KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BẢY
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BẢY Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM THẮNG XUẤT THỨ HAI MƯƠI HAI Ngài Huệ Mạng Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại thừa và người Đại thừ...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BẢY
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM THẮNG XUẤT THỨ HAI MƯƠI HAI
Bạch đức Thế Tôn! Đại thừa này đồng đẳng với hư không.
Như hư không dung thọ vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sinh. Cũng vậy, Đại thừa này dung thọ vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sinh.
Đại thừa này chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy chỗ dừng ở.
Đại thừa này, chẳng thể được quá khứ, chẳng thể được vị lai, chẳng thể được hiện tại. Ba đời bình đẳng là Đại thừa này.
Do duyên có trên đây nên gọi là Đại thừa".
Đức Phật nói: "Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát Đại thừa là sáu ba la mật: Đàn na ba la mật, Thi la ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật, Thiền na ba la mật, Bát nhã ba la mật.
Lại có đại Bồ Tát Đại thừa là tất cả đà la ni môn, tất cả tam muội môn. Như là thủ lăng nghiêm tam muội đến ly trước như hư không bất nhiễm tam muội.
Lại có đại Bồ Tát Đại thừa là nội không đến vô pháp hữu pháp không.
Lại có đại Bồ Tát Đại thừa là tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng.
Này Tu Bồ Đề! Như lời ông nói, Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân. A tu la.
Này Tư Bồ Đề! Nếu Dục giới là có chân thật chẳng hư vọng, là đế lý chẳng điên đảo, thường hằng chẳng hư hoại chẳng phải pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi dục giới hư vọng, nhớ tưởng, phân biệt, hòa hợp danh tự v.v... có tất cả tướng vô thường phá hoại là pháp không có. Thế nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu sắc giới và Vô sắc giới là có chân thật chẳng hư vọng, là đế lý chẳng điên đảo, thường hằng chẳng hư hoại, chẳng phải pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi sắc giới và Vô sắc giới hư vọng, nhớ tưởng, phân biệt, hòa hợp danh tự v.v,. có tất cả tướng vô thường phá hoại là pháp không có. Thế nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu sắc uẩn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ là có chân thiệt chẳng hư vọng, là đế lý chẳng điên đảo, thường hằng chẳng hư hoại, chẳng phải pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi sắc uẩn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ hư vọng, nhớ tưởng, phân biệt, hòa hợp danh tự v.v... có tất cả tướng vô thường phá hoại là pháp không có, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu pháp tính như thật tế, bất khả tư nghi tính là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi pháp tính đến bất tư nghì tính không có pháp, chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, Atula.
Bởi Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật không có pháp chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu nội không đến vô pháp hữu pháp không là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi nội không đến vô pháp hữu pháp không không có pháp, chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu tứ niệm xử đến mười tám pháp bất cộng là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi tứ niệm xứ đến bất cộng pháp không có pháp, chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu tính nhân pháp, bát nhân pháp, Tu Đà Hoàn pháp, Tư Đà Hàm pháp, A Na Hàm pháp, A La Hán pháp, Bích Chi Phật pháp và Phật pháp là pháp có má chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi tính nhân pháp đến Phật pháp không có pháp, chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu bậc tính địa, bậc bát nhân, bậc Tu Đà Hoàn nhẫn đến Phật là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi tính địa đến chư Phật không có pháp chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la không có pháp chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu đại Bồ Tát từ lúc mới phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng, những tâm trong khoảng trung gian đó là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi những tâm trong khoảng trung gian từ lúc phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng của đại Bồ Tát không có pháp chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu như kim cang huệ của đại Bồ Tát là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời đại Bồ Tát này không thể biết được tất cả kiết sử và tập khí không có pháp, chẳng phải pháp để được nhất thiết chủng trí.
Bởi như kim cang huệ không có pháp, chẳng phải pháp, nên đại Bồ Tát biết được, tất cả kiết sử và tập khí không có pháp, chẳng phải pháp được nhất thiết chủng trí. Thế nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu ba mươỉ hai tướng của chư Phật là pháp có mà chẳng là pháp không có, thời oai đức của chư Phật chẳng thể chiếu sáng vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Bởi ba mươi hai tướng không có pháp, chẳng phải pháp, nên oai đức của chư Phật chiếu sáng vượt hơn tất cả thế gian và chư Thiên, Nhân, A tu la.
Này Tu Bồ Đề! Nếu quang minh của chư Phật là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời chẳng thể chiếu sáng hằng sa quốc độ.
Bởi quang minh của chư Phật không có pháp, chẳng phải pháp, nên có thể chiếu khắp hằng sa quốc độ.
Này Tu Bồ Đề! Nếu sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm của chư Phật là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời chư Phật chẳng thể dùng sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm ấy thấu đến khắp vô lượng a tăng kỳ quốc độ mười phương.
Bởi sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm của chư Phật không có pháp, chẳng phải pháp, nên chư Phật có thể dùng âm thanh trang nghiêm ấy thấu đến khắp vô lượng a tăng kỳ quốc độ mười phương.
Này Tu Bồ Đề! Nếu pháp luân của chư-Phật là pháp có mà chẳng phải là pháp không có, thời chư Phật không thể chuyển pháp luân mà tất cả Sa Môn, Bà La Môn hoặc chư Thiên vương, Ma vương, Phạm vương và tất cả thế gian chúng sinh đều chẳng chuyển được.
Bởi pháp luân của chư Phật không có pháp, chẳng phải pháp, nên chư Phật có thể chuyển pháp luân mà tất cả Sa Môn, Bà La Môn hoặc Trời, Người và tất cả chúng khác trong thế gian đều chẳng chuyển được.
Này Tu Bồ Đề! Chư Phật vì chúng sinh chuyến pháp luân. Nếu chúng sinh ấy là pháp thiệt có mà chẳng phải là pháp không có, thời không thể làm cho chúng sinh ấy ở nơi vô dư y Niết Bàn mà nhập Niết Bàn.
PHẨM ĐẲNG KHÔNG THỨ HAI MƯƠI BA
“Này Tu Bồ Đề! ông nói Đại thừa đồng đẳng với hư không.Đúng như vậy, Đại thừa đồng đẳng với hư không.
Này Tu Bồ Đề! Như hư không không có Đông, Tây v.v... mười phương, Đại thừa cũng không có mười phương.
Như hư không chẳng phải dài, vắn, vuông, tròn Đại thừa cũng chẳng phải dài, vắn, vuông, tròn.
Như hư không chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, Đại thừa cũng chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, đen.
Thế nên nói rằng Đại thừa đồng đẳng với hư không.
Này Tu Bồ Đề! Như hư không chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại.
Như hư không chẳng tăng, chẳng giảm. Cũng vậy, Đại thừa chẳng tăng, chẳng giảm.
Như hư không chẳng cấu, chẳng tịnh. Cũng vậy, Đại thừa chẳng cấu, chẳng tịnh.
Như hư không chẳng sinh, chẳng diệt, không dừng, không đổi. Cũng vậy, Đại thừa chẳng sinh, chẳng diệt, không dừng, không đổi.
Như hư không chẳng phải thiện bất thiện, chẳng phải ký vô ký. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải thiện bất thiện, chẳng phải ký vô ký.
Như hư không chẳng thấy nghe, chẳng hay biết. Cũng vậy, Đại thừa không thấy nghe, hay biết.
Như hư không chẳng thể biết được, chẳng thể hay được, chẳng thể thấy được, chẳng thể dứt được, chẳng thể chứng được, chẳng thể tu được. Cũng vậy, Đại thừa chẳng thể biết được, hay được, thấy được, dứt được, cũng chẳng thể chứng được, tu được.
Thế nên nói rằng Đại thừa đồng đẳng với hư không.
Này Tu Bồ Đề! Hư không chẳng phải tướng nhiễm, tướng ly. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải tướng nhiễm, chẳng phải tướng ly.
Như hư không chẳng hệ thuộc Dục giới,
Sắc giới, Vô sắc giới. Cũng vậy, Đại thừa chẳng hệ thuộc Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới.
Như hư không chẳng có sơ phát tâm nhẫn đến đệ thập tâm. Cũng vậy, Đại thừa không có sơ pháp tâm nhẫn đến hệ thập tâm.
Như hư không chẳng có càn huệ địa, tính nhân địa, bát nhân địa, kiến địa, bạc địa, ly dục địa, dĩ tác địa. Cũng vậy, Đại thừa không có càn huệ địa đến dĩ tác địa.
Như hư không chẳng có quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán. Cũng vậy, Đại thừa không có quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán.
Như hư không chẳng có Thanh Văn địa, Bích Chi Phật địa. Cũng vậy, Đại thừa không có Thanh Văn địa đến Phật địa.
Thế nên nói rằng Đại thừa đồng đẳng với hư không.
Này Tu Bồ Đề! Như hư không chẳng phải sắc vô sắc, chẳng phải khả kiến, bất khả kiến, chẳng phải hữu đối, vô đối, chẳng phải hiệp, chẳng phải tán. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải sắc nhẫn đến chẳng phải tán.
Như hư không chẳng phải thường vô thường, chẳng phải lạc, khổ, chẳng phải ngã vô ngã. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải thường vô thường, lạc, khổ, ngã vô ngã.
Như hư không chẳng phải không bất không, chẳng phải tướng vô tướng, chẳng phải tác vô tác. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải không đến chẳng phải vô tác.
Như hư không chẳng phải tịch diệt chẳng tịch diệt, chẳng phải ly chẳng ly. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải tịch diệt đến chẳng phải ly.
Như hư không chẳng phải tối sáng. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải tối sáng.
Như hư không chẳng phải khả đắc, bât khả đắc. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải khả đắc, chẳng phải bất khả đắc.
Như hư không chẳng phải khả thuyết, bất khả thuyết. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải khả thuyết, chẳng phải bất khả thuyết.
Thế nên nói rằng Đại thừa đồng đẳng với hư không.
Này Tu Bồ Đề! Như lời ông nói, như hư không dung thọ vô lượng vô biên chúng sinh, Đại thừa cũng dung thọ vô lưọng vô biên vô số chúng sinh.
Đúng như vậy. Vì chúng sinh vô sở hữu, nên biết rằng hư không vô sở hữu. Vì hư không vô sở hữu, nên biết rằng Đại thừa cũng vô sở hữu. Do đây nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh.
Tại sao vậy? Vì chúng sinh hư không và Đại thừa đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì Đại thừa vô sở hữu nên biết rằng vô số vô sở hữu. Vì vô số vô sở hữu nên biết rằng vô lượng vô sở hữu. Vì vô lượng vô sở hữu nên biết rằng vô biên vô sở hữu. Vì vô biên vô sở hữu nên biết rằng tất cả các pháp vô sở hữu. Do đây nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh.
Tại sao vậy? Vì chúng sinh hư không, Đại thừa vô số vô lượng vô biên, tất cả các pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì ngã nhẫn đến tri giả, kiến giả đều vô sở hữu, nên biết rằng pháp như, pháp tính, thật tế vô sở hữu.
Vì pháp như, pháp tính, thiệt tế vô sở hữu, nên biết nhẫn đến vô số vô lượng vô biên đều vô sở hữu.
Vì vô số vô Iượng vô biên vô sở hữu nên biết tất cả pháp vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Tại sao vậy? Vì chúng sinh ngã nhẫn đến tri giả, kiến giả cùng thiệt tế vô biên và tất cả pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bô Đề! Vì ngã đến tri giả, kiến giả đều vô sở hữu nên biết rằng bất khả tư nghì tính vô sở hữu.
Vì bất khả tư nghì tính vô sở hữu nên biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô sở hữu.
Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô sở hữu nên biết hư không vô sở hữu.
Vì hư không vô sở hữu nên biết Đại thừa vô sở hữu.
Vì Đại thừa vô sử hữu nên biết vô số vô lượng vô biên đều vô sở hữu.
Vì vô biên vô sở hữu nên biết tất cả các pháp vô sỏ hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Vì ngã nhẫn đến tri giả, kiến giả, tất cả các pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì ngã vô sở hữu nhẫn đến tri giả, kiến giả vô sở hữu nên biết nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý vô sở hữu.
Vì nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý vô sở hữu nên biết hư không vô sở hữu.
Vì hư không vô sở hữu nên biết Đại thừa vô sở hữu.
Vì Đại thừa vô sở hữu nên biết vô số vô lượng vô biên và tất cả các pháp vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Vì ngã đến tất cả các pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì ngã nhẫn đến tri giả, kiến giả đều vô sở hữu nên Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật đều vô sở hữu.
Vì Bát nhã ba la mật vô sở hữu nên biết hư không vô sở hữu.
Vì hư không vô sở hữu nên biết Đại thừa vô sử hữu.
Vì Đại thừa vô sở hữu nên biết vô số vô lượng vô biên vô sử hữu.
Vì vô số vô lượng vô biên vô sở hữu nên biết tất cả các pháp vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Tại sao vậy? Vì ngã chúng sinh đến tất cả các pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì ngã đến tri giả, kiến giả đều vô sỏ hữu nên biết nội không đến vô pháp hữu pháp không đều vô sở hữu.
Vì vô pháp hữu pháp không vô sở hữu nên biết hư không vô sở hữu.
Vì hư không vô sở hữu nên biết Đại thừa vô sở hữu.
Vì Đại thừa vô sử hữu nên biết vô số vô lượng vô biên vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Tại sao vậy? Vì ngã chúng sinh đến tất cả các pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì ngã chúng sinh đến tri giả, kiến giả vô sở hữu nên biết tứ niệm xứ đến bất cộng pháp vô sở hữu.
Vì bất cộng pháp vô sở hữu nên biết hư không vô sở hữu.
Vì hư không vô sở hữu nên biết Đại thừa vô sở hữu.
Vì Đại thừa vô sở hữu nên biết vô số vô lượng vô biên vô sở hữu.
Vì vô biên vô sở hữu nên biết tất cả các pháp vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Tại sao vậy? Vì ngã chúng sinh đến tất cả các pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì ngã chúng sinh đến tri giả, kiến giả vô sở hữu nên biết tính địa đến dĩ tác địa vô sở hữu.
Vì dĩ tác địa vô sở hữu nên biết hư không vô sở hữu.
Vì hư không vô sở hữu nên biết Đại thừa vô sở hữu.
Vì Đại thừa vô sở hữu nên biết vô số vô lượng vô biên vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Tại sao vậy? Vì ngã chúng sinh đến tất cả các pháp đều bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề Vì ngã đến tri giả, kiến giả vô sở hữu nên biết Tu Đà Hoàn đến A La Hán vô sở hữu.
Vì A La Hán vô sở hữu nên biết tất cả các pháp vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Tại sao vậy? Vì bất khả đắc vậy.
Lại này Tu Bồ Đề! Vì ngã đến tri giả, kiến giả vô sử hữu nên biết Thanh Văn thừa vô sở hữu.
Vì Thanh văn thừa vô sở hữu nên biết Bích Chi Phật thừa vô sở hữu.
Vì Bích Chi Phật thừa vô sở hữu nên biết Phật thừa vô sở hữu.
Vì Phật thừa vô sở hữu nên biết người Thanh Văn vô sở hữu.
Vì người Thanh Văn vô sở hữu nên biết Tu Đà Hoàn vô sở hữu nhẫn đến Phật vô sở hữu.
Vì Phật vô sở hữu nên biết nhất thiết chủng trí vô sở hữu.
Vì nhất thiết chủng trí vô sở hữu nên biết hư không vô sở hữu.
Vì hư không vô sở hữu nên biết Đại thừa vô sở hữu.
Vì Đại thừa vô sở hữu nên vô số đến tất cả các pháp vô sở hữu.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh. Tại sao vậy?
Vì bất khả đắc vậy.
Này Tu Bồ Đề! Như trong tính Niết bàn dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh, Đại thừa này cũng dung thọ vô lượng vô biên vô số chúng sinh.
Do nhân duyên này nên nói rằng Đại thừa đồng đẳng với hư không cũng dung thọ vô lượng VÔ biên vô số chúng sinh.
Này Tu Bồ Đề! Như lời ông nói Đại thừa này chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy chỗ ở.
Đúng như vậy, Đại thừa này chẳng thấy chỗ đến, chỗ đi, chỗ ở. Tại sao vậy?
Vì tất cả các pháp tướng chẳng lay động vậy nên các pháp chẳng có chỗ đến, chỗ đi, chỗ ở
Tại sao vậy? Này Tu Bồ Đề! sắc không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp không từ đây đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Sắc như, thọ như, tưởng như, hành như, thức như không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Sắc tính đến thức tính không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Sắc tướng đến thức tướng không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Như ngũ uẩn, thập nhị nhập, thập bát giới, lục đại chủng cũng vậy. Nhãn, nhãn pháp, nhãn như, nhân tính, nhãn tướng, đến thức chủng, thức chủng pháp, thức chủng như, thức chủng tính, thức chủng tướng không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Này Tu Bồ Đề! Như, như pháp, như như, như tính, như tướng, thật tế, thật tế pháp, thật tế như, thật tế tính, thật tế tướng, bất khả tư nghì, bất khả tư nghì pháp, bất khả tư nghì như, bất khả tư nghì tính, bất khả tư nghì tướng, đều không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Này Tu Bồ Đề! Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật, ba la mật, ba la mật pháp, ba la mật như, ba la mật tính, ba la mật tướng, không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Tứ niệm xứ, tứ niệm xứ pháp, tứ niệm xứ như, tứ niệm xứ tính, tứ niệm xứ tướng, không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở. Nhẫn đến mười tám pháp bất cộng cũng vậy.
Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát, Bồ Tát pháp, Bồ Tát như, Bồ Tát tính, Bồ Tát tướng, không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Phật, Phật pháp, Phật như, Phật tính, Phật tướng không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Vô thượng chính đẳng chính giác pháp, chính giác như, chính giác tính, chính giác tướng không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Này Tu Bồ Đề! Hữu vi, hữu vi pháp, hữu vi như, hữu vi tính, hữu vi tướng không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Vô vi, vô vi pháp, vô vi như, vô vi tính, vô vi tướng, không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Do nhân duyên này nên Đại thừa đây chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy chỗ ở.
Này Tu Bồ Đề! Như lời ông nói, Đại thừa đây tiền tế, hậu tế, trung tế đều bất khả đắc, Đại thừa đây gọi là ba đời bình đẳng nên gọi là Đại thừa.
Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề! Đại thừa đây tiền tế bất khả đắc, hậu tế bất khả đắc, trung tế bất khả đắc, ba đời bình đẳng nên gọi là Đại thừa.
Tại sao vậy? Vì đời quá khứ thời đời quá khứ rỗng không, đời vị lai thời đời vị lai rỗng không, đời hiện tại thời đời hiện tại rỗng không, ba đời bình đẳng thời ba đời bình đẳng rỗng không, Đại thừa thời Đại thừa rỗng không, Bồ Tát thừi Bồ Tát rỗng không. Tại sao vậy, tính không này chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải khác, thế nên gọi là ba đời bình đẳng, là đại Bồ Tát Đại thừa.
Trong Đại thừa này, bình đẳng cùng chẳng bình đẳng đều bất khả đắc, nhiễm cùng chẳng nhiễm, sân cùng chẳng sân, si cùng chẳng si, mạn cùng chẳng mạn đều bất khả đắc, nhẫn đến tất cả pháp thiện cùng pháp bất thiện đều bất khả đắc.
Trong Đại thừa này, thường cùng vô thường, lạc cùng khổ, thiệt cùng không thiệt, ngã cùng vô ngã đều bất khả đắc.
Trong Đại thừa này, Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới đều bất khả đắc. Vượt qua Dục giới, vượt qua sắc giới, vượt qua Vô sắc giới đều bất khả đắc.
Tại sao vậy? Vì Đại thừa này, tự pháp bất khả đắc vậy.
Này Tu Bồ Đề! Quá khứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, quá khứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức rỗng không. Vị lai sắc, thọ, tưởng, hành, thức rỗng không.
Hiện tại sắc thọ, tưởng, hành, thức, hiện tại sắc, thọ, tường, hành, thức rỗng không.
Trong tính không, quá khứ, vị lai, hiện tại sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều bất khả đắc. Tại sao vậy? Vì trong tính không, không đó còn là bất khả đắc huống là trong tính không mà có được những tam thế ngũ uẩn.
Như lục ba la mật, từ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng cũng vậy.
Này Tu Bồ Đề! Trong quá khứ, vị lai, hiện tại, người phàm phu bất khả đắc. Trong ba đời bình đẳng, người phàm phu cũng bất khả đắc.
Tại Sao vậy? Vì chúng sinh đến tri giả, kiến giả đều bất khả đắc vậy.
Này Tu Bồ Đề! Trong quá khứ, vị lai, hiện tại, Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát và Phật đều bất khả đắc. Trong ba đời bình đẳng, Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát và Phật cũng đều bất khả đắc.
Tại sao vậy? Vì chúng sinh đến tri giả, kiến giả đều bất khả đắc vậy.
Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát an trụ trong Bát nhã ba la mật học tướng ba đời bình đẳng sẽ được đầy đủ nhất thiết chủng trí. Đây gọi là đại Bồ Tát Đại thừa, cũng chính là tướng ba đời bình đẳng.
Đại Bồ Tát an tụ trong đây thời hơn tất cả thế gian, hành trời, Người, A tu la thành tựu nhất thiết trí".
Bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Lành thay, lành thay! Đại Bồ Tát Đại thừa này, quá khứ chư đại Bồ Tát học trong đây đã được nhất thiết chủng trí. Vị lai chư đại Bồ Tát học trong đây sẽ được nhất thiết chủng trí. Hiện tại chư đại Bồ Tát trong vô lượng vô số quốc độ mười phương cũng học trong đây mà được nhất thiết chủng trí.
Bạch đức Thế Tôn! Do đây nên Đại thừa này thật là đại Bồ Tát Đại thừa vậy".
Đức Phật nói: "Đúng như vậy. Quá khứ, hiện tại, vị lai, hiện tại chư Phật học trong Đại thừa này nên đã được, sẽ được và hiện được nhất thiết chủng trí".
PHẨM HỘI TÔNG THỨ HAI MƯƠI BỐN
Bấy giờ Ngài Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật sai Ngài Tu Bồ Đề vì chư đại Bồ Tát giải thuyết Bát nhã ba la mật. Nay sao lại nói Đại thừa làm chi?".Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Con nói Đại thừa có rời Bát nhã ba la mật chăng?
Đức Phật nói: "Tu Bồ Đề nói Đại thừa không rời Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy? Vì tất cả pháp thiện, pháp trợ đạo, Thanh Văn pháp hoặc Bích Chi Phật pháp, hoặc Bồ Tát pháp, hoặc Phật pháp đều nhiếp vào trong Bát nhã ba la mật".
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những thiện pháp, trư đạo pháp, Thanh Văn pháp, Bích Chi Phật pháp, Bồ Tát pháp, Phật pháp nào đều nhiếp vào trong Bát nhã ba la mật?"
Đức Phật nói; "Những lục ba la mật, tứ niệm xứ, tứ chính cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo phần, ba giải thoát môn, thập lực, tứ vô sở úy, tứ vô ngại trí, đại từ đại bi, mười tám pháp bất cộng đây và những thiện pháp, trợ đạo pháp khác, hoặc Thanh Văn pháp, hoặc Bích Chi Phật pháp, hoặc Bồ Tát pháp, hoặc Phật pháp đều nhiếp vào trong Bát nhã ba la mật.
Này Tu Bồ Đề! Hoặc đại Bồ Tát Đại thừa, hoặc sáu môn ba la mật, hoặc ngũ ấm đến ý xúc, nhân duyên, danh thọ, hoặc sáu đại chúng, hoặc tứ niệm xứ đến bát thánh đạo phần, ba môn giải thoát và những thiện pháp, hoặc hữu lậu, vô lậu, hoặc hữu vi, vô vi, hoặc tứ đế, hoặc tam giới, hoặc thập bát không, hoặc các môn tam muội, các môn đà la ni đến mười tám pháp bất cộng, hoặc Phật, Phật pháp, Phật tính, Phật như, thật tế, bất khả tư nghì tính, Niết Bàn, tất cả những pháp này đều chẳng hiệp, chẳng tan, không sắc, không hình, không đối, không ngại, không đẳng một tưởng, chính là vô tướng.
Này Tu Bồ Đề! Do nhân duyên đây nên Đại thừa của ông nói tùy thuận với Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy? Vì Đại thừa chẳng khác Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật chẳng khác Đại thừa, Bát nhã ba la mật cùng Đại thừa không hai không khác. Năm ba la mật kia cũng như vậy.
Này Tu Bồ Đề! Tứ niệm xứ chẳng khác Đại thừa, Đại thừa chẳng khác tứ niệm xứ, Đại thừa cùng tứ niệm xứ không hai, không khác. Tứ chính cần đến mười tám pháp bất cộng cũng như vậy.
Do nhân duyên đây nên Tu Bồ Đề nói Đại thừa chính là nói Bát nhã ba la mật"
PHẨM THẬP VÔ THỨ HAI MƯƠI LĂM
Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát tiền tế bất khả đắc, hậu tế bất khả đắc, trung tế bất khả đắc.Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức là đại Bồ Tát, đây cũng là bất khả đắc.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là đại Bồ Tát, đây cũng là bất khả đắc.
Nơi tất cả thứ, tất cả chỗ cầu tìm đại Bồ Tát đều bất khả đắc.
Bạch đức Thế Tôn! Con sẽ dạy cho những đại Bồ Tát nào về Bát nhã ba la mật?
Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát chỉ có danh tự. Như nói danh tự ngã, ngã rốt ráo chẳng sinh. Như ngã, các pháp cũng không tự tính như vậy.
Những sắc gì rốt ráo chẳng sinh? Những thọ, tưởng, hành, thức gì rốt ráo chẳng sinh?
Bạch đức Thế Tôn! Rốt ráo chẳng sinh thời chẳng gọi là sắc. Rốt ráo chẳng sinh thời chẳng gọi là thọ, tưởng, hành, thức.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu pháp rốt ráo chẳng sinh sẽ dạy Bát nhã ba la mật này chăng? Rời pháp rốt ráo chẳng sinh cũng không có Bồ Tát thật hành Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Nếu Bồ Tát nghe lời nói này mà tâm chẳng trầm một, chẳng ăn năn, chẳng kinh hãi, chẳng sợ sệt phải biết rằng đây là bậc đại Bồ Tát có thể thật hành Bát nhã ba la mật".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề: "Nhân duyên gì mà nói rằng đại Bồ Tát tiền tế bất khả đắc, hậu tế bất khả đắc, trung tế bất khả đắc?
Nhân duyên gì mà nói rằng vì sắc vô biên nên biết Bồ Tát cũng vô biên. Vì thọ, tưởng, hành, thức vô biên nên biết Bồ Tát cũng vô biên?
Nhân duyên gì mà nói rằng sắc là Bồ Tát đây cũng bất khả đắc; thọ, tưởng, hành, thức là Bồ Tát đây cũng bất khả đắc?
Nhân duyên gì mà nói rằng nơi tất cả thứ tất cả chỗ, Bồ Tát đều bất khả đắc, thời sẽ những dạy Bồ Tát nào về Bát nhã ba la mật?
Nhân duyên gì mà nói rằng Bồ Tát chỉ có danh tự?
Nhân duyên gì mà nói rằng như nói danh tự ngã, ngã rốt ráo chẳng sinh. Như ngã, các pháp cũng không tự tính như vậy. Những sắc gì rốt ráo chẳng sinh, những thọ, tưởng, hành, thức gì rốt ráo chẳng sinh?
Nhân duyên gì mà nói rằng rốt ráo chẳng sinh gọi là sắc, rốt ráo chẳng sinh chẳng gọi là thọ, tưởng, hành, thức?
Nhân duyên gì mà nói rằng nếu pháp rốt ráo chẳng sinh sẽ dạy Bát nhã ba la mật này chăng?
Nhân duyên gì mà nói rằng rời pháp rốt ráo chẳng sinh cũng không có Bồ Tát thật hành Vô thượng Chính đẳng Chính giác?
Nhân duyên gì mà nói rằng nếu Bồ Tát nghe lời nói này mà tâm chẳng trầm một, chẳng ăn năn, chẳng kinh hãi, chẳng sợ sệt thời gọi là đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật?
Ngài Tu Bồ Đề trả lời Ngài Xá Lợi Phất: "Vì chúng sinh vô sở hữu, nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc, hậu tế bất khả đắc, trung tế bất khả đắc. Vì chúng sinh không, vì chúng sinh ly nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Vì sắc vô sở hữu, vì thọ, tưởng, hành, thức vô sử hữu nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc. Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức không, vì sắc, thọ, tưởng hành, thức ly nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Vì ngũ ấm tính vô sở hữu nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc. Vì lục ba la mật vô sở hữu nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Tại sao vậy? Vì trong tính không, tiền tế bất khả đắc, hậu tế bất khả đắc, trung tế bất khả đắc.
Tính không chẳng khác Bồ Tát. Bồ Tát chẳng khác tiền tế.
Tính không cùng Bồ Tát và tiền tế, ba pháp ấy không hai, không khác. Vì nhân duyên này mà Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Này Ngài Xá Lợi Phất! Vì sáu ba la mật rỗng không, Vì sáu ba la mật rời lìa, Vì sáu ba la mật tính không có nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Tại sao vậy? Vì trong tính không, tiền tế bất khả đắc, hậu tế bất khả đắc, trung tế bất khả đắc.
Tính không chẳng khác Bồ Tát. Bồ Tát chẳng khác tiền tế. Tính không cùng Bồ Tát và tiền tế, ba pháp này không hai không khác. Do đây nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Này Ngài Xá Lợi Phất! vì nội không đến vô pháp hữu pháp không là vô sở hữu, là rỗng không, là rời lìa, là tính không có nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Vì tứ niệm xứ đến bất cộng pháp là vô sở hữu, là rỗng không, là rời lìa, là tính không có nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Tại sao vậy? Vì trong tính không, tiền tế, hậu tế và trung tế đều bất khả đắc.
Tính không cùng Bồ Tát và tiền tế không hai, không khác. Do đây nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Này Ngài Xá Lợi Phất! Vì tất cả tam muội môn, tất cả đà la ni môn là vô sở hữu, là rỗng không, là rời lìa, là tính không có nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Vì pháp tính, pháp như, thật tế, bất khả tư nghì tính là vô sở hữu, rỗng không, rời lìa tính không có nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Này Ngài Xá Lợi Phất! Vì Thanh Văn, Bích Chi Phật, Phật Đà là vô sở hữu rỗng không, rời lìa tính không có nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Vì Vô thượng Bồ đề, nhất thiết chủng trí là vô sỏ hữu, rỗng không, rời lìa tính không có nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Tại sao vậy? Vì trong tính không, tiền tế, hậu tế, trung tế đều bất khả đắc, Bồ Tát cũng bất khả đắc.
Không chẳng khác Bồ Tát, cũng chẳng khác tiền tế. Không cùng Bồ Tát và tiền tế, các pháp này không hai không khác. Do đây nên Bồ Tát tiền tế bất khả đắc.
Như tiền tế, hậu tế và trung tế cũng như vậy.
Lại này Xá Lợi Phất! sắc như hư không, thọ, tưởng, hành, thức cũng như hư không.
Tại sao vậy? Như hư không, biên bờ và trung gian đều bất khả đắc. Vì không có biên và trung nên chỉ gọi tên là hư không.
Cũng vậy, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, biên bờ và trung gian đều bất khả đắc.
Vì sắc rỗng không. Trong rỗng không cũng không có biên bờ, không có trung gian. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
Do nhân duyên này nên vì sắc vô biên mà biết Bồ Tát cũng vô biên. Vì thọ, tưởng, hành, thức vô biên nên biết Bồ Tát cũng vô biên. Nhẫn đến bất cộng pháp cũng luận thuyết như vậy.
Lại này Xá Lợi Phất! sắc sắc tướng rỗng không, nhẫn đến thức thức tướng rỗng không.
Đàn na ba la mật Đàn na ba la mật tướng rỗng không, nhẫn đến Bát nhã ba la mật Bát nhã ba la mật tướng rỗng không.
Nội không nội không tướng rỗng không, nhẫn đến vô pháp hữu pháp không tướng rỗng không.
Tứ niệm xứ tứ niệm xứ tướng rỗng không, nhẫn đến bất cộng pháp bất cộng pháp tướng rỗng không.
Pháp như pháp như tướng rỗng không nhẫn đến bất khả tư nghì tính bất khả tư nghì tính tướng rỗng không.
Tam muội môn tam muội môn tướng rỗng không, nhẫn đến nhất thiết chủng trí nhất thiết chủng trí tính rỗng không.
Thanh Văn thừa Thanh Văn thừa tướng rỗng không, nhẫn đến Phật thừa Phật thừa tướng rỗng không.
Thanh Văn nhân Thanh Văn nhân tướng rỗng không, nhẫn đến Phật tướng tính rỗng không.
Trong rỗng không đó, sắc bất khả đắc, thọ, tường, hành, thức bất khả đắc. Do đây nên sắc là Bồ Tát đây cũng bất khả đắc. Thọ, tưởng, hành, thức là Bồ Tát đây cũng bất khả đắc.
Lại này Ngài Xá Lợi Phất! Trong sắc, sắc bất khả đắc. Trong thọ, sắc bất khả đắc. Trong thọ; thọ bất khả đắc. Trong sắc, thọ bất khả đắc. Trong tưởng, thọ bất khả đắc. Trong tưởng tưởng bất khả đác. Trong sắc thọ, tưởng bất khả đắc. Trong hành, tưởng bất khả đắc. Trong hành, hành bất khả đắc.
Trong sắc thọ tưởng hành bất khả đắc. Trong thức, thức bất khả đắc. Trong sắc thọ tưởng hành, thức bất khả đắc.
Này Ngài Xá Lợi Phất! Trong nhãn, nhãn bất khả đắc. Trong nhĩ, nhĩ bất khả đắc. Trong nhãn, nhĩ bất khả đắc. Trong tỉ, tỉ bất khả đắc. Trong nhãn nhĩ, tỉ bất khả đắc. Trong thiệt, tỉ bất khả đắc. Trong thiệt, thiệt bất khả đắc. Trong nhãn nhĩ tỉ, thiệt bất khả đắc. Trong thân, thân bất khả đắc. Trong nhãn nhĩ tỉ thiệt, thân bất khả đắc. Trong ý, thân bất khả đắc. Trong ý, ý bất khả đắc.
Trong nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý bất khả đắc.
Như ngũ ấm và sáu căn, sáu trần, sáu thức và sáu xúc cùng sáu xúc, nhân duyên, sinh thọ cũng vậy.
Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật, nội không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng, tất cả tam muội đến tất cả đà la ni môn, tính pháp đến Bích Chi Phật pháp, sơ địa đến thập địa, nhất thiết chủng trí, đạo chủng trí và nhất thiết chủng trí cũng như vậy.
Tu Đà Hoàn đến Phật cũng như vậy.
Này Ngài Xá Lợi Phất! Trong Bồ Tát, Bồ Tát bất khả đắc. Trong Bát nhã ba la mật, Bồ Tát bất khả đắc. Trong Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật bất khả đắc. Trong Bồ Tát, Bát nhã ba la mật bất khả đắc. Trong Bát nhã ha la mật, giáo hóa vô sở hữu bất khả đắc. Trong giáo hóa, giáo hóa vô sở hữu hất khả đắc. Trong giáo hóa, Bồ Tát và Bát nhã ba la mật vô sở hữu bất khả đắc.
Tất cả pháp vô sở hữu bất khả đắc như vậy. Do nhân duyên này nên trong tất cả thứ, tất cả chỗ, Bồ Tát bất khả đắc. Thời sẽ dạy Bồ Tát nào về Bát nhã ba la mật?
Lại này Xá Lợi Phất, sắc là giả danh. Thọ, tưởng, hành, thức là giả danh, sắc gọi là chẳng phải sắc, nhẫn đến thức gọi là chẳng phải thức.
Tại sao vậy? Vì danh danh tướng rỗng không. Nếu rỗng không thời chẳng phải là Bồ Tát. Do nhân duyên này Bồ Tát chỉ có giả danh.
Này Ngài Xá Lợi Phất! Đàn na ba la mật chỉ có danh tự. Trong danh tự chẳng phải có Đàn na ba la mật. Trong Đàn na ba la mật chẳng phải có danh tự. Do nhân duyên này Bồ Tát chỉ có giả danh.
Như Đàn na ba la mật, năm ba la mật kia cũng vậy.
Như lục ba la mật, nội không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến bất cộng pháp, tam muội môn, đà la ni môn, đến nhất thiết chủng trí cũng vậy. Do đây nên Bồ Tát chỉ có giả danh.
Lại này Xá Lợi Phất! Ngã rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh. Nhẫn đến tri giả, kiến giả rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Sắc đến thức rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Nhãn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Nội không đến vô pháp hữu pháp không rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Tứ niệm xứ đến bất cộng pháp rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Tam muội môn đến nhất thiết chủng trí rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Thanh Văn đến Phật rốt ráo bất khả đắc thời thế nào có sinh.
Do nhân duyên này nên nói rằng như ngã, danh tự ngã cũng rốt ráo chẳng sinh.
Lại này Ngài Xá Lợi Phất. Vì các pháp hòa hợp sinh nên không có tự tính.
Những gì hòa hợp sinh, nên không có tự tính?
Sắc hòa hợp sinh nên không có tự tính.
Thọ, tưởng, hành, thức hòa hợp sinh nên không có tự tính.
Nhãn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ hòa hợp sinh nên không có tự tính.
Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật hòa họp sinh nên không có tự tính.
Tứ niệm xứ đến bất cộng, pháp hòa hợp sinh nên không có tự tính.
Lại này Ngài Xá Lợi Phất! Tất cả pháp về thường cũng không mất".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Sắc vô thường cũng không mất. Thọ, tưởng, hành, thức vô thường cũng không mất.
Tại sao vậy? Vì nếu pháp vô thường thời là tướng lay động, tướng rỗng không. Do, đây nên tất cả pháp hữu vi vô thường cũng không mất.
Lại này Ngài Xá Lợi Phất! Hoặc pháp hữu lậu hoặc pháp vô lậu, hoặc pháp hữu ký, hoặc pháp vô ký, là pháp vô thường cũng không mất . Tại sao vậy? vĩ nếu pháp vô thường thời là tướng lay động, là tướng rỗng không. Do đây nên tất cả pháp có-tạo tác vô thường cũng không mất.
Lại này Ngài Xá Lợi Phất! Tất cả pháp chẳng phải thường, chẳng phải diệt".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Những pháp nào chẳng phải thường, chẳng phải diệt?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Sắc chẳng phải thường chẳng phải diệt, thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Tại sao vậy? Vì tính tự như vậy. Nhẫn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ, chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Tại sao vậy? Vì tính tự như vậy.
Do những nhân duyên trên đây, nên các pháp hòa hợp sinh không có tự tính".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Do duyên cớ gì mà sắc đến thức rốt ráo chẳng sinh?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Sắc đến thức chẳng phải pháp tạo tác. vì tác giả bất khả đắc.
Nhãn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ chẳng phải pháp tạo tác, vì tác giả bất khả đắc.
Tất cả pháp đều chẳng phải khởi, chẳng phải tác, vì tác giả bất khả đắc.
Do đây nên sắc đến thức rốt ráo bất khả sinh".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Do nhân duyên gì mà rốt ráo bất khả sinh chẳng gọi là sắc đến thức?”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Sắc tính rỗng không. Rỗng không này không có sinh, không có diệt, không có trụ, không có dị. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Nhẫn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ cùng tất cả pháp hữu vi tính rỗng không. Rỗng không này không có sinh, diệt, trụ, dị.
Do đây nên rốt ráo chẳng sinh chẳng gọi là sắc. Rốt ráo chẳng sinh chẳng gọi là thọ, tưởng, hành, thức".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Pháp rốt ráo chẳng sinh, nên dạy Bát nhã ba la mật này chăng?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Rốt ráo chẳng sinh chính là Bát nhã ba la mật. Bát nhã ba la mật chính là rốt ráo chẳng sinh. Bát nhã ba la mật cùng rốt ráo chẳng sinh không hai không khác. Do đây nên nói rằng rốt ráo chẳng sinh, nên dạy Bát nhã ba la mật này chăng?".
Ngài Xá Lợi Phất hỏỉ: "Do nhân duyên gì mà rời lìa rốt ráo chẳng sinh thời không Bồ Tát thật hành Vô thượng Chính đẳng Chính giác?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, chẳng thấy rốt ráo chẳng sinh khác với Bát nhã ba la mật, cũng chẳng thấy rốt ráo chẳng sinh khác với Bồ Tát.
Rốt ráo chẳng sinh với Bồ Tát không hai, không khác.
Chẳng thấy rốt ráo chẳng sinh khác với sắc, vì rốt ráo chẳng sinh với sắc không hai, không khác.
Chẳng thấy rốt ráo chẳng sinh khác với sắc, vì rốt ráo chẳng sinh với sắc không hai, không khác.
Chẳng thấy rốt ráo chẳng sinh khác với thọ, tưởng, hành, thức vì rốt ráo chẳng sinh với thọ, tưởng, hành, thức không hai, không khác, nhẫn đến nhất thiết chủng trí cũng như vậy.
Do đây nên lìa rốt ráo chẳng sinh nên không có Bồ Tát thật hành Vô thượng Chính đẳng Chính giác”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Do nhân duyên gì mà Bồ Tát nghe thuyết trên đây tâm chẳng trầm một, chẳng ăn năn, chẳng kinh hãi, chẳng sợ sệt, thời gọi là Bồ Tát thật hành Bát nhã ha la mật?”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Đại Bồ Tát chẳng thấy các pháp có giác tri tưởng. Đại Bồ Tát thấy tất cả các pháp như mộng, như hưởng, như ảnh, như ảo, như diêm, như hóa. Do đây nên nghe thuyết trên đây, Bồ Tát tâm chẳng trầm một, chẳng ăn năn, chẳng kinh hãi, chẳng sợ sệt".
Bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: "Thế Tôn! Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật quán sát các pháp như vậy. Lúc ấy đại Bồ Tát chẳng lãnh thọ sắc, chẳng hiển thị sắc, chẳng an trụ sắc, chẳng chấp trước sắc, cũng chẳng nói là sắc. Với thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Vói nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý chẳng thọ, chẳng thị, chẳng trụ, chẳng trước, cũng chẳng nói là nhãn đến ý.
Với Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật, chẳng lãnh thọ, chẳng hiển thị, chẳng an trụ, chẳng chấp trước, cũng chẳng nói là Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật.
Với nội không đến vô pháp hữu pháp không, chẳng lãnh thọ, chẳng hiển thị, chẳng an trụ, chẳng chấp trước, cũng chẳng nói là nội không đến vô pháp hữu pháp không.
Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát đối với tứ niệm xứ đến bất cộng pháp nhẫn đến nhất thiết chủng trí, chẳng lãnh thọ, chẳng hiển thị, chẳng an trụ, chẳng chấp trước.
Bạch đức Thế Tôn! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng thấy sắc nhẫn đến chẳng thấy nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy? sắc chẳng sinh thời chẳng phải sắc. Thọ, tưởng, hành, thức chẳng sinh thời chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức.
Nhãn chẳng sinh thời chẳng phải nhãn. Nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý chẳng sinh thời chẳng phải nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý.
Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật chẳng sinh thời chẳng phải Đàn na ba la mật đến chẳng phải Bát nhã ba la mật.
Nội không đến vô pháp hữu pháp không chẳng sinh thời chẳng phải nội không đến Chẳng phải vô pháp hữu pháp không.
Tại sao vậy? sắc chẳng sinh thời chẳng hai, chẳng khác. Nhẫn đến vô pháp hữu pháp không chẳng sinh thời chẳng hai, chẳng khác.
Bạch đức Thế Tôn! Tứ niệm xứ chẳng sinh thời chẳng phải tứ niệm xứ.
Nhẫn đến bất cộng pháp chẳng sinh thời chẳng phải bất cộng pháp.
Pháp như, pháp tính đến bất khả tư nghì tính chẳng sinh thời chẳng phải pháp như đến chẳng phải bất khả tư nghi tính. Nhẫn đến nhất thiết chủng trí chẳng sinh thời chẳng phải nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Tứ niệm xứ đến nhất thiết chủng trí chẳng sinh thời chẳng hai, chẳng khác. Bất sinh đây chẳng phải một, chẳng phải hai, ba, chẳng phải sai khác. Thế nên pháp ấy chẳng sinh thời chẳng phải pháp ấy.
Bạch đức Thế Tôn! sắc tướng chẳng diệt thời chẳng phải sắc.
Tại sao vậy? sắc và tướng chẳng diệt chẳng hai, chẳng khác. Vì pháp chẳng diệt này chằng phải một, chẳng phải hai, ba, chẳng phải sai khác. Thế nên sắc tướng chẳng diệt thời chẳng phải sắc.
Như sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến bất cộng pháp cũng vậy.
Do đây nên sắc vào trong pháp số vô nhị, thọ, tưởng, hành, thức vào trong pháp số vô nhị, nhẫn đến nhất thiết chủng trí vào trong pháp số vô nhị".
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ MƯỜI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM BẢO PHÁP ĐẠI MINH - THỨ BA MƯƠI HAI Đức Phật nói với Thiên Đế: "Này Kiều Thi Ca! Nếu có thiện nam, t...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ CHÍN
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ CHÍN Hán dịch: Pháp su: Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM ẢO NHÂN THÍNH PHÁP THỨ HAI MƯƠI TÁM Bấy giờ chư Thiên Tử nghĩ rằng nên dùng những người nào để nghe...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ TÁM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ TÁM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập - Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí TỊnh PHẨM VÔ SINH THỨ HAI MƯƠI SÁU Bấy giờ Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề: "Đại Bồ Tát thật hành Đát nhã ba...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ SÁU
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ SÁU Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM QUẢNG THỪA THỨ MƯỜI CHÍN Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Có đại Bồ Tát Đại thừa, chính là tứ niệm xứ. Thế...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ NĂM
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ NĂM Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM TRANG NGHIÊM THỨ MƯỜI BẢY Bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát đại trang...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ TƯ
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ TƯ Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM ẢO HỌC THỨ MƯỜI MỘT Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu sẽ có người hỏi rằng: Ảo nhân học Bát nhã b...
13/01/2016
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM KHUYẾN HỌC THỨ TÁM Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn đầy đủ Đàn na ba la mật thời p...
13/01/2016
KINH MA HÁT BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ HAI
KINH MA HÁT BÁT NHÃ BA LA MẬT QUYỂN THỨ HAI Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí tịnh PHẨM VÃNG SINH THỨ TƯ Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật có thể...
