KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM BẢO PHÁP ĐẠI MINH - THỨ BA MƯƠI HAI Đức Phật nói với Thiên Đế: "Này Kiều Thi Ca! Nếu có thiện nam, t...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM BẢO PHÁP ĐẠI MINH - THỨ BA MƯƠI HAI
Này Kiều Thi Ca! Do nhân duyên này, nên thiện nam, thiện nữ này chẳng bị đao tên làm hại.
Lại này Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật này thọ trì, thân cận, đọc tụng, giảng thuyết, chính ức niệm, chẳng rời tâm nhất thiết trí, tất cả những độc, cổ độc, hầm lửa, nước sâu, dao chém đều không làm hại được.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật này là đại minh chú, là vô thượng chú.
Nếu thiện nam, thiện nữ học đại minh chú này thời chẳng tự não hại lấy thân mình, cũng chẳng não hại người khác, cũng chẳng não hại cả mình lẫn người.
Tại sao vậy? Vì thiện nam, thiện nữ này chẫng thấy có ngã, chẳng thấy có chúng sinh, nhẫn đến tri giả, kiến giả đều bất khả đắc. Chẳng thấy có sắc, nhẫn đến chẳng thấy có nhất thiết chủng trí.
Vì chẳng thấy có, nên chẳng tự não hại thân mình, chẳng não hại người khác, cũng chẳng não hại lẫn mình và người.
Vì học đại minh chú này nên được Vô thượng Bồ đề, quán tâm của tất cả chúng sinh mà tùy ý thuyết pháp.
Tại sao vậy? Vì quá khứ chư Phật học đại minh chú này đã được Vô thượng Bồ đề, vị lai chư Phật học đại minh chú này sẽ được Vô thượng Bồ đề, hiện tại chư Phật học đại minh chú này được Vô thượng Bồ đề.
Lại này Kiều Thi Ca! Nếu có người chi biên chép quyển kinh Bát nhã ba la mật này mà thờ nơi nhà, chứ không thọ trì, không đọc tụng, chẳng giảng thuyết, chẳng chính ửc niệm, tất cả hàng Nhân, Phi Nhân không thể phá hoại chỗ đó được.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật này được tất cả chư Thiên Vương, chư Phạm Vương cùng chư Thiên trong Đại Thiên thế giới và trong vô số vô lượng thế giới mười phương đồng ủng hộ.
Chỗ thờ Bát nhã ba la mật này, chư Thiên đều đến cúng dường, kính trọng, lễ lại rồi đi.
Chỉ có biên chép Bát nhã ba la mật để thờ tại nhà, mà thiện nam, thiện nữ ấy còn được công đức hiện đời như vậy.
Ví như hoặc có người hoặc có súc vật đến dưới cây bồ đề, thời hàng Nhân, Phi Nhân mang ác ý đến không làm hại được.
Tại sao vậy? Vì chỗ cây bồ đề này là nơi mà quá khứ chư Phật được Vô thượng Bồ đề, vị lai chư Phật và hiện tại chư Phật cũng ở nơi đó mà được vô thượng Bồ đề. Khi được thành Phật rồi, đều bố thí sự không kinh sợ cho tất cả chúng sinh, làm cho vô lượng vô số chúng sinh được phước lạc trong Người trên Trời, cũng làm cho vô lưựng vô số chúng sinh được quả Tu Đà Hoàn đến quả Vô thượng Bồ đề.
Do oai lực của Bát nhã ba la mật, nên chỗ ấy được sự cung kính, lễ bái, cúng dường"
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam, thiện nữ biên chép cúng dường Bát nhã ba la mật, hoặc có thiện nam, thiện nữ sau khỉ đức Phật nhập diệt xây tháp cúng dường Xá Lợi, hai người này ai được phước nhiều?".
Đức Phật nói: "Này Kiều Thi Ca! Ta hỏi lại Ngài, tùy ý Ngài đáp.
Do học đạo gì mà Phật được Vô thượng Bồ đề thân tướng hảo này?".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Do học trong Bát nhã ba la mật mà đức Phật được Vô thượng Bồ đề cùng thân tướng hảo trang nghiêm".
Đức Phật nói: "Đúng như vậy! Này Kiều Thi Ca! Đức Phật từ trong Bát nhã ba la mặt mà học được nhất thiết chủng trí.
Này Kiều Thi Ca! Chẳng phải do thân tướng hảo mà gọi là Phật. Chính là do được nhất thiết chủng trí nên gọi là Phật.
Này Kiều Thi Ca! Nhất thiết chủng trí của Phật sinh từ trong Bát nhã ba la mật.
Này Kiều Thi Ca! Thân của Phật đấy là chỗ sở y của nhất thiết chủng trí.
Nhân nơi thân này mà Phật được nhất thiết chủng trí. Nên nghĩ rằng thân của đức phật đây là chỗ sở y của nhất thiết chủng trí. Vì thế nên sau khi Phật nhập Niết Bàn, Xá Lợi sẽ được cúng dường.
Lại này Kiều Thi Ca! Nếu thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật này rồi biên chép, thọ trì, đọc tụng, chính ức niệm, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán, thòi tức là cúng dường nhất thiết chủng trí.
Do cớ này nên thiện nam, thiện nữ nên biên chép Bát nhã ba la mật này, rồi hoặc thọ trì, thân cận, đọc tụng, chính ức niệm, kính trọng, cúng dường, tán thán.
Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, nếu có thiện nam, thiện nữ xây tháp cúng dường Xá Lợi, kính lễ, tán thán.
Lại có thiện nam, thiện nữ biên chép, thọ trì Bát nhã ba la mật này mà kính thọ, cúng dường, tán thán, thời được phước rất nhiều.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật này xuất sinh nội không đến vô pháp hữu pháp không, xuất sinh tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng, xuất sinh tất cả tam muội, tất cả thiền định, tất cả đà la ni. Thành tựu chúng sinh, thanh tịnh Phật độ đều xuất phát từ trong Bát nhã ba la mật này. Bồ Tát thành tựu tất cả công hạnh cũng từ trong Bát nhã ba la mật này. Tất cả phước quả của loài Người cùng cõi Trừi đến sắc Cứu Cánh Thiên đều từ Bát nhã ba la mật này sinh, Những Thánh quả từ Tu Đà Hoàn đến chư Phật và nhất thiết chủng trí của chư Phật đều từ trong Bát nhã ba la mật này xuất sinh".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tônl Người Diêm Phù Đề chẳng cúng dường, tán thán Bát nhã ba la mật, phải chăng vì họ chẳng biết cúng dường thời được nhiều lợi ích?".
Đức Phật nói: "Này Kiều Thi Ca! Trong Diêm Phù Đề, đối với Phật, Pháp và Tăng có bao nhiêu người có lòng tin bất hoại? Có bao nhiêu người không nghi? Có bao nhiêu người quyết liễu?".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đối với Phật, Pháp và Tăng, trong Diêm Phù Đề ít người có lòng tin bất hoại, cũng ít người không nghi và quyết liễu".
Đức Phật nói: "Này Kiều Thi Ca! Trong -Diêm Phù Đề, có bao nhiêu người được ba mươi bảy phẩm trợ đạo, ba môn giải thoát, tám bội xả, chín thứ đệ định, bốn trí vô ngại, sáu thần thông?
Trong Diêm Phù Đề có bao nhiêu người dứt ba kiết sử, được đạo Tu Đà Hoàn? Bao nhiêu người dứt ba kiết sử cũng mỏng tham, sân, si, được đạo Tư Đà Hàm? Bao nhiêu người dứt năm hạ phần kiết, được đạo A Na Hàm? Bao nhiêu người dứt năm hạ phần kiết, được đạo A La Hán? Bao nhiêu người cầu đạo Bích Chi Phật? Bao nhiêu người phát tâm Vô thượng Bồ đề?".
Thiên Đế thưa: "Trong Diêm Phù Đề, ít người được ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nhẫn đến ít người phát tâm Vô thượng Bồ đề".
Đức Phật nói: "Đúng như vậy. Này Kiều Thi Ca! Trong Diêm Phù Đề ít người đối với Phật, Pháp Tăng có lòng tin bất hoại, không nghi và quyết liễu. Cũng ít người được ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nhẫn đến ít người phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Trong những người phát tâm này lại ít người thật hành Bồ Tát hạnh.
Tại sao vậy? Vì những chúng sinh trong Diêm Phù Đề, đời trước của họ chẳng thấy Phật, chẳng nghe Phằp, chẳng cúng dường Tỳ Kheo Tăng, chẳng bố thí, chẳng trì giới, chẳng nhẫn nhục, chẳng tin tấn, chẳng thiền định, chẳng trí tuệ, chẳng nghe
nội không đến vô pháp hữu pháp không, chẳng nghe, chằng tu tứ niệm xứ đến bất cộng pháp, chẳng nghe, chẳng tu những môn tam muội, những môn đà la ni, cũng chẳng tu nhất thiết chủng trí.
Do cớ trên đây nên ít chúng sinh tin bất hoại nơi Tam Bảo, nhẫn đến ít người phát tâm Vô thượng Bồ đề
Trong những người phát tâm lại ít người thật hành Bồ Tát đạo.
Trong những người thật hành Bồ Tát đạo lại ít người được Vô thượng Bồ đề.
Này Kiều Thi Ca! Ta dùng Phật nhãn thấy trong những thế giới phương Đông có vô lượng vô số chúng sinh phát tâm Vô thượng Bồ đề, thật hành Bồ Tát đạo, nhưng vì xa lìa sức phương tiện Bát nhã ba la mặt nên có rất ít người được an trụ bậc bất thổi chuyển, còn phần nhiều thời sa vào hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật. Trong chín phương kia cũng như vậy.
Vì thế nên thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu Vô thượng Bồ đề phải nghe Bát nhã ba la mật và phải thọ trì, thân cận, đọc tụng, giảng thuyết, chính ức niệm. Xong rồi lại phải biên chép, cung kính, tôn trọng, tán thán và cúng dường Bát nhã ba la mật.
Những thiện pháp khác vào trong Bát nhã ba la mật cũng phải nghe, thọ trì nhẫn đến cúng dường. Những gì là thiện pháp khác? Chính là Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật, nội không đến vô pháp hữu pháp không, những tam muội môn, đàn la ni môn, tứ niệm xứ đến bất cộng pháp, đại từ đại bi.
Vô lượng thiện pháp như vậy đều vào trong Bát nhã ba la mật cũng phải nghe, thọ trì nhẫn đến chính ức niệm và tán thán, cúng dường. Thiện nam, thiện nữ phải nghĩ rằng lúc làm Bồ Tát, đức Phật học và thật hành Bát nhã ba la mật cùng vô lượng thiện pháp cũng như vậy.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật cùng vô lượng thiện pháp là chỗ tôn quý của tôi, là pháp ấn của chư Phật, cũng là pháp ấn của Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Chư Phật do học Bát nhã ba la mật nhẫn đến nhất thiết chủng trí mà được đến bỉ ngạn.
Chư Bích Chi Phật và Thanh Văn cũng học Bát nhã ba la mật nhẫn đến nhất thiết trí mà đến bỉ ngạn.
Này Kiều Thi Ca! Thế nên thiện nam, thiện nữ, lúc Phật còn tại thế hoặc sau khi Phật nhập Niết Bàn, phải y chỉ Bát nhã ba la mật, Thiền na ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Thi na ba la mật, Đàn na ba la mật, nhẫn đến phải y chỉ nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật nhẫn đến nhất thiết chủng trí là chỗ mà chư Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát, chư Phật và tất cả thế gian, Trời, Người, A tu la đều đáng y chỉ nơi đó.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu thiện nam, thiện nữ, vì cúng dường Phật mà xây tháp bảy báu cao một do tuần, dùng hoa hương, an lạc, phan cái, kỹ nhạc cõi Trời để cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Này Kiều Thi Ca! Do nhân duyên này, thiện nam, thiện nữ ấy được phước nhiều chăng?".
Thiên Đế nói: "Bạch đức Thế Tônỉ Rất nhiều, rất nhiều!".
Đức Phật nói: "Nhưng vẫn không bằng phước của thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật này và biên chép, thọ trì, thân cận, đọc tụng, chính ức niệm, chẳng rời tâm tát bà nhã, cùng cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng dường.
Này Kiều Thi Ca! Chẳng luận một tháp bảy báu. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, vì cúng dường Phật nên thiện nam, thiện nữ xây tháp bảy báu khắp Diêm Phù Đề cũng đều cao một do tuần, dùng hoa hương, anh lạc, phan cái, kỹ nhạc cõi Trời để cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán. Thiện nam, thiện nữ ấy được phước nhiều chăng?".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Phước của thiện nam, thiện nữ ấy rất nhiều".
Đức Phật nói: "Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật nhẫn đến cúng dường, kính trọng, tán thán.
Này Kiều Thi Ca! Chẳng luận xây tháp khắp một Diêm Phù Đề. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây tháp bảy báu đều cao một do tuần khắp bốn châu thiên hạ.
Thiện nam, thiện nữ này được phước nhiều chăng?".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều".
Đức Phật nói: "Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép đến cúng dường Bát nhã ba la mật.
Này Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu khắp bốn châu thiên hạ.
sau khi Phật nhập Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây tháp bảy báu đều cao một do tuần khắp Tiểu Thiên thế giới. Thiện nam, thiện nữ này được phước nhiều chăng?".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều".
Đức Phật nói: "Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép đến cúng dường Bát nhã ba la mật.
Này Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu khắp Tiểu Thiên thế giới.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây tháp bảy báu đều cao một do tuần khắp Trung Thiên thế giới. Thiện nam, thiện nữ này được phước nhiều chăng?".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều”.
Đức Phật nói: "Nhưng vẫn chưa nhiều bằng phước của thiện nam, thiện nữ cúng dường Bát nhã ba la mật.
Này Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu đầy Trung Thiên thế giới.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây tháp bảy báu đều cao một do tuần khắp Đại Thiên thế giới, rồi cúng dường trọn đời. Thiện nam, thiện nữ này phước nhiều chăng?".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều, rất nhiều".
Đức Phật nói: "Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép Bát nhã ba la mật này, rồi thọ trì, cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng dường.
Này Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu đầy Đại Thiên thế giới.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, vì cúng dường Phật nên mỗi mỗi chúng sình trong Đại Thiên thế giói đều xây tháp bảy báu và đều cúng dường trọn đời, vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép, thọ trì Bát nhã ba la mật nhẫn đến chính ức niệm, chẳng rời tâm nhất thiết trí, và cũng cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng dường".
Thích Đề Hoàn Nhân thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đúng như vậy, nếu có ai cúng dường, tôn trọng, tán thán Bát nhã ba la mật này, thời là cúng dường chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.
Bạch đức Thế Tôn! Sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu mỗi mỗi chúng sinh trong hằng sa quốc độ mười phương, vì cúng dường đức Phật nên xây tháp bảy báu cao một do tuần, rồi cúng dường bảo tháp, hoặc một kiếp hoặc dưới một kiếp.
Bạch đức Thế Tôn! Những người cúng dường như vậy, có được phước nhiều chăng?".
Đức Phật nói: "Rất nhiều".
Thiên Đế thưa: "Nếu có thiện nam, thiện nữ biên chép Bát nhã ba la mật này nhẫn đến chính ức niệm, cung kính, tôn trọng, tán thán và cúng dường thời được phước lại nhiều lờn hơn. Tại sao vậy? Vì tất cả pháp lành đều nhập vào trong Bát nhã ba la mật. Như là những pháp lành thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, ba môn giải thoát, tứ đế, sáu thần thông, tám bội xả, chín thứ đề định, sáu ba la mật, mười tám không, những tam muội môn, những đà la ni môn, mười trí lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại trí, đại từ đại bi, mười tám pháp bất cộng, nhất thiết trí, đạo chủng trí, nhất thiết chủng trí.
Bạch đức Thế Tôn! Đây gọi là pháp ấn của tất cả chư Phật. Trong pháp này, tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật và tam thế chư Phật do học pháp này mà được đến bỉ ngạn".
PHẨM THUẬT HÀNH THỨ BA MƯƠI BA
Bấy giờ đức Phật bảo Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân: "Đúng như vậy. Này Kiều Thi Ca! Các thiện nam, thiện nữ biên chép Bát nhã ba la mật này, và học tập, thọ trì, đọc tụng, thân cận, giảng thuyết, chính ức niệm, lại thêm dùng hoa hương, chuỗi ngọc, phan cái, kỹ nhạc cúng dường, sẽ được vô số vô lượng bất khả tư nghì, bất khả xưng lượng vô biên phước đức.Tại sao vậy?
Vì nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí của chư Phật đều từ trong Bát nhã ba la mật này sinh.
Vì Thiền na ba la mật đến Đàn na ba la mật của chư Bồ Tát đều từ trong Bát Nhã mà sinh.
Vì nội không đến vô pháp hữu pháp không đều từ trong Bát nhã ba la mật mà sinh.
Vì tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng và ngũ nhãn của Phật đều từ trong Bát nhã ba la mật mà sinh.
Vì thành tựu chúng sinh, thanh tịnh Phật độ, đạo chủng trí, nhất thiết chủng trí, tất cả Phật pháp, Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa và Phật thừa đều trong Bát nhã ba la mật mà sinh.
Này Kiều Thi Ca! Thế nên phước đức biên chép đến cúng dường Bát nhã ba la mật này hơn phước đức cúng dường bửu tháp trước kia, trăm ngàn muôn phần chẳng bằng một phần, nhẫn đến toán số thí dụ đều chẳng bằng được.
Tại sao vậy?
Vì nếu Bát nhã ba la mật tồn tại thế gian, thời Phật bảo, Pháp bảo và Tỳ Kheo Tăng bảo trọn chẳng đoạn tuyệt.
Vì nếu Bát nhã ba la mật tồn tại thế gian, thời thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, lục ba la mật, tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng, nhất thiết trí, nhất thiết chủng trí đều hiện ra nơi đời.
Vì nếu Bát nhã ba la mật tồn tại thế gian, thời có những đại tộc, trưởng giả, cư sĩ, trời Tứ Thiên Vương đến trời sắc Cứu Cánh, quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán, đạo Bích Chi Phật, đạo Bồ Tát, đạo Phật vô thượng, chuyển pháp luân, thành tựu chúng sinh, thanh tịnh Phật độ".
PHẨM KHUYẾN TRÌ THỨ BA MƯƠI BỐN
Bấy giờ cả Đại Thiên thế giới có bao nhiêu hàng Tứ Thiên Vương đến sắc Cửu Cánh Thiên bảo Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân và chư Thiên rằng: “Các Ngài phải thọ, phải trì, phải thân cận, phải đọc tụng, phải giảng thuyết, phải chính ức niệm Bát nhã ba la mật này.Tại sao vậy?
Vì thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật này, thời tất cả pháp lành tu tập sẽ được đầy đủ. Hàng Thiên chúng thêm đông, hàng A tu la giảm bớt.
Vì thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật này, thời Phật chủng chẳng dứt, Pháp chủng chẳng dứt, Tăng chủng chẳng dứt.
Vì Phật chủng, Pháp chủng và Tăng chủng chẳng dứt, nên có lục ba la mật, tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng xuất hiện nơi đời, nên có quả Tu Đà Hoàn đến Phật quả xuất hiện nơi đời".
Đức Phật bảo Thiên Đế: "Này Kiều Thi Ca! Ngài nên thọ trì, đọc tụng, chính ức niệm Bát nhã ba la mật này.
Tại sao vậy?
Nếu A tu la sinh tâm muốn chiến đấu với chư Thiên cõi Đao Lợi, Ngài nên tụng niệm Bát nhã ba la mật, tâm ác của A tu la liền tiêu diệt, chẳng còn muốn đấu chiến.
Nếu có Thiên Tử hay Thiên Nữ hiện năm tướng chết và sẽ sa vào loài chẳng vừa ý, Ngài nên ở trước mặt họ mà đọc tụng Bát nhã ba la mật. Nhờ nghe Bát nhã ba la mật, các Thiên Tử, Thiên Nữ ấy tăng trưởng công đức nên được sinh trở lại bổn xứ. Vì nghe Bát nhã ba la mật thời được lợi ích lớn.
Này Kiều Thi Ca! Nếu có thiện nam, thiện nữ hay là Thiên Tử, Thiên Nữ nghe Bát nhã ba la mật này, vì được công đức nên lần lần sẽ được Vô thượng Chính giác.
Tại sao vậy?
Vì quá khứ chư Phật và hàng đệ tử đều học Bát nhã ba la mật này mà được Vô thượng Bồ đề, nhập vô dư Niết Bàn.
Vị lai và hiện tại chư Phật cùng hàng đệ tử cũng đều học Bát nhã ba la mật này mà được Vô thượng Bồ đề, nhập vô dư y Niết Bàn.
Này Kiều Thi Ca! Bát nhã ba la mật này nhiếp tất cả pháp lành như là pháp Thanh Văn, pháp Bích Chi Phật, pháp Bồ Tát và Phật pháp".
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là đại minh chú, là vô thượng minh chú, là vô đẳng đẳng minh chú.
Tại sao vậy?
Vì Bát nhã ba la mật này hay trừ tất cả pháp bất thiện, hay cho tất cả pháp thiện".
Đức Phật nói: "Đúng như vậy. Này Kiều Thi Ca! Bát nhã ba la mật là đại minh chú, là vô thượng minh chú, là vô đẳng đẳng minh chú.
Tại sao vậy?
Vì quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đều nhân minh chú này mà được Vô thượng Bồ đề.
Nhân minh chú này nên thế gian có mười nghiệp đạo lành, có tứ thiền, có vô lượng tâm, tứ vô sắc định, có Đàn na ba la mật đến pháp bất cộng, có pháp tính, pháp như, pháp tướng, pháp trụ, pháp vị, thiệt tế, có ngũ nhãn, quả Tu Đà Hoàn đến nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí.
Này Kiều Thi Ca! Do nơi đại Bồ Tát nên thế gian xuất hiện thập thiện, tứ thiền nhẫn đến nhất thiết chủng trí, Tu Đà Hoàn nhẫn đến Phật.
Ví như trăng tròn chiếu sáng, các tinh tú cũng có thể chiếu sáng.
Tất cả thiện pháp đến nhất thiết chủng trí tại thế gian, nếu thời kỳ không có Phật xuất thế, thời đều phát sinh từ chư Bồ Tát.
Phương tiện lực của đại Bồ Tát này đều sinh từ Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát dùng phương tiện lực này để thật hành Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật, để thật hành nội không đến vô pháp hữu pháp không, để thật hành tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng, chẳng chứng đặng Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng có thể thành tựu chúng sinh, thành tịnh Phật độ, có thể thành tựu thọ mạng, thành tựu quốc độ, thành tựu quyến thuộc Bồ Tát, được nhất thiết chủng trí. Tất cả như thế đều từ Bát nhã ba la mật phát sinh. Lại này Kiều Thi Ca! Nếu thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật, thọ trì, thân cận, nhẫn đến chính ửc niệm thời sẽ được thành tựu công đức đời này, đời sau”.
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tốn! Thiện nam, thiện nữ thọ trì nhẫn đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật được công đức đời hiện tại như thế nào?".
Đức Phật nói: "Này Kiều Thi Ca! Nếu thiện nam, thiện nữ thọ trì Bát nhã ba la mật nhẫn đến chính ửc niệm thời trọn chẳng bị trúng độc mà chết, đao thương chẳng hại được, nước lửa cũng chẳng chìm đốt được, nhẫn đến bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh chẳng xâm được, trừ nghiệp báo đời trước của người ấy.
Nếu có quan sự phát khởi, thiện nam, thiện nữ này đến trước mặt quan không ai khiển trách được. Tại sao vậy? Vì oai lực của Bát nhã ba la mật vậy.
Nếu thiện nam, thiện nữ đọc tụng Bát nhã ba la mật đến trước mặt vua chúa, đại thần, thời vua chúa đại thần đều hoan hỷ đón tiếp, chuyện trò niềm nở.
Tại sao vậy? Vì thiện nam, thiện nữ này thường có tâm từ bi hỉ xả đối với chúng sinh vậy.
Này Kiều Thi Ca! Đó là Thiện nam, thiện nữ thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật được công đức trong đời hiện tại.
Những gì là công đức ở đời vị lai?
Thiện nam, thiện nữ thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật thời trọn chẳng rời thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ không định, lục ba la mật, tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng. Người này trọn chẳng sa vào ba ác đạo. Thân mạo hoàn cụ. Trọn chẳng sinh vào nhà nghèo hèn hạ tiện.
Thường được ba mươi hai tướng. Thường được hóa sinh trong nước hiện có Phật. Trọn chẳng rời lìa Bồ Tát thần thông. Nếu muốn từ một Phật quốc đến một Phật quốc để cúng dường chư Phật và nghe Phật thuyết pháp thời được như ý. Những nước đã được đến, người này đều có thể thành tựu chúng sinh, thanh tịnh Phật độ, lân lần được Vô thượng Bồ đề.
Này Kiều Thi Ca! Đó là công đức ở đời sau.
PHẨM KHIỂN TRỪ MA NGOẠI THỨ BA MƯƠI LĂM
Bấy giờ chư ngoại đạo phạm chí muốn đến tìm chỗ sở đoản của đức Phật.Thiên Đế nghĩ rằng như ngoại đạo phạm chí này muốn đến tìm chỗ sở đoản của đửc Phật, tôi nên tụng niệm Bát nhã ba la mật của đức Phật vừa giáo thọ, tất chư ngoại đạo phạm chí này trọn không thể làm trở ngại công việc giảng thuyết Bát nhã ba la mật.
Nghĩ xong, Thiên Đế liền niệm Bát nhã ba la mật.
Lúc đó chư ngoại đạo phạm chí ở xa nhiễu quanh đức Phật rồi đi trở về.
Ngài Xá Lợi Phất tâm niệm cớ chi mà chư ngoại đạo phạm chí ở xa nhiễu quanh đức Phật rồi đi trở về?
Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: "Vì Thích Đề Hoàn Nhân tụng niệm Bát nhã ba la mật, nên chư ngoại đạo phạm chí ở xa nhiễu quanh đức Phật rồi đi trỏ về.
Này Xá Lợi Phất! Ta chẳng thấy chư ngoại đạo phạm chí ấy có chút thiện tâm, họ mang ý ác đến muốn tìm chỗ sở đoản của đức Phật.
Này Xá Lợi Phất! Lúc thuyết Bát nhã ba la mật, ta chẳng thấy tất cả thế gian hoặc chư Thiên, chư Ma, chư Phạm, hoặc trong chúng Sa Môn, trong chúng Đà La Môn, có ai mang ác ý mà có thể đến phá hoại được.
Tại sao vậy? Vì trong Đại Thiên quốc độ này, chư Tử Thiên Vương đến Đại Tự Tại Thiên, chư Thanh Văn, chư Bích Chi Phật, chư Bồ Tát và chư Phật đồng thủ hộ Bát nhã ba la mật này.
Tại sao vậy? Vì chư Thiên đến chư Phật đều xuất sinh từ trong Bát nhã ba la mật.
Lại này Xá Lợi Phất! Trong hằng sa quốc độ mười phương, chư Thiên đến chư Phật cũng đồng thủ hộ Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy? Vì chư Thiên đến chư Phật mười phương cũng đều xuất sinh từ trong Bát nhã ba la mật.
Bấy giò- có ác ma nghĩ rằng nay đây Phật cùng tứ chúng hội hợp với chư Thiên cõi Dục, cõi sắc, trong đó tất có bậc đại Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Vô thượng Bồ đề. Ta phải đến đó để phá hoại đạo tâm của họ.
Nghĩ xong, ác ma liền hóa hiện bốn bộ binh kéo đến chỗ đức Phật.
Thiên Đế biết là không phải binh chủng của vua Tần Bà La hay vua Ba Tư Nặc, cũng không phải của dòng Thích Ca và dòng Lê Xa. Đây tất là binh của ác ma hóa hiện. Ác ma này mãi tìm dịp hại chúng sinh, ta phải tụng niệm Bát nhã ba la mật.
Thiên Đế liền tụng niệm Bát nhã ba la mặt.
Ác ma nghe tiếng tụng niệm, lần lần tan rã trở về.
Chư Thiên cõi Tứ Vương đến cõi sắc Cứu Cánh ở cõi này và hằng sa cõi ở mười phương đồng hóa hiện những thiên hoa từ trên không rải trên đức Phật và đồng xướng rằng cầu nguyện Bát nhã ba la mật ở lâu nơi Diêm Phù Đề.
Tại sao vậy? Vì người Diêm Phù Đề thọ trì Bát nhã ba la mật thời Bát nhã ba la mật được trụ nơi thế gian. Tùy thời gian Bát nhã ba la mật an trụ, thời ở Diêm Phù Đề Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo cũng an trụ chẳng diệt.
Cũng phân biệt biết rõ đạo đại Bồ Tát.
Và lại chỗ nào có thiện nam, thiện nữ biên chép quyển Bát nhã ba la mật, thời chỗ đó tất chói sáng, rời xa sự tối tăm"
Đức Phật bảo Thiên Đế và tất cả chư Thiên: "Đúng như vậy. Này Kiều Thi Ca và chư Thiên Tử! Người Diêm Phù Đề thọ trì Bát nhã ba la mật, theo thời gian mà sự thọ trì này còn tồn tại, thời cũng là thời gian mà Tam Bảo tồn tại.
Nhẫn đến chỗ nào có thiện nam, thiện nữ biên chép quyển kinh Bát nhã ba la mật, thời chỗ ấy tất chói sáng, rời xa sự tối tăm".
Chư Thiên Tử hóa hiện thiên hoa rải trên đức Phật mà thưa rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam, thiện nữ thọ trì Bát nhã ba la mật nhẫn đến chính ức niệm thời ma chúa, ma dân không làm hại được.
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi cũng phải ủng hộ những người này, vì chúng tôi xem những người này như đức Phật hoặc kế đức Phật",
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ thọ trì Bát nhã ba la mật nhẫn đến chính ức niệm, phải biết những người này đời trước đã làm công đức nhiều ở chỗ đức Phật, đã thân cận cúng dường chư Phật, được bậc thiện tri thức hộ niệm.
Bạch đức Thế Tôn! Nhất thiết trí của chư Phật phải tìm cầu trong Bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật cũng phải tìm cầu trong nhất thiết trí.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật chẳng khác nhất thiết trí. Nhất thiết trí chẳng khác Bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật cùng nhất thiết trí chẳng phải hai, chẳng phải khác.
Do đây nên hàng chư Thiên chúng tôi xem những ngưòi này như đức Phật hoặc kế đức Phật”.
Đức Phật nói: "Đúng như vậy! Này Kiều Thi Ca! Nhất thiết trí của chư Phật tức là Bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật tức là nhất thiết trí.
Tại sao vậy? Này Kiều Thi Ca! Nhất thiết trí của chư Phật đều xuất sinh từ trong Bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật chẳng khác nhất thiết trí. Nhất thiết trí chẳng khác Bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật cùng nhất thiết trí chẳng phải hai, chẳng phải khác”.
PHẨM TÔN ĐẠO
THỨ BA MƯƠI SÁU
Ngài A Nan thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Cứ sao chẳng ca ngợi Đàn na ba la mật đến mười tám pháp bất cộng mà chỉ ca ngợi Bát nhã ba la mật?".
Đức Phật nói: "Đối với năm môn ba la mật đến mười tám pháp bất cộng thời Bát nhã ba la mật là tôn đạo của tất cả.
Này A Nan! Bố thí mà chẳng hồi hướng nhất thiết trí thời có được gọi là Đàn na ba la mật chăng? Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ mà chẳng hồi hướng nhất thiết trí thời có được gọi là thi na ba la mật chăng?”.
Ngài A Nan thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Không”.
Đức Phật nói: "Do đó mà biết rằng Bát nhã ba la mật là tôn đạo đối với năm ba la mật đến mười tám pháp bất cộng, nên phải cạ ngợi”.
Ngài A Nan thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thể nào là bố thí đến trí huệ hồi hướng nhất thiết trí được thành Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật?".
Đức Phật nói: “Dùng bố thí không có hai pháp mà hồi hướng nhất thiết trí, thời gọi là Đàn na ba la mật, vì bất sinh, bất khả đắc nên bố thí, hồi hướng nhất thiết trí thời gọi là Đàn na ba la mật.
Nhẫn đến dùng trí huệ không có hai pháp hồi hướng nhất thiết trí thời gọi là Bát nhã ba la mật, vì bất sinh bất khả đắc nên trí huệ hồi hướng nhất thiết trí thời gọi là Bát nhã ba la mật".
Ngài A Nan thưa: “Bạch đức thề Tôn! Thế nào dùng pháp không hai mà bố thi nhẫn đến dùng pháp không hai mà trí huệ hồi hướng nhất thiết trí, thời gọi là Đàn na ba la mật đến gọi là Bát nhã ba la mật?".
Đức Phật nói: "Này A Nan! Vì sắc không hai pháp, vì thọ, tưởng, hành, thức không hai pháp, nhẫn đến vì Vô thượng Bồ đề không hai pháp vậy.
Tại sao vậy?
Vì Sắc Sắc tướng rỗng không. Đàn na ba la mật và sắc không hai, không khác, nhẫn đến Vô thượng Bồ đề và Đàn na ba la mật không hai, không khác. Năm ba la mật kia cũng như vậy.
Vì thế nên, này A Nan! Chỉ ca ngợi Bát nhã ba la mật là tôn đạo của năm ba la mật đến nhất thiết chủng trí.
Này A Nan! Ví như mặt đất, đem hạt giống rải lên trên, đủ nhân duyên hòa hợp bèn mọc lên. Các hạt giống ấy nương nơi đất mà mọc lên.
Cũng vậy, năm ba la mật nương Bát nhã ba la mật mà sinh. Tứ niệm xứ đến nhất thiết chủng trí đều nương Bát nhã ba la mật mà sinh. Thế nên Bát nhã ba la mật là tôn đạo của năm ba la mật đến mươi tám pháp bất cộng".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật nói chưa hết công đức của người thọ trì đến chính ức niệm của Bát nhã ba la mật.
Tại sao vậy? Vì người thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật thời thọ lấy đạo Vô thượng của tam thế chư Phật. Vì muốn được nhất thiết trí phải tìm cầu trong Bát nhã ba la mật. Muốn được Bát nhã ba la mật phải tìm cầu trong nhất thiết trí.
Bạch đức Thế Tôn! Do thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật mà thế gian xuất hiện thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định nhẫn đến mười tám pháp bất cộng.
Do thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật mà thế gian bèn có những danh nhân vọng tộc, trời Tứ Vương đến trời sắc Cứu Cánh.
Do thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật mà thế gian bèn có Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm,
A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, đại Bồ Tát.
Do thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật mà có chư Phật, Thế Tôn xuất hiện thế gian".
Đức Phật nói: "Này Kiều Thi Ca! Người thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật, ta chẳng nói họ chỉ được ngần ấy công đức.
Này Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật chẳng rời tâm nhất thiết trí thời thành tựu vô lượng giới phẩm, thành tựu vô lượng định phẩm, huệ phẩm, giải thoát phẩm, giải thoát tri kiến phẩm. Phải biết người này như Phật.
Tất cả giới phẩm, định phẩm, huệ phẩm, giải thoát phẩm, giải thoát tri kiến phẩm của hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật đối với người này không bằng một phần trăm ngàn muôn ức, nhẫn đến toán số thí dụ đều không bằng.
Này Kiều Thi Ca! Nếu có thiện nam, thiện nữ biên chép, thọ trì quyển kinh Bát nhã ba la mật rồi cúng dường, tôn kính, tôn trọng cũng được công đức trong đời này và đời sau".
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Tôi phải thường thủ hộ những thiện nam, thiện nữ thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật chẳng rời tâm nhất thiết trí, cúng dường, cung kính, tôn trọng Bát nhã ba la mật".
Đức Phật nói: "Này Kiều Thi Ca! Lúc thiện nam, thiện nữ muốn đọc tụng, giảng thuyết Bát nhã ba ỉa mật, thời vô lượng trăm ngàn chư Thiên đều đến nghe pháp.
Thiện nam, thiện nữ giảng thuyết pháp Bát nhã ba la mật, thời chư Thiên giúp thêm đởm lực cho những người ấy.
Các pháp sư ấy nếu mỏi mệt, nhờ chư Thiên giúp thêm đởm lực nên lại có thể giảng thuyết nữa.
Thiện nam, thiện nữ thọ trì đến chính ức niệm, cúng dường Bát nhã ba la mật cũng được công đức hiện đời này.
Lại này Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ ấy ở giữa bốn bộ chúng, lúc giảng thuyết Bát nhã ba la mật, lòng không khiếp nhược. Lúc bị luận nạn cũng không sợ sệt. Tại sao vậy? Vì thiện nam và thiện nữ ấy được sự hộ trì của Bát nhã ba la mật.
Trong Bát nhã ba la mật cũng phân biệt tất cả pháp, hoặc thế gian hay xuất thế gian, hoặc hữu lậu hay vô lậu, hoặc thiện hay bất thiện, hoặc hữu vi hay vô vi, hoặc pháp Thanh Văn hay pháp Bích Chi Phật, pháp Bồ Tát hay Phật pháp.
Vì thiện nam, thiện nữ ấy an trụ trong nội không hay vô pháp hữu pháp không, nên chẳng thấy có ai chướng nạn được Bát nhã ba la mật, cũng chẳng thấy người bị luận nạn, cũng chẳng thấy Bát nhã ba la mật.
Thiện nam, thiện nữ ấy được Bát nhã ba la mật ủng hộ, nên không ai nạn hoại được.
Lúc thọ trì đến chính ức niệm Bát nhã ba la mật, thiện nam, thiện nữ ấy chẳng mất, chẳng kinh, chẳng sợ.
Tại sao vậy? Vì thiện nam, thiện nữ ấy chẳng thấy có pháp mất, chẳng thấy có pháp kinh sợ.
Này Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đến chính ức niệm, cúng dường Bát nhã ba la mật, lại được công đức đời hiện tại này.
Lại này Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đến chính ức niệm, biên chép, cúng dường quyển kinh Bát nhã ba la mật, người này được cha mẹ yêu thương, thân tộc, bạn bè kính mến, được Sa Môn, Bà La Môn kính nể, được chư Phật, chư đại Bồ Tát, chư A La Hán đến chư Tu Đà Hoàn ái kính, tất cả thế gian, chư Thiên, Ma, Phạm, A tu la cũng ái kính người này.
Người này thật hành Đàn na ba la mật không lúc nào đoạn tuyệt. Thi la ba la mật đến Bát nhã ba la mật cũng như vậy, không lúc nào đoạn tuyệt.
Người này tu nội không chẳng dứt, đến tu vô pháp hữu pháp không chẳng dứt, tu niệm xứ đến bất cộng pháp chẳng dứt, tu các môn tam muội chẳng dứt, tu các môn đà la ni chẳng dứt, tu những Bồ Tát thần thông chẳng dứt, thành tựu chúng sinh, thanh tịnh Phật độ chẳng dứt, nhẫn đến tu nhất thiết chủng trí chẳng dứt. Người này cũng có thể hàng phục kẻ luận nạn hủy báng.
Này Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đến cúng dường Bát nhã ba la mật cũng được công đức đời này, đời sau như vậy.
Lại này Kiều Thi Ca! Tại chỗ ở của thiện nam, thiện nữ biên chép quyển kinh, chư Thiên cõi trời Tứ Vương, Đao Lợi nhẫn đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, toàn thể chư Thiên trong cõi Đại Thiên này và trong thế giới mười phương, những vị đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, đều đến chỗ ấy để ra mắt quyển Bát nhã ba la mật và thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, cúng dường, lễ lạy rồi trở về.
Ngoài ra, những hàng Thiên, Long, Bát bộ trong cõi này và trong những thế giới mười phương cũng đều đến chỗ ấy để ra mắt quyển kinh Bát nhã ba la mật và thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, cúng dường, lễ lạy rồi trở về.
Thiện nam, thiện nữ này nghĩ rằng chư Thiên cùng Bát bộ thân trong cõi này và trong những thế giới mười phương đều ra mắt quyển Bát nhã ba la mật và thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, cúng dường, lễ bái, như thế thời tôi đã ban bố pháp thí rồi.
Này Kiều Thi Ca! Chư Thiên trong cõi Đại Thiên cùng chư Thiên trong những thế giới mười phương, từ trời Tứ Vương đến trời sắc Cứu Cánh, những vị đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, đều ủng hộ các thiện nam, thiện nữ này, làm cho những kẻ ác, những việc ác không xâm hại được. Ngoại trừ đời trước của người ấy có trọng tội.
Này Kiều Thi Ca! Các thiện nam, thiện nữ này cũng được công đức đời hiện tại. Những Thiên Tử đã phát tâm Vô thượng Bồ đề đều đến chỗ ở của người này.
Tại sao vậy? Vì những Thiên Tử đã phát tâm Vô thượng Bồ đề đều muốn cứu hộ tất cả chúng sinh, chẳng bỏ tất cả chúng sinh, muốn an lạc tất cả chúng sinh vậy”.
Thiên Đế thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Các thiện nam, thiện nữ này làm sao biết được chư Thiên trong thế giới đây cùng chư Thiên trong những thế giới ở mười phương đều ra mắt Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, giảng nói, cúng dường, lễ lạy?".
Đức Phật nói: “Này Kiều Thi Ca! Nếu có thiện nam, thiện nữ thấy quang minh thanh tịnh lớn, thời biết chắc là lúc có chư Thiên đến ra mắt Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, cúng dường, lễ lạy.
Lại nếu các thiện nam, thiện nữ nghe mùi hương lạ vi diệu, cũng biết chắc là lúc có chư Thiên đến ra mắt để thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, cúng dường lễ lạy.
Lại này Kiều Thi Ca! Vì các thiện nam, thiện nữ công hạnh tịnh khiết, nên chư Thiên đến ra mắt Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, cúng dường hoan hỉ lễ lạy.
Trong chỗ đó nếu có hàng tiểu quỉ liền tức thời đi ra, vì họ chẳng kham nổi oai đức lớn của chư Thiên.
Do hàng Đại Đức chư Thiên đến, nên thiện nam, thiện nữ này phát đại tâm.
Vì thế nên chỗ nào có Bát nhã ba la mật, thời bốn phía phải sạch sẽ. Phải thắp đèn, đốt hương thơm, rải những hoa đẹp, dầu thơm rưới đất, nghiêm sức với những bảo cái, tràng phan.
Lúc thuyết pháp, các thiện nam, thiện nữ này trọn không mỏi mệt, tự cảm thấy thân thể thư thái, tâm thần an vui. Đúng pháp nằm nghĩ, yên ổn không ác mộng. Trong giấc mơ thấy Phật ba mươi hai tướng tốt, tám mươi tùy hình hảo. Chúng Tỳ Kheo cung kính vây quanh. Đức Phật vì chư Tăng mà thuyết pháp. Các thiện nam, thiện nữ này nghe và lãnh thọ giáo pháp. Những là lục ba la mật, tứ
Trong giấc mơ, các thiện nam, thiện nữ này cũng thấy cây bồ đề trang nghiêm rất đẹp. Thấy chư Bồ Tát đến cội cây bồ đề thành Đẳng Chính Giác, chuyển pháp luân. Cũng thấy trăm ngàn muôn Bồ Tát đồng kết tập chính pháp, luận nghị rằng: Phải cầu nhất thiết trí như vậy, phải thành tựu chúng sinh như vậy, phải tịnh Phật quốc độ như vậy. Cũng thấy mười phương vô số trăm ngàn muôn ức chư Phật. Cũng nghe danh hiệu của chư Phật ấy ở mười phương nào, nước nào, hiệu là gì, có bao nhiêu Bồ Tát, bao nhiêu Thanh Văn vây quanh cung kính, đức Phật ấy vì đại chúng mà thuyết pháp. Lại thấy mười phương vô số trăm ngàn muôn ức chư Phật nhập Niết Bàn. Lại thấy vô số trăm ngàn muôn ức tháp thất bảo của chư Phật. Lại thấy cúng dường bảo tháp với những hương hoa nhẫn đến phan lọng, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Này Kiều Thi Ca! Các thiện nam, thiện nữ này chiêm bao thấy những cảnh lành như vậy, nên lúc ngủ yên, lúc thức cũng yên. Chư Thiên giúp thêm khí lực, nên người này tự cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, chẳng quá ham những đồ uống ăn, y phục, đồ nằm, thuốc men. Đối với tứ sự cúng dường, lòng người này phớt nhẹ. Như Tỳ Kheo tọa thiền, sau khi xuất thiền định, tâm hợp với thiền định, chẳng ham uống ăn, tâm họ phớt nhẹ.
Tại sao vậy? Vì chư Thiên tự nhiên dùng tinh chất của món ăn để thêm khí lực cho người này.
Mười phương chư Phật và hàng Thiên, Long, Quỷ thần, A tu la, Càn thát bà, Ca lâu na, Khẩn na la, Ma hầu la già cũng giúp thêm khí lực cho người này.
Này Kiều Thi Ca! Vì thế nên các thiện, nam, thiện nữ muốn được công đức đời hiện tại như vậy, thời phải thọ trì, thân cận, đọc tụng, giảng thuyết, chinh ức niệm Bát nhã ba la mật, cũng chẳng rời tâm nhất thiết trí
Nếu không thể thọ trì đến chính ức niệm, các thiện nam, thiện nử phải biên chép quyển kinh rồi cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng dường hoa hương, anh lạc, tràng phan, bảo cái
Này Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật này, rồi thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, chính ức niệm, biên chép quyển kinh, cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng dường hoa hưong, anh lạc, phan cái, thời công đức từ sự cúng dường mười phương chư Phật và hàng đệ tử, cũng xây tháp bảy báu sau khi chư Phật và đệ tử nhập Niết Bàn".
BỔ KHUYẾT CHÔN NGÔN
Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, a bát ra đế, yết đa chiết, chiết nại đi. Án kê di kê di, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa sơn đính, bát ra đế, ô đát ma đát ma, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa hồng phấn tá ha. (7 lần)Nam mô Hoa Tạng Giáo chủ Tỳ Lô Giá Na Phật. (3 lần)
BỔ KHUYẾT TÂM KINH
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệt phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng: bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệt vô đắc. Dĩ vô sử đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn.
Tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố, đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khố chân thực bất hư.
Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:
"Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha".
VÃNG SINH QUYẾT ĐỊNH CHÂN NGÔN
Nam mô A di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ ca lan đa, già di nị già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.
Khể thủ Tây phương An Lạc quốc
Tiếp dẫn chúng sinh đại đạo sư
Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sinh
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu, cập pháp giới chứng sinh cầu ư chư Phật, Nhất thừa Vô thượng Bồ đề đạo cố, chuyên tâm trì niệm A Di Đà Phật, vạn đức hồng danh kỳ sinh Tịnh độ. Duy nguyện Từ Phụ A Di Đà Phật, ai lân nhiếp thọ từ bi gia hộ.
A Di Đà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
Cám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Nam mô A Di Đà Phật.(Niệm 10,20, 30 câu tùy ý)
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (10 tiếng)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (10 tiếng)
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (10 tiếng)
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (10 tiếng)
HỒI HƯỚNG
Đệ tử chúng đẳng, hiện thị sinh tử phàm phu, tội chướng thâm trọng, luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn; kim ngộ tri thức, đắc văn A Di Đà danh hiệu, bổn nguyện công đức, nhất tâm xưng niệm, cầu nguyện vãng sinh, nguyện Phật từ bi bất xả, ai lân nhiếp thọ, đệ tử chúng đẳng, bất thức Phật thân, tướng hảo quang minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến, cập kiến Quán Âm Thế Chí, chư Bồ Tát chúng, bỉ thế giới trung, thanh tịnh trang nghiêm, quang minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến A Di Đà Phật.
Ngã kim trì niệm A Di Đà Tức phát bồ đề quảng đại nguyện Nguyện ngã định huệ tốc viên minh Nguyện ngã công đức giai thành tựu Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm Nguyện cộng chúng sinh thành Phật đạo.
Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vô thỉ tham sân si
Tùng thân ngữ ý chi sở sinh
Nhất thiết ngã kim giai sám hối.
Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời
Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại
Diện kiến ngã Phật A Di Đà
Tức đắc vãng sinh Cực Lạc sát
Ngã ký vãng sinh Cực Lạc dĩ
Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện
Nhất thiết viên mãn tận vô dư
Lợi lạc nhất thiết chúng sinh giới
Ngã Phật chúng hội hàm thanh tịnh
Ngã thời ư thắng liên hoa sinh
Thân đỗ Như Lai Vô Lượng
Quang Hiện tiền thọ ngã bồ đề ký.
Mong ngã Như Lai thọ ký dĩ
Hóa thân vô số bá câu chi
Trí lực quảng đại biến thập phương
Phổ lợi nhất thế chúng sinh giới
Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức
Trang nghiêm Phật Tịnh độ
Thượng báo tứ trọng ân
Hạ tế tam đồ khổ
Nhược hữu kiến văn giả
Tức phát bồ đề tâm
Tận thử nhất báo thân
Đồng sinh Cực Lạc quốc,
Tận thử nhất báo thân
Đồng sinh An Dưỡng quốc.
NGUYỆN
A Di Đà Phật, thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhân, lâm mạng chung thời, thân tâm chính niệm, thị thính' phân minh, diện phụng Di Đà, dữ chư Thánh chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã.
Nhất sát na khoảnh, sinh tại Phật tiền, cụ Bồ Tát đạo, quảng độ chúng sinh, đồng thành chủng trí.
chí tâm đỉnh lễ:
Nam mô A Di Đà Phật Thế Tôn.
Nguyện ngã Tội chướng tất tiêu diệt (1 lạy)
Nguyện ngã Thiện căn nhật tảng trưởng (1 lạy)
Nguyện ngã Thân tâm hàm thanh tịnh (1 lạy)
Nguyện ngã Nhất tâm tảo thành tựu (1 lạy)
Nguyện ngã Tam muội đắc hiện tiền (1 lạy)
Nguyện ngã Tịnh nhân tốc viên mãn (1 lạy)
Nguyện ngã Liên đài dự tiêu danh (1 lạy)
Nguyện ngã Kiến Phật ma đảnh ký (1 lạy)
Nguyện ngã Dự tri mạng chung thời (1 lạy)
Nguyện ngã Vãng sinh Cực Lạc quốc (1 lạy)
Nguyện ngã Viên mãn Bồ Tát đạo (1 lạy)
Nguyện ngã Quảng độ chư chúng sinh. (1 lạy)
Chí tâm qui mạng đỉnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô lượng vô biên, tứ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ tận hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Như Lai biến pháp giới Tam Bảo. (1 lạy)
TAM QUY
Tự quy y Phật, đượng nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. (1 lạy)
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. (1 lạy)
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ CHÍN
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ CHÍN Hán dịch: Pháp su: Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM ẢO NHÂN THÍNH PHÁP THỨ HAI MƯƠI TÁM Bấy giờ chư Thiên Tử nghĩ rằng nên dùng những người nào để nghe...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ TÁM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ TÁM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí TỊnh PHẨM VÔ SINH THỨ HAI MƯƠI SÁU Bấy giờ Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề: "Đại Bồ Tát thật hành Đát nhã ba...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BẢY
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BẢY Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM THẮNG XUẤT THỨ HAI MƯƠI HAI Ngài Huệ Mạng Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại thừa và người Đại thừ...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ SÁU
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ SÁU Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM QUẢNG THỪA THỨ MƯỜI CHÍN Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Có đại Bồ Tát Đại thừa, chính là tứ niệm xứ. Thế...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ NĂM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ NĂM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM TRANG NGHIÊM THỨ MƯỜI BẢY Bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát đại trang...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ TƯ
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ TƯ Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM ẢO HỌC THỨ MƯỜI MỘT Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu sẽ có người hỏi rằng: Ảo nhân học Bát nhã b...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM KHUYẾN HỌC THỨ TÁM Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn đầy đủ Đàn na ba la mật thời p...
13/01/2016
KINH MA HÁT BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI
KINH MA HÁT BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ HAI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí tịnh PHẨM VÃNG SINH THỨ TƯ Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật có thể...
