giờ ác ma nói: Ngài có công đức như vậy, có tướng như vậy, Ngài đã thật chư Phật thọ ký Vô thượng Bồ đề.
Này Tu Bồ Đề! Ác ma hiện làm Tỳ Kheo vấn y, hoặc hiện làm Cư Sĩ, hoặc hiện hình cha mẹ đến bảo Bồ Tát: Ngài đã được thọ ký Vô thượng Bồ đề. Tại sao? Vì bao nhiêu tướng bất thối chuyển, Ngài đều có đủ.
Này Tu Bồ Đề! Thật ra những tướng mạo bất thối chuyển chân thật của đức Phật nói, người này hoàn toàn không có.
Phải biết Bồ Tát đó bị ma nhiễu hại. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát đó hoàn toàn không có tướng mạo bất thối chuyển. Nhân nghe khen tặng mà sinh lòng kiêu mạn, khinh miệt người khác.
Phải biết đó là ma sự của Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Bồ Tát hành sáu ba la mật chẳng được lâu, chẳng biết tướng danh tự, chẳng biết tướng sắc, tướng thọ, tưởng, hành, thức. Ác ma đến nói: Đời sau, lúc Ngài được Vô thượng Bồ đề, sẽ có những danh hiệu như vầy. Rồi ác ma theo chỗ tưởng niệm của Bồ Tát đó mà nói danh hiệu. Bồ Tát vô trí, không có phương tiện đó nghĩ rằng tôi đã trước có danh hiệu thành Phật như người này nói, hợp đúng với bốn ý của tôi. Chắc là tôi đã được chư Phật thọ ký.
Này Tu Bồ Đề! Tướng mạo bất thối chuyển của đức Phật nói, người này hoàn toàn không có. Chỉ theo danh hiệu trống rỗng ấy rồi kiêu mạn, khinh miệt người khác. Vì thế mà xa lìa Vô thượng Bồ đề. Bồ Tát này xa lìa Bát nhã ba la mật, không có sức phưưng tiện, xa lìa thiện tri thức, theo ác tri thức nên sa vào hai bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật. Nếu được liền tại thân đời này, ăn năn sám hối, lâu lâu qua lại trong sinh tử rồi sau mới trở lại y chỉ Bát nhã ba la mật. Nếu gặp thiện tri thức rồi thường gần gũi thì sẽ được Vô thượng Đồ đề. Còn nếu tại thân này chẳng liền sám hối sẽ phải sa vào hai bậc: hoặc Thanh Văn, hoặc Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Nơi tứ trọng giới, nếu Tỳ Kheo phạm một giới thì chẳng phải là Sa Môn, chằng phải là Thích tử, hiện đời chằng được hỗn quả Sa Môn.
Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát đó ham danh tự giả, có tâm kiêu mạn, khinh miệt người khác, phải biết tội này nặng hơn tội phạm giới trọng cùa Tỳ Kheo. Này Tu Bồ Đề! Chẳng những nặng hơn bốn trọng giới mà còn hơn cả tội ngũ nghịch. Bởi ham nhận danh hiệu giả mà sinh lòng cao ngạo, khinh miệt người khác, phải biết là tội rất nặng. Như về những danh hiệu, còn các ma sự nhỏ nhặt khác, Bồ Tát phải cảnh giác biết rõ.
Lại này Tu Bồ Đề! Bồ Tát ở chổ vắng vẻ núi đầm trống xa. Ma đến khen ngợi rằng: Hạnh Ngài làm là pháp viễn ly cửa Phật ca ngợi.
Này Tu Bồ Đề! Đức Phật chẳng ca ngợi sự viễn ly như vậy, nghĩa là chi ở nơi vắng vẻ núi đầm trông xa mà gọi là viễn ly.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu ở chỗ vắng vẻ núi đầm trống xa như vậy mà chẳng phải là pháp viễn ly thì có pháp viễn ly khác thế nào?
- Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát xa rời tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật, ở chỗ vắng vẻ núi đầm trống xa, đây là pháp viễn ly mà đức Phật hứa khả. Pháp viễn ly này Bố Tát phải tu hành. Ngày đêm hành pháp viễn ly này thì gọi là Bồ Tát viễn ly hạnh.
Này Tu Bồ Đề! Nếu pháp viễn ly của ác ma nói, ở chỗ vắng vẻ núi đầm trống xa mà tâm Bồ Tát này ở tại nơi ồn náo: đó là chẳng xa rời tâm niệm Thanh Văn, Bích Chỉ Phật, chẳng siêng tu Bát nhã ba la mật, Bồ Tát này chẳng đầy đủ được nhất thiết chủng trí. Bồ Tát này hành pháp viễn ly của ác ma nói, lòng chẳng thanh tịnh mà đi khinh khi các Bồ Tát ở gần thành thị tâm thanh tịnh, không có tâm niệm ồn náo, Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng không có tâm tạp ác khác, đầy đủ thiền định, giải thoát, trí huệ, thần thông. Bồ Tát xa rời Bát nhã ba la mật không có sức phương tiện đó, dầu ở chỗ tuyệt trống vắng ngoài trăm do tuần, chỗ cầm thú, quỷ thần, la sát ở, hoặc một năm cho đến trăm ngàn vạn ức năm, hoặc lâu hơn thời gian trên, mà chẳng biết pháp viễn ly chân thật của Bồ Tát: đó là thâm tâm phát Vô thượng Bồ đề, chẳng có tâm tạp ác, ồn náo. Chỗ làm của Bồ Tát này đức Phật không hứa khả.
Này Tu Bồ Đề! Đức Phật nói pháp viễn ly chân thiệt. Bồ Tát này chẳng ở trong đó, cũng chẳng thấy tướng viễn ly đó. Tại sao? Vì Bồ Tát này chỉ hành theo pháp viễn ly hư giả. Bấy giờ ác ma đến đứng trong hư không khen rằng: Lành thay! Lành

Phần 4

thay! Này thiện nam! Đó là pháp viễn ly chân thật của Phật nói. Ngài hành pháp viễn ly ấy sẽ mau được Vô thượng Bồ đề. Nghe lời khen ấy, Bồ Tát này có tâm niệm ham pháp viễn ly ấy tất sẽ khinh dễ các người cầu Phật đạo khác cho là ồn náo.
Đó là lấy ồn náo làm chẳng ồn náo, đáng cung kính mà chẳng cung kính, chẳng đáng cung kính mà cung kính. Bồ Tát này nói: Chư quỷ thần nhớ tưởng đến khen ngợi tôi. Chỗ tôi hành trì đúng là hạnh viễn ly, không ai khen tặng những người ở gần thành thị. Do cớ đó mà Bồ Tát này khinh khi các Bồ Tát khác.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết Bồ Tát này gọi là Bồ Tát Chiên Đà La làm ô nhiễm chư Bồ Tát Người này giống hình Bồ Tát mà thật là kẻ đại tặc trong nhân nhân gian và trên trời, cũng là kẻ giặc vấn y trong hàng Sa Môn. Với người như vậy, những người cầu Phật đạo chẳng nên gần gũi, cúng dường, cung kính. Tại sao vậy?
Này Tu Bồ Đề! Phải biết người này sa vào hàng tăng thượng mạn.
Thế nên nếu đại Bồ Tát muốn chẳng rời bỏ nhất thiết chủng trí, muốn được Vô thượng Bồ đề, nhất tâm muốn cầu Vô thượng Bồ đề, muốn lợi ích tất cả chúng sinh thì chẳng nên gần gũi hạng người như vậy để cung kính, cúng dường.
Theo pháp của đại Bồ Tát, phải thường xuyên cầu tự lợi, nhàm sợ thế gian, tâm luôn xa rời ba cõi, đối vói hạng người ấy phải có lòng từ bi hỉ xả. Tôi hành Bồ Tát đạo chẳng nên sinh tội lỗi như vậy. Nếu có lỗi như vậy phải mau dứt trừ.
Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát phải khéo cảnh giác ma sự ấy. Ở trong ma sự ấy phải khéo cố gắng ra khỏi.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát thâm tâm muốn được vô thượng Bồ đề, phải gần gũi, cung kính, cúng dường thiện tri thức.
- Bạch đức Thế Tôn! Những ai là thiện tri thức của đại Bồ Tát?
- Này Tu Bồ Đề! Chư Phật là thiện tri thức của dại Bồ Tát. Chư đại Bồ Tát cũng là thiện tri thức cùa Bồ Tát. A La Hán cũng là thiện tri thức của Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Sáu ba la mật là thiện tri thức của Bồ Tát. Tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng cũng là thiện tri thức của Bồ Tát. Như, thật tế, pháp tính cũng là thiện tri thức của Bồ Tát.
Này Tu Bồ Đề! Sáu ba la mật là đạo, là rất sáng, là đuốc, là trí, là huệ, là cứu, là quy, là cồn đảo, là đường rốt ráo, là cha, là mẹ. Tứ niệm xử nhẫn đến nhất thiết chủng trí cũng vậy.
Tại sao? Vì sáu ba la mật và ba mươi bảy phẩm trợ đạo là cha, là mẹ của mười phương chư Phật quá khứ, chư Phật vị lai, chư Phật hiện tại. Tại sao? Vì sáu ba la mật và ba mươi bảy phẩm trợ đạo hay sinh mười phương chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại vậy.
Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát muốn được Vô thượng Bồ đề, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh thì phải học sáu ba la mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo và bốn nhiếp pháp để nhiếp lấy chúng sinh. Đây là bốn nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi ích và đồng sự.
Này Tu Bồ Đề! Vì có công năng lợi ích như vậy nên ta nói sáu ba la mật và ba mươi bảy phẩm trợ đạo là đại Bồ Tát, là Thế Tôn, là đạo, là rất sáng, là đuốc, là trí, là huệ, là cứu, là quy, là cồn đảo, là đường rốt ráo, là cha, là mẹ.
Thế nên đại Bồ Tát muốn an trụ chẳng theo lời người khác, muốn dứt nghi cho tất cả chúng sinh, muốn tịnh Phật quốc độ, muốn thành tựu chúng sinh, thì phải học Bát nhã ba la mật này.
Tại sao? vì trong Bát nhã ba la mật nói rộng các pháp mà chư đại Bồ Tát cần phải học.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là tướng của Bát nhã ba la mật?
- Này Tu Bồ Đề! Như tướng hư không là tướng Bát nhã ba la mật Bát nhã ba la mật không có tướng.
- Bạch đức Thế Tôn! Chừng có duyên cờ mà tướng các pháp cũng như tướng Bát nhã ba la mật chăng?
- Này Tu Bồ Đề! Đúng như vậy. Tướng các pháp cũng như tướng Bát nhã ba la mật. Vì tất cả pháp tưởng ly, tướng không. Do nhân duyên ấy nên tướng các pháp cũng như tướng Bát nhã ba la mật. Đó là tướng ly, tướng không.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp là tất cả pháp ly, tất cả pháp là tất cả pháp không, thì làm sao biết chúng sinh là cấu hoặc tịnh?
Bạch đức Thế Tôn! Pháp ly tướng không cấu, không tịnh. Pháp ly tướng, không tướng chẳng thể được Vô thượng Bồ đề. Ly tướng và không tướng chằng có pháp để được.
Bạch đức Thế Tôn! Trong ly tướng, trong không tướng không có Bồ Tát được Vô thượng Bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Như vậy thì tôi làm sao có thể biết được nghĩa đức Phật tuyên nói?
Này Tu Bồ Đềl Chúng sinh có mãi mãi hiện hành tâm ngã, ngã sở chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Có. Chúng sinh mãi mãi hiện hành tâm ngã, ngã sở.
- Này Tu BỒ Đề! Tâm ngã, ngã sở đó có ly tướng chăng? Có không tướng chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Tâm ngã, ngã sở ly tướng, không tướng.
- Này Tu Bồ Đề! Do tâm ngã, ngã sở đó, chúng sinh có qua lại trong sinh tử chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Do tâm ngã, ngã sở đó, chúng sinh qua lại trong sinh tử.
- Này Tu Bồ Đề! Vì chúng sinh qua lại trong sinh tử nên biết là có cấu, có não.
Này Tu Bồ Đề! Nếu chúng sinh không tâm ngã, ngã sở', tâm không chấp trước thì chẳng còn qua lại trong sinh tử. Nếu chẳng qua lại trong sinh tử thì không có cấu, não. Thế là chúng sinh có tịnh.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát hành như vậy, đó là chẳng hành sắc, thọ, tưởng, hành, thức là chẳng hành tứ niệm xứ đến bát thánh đạo, là chẳng hành nội không đến vô pháp hữu pháp không, là chẳng hành mười trí lực đến nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Vì pháp ấy chẳng thể được, cũng không người hành, cũng không chỗ hành, cũng không phép hành.

Phần 5

Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát hành như vậy, tất cả Thiên, Nhân, A Tu La ở thế gian chẳng hàng phục được đại Bồ Tát này. Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng bằng được Bồ Tát này.
Tại sao vậy? Vì chỗ an trụ của Bồ Tát này không ai bằng được, đó là địa vị Bồ Tát.
Bạch đức Thế Tôn! Chỗ hành của đại Bồ Tát này đúng với tâm nhất thiết chủng trí, không ai bằng được.
- Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát hành như vậy mau gần với nhất thiết chủng trí.
Này Tu Bồ Đề! Cứ theo ý ngươi thế nào? nếu như tất cả mọi loài chúng sinh ở Diêm Phù Đề đều hành nghiệp người, đều được thân người và đều được Vô thượng Bồ đề cả. Nếu có thiện nam, thiện nữ trọn đời cung kính, cúng dường, ngợi khen tất cả chư Phật đó, rồi đem tất cả thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Do cơ ấy được phước nhiều chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều.
- Này Tu Bồ Đề! Phước không nhiều bằng thiện nam, thiện nữ ở giữa đại chúng tuyên nói Bát nhã ba la mật, chỉ dạy rành rẽ, khai diễn rõ ràng đúng với Bát nhã ba la mật và cũng chính ức niệm. Nhẫn đến chúng sinh trong cõi Đại Thiên cũng như vậy.
Này Tu Bồ Đề! Như tất cả chúng sinh trong Diêm Phù Đề đồng thời đều được thân người. Có thiện nam, thiện nữ dạy họ hành thập thiện, tứ thiền, tử vô lượng tâm, tứ vô sắc định, dạy họ được quả Tu Đà Hoàn đến quả Bích Chỉ Phật, dạy họ được Vô thượng Bồ đề. Đem thiện căn dạy bảo đó hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Thiện nam, thiện nữ đó được phước nhiều chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều.
- Này Tu Bồ Đề! Phước nhiều không bằng thiện nam, thiện nữ đem Bát nhã ba la mật này diễn nói, chỉ dạy rõ ràng, rành rẽ cho chúng sinh, cũng chẳng xa rời nhất thiết chủng trí.
Như Diêm Phù Đề, nhẫn đến cõi Đại Thiên cũng như vậy.
Đại Bồ Tát này chẳng xa rời tâm nhất thiết chủng trí thì đến tột cùng bờ tất cả phước điền. Trừ chư Phật, không có pháp nào bằng thế lực của đại Bồ Tát.
Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát lúc hành Bát nhã ba la mật, đối vói tất cả chúng sinh phát khởi lòng đại từ, vì thấy các chúng sinh hướng đến chỗ chết nên sinh lòng đại bi. Lúc hành đạo, Bồ Tát vui thích nên sinh lòng đại hỉ. Vì chẳng cùng chung với tưởng niệm nên được đại xả.
Này Tu Bồ Đề! Đó là đại Bồ Tát được ánh đại trí. Ánh sáng đại trí đầy tức là sáu ba la mật.
Này Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ dầu chưa làm Phật mà có thể làm phước điền lớn cho tất cả chúng sinh, chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề. Hưởng thọ bốn sự cúng dường, hành đúng tâm Bát nhã ba la mật, quyết định báo ơn thí chủ, mau gần nhất thiết chủng trí.
Thế nên đại Bồ Tát muốn chẳng luống hưởng thọ bốn sự thí cúng của người, muốn đạo Tam thừa cho chúng sinh, muốn làm ánh sáng lớn cho chúng sinh, muốn cứu vớt lao ngục tam giới, muốn ban con mắt sáng cho chúng sinh, thì phải thường hành Bát nhã ba la mật
Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát có muốn nói thì nói Bát nhã ba la mật. Nói Bát nhã ba la mật rồi thường ghi nhớ Bát nhã ba la mật
Thường ghi nhớ Bát nhã ba la mật rồi thường hành Bát nhã ba la mật, chẳng cho tâm niệm khác phát sinh được, ngày đêm siêng hành Bát nhã ba la mật, tâm niệm tương ứng, chẳng thôi, chẳng nghĩ.

Này Tu Bồ Đề! Ví như có người chưa từng được châu ma ni, lúc sau được, được rồi vui mừng hớn hở. Rồi sau lại đánh mất bèn rất lo sầu, thường nhớ tưởng châu ma ni đó, tự tại sao tôi lại đánh mất châu ma ni.
Cũng vậy, đại Bồ Tát luôn nghĩ nhớ Bát nhã ba la mật, chẳng rời tâm nhất thiết chủng trí.
- Bạch đức Thế Tôn! Tất cả niệm tưởng, tính của nó tự ly, tính của nó tự không, tại sao đại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật lại chẳng rời lìa tâm nhất thiết chủng trí? Trong pháp viễn ly, pháp không đó, không có Bồ Tát, cũng không có niệm, không nhất thiết chủng trí.
- Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát biết tất cả pháp như vậy, tính nó tự ly, tính nó tự không, chẳng phải do Thanh Văn, Bích Chi Phật làm ra, cũng chẳng phải do Phật làm ra. Các pháp tướng thường trụ, pháp tướng, pháp trụ, pháp vị, như, thật tế, đây gọi là Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật, chẳng rời lìa tâm nhất thiết chủng trí. Tại sao? Vì Bát nhã ba la mật tính tự ly, tính tự không, chẳng tăng, chẳng giảm vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu Bát nhã ba la mật, tính nó tự ly, tính nó tự không, thì thế nào đại Bồ Tát bằng với Bát nhã ba la mật, được Vô thượng Bồ đề?
- Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát bằng với Bát nhã ba la mật, chẳng tăng, chẳng giảm. Tại sao? Vì Bát nhã ba la mật chẳng phải một, chẳng phải khác.
Nếu đại Bồ Tát nghe tướng Bát nhã ba la mật như vậy mà chẳng kinh sợ, nghi ngờ. Phải biết đại Bồ Tát này hành Bát nhã ba la mật, phải biết đại Bồ Tát này an trụ bậc bất thối chuyển.
- Bạch đức Thế Tôn! Không, chẳng chỗ có, là hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không phải.
- Bạch đức Thế Tôn! Rời không, còn có pháp hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không có.
- Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật đó hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! sắc, thọ, tưởng, hành, thức là hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Sáu ba la mật hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Tứ niệm xứ đến pháp bất cộng là hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! sắc, thọ, tưởng, hành, thức tướng không, hư dối chẳng thiệt, không chỗ có, tướng chẳng kiên cố, tướng như, pháp tướng, pháp trụ, pháp vị, thật tế là hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu các pháp đó đều chẳng hành, thì Bát nhã ba la mật thế nào mà gọi là đại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật?
- Này Tu Bồ Đề! Ngươi có thấy pháp nào hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không.
- Này Tu Bồ Đề! Ngươi có thấy chỗ hành Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không.
Này Tu Bồ Đề! Pháp mà ông chẳng thấy đó, pháp ấy có thể được chăng?
- Bạch đửc Thế Tôn! Không.
- Này Tu Bồ Đề! Pháp ấy chẳng thể được, pháp ấy sẽ sinh chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không.
- Này Tu Bồ Đề! Đó gọi là vô sinh pháp nhẫn củạ đại Bồ Tát. Bồ Tát thành tựu nhẫn này được thọ ký Vô thượng Bồ đề. Đây gọi là vô sở úy, vô ngại trí của Phật. Đại Bồ Tát hành pháp đó siêng cần tinh tấn thì chẳng mất đại trí nhất thiết chủng trí, đó là trí Vô thượng Bồ đề. Không bao giờ chẳng được. Tại sao? Vì đại Bồ Tát được vô sinh pháp nhẫn, nhẫn đến Vô thượng Bồ đề chẳng lui sụt, chẳng giảm bớt.
- Bạch đức Thế Tôn! Các pháp tướng vô sinh, trong đó được thọ ký Vô thượng Bồ đề chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Các pháp tưóng sinh, trong đó được thọ ký Vô thượng Bồ đề chăng?
- Không.

Phần 6

- Bạch đức Thế Tôn! Các pháp chẳng sinh, chẳng vô sinh, trong đó được thọ ký Vô thượng Bồ đề chăng?
- Không.
- Bạch đửc Thế Tôn! Đại Bồ Tát làm sao biết là các pháp được thọ ký Vô thượng Bồ đề!
- Này Tu Bồ Đề! Ngươi thấy có các pháp được thọ ký Vô thượng Bồ đề chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không. Tôi chẳng thấy có pháp được thọ ký Vô thượng Bồ đề. Tôi cũng chẳng thấy có người được chỗ được.
- Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề! Nếu lúc đại Bồ Tát ở nơi tất cả pháp vô sở đắc, chẳng nghĩ rằng tôi sẽ được Vô thượng Bồ đề, cũng chẳng nghĩ dùng sự đó được Vô thượng Bồ đề, đây gọi là chỗ Vô thượng Bồ đề.
Tại sao? Vì chư đại Bồ Tát hành Bát nhã ba
la mật không có tưởng nhớ, phân biệt
Tại sao? Vì trong Bát nhã ba la mật không
có tường nhớ, phân biệt vậy".

BỔ KHUYẾT CHÂN NGÔN
Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, a bát ra đế, yết đa chiết, chiết nại đi. Án kê di kê di, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa sơn đính, bát ra đế, ô đát ma đát ma, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa hồng phấn tá ha. (7 lần)
Nam mô Hoa Tạng Giáo chủ Tỳ Lô Giá Na Phật (3 làn)

BỔ KHUYẾT TÔM KINH
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệt phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng: bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vộ vô minh tận, nãi chi vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệt vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa ỵ Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bổ, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn.
Tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố, đắc a nậu đa la tam miêu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ chân thực bất hư.
Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:
'Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha".

VÃNG SINH QUYẾT ĐỊNH CHÔN NGÔN
Nam mô A di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điêt da tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ ca lan đa già di nị già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà hà.
Khể thủ Tây phương An Lạc quốc
Tiếp dẫn chúng sinh đại đạo sư
Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sinh Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu, cập pháp giới chúng sinh cầu ư chư Phật, Nhất thừa Vô thượng Bồ đề đạo cố, chuyên tâm trì niệm A Di Đà Phật, vạn đức hồng danh kỳ sinh Tịnh độ. Duy nguyện Từ Phụ A Di Đà Phật, ai lân nhiếp thọ từ bi gia hộ.
A Di Đà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
Cám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Nam mô A Di Đà Phật. (Niệm 10,20,30 câu tùy ý)
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (10 tiếng)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (10 tiếng) Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (10 tiếng)
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hai Chúng Bồ Tát.(10 tiếng)

HỒI HƯỚNG
Đệ tử chúng đẳng, hiện thị sinh tử phàm phu, tội chướng thâm trọng, luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn; kim ngộ tri thức, đắc văn A Di Đà danh hiệu, bổn nguyện công đức, nhất tâm xưng niệm, cầu nguyện vãng sinh, nguyện Phật từ bi bất xả, ai lân nhiếp thọ, đệ tử chúng đẳng, bất thức Phật thân, tướng hảo quang minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến, cập kiến Quán Âm Thế Chí, chư Bồ Tát chúng, bỉ thế giới trung, thanh tịnh trang nghiêm, quang minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến A Di Đà Phật.
Ngã kim trì niệm A Di Đà
Tức phát bồ đề quảng đại nguyện
Nguyện ngã định huệ tốc viên minh
Nguyện ngã công đức giai thành tựu
Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm
Nguyện cộng chúng sinh thành Phật đạo.
Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vô thỉ tham sân si
Tùng thân ngữ ý chi sở sinh
Nhất thiết ngã kim giai sám hối.
Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời
Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại
Diện kiến ngã Phật A Di Đà
Tức đắc vãng sinh Cực Lạc sát
Ngã ký vãng sinh Cực Lạc dĩ
Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện
Nhất thiết viên mãn tận vô dư
Lợi lạc nhất thiết chúng sinh giới
Ngã Phật chúng hội hàm thanh tịnh
Ngã thời ư thắng liên hoa sinh
Thân đỗ Như Lai Vô Lượng Quang
Hiện tiền thọ ngã bồ đề ký.
Mong ngã Như Lai thọ ký dĩ
Hóa thân vô số bá câu chi
Trí lực quảng đại biến thập phương
Phổ lợi nhất thế chúng sinh giới

Phần 7

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đao vô thượng thệ nguyện thành.
Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức
Trang nghiêm Phật Tịnh độ
Thượng báo tứ trọng ân
Hạ tế tam đồ khổ
Nhược hữu kiến văn giả
Tức phát bồ đề tâm
Tận thử nhất báo thân
Đồng sinh Cực Lạc quốc,
Tận thử nhất báo thân
Đồng sinh An Dưỡng quốc.

NGUYỆN
A Di Đà Phật, thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhân, lâm mạng chung thời, thân tâm chính niệm, thị thính phân minh, diện phụng Di Đà, dữ chư Thánh chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã.
Nhất sát na khoảnh, sinh tại Phật tiền, cụ Bồ Tát đạo, quảng độ chúng sinh, đồng thành chủng trí.

Chí tâm đỉnh lễ:
Nam mô A Di Đà Phật Thế Tôn.
Nguyện ngã Tội chướng tất tiêu diệt (1 lạy)
Nguyện ngã Thiện căn nhật tăng trưởng (1 lạy)
Nguyện ngã Thân tâm hàm thanh tịnh (1 lạy)
Nguyện ngã Nhất tâm tảo thành tựu (1 lạy) Nguyện ngã Tam muội đắc hiện tiền (1 lạy)
Nguyện ngã Tịnh nhân tốc viên mãn (1 lạy)
Nguyện ngã Liên đài dự tiêu danh (1 lạy) Nguyện ngã Kiến Phật ma đảnh ký (1 lạy) Nguyện ngã Dự tri mạng chung thời (í lạy) Nguyện ngã Vãng sinh Cực Lạc quốc (1 lạy)
Nguyện ngã Viên mãn Bồ Tát đạo (1 lạy) Nguyện ngã Quảng độ chư chúng sinh. (1 lạy)
Chí tâm qui mạng đỉnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô lượng vô biên, tứ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ tận hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Như Lai biến pháp giới Tam Bảo. (1 lạy)

TAM QUY
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thế giải đại đạo, phát vô thượng tâm. (1 lạy)
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (1 lạy) Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. (1 lạy)

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục