Buddha.com.vn

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA

30/01/2016

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM CHIẾU MINH THỨ BỐN MƯƠI Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đây chính là Bát nhã ba la mật?". Đ...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA
Phần 1

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM CHIẾU MINH THỨ BỐN MƯƠI

Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đây chính là Bát nhã ba la mật?".
Đức Phật nói: "Chính là Bát nhã ba la mật!".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay chiếu sáng tất cả pháp, vì rốt ráo thanh tịnh vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Nên kính lễ Bát nhã ba la mật.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật chẳng dính mắc ba cõi.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật trừ các sự tối tăm, vì tất cả phiền não kiến chấp đều dứt trừ vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Trong tất cả pháp trợ đạo, thời Bát nhã ba la mật là tối thượng.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là an ổn, vì hay dứt trừ tất cả bổ úy khổ não vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay đem lại quang minh, vì trang nghiêm với ngũ nhãn vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay chỉ dẫn những chúng sinh đã sa vào tà kiến, vì rời hẳn hai bên vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là nhất thiết chủng trí, vì tất cả phiền não và tập khí dứt diệt vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là mẹ của chư đại Bồ Tát, vì hay xuất sinh các Phật pháp vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật bất sinh bất diệt, vì tự tướng rỗng không vậy
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật xa rời sinh tử, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là chỗ hộ vệ của người không ai cứu giúp, vì ban bố tất cả trân bảo vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật đầy đủ năng lực, vì không gì phá hoại được vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay chuyển ba lần chuyển mười hai hành pháp luân, vì tất cả các pháp chẳng chuyển, chẳng hườn vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay hiển thị các pháp tính, vì vô pháp hữu pháp không vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Phải cúng dường Bát nhã ba la mật thế nào?".
Đức Phật nói: “Phải như cúng dường Phật mà cúng dường Bát nhã ba la mật. Phải như lễ Phật mà lễ Bát nhã ba la mật.
Tại sao vậy?
Vì Phật chẳng khác Bát nhã ba la mật và Bát nhã ba la mât tức là Phật. Phật tức là Bát nhã ba la mật và Bát nhã ba la mật tức là Phật.
Trong Bát nhã ba la mật này xuất sinh chư Phật, chư Bồ Tát, Bích Chi Phật, A La Hán, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn.
Trong Bát nhã ba la mật này xuất sinh mười thiện đạo, tứ thiền, tử vô lượng tâm, tử vô sắc định, năm thần thông, nội không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến bát thánh đạo.
Trong Bát nhã ba la mật này xuất sinh thập lực, mười tám pháp bất cộng, đại từ đại bi, nhất thiết chủng trí".
Bấy giờ Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân nghĩ rằng do cớ gì mà Ngài Xá Lợi Phất hỏi đức Phật những sự như vậy.
Thiên Đế bèn đem ý nghĩ đó hỏi Ngài Xá Lợi Phất.
Ngài Xá Lợi Phất nói: "Này Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát được Bát nhã ba la mật thủ hộ, do phương tiện lực, đối với thiện căn của tam thế chư Phật từ sơ phát tâm đến pháp trụ, đều hòa hợp tùy hỉ, tất cả hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Vì cớ ấy nên tôi bạch hỏi việc như vậy.
Này Kiều Thi Ca! Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát hơn Đàn na ba la mật, Thi la ba la mật, sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật và Thiền na ba la mật.
Ví như những người sinh manh, hoặc số trăm, số ngàn, hoặc cả trăm ngàn người, mà không ai dẫn đường, thời học không đi vào thành được.
Cũng vậy, năm ba la mật mà rời Bát nhã ba la mật thời như kẻ mù không người dẫn đường, không thể tiến đạo, không thể được nhất thiết chủng trí.
Nếu được Bát nhã ba la mật dắt dẫn, thời năm ba la mật gọi là có con mắt và được danh tự Ba la mật".
Phần 2

Thiên Đế hỏi Ngài Xá Lợi Phất: "Như lời Ngài nói là Bát nhã ba la mật tương tự thời năm ba la mật chẳng dược danh tự Ba la mật.
Níu không Thi la ba la mật, hoặc nếu không Sần đề ba la mật, hoặc không Tỳ lê gia ba la mật hay Thiền na ba la mật tương trợ thời năm ba la mật chẳng được danh tự Ba la mật.
Nếu đã như thế, tại sao chỉ riêng ca ngợi Bát nhã ba la mật?"
Ngài Xá Lợi Phất nói: "Đúng như lời Kiều Thi Ca nói. Nếu không Đàn na ba la mật v.v... thời năm ba la mật chẳng được danh tự Ba la mật.
Nhưng vì đại Bồ Tát an trụ trong Bát nhã ba la mật thời hay đầy đủ Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật.
Vì thế nên đối với với năm ba la mật, thời Bát nhã ba la mật là đệ nhất trên hết, là tối diệu vô lượng, không gì bằng”.
Ngài Xá Lợi Phất thưa đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!. Phải phát sinh Bát nhã ba la mật thế nào?".
Đức Phật nói: “Vì sắc chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật sinh. Vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật sinh. Vì Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật sinh. Vì nội không đến pháp hữu pháp không chẳng sinh, vì tứ niệm xứ đến nhất thiết chủng trí chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật sinh.
Vì tất cả các pháp chẳng sinh như vậy nên Bát nhã ba la mật phải sinh”.
Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là vì sắc chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật sinh. Nhẫn đến thế nào là vì tất cả pháp chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật phải sinh?”.
Đức Phật nói: "Sắc chẳng khỏi, chẳng sinh vì là chẳng được, chẳng mất vậy. Nhãn đến tất cả các pháp chẳng khỏi, chẳng sinh vì là chẳng được, chẳng mất vậy, Do đó, mà Bát nhã ba la mật sinh”.
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Sinh Bát nhã ba la mật như vậy hợp với những pháp nào?".
Đức Phật nói: "Không có cùng hợp. Thế nên được gọi là Bát nhã ba la mật".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Chẳng cùng hợp với những pháp nào?”.
Đức Phật nói: "Chẳng cùng hợp với pháp bất thiện, chẳng cùng hợp với pháp thiện, chẳng cùng hợp với pháp thế gian, chẳng cùng hợp với pháp xuất thế gian, chẳng cùng hợp với pháp hữu lậu, chẳng cùng hợp với pháp vô lậu, chẳng cùng hợp với pháp tội, chẳng cùng hợp vái pháp vô tội, chẳng cùng hợp với pháp hữu vi, chẳng cùng hợp với pháp vô vi.
Tại sao vậy?
Vì Bát nhã ba la mật chẳng vì được các pháp mà sinh. Thế nên đối với các pháp không chỗ cùng hợp".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật này cũng chẳng hợp với nhất thiết trí chăng?".
Đức Phật nói: "Đúng như vậy. Này Kiều Thi Ca! Bát nhã ba la mật cũng chẳng hợp và nhất thiết trí cũng chẳng được.
Tại sao vậy?
Bát nhã ba la mật chẳng như danh tự, chẳng như tướng, chẳng như pháp khởi tác hợp".
Thiên Đế thưa: "Nay hợp thế nào?”.
Đức Phật nói: "Nếu đại Bồ Tát như chẳng lấy, chẳng thô, chẳng ở, chẳng mắc, chẳng dứt, hợp như vậy cũng không chỗ hợp, cũng vậy, Bát nhã ba la mật tất cả pháp hợp cũng không chỗ hợp".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thật là chưa từng có. Bát nhã ba la mật này vì tất cả
pháp chẳng khởi, chẳng sinh, chẳng được,
chẳng mất nên sinh".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật mà quan niệm rằng Bát nhã ba la mật hoặc hợp với tất cả pháp, hoặc chẳng hợp, thời vị Bồ Tát này đã bỏ Bát nhã ba la mật, đã lìa Bát nhã ba la mật".
Đửc Phật nói: "Này Tu Bồ Đề! Lại có nhân duyên mà đại Bồ Tát bỏ và xa lìa Bát nhã ba la mật.
Nếu đại Bồ Tát quan niệm rằng Bát nhã ba la mật này không chỗ có, trống rỗng, chẳng cứng chắc.
Đại Bồ Tát này thời là hỏ và lìa xa Bát nhã ba la mật".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Tin Bát nhã ba la mật là chẳng tin pháp nào?".
Đức Phật nói: "Tin Bát nhã ba la mật thời chẳng tin sắc, chẳng tin thọ, tưởng, hành, thức, chẳng tin nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, chẳng tin sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, chẳng tin nhãn giới đến ý thức giới, chẳng tin Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật, chẳng tin nội không đến vô pháp hữu pháp không, chẳng tin tứ niệm xứ đến bát thánh đạo phần, chẳng tin thập lực đến mười tám pháp băt cộng, chẳng tin quả Tu Đà Hoàn đến đạo Bích Chi Phật, chằng tin đạo Đồ Tát, chẳng tin Vô thượng Bồ đề nhẫn đến nhất thiểt chủng trí.
Tại sao vậy?
Vì sắc bất khả đắc nên tin Bát nhã ba la mật thời chẳng tin sắc.
Nhẫn đến vì nhất thiết chủng trí bất khả đắc nên Bát nhã ba la mật thời chẳng tin nhất thiết chủng trí.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Lúc tin Bát nhã ba la mật thời chẳng tin sắc nhẫn đến nhất thiễt chủng trí".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật này gọi là Đại ba la mật.
Tại sao vậy?
Vì Bát nhã ba la mật này chẳng làm sắc lớn, chẳng làm sắc nhỏ, nhẫn đến Vô thượng Bồ đề chẳng làm lờn, chẳng làm nhỏ, chư Phật chẳng làm lớn, chẳng làm nhỏ.
Vì Bát nhã ba la mật này chẳng làm sắc hiệp, chẳng làm sắc tan, nhẫn đến chư Phật chẳng làm hiệp, chẳng làm tan.
Vì Bát nhã ba la mật này chẳng làm sắc vô lượng, chẳng làm sắc chẳng phải vô lượng nhẫn đến chư Phật chẳng làm vô lượng, chẳng làm chẳng phải vô lượng.
Vì Bát nhã ba la mật này chẳng làm sắc rộng, chẳng làm sắc hẹp, nhẫn đến chư Phật chẳng làm rộng, chẳng làm hẹp.
Vì Bát nhã ba la mật này chẳng làm hữu lực, chẳng làm sắc vô lực, nhẫn đến chư Phật chẳng làm hữu lực, chẳng làm vô lực.
Do nhân duyên trên đây nên Bát nhã ba la mật gọi là đại ba la mật
Bạch đức Thế Tôn! Nếu Bồ Tát mới phát tâm chẳng xa lìa Bát nhã ba la mật, chẳng xa lìa Thiền na ba la mật đến Đàn na ba la mật, quan niệm rằng Bát nhã ba la mật này chẳng làm sắc lớn, chẳng làm sắc nhỏ, chẳng làm sắc hiệp, chẳng làm sắc tan, chẳng làm sắc vô lượng, chẳng làm sắc chẳng phải vô lượng, chẳng làm sắc hữu lực, chẳng làm sắc vô lực. Nhẫn đến chư Phật cũng như vậy.
Bồ Tát biết như vậy thời chẳng hiện hành Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy? Vì chẳng phải tướng Bát nhã ba la mật. Nghĩa là làm sắc lớn, nhỏ đến hữu lực, vô lực, nhẫn đến chư Phật làm lớn, nhỏ, hữu lực, vô lực.
Bạch đức Thế Tôn! Vì dụng hữu sở đắc, Bồ Tát này bèn có lỗi lầm lớn. Nghĩa là lúc thật hành Bát nhã ba la mật làm sắc lớn, nhỏ đến hữu lực, vô lực, nhẫn đến chư Phật làm lớn nhỏ, nhỏ, hữu lực, vô lực.
Bạch đức Thế Tôn! Vì dụng hữu sở đắc, Bồ Tát này bèn có lỗi lầm lớn. Nghĩa là lúc thật hành Bát nhã ba la mật làm sắc lớn, nhỏ, nhẫn đến chư Phật làm hữu lực, vô lực.
Tại sao vậy?
Vì người hữu sở đắc thời không Vô thượng Bồ đề.

Phần 3
Tại sao vậy?
Vì chúng sinh chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật chẳng sinh, nhẫn đến vì Phật chẳng sinh nên Bát nhã ba la mật chẳng sinh.
Vì chúng sinh tính không nên Bát nhã ba la mật tính không. Vì sắc tính không nên Bát nhã ba la mật tính không. Nhẫn đến vì Phật tính không nên Bát nhã ba la mật tính không, Vì chúng sinh chẳng phải pháp nên Bát nhã ba la mật chẳng phải pháp. Vì sắc chẳng phải pháp nên Bát nhã ba la mật chẳng phải pháp. Nhân đến vì Phật chẳng phảỉ pháp nên Bát nhã ba la mật chẳng phảỉ pháp.
vì chúng sinh sắc đến Phật rỗng không nên Bát nhã ba la mật rỗng không.
Vì chúng sinh sắc đến Phật ly nên Bát nhã ba la mật ly.
Vì chúng sinh sắc đến Phật không có nên Bát nhã ba la mật không có.
Vì chúng sinh sắc đến Phật bất khả tư nghì nên Bát nhã ba la mật bất khả tư nghì.
Vì chúng sinh sắc đến Phật chẳng diệt nên Bát nhã ba la mật chẳng diệt.
Vì chúng sinh sắc đến Phật bất khả tri nên Bát nhã ba la mật bất khả tri.
Vì chúng sinh đến Phật lực chẳng thành tựu nên Bát nhã ba la mật lục chẳng thành tựu.
Thế nên, bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát gọi là Đại ba la mật vậy”.

PHẨM TÍN HỦY THỨ BỐN MƯƠI MỐT

Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Có đại Bồ Tát tin hiểu Bát nhã ba la mật này. đại Bồ Tát ấy từ đâu sinh nơi đây? Phát tâm Bồ đề đã được bao lâu? Đã cúng dường bao nhiêu đức Phật? Thật hành sáu ba la mật được bao lâu mà nay có thể tùy thuận và hiểu thâm nghĩa Bát nhã ba la mật?".
Đức Phật nói: "Đại Bồ Tát này cúng dường chư Phật mười phương đến sinh nơi đây. Đại Bồ Tát này đã phát tâm Vô thượng Bồ đề từ vô lượng vô biên a tăng kỳ trăm ngàn muôn ức kiếp. Từ lúc mới phát tâm Bồ đề, đại Bồ Tát này thường thật hành sáu ba la mật.
Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát này hoặc thấy hay nghe Bát nhã ba lạ mật liền nghĩ rằng tôi thấy Phật, nghe Phật thuyết pháp.
Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát này hay tùy thuận hiểu thâm nghĩa Bát nhã ba la mật. Vì vô tướng, vô nhị và vô sở đắc vậy".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật này có thể nghe, có thể thấy chăng?".
Đức Phật nói: "Bát nhã ba la mật này không có ai nghe, cũng không có ai thấy.
Bát nhã ba la mật không nghe không thấy, vì các pháp độn vậy.
Thiền na ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật,-sằn đề ba la mật, Thi la ba la mật và Đàn na ba la mật không nghe không thấy, vì các pháp độn vậy.
Tứ niệm xứ đến bát thánh đạo không nghe không thấy, vì các pháp độn vậy.
Thập lực đến bất cộng pháp không nghe thấy, vì các pháp độn vậy.
Phật và Phật đạo không nghe không thấy, vì các pháp độn vậy".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thật hành đạo bao lâu mà Bồ Tát này có thể thật hành thâm Bát nhã ba la mật này?".
Đức Phật nói: "Này Tu Bồ Đề! Trong đây phải phân biệt để nói.
Có đại Bồ Tát Sơ phát tâm tập thật hành thâm sáu ba la mật, do sức phương tiện nên đối với các pháp không chỗ phá hoại, chẳng thấy các pháp có pháp nào là không lợi ích, cũng trọn chẳng xa rời thật hành sáu ba la mật, cũng chẳng xa lìa chư Phật. Từ một thế giới đến một thế giới, nếu muốn dùng sức thiện căn để cúng dường chư Phật, thời tùy ý liền được. Vĩnh viễn chẳng còn thác sinh trong bụng bà mẹ nhân loại. Trọn chẳng rời những thần thông, trọn chẳng sinh những phiền não và tâm niệm Thanh văn, Bích Chi Phật. Từ một quốc độ đến một quốc độ để thành tựu chúng sinh thanh tịnh Phật độ.
Này Tu Bồ Đề! Chư đại Bồ Tát có thể tập thật hành Bát nhã ba la mật như vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Có đại Bồ Tát thấy chư Phật nhiều. Hoặc từ vô lượng trăm ngàn ức kiếp theo chư Phật thật hành sáu ba la mật, vì không sức phương tiện, đều vì có sở đắc, nên lúc nghe giảng thuyết thâm Bát nhã ba la mật, liền từ trong chúng hội bỏ đi, chẳng cung kính thâm Bát nhã ba la mật và chư Phật. Chư đại Bồ Tát ấy hỉện nay ngồi trong đại chúng này, nghe thâm Bát nhã ba la mật, vì không thích nên bèn bỏ đi.
Tại sao vậy?
Vì những người này đời trước lúc nghe nói thâm Bát nhã ba la mật bèn bỏ đi nên đời nay nghe nói thâm Bát nhã ba la mật nên cũng bỏ đi, thân tâm không hòa.
Những người này gieo trồng giống nghiệp duyên ngu si.
Do nghiệp duyên ngu si nên khi nghe giảng thâm Bát nhã ba la mật bèn khinh chê. Vì khỉnh chê Bát nhã ba la mật nên tức là khinh chê nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí của tam thế chư Phật.
Vì người này khinh chê nhất thiết trí của tam thế chư Phật nên phát khởi nghiệp phá pháp, Do tội phá pháp kết hợp nhân duyên nên đọa trong đại địa ngục vô lượng trăm ngàn muôp ức năm.
Những người phá pháp này, từ một đại địa ngục đến một đại địa ngục. Nơi đó, lúc hỏa kiếp pháp khởi, người này lại dời đến một đại địa ngục ở cõi khác mà thác sinh, từ một đại địa ngục đến một đại địa ngục. Nếu lúc cõi đó hỏa tai phát khởi, thời người này lại thác sinh vào đại địa ngục ở cõi khác. Lần lượt thác sinh như vậy khắp thế giới mười phương. Vì tội phá pháp chưa hết, nên sinh trở lại cõi này, từ một đại địa ngục đến một đại địa ngục thọ vô lượng khổ. Cõi này phát khởi hỏa kiếp lại thác sinh vào đại địa ngục cõi khác.
Người này lúc thác sinh vào súc sinh chịu khổ vì tội phá pháp cũng vậy.
Lúc tội nặng lần mỏng nhẹ, người này hoặc được thân nhân loại, sinh vào nhà người sinh manh, hoặc sinh vào nhà Chiên Đà La, sinh vào những nhà hạ tiện như hót phân hay khiêng thây người chết v.v... Hoặc không có con mắt, hoặc một mắt, hoặc mắt mù, không lưỡi, không tai không chân tay. Nơi người thác sinh không có
Phần 4

Phật, không có chính pháp, không Phật đệ tử. Tại sao vậy? Vì tội phá pháp chứa nhóm quá sâu nặng nên thọ lấy quả báo như vậy".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Tội ngũ nghịch cùng tội phá pháp có tương tự nhau không?".
Đức Phật nói: “Chẳng nên bảo là tương tự. Tại sao vậy?".
Nếu có người nghe nói thâm Bát nhã ba la mật mà chẳng tin nổi rồi hủy báng rằng chẳng nên học pháp ấy. Đó là phi pháp, chẳng phải pháp lành, chẳng phải lời Phật dạy, chẳng phải Phật giáo.
Người này tự mình hủy báng, cũng bảo người khác hủy báng Bát nhã ba la mật.
Người này tự phá hoại thân mình, cũng phá hoại thân người khác.
Người này tự uống thuốc độc gỉết thân mình, cũng đầu độc người khác.
Người này tự làm mất thân mình, cũng làm mất thân ngưừi khác.
Người này tự chẳng tin, chẳng biết thâm Bát nhã ba la mật, cũng làm ngườỉ khác chẳng tin, chẳng biết.
Này Xá Lựi Phất! Ta còn chẳng cho nghe danh tự của người ấy, huống là mắt thấy và cùng ở.
Tại sao vây?
Phải biết người này gọi là kẻ làm như chính pháp, bị sa vào tính đen trược suy hoại.
Những ai nghe và tin dùng lời người này thời cũng thọ khổ như vậy.
Này Xá Lợi Phất! Nếu người nào phá hủy Bát nhã ba la mật thời gọi là kẻ hoại pháp".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Đức Thế Tôn nói người hoại pháp phải mang lấy trọng tội mà chẳng nói thân thể lớn nhỏ của người này phải thọ".
Đức Phật nói: “Chẳng cần nói người này thọ thân lớn nhỏ.
Tại sao vậy?
Người phá pháp này nếu nghe thân thể lớn nhỏ mà mình phải thọ thời sẽ thổ máu nóng, hoặc chết hoặc sắp chết.
Người phá pháp này nghe thân thể như vậy, có trọng tội như vậy, sẽ rất buồn lo như mũi tên đâm vào tim, sẽ lần khô héo mà nghĩ rằng vì tội phá pháp nên mắc lấy thân đại quỷ thọ vô lương khổ như vậy".
Vì thế nên Phật chẳng cho Xá Lợi Phất hỏi thân lớn nhỏ mà người phá pháp này phải thọ.
Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Xin đức Thế Tôn nói để làm điều răn sáng suốt cho người đời sau, khiến biết rằng tội nghiệp phá pháp mắc phải thân lớn xấu thọ khổ như vậy".
Đức Phật nói: "Người đời sau nếu nghe tội phá pháp nghiệp nhân dầy nặng đầy đủ phải chịu vô lượng khổ rất lâu trong đại địa ngục, cũng đủ làm điều răn sáng suốt rồi".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu thiện nam, thiện nữ tính thiện thanh tịnh được nghe pháp này cũng đủ làm chỗ y chỉ, thà mất thân mạng chớ hủy phá chính pháp. Họ tự nghĩ rằng nếu ta hủy phá chính pháp thời sẽ phải thọ lấy sự khổ như vậy".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Những thiện nam, thiện nữ phải khéo nhiếp thân khẩu ý ba nghiệp, chớ để thọ lấy sự khổ như vậy, hoặc chẳng được thấy Phật, hoặc chẳng được nghe pháp, hoặc chẳng đưực thân cận chư tăng, hoặc sinh ở quốc độ không Phật, hoặc sinh ở nhà bần cùng, hoặc mọỉ người chẳng tín thọ lời nóỉ.
Bạch đức Thế Tôn! Do nơi thân khẩu nghiệp nhân duyên, có tộỉ nặng phá pháp như vậy chăng?".
Đức Phật nói: "Do nơi khẩu nghiệp nhân duyên có tội nặng phá pháp như vậy.
Này Tu Bồ Đề! Người ngu si ấy ở trong Phật pháp xuất gia thọ giới rồi phá thâm Bát nhã ba la mật, chê bai chẳng tín thọ.
Này Tu Bồ Đề! Nếu phá Bát nhã ba la mật, chê bai Bát nhã ba la mật, thời là phá nhất thiết trí của chư Phật mười phương. Phá nhất thiết trí là phá Phật Bảo. Phá Phật Bảo thời là phá Pháp Bảo. Phá Pháp Bảo thời là phá Tam Bảo. Phá Tam Bảo thời là phá chính kiến của thể gian. Phá chính kiến thế gian thời là phá tứ niệm xứ đến nhất thiết chủng trí. Phá nhất thiết chủng trí thời mắc vô lượng vô biên a tăng kỳ tội, thời phải thọ lấy vô lượng vô biên a tăng kỳ sự ưu khổ".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Có mấy nhân duyên mà người ngu si này chê bai phá hoại thâm Bát nhã ba la mật?".
Đức Phật nói: "Có bốn nhân duyên. Một là bị ma sai sử. Hai là chẳng tin thâm pháp, chẳng tin, chẳng hiểu, tâm không thanh tịnh. Ba là gầngũi thầy bạn ác, tâm mê tối giải đãi, chấp chặt thân ngũ ấm. Bốn là nhiều sân giận, tự cao, khinh người.
Này Tu Bồ Đề! Do bốn nhân duyên trên đây mà người ngu si muốn phá hoại thâm Bát nhã ba la mật".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Người tương đắc với bạn ác, gieo trồng điều bất thiện, chẳng siêng năng tinh tấn tu pháp lành thời khó tin, khó hiểu thâm Bát nhã ba la mật này".
Đức Phật nói: "Đúng như vậy, Người ấy khó tin, khó hiểu thâm Bát nhã ba la mật này".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thế nào Bát nhã ba la mật này rất sâu khó tin, khó hiểu?".
Đức Phật nói: "Này Tu Bồ Đề! sắc chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì tính vô sở hữu là sắc.
Thọ, tưởng, hành, thức chẳng trói chẳng mở. Tại sao vậy? Vì tính vô sở hữu là thọ, tưởng, hành, thức.
Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì tính vô sở hữu là sáu ba la mật.
Nội không đến vô pháp hữu pháp không chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì tính vô sở hữu là nội không đến vô pháp hữu pháp không.
Tứ niệm xứ đến nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì tính vô sở hữu là tứ niệm xứ đến nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy?
Vì tính vô sở hữu là tứ niệm xứ đến nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí.
Này Tu Bồ Đề! sắc bổn tế chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì bổn tế tính vô sờ hữu là sắc.
Nhẫn đến nhất thiết chủng trí bổn tế chẳng trói, chằng mở. Tại sao vậy? Vì bổn tế tính vô sở hữu là nhất thiết chủng trí.
Này Tu Bồ Đề! sắc hậu tế nhẫn đến nhất thiết chủng trí hậu tế chẳng chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì hậu tế vô sở hữu là sắc, nhẫn đến là nhất thiết chủng trí.
Này Tu Bồ Đề! sắc hiện tại nhẫn đến nhất thiết chủng trí hiện tại chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì hiện tại tính vô sở hữu là sắc nhẫn đến là nhất thiết chủng trí".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Những người chẳng chuyên cần tinh tấn, chẳng gieo trồng căn lành, gần gũi bạn ác, giải đãi, ưa quên, không trí huệ thiện xảo phương tiện, thật khó tin, khó hiểu Bát nhã ba la mật".
Đức Phật nói: "Này Tu Bồ Đề! Đúng như vậy. Những người ấy thật khó tin khó hiểu Bát nhã ba la mật này. Tại sao vậy? Vì sắc thanh tịnh thời quả cũng thanh tịnh. Thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh thời quả cũng thanh tịnh. Nhẫn đến Vô thượng Bồ đề thanh tịnh thời quả cũng thanh tịnh.
Lại vì sắc thanh tịnh tức là Bát nhã ba la mật thanh tịnh. Bát nhã ba la mật thanh tịnh tức là sắc thanh tịnh.
Nhẫn đến nhất thiết chủng trí thanh tịnh tức là Bát nhã ba la mật thanh tịnh. Bát nhã ba la mật thanh tịnh tức là nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
Sắc thanh tịnh và Bát nhã ba la mật thanh tịnh không hai, không khác, không đoạn, không hoại. Nhẫn đến nhất thiết chùng trí thanh tịnh và Bát nhã ba la mật thanh tịnh không hai, không khác, không đoạn, không hoại.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì chẳng hai thanh tịnh nên sắc thanh tịnh. Vì chẳng hai thanh tịnh nên nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì chẳng hai thanh tịnh này cùng sắc thanh tịnh đến nhất thiết chủng trí thanh tịnh không hai, không khác.

Phần 5

Vì ngã thanh tịnh, chúng sinh đến tri giả, kiến giả thanh tịnh nên sắc nhẫn đến nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
Vì sắc nhẫn đến nhất thiết chủng trí thanh tịnh nên ngã chúng sinh nhẫn đến tri giả, kiến giả thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì ngã đến kiến giả thanh tịnh này cùng với sắc đến nhất thiết chủng trí thanh tịnh chẳng hai, chẳng khác, không đoạn, không hoại.
Này Tu Bồ Đề! Vì tham, sân, si thanh tịnh nên sắc đến nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì tham, sân, si thanh tịnh cùng với sắc đến nhất thiết chủng trí thanh tịnh chẳng hai, chẳng khác.
Này Tu Bồ Đề! Vì vô minh thanh tịnh nên hành thanh tịnh. Vì hành thanh tịnh nên thức thanh tịnh. Vì thức thanh tịnh nên danh sắc thanh tịnh. Vì danh sắc thanh tịnh nên lục nhập thanh tịnh. Vì lục nhập thanh tịnh nên xúc thanh tịnh. Vì xúc thanh tịnh nên thọ thanh tịnh. Vì thọ thanh tịnh nên ái thanh tịnh. Vì ái thanh tịnh nên thủ thanh tịnh. Vì thủ thanh tịnh liên hữu thanh tịnh. Vì hữu thanh tịnh nên sinh thanh tịnh. Vì sinh thanh tịnh nên lão tử thanh tịnh.
Vì lão tử thanh tịnh nên Bát nhã ba la mật thanh tịnh. Vì Bát nhã ba la mật thanh tịnh nên Thiền na thanh tịnh. Nhẫn đến vì Đàn na thanh tịnh nên nội không thanh tịnh. Vì nội không thanh tịnh nên nhẫn đến vô pháp hữu pháp không thanh tịnh. Vì vô pháp hữu pháp không thanh tịnh nên tứ niệm xứ nhẫn đến nhất thiết trí thanh tịnh. Vì nhất thiết trí thanh tịnh nên nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì nhất thiết trí này cùng với nhất thiết chủng trí không hai, không khác, không đoạn, không hoại.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì Bát nhã ba la mật thanh tịnh nên sắc thanh tịnh. Nhẫn đến vì Bát nhã ba la mật thanh tịnh nên nhất thiết trí thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật này cùng với nhất thiết trí không hai, không khác.
Này Tu Bồ Đề! Vì Thiền na ba la mật thanh tịnh nên nhẫn đến nhất thiết trí thanh tịnh. Nhẫn đến vì Đàn na ba la mật thanh tịnh nên nhẫn đến nhất thiết trí thanh tịnh. Vì nội không thanh tịnh nên nhẫn đến nhất thiết trí thanh tịnh. Vì tứ niệm xứ thanh tịnh nên nhẫn đến nhất thiết trí thanh tịnh.
Này Tu Bồ Đề! Vì nhất thiết trí thanh tịnh nên nhẫn đến Bát nhã ba la mật thanh tịnh.
Này Tu Bồ Đề! Vì hữu vi thanh tịnh nên vô vi thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì hữu vi thanh tịnh nên vô vi thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì hữu vi thanh tịnh cùng với vô thanh tịnh không hai, không khác, không đoạn, không hoại.
Này Tu Bồ Đề! Vì quá khứ thanh tịnh nên vị lai và hiện tại thanh tịnh. Vì vị lai thanh tịnh nên quá khứ và hiện tại thanh tịnh. Vì hiện tại thanh tịnh nên quá khứ và vị lai thanh tịnh.
Tại sao vậy? Vì hiện tại thanh tịnh cùng với quá khứ và vị lai thanh tịnh không hai, không khác, không đoạn, không hoại vậy".

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục