Buddha.com.vn

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM

11/02/2016

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM ĐẠI NHƯ - THỨ NĂM MƯƠI BỐN Lúc bấy giờ chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đem hương bột chiên đàn cõi Trời...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM
Phần 1

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI TÁM
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM ĐẠI NHƯ - THỨ NĂM MƯƠI BỐN

Lúc bấy giờ chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đem hương bột chiên đàn cõi Trời và những hoa sen xanh, đỏ, hồng, trắng cõi Trời vói rải cúng dường đức Phật, rồi đến chỗ đức Phật đảnh lễ chân Phật, đứng qua một phía mà thưa rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Vô thượng Bồ đề của chư Phật thật là rất sâu, khó thấy, khó hiểu, chẳng thể suy gẫm mà biết được, là vi diệu tịch diệt, chỉ có bức trí mới biết được, ngoài ra tất cả thế gian chẳng thể tin được. Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa nói thế này: sắc tức là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật tức là sắc, nhẫn đến nhất thiết chủng trí tức là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật tức là nhất thiết chủng trí. Sắc tướng như, Bát nhã ba la mật tướng như là một như, không hai, không khác. Nhẫn đến nhất thiết chủng trí tướng như, Bát nhã ba la mật tướng như là một không hai, không khác".
Đức Phật dạy: "Đúng như vậy. Này chư Thiên Tử! sắc tức là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật tức là sắc. Nhẫn đến nhất thiết chủng trí là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật là nhất thiết chủng trí.
Sắc tướng như, nhẫn đến nhất thiết chủng trí tướng như là một như, không hai, không khác.
Thế nên, này chư Thiên Tử! Lúc mới thành đạo, lòng đức Phật muốn yên lặng chẳng muốn thuyết pháp. Tại sao vậy? Vì pháp Vô thượng Bồ đề của đức Phật chứng được rất sâu, khó thấy, khó hiểu, chẳng thể suy gẫm được, là vi diệu tịch diệt, chỉ bức trí biết được, còn tất cả thế gian chẳng thể tin được.
Tại sao vậy? Vì Vô thượng Bồ đề không người được, không chỗ được, không thời gian được, đây là tướng rất sâu của các pháp, chính là không có hai pháp.
Này chư Thiên Tử! Ví như vì hư không rất sâu nên pháp này rất sâu, vì như rất sâu nên pháp này rất sâu, vì pháp tính, thật tế, bất khả tư nghì, vô biên rất sâu nên pháp này rất sâu, vì vô lai, vô khứ rất sâu nên pháp này rất sâu, vì bất sinh, bất diệt, vô cấu, vô tịnh, vô trí, vô đắc rất sâu nên pháp này rất sâu.
Này chư Thiên Tử! Vì ngã rất sâu nhẫn đến tri giả, kiến giả rất sâu nên pháp này rất sâu.
Này chư Thiên Tử! Vì sắc rất sâu, thọ, tưởng, hành, thức rất sâu nên pháp này rất sâu. Vì sáu ba la mật nhẫn đến vô pháp hữu pháp không rất sâu nên pháp này rất sâu. Vì tứ niệm xứ đến nhất thiết chủng trí rất sâu nên pháp này rất sâu".
Chư thiên cõi Dục, cõi sắc thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Pháp vừa đức Phật dạy, tất cả thế gian chẳng thể tin được.
Bạch đức Thế Tôn! Pháp sâu xa này chằng vì lấy hay bỏ sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà nói, nhẫn đến chẳng vì bỏ hay lấy nhất thiết chủng trí mà nói.
Các thế gian đều thọ lấy mà thật hành nào sắc là ngã, là ngã sở, nào thọ, tưởng, hành, thức, là ngã, là ngã sở, nhẫn đến nhất thiết chủng trí là ngã, là ngã sở’1.
Đức Phật dạy: “Đúng như vậy. Này chư Thiên Tử! Pháp rất sâu xa này chẳng phải vì lấy hay bỏ sắc mà nói, nhẫn đến chẳng phải vì lấy hay bỏ nhất thiết chùng trí mà nói.
Này chư Thiên Tử! Nếu có Bồ Tát vì thọ lấy sắc nhẫn đến vì thọ lấy nhất thiết chủng trí mà tu hành, Bồ Tát này chẳng tu hành được Bát nhã ba la mật, chẳng tu hành được Thiền na ba la mật nhẫn đến chẳng tu hành được nhất thiết chủng trí".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thề Tônl Pháp rất sâu xa này tùy thuận tất cả pháp: Tùy thuận Đàn ba la mật nhẫn đến tùy thuận nhất thiết chủng trí.
Pháp này vô ngại: Chẳng ngại sắc, thọ tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng ngại nhất thiết chủng trí.
Này chư Thiên Tử! Pháp này tên là vô ngại tướng, vì đồng như hư không, vì đồng như pháp tính, pháp trụ, thật tế, bất khả tư nghì tính, vì đồng như hư không, vô tướng, vô tác.
Pháp này sinh tướng: sắc chẳng sinh nhẫn đến nhất thiết chủng trí chẳng sinh, vì bất khả đắc vậy.
Pháp này không xứ sử, vì xứ sở của sắc nhẫn đến xứ sử của nhất thiết chủng trí bất khả đắc vậy".
Bấy giờ chư Thiên cõi Dục cõi sắc thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Ngài Tu Bồ Đề là Phật tử, tùy Phật sinh. Tại sao vậy? Vì chỗ nói của Ngài Tu Bồ Đề đều hợp với không".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Này chư Thiên Tử! Các Ngài bảo Tu Bồ Đề là Phật tử, tùy Phật sinh?
Thế nào là tùy Phật sinh?
Vì tướng như nên Tu Bồ Đề tùy Phật sinh. Tại sao vậy? Vì đức Như Lai tướng như chẳng lai, chẳng khứ, Tu Bồ Đề tướng như cũng chẳng lai, chẳng khứ, thế nên Tu Bồ Đề là tùy Phật sinh.
Lạt Tu Bồ Đề từ nào đến giờ vẫn tùy Phật sinh. Tại sao vậy? Vì đức Như Lai tướng như tức là tất cả pháp tướng như, tất cả pháp tướng như tức là đức Như Lai tướng như.
Trong tướng như này cũng không có tường như. Thế nên Tu Bồ Đề là tùy Phật sinh.
Lại đức Như Lai như là tướng thường trụ,
Tu Bồ Đề như cũng là tướng thường trụ. Đức Như Lai như tướng cũng không dị biệt. Thế nên Tu Bồ Đề là tùy thuận Phật sinh.
Đức Như Lai như tướng không có chỗ ngại, tất cả pháp như tướng cũng không có chỗ ngại, đây là Như Lai như tướng cùng nhất thiết pháp như tướng là một như, không hai, không khác. Như tướng này vô tác trọn không chẳng như, nên như tướng này là như duy nhất, không hai, không khác. Thế nên Tu Bồ Đề là tùy Phật sinh, Đức Như Lai như tương tất cả chỗ vô niệm, vô biệt, Tu Bồ Đề như tướng cũng tất cả chỗ vô niệm, vô biệt. Đức Như Lai như tướng chẳng dị biệt, chẳng thể được, Tu Bồ Đề cũng vậy. Thế nên Tu Bồ Đề là tùy Phật sinh.
Đức Như Lai như tướng chẳng xa rời các pháp như tướng, như này trọn không chẳng như, vì như chẳng khác nên Tu Bồ Đề là tùy Phật sinh, mà cũng không chỗ tùy.
Lại đức Như Lai như tướng chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng hiện tại, các pháp như tướng cũng chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng hiện tại, thế nên Tu Bồ Đề là tùy Phật sinh.
Lại đức Như Lai như chẳng ở trong như quá khứ, chẳng ở trong như vị lai, chẳng ở trong như hiện tại. Quá khứ như, vị lai như, hiện tại như cũng chẳng ở trong Như Lai như, là một như, không hai, không khác.
Sắc như, Như Lai như, thọ, tưởng, hành, thức như, Như Lai như, là một như, không hai, không khác.
Ngã như nhẫn đến tri giả như, Như Lai như, là một như, không hai, không khác.
Đàn ba la mật như nhẫn đến nhất thiết chủng trí như, Như Lai như, là một như, không hai, không khác.
Đại Bồ Tát do được như vậy nên gọi là Như Lai".
Lúc Ngài Tu Bồ Đề nói phẩm Như tướng trên đây, cõi Đại thiên thế giới này chấn động sáu cách. Chư Thiên cõi Dục, cõi sắc đem bột chiên đàn hướng Trời rải trên đức Phật, cũng rải trên Ngài Tu Bồ Đề mà thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Phật là chưa từng có. Ngài Tu Bồ Đề do đức Như Lai như mà tùy Phật sinh”.
Phần 2

Ngài Tu Bồ Đề lại nói với Chư Thiên: "Này các Ngài! Tu Bồ Đề chẳng từ trong sắc mà Phật sinh, cũng chẳng từ trong sắc như mà tùy Phật sinh. Tu Bồ Đề chẳng rời sắc mà tùy Phật sinh, cũng chẳng rời sắc như mà tùy Phật sinh. Nhẫn đến Tu Bồ Đề chẳng từ trong nhất thiết chùng trí mà tùy Phật sinh, cũng chẳng trong nhất thiết chủng trí mà tùy Phật sinh, chằng rời nhất thiết chủng trí như mà tùy Phật sinh.
Tu Bồ Đề chẳng từ trong vô vi mà tùy Phật sinh, chẳng từ vô vi như mà tùy Phật sinh, chẳng rời vô vi mà tùy Phật sinh, cũng chẳng rời vô vi như mà tùy Phật sinh.
Tại sao vậy? Vì tất cả pháp ấy đều là vô sở hữu, đều là bất khả đắc, không người tùy sinh, cũng không pháp tùy sinh”.
Lúc bấy giờ Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật "Bạch đức Thế Tôn! Như ấy chân thật chẳng hư. Pháp tướng, pháp trụ, pháp vị rất sâu. Trong đây, sắc không thể được, sắc như không thể được. Tại sao vậy? Vì sắc còn không thể được, huống gì sắc như mà lại có thể được.
Nhẫn đến nhất thiết chủng trí chẳng thể được, nhất thiết chủng trí như chẳng thể được. Tại sao vậy? Vì nhất thiết chủng trí còn chẳng thể được, huống gì nhất thiết chủng trí như mà lại có thế được".
Đức Phật dạy: “Đúng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Như ấy chân thiệt chẳng như. Pháp tướng, pháp trụ, pháp vị rất sâu. Trong đây, sắc nhẫn đến nhất thiết chủng trí đều chẳng thể được, sắc như nhẫn đến nhất thiết chủng trí như đều chẳng thể được. Tại sao vậy? Vì sắc nhẫn đến nhất thiết chủng trí còn chẳng thể được, huống gì sắc như nhẫn đến nhất thiết chủng trí như mà lại có thể được".
Lúc Ngài Xá Lợi Phất nói như tướng trên đây, trong pháp hội có hai trăm vị Tỳ Kheo vì chẳng thọ tất cả pháp nên được hết phiền não, thành A La Hán, năm trăm Tỳ Kheo Ni xa trần lìa cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. Năm ngàn đại Bồ Tát được vô sinh pháp nhẫn. Sáu ngàn Bồ Tát vì chẳng thọ tất cả pháp nên hết phiền não, tâm được giải thoát, thành A La Hán.
Đức Phật phán dạy: "Này Xá Lại Phất! Sáu ngàn Bồ Tát thành A La Hán trên đây, đời trước họ gặp năm trăm đức Phật, cúng dường, gần gũi. Họ thật hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Vì không có sức phương tiện của Bát nhã ba la mật nên họ thật hành biệt dị. Họ nghĩ rằng đây là bố thí, đây là trì giới, đây là nhẫn nhục, đây là tinh tấn, đây là thiền định. Vì không có Bát nhã ba la mật nên không có sức phương tiện. Vì không có sức phương tiện nên thật hành biệt dị. Vì biệt dị nên không được tướng không biệt dị. Vì không được tướng không biệt dị nên chẳng được vào bậc Bồ Tát. Vì chẳng được vào bậc Bồ Tát nên được quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến quả A La Hán.
Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát dẫu thật hành Bồ Tát đạo mà xa rời Bát nhã ba la mật thì không có sức phương tiện, nên ở nơi thật tế chứng lấy mà thành quả vị Thanh văn thừa”.
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn do nhân duyên gí cũng đồng tu hành pháp không, vô tướng, vô tác, mà người không sức phương tiện thì chứng lấy thật tế, thành Thanh Văn thừa, người có sức phương tiện lại được Vô thượng Bồ đề?".
Đức Phật phán dạy: "Này Xá Lợi Phất! Có Bồ Tát vì rời tâm Bát nhã ba la mật mà tu pháp không, vô tướng, vô tác nên không có sức phương tiện, do đây mà thành Thanh Văn thừa.
Này Xá Lợi Phất! Lại có Bồ Tát chẳng rời tâm Bát nhã ba la mật mà tu pháp không, vô tướng, vô tác nên có sức phương tiện, do đây mà vào bậc Bồ Tát, được Vô thượng Bồ đề.
Này Xá Lợi Phất! Như thân chim dài lớn đến trăm do tuần hoặc hai trăm, ba trăm do tuần mà không có cánh, từ Trời Đao Lợi rơi xuống Diêm Phù Đề. Ý ngươi nghĩ sao, này Xá Lợi Phất! Giữa đường đang rơi, chim không cánh ấy muốn trở về cung Trời có được chăng?".
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể được,
- Này Xá Lợi Phất! Chim ấy mong rằng sau khi rơi xuống Diêm Phù Đề, thân chim sẽ nguyên vẹn không đau đớn có được chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể được. Lúc đã rơi xuống đất, chim ấy tất phải đau đớn hoặc chết. Vì chim ấy thân thể đã lớn lại không cánh.
- Cũng vậy, này Xá Lợi Phất! Bồ Tát dầu có thời gian kiếp số bằng cát sông Hằng, tu hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, sinh đại tâm, làm đại sự vì được Vô thượng Bồ đề mà thọ vô lượng nguyện, nếu xa rời sức phương tiện của Bát nhã ba la mật tất phải sa vào Thanh Văn thừa hoặc Bích Chi Phật đạo.
Này Xá Lợi Phất! Nếu Bồ Tát dầu tưởng niệm trì giới, thiền định, trí huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại nhưng lại tướng thọ trì, Bồ Tát này chẳng biết, chẳng hiểu chư Phật, giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, chỉ nghe tiếng nói về danh tự, không, vô tướng, vô tác, rồi nắm lấy tiếng danh tự ấy để hồi hướng Vô thượng Bồ đề, Bồ Tát này trụ trong bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật, không thể qua khỏi được. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này xa rời sức phương tiện của Bát nhã ba la mật mà thọ trì các thiện căn để hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Này Xá Lợi Phất! Có Bồ Tát từ khi mới phát tâm đến nay không xa rời tâm Bát nhã ba la mật, tu hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, ví có sức phương tiện của Bát nhã ba la mật nên không nắm lấy tướng, ở nơi giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng nắm lấy tướng không, vô tướng, vô tác, giải thoát môn. Phải biết Bồ Tát này chẳng sa vào Thanh Văn, Duyên Giác mà thẳng đến Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này từ nào vẫn không nắm lấy tướng trong khi tu các thiện căn: không nắm lấy tướng bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, không nắm lấy tướng giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.
Này Xá Lợi Phất! Đây gọi là Bồ Tát có sức phương tiện dùng tâm ly tướng mà tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, nhẫn đến dùng tâm ly tướng tu hành nhất thiết chủng trí"
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Như tôi nhận hiểu nghĩa của đức Phật nói, nếu đại Bồ Tát chẳng rời lìa sức phương tiện của Bát nhã ba la mật, phải biết Bồ Tát này gần vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy? Vì từ khi mới phát tâm đến nay, Bồ Tát này không pháp biết được: hoặc là sắc hoặc là thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến nhất thiết chủng trí.
Bạch đức Thế Tôn! Có thiện nam, thiện nữ cầu Bồ Tát đạo mà xa rời Bát nhã ba la mật và sức phương tiện, phải biết người ấy nơi Vô thượng Bồ đề hoặc được hoặc chẳng được. Tại sao vậy? Vì thiện nam, thiện nữ cầu Bồ Tát đạo ấy có bố thí đều nắm lấy tướng, có trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định đều nắm lấy tướng, thế nên chẳng nhất định được Vô thượng Bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! vì cớ trên đây nên đại Bồ Tát muốn được Vô thượng Bồ đề chẳng nên xa rời sức phương tiện của Bát nhã ba la mật. Đại Bồ Tát này trụ trong sức phương tiện của Bát nhã ba la mật, dùng tâm vô tướng, vô đắc xứng đáng tu hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Nhẫn đến dùng tâm vô tướng, vô đắc xứng đáng tu nhất thiết chủng trí".
Lúc bấy giờ chư Thiên cõi sắc, cõi Dục bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! vô thượng Bồ đề thiệt là khó được. Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát phải biết tất cả các pháp rồi mới được Vô thượng Bồ đề, pháp ấy cũng chẳng thể được".
Đức Phật phán dạy: "Đúng như vậy. Này chư Thiên Tử! Vô thượng Bồ đề rất khó được. Đức Phật cũng đã được tất cả pháp nhất thiết chủng trí rồi được Vô thượng Bồ đề, cũng không chỗ được, không hay biết, không bị biết, không người biết. Tại sao vậy? Vì các pháp rốt ráo thanh tịnh vậy".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đửc Thế Tôn! Như lời dạy của Phật, Vô thượng Bồ đề rất khó được. Theo tôi hiểu nghĩa của Phật dạy thì Vô thượng Bồ đề này rất dễ được. Tại sao vậy? Vì không có người được Vô thượng Bồ đề, cũng không có pháp bị được, tất cả pháp, tất cả pháp tướng không: không pháp bị được, không người hay được, vì tất cả pháp không vậy. Cũng không pháp tăng được, không pháp giảm được. Từ bố thí nhẫn đến nhất thiết chủng trí, các pháp này đều không có cái bị được, không có ai hay được. Do đây nên theo ý tôi thì Vô thượng Bồ đề dễ được. Tại sao vậy? Vì sắc sắc tướng không nhẫn đến nhất thiết chủng trí nhất thiết chủng trí tướng không”.
- Không có gì thối chuyển!
- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Rời sắc như tướng nhẫn đến rời nhất thiết chủng trí như tướng, có pháp gì thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề chăng?
- Không có pháp thối chuyển.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Nơi Vô thượng Bồ đề như có thối chuyển chăng? Nhẫn đến pháp tính, pháp trụ, pháp vị, thật tế, bất tư nghi tính, nơi Vô thượng Bồ đề có thối chuyển chăng?
- Không có thối chuyển.
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Rời như, rời pháp tính, pháp trụ, pháp vị, thật tế, bất tư nghi tính, nơi Vô thượng Bồ đề có pháp gì thối chuyển chăng?

Phần 3

- Không có pháp gì thối chuyển.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Nếu các pháp rốt ráo chẳng thể được thì pháp gì thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề?
- Như lời Ngài Tu Bồ Đề nói, trong pháp nhẫn ấy không có Bồ Tát thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề.
Nếu không thối chuyển, cứ theo đức Phật dạy, người cầu đạo có ba hạng: A La Hán đạo,
Bích Chi Phật đạo và Phật đạo, ba hạng này là không sai khác. Như lời Tu Bồ Đề nói thời chỉ có một hạng đại Bồ Tát cầu Phật đạo thôi".
Bây giờ Ngài Mãn Từ Tử bảo Ngài Xá Lợi Phất: "Ngài nên hỏi Tu Bồ Đề là có một Bồ Tát thừa chăng?".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “Phải chăng Ngài muốn nói có một Bồ Tát thừa?”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Thưa Ngài Xá Lợi Phất! ở trong chư pháp như, Ngài muốn có ba thừa: Thanh Văn, Bích Chi Phật và Phật thừa chăng?".
- Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không.
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Trong ba thừa sai biệt ấy có như để được chăng?
- Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Như ấy có một tướng, hai tướng, ba tướng chăng?
- Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không.
- Thưa ngài xá Lợi Phất! Trong như ẫy, Ngài muốn có nhiều Bồ Tát nhẫn đến cố một Bồ Tát được chăng?
- Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không.
- Thưa ngài xá Lợi Phất! Trong bốn thứ ấy đều không thể có được người ba thừa, sao Xá Lợi Phất lại nghĩ rằng người cầu Thanh Văn thừa, người cầu Bích Chi Phật thừa, người cầu Phật thừa?
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nghe chư pháp như tướng này mà lòng chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng ăn năn, chẳng nghi thì gọi là đại Bồ Tát hay thành tựu Vô thượng Bồ đề".
Đức Phật khen Ngài Tu Bồ Đề: "Lành thay! Lành thay! Này Tu Bồ Đề! Lời của ngươi nói đó đều là Phật lực.
Nếu đại Bồ Tát nghe nói như ấy không có các pháp biệt dị mà chẳng kinh sợ, nghi ngờ, phải biết Bồ Tát này hay thành tựu Vô thượng Bồ đề".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thành tựu Bồ Đề nào?".
Đức Phật dạy: "Thành tựu Phật Vô thượng Bồ đề".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát phải tu hành thế nào?".
Đức Phật dạy: “Phải sinh khởi tâm bình đẳng với tất cả chúng sinh, cũng dùng tâm bình đẳng khi nói với họ, không có thiên lệch.
Với tất cả chúng sinh phát khởi tâm đại từ, cũng dùng tâm đại từ khi nói với họ.
Với tất cả chúng sinh phải có tâm khiêm hạ, cũng dùng tâm khiêm hạ khi nói với họ.
Với tất cả chúng sinh phải có tâm làm an ổn, cũng dùng tâm làm an ổn khi nói với họ.
Vói tất cả chúng sinh phải có tâm vô ngại, cũng dùng tâm vô ngại khi nói với họ.
Với tất cả chúng sinh phải có tâm không não hại, cũng dùng tâm không não hai nói với họ.
Với tất cả chúng sinh phải có tâm ái kính, cũng dùng tâm ái kính khi nói với họ. Ái kính họ như cha mẹ, như anh chị em, như con cháu, như bà con, như bạn bè.
Đại Bồ Tát này phải tự mình chẳng sát sinh, cũng chẳng dạy người khác chẳng sát sinh, khen ngợi pháp chẳng sát sinh, vui mừng khen ngợi các người chẳng sát sinh. Nhẫn đến tự mình phải không tà kiến, cũng dạy người khác không tà kiến, khen ngợi pháp không tà kiến, vui mừng khen ngợi những người không tà kiến.
Muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát phải tu hành như vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát phải tu hành sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, phải tự tu hành từ tâm, bi tâm, hỉ tâm, xả tâm, phải tự tu hành không xứ định, thức xứ định, vô sở hữu xứ định, phi phi tưởng xứ định, khen ngợi pháp sơ thiền đến pháp phi phi tưởng xứ định, vui mừng khen ngợi những người tu hành sơ thiền đến tu hành phi phi tưởng xứ định.
Phải tự mình đầy đủ Đàn ba la mật, Thi ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật, cũng dạy người khác đầy đủ sáu ba la mật, khen ngợi sáu pháp ba la mật, vui mừng khen ngợi những người đầy đủ sáu ba la mật.
Này Tu Bồ Đề! Muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát phải tự mình tu nội không nhẫn đến bát thánh đạo, tự tu không, vô tướng, vô tác, tam muội, tự tu bát bội xả, tự tu cửu thứ đệ định, cũng dạy người khác tu nội không nhẫn đến cửu thứ đệ định, khen ngợi các pháp nội không nhẫn đến cửu thứ đệ định, vui mừng ngợi khen những người tu nội không nhẫn đến cửu thứ đệ định.
Đại Bồ Tát phải tự đầy đủ mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí vô ngại, mười tám pháp bất cộng, đại từ đại bi, cũng dạy người khác đầy đủ mười trí lực nhẫn đến đại từ đại bi, khen ngợi các pháp ấy, vui mừng khen ngợi những người đầy đủ mười trí lực nhẫn đến đại từ đại bi.
Đại Bồ Tát phải tự mình thuận quán, nghịch quán mười hai nhân duyên, cũng dạy người khác thuận quán, nghịch quán mười hai nhân duyên, khen ngợi pháp quán ấy và vui mừng khen ngợi người thật hành.
Muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát phải tu hành như vậy.
Đại Bồ Tát lại phải tự mình biết khổ dứt tập chứng diệt tu đạo, cũng dạy người biết khổ dứt chứng diệt tu đạo, khen ngợi pháp biết dứt chứng tu ấy và vui mừng khen ngợi người biết khổ dứt tập chứng diệt tu đạo. ,.
Đại Bồ Tát tự mình phát sinh chứng trí quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến tự phát sinh chứng trí quả Bích Chi Phật mà chẳng tự chứng lấy quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến chẳng tự chứng lấy quả Bích Chi Phật, cũng dạy người khác chứng quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến dạy người khác chứng quả Bích Chi Phật, khen ngợi pháp Tu Đà Hoàn quả nhẫn đến khen ngợi pháp Bích Chi Phật đạo, vui mừng khen ngợi người chứng nhập quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến người chứng nhập Bích Chi Phật đạo.
Đại Bồ Tát tự mình nhập Bồ Tát vị, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh, cũng dạy người khác nhập Bồ Tát vị, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh, khen ngợi pháp nhập Bồ Tát vị, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh, vui mừng khen ngợi người nhập Bồ Tát vị, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh.
Đại Bồ Tát tự mình phát khởi Bồ Tát thần thông, tự sinh nhất thiết chủng trí, cũng dạy người khác phát khỏi Bồ Tát thần thông, sinh nhất thiết chủng trí, khen ngợi pháp phát khởi Bồ Tát thần thông, pháp sinh nhất thiết chủng trí, vui mừng khen ngợi người phát khởi Bồ Tát thần thông, sinh nhất thiết chủng trí.
Đại Bồ Tát phải tự dứt tập khí tất cả kiết sử, cũng dạy người dứt tập khí tất cả kiết sử, khen ngợi pháp dứt tập khí, vui mừng khen ngợi người dứt tập khí tất cả kiết sử.
Lại này Tu Bồ Đề! Muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát phải tự nắm lấy thọ mạng thành tựu, cũng dạy người nắm lấy thọ mạng thành tựu, khen ngợi pháp nắm lấy thọ mạng thành tựu, vui mừng khen ngợi người nắm lấy thọ mạng thành tựu.
Đại Bồ Tát thành tựu pháp trụ, cũng dạy người thành tựu pháp trụ, khen ngợi pháp thành tựu pháp trụ, vui mừng khen ngợi người thành tựu pháp trụ.
Này Tu Bồ Đề! Muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát phải tu hành như vậy. Cũng phải học sức phương tiện của Bát nhã ba la mật như vậy.
Lúc học như vậy, Bồ Tát này sẽ được sắc vô ngại, sẽ được thọ, tưởng, hành, thức vô ngại, nhẫn đến sẽ được pháp trụ vô ngại.
Tại sao vậy?
Vì đại Bồ Tát này từ trước nhẫn lại chẳng thọ lấy sắc, chẳng thọ lấy thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn đến chẳng thọ lấy nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy?
Vì sắc mà chẳng người thọ là chẳng phải sắc. Nhẫn đến nhất thiết chủng trí mà chẳng người thọ là chẳng phải nhất thiết chủng trí".

Phần 4
Lúc nói Bồ Tát hạnh này, có hai ngàn Bồ Tát được vô sinh pháp nhẫn.

PHẨM BẤT THỐI CHUYỂN - THỨ NĂM MƯƠI LĂM

Lúc bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Do hạnh gì, loại gì, tướng mạo gì mà biết là bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển?”.
Đức Phật dạy: “Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát biết được bậc phàm phu, bậc Thanh Văn, bậc Bích Chi Phật và bậc Phật. Trong tướng như của các bậc ấy không hai, không khác, cũng chẳng nghĩ, chẳng phân biệt. Vào trong như ấy, nghe sự ấy suốt thẳng qua không nghi.
Tại sao vậy? Vì trong như ấy không một tướng, không hai tướng.
Đại Bồ Tát này cũng chẳng nói lời vô ích, chỉ nói toàn lời lợi ích, chẳng nhìn đến chỗ hay dở của người khác.
Này Tu Bồ Đề! Do những hạnh, loại, tướng mạo như vậy mà biết được bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển”.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại còn do hạnh, loại tướng mạo nào mà biết là bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển?
- Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát có thể xem thấy được tất cả pháp không hạnh, không loại, không tướng mạo, phải biết đây là bậc bất thối chuyển.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp không hạnh, không hoại, không tướng mạo, đại Bồ Tát chuyển những pháp gì mà gọi là bậc bất thối chuyển?
- Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát ở trong sắc mà chuyển nhẫn đến ở trong Vô thượng Bồ đề mà chuyển thì gọi là đại Bô Tát bất thối chuyển.
Tại sao vậy? Vì sắc tính không nhẫn đến Vô thượng Bồ đề tính không thì Bồ Tát này sẽ trụ chỗ nào.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát chẳng nhìn xem diện mạo, ngôn ngữ của ngoại đạo, của Sa Môn, của Bà La Môn. Bồ Tát chẳng bao giờ có sự nghĩ rằng các nhà ngoại đạo, Sa Môn, Bà La Môn này thật biết, thật thấy hoặc nói chính kiến.
Bồ Tát chẳng có tâm nghi ngờ, chẳng mắc giới thủ, chẳng sa tà kiến, cũng chẳng cầu việc tốt thế tục để làm thanh tịnh, chẳng lễ lạy cúng dường Chư Thiên.
Do những hạnh, loại, tướng mạo này mà biết là bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát chẳng sinh nơi nhà hạ tiện, nhẫn đến chẳng sinh chỗ bát nạn, thường chẳng thọ thân người nữ. Do những hạnh, loại, tướng mạo này mà biết là bậc bất thối chuyển đại Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát thường thật hành mười nghiệp đạo lành: tự mình chẳng sát sinh nhẫn đến chẳng tà kiến, cũng dạy người chẳng sát sinh nhẫn đến chẳng tà kiến, vui mừng khen ngợi người chẳng sát sinh nhẫn đến chẳng tà kiến. Bồ Tát này dầu trong giấc chiêm bao cũng chẳng phạm mười nghiệp đạo ác. Do những hạnh, loại, tướng mạo trên đây mà biết là bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì lợi ích cho chúng sinh mà đại Bồ Tát thật hành Đàn ba la mật nhẫn đến Bát nhã ba la mật. Đây gọi là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Tất cả mười hai bộ kinh, từ khế kinh đến luận nghị, đại Bồ Tát thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, chính ức niệm.
Lúc ban pháp thí, đại Bồ Tát nghĩ rằng do pháp thí này mà tâm nguyện của tất cả chúng sinh hoàn mãn, đem công đức pháp thí này cho tất cả chúng sinh cùng hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Đây gọi là bậc đại Bồ Tát bất thổi chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Trong pháp rất sâu, đại Bồ Tát chẳng nghi ngờ.
Tại sao vậy? Vì bậc đại Bồ Tát bất thổi chuyển này đều chẳng thấy có pháp nào sinh được chỗ nghi ngờ. Từ sắc đến nhất thiết chủng trí, chẳng thấy pháp nào sinh được chỗ nghi ngờ. Do những hạnh, loại, tướng mạo đây mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Thân, khẩu, ý, ba nghiệp của đại Bồ Tát đều dịu dàng. Do đức từ mà thân, khẩu, ý thành tựu. Do đây mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát chẳng chung cùng với ngũ cái: dâm dục, sân khuể, thụy miên, điệu hối và nghi. Do hạnh, loại, tướng mạo này mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Với tất cả chỗ, đại Bồ Tát đều không ái trước. Do đây mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Lúc ra vào đi lại ngồi, nằm, đi, đứng, cất chân, hạ chân, đại Bồ Tát luôn an ổn, thường tự chính niệm, nhất tâm nhìn đất mà bước. Do những hạnh, loại, tướng mạo này mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Y phục, chăn nệm của đại Bồ Tát mặc dùng không ai gớm như, Bồ Tát này ưa thích sạch sẽ, ít mang bệnh tật. Do đây mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Thân thể người thường có tám vạn hộ trùng xâm phạm cắn ăn. Thân thể của bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển không có hộ trùng ấy. Vì công đức của Bồ Tát này vưựt ngoài thế gian. Tùy theo công đức xuất thế này tăng ích mà Bồ Tát đườc thân thanh tịnh, được tâm thanh tịnh. Do những hạnh, loại, tướng mạo đây mà biết là bậc bất thối chuyến đại Bồ Tát".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát được thân thanh tịnh, được tâm thanh tịnh thế nào?".
Đức Phật phán dạy: "Này Tu Bồ Đề! Tùy thiện căn tăng ích đã được mà diệt trừ tâm vạy vò, tâm tà vọng, đây gọi là thân thanh tịnh và tâm thanh tịnh. Do thân thanh tịnh và tâm thanh tịnh này mà đại Bồ Tát vượt hơn bậc Thanh Văn, bậc Bích Chi Phật để vào trong Bồ Tát vị. Đây gọi là bậc bất thổi chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát chẳng quý lợi dưỡng. Dầu thật hành mười hai Hạnh Đầu đà mà chẳng quý pháp Đầu Đà. Do đây mà gọi là bậc bất thổi chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát thường chẳng phát sinh tâm xan tham, tâm tật đố, tâm ngu si, thường chẳng phát sinh tâm phá giới, tâm sân động, tâm giải đãi, tâm tán loạn. Do những hạnh, loại, tướng mạo đây mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tâm an trụ chẳng lay động, thâm nhập trí huệ, nhất tâm nghe nhận những pháp theo nghe và sự việc thế gian đều hợp với Bát nhã ba la mật. Đây là tướng mạo bất thổi chuyển của bậc đại Bồ Tát bất thổi chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Ở trước đại Bồ Tát, nếu ác ma hóa làm tám đại Địa ngục, trong đó có ngàn ức vạn Bồ Tát đang bị đốt nấu thống khổ. Ác ma bảo đại Bồ Tát này rằng: Những người trong Địa ngục đây toàn là bậc bất thối chuyển đại Bồ Tát được đức Phật thọ ký mà đọa vào đây, nếu Ngài được đức Phật thọ ký bậc bất thối chuyển cũng sẽ đọa vào đại Địa ngục này. Chi bằng Ngài xả bỏ tâm Bồ Tát thì chẳng bị đọa Địa ngục mà sẽ được sinh lên cõi Trời.
Dầu thấy sự trên, dầu nghe lời nói trên, Bồ Tát này vẫn chẳng động tâm, chẳng nghi, chẳng sự mà tự nghĩ rằng không bao giờ có sự ấy.
Do hạnh, loại, tướng mạo trên đây mà biết là bậc bất thối chuyển đại Bồ Tát.
Này Tu Bồ Đề! Ác ma lại hóa làm Tỳ Kheo đắp y đến bảo Bồ Tát rằng: Trước kia Ngài nghe bảo phải tu sáu ba la mật nhẫn đến hảo phải tịnh tu được Vô thượng Bồ đề đó, Ngài nên mau bỏ đi, từ lúc mới phát tâm đến nay có bao nhiêu thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề, Ngài cũng nên mau bỏ đi. Nếu Ngài bằng lòng bỏ, tôi sẽ dạy Ngài Phật pháp chân thật. Chỗ nghe học trước kia của Ngài đều chẳng phải Phật pháp, chẳng phải của Phật dạy, đó là đều văn sức nhóm hợp làm ra thôi. Chỗ nói của tôi mới thật là Phật pháp.
Nếu Bồ Tát nghe nói như vậy rồi sinh tâm kinh sợ, nghi ngờ, phải biết đây là chưa được đức Phật thọ ký, chưa vàơ trong tính bất thối, Nếu là bậc bất thối dầu nghe nói như vậy mà tâm chẳng lay động, chẳng sự, chẳng nghi, luôn tùy thuận y chỉ nơi pháp vô tác, vô sinh, chẳng tin làm theo lời người khác. Lúc thật hành sáu ba la mật chẳng theo lời người khác, nhẫn đến lúc thật hành Vô thượng Bồ đề cũng chẳng theo lời người khác, hiện thấy thiệt tướng của các pháp, chẳng tin làm theo lời người khác, ví như bực lậu tận A La Hán, ác ma chẳng lay chuyển được.
Này Tu Bồ Đề! Với đại Bồ Tát bất thổi chuyển, những hàng cầu Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng thể phá hoại được, chẳng thể chiết phục được tâm của Bồ Tát này.
Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát này quyết định an trụ trong bậc bất thốỉ chuyển chẳng theo lời người khác, dầu là lời của Phật dạy cũng chẳng liền tin lấy ngay, huống là lời nói của những người cầu Thanh Văn, cầu Bích Chi Phật và của ác ma, ngoại đạo, phạm chí mà lại tin theo, không bao giờ có việc ấy.
Tại sao vậy?
Đại Bồ Tát này chẳng thấy có pháp gì có thể tin theo: chẳng thấy có sắc hoặc thọ, tưởng, hành, thức, hoặc sắc như nhẫn đễn thức như, nhẫn đến chẳng thấy Vô thượng Bồ đề, hoặc Vô thượng Bồ đề như.
Do hạnh, loại, tướng mạo này mà biết là bậc bất thối chuyển.
Lại này Tu Bồ Đề! Ác ma hóa thân Tỳ Kheo đến bảo Bồ Tát rằng: Chỗ tu hành của Ngài là pháp sinh tử, chằng phải đạo nhất thiết trí, Ngài nên tại thân đời nay chứng quả khổ tận.
Khi đó ác ma dùng hạnh thế gian nói pháp tựa đạo, pháp tựa đạo này là sự hệ phược tam giới, như là tướng xương trắng, hoặc nói về sơ thiền nhẫn đến nói về phi phi tưởng xứ. Ngài dùng đạo này, hạnh này sẽ được quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến sẽ được quả A La Hán. Ngài dùng đạo này, đời nay sẽ dứt hết khổ sinh, sao Ngài lại mãi chịu lấy những khổ não trong sinh tử làm gì. Còn chẳng cần thọ lấy thân tứ đại đời nay huống là sẽ lại thọ lấy thân đời sau.
Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát này khi nghe lời nói ấy lòng chẳng kinh sợ, nghi ngờ, tự nghĩ rằng vị Tỳ Kheo này làm lợi ích cho tôi chẳng ít, vì tôi mà nói pháp tựa đạo, thật hành pháp tựa đạo này còn chẳng chứng được quả Tu Đà Hoàn, huống là chứng được quả Vô thượng Bồ đề. Đại Bồ Tát này càng thêm vui mừng mà nghĩ rằng: Vị Tỳ Kheo này làm lợi ích cho tôi không ít, vì tôi mà nói pháp chướng đạo, chướng học đạo Tam thừa.
Khi đó ác ma biết Bồ Tát vui mừng nên bảo rằng: Ngài muốn thấy hàng đại Bồ Tát cúng dường hằng sa chư Phật, cùng ở chỗ hằng sa chư Phật tu hành sáu ba la mật, cũng hầu cận hằng sa chư Phật thưa hỏi Bồ Tát đạo: thế nào an trụ Bồ Tát thừa? Thế nào thật hành sáu ba la mật, tứ niệm xứ nhẫn đến đại từ đại bi? Hàng đại Bồ Tát ấy theo đúng như lời chư Phật dạy mà an trụ, mà thật hành, mà tu tập. Hàng đại Bồ Tát tu học như vậy mà còn chẳng được Vô thượng Bồ đề, chẳng được nhất thiết chủng trí huống là Ngài mà lại sẽ được Vô thượng Bồ đề!
Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát này khi nghe nói như vậy mà lòng chẳng kinh lạ, càng thêm vui mừng mà tự nghĩ rằng: Tỳ Kheo này làm lợi cho tôi chẳng ít, vì tôi mà nói pháp chướng đạo.
Bấy giờ ác ma biết tâm Bồ Tát này chẳng kinh nghi nên liền hóa làm đông nhiều Tỳ Kheo mà bảo Bồ Tát này rằng: Những vị này đều là Bồ Tát phát tâm cầu Phật
Phần 5

đạo, hiện nay đều an trụ bậc bất thối chuyển cả. Những vị này còn chẳng thể được Vô thượng Bồ đề, huống là Ngài có thể được!
Nghe và thấy sự việc trên đây, đại Bồ Tát này liền nghĩ rằng đây là ác ma nói pháp tương tự đạo, đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật chẳng nên thối chuyển tâm vô thượng Bồ đề, cũng chẳng được sa vào đạo Thanh Văn, đạo Bích Chi Phật. Lại nghĩ rằng: Thật hành Đàn ba la mật nhẫn đến nhất thiết chủng trí mà chẳng được Vô thượng Bồ đề, không bao giờ có sự ấy.
Này Tu Bồ Đề! Do những hạnh, loại, tướng mạo trên đây mà biết là bậc bất thối chuyển đại Bồ Tát.
Lại này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tự nghĩ rằng: Nếu Bồ Tát có thể theo đúng lời Phật dạy, chẳng xa rời Bát nhã ba la mật nhẫn đến nhất thiết chủng trí, Bồ Tát này trọn chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, nếu Bồ Tát hay biết ma sự cũng chẳng mất Vô thượng Bồ đề.
Do hạnh, loại, tướng mạo này mà biết là tướng đại Bồ Tát bất thối chuyển”.
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Chuyển nơi pháp gì gọi là bất thối chuyển?".
Đức Phật dạy: "Chuyển nơi sắc tướng, chuyển nơi thọ, tưởng, hành, thức tướng, nhẫn đến chuyển nơi Phật tướng, do đây mà gọi là tướng đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát này dùng pháp tự tướng không để nhập Bồ Tát vị, được vô sinh pháp nhẫn.
Cớ sao gọi là vô sinh pháp nhẫn? Vì trong đây không có chút pháp nào có thể được, vì chẳng thể được nên chẳng làm, vì chẳng làm nên chẳng sinh, đây gọi là vô sinh pháp nhẫn.
Do hạnh, loại, tướng mạo này nên gọi là bậc đại Bồ Tát bất thối chuyển".

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục