KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI BẢY
08/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI BẢY Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM THÀNH BIỆN THỨ NĂM MƯƠI Lúc bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật rất s...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI BẢY
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM THÀNH BIỆN THỨ NĂM MƯƠI
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Đúng như vậy. Bát nhã ba la mật rất sâu này vì bất khả tư nghi sự đến vì vô đẳng đẳng sự mà phát khởi.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật chứa đựng năm ba la mật, chứa đựng mười tám không, chứa đựng tứ niệm xứ đến bát thánh đạo, chứa đựng mười trí lực đến nhất thiết chủng trí.
Ví như nhà vua là bậc tôn quý trong nước, bao nhiêu việc nước đều ủy nhiệm cho đại thần, nhà vua vô sự an vui nhàn nhã.
Cũng vậy, này Tu Bồ Đề! Bao nhiêu pháp Thanh văn, pháp Bích Chi Phật, pháp Bồ Tát, pháp Phật, tất cả đều ở trong Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật hay hoàn thành những sự việc đó.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật vì đại sự mà phát khởi nhẫn đến vì vô đẳng đẳng sự mà phát khởi.
Lại này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật chẳng lấy sắc, chẳng dính sắc nên có thể hoàn thành được, chẳng lấy, chẳng dính thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng lấy, chẳng dính nhất thiết chủng trí nên có thể hoàn thành được, chẳng lấy, chẳng dính quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến chẳng lấy, chẳng dính Vô thượng Bồ đề nên Bát nhã ba la mật này có thể hoàn thành tất cả pháp".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! thế nào vì chẳng lấy, chẳng dính, sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến vì chẳng lấy, chẳng dính nhất thiết chủng trí mà Bát nhã ba la mật hay hoàn thành tất cả pháp?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Ý ông nghĩ thế nào? Vả thấy sắc, thấy thọ, tưởng, hành, thức có thể lấy, có thể dính được chăng?".
Nhẫn đến thấy nhất thiết chủng trí có thể lấy, có thể dính được chăng?".
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể được.
- Lành thay! Này Tu Bồ Đề! Đức cũng chằng thấy sắc có thể lấy, có thể dính được nhẫn đến chẳng thấy nhất thiết chủng trí có thể lấy, có thể dính được. Vì chẳng thấy nên chẳng lấy, vì chẳng lấy nên chẳng dính.
Này Tu Bồ Đề! Đức Phật cũng chẳng thấy pháp của Phật, pháp của Như Lai, pháp của đấng tự nhiên, pháp của bậc nhất thiết trí có thể lấy, có thể dính được. Vì chằng thấy nên chẳng lấy, vì chẳng lấy nên chẳng dính.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Chư đại Bồ Tát chẳng nên lấy, chẳng nên dính nơi sắc, nhẫn đến chẳng nên lấy,chẳng nên dính nơi pháp của bậc nhất thiết trí Bấy giờ chư Thiên cõi Dục, cõi sắc thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật rất sâu này khó thấy, khó hiểu chẳng thể suy nghĩ so sánh để biết được. Bậc thiện xảo vi diệu trí huệ tịch diệt mới biết được.
Người tin được Bát nhã ba la mật này, phải biết là đại Bồ Tát cúng dường nhiều đức Phật, gieo căn lành nhiều, gần gũi thiện tri thức, nên tin hiểu được Bát nhã ba la mật rất sâu này.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu trong cõi Đại Thiên có bao nhiêu chúng sinh, tất cả đều làm người tín hành, người pháp hành, làm Bát Nhân, làm Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, làm Bích Chi Phật hoặc trí hoặc đoạn, đều chẳng bằng được Bồ Tát này thật hành Bát nhã ba la mật trong một ngày. Tại sao vậy? Vì người tín hành, pháp hành nhẫn đến Bích Chi Phật hoặc trí hoặc đoạn chính là vô sinh pháp nhẫn của Bồ Tát".
Đức Phật bảo chư Thiên cõi Dục, cõi sắc: “Đúng như vậy. Này chư Thiên Tử! Người tín hành, người pháp hành nhẫn đến Bích Chi Phật chính là vô sinh pháp nhẫn đến Bích Chi Phật chính là vô sinh pháp nhẫn của đại Bồ Tát.
Này chư Thiên Tử! Nếu thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật sâu xa này rồi biên chép, thọ trì, đọc tụng nhẫn đến chính ức niệm thì sẽ mau được Niết Bàn hơn thiện nam, thiện nữ vì cầu Thanh Văn hay Bích Chi Phật mà lìa bỏ Bát nhã ba la mật, đi thật hành theo kinh khác hoặc một kiếp hoặc dưới môt kiếp.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa này nói rộng về pháp thượng diệu mà người tín hành, người pháp hành nhẫn đến đại Bồ Tát đều phải nên học. Học xong chứng được Vô thượng Bồ đề".
Lúc bấy giờ chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đồng phát thanh rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật này gọi là Ma ha ba la mật, gọi là bất khả tư nghì, bất khả xưng, bất khả lượng, vô đẳng đẳng ba la mật. Người tín hành, pháp hành nhẫn đến Bích Chi Phật học Bát nhã ba la mật được thành đại Bồ Tát, được thành Vô thượng Bồ đề, Bát nhã ba la mật này cũng chẳng tăng, chẳng giảm".
Bạch xong, chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đỉnh lễ chân Phật, nhiễu Phật rồi trở về Thiên cung.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn!
Nếu đại Bồ Tát nghe Bát nhã ba la mật sâu Xa này mà liền tin, liền hiểu. Người này từ nơi nào chết rồi sinh nhân gian đây?".
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Nếu đại Bồ Tát nghe Bát nhã ba la mật sâu xa này liền tin, liền hiểu, chẳng quên, chẳng bỏ, chẳng thắc mắc, chẳng nghỉ, chẳng ăn năn mà vui mừng ưa nghe, nghe xong ghi nhớ chẳng rời lìa, hoặc lúc đi đứng hoặc lúc nằm ngồi chẳng hề quên sót, thường theo sát Pháp sư.
Như trâu nghé theo sát trâu mẹ, Bồ Tát vì nghe Bát nhã ba la mật mà thường theo sát Pháp sư, khi được Bát nhã ba la mật miệng tụng, tâm hiểu, chính kiến thông suốt.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết đại Bồ Tát này từ loài ngưừi chết mà sinh trử lại trong nhân gian này.
Tại sao vậy? Người cầu Phật đạo, đời trước nghe Bát nhã ba la mật rồi biên chép, cung kính, cúng dường, nên sau khi chết sinh trở lại nhân gian được nghe Bát nhã ba la mật liền tin, liền hiểu".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! có vị Bồ Tát nào ở phương khác thành tựu công đức trên đây, cúng dường chư Phật rồi bỏ thân mà đến sinh tại nhân gian này, được nghe Bát nhã ba la mật liền tin, liền hiểu, biên chép, đọc tụng, chính ức niệm chăng?".
Đức Phật phán: "Có. Ở phương khác, Bồ Tát thành tựu công đức trên đây, cúng dường chư Phật, bỏ thân đến sinh tại nhân gian này được nghe Bát nhã ba la mật sâu xa liền tin, liền hiểu, biên chép, thọ trì, đọc tụng, chính ức niệm. Phải biết đó là do công công đức thành tựu ở đời trước nên được như vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Có Bồ Tát ở nơi Di Lặc Bồ Tát được nghe Bát nhã ba la mật sâu xa, do căn lành ấy mà đến tại nhân gian này.
Này Tu Bồ Đề! Lại có Bồ Tát đời trước nghe Bát nhã ba la mật mà chẳng thưa hỏi những cớ sự trong đó. Vì không thưa hỏi nên đến sinh tại nhân gian nghe Bát nhã ba la mật, nghe Bát nhã ba la mật sâu xa này lòng họ tiếp tục nghi ngờ, khó tỏ ngộ.
Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát đời trước hoặc nghe Thiền ba la mật, hoặc nghe Tinh tấn ba la mật, hoặc nghe Nhẫn nhục ba la mật, hoặc nghe Trì giới ba la mật, hoặc nghe Bố thí ba la mật mà không thưa hỏi cớ sự trong đó. Vì trước không thưa hỏi
Này Tu Bồ Đề! Nếu đời trước Bồ Tát hoặc nghe nội không, ngoại không nhẫn đến nghe nhất thiết chủng trí mà không thưa hỏi có sự trong ấy, vì đời trước không thưa hỏi để được hiểu quyết định nên đến sinh tại nhân này nghe Bát nhã ba la mật sâu xa lòng họ nghi ngờ, khó tỏ ngộ.
Lại này Tu Bồ Đề! Nếu đời trước Bồ Tát nghe Bát nhã ba la mật sâu xa rồi thưa hỏi sự việc trong ấy mà không thật hành, khi bỏ thân sinh đời sau nghe Bát nhã ba la mật sâu xa này trong khoảng một ngày hoặc hai, ba, bốn, năm ngày, lòng họ vững chắc không ai phá hoại được. Nếu họ xa rời chỗ nghe thì sẽ thối thất. Tại sao vậy? vì ở đời trước, lúc nghe Bát nhã ba la mật dầu họ có thưa hối sự việc trong ấy nhưng họ chẳng thật hành đúng như lời. Người này có lúc muốn nghe, tâm chẳng vững chắc, chí chẳng quyết định, như cái lông nhẹ, theo gió mà bay qua Đông hoặc qua Tây.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết Bồ Tát này phát tâm chẳng được lâu, chẳng thường gần gũi thiện tri thức, chẳng cúng dường nhiều Phật, đời trước dầu được nghe mà chẳng biên chép, chẳng đọc tụng, chẳng chính ức niệm Bát nhã ba la mật, chẳng học sáu ba la mật, chẳng học nội không, ngoại không nhẫn đến chẳng học nhất thiết chủng trí. Bồ Tát mới phát tâm Đại thừa, vì ít tin ít thích nên chẳng đọc tụng, chẳng chính ức niệm Bát nhã ba la mật, chẳng thể biên chép được nhẫn đến chính ức niệm được Bát nhã ba la mật sâu xa này.
Này Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo mà chẳng biên chép, chẳng thọ trì nhẫn đến chẳng chính ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa này, cũng chẳng được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật sâu xa này, nhẫn đến cũng chẳng được sự gia hộ của nhất thiết chủng trí. Người này cũng chẳng thật hành Bát nhã ba la mật đúng như lờ. Người này hoặc sa vào bậc Thanh văn hoặc Bích Chi Phật.
Tại sao vậy? Người này chẳng biên chép nhẫn đến thật hành Bát nhã ba la mật được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật sâu xa, thế nên họ sẽ sa vào trong hai thừa ấy".
PHẨM THÍ DỤ THỨ NĂM MƯƠI MỐT
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Ví như thuyền hư chìm giữa biển lớn, nếu người nào trong thuyền chẳng nắm phao, chẳng ôm cây ván hoặc tử thi, phải biết những người ấy không thể vào bờ và sẽ chìm chết. Người nào nắm phao hoặc ôm cây ván, tử thi, phải biết người này chẳng bị chìm chết, sẽ được vào đến bờ yên ổn tự tại.Cũng vậy, này Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo,, nếu chỉ có lòng tin ưa mà chẳng y Bát nhã ba la mật, chẳng biên chép, chẳng thọ trì, chẳng đọc, chẳng tụng, chằng giảng thuyết, chẳng chính ức niệm, với năm ba la mật kia nhẫn đến nhất thiết chủng trí cũng đều chẳng y, chẳng biên chép, đọc tụng, chính ức niệm, phải biết thiện nam, thiện nữ này giữa đường suy hao, chẳng đến được nhất thiết chủng trí, sẽ chứng lấy bậc Thanh Văn hoặc Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ cầu phật đạo, có đức tin, đức nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, có giải, có xả, có tinh tấn, y Bát nhã ba la mật, biên chép, thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, chính ức niệm, người này được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật sâu xa, nhẫn đến được sự gia hộ của nhất thiết chủng trí. Vì được gia hộ nên người này chẳng giữa đường suy hao, vượt khỏi bậc Thanh văn, Bích Chi Phật, hay tịnh Phật độ, thành tựu chúng sinh, sẽ chứng vô thượng Bồ đề.
Này Tu Bồ Đề! ví như có người dùng cái bình đất chưa nung chín để múc nước, phải biết không bao lâu cái bình ấy sẽ bể rã, trở về nơi đất.
Cũng vậy, thiện nam, thiện nữ dầu có tâm Vô thượng Bồ đề, có đức tin, đức nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, có giải, có xả, có tinh tấn, mà chẳng được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật sâu xa nhẫn đến của nhất thiết chủng trí, người này giữa đường suy hao, sẽ sa vào bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Ví như có người dùng bình đất đã nung chín để múc nước, phải biết cái bình nầy sẽ chứa được mà không rã.
Cũng vậy, thiện nam, thiện nữ cầu Vô thượng Bồ đề, có đức tin, đức nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, giải, xả, tinh tấn, lại được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật sâu xa nhẫn đến của nhất thiết chủng trí, phải biết người này chẳng suy hao giữa đường mà vượt khỏi bậc Thanh văn, Bích Chi Phật, hay tịnh Phật độ, thành tựu chúng sinh, chứng được Vô thượng Bồ đề.
Lại này Tu Bồ Đề! Ví như thuyền trang bị chưa hoàn thành mà chở tài vật vượt biển khơi, sẽ biết thuyền này sẽ hư chìm giữa đường, người một nơi, thuyền và tài vật chìm trôi một ngả. Vì phương tiện không đây đủ nên lái buôn phải mất tài vật.
Cũng vậy, thiện nam, thiện nữ dầu có tâm Bồ đề, có đức tin, có nhẫn, nguyện, tịnh tâm, thâm tâm đến tinh tấn mà không được phương tiện lực của Bát nhã ba la mật nhẫn đến của nhất thiết chủng trí gia hộ, phải biết người này giữa đường suy hao, mất đại trân bảo nhất thiết chủng trí, sa vào, bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Ví như người có trí, trang bị thuyền lớn hoàn hảo, sau đó mới hạ thuyền xuống biển chuyên chở tài vật, phải biết thuyền này tất không hư giữa đường, sẽ đến được chỗ muốn đến.
Cũng vậy, thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, có đức tin, có nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, giải, xả, tinh tấn, lại được phương tiện lực của Bát nhã ba la mật đến nhất thiết chủng trí gia hộ, phải biết người này sẽ được Vô thượng Bồ đề, không bị suy hao giữa đường, sa vào Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Ví như có người tuổi già hơn trăm, suy yếu nhiều bệnh. Người già bệnh này nằm liệt trên giường không thể dậy đi được, hoặc có dậy đi được cũng không thể bước đi xa một, hai mươi dặm được.
Cũng vậy, thiện nam, thiện nữ dầu có tâm Bồ đề có đức tin, nhẫn có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, giải, xả, tinh tấn nhưng chẳng được phương tiện lực của Bát nhã ba la mật gia hộ, nhẫn đến chẳng được phương tiện lực của nhất thiết chủng trí gia hộ, phải biết người này giữa đường sa vào bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Như người già hơn trăm tuối, suy yếu nhiều bệnh muốn đứng dậy bước đi, có hai ngưừi khỏe mạnh tận lực kèm dìu hai bên, nhờ đó người già bệnh đi đến được chỗ muốn.
Cũng vậy, thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, có đức tin, có nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có dục, giải, xả, tinh tấn, lại được phương tiện lực cửa Bát nhã ba la mật nhẫn đến của nhất thiết chủng trí gia hộ, phải biết người này giữa đường không sa vào bậc Thanh văn, Bích Chi Phật mà đến được chỗ muốn đến, đó là Vô thượng Bồ đề".
Đến đây đức Phật lại khen Ngài Tu Bồ Đề: "Lành thay, lành thay! Tu Bồ Đề vì chư Bồ Tát mà thưa hỏi nơi Như Lai sự việc như vậy.
Này Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ từ lúc mới phát tâm đến nay dùng tâm ngã ngã sử mà bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Lúc bố thí nhẫn đến trí huệ, người này có quan niệm: Tôi là thí chủ, tôi bố thí cho người ấy, tôi bố thí vật ấy, nhẫn đến có quan niệm tôi là người tu trí huệ, tôi tu trí huệ ấy, tôi có trí huệ. Người này chẳng biết, thử ngạn, chẳng được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật nhẫn đến chẳng được sự gia hộ của nhất thiết chủng trí. Vì trong Bát nhã ba la mật nhẫn đến trong Đàn na ba la mật không có sự phân biệt như vậy. Xa lìa thử ngạn, bỉ ngạn, đó là tướng của sáu ba la mật. Vì không được gia hộ nên người này chẳng đến nhất thiết chủng trí mà sa vào bậc Thanh văn, Bích Thi Phật.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào là người cầu Phật đạo mà không có phương tiện?
Người cầu Phật đạo từ lúc sơ phát tâm đến nay không có sức phương tiện trong khi thật hành sáu độ, người này quan niệm rằng tôi là thí chủ bố thí cho người và dùng tài vật ấy để bố thí, nhẫn đến quan niệm rằng tôi tu huệ ấy, có huệ ấy, do đó mà có quan niệm tự cao:"Nơi bố thí tự cao, trì giới tự cao, nhẫn nhục tự cao, tinh tấn tự cao, thiền định tự cao, trí huệ tự cao. Người này không biết rằng không phân biệt nhớ tưởng, xa lìa thử ngạn, bỉ ngạn là tướng của sáu ba la mật. vì không biết thử ngạn, không biết bỉ ngạn nên người này không được thủ hộ của Đàn na ba la mật nhẫn đến không được thủ hộ của nhất thiết chủng trí, do đó không thể đến được nhất thiết chủng trí mà phải sa vào bậc Thanh văn hay Bích Chi Phật.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát nếu chẳng được sức phương tiện của Bát nhã ba la mật thủ hộ, tất phải sa vào bậc Thanh Văn hay Bích Chi Phật.
Nếu được sự gia hộ của phương tiện lực Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát tất mau được Vô thượng Bồ đề, không bị sa vào bậc Thanh Văn hay Bích Chi Phật.
Thế nào là được sự gia hộ?
Này Tu Bồ Đề! Từ ban sơ đến nay, Bồ Tát dùng sức phương tiện mà bố thí, không tâm nghĩ có ngã ngã sở nhẫn đến không tâm ngã ngã sử mà tu trí huệ. Bồ Tát này chẳng nghĩ rằng tôi có bố thí, đó là của tôi bố thí, chẳng vì bố thí mà tự cao, nhẫn đến chẳng vì trí huệ mà tự cao. Bồ Tát này chẳng nghĩ rằng tôi là thí chủ, tôi bố thí cho người ấy, tôi đem vật ấy để bố thí, nhẫn đến chẳng nghĩ rằng tôi tu trí huệ, tôi
Bồ Tát này biết thử ngạn, biết bỉ ngạn. Bồ Tát này được Đàn na ba la mật hộ niệm nhẫn đến được Bát nhã ba la mật hộ niệm, được nội không, ngoại không nhẫn đến được nhất thiết chủng trí hộ niệm. Vì được sự hộ niệm đó nên Bồ Tát này chẳng sa vào bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật mà được đến bậc nhất thiết chủng trí.
Thế nên, này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát VÌ được phương tiện lực cùa Bát nhã ba la mật gia hộ nên chẳng sa vào bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật mà mau được Vô thượng Bồ đề”.
PHẨM THIỆN TRI THỨC - THỨ NĂM MƯƠI HAI
Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Hàng tân học Bồ Tát phải học sáu ba la mật như thế nào?".Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Nếu muốn học sáu ba la mật, hàng tân học Bồ Tát phải trước cúng dường gần gũi bậc thiện tri thức hay giảng nói Bát nhã ba la mật sâu xa này. Thiện tri thức ấy giảng dạy rằng: Này thiện nam tử! Có bao nhiêu bồ thí đều hồi hướng Bồ đề tất cả, có bao nhiêu trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề tất cả. Ngươi chớ cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Vô thượng Bồ đề, chớ cho sáu ba la mật là Vô thượng Bồ đề, chớ cho nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không là Vô thượng Bồ đề, chớ cho tứ niệm xứ đến bát thánh đạo là Vô thượng Bồ đề, chớ cho mười trí lực đến mười tám pháp bất cộng là Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy? Vì chẳng nắm lấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì được Vô thượng Bồ đề, chẳng nắm lấy sáu ba la mật nhẫn đến chẳng nắm lấy mười tám pháp bất cộng thì được Vô thượng Bồ đề.
Này thiện nam tử! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật sâu xa này chớ tham sắc, chớ tham thọ, tưởng, hành, thức, chớ tham sáu ba la mật nhẫn đến chớ tham nhất thiết chủng trí.
Vì sắc chẳng phải cái có thể tham được, nhẫn đến vì nhất thiết chủng trí chằng phải có cái để tham được.
Này thiện nam tử! Chớ tham quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến chớ tham bậc Bồ Tát, chơ tham Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy? Vì Vô thượng Bồ đề chẳng phải cái có thể được. Tại sao vậy? Vì pháp tính không vậy".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Chư Bồ Tát hay làm việc khó: Ở trong pháp tính không mà cầu Vô thượng Bồ đề, mà muốn được Vô thượng Bồ đề.
Đức Phật dạy: "Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát hay làm được việc khó: Ở trong pháp tính không mà cầu Vô thượng Bồ đề, mà muốn được Vô thượng Bồ đề.
Này Tu Bồ Đề! Vì muốn an ổn thế gian nên chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề, vì muốn an lạc thế gian, cứu thế gian, làm chỗ về cho thế gian, làm chỗ y cứ cho thế gian, làm cồn đảo cho thế gian, làm nhà dìu dắt thế gian, làm con đường rốt ráo cho thế gian, làm chỗ đến cho thế gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào vì an ổn thế gian, vì an lạc thế gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát lúc được Vô thượng Bồ đề để cứu vớt lục đạo chúng sinh ra khỏi lo khổ sầu não, đặt lên bờ Niết Bàn vô úy.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào vì cứu thế gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát lúc được Vô thượng Bồ đề cứu khổ sinh tử cho chúng sinh, thuyết pháp cho chúng sinh, chúng sinh được nghe pháp lần lần do ba thừa mà được độ thoát.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào là vì làm chỗ về cho thế gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát lúc được Vô thượng Bồ đề cứu chúng sinh ra khỏi tướng sinh, già, bênh, chết, lo buồn sầu não, đặt chúng sinh nơi bờ Niết Bàn vô úy.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm chỗ y cứ cho thế gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát lúc được vô thượng Bồ đề vì chúng sinh mà nói tất cả pháp không chỗ y cứ”.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là tất cả pháp không chỗ y cứ?".
Đức Phật dạy: "Này Tu Bồ Đề! sắc chẳng tương tục đó là sắc không sinh, sắc không sinh đó là sắc không diệt, sắc không diệt đó là sắc không chỗ y cứ. Như sắc, thọ, tưởng, hành, thức đến nhất thiết chủng trí cũng vậy.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm con đường rốt ráo cho thế gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Lúc được vô thưựng Bồ đề, đại Bồ Tát vì chúng sinh mà nói pháp như vầy: Tướng rốt ráo của sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến của nhất thiết chủng trí chẳng phải sắc, chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng phải nhất thiết chủng trí.
Như tướng rốt ráo, tất cả pháp tướng đều như vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều như tướng rốt ráo, tại sao chư đại Bồ Tát đều phải được Vô thượng Bồ đề. Vi trong tướng rốt ráo của sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến trong tướng rốt ráo của nhất thiết chủng trí đều không có phân biệt là sắc, là thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến không có phân biệt là nhất thiết chủng trí".
Đức Phật dạy: "Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề! Trong tướng rốt ráo của sắc, của thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến không có phân biệt là sắc, là thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến không có phân biệt là nhất thiết chủng trí.
Tu Bồ Đề! Đây là việc khó của đại Bồ Tát: quán sát tướng tịch diệt của các pháp mà tâm Bồ Tát chẳng mất, chẳng bỏ. Vì đại Bồ Tát nghĩ rằng pháp sâu xa như vậy tôi phải biết như vậy, lúc được Vô thượng Bồ đề sẽ vì chúng sinh mà nói pháp tịch diệt vi diệu như vậy. Này Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm cồn đảo cho thế gian mà đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Trong sông trong biển, chỗ đất mà bổn phía đều bị nước cắt đứt thì gọi là cồn đảo.
Cũng vậy, sắc trước sau đứt đoạn, thọ, tưởng, hành, thức trước sau đứt đoạn, nhẫn đến nhất thiết chủng trí trước sau đứt đoạn. Vì trước sau đứt đoạn nên tất cả pháp đều đứt đoạn.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp trước sau đứt đoạn đó là tịch diệt, đó là diệu bảo, tức là không, là vô sở đắc, nhiễm ái dứt sạch, là ly dục Niết Bàn.
Lúc được Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát vì chúng sinh mà nói pháp tịch diệt vi diệu.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm nhà dìu dắt thế gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát lúc được Vô thượng Bồ đề vì chúng sinh mà giảng nói sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, vì chúng sinh mà giảng nói thập nhị nhập, thập bát giới, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ không định, tứ niệm xứ đến bát thánh đạo, ngũ thần thông là chẳng sinh, diệt, chẳng cấu, tịnh, giảng nói Tu Đà Hoàn quả nhẫn đến nhất thiết chủng trí là chẳng sinh, diệt, cấu, tịnh.
Này Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm chỗ đến cho chúng sinh mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề! Đại Bồ Tát lúc được Vô thượng Bồ đề vì chúng sinh mà giảng nói sắc đến không, thọ, tưởng, hành, thức đến không nhẫn đến nhất thiết chủng trí đến không. Vì chúng sinh mà giảng nói sắc chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến, nhẫn đến giảng nói nhất thiết chủng trí chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến. Tại sao vậy? Vì tướng không của sắc chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến, vì tướng không của thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến tướng không của nhất thiết chủng trí chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến. Vì tất cả pháp đến không tức là đến mà chẳng có qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong không đều không có đến hay chẳng phải đến.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô tướng. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong vô tướng, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô tác. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong vô tác, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô khởi, đến bất sinh diệt, đến bất cấu tịnh, đến vô sở hữu. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? vì trong vô khởi, trong vô sở hữu, trong bất sinh diệt, bất cấu tịnh, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến mộng, ảo, hưởng, ảnh, hóa. Sự đến này là chằng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong mộng, ảo, hưởng, ảnh, hóa, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô lượng vô biên. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong vô lượng vô biên, đến và chẳng đến đều không có được.
Tại sao vậy? Vì trong chẳng cho, chằng lấy này, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến chẳng cao, chẳng hạ. Sự đến này là chằng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong chẳng cao, chằng hạ này, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến bất tăng, bất giảm. Sự đến này là chằng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong bất tăng, bất giảm này, đến và chẳng đến đều không thể được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến bất lai, bất khứ, bất nhập xuất, bất hiệp tán, bất trước đoạn. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong bất lai khứ, nhập xuất, hiệp tán, trước đoạn, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến ngã, đến nhân, đến chúng sinh, đến thọ giả, đến khởi, đến sử khỏi, đến tác, đến sử tác, đến tri giả, đến kiến giả. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì ngã nhẫn đến tri giả, kiến giả đều rốt ráo không có được thì làm sao có đến, chẳng phải đến.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến thường, đến lạc, đến ngã, đến tịnh. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì thường, lạc, ngã, tịnh rốt ráo không có được thì làm sao có đến, chẳng đến.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến tham, sân, si, mạn, nghi, kiến. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì tham, sân, si, mạn, nghi, kiến rốt ráo không có được thì làm sao có đến, chẳng đến.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến như, đến pháp tính, đến thật tế, đến bất tư nghi tính. Sự đến này là chằng qua đến đâu. Tại sao vậy? vì trong như, trong pháp tính, thật tế, bất tư nghi tính không có lai, không có khứ.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến bình đẳng, đến bất động tướng. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong bình đẳng, trong tướng bất động không có đến và chằng đển.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến sắc, đến thọ, tưởng, hành, thức, đến thập nhị nhập, thập bát giới. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhập, giới đều chẳng có được thì làm sao có đến, chẳng đến.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến lục ba la mật nhẫn đến thập bát không, đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Sự đến này là chẳng qua đến đâu.
Tại sao vậy? Vì sáu ba la mật nhẫn đến bát thánh đạo đều không có được thì làm sao có đến, chẳng đến.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến mười trí lực nhẫn đến nhất thiết chủng trí. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong nhất thiết chủng trí không có đến và chẳng đến.
Tu Bồ Đề! Tất cả pháp đến quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến Vô thượng Bồ đề. Sự đến này là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến trong Vô thượng Bồ đề không có đến và chẳng đến".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Ai là người tin hiểu Bát nhã ba la mật sâu xa này?".
Đức Phật dạy: "Này Tu Bồ Đề! Có đại Bồ Tát từ trước ở chỗ chư Phật đã tu sáu ba la mật, thiện căn thuần thục, cúng dường vô số trảm ngàn muôn ức chư Phật, thường gần gũi thiện tri thức. Những người này hay tin hiểu Bát nhã ba la mật sâu xa".
Bạch đức Thế Tôn! Người hay tin hiểu Bát nhã ba la mật sâu xa này có tính gì, tướng gì, mạo gì?
Tính, tướng, mạo rời lìa tham, sân, si, đại Bồ Tát này tín hiểu Bát nhã ba la mật sâu xa”.
PHẨM XU HƯỚNG NHẤT THIẾT TRÍ - THỨ NĂM MƯƠI BA
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn!Đại Bồ Tát hiểu Bát nhã ba la mật sâu xa này sẽ đến chỗ nào?’’.
Đức Phật dạy: “Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát hiểu Bát nhã ba la mật sâu xa này sẽ đến nhất thiết chủng trí".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát hay đến nhất thiểt chủng trí này làm chỗ về đến cho tất cả chúng sinh, vì tu Bát nhã ba la mật vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Tu Bát nhã ba la mật là tu tất cả pháp.
Bạch đức Thế Tôn! Không chỗ tu là tu Bát nhã ba la mật. Chẳng thọ tu, hư hoại tu là tu Bát nhã ba la mật".
- Do pháp gi hư hoại mà Bát nhã ba la mật là hư hoại tu?
- Bạch đức Thế Tôn! Vì sắc hư hoại nên Bát nhã ba la mật là hư hoại tu.
Vì thọ, tưởng, hành, thức hư hoại, vì thập nhị nhập, thập bát giới hoại nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Vì ngã nhẫn đến tri giả, kến giả hoại nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Vì Đàn na ba la mật hoại nhẫn đến Bát nhã ba la mật hoại nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Vì nội không hoại nhẫn đến mười tám pháp bất cộng hoại nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Vì tứ niệm xứ hoại nhẫn đến nhất thiết chủng trí hoại nên Bát nhã ba la mật là hoại tu”.
Đức Phật dạy: "Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề! Vì sắc hoại nhẫn đến nhất thiết chủng trí hoại nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Lại này Tu Bồ Đề! Trong Bát nhã ba la mật sâu xa này, bậc bất thối địa Bồ Tát phải nghiệm biết.
Nếu ở trong Bát nhã ba la mật sâu xa này mà chẳng trước chấp, phải biết đó là bậc bất thối địa Bồ Tát.
Nếu trong Thiền na ba la mật nhẫn đến trong nhất thiết chủng trí mà chẳng trước chấp, phải biết đó là bậc bất thối địa Bồ Tát.
Lúc hành thâm Bát nhã ha la mật, bậc bất thối địa Bồ Tát chẳng lấy lời người khác làm khẩn yếu, cũng chẳng làm theo lời chỉ bảo của người khác.
Bậc bất thối địa Bồ Tát chằng bị tâm dục, tâm sân, tâm si kéo dắt, chẳng bao giờ rời lìa sáu ba la mật.
Lúc nghe nói Bát nhã ba la mật sâu xa, bậc bất thối địa Bồ Tát chẳng kinh sợ, chẳng ăn năn, nghỉ ngờ mà hoan hỉ ưa nghe, thọ trì, đọc tụng, chính ức niệm và thật hành đúng như lời.
Này Tu Bồ Đề! Phải biết Bồ Tát này đời trước đã từng nghe sự việc trong Bát nhã ba la mật sâu xa này và đã thọ trì, đọc tụng, chính ức niệm. Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát này hiện tại có oai đức lớn, nghe Bát nhã ba la mật sâu xa mà lòng không kinh sợ, ăn năn, nghi ngờ, lại hoan hỉ ưa nghe, thọ trì, đọc tụng, chính ức niệm".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát nghe Bát nhã ba la mật sâu xa này mà không kinh sự, lại ưa nghe nhẫn đến chính ức niệm thì thật hành Bát nhã ba la mật này thế nào?".
Đức Phật dạy: “Tùỵ thuận tâm nhất thiết chủng trí, đây là chỗ phải thật hành Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát".
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào gọi là tùy thuận tâm nhất thiết chủng trí mà đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật phải như vậy? - Này Tu Bồ Đề! Lấy không để tùy thuận, lấy vô tướng, vô tác để tùy thuận, lấy vô sở hữu, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh để tùy thuận, đó là đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật sâu xa.
Lấy như mộng, như ảo, diêm, hưởng, hóa để tùy thuận, đó là thật hành Bát nhã ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Như đức Phật tuyên dạy lấy không nhẫn đến lấy như mộng, ảo để tùy thuận, người thật hành Bát nhã ba la mật phải như vậy. Đại Bồ Tát này hành pháp gì?
- Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát chẳng hành nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng hành nơi nhất thiết chủng trí. Tại sao vậy? vì chỗ hành của Bồ Tát này không pháp làm, không pháp hoại, không từ đâu đến cũng chẳng đến đâu, không chỗ trụ, không tính được, không lường được. Nếu là không tính được, không lường được thì pháp ấy là chằng thể được, chẳng thể dùng sắc để được nhẫn đến chẳng thể dùng nhất thiết chủng trí để được. Tại sao vậy? Vì sắc tức là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật tức là sắc, nhẫn đến nhất thiết chủng trí tức là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật tức là nhất thiết chủng trí.
Nếu sắc tướng như nhẫn đến nhất thiết chủng trí tướng như thì đều là như duy nhất, không hai, không khác.
Sắc tướng như, Bát nhã ba la mật tướng như: như duy nhất, không hai, không khác.
Nhẫn đến nhất thiết chủng trí tướng như, Bát nhã ba la mật tướng như: như duy nhất không hai, không khác".
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
17/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI MƯƠI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM HẰNG GIÀ ĐỀ BÀ - THỨ NĂM MƯƠI CHÍN Bấy giờ trong đại chúng có một nữ nhân tên Hằng Già Đề Bà, từ c...
13/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI CHÍN
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI CHÍN Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM KIÊN CỐ - THỨ NĂM MƯƠI SÁU Đức Phật phán dạy: "Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma đến Bồ Tát, muốn phá hoại...
11/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM ĐẠI NHƯ - THỨ NĂM MƯƠI BỐN Lúc bấy giờ chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đem hương bột chiên đàn cõi Trời...
06/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI SÁU
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI SÁU Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM LƯỠNG BẤT HÒA HIỆP QUÁ THỨ BỐN MƯƠI BẢY Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Người thính pháp nơi Bát nhã...
06/02/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI LĂM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI LĂM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỷ kheo Thích Trí TỊnh PHẨM KINH NHĨ VĂN TRÌ THỨ BỐN MƯƠI LĂM Lúc đó Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân nghĩ rằng: “Nếu thiện nam, thiệ...
30/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BỐN
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BỐN Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM THÁN TỊNH THỨ BỐN MƯƠI HAI Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thanh tịnh này rất sâu!”. Đức P...
30/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI BA Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM CHIẾU MINH THỨ BỐN MƯƠI Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đây chính là Bát nhã ba la mật?". Đ...
28/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI HAI
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ MƯỜI HAI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM TƯƠNG TỰ THỨ BA MƯƠI TÁM (Phần dưới) Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những gì l...
